Hiện trạng sạt lở bờ biển, cửa sông tỉnh Quảng Nam Dựa trên các tài liệu điều tra nghiên cứu tổng hợp khu vực nghiên cứu và vùng phụ cận từ năm 1999 đến 2010 cũng như các công trình ngh
Trang 1VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
QUẢNG NAM VÀ VÙNG TRUNG TRUNG BỘ
CN Hoàng Thị Huyền Ngọc
Hà Nội - 2011
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Tên chuyên đề: “Xác định các giải pháp thích ứng (chia sẻ tổn thất, giảm sạt lở
đất, điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất) ở các khu vực nghiên cứu cụ thể của tỉnh Quảng Nam và vùng Trung Trung Bộ
2 Thời gian thực hiện: Từ 01/11/2010 đến 30/04/2011
3 Đơn vị chủ trì thực hiện và các đơn vị phối hợp:
- Đơn vị chủ trì: Viện Địa lý – Viện KH&CNVN
4 Họ và tên những người tham gia thực hiện chính
1 TS Nguyễn Đình Kỳ Phòng Địa lý Thổ nhưỡng Chủ nhiệm chuyên đề
2 ThS Nguyễn Mạnh Hà Phòng Địa lý Thổ nhưỡng Tham gia
3 CN Nguyễn Văn Dũng Phòng Địa lý Thổ nhưỡng Tham gia
4 ThS Phan Thị Dung Phòng Địa lý Thổ nhưỡng Tham gia
5 CN Hoàng Huyền Ngọc Phòng Địa lý Thổ nhưỡng Tham gia
6 NCS Đào Đình Châm Phòng Cửa sông và biển Tham gia
5 Mục tiêu của chuyên đề
- Điều tra, đánh giá hiện trạng, nguyên nhân sạt lở đất, qui hoạch sử dụng đất hiện
có của khu vực nghiên cứu
- Xác định các giải pháp thích ứng (chia sẻ tổn thất, điều chỉnh qui hoạch sử dụng đất, giảm sạt lở) ở khu vực nghiên cứu
6 Nội dung nghiên cứu:
6.1 Điều tra khảo sát, thu thập các thông tin, tài liệu, số liệu, tình hình quản lý và bản
đồ hiện trạng sử dụng đất, bản đồ các điểm sạt lở của khu vực nghiên cứu
6.2 Tổng hợp, xử lý các thông tin, tài liệu, số liệu bản đồ đã thu thập và điều tra ban đầu
6.3 Phân tích, đánh giá hiện trạng sử dụng đất và biến động sự dụng đất khu vực nghiên cứu
6.4 Xây dựng phương án điều chỉnh qui hoạch sử dụng đất phù hợp với phương hướng, nhiệu vụ, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và thích ứng với biến đổi khí hậu của tỉnh Quảng Nam
6.5 Tổng hợp các kết quả nghiên cứu của Dự án về đánh giá hiện trạng sạt lở đất, trượt
lở, phạm vi và phân bố ở tỉnh Quảng Nam
6.6 Cảnh báo ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến quá trình sạt lở, trượt lở đất thông qua kịch bản biến đổi khí hậu của khu vực
6.7 Đề xuất các giải pháp ứng phó giảm sạt lở, trượt lở (biện pháp công trình và biện pháp phi công trình)
Trang 37 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
*1 Phương pháp tích hợp thông tin viễn thám, bản đồ và hệ thống thông tin địa lý (GIS)
*2 Phương pháp đánh giá tổng hợp trên quan điểm hệ thống
*3 Phương pháp thống kê - toán lý
*4 Phương pháp điều tra, khảo sát kiểm chứng ngoài thực địa
*5 Phương pháp phỏng vấn và phương pháp chuyên gia
8 Đặc điểm địa hình Quảng Nam
8.1 Địa hình núi đồi:
Bao gồm các dạng địa hình ở vùng đồi núi của tỉnh Quản Nam cùng với các dạng địa hình bậc thềm có độ cao trên 20m dưới dạng các đồi thoải ở ven rìa các đồng bằng, hay một số bãi bồi bậc, bậc thềm sông miền núi hoặc sát rìa miền núi Đầy là vùng mà những tác động biến đổi khí hậu có thể sẽ dẫn đến những biến đổi về các dạng tai biến liên quan tới sự thay đổi chế độ mưa của khu vực Trong đó cần đặc biệt quan tâm tới các dạng tai biến trượt lở, lũ ống, lũ quét và cần chú trọng ở những địa bàn phát triển hạ tầng giao thông, hay tại các khu vực dọc các thung lũng miền núi được bố trí phát triển sản xuất nông nghiệp, hoặc các tụ điểm dân cư Đặc điểm của từng dạng địa hình trong nhóm địa hình đồi núi sẽ thể hiện khả năng gây nên hoặc chịu ảnh hưởng tác động do tai biến ở các mức độ rất khác nhau
Nằm ở vị trí chuyển tiếp giữa đới uốn nếp Trường Sơn ở phía Bắc và địa khối Kon Tum ở phía Nam, địa hình khu vực nghiên cứu phát triển có sự phân hoá tương phản theo cả hai chiều bắc - nam và đông - tây
Ở phía tây, lãnh thổ nghiên cứu tựa vào gờ núi Trường Sơn Nam, giống như một bức tường thành có dạng hơi vòng cung chạy theo hướng chung TB-ĐN, từ phía nam đèo Hải Vân cho tới tận thung lũng sông Đà Rằng Ở phía bắc, do mạch núi này nối với dãy núi Hải Vân đâm thẳng ra biển, nên bức thành chắn lại có dạng một vành móng ngựa khổng lồ.Gờ núi Trường Sơn Nam tại đây có đường sống núi liên tục cheo leo hiểm trở, thỉnh thoảng lại tạo ra những nhánh ngang nhỏ hơn chạy về phía đông Một đường nét sơn văn như vậy có hệ quả to lớn trong sự hình thành chế độ khí hậu nói chung và sự phân hoá khí hậu của vùng nói riêng
Vùng núi thuộc tỉnh Quảng Nam được bắt đầu từ vùng đồi - núi thấp Sông Bung có dạng của một vịnh lớn được vây quanh từ ba phía bằng những dãy núi trung bình, mở ra phía biển, là phần thượng nguồn của các dòng sông Bung, Ngọn Thu Bồn
và ái Nghĩa Tuy vậy, ở phía bắc vẫn gặp những ngọn núi granit khá cao, như đỉnh A Tuất - 2500m (trên biên giới Việt Lào), núi Mang và núi Bà Nà - 1467m
Vùng đồi - núi sông Bung được cấu tạo bằng cát kết, đá phiến và cuội kết, tạo thành những dãy dài chạy theo hướng đông - tây, có đỉnh cao sàn sàn nhau với hai bậc
800 và 500m, trong đó bậc 500m nằm ôm lấy các cánh đồng Duy Xuyên, Quế Sơn và Tam Kỳ, bị sông suối chia cắt dữ dội (như tại vùng Mỹ Sơn, Trà Kiệu)
Trang 4Tiếp đến, về phía nam là các khối núi thượng Quảng Ngãi và thượng Kon Tum với các đỉnh núi trên đá granit cao nhất vùng, như Núi Chùa - 1362m (bên cạnh mỏ vàng Bồng Miêu), đỉnh Ngọc Lĩnh - cao 2598m, Ngọc Le Pheo - 2047m, Ngọc Pan - 2251m Các khối núi hình thành trên đá phiến mica và gơ nai thường thoải và thấp hơn, đỉnh tròn hơn, không mấy khi vượt quá 1500m
Bên cạnh sự phân hoá theo chiều bắc - nam, điểm nổi bật của địa hình các lưu vực sông miền Trung Việt Nam nói chung và của sông Thu Bồn nói riêng là có sự phân hoá rõ rệt giữa các phần thượng lưu, trung lưu và hạ lưu Chỉ trên một dải đất hẹp, chừng vài chục kilômet, đã có thể gặp đầy đủ các nhóm địa hình núi, đồi và đồng bằng phân bố thành những bậc rõ ràng, thấp dần về phía biển, phù hợp với tính trẻ dần của các thành tạo địa chất Đặc biệt, men theo bờ biển còn có một dải cồn cát kéo dài hầu như liên tục, chỉ bị chọc thủng tại những vị trí cửa sông, nổi cao hơn phía trong trên dưới 10m, khiến cho phần đồng bằng có dạng trũng Đối với dòng chảy mặt, sự tương phản này rất có ý nghĩa, bởi vì địa hình núi ở thượng lưu thì quá dốc, đồng bằng
hạ lưu quá thoải, còn dải đồi trung du lại rất hẹp, thậm chí nhiều nơi không có, nên đoạn trung lưu của các dòng sông ngắn Với cấu trúc địa hình như vậy, khu vực nghiên cứu thực sự ẩn chứa nhiều hiểm hoạ của tai biến lũ lụt, trượt lở dẫn đến trượt lở đất
8.2 Hệ thống dòng chảy
Hệ thống sông Thu Bồn - Vu Gia là một trong những lưu vực lớn của miền Trung, có diện tích khoảng 10350 km2 Đây là một trong 9 hệ thống sông lớn nước với chiều dài sông chính 205 km, chảy qua đồng bằng Quảng Nam - Đà Nẵng và đổ ra biển Cửa Đại và Đà Nẵng (hình 1) Vào đoạn cuối của sông có nhiều chi lưu ngang dọc đan xen nhau tạo thành một mạng lưới thuỷ văn vô cùng phức tạp [22]
Hình 1 Hệ thống sông Vu Gia – Thu Bồn
Trang 5+ Sông Thu Bồn: Có thượng nguồn là sông Tranh hay sông Tỉnh Gia bắt nguồn
từ sườn Đông Nam dãy Ngọc Linh với độ cao trên 2000 m Sông chảy theo hướng Bắc Nam qua các huyện Trà My, Tiên Phước, Hiệp Đức, Quế Sơn, đến Giao Thuỷ sông chảy qua vùng đồng bằng các huyện Duy Xuyên, Điện Bàn, Hội An Chiều dài sông chính đến cửa Đại là 198 km, diện tích lưu vực tính đến Giao Thuỷ là 3825 km2 Thượng lưu sông Thu Bồn có các nhánh lớn như sông Khang, sông Vang, sông Tranh, sông Gềnh Hạ lưu sông Thu Bồn có mạng lưới phân lưu, nhập lưu phức tạp và cuối cùng chảy ra cửa Đại Khi sông chảy về đồng bằng nhận một lượng nước từ sông Vu Gia chảy qua sông Quảng Huế đổ vào tại Giao Thuỷ, nhưng cách Giao Thuỷ về phía
hạ lưu khoảng 16 km lại có phân lưu sông Vĩnh Điện dẫn nước từ sông Thu Bồn trả lại sông Vu Gia tại sông Hàn rồi đổ ra cửa Đà Nẵng
+ Sông Vu Gia: Là một trong hai sông hợp thành hệ thống sông Thu Bồn và là
sông lớn thứ hai của tỉnh Lưu vực sông Vu Gia nằm bên trái sông Thu Bồn thuộc địa
phận của các huyện Đông Giang, Tây Giang, Nam Giang, Đại Lộc,
Điện Bàn, Hoà Vang (thuộc Đà Nẵng) và gồm nhiều nhánh sông hợp thành như sông Cái, sông Bung, sông Côn Chiều dài tính từ thượng nguồn sông Cái đến cửa Đà Nẵng là 204 km Tổng diện tích lưu vực tính đến Ái Nghĩa là 5180 km (thượng nguồn sông Vu Gia có một đoạn nằm trên đất Kon Tum, với chiều dài 38 km, tương ứng với diện tích là 500 km ) Phần hạ lưu, khi chảy đến Ái Nghĩa có phân lưu là sông Quảng Huế mang nước từ sông Vu Gia đổ vào sông Thu Bồn Dòng chính trước khi chảy qua địa phận Đà Nẵng được chia ra hai phân lưu chính là Sông Yên và sông Chu Bái Sông Yên chảy về phía An Trạch sau đó nhập lưu với sông Tuý Loan chảy vào sông Hàn rồi
đổ ra cửa Đà Nẵng Phần hạ lưu sông Vu Gia có nhiều phân lưu như sông Yên, sông
La Thọ, sông Quá Giáng, sông Thanh Quýt
Ở khu vực cửa vào của đồng bằng duyên hải, nằm trong phạm vi 2 xã Đại Cường, Đại An, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam, sông Vu Gia và sông Thu Bồn được nối với nhau bằng sông Quảng Huế với chiều dài uốn khúc khoảng 5km Tình hình dòng chảy, chế độ thủy lực và diễn biến lòng dẫn của sông Quảng Huế quyết định rất lớn tới tỷ lệ phân lưu, chế độ dòng chảy lũ và kiệt giữa hai sông Vu Gia và Thu Bồn
Sông Vu Gia và các nhánh ở hạ lưu của nó có nhiệm vụ cung cấp nước tưới và nước sinh hoạt cho khu vực kinh tế và dân cư rộng lớn phía Bắc Quảng Nam và thành
phố Đà Nẵng (bao gồm khoảng 10.000 ha đất canh tác và hơn 1.000.000 dân)
Trang 6CƠ CẤU, DIỆN TÍCH ĐẤT ĐAI NĂM 2010
ĐẤT PHI NÔNG
NGHIỆP, 87765.00, 8,41%
ĐẤT NÔNG NGHIỆP, 798790.08, 76,52%
ĐẤT CHƯA SỬ DỤNG, 157281.88, 15,07%
PHẦN 1
HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT, TRƯỢT LỞ, SẠT LỞ ĐẤT
TRONG ĐIỀU KIỆN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
I HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT
I.1 Hiện trạng sử dụng đất năm 2010
Theo số liệu kiểm kê đất đai năm 2010 tổng diện tích tự nhiên của tỉnh Quảng Nam là 1.043.836,96 ha [33] trong đó:
- Đất nông nghiệp : 798.790,08 ha, chiếm Error! Not a valid
link.%
- Đất phi nông nghiệp: Error! Not a valid link.ha, chiếm Error!
Not a valid link.%
- Đất chưa sử dụng : Error! Not a valid link ha, chiếm Error!
Not a valid link.%
I.1.1 Đất nông nghiệp
Bảng 1 diện tích, cơ cấu các loại đất trong đất nông nghiệp Error! Not a valid link.
I.1.1.1 Đất sản xuất nông nghiệp
Diện tích113.047,15ha, chiếm 14,15% đất nông nghiệp, bao gồm:
a Đất trồng lúa: Diện tích 56.435,64ha, trong đó chia ra các loại:
+ Đất chuyên lúa nước: 41.173,41ha
+ Đất trồng lúa còn lại: 8.140,71ha + Đất trồng lúa nương: 7.121,51ha
Đất trồng lúa nước chiếm Error! Not a valid link.% đất trồng lúa phân bố tập
trung chủ yếu ở các huyện đồng bằng, vùng trung du chủ động nước tưới như ở các huyện Tam Kỳ, Đại Lộc, Điện Bàn, Duy Xuyên, Quế sơn, Tiên Phước, Thăng Bình
Trang 7Tổng diện tích gieo trồng lúa năm 2009 đạt 86.664 ha, năng suất lúa trung bình năm đạt 45,51tạ/ha Hệ số sử dụng đất trung bình 1,50-1,56 lần
b Đất cây lâu năm:
Diện tích25.599,65ha, chiếm 22,65% đất sản xuất nông nghiệp Gồm diện tích các loại cây lâu năm như: cây công nghiệp lâu năm, cây ăn quả, cây nguyên liệu, dược liệu và các loại cây lâu năm khác Trong đó đất trồng cây công nghiệp lâu năm và cây ăn quả 12.000 ha chiếm khoảng 47%, còn lại là các loại đất trồng cây lâu năm khác
I.1.1.2 Đất lâm nghiệp
Theo số liệu điều tra hiện trạng sử dụng đất năm 2010, Quảng Nam có 681.432,99ha đất lâm nghiệp, chiếm 65,28% diện tích tự nhiên và chiếm 85,31% so với đất nông nghiệp Trong đó:
a Đất rừng sản xuất: Diện tích242.498,21ha, chiếm 35,59% đất lâm nghiệp Trong đó đất có rừng 115.280 ha, diện tích còn lại là đất rừng nghèo, cây bụi
b Đất rừng phòng hộ: Diện tích 309.306,40ha, chiếm 45,39% diện tích đất lâm nghiệp Trong đó diện tích có rừng 233.177 ha, diện tích còn lại là rừng nghèo, cây bụi rải rác
c Đất rừng đặc dụng: Diện tích129.628,38ha, chiếm 19,02% đất lâm nghiệp, trong đó 99.424 ha đất có rừng, còn lại là diện tích rừng nghèo, cây bụi rải rác
I.1.1.3 Đất nuôi trồng thuỷ sản tập trung
Diện tích đất có mặt nước nuôi trồng thuỷ sản: 1.549,78ha, chưa kể diện tích nuôi kết hợp trong các hồ chứa, công trình thuỷ lợi, mặt nước chuyên dùng: 3.788,22 ha Diện tích đất nuôi trồng tập trung có diện tích 3.390,08 ha, chiếm khoảng 95%, tập trung chủ yếu ở các huyện Núi Thành, Điện Bàn, Thăng Bình, Duy Xuyên, Hội An
I.1.1.4 Đất khu bảo tồn thiên nhiên
Tổng diện tích đất khu bảo tồn thiên nhiên toàn Tỉnh: 104.607 ha được thống kê
từ các khu bảo tồn thiên nhiên đã được hình thành trên địa bàn Tỉnh
I.1.2 Đất phi nông nghiệp
Bảng 2 Diện tích cơ cấu đất phi nông nghiệp
Năm 2010 Diện tích
(ha)
Cơ cấu (%) Đất phi nông nghiệp 87.765,00 100
Trang 82.3 Đất an ninh 2.235,81 2,55
2.11
Các loại đất phi nông nghiệp còn lại
( Đất ở, Đất cơ sở sản xuất kinh doanh,
đất sản xuất VLXD gốm sứ, đất sông suối
và MNCD)
50.202,91 57,20
Nguồn: [33] I.1.2.1 Đất xây dựng trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp
Hiện trạng diện tích đất trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp là 379,71 ha, bao gồm diện tích xây dựng trụ sở các cơ quan Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, trụ sở của các tổ chức xã hội - xã hội nghề nghiệp; các công trình sự nghiệp không thuộc phạm vi phục vụ công cộng
I.1.2.2 Đất quốc phòng
Theo kết quả kiểm kê đất đất quốc phòng đến tháng 05/2009 do đơn vị quân đội quản lý sử dụng trên địa bàn tỉnh Quảng Nam, toàn Tỉnh có 168 vị trí với diện tích
Error! Not a valid link.ha, bao gồm: Sân bay Chu Lai; đất sử dụng làm nơi đóng
quân của quân đội, căn cứ quân sự, các công trình phòng thủ quốc gia, trận địa; đất xây dựng công trình công nghiệp, khoa học, kỹ thuật phục vụ quốc phòng; kho tàng quân
sự, trường bắn, thao trường, bệnh viện, nhà công vụ của quân đội; trại giam giữ, đất sử dụng xây dựng các công trình quốc phòng khác
I.1.2.3 Đất an ninh
Hiện trạng sử dụng đất năm 2010, đất an ninh toàn Tỉnh có diện tích Error! Not
a valid link.ha sử dụng vào mục đích an ninh bao gồm: Trại giam An Điềm, Trại giam
Tiên Lãnh, đất sử dụng làm nơi đóng quân của công an;
I.1.2.4 Đất khu công nghiệp
Diện tích 1.166,15ha, gồm đất các khu, cụm công nghiệp, trên địa bàn Tỉnh
Hiện nay, trên địa bàn Tỉnh có 5/8 khu công nghiệp đã và đang triển khai xây dựng cơ sở hạ tầng; đã phê duyệt quy hoạch chi tiết và triển khai xây dựng được 36/105 cụm công nghiệp
I.1.2.5 Đất cho hoạt động khai thác khoáng sản
Diện tíchError! Not a valid link.ha, chiếm 1,76% đất phi nông nghiệp, gồm diện tích các khu khai thác khoáng sản như: Mỏ than Nông Sơn, mỏ than Ngọc Kinh, vàng Bông Miêu, vàng Pu Nếp, quặng Titan
I.1.2.6 Đất di tích danh thắng
Trang 9Tổng diện tích178,92ha, bao gồm Di sản văn hoá Mỹ Sơn, 48 di tích cấp quốc gia, 223 di tích cấp tỉnh và 134 di tích được UBND tỉnh ra quyết định bảo vệ Các di tích này được phân bổ ở 15 huyện, thành phố
I.1.2.7 Đất để xử lý, chôn lấp chất thải
Diện tích kiểm kê hiện trạng năm 2010 có 67,83ha từ 15 khu vực chôn lấp, xử
lý rác thải ở các địa phương, các khu công nghiệp, khu đô thị, khu dân cư Việc quy hoạch và mở rộng các khu vực xử lý chôn lấp chất thải trong sinh hoạt đời sống, sản xuất là rất cần thiết
I.1.2.8 Đất tôn giáo, tín ngưỡng
Diện tích hiện có trên địa bàn toàn Tỉnh 297,61ha, phân bố hầu hết ở các huyện đồng bằng trung du, bao gồm đất các công trình tôn giáo: chùa, nhà thờ, thánh thất, thánh đường, tu viện, đất trụ sở của tổ chức tôn giáo và các cơ sở khác của tôn giáo được Nhà nước cho phép hoạt động; các công trình tín ngưỡng dân gian gồm đình, đền, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ, tộc
I.1.2.9 Đất nghĩa trang, nghĩa địa
Diện tích5.537,10ha, phân bố hầu hết ở các địa phương
I.2.10 Đất phát triển hạ tầng: Diện tích 21.655,03ha chiếm 24,67% DTTN
I.1.3 Đất chưa sử dụng
Tổng diện tích 157.128,88ha, chiếm15,07% tổng DTTN Trong đó:
a Đất bằng chưa sử dụng: 13.671,87ha Phân bố rải rác ở các huyện, chủ yếu là
các bãi cát ven sông, ven biển, các khu vực thấp trũng, các thung lũng ven các triền đồi, chân núi…Khả năng khai thác đưa vào sản xuất nông nghiệp rất hạn chế do điều kiện về đất đai, tưới tiêu, xa vùng khu dân cư
b Đất đồi núi chưa sử dụng: Diện tích141.554,25ha Tập trung chủ yếu ở các
huyện trung du, miền núi, phân bố ở những nơi có địa hình hiểm trở, núi cao chia cắt,
đi lại khó khăn, xa dân cư; ở vùng trung du chủ yếu còn lại diện tích đất có độ dốc lớn,
bị xói mòn, tầng đất cạn có nơi trơ sỏi đá… Do vậy khả năng khai thác đưa vào sản xuất nông nghiệp rất khó khăn, đòi hỏi phải đầu tư lớn, chỉ phù hợp với các loại cây lâu năm, trồng và khoanh nuôi tái sinh rừng
c Núi đá không có rừng cây: 2.055,76ha, tập trung nhiều ở các huyện Duy
Xuyên, Quế Sơn, Nam Giang, Hiệp Đức, Phước Sơn
I.1.4 Đất đô thị
Đất đô thị bao gồm diện tích đất thuộc nội thị 02 thành phố Tam Kỳ, Hội An và đất trong phạm vi 13 thị trấn của các huyện
Thành phố Tam Kỳ: Thành phố Tam Kỳ là trung tâm chính trị, kinh tế, văn
hóa, khoa học kỹ thuật và dịch vụ của tỉnh Quảng Nam, có vị trí đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Tỉnh Quy mô dân số dự kiến đến năm
2025 là 260.000 người
Trang 10Thành phố Hội An: Hội An là đô thị cổ được công nhận là Di sản văn hóa Thế
giới, có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là phát triển du lịch, góp phần quan trọng phát triển kinh tế của Tỉnh
Các đô thị khác:
Toàn Tỉnh có 13 thị trấn hiện có đóng vai trò trung tâm chính trị, văn hóa, kinh
tế, xã hội của các huyện Đối với các huyện mới thành lập chưa có thị trấn: huyện Tây Giang, Nam Trà My và Nông Sơn
I.1.5 Đất du lịch
Đến nay diện tích đất đã được quy hoạch sử dụng cho mục đích phát triển du
lịch của Tỉnh là Error! Not a valid link.ha, trong đó diện tích đã giao cho các dự án
4.427 ha
I.2 Phân tích đánh giá biến động các loại đất
I.2.1 Biến động tổng quỹ đất
Giai đoạn từ năm 2001-2005 tổng diện tích tự nhiên tăng 131 ha, giai đoạn
2006-2010 biến động tăng Error! Not a valid link.ha Nguyên nhân do một số địa phương
tiến hành đo đạc thành lập bản đồ theo tọa độ địa chính nên có sự sai lệch về diện tích, biến động nhiều ở các huyện miền núi như: Phước Sơn, Nam Trà My, Hiệp Đức, Bắc Trà My, Đại Lộc
I.2.2 Biến động các loại đất
Bảng 3 Tình hình biến động đất đai thời kỳ 2001 - 2010
I.2.2.1 Đất nông nghiệp
Giai đoạn 2001-2010 đất nông nghiệp tăng Error! Not a valid link ha Trong
đó đất lúa nước tăng Error! Not a valid link ha, đất lâm nghiệp tăng Error! Not a
valid link ha, đất nuôi trồng thuỷ sản tăng Error! Not a valid link ha và các loại đất
hàng năm khác giảm Error! Not a valid link ha Giai đoạn 2006-2010 đất nông nghiệp tăng Error! Not a valid link ha, trong đó chủ yếu là đất lâm nghiệp tăng
Error! Not a valid link ha
I.2.2.2 Đất phi nông nghiệp
0,00 20.000,00 40.000,00 60.000,00 80.000,00 100.000,00
Năm 2000 Năm 2005 Năm 2010
Đất phi NN
Trang 11Trong thời kỳ 2001- 2010, nhu cầu thực tế đất phi nông nghiệp tăng trung bình hàng năm khoảng 1960 ha Tuy nhiên theo số liệu trên, giai đoạn 2001-2005 diện tích
tăng lên đột biến Error! Not a valid link ha chủ yếu do kết quả kiểm kê đất đai năm
2005 Cả thời kỳ 2001-2010, đất phi nông nghiệp tăng lên Error! Not a valid
link.Error! Not a valid link ha Trong đó:
- Đất quốc phòng tăng Error! Not a valid link ha
- Đất khu công nghiệp tăng Error! Not a valid link ha
- Đất phát triển hạ tầng tăng Error! Not a valid link ha (Trung bình hàng năm tăng Error! Not a valid link ha) Và các loại đất khác tăng 17.751,65Error! Not a valid link ha
I.2.3 Đất chưa sử dụng
Trong thời kỳ 2001-2010 đất chưa sử dụng giảm 286.016,12ha, trung bình hàng năm giảm 28.601,6ha Riêng giai đoạn 2005 đến 2010 đất chưa sử dụng giảm nhiều, nguyên nhân do rà soát quy hoạch 3 loại rừng, một số diện tích đất chưa có rừng chuyển sang đất lâm nghiệp
BIẾN ĐỘNG ĐẤT CHƯA SỬ DỤNG QUA CÁC NĂM
Biến động đất chưa sử dụng qua các năm
I.3 Tồn tại trong hiện trạng sử dụng đất
Thời gian qua Tỉnh đã đạt được nhiều thành tựu về phát triển kinh tế văn hóa - xã hội gắn liền với việc khai thác sử dụng hiệu quả tiềm năng đất đai Tuy nhiên ở một số địa phương việc sử dụng bố trí đất ở và một số công trình còn mang tính chủ quan, tự phát, chưa phù hợp theo xu thế phát triển chung như bố trí các công trình, đất ở còn đơn lẻ, tập trung dọc theo các trục giao thông chính, chỉ chú ý đến lợi thế trước mắt ảnh hưởng đến thực hiện quy hoạch chung và hạn chế hiệu quả sử dụng đất lâu dài
Vấn đề khai thác sử dụng đất đai khu vực miền núi cũng cần quan tâm Việc khai thác quá mức đất đồi núi cho sản xuất nông nghiệp, khai thác rừng trái phép, chế độ canh tác chưa hợp lý, quản lý sản xuất chưa chặt chẽ đã có tác động tiêu cực đến môi trường đất, đến hệ sinh thái động thực vật tự nhiên
- Đầu tư khai hoang mở rộng diện tích đất sản xuất nông nghiệp còn hạn chế Một số khu vực còn bị động trong thuỷ lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp
0,00 50.000,00 100.000,00 150.000,00 200.000,00 250.000,00 300.000,00 350.000,00 400.000,00 450.000,00 500.000,00
Năm 2000 Năm 2005 Năm 2007 Năm 2010
Series1
Trang 12- Phương thức sản xuất lạc hậu còn tồn tại ở một số vùng núi cao của Tỉnh, đặc biệt
là vấn đề canh tác trên đất dốc, du canh của đồng bào dân tộc thiểu số ảnh hưởng lớn đến diện tích rừng, thảm thực vật che phủ và gây xói mòn, sạt lở đất
- Sự phát triển các ngành công nghiệp, dịch vụ tạo ra khí thải, rác thải, nước thải gây nên tình trạng ô nhiễm không khí và nguồn nước Ở Quảng Nam mức độ ô nhiễm chưa lớn, chỉ ô nhiễm cục bộ một số khu vực nhưng cũng cần quan tâm và có giải pháp hạn chế ô nhiễm
- Quá trình sản xuất nông nghiệp gây nên tình trạng ô nhiễm môi trường đất, nguồn nước, gây xói mòn, làm thoái hóa đất do việc sử dụng các loại phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, chế độ canh tác chưa hợp lý
Để giảm thiểu tác động đến môi trường đất trong quá trình sử dụng đất cần tăng cường công tác quản lý môi trường, thực hiện nghiêm túc các quy định về bảo vệ môi trường trong sản xuất kinh doanh, trong y tế, hạn chế sử dụng các loại hóa chất độc hại trong nông nghiệp Tăng cường đầu tư kinh phí cho quản lý môi trường, xây dựng các hệ thống xử lý chất thải, rác thải hiện đại
Trang 13Mức ngập năm 2007
Diện tích (ha)
Tên huyện Diện tích
Diện tích ngập lụt năm 2007 ở các huyện tỉnh Quảng Nam
Theo hiện trạng ngập lụt năm 2007, tỉnh Quảng Nam có diện tích ngập 58.370ha, trong đó: Chiếm diện tích ngập lụt lớn nhất là huyện Điện Bàn 14.212,6ha
và thấp nhất là huyện Quế Sơn 2355,5ha
III HIỆN TRẠNG CÁC TAI BIẾN TRƯỢT LỞ ĐẤT, SẠT LỞ VÀ XÓI LỞ BỜ
III.1 Hiện trạng trượt lở đất
Đánh giá về lũ quét và trượt lở đất trong khu vực ở đây chủ yếu dựa vào các báo cáo phòng chống lụt bão đã thu thập được ở các cơ quan chức năng và của các huyện trong tỉnh Qua các chuyến khảo sát thực địa và báo cáo chuyên đề 4 cho thấy (bảng 4)
Bảng 5 Trượt đất qua các tài liệu thống kê
Địa điểm xảy ra: Khu vực ven sông, ven suối vùng tiếp giáp giữa trung du
và miền núi ở một số huyện như:
ĐạiLộc, Quế Sơn
cấp II-III
Gây ngập lụt nhiều hộ dân, Sạt lở xảy
ra ở nhiều nơi trên các huyện miền núi gây sạt lở, vùi lấp nhiều đoạn quốc lộ
và tỉnh lộ: QL14, QL14B, QL14E, DT616, DT604 Khối lượng đất đá
Trang 14trượt: 360.863m Sạt lở đất, xói lở bờ sông, bồi lấp đồng ruộng xảy ra ở nhiều nơi trong tỉnh, tổng diện tích vùi lấp 300ha
lũ
Làm sạt lở đường giao thông, xói lở bồi lấp 523ha ruộng và xói lở bờ sông với tổng chiều dài 2,5km Khối lượng
17 chết
11 bị thương
trình cầu cống bị hư hỏng nặng Tuyến đường bị ách tắc trong nhiều ngày
32 người chết
Minh, quốc lộ 14B, 14D, 14E và tỉnh
lộ lên miền núi hầu hết bị ách tắc với
Trên đường Hồ Chí Minh đoạn qua Quảng Nam có trên 150 điểm sạt lở lớn nhỏ
Hồ Chí Minh, QL14B, QL14D, DT604, DT616 sạt lở nghiêm trọng
47 chết,
339 bị thương
2000
lở vùi lấp, ngập đường làm ách tắc giao thông tại các tuyến đường ĐT604, ĐT616, QL14B, QL14D
23 chết
04 bị thương
Trang 15trượt lở nhiều đoạn đường gây ách tắc giao thông
trên tuyến QL 618 Theo ước tính, tổng khối lượng đất đá sạt lở khoảng trên 3.000m³
QL 14B, Đường Hồ Chí Minh, Tỉnh lộ ĐT 604, và được thể hiện ở bảng 6:
Bảng 6 Trượt lở, sạt lở đất qua khảo sát thực địa
Tuyến Điểm Địa điểm Địa hình, địa Thực vật Đất Mức độ
Trang 16Độ dốc > 600, trên các đá cát kết, bột kết,
cỏ, cây bụi
và ít cây gỗ nhỏ
Fa, tầng đất 70-100cm, TPCG nhẹ
Rất mạnh,
Tinh
Đá phiến thạch anh, sườn dốc,
Hình 6 Các điểm trượt đất trên tuyến đường ĐT
616
Hình 7 Phân bố trượt lở dọc tuyến QL 14B
Trang 17Hình 8 Phân bố trượt lở dọc theo tuyến đường
Hồ Chí Minh
Hình 9 Phân bố trượt lở trên tuyến ĐT 604
* Một số nhận xét về trượt lở Quảng Nam
Tổng hợp các số liệu cho thấy trong từ năm 1998 đến 2008 đã có khoảng 51 trận mưa bão lũ đáng kể ở Quảng Nam, trung bình khoảng 4 – 5 trận/năm (bảng 7)
Bảng 7 Tổng hợp trượt lở trên các tuyến giao thông do Quảng Nam quản lý
Năm Số trận
mưa lũ
Khối lượng sạt lở (m3)
Khối lượng sạt lở dọc theo các tuyến giao thông trong những năm 1998, 1999 lớn hơn rất nhiều so với những năm sau Điều này có thể là do về sau đã có thêm nhiều các công trình phòng chống sạt lở Nếu tính cường độ sạt lở trung bình thì năm
1999 là lớn nhất (759.000 m3/trận) lớn hơn hẳn,gấp 1,6 lần so với năm đứng thứ nhì,
Trang 18năm 2006 (470.000 m3/trận) Tính trung bình cường độ sạt lở trong thời gian 1998 –
2008 khoảng 143.000 m3/trận/năm
Các đánh giá này ở đây chưa tính tới lượng mưa và cường độ mưa trong thời gian mưa lũ Đây là thông số quan trọng cần được bố sung để đánh giá sạt lở Cũng cần lưu ý rằng các số liệu ở đây chưa phản ánh đủ sạt lở giao thông trên toàn tỉnh do tuyến đường Hồ Chí Minh, tuyến có mức độ sạt lở cao nhất lại không thuộc quyền quản lý tỉnh Số liệu này cần được bổ sung để có được đánh giá chính xác hơn
Về phân bố sạt lở, công việc khảo sát mới chỉ tiến hành dọc theo các một số tuyến giao thông nên chưa phản ánh hoàn toàn được tình hình trượt lở trong khu vực Các huyện miền núi phía tây nơi có nhiều sạt lở chưa có điều kiện để khảo sát Đánh giá khảo sát sơ bộ cho thấy trượt đất trong khu vực thường xảy ra ở khu vực có:
- Địa hình sườn dài, dốc
- Lớp phủ thực vật thưa chủ yếu là cây bụi, cây gỗ nhỏ
- Các đá trầm tích cát kết, bột kết bị nứt nẻ mạnh; các đá magma xâm nhập granit, granođiorit, điorit dạng gneis; và các đá trầm tích bị biến chất như đá phiến sericit, phiến thạch anh, gneis biotit Độ nứt nẻ của đá, đứt gãy cũng có ảnh hưởng tới trượt đất
- Hoạt động của các dòng chảy trong một số trường hợp cũng đóng vai trò gây trượt đất
Như vậy khi đánh giá trượt đất cần phải có số liệu về các yếu tố này
III.2 Hiện trạng sạt lở, xói lở bờ sông bờ biển
III.2.1 Hiện trạng sạt lở bờ sông Vu Gia - Thu Bồn, tỉnh Quảng Nam
Trên sông Thu Bồn, hoạt động xói lở xảy ra rất mạnh ở cả bờ trái và bờ phải đoạn Giao Thuỷ Trong năm 1998 - 1999 đã bị dòng chảy tác động mạnh xói sâu vào
bờ đến 50 m trên đoạn dài 200 - 500m [27]
Theo kết quả nghiên cứu [26] cho thấy: Đoạn sông từ Giao Thuỷ đến Cửa Đại thường bị xói lở ở phía bờ lõm của các khúc uốn có cấu tạo địa chất bờ bằng các trầm tích mềm rời với tính chất kháng xâm thực thấp như cát, cát pha, sét pha Những khu vực bờ lõm thường bị xói lở mạnh trên đoạn sông này như ở Đại Cường, Đại Hoà, Duy Châu, Điện Thọ, Điện Quang, bờ Nam Câu Lâu, Cẩm Nam Đa số các đoạn bờ xói lở nêu trên cho đến nay đã được xây dựng các công trình chỉnh trị nhằm giảm thiểu quá trình xói lở nghiêm trọng ảnh hưởng đến đời sống của người dân nơi đây
Theo kết quả điều tra khảo sát cho thấy: Đoạn bờ khu vực Đại Đồng - Đại Nghĩa trên sông Vu Gia, đoạn Phú Đa - Cẩm Lâu, chỗ ngã ba sông Thu Bồn - Vĩnh Điện đều xẩy ra quá trình sạt lở, bồi lấp lòng sông nghiêm trọng đặc biệt là trong các năm có lũ lớn như 1998, 1999, 2004, 2006, 2007, 2009 Trước hết phải kể đến đoạn sông uốn khúc chảy theo hướng BTB - NĐN đoạn Đại Nghĩa (sông Quảng Huế)
Sau các trận lũ lớn năm 1999 và 2000, trên hệ thống sông Vu Gia - Thu Bồn xuất hiện hiện tượng đặc biệt là sông Quảng Huế bị cắt dòng ở khu vực Đại Cường Tại đây hình thành thêm một lạch sông mới từ sông Vu Gia Cửa vào lạch Quảng Huế
Trang 19mới nằm tại vị trí cách cửa sông Quảng Huế cũ khoảng 1,7km về phía thượng lưu, thuộc địa phận xã Đại Cường
Hình 10: Lũ sông Vu Gia tiếp tục phá bờ tạo dòng Quảng Huế mới trong năm 2001
Sau khi xuất hiện lạch sông Quảng Huế mới, lạch Quảng Huế cũ bị yếu dần và chỉ sau 2 năm đã bồi lấp gần như hoàn toàn Sông Quảng Huế mới được hình thành ngày càng mở rộng và gây xói lở mạnh khu vực ven sông Nhiều nhà cửa bên bờ sông phải di dời, hàng trăm hecta đất canh tác thuộc các thôn 8,9, Ô Gia Bắc, Thanh Vân -
xã Đại Cường - huyện Đại Lộc bị sạt lở cuốn trôi Hệ thống điện 110KV cung cấp cho
xã Đại Cường bị hư hại nặng, đường giao thông liên huyện bị cắt đứt v.v…
Hình 11: Lũ sông Vu Gia phá công trình chỉnh trị trong năm 2007 [2]
Trang 20Năm 2007, hiện tượng sạt lở bờ sông của tỉnh Quảng Nam xảy ra rất mạnh mẽ Hơn 40.000 m3 đất đã bị sạt lở tại hai bờ sông thuộc vùng hạ lưu sông Thu Bồn Sạt lở
đã đe dọa tính mạng và đời sống của hàng chục nghìn hộ dân sống ven sông
Hình 12: Sạt lở nghiêm trọng tại Duy Xuyên (năm 2007) đe dọa đến đời
sống của hàng chục nghìn hộ dân [35]
Khu vực ven sông Thu Bồn bị sạt lở nặng nhất tại địa bàn xã Duy Phước huyện Duy Xuyên
Trong hai đợt lũ năm 2007, nước từ thượng nguồn đổ về cộng với triều cường
đã gây sạt lở nghiêm trọng Nước lũ đã làm xói lở một đoạn bờ sông, dài gần 2 km, có đoạn xâm thực vào đất liền hơn 20 m
Theo kết quả điều tra cho thấy, liên tục trong vòng hơn 10 năm trở lại đây, mùa
lũ nào cũng xảy ra sạt lở, làm mất đi hàng chục héc ta đất canh tác và đất ở của dân
Trong các năm gần đây hiện tượng sạt lở bờ sông Thu Bồn vẫn diễn ra phổ biến
và mạnh mẽ
Năm 2008, Sở NN PTNT tỉnh Quảng Nam cho biết, hiện có trên 10.000 hộ dân tại 44 điểm sạt lở ven sông bị ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất, đời sống và nguy cơ
đe dọa do thiên tai, lũ lụt
Nghiêm trọng là những điểm sạt lở ven sông tại thôn Lạc Thành, xã Điện Hồng (Điện Bàn); thôn 5, xã Duy Phước và thôn Thanh Châu, xã Duy Châu (Duy Xuyên); thôn Tân Bình, xã Điện Trung, và thôn Cẩm Đồng, xã Điện Phong (Điện Bàn)
Các tuyến kè và đập Đại Cường ở các thôn 8, thôn 9, thôn 10, Ô Gia, Thanh Vân, Quảng Đại, xã Đại Cường (Đại Lộc), thôn 3, xã Cẩm Kim (TP Hội An), tuyến kè
bờ tả sông Thu Bồn ở xã Điện Phương (Điện Bàn) hư hỏng trầm trọng, mái kè bị sạt
lở và bị cuốn trôi
Trang 21Năm 2009, dọc bờ sông Thu Bồn địa phận thôn Đông Khương, xã Điện Phương, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam nhiều đoạn tiếp tục sạt lở đe doạ tính mạng người dân và có nguy cơ xoá sổ cụm làng nghề truyền thống ở địa phương nếu không
có phương án đối phó kịp thời
Sạt lở không chỉ có nguy cơ xóa sổ nhiều cụm dân cư phía hạ nguồn sông Thu Bồn, mà nó còn có thể ảnh hưởng nhiều địa chỉ văn hóa truyền thống dọc theo triền sông, trong đó có cụm làng nghề truyền thống của huyện Điện Bàn đã quy hoạch tập trung ở địa phương Đến nay, tình trạng sạt lở bờ sông Thu Bồn tiếp tục xâm thực vào đất sản xuất và đất ở của nhiều hộ dân, mặc dù đã sử dụng nhiều biện pháp khắc phục tạm thời như: dùng tre, vật liệu khác che chắn nhưng tình trạng sạt lở vẫn diễn ra mạnh
mẽ
Khác với đoạn trung lưu, sông Thu Bồn từ ngã ba Vĩnh Điện đến Cửa Đại lòng sông phân nhánh và uốn khúc phức tạp Quá trình xói lở bờ sông, bồi lấp lòng sông xảy ra có tính chất luân phiên và có quy mô vừa phải
Tình trạng sạt lở vẫn còn đang tiếp diễn, nhưng vẫn chưa có biện pháp phòng chống Nguy cơ đe doạ đời sống người dân trong khu vực hiện đang là vấn đề nóng bỏng ở tỉnh Quảng Nam
III.2.2 Hiện trạng sạt lở bờ biển, cửa sông tỉnh Quảng Nam
Dựa trên các tài liệu điều tra nghiên cứu tổng hợp khu vực nghiên cứu và vùng phụ cận từ năm 1999 đến 2010 cũng như các công trình nghiên cứu có liên quan đã được công bố [29] cho thấy: Hiện trạng sạt lở bờ biển, cửa sông đang diễn ra hầu khắp ven biển Quảng Nam với mức độ và thời gian xảy ra không đồng nhất Chúng liên quan chặt chẽ với địa hình, cấu tạo vật chất đới bờ và các yếu tố động lực sông - biển (trong đó: sóng và dòng chảy là yếu tố đóng vai trò quan trọng)
Theo số liệu điều tra thì từ năm 1964 cho đến nay, dọc bờ biển tỉnh Quảng Nam
có 9 khu vực bị sạt lở trong đó 18 đoạn bị sạt lở (bảng 7) Có những đoạn bờ bị sạt lở với chiều dài hàng nghìn mét như ở xã Tam Hoà, Tam Hải - huyện Núi Thành và tốc
độ xói lở trung bình năm đạt tới vài chục mét /năm như ở xã Tam Thanh - TP Tam
Kỳ, Tam Xuân, Tam Hải - huyện Núi Thành, hai bên bờ cửa Đại thuộc xã Duy Hải - huyện Duy Xuyên) và thuộc phường Cửa Đại, TP Hội An làm cho nhiều đoạn bờ lùi sâu vào đất liền đến vài trăm mét ảnh hưởng lớn đến kinh tế dân sinh của khu vực Quá trình sạt lở bờ biển gia tăng nhanh với cường độ mạnh rất nguy hiểm đã gây nên những thiệt hại to lớn cho các xã ven biển của tỉnh Quảng Nam Hiện tượng sạt lở bờ xảy ra ngay cả những nơi có các công trình chỉnh trị như kè chắn sóng, trồng cây và các biện pháp chống sạt lở khác như ở cửa Lở (Tam Hải - huyện Núi Thành), cửa Đại thuộc phường Cửa Đại, TP Hội An, An Lương (huyện Duy Xuyên)
Bảng 7 Hiện trạng xói lở bờ biển tỉnh Quảng Nam
TT
Khu vực
Năm xảy ra xãi lở
Vị trí (bờ biển, cửa sông)
Số đoạn
bờ xói
lở
Chiều dài bị xói lở (km)
Tốc độ xói lở trung bình năm (m/năm)
Trang 221 Tam Kỳ Tam Thanh 1998 Bờ biển 4 35,0
Trường Giang
Trang 2322Hình 13 Sơ đồ hiện trạng sạt lở bờ sông, bờ biển tỉnh Quảng Nam
Trang 24Khu vực bị xúi lở mạnh và rất mạnh xảy ra ở bờ biển lồi, thẳng hướng súng giú
và vật chất tạo bờ chủ yếu là cỏt
Quỏ trỡnh xúi lở bờ diễn ra với tốc độ khỏc nhau Khu vực cú địa hỡnh khỳc khuỷu, răng cưa nhiều vũng vịnh và bỏn đảo, đỏ gốc, cỏc vựng cửa sụng, hiện tượng xúi lở diễn ra với qui mụ nhỏ, cường độ yếu đến trung bỡnh Khu vực bị xúi lở mạnh
và rất mạnh xảy ra ở bờ biển lồi, thẳng hướng súng giú và vật chất tạo bờ chủ yếu là cỏt
* Phõn bố cường độ xúi lở theo kớch thước chiều dài của đoạn bờ: Chia kớch
thước của đoạn bờ bị xúi lở ra 5 cấp :
Bảng 8 Số đoạn bờ bị xúi lở phõn theo kớch thước tỉnh Quảng Nam
Số đoạn bờ bị xói lở phân theo kích thước (m)
* Dựa vào tốc độ xúi lở sõu vào đất liền trung bỡnh mỗi năm (m/năm), ta cú thể chia
ra 4 cấp như sau:
- Chậm: cú tốc độ xúi lở lấn sõu vào đất liền < 5 m/năm chiếm 22,0%
- Trung bỡnh: cú tốc độ xúi lở lấn sõu vào đất liền 5 - 15 m/năm chiếm 17,0%
- Nhanh: cú tốc độ xúi lở lấn sõu vào đất liền 15 - 30 m/năm khụng cú
- Rất nhanh: cú tốc độ xúi lở lấn sõu vào đất liền > 30 m/năm chiếm 39,0%, Cỏc đoạn bờ cú tốc độ xúi lở nhanh là khu vực Tam Hải - Nỳi Thành (Quảng Nam) cú tốc độ xúi lở trung bỡnh năm là trờn 30 m/năm Đặc biệt cú những khu vực hiện tượng xúi lở mới chỉ xảy ra trong thời gian gần đõy (năm 1999, 2000, 2008 - 2010) nhưng với tốc độ khỏ lớn từ 40 - 60 m/năm là Duy Hải - Duy Xuyờn, Bỡnh Minh
- Thăng Bỡnh, Tam Tiến - Nỳi Thành, cửa Đại, cửa Lở
Trang 25Hình 14 Đoạn bờ biển bị sạt lở ở gần Cửa Đại đang được gia cố
Quá trình sạt lở đang diễn ra trên hầu hết bờ biển, tại địa bàn của tất cả các huyện có bờ biển, cửa sông mặc dù với mức độ (cường độ và tốc độ) khác nhau Các khu vực bị xói lở mạnh nhất tập trung ở duyên hải đồng bằng Duy Xuyên, Thăng Bình, Tam Kỳ, Núi Thành
Qua số liệu về hiện trạng xói lở của tỉnh Quảng Nam cho thấy: Quá trình xói lở
- bồi tụ diễn ra khá phức tạp, song quá trình xói lở chiếm ưu thế Quá trình xói lở diễn
ra với qui mô, cường độ, tốc độ khác nhau ở các khu vực và ngày càng gia tăng, đặc biệt từ những năm 1990 trở lại đây Quá trình xói lở chủ yếu xảy ra ở những đoạn bờ biển thẳng với hướng sóng gió, vật chất cấu tạo bờ chủ yếu là những vật liệu bở rời và các khu vực chưa có các công trình gia cố phòng chống
III.2.3 Hiện trạng và nguy cơ gia tăng tai biếnthiên nhiên qua biểu hiện BĐKH
Những thiên tai – biểu hiện của BĐKH đã tác động mạnh và gây thiệt hại nặng
nề nhất đối với con người, tài sản và cơ sở hạ tầng xã hội, ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Trong đó, bão, lũ là thiên tai diễn ra hàng năm với mức độ nghiêm trọng rất cao, những năm gần đây có xu hướng ngày càng gia tăng, mức độ tàn phá ngày càng khốc liệt
Bảng 9 Thống kê số lượng bão, áp thấp nhiệt đới và lũ lụt qua các năm
Trang 26lũ lớn Lũ tập trung nhanh đổ xuống vùng đồng bằng, vùng đồng bằng sông có độ dốc
bé, dòng sông nông, các cửa sông khả năng thoát lũ kém, sông lại không có đê nên đại
bộ phận dòng chảy lũ khi đến Ái Nghĩa và Giao Thuỷ đã chảy tràn vào đồng gây ra ngập lụt cho toàn bộ hạ lưu bao gồm các huyện Đại Lộc, Điện Bàn, Duy Xuyên và thành phố Hội An
Thống kê từ năm 1998 đến 2007, trên hệ thống sông Thu Bồn – Vu Gia có 42 trận lũ trên báo động cấp I
Bảng 10: Mực nước lớn nhất của một số trạm đo (Đơn vị: cm)
Trang 27Do các hệ thống sông ở Quảng Nam không có đê, nên khi có lũ trên sông ở mức báo động cấp II thì nước lũ bắt đầu tràn bờ vào vùng đồng bằng và khu dân cư gây ra ngập lụt trên diện rộng Tuỳ theo tính chất của từng trận lũ mà mức độ ngập lụt khác nhau Những trận lũ đơn, tuy có đỉnh lũ cao nhưng thời gian duy trì lũ ngắn, nên mức
độ ngập lụt ít nghiêm trọng; ngược lại, những trận lũ kép nhiều đỉnh, có thời gian duy trì lũ nhiều ngày thường gây ra mức độ ngập lụt và thiệt hại nghiêm trọng
Trên lưu vực sông Vu Gia – Thu Bồn, vùng đồng bằng hạ lưu thuộc các huyện Điện Bàn, Duy Xuyên, thành phố Hội An là khu vực bị lũ lụt nghiêm trọng nhất Khi
lũ ở mức báo động III, thì tại vùng này đã có mức độ ngập sâu phổ biến từ 2 đến 3 m, những vùng thấp ngập sâu trên 4 m Nhiều vùng bị chia cắt hoàn toàn, nên việc tổ chức ứng cứu, cứu trợ gặp nhiều khó khăn
Lưu vực sông Tam Kỳ, vùng hạ lưu gồm khu vực đồng bằng các huyện Núi Thành, Tam Kỳ, Thăng Bình, do có hồ chứa nước Phú Ninh điều tiết một phần dòng chảy lũ, nên mức độ ngập lũ nhỏ hơn, với mức ngập sâu phổ biến 1,5 – 2 m, tập trung chủ yếu vùng ven quốc lộ 1A Ngập lũ lớn có thể gián đoạn giao thông Bắc – Nam trong 2 đến 3 ngày
Một số trận lũ lớn
- Trận lũ lịch sử từ ngày 4 đến ngày 10 tháng 11 năm 1964
Do ảnh hưởng kết hợp của không khí lạnh ở phía Bắc với hoàn lưu bão ở phía Nam Từ ngày 4 đến ngày 10 tháng XI năm 1964, trên toàn tỉnh có mưa lớn, tổng lượng mưa đo được ở Khâm Đức: 1810 mm, Nông Sơn: 962 mm Lượng mưa ngày 09/10 tại Khâm Đức: 634 mm, ngày 06/10 tại Nông Sơn: 413 mm
Mưa lũ lớn kéo dài nhiều ngày đã làm ngập lụt toàn bộ vùng đồng bằng hạ lưu Thu Bồn – Vu Gia bao gồm các huyện Điện Bàn, Duy Xuyên, Hội An, vùng với mức
độ ngập sâu từ 2 đến 4 m Vùng đồng bằng ven quốc lộ 1A thuộc các huyện Thăng Bình, Tam Kỳ và Núi Thành với mức ngập sâu 1,5 đến 2,5 m Ngập lụt sâu đã làm cho nhiều nơi giữa các huyện và các xã bị chia cắt hoàn toàn, công tác cứu hộ, cứu trợ gặp nhiều khó khăn, một số nơi không thực hiện được Trên quốc lộ 1A, nhiều đoạn ngập sâu 1 đến 2 m kéo dài 2 đến 3 ngày gây gián đoạn giao thông, làm cho hàng trăm xe ô
tô các loại và hàng ngàn hành khách phải lưu trú lại ngay trên đường
Trận lũ này, tuy đã được cảnh báo trước và triển khai phong chống tích cực, nhưng do quá lớn và kéo dài nhiều ngày nên đã gây thiệt hại nặng nề về người và tài sản: Đã có 118 người chết (trong đó huyện Điện Bàn: 20; Duy Xuyên: 8, Thăng Bình: 7; Núi Thành: 5; Tam Kỳ: 4; 399 người bị thương Thiệt hại về tài sản ước tính lên đến gần 758 tỷ đồng
- Trận lũ lớn từ ngày 10 đến ngày 15/11/2007
Do ảnh hưởng của hoàn lưu áp thấp nhiệt đới suy yếu từ bão tố 6 kết hợp với không khí lạnh và trường gió Đông trên cao mạnh, nên từ ngày 10 đến 13/11 khu vực Quảng Nam có mưa to gây ra lũ lụt lớn Đỉnh lũ trên các sông Thu Bồn – Vu Gia cao hơn lũ năm 1999 và xấp xỉ lũ lịch sử năm 1964
Trang 28Trận lũ lớn từ ngày 10 đến 15/2007 đã có 125/233 xã trong toàn tỉnh bị ngập lụt, với gần 200.000 hộ dân Thông tin liên lạc và điện lưới nhiều nơi bị gián đoạn Hầu hết các tuyến đường giao thông trong tỉnh bị ách tắc, tuyến đường quốc lộ IA bị gián đoạn giao thông liên tục 40 giờ liền
Thiệt hại do đợt lũ này gây ra là vô cùng lớn Toàn tỉnh có 47 người chết (Điện Bàn: 13; Duy Xuyên: 9; 1.518 nhà bị sập đổ cuốn trôi và nhiều cơ sở hạ tầng tài sản khác bị thiệt hại Đã có khoảng 200.000 người phải cứu trợ do thiếu lương thực và nhu yếu phẩm cần thiết trong lũ Tổng thiệt hại về vật chất do đợt mưa lũ gây ra ước khoảng 1.500 tỷ đồng)
* Bão và áp thấp nhiệt đới
Bão ở Quảng Nam xảy ra trong thời gian từ tháng V đến tháng XII, tập trung chủ yếu vào tháng X và tháng XI Trong 11 năm qua, từ năm 1998 đến năm 2007 đã
có 17 cơn bão và 16 cơn áp thấp nhiệt đới ảnh hưởng tới Quảng Nam
Bão và áp thấp nhiệt đới ảnh hưởng trực tiếp đến đất liền gây ra thời tiết nguy hiểm như mưa to, gió lớn và nước biển dâng, đôi khi kèm theo lốc tố, vòi rồng làm tăng mức độ tàn phá của bão ở khu vực đồng bằng ven biển gồm các huyện Núi Thành, Tam Kỳ, Thăng Bình, Duy Xuyên, Điện Bàn và Hội An Khi có bão và áp thấp nhiệt đới ảnh hưởng, đồng thời với gió mùa Đông bắc tràn về thì trên toàn lãnh thổ của tỉnh có mưa lớn kéo dài 3 đến 5 ngày với tổng lượng mưa đạt tới hơn 1000 mm gây ra
lũ quét ở vùng núi, ngập lụt ở đồng bằng
Các cơn bão điển hình
* Cơn bão số 2 năm 1989
Cơn bão số 2 năm 1989, hoạt động không theo quy luật phổ biến chung về thời gian ở khu vực Miền Trung, đã đổ bộ vào khu vực Quảng Nam – Đà Nẵng ngày 25/05/1989 với sức gió cấp 10 giật cấp 11 Cơn bão này đã gây thiệt hại lớn về người, tàu thuyền đánh cá của ngư dân trên biển và vùng ven bờ Cụ thể:
- Người chết: 124 người
- Người bị thương: 106 người
- Người mất tích: 70 người
- Thiệt hại tài sản ước tính: 300 tỷ đồng
Cơn bão số 1 năm 2006 (Bão Chan Chu)
Đây là cơn bão rất mạnh, hình thành từ phía Đông Phi-lip-pin, trưa ngày 12/05/2006 vượt qua Phi-lip-pin vào Biển Đông Bão di chuyển nhanh theo hướng Tây Tây Bắc Sáng 16/05, khi đến khoảng kinh tuyến 115 độ kinh Đông bão đổi hướng di chuyển về phía Bắc Chiều tối ngày 17/05, đổ bộ vào đất liền tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc) Như vậy, bão Chan Chu chỉ hoạt động trên biển Đông từ ngày 12 đến 17/05, không ảnh hưởng đến thời tiết đất liền Quảng Nam, nhưng đã gây thiệt hại nặng nề cho ngư dân Quảng Nam đánh bắt xa bờ trên biển Đông
- Người chết và mất tích: 158 người
Trang 29- Tàu bị mất tích: 2 tàu
Bão, lũ lụt đã gây ra thiệt hại rất lớn về người và kinh tế trên địa bàn cả tỉnh, nhất là ở vùng đồng bằng ven biển Tính từ năm 1997 đến năm 2007 đã có 517 người
bị chết, 33 người mất tích, 1.387 người bị thương Tổng giá trị thiệt hại về tài sản, cơ
sở hạ tầng lên tới khoảng 5.723 tỷ đồng
Bảng 11 Thiệt hại do bão lũ gây ra từ 1997 – 2007
tích
Người bị thương
Thiệt hại tài sản (tỷ đồng)
Nguồn: Ban chỉ huy phòng chống lụt bão Quảng Nam
IV NGUYÊN NHÂN VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TAI BIẾN
Trượt lở, sạt lở vùng đồi núi và xói lở - bồi tụ bờ biển, bờ sông là một dạng thiên tai phổ biến ở nước ta, nguyên nhân xảy ra là do tổng hoà các yếu tố tác động liên quan đến tiến hoá tự nhiên của dải ven biển cửa sông và tác động của con người
Có thể thấy rằng ở một đoạn bờ cụ thể với cấu trúc địa chất và thành phần đất đá xác định bị xói lở hay bồi tụ là do một trong ba nhóm nguyên nhân: Ngoại sinh, nội sinh
và nhân sinh, hoặc tổ hợp của 2 hoặc cả 3 nguyên nhân đó
Trên cơ sở phân tích hiện trạng và các tác nhân gây xói lở bờ sông, bờ biển tỉnh Quảng Nam có thể rút ra một số nhận xét về nguyên nhân như sau:
IV.1 Nguyên nhân nội sinh
Là do tác động của hoạt động tân kiến tạo và chuyển động hiện đại gây nên chuyển động nâng, hạ, tách dãn, trượt của lớp hoặc các mảng đất đá dẫn tới xói lở hoặc bồi tụ ở khu bờ
Khi nghiên cứu nguyên nhân nội sinh báo cáo không đề cập đến tất cả mọi tác động và những biểu hiện khác nhau của quá trình kiến tạo mà chỉ quan tâm đến những vấn đề như các vòm nâng, chậu trũng mà bằng sự có mặt của chúng có thể phản ánh được mức độ tương phản, căng thẳng kiến tạo và xu hướng chuyển động lên, xuống
Trang 30của từng phần địa hình của vùng Trên cơ sở bình đồ cấu trúc đó có thể dự báo, phân tích để gián tiếp chỉ ra những nguy cơ gây ra ngập lụt, xói lở bờ biển
Khi giải đoán các vòm nâng, chậu trũng, chúng tôi dựa vào quan điểm địa mạo của A.I Spiridonov (1983) có qui định rằng, vòm hoặc chậu trũng là những cấu trúc hình tròn, đẳng thước Khi phân tích ảnh vệ tinh và đưa kết quả lên bản đồ, nhìn chung, có thể thấy rằng, các vòm hoặc chậu trũng có sự gắn bó chặt chẽ với cảnh quan
tự nhiên Thí dụ, có những vòm (hoặc chậu trũng) phát triển dày đặc các nếp uốn ở trên mặt Có thể nhận thấy nếp uốn hình ô van và hàng loạt những cánh gần đồng tâm với nó, nhưng tâm của nếp uốn này hoàn toàn lệch tâm với vòng khoanh chân của vòm nâng Như vậy, lực nâng vòm hoặc làm sụt lún những chậu trũng là lực có sau này, xuất hiện muộn hơn rất nhiều, nhưng để tạo vòm nó có thể làm biến dạng, các nếp uốn khác
Dù sao, hiện nay chỉ có thể kết luận rằng rất khó lý giải các quá trình xói lở hay bồi tụ diễn ra khá trầm trọng ở nhiều nơi bằng các nguyên nhân nội sinh
IV.2 Nguyên nhân ngoại sinh
Gây xói lở bờ biển, bờ sông chủ yếu là do tác động của sóng, gió, bão, dao động mực nước Các nhà địa lý hải dương, động lực học sông - biển đều cho rằng các yếu tố ngoại sinh là các nguyên nhân chính và phổ biến chi phối quá trình xói bờ sông,
bờ biển
IV.2.1 Đặc điểm địa hình - địa mạo khu vực:
Về phương diện địa mạo sự hình thành lưu vực sông vùng nghiên cứu có quan
hệ chặt chẽ với địa hình khối tảng - kiến tạo - bóc mòn, khối tảng cấu tạo - bóc mòn núi trung bình và núi thấp xen đồi cũng như với đồng bằng tích tụ duyên hải với đồi núi sót bóc mòn và cồn đụn cát [1, 2, 9, 11] Song các yếu tố trắc lượng hình thái của các dạng địa hình vừa nêu mới có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động xói - bồi của sông suối [27] Trước hết, núi đồi cao trung bình và thấp (chiếm 80 90% lãnh thổ), dốc, lại phân bố kế cận đồng bằng (10 20%) và ngay giữa đồng bằng không những khống chế hướng dòng chảy chung Tây - Đông, đóng vai trò bức tường chắn bão, áp thấp nhiệt đới và gây "mưa địa hình", mà còn hạn chế chiều dài, diện tích lưu vực của sông (đại bộ phận sông dài từ 10 100 km và có diện tích lưu vực bé hơn 500 km2) và tăng độ dốc đáy sông (độ dốc chung 2 25 m/km, đôi khi lớn hơn) Bỏ qua một số khác biệt vi địa hình, nói chung đồng bằng duyên hải vùng nghiên cứu bao khoảng 2
20 m, có hướng nghiêng ra biển Đông với độ dốc từ 0,0002 0,05 Đồng bằng thấp, thoải lại bị dải cồn đụn cát cao khoảng 3 40 m bao bọc từ phía Đông nên khả năng thoát lũ cũng khó khăn hơn Tóm lại, do sông ngắn, dốc, lưu vực hẹp, đồi núi nằm kề ngay đồng bằng thấp, quá thoải lại bị cồn đụn cát chắn ngang lòng chảy nên vào mùa mưa bão thường hay phát sinh lũ cường suất cao (tốc độ dâng mực nước lũ có khi tới 0,5 1,0 m/h), lũ quét với vận tốc dòng chảy 5 6 m/s, gây sạt lở bờ, bồi lấp lòng sông và ngập lụt sâu từ (2 6 m) dài ngày vùng đồng bằng thấp trũng thoát nước ra biển Đông kém như đã thấy trong nhiều mùa lũ vừa qua
Thực tế nghiên cứu cho thấy, không chỉ địa hình chung của lãnh thổ mà đặc điểm địa hình của chính lòng dẫn sông suối chảy qua vùng đồng bằng cũng có ảnh
Trang 31hưởng rất lớn đến hoạt động xói - bồi sông ngòi Trên các đoạn sông có các bờ cao (15
10 m), cấu tạo từ cát cuội sỏi và đất loại sét nén chặt xen lẫn với đá gốc và có hướng chảy chung Tây - Đông thường là sông thẳng, ít uốn khúc và cường độ xói - bồi tương đối yếu, vừa Đối với đoạn sông có bờ giảm thấp về độ cao (10 4 m), chủ yếu cắt qua trầm tích Q mềm rời và ít nén chặt nhất là lòng dẫn chuyển hướng gần Bắc - Nam thì quá trình xói ngang, gây sạt lở bờ thuộc loại mạnh mẽ nhất Đồng thời hiện tượng bồi lấp và dịch chuyển bãi cát sỏi về phía hạ lưu sông Thu Bồn cũng hay xảy ra vào mùa
lũ Do tác động của quá trình xói - bồi với cường độ mạnh mà lòng dẫn ở các đoạn sông Vu Gia, Thu Bồn bị uốn khúc quanh co và có khi đạt đến giới hạn thì hiện tượng chọc thủng khúc uốn lại xảy ra
Cuối cùng, ở những đoạn sông có bờ thấp từ 3 giảm đến 0,5 1,0 m (vùng cửa sông) và cấu tạo từ trầm tích trẻ mềm rời ít nén chặt nói chung hoạt động xói ngang có giảm, nhưng quá trình bồi lấp và xói sâu cục bộ lại tăng lên Hiện tượng lấp cạn lòng dẫn còn làm thay đổi luồng lạch, trường vận tốc dòng chảy lũ và do đó, tăng - cường quá trình xói bờ, ngay cả đoạn bờ lồi
IV.2.2 Nhân tố khí tượng khu vực
Như đã biết, chế độ khí tượng khu vực bao gồm nhiều yếu tố và nói chung có quan hệ với nhau, có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động xói - lở bờ sông, bờ biển Song trong nghiên cứu vai trò chế độ khí tượng đối với hoạt động địa động lực sông - biển chỉ nên xem xét tới gió - bão, áp thấp nhiệt đới, mưa và biến động khí hậu toàn cầu (Enino và Lanina) trong những năm gần đây
Tác động của gió: Gió có tác động trực tiếp mang vật chất từ bờ biển đi nơi khác gây ra hiện tượng cát bay, cát nhảy làm cho một lượng đáng kể cát ở ven bờ biển tràn vào đất liền, hiện tượng này thường thấy ở một số địa điểm miền Trung
Gió có tác động gián tiếp gây xói lở - bồi tụ bằng cách tạo ra sóng, dòng chảy là những yếu tố trực tiếp gây ra hiện tượng đó Gió trong giông, bão có thể bốc đi một khối lượng đáng kể cát ở bờ biển, song tác động chính gây xói lở vẫn do các hậu quả chính của gió bão là sóng bão và dòng chảy trong bão Tuy nhiên, thông thường những thay đổi địa hình bờ biển do chúng chỉ tồn tại trong một thời gian nào đó, và sẽ được các yếu tố động lực thường xuyên bồi đắp để lại đạt được xu thế cân bằng trước bão
Sự xuất hiện hoặc biến mất của các doi cát ở một số cửa sông nước ta khi có bão thuộc loại nguyên cơ này
Theo thống kê của Tổng cục Khí tượng thủy văn số cơn bão, áp thấp nhiệt đới
đổ vào miền Trung chiếm đến gần 70% tổng số bão, áp thấp nhiệt đới đổ vào Việt Nam, trong đó có hiện tượng bão xuất hiện sớm (tháng III - VI) hoặc muộn (tháng XII)
và càng ngày càng dịch chuyển sâu hơn vào phía Nam nước ta Bão, áp thấp nhiệt đới kết hợp với không khí lạnh trong điều kiện địa hình thuận lợi (các khối núi Đông Trường Sơn hứng chắn mưa) thường gây mưa với cường độ lớn, nhất là các trung tâm mưa và là tác động gây lũ lụt bồi - xói mạnh ở các sông suối trong nhiều năm gần đây (bảng 12) Tuy vậy, lượng mưa chủ yếu lại rơi vào 4 tháng từ IX XII (bảng 12) và tới 70 90% lượng mưa năm [15, 30]
Trang 32Bảng 12 Tổng lượng mưa trong đợt lũ năm 1999
(tử số: mưa XI/99, mẫu số mưa XII/99) [27]
Giao Thuỷ
8601194
Lượng mưa ngày (24 giờ) có khi đạt tới 800 1000 mm/24 h, lượng mưa đợt (kéo dài 3 6 ngày) rất lớn và có nơi, có lúc vượt quá 1300 mm/đợt (bảng 12)
Ngoài bão, áp thấp nhiệt đới kết hợp không khí lạnh gây mưa lớn và tập trung chế độ mưa gần đây còn chịu tác động của sự biến đổi khí hậu toàn cầu có liên quan đến hiện tượng Enino và Lanina Những năm trùng hợp với Lanina như năm 1996,
1999, 2000, 2002, 2006 - 2010 mưa lũ, bão lớn thường xảy ra với cường độ mạnh, kéo dài và gây xói lở bờ sông, bờ biển và bồi lấp cửa sông càng nghiêm trọng hơn
IV.2.3 Nguyên nhân khí hậu, thời tiết đối với trượt lở, sạt lở đất
Mưa lớn hoặc mưa kéo dài là nguyên nhân chính gây ra trượt lở đất đá Tỉnh
Quảng Nam là một trong những địa bàn có lượng mưa lớn của Việt nam: Ở đồng bằng trung bình năm khoảng 2200mm, vùng thượng du đạt trên 3000mm, nhiều nơi đạt trên 4000mm Lượng mưa năm thay đổi nhiều từ đông sang tây, từ bắc vào nam và từ đồng bằng lên vùng núi Sự có mặt của những khối núi trung bình cao ở phía tây đã làm hình thành ở đây những trung tâm mưa lớn Trà My - Ngọc Lĩnh, Bà Nà - Bạch Mã Hằng năm ở Quảng Nam có từ 140 đến 160 ngày mưa, trong đó có 7 - 11 ngày mưa trên 50mm, có 4 - 7 ngày mưa trên 100mm Ở vùng núi, số ngày mưa tăng lên so với đồng bằng, đặc biệt là vùng sườn đông Ngọc Linh và Bạch Mã mỗi năm có tới 180 -
200 ngày mưa Ngay cả khi ở phần đồng bằng ven biển là mùa khô thì ở vùng núi tây nam, tây bắc của lưu vực vẫn có những ngày mưa trên 50mm
Trên phạm vi Quảng Nam không những có sự phân hoá phức tạp về lượng mưa
mà còn có hai mùa khô và mưa rất rõ rệt Mùa mưa bắt đầu từ cuối tháng 8, kết thúc vào tháng giêng Ba tháng mưa nhiều nhất là 10, 11 và 12, trong đó mỗi tháng đều đạt 500-600mm với số ngày mưa trung bình mỗi tháng có tới 16-25 ngày Tổng lượng mưa của các tháng này chiếm 70-75% tổng lượng mưa năm Các khu vực mưa lớn ở tây nam và tây bắc lưu vực còn có một cực đại phụ vào tháng VI Mùa mưa ở đây
Trang 33thậm chí kéo dài từ tháng V đến tháng XI hoặc tháng XII với tổng lượng mưa chiếm
90 - 95% tổng lượng mưa năm Theo kết quả đánh giá của GS Lê Đức An [1] và Vũ Huấn [17] (Bảng 13) cho thấy:
1) Để có thể đối sánh với tài liệu TLĐ của từng năm trên địa bàn Tỉnh, sẽ tính lượng mưa theo mùa từ năm 1998 đến 2007 của 6 trạm đo mưa chính
Bảng 13 Lượng mưa trung bình theo mùa của từng năm (mm)
2135,2 ( +23%)
551,7 ( +22%)
3193,5 ( +11%)
( +65%)
348,3 ( -17%)
2202,0 ( +27%)
1469,0 ( +224%)
4488,0 ( +55%)
( +65%)
691,9 ( + 65%)
1971,4 ( +14%)
657,8 ( +45%)
3763,0 ( +30%)
( +86%)
602,7 ( +44%)
1263,6 ( -27%)
594,5 ( +31%)
2978,1 ( +3%)
( -42%)
534,5 ( +27%)
1749,6 ( +1%)
330,4 ( -27%)
2752,3 ( -4%)
( -24%)
383,1 ( -8%)
1559,7 ( -10%)
371,6 ( -18%)
2528,1 ( -12%)
( -21%)
629,7 ( +50%)
1398,8 ( -19%)
312,8 ( -31%)
2540,8 ( -12%)
( -26%)
382,1 ( -8%)
1992,0 ( +15%)
604,3 ( +33%)
3186,2 ( +10%)
( -22%)
522,8 ( +25%)
1196,4 ( -30%)
757,6 ( +67%)
2698,9 ( -6%)
( +45%)
400,0 ( -4%)
2340,7 ( +35%)
506,5 ( +12%)
3655,6 ( +27%)
Dựa vào các số liệu lượng mưa thống kê hàng năm, xây dựng bản đồ lượng mưa cực đại để thấy khu vực chịu ảnh hưởng nhiều nhất
Từ bảng 13 và bản đồ có một số nhận xét sau:
+ Trong 10 năm (1998- 2007), lượng mưa năm biến động khá lớn, năm mưa nhiều nhất (1999) gấp 1,8 lần năm mưa ít nhất (2003) Có 5 năm mưa được coi là nhiều (lớn hơn trung bình nhiều năm >10%): 1998, 1999, 2000, 2005 và 2007; 5 năm mưa ít lần lượt là: 2001, 2002, 2003, 2004 và 2006 So với trung bình nhiều năm, năm mưa nhiều nhất tăng đến 55%, và mưa ít nhất giảm đến 12%
+ Theo các báo cáo hàng năm của UBND tỉnh về công tác phòng chống lụt bão [1], [17] thực tế tai biến trượt lở đất chủ yếu xảy ra vào 3 tháng mùa mưa (IX, X, XI
thuộc mùa Thu) Lượng mưa mùa Thu là khá lớn, chiếm từ 42% (2001) đến 67% (năm
1998) của lượng mưa cả năm, trung bình là 56% Nhìn chung lượng mưa mùa Thu tăng giảm khá tương đồng với lượng mưa cả năm, nhưng theo một tỷ lệ khác: có
Trang 34những năm lượng mưa mùa Thu tăng nhiều hơn tỷ lệ tăng cả năm (1998, 2005, 2007), trong khi có năm lại nhỏ hơn tỷ lệ tăng cả năm (1999, 2000); thậm chí có năm mưa mùa Thu giảm mạnh trong khi mưa cả năm vẫn tăng (2001), hoặc ngược lại mưa mùa Thu tăng (ít), trong khi mưa cả năm giảm (2002) Lượng mưa mùa Thu tăng mạnh nhất đến 35% (2007), và giảm nhiều nhất đến 30% (2006), nhiều hơn nhau khoảng 2 lần
2) Từ các phân tích ở trên có thể đi đến kết luận sau đây:
+ Trong vài chục năm qua ở Quảng Nam vào các năm có sự gia tăng lượng mưa mùa Thu và mưa năm (so với trung bình nhiều năm) đều đã kéo theo quá trình tai biến TLĐ gia tăng;
+ Như vậy nếu theo dự báo của các nhà khí hậu vào các thập kỷ tiếp theo và cuối thế kỷ này lượng mưa mùa Thu và mưa năm đều tăng [2,4], và nếu theo nguyên
tắc “dựa vào hiện tại để suy cho tương lai” thì có thể kết luận chắc chắn là khi đó quá
trình tai biến TLĐ sẽ gia tăng theo, trong điều kiện môi trường tự nhiên và kinh tế- xã hội không có sự thay đổi đáng kể, kể cả các giải pháp phòng chống
+ Trong những năm có sự giảm lượng mưa mùa Thu và mưa năm đã dẫn đến làm giảm quá trình TLĐ, và trong một số trường hợp nhất định quá trình đó đã được gia tăng Tuy nhiên theo dự báo đến cuối thế kỷ này sự giảm lượng mưa mùa Thu sẽ không xảy ra, do đó trường hợp này không phải xét đến
3) Tính chung trong 10 năm (1998- 2007), lượng mưa mùa Thu tăng 3% so với trung bình nhiều năm (bảng 1&2), và tai biến TLĐ đã gây ra đổ lở đất đá dọc theo các tuyến đường giao thông đến trên 5.100.000m3, gây ách tắc giao thông và thiệt hại rất lớn về tiền của để khắc phục Ngoài ra TLĐ kết hợp với lũ bùn đá còn gây ra vùi lấp hàng trăm ha ruộng đất và phá hủy nhiều công trình thủy lợi, nhà cửa, gây tổn thất rất lớn
về kinh tế- xã hội cho địa phương Nếu theo dự báo với các KBPT khí nhà kính, mức tăng lượng mưa qua các thập kỷ đến cuối thế kỷ 21 có thể đạt 5,9% (kịch bản thấp- B1) và thậm chí đến 11,3% (kịch bản cao- A2) (so với 1990) thì lúc đó tai biến TLĐ diễn biến có thể còn nghiêm trọng hơn nhiều lần so với những năm vừa qua Điều đó đặt ra cho các quản lý và nhân dân nhiệm vụ chuẩn bị các giải pháp hữu hiệu để ứng phó với biến đổi khí hậu và các tai biến trong đó có TLĐ trong tương lai
IV.2.3 Đặc điểm thủy văn
Như đã nói ở trên, do sự chi phối của địa chất, địa hình sông ngòi vùng nghiên cứu đại bộ phận ngắn, lưu vực hẹp và dốc nên có thể đặc trưng bằng hai bộ phận thượng lưu và hạ lưu với các thông số hình học, chế độ thuỷ văn tương phản rõ rệt Thượng lưu sông rất dốc (độ dốc tới 35 60 m/km) thung lũng hẹp, lũ về đột ngột, nhất là lũ quét với dòng chảy xiết có vận tốc vượt quá 4 6 m/s (bảng 4) Ngược lại ở
hạ lưu lòng sông mở rộng, uốn khúc quanh co, độ dốc rất thấp (0,0002) và vận tốc mùa
lũ cũng ít khi vượt quá 1 3 m/s
Đặc điểm tương phản đột ngột giữa địa hình núi đồi - đồng bằng và chế độ mưa bão theo mùa đã chi phối và gây biến động lớn các đặc trưng thuỷ văn chủ yếu như: mực nước, vận tốc dòng chảy, lưu lượng và hàm lượng phù sa của sông
Trang 35Quả vậy, vào mùa khô mực nước, vận tốc, lưu lượng và hàm lượng phù sa được tải đi trên các sông ở Quảng Nam rất thấp
Độ sâu lòng sông phổ biến dưới 1 m, nhiều đoạn sông chỉ còn là lạch cạn có nơi chỉ còn 10 25 m (sông Bà Rén) Nhưng vào mùa lũ mực nước trong tất cả các sông đều dâng cao đột ngột với biên độ từ 4 5 đến 7 9 m (so với mùa khô, ở vùng chuyển tiếp núi đồi - đồng bằng), trong đó phần lớn các trận lũ lịch sử mực nước lũ đều vượt quá mức báo động III (bảng 14), có khi tới 3 4 m ở ngay trong vùng đồng bằng [22, 30, 31]
Chiều dài sông (km)
Diện tích lưu vực sông
Độ dốc bình quân của sông (m/km)
Mực nước (m) cao nhất, thời gian xảy ra
Báo
Thời gian xảy ra
Ái Nghĩa Vu Gia > 499 22,37 25,5 9,7 11,44 06-XI-1964 Giao Thuỷ Thu Bồn 60 697 10,5 9,60 11,25 06-XI-1964 Vận tốc, lưu lượng, mô dun dòng chảy, hàm lượng phù sa ít vượt quá các giá trị tương ứng theo từng yếu tố sau đây: 0,1 - 0,8 m/s (số liệu đo tháng III/2000) ở sông Thu Bồn, từ 6-10 đến 50-70 m3/s, từ 2-3 đến 5-8,102 m3/s.km2 và từ 1-2 đến 15-20 g/m3
Về hàm lượng phù sa do sông tải đi cũng tăng cao đột ngột và chiếm tới 80 90% tổng lượng phù sa năm Hàm lượng phù sa dao động từ 150 200 đến 800
1000 g/m3 Do lưu lượng dòng chảy, hàm lượng phù sa trong nước sông mùa lũ đều cao nên không những lòng dẫn sông vùng đồng bằng hạ lưu chóng bị lấp cạn, mà ruộng đồng, vườn tược kề cận bờ sông, cửa sông cũng bị sa bồi vùi lấp (nhiều xã ở Duy Xuyên, huyện Đại Lộc)
Cuối cùng đặc điểm hội lưu, phân lưu trên hệ thống sông khu vực nghiên cứu cũng có tác động rất lớn đối với quá trình xói - bồi lòng sông Trong mùa mưa lũ do đặc điểm lưu vực, lượng mưa rơi không đều giữa các lưu vực nên dòng chảy lũ ở các sông không giống nhau Chính lưu lượng dòng lũ chênh lệch nhau đó đã làm biến động trường vận tốc, hướng dòng chảy, đồng thời gây ra xói lở bờ đối diện, bồi lấp lòng sông cục bộ với cường độ mạnh ở vị trí hội lưu hoặc phân lưu
IV.2.4 Chế độ hải văn
Dao động mực nước
Sự thay đổi mực nước không đóng vai trò chính gây nên hiện tượng xói lở hay bồi tụ mà nó chỉ có tác động tương hỗ với sóng gây xói lở bờ biển
Khi mực nước dâng cao hơn, khả năng sóng vỗ được vào lớp đất cao hơn của
bờ biển, đê biển (thường là lớp kém bền vững hơn các lớp thấp hơn) sẽ lớn hơn Do
Trang 36vậy dễ gây xói lở hơn Tuy nhiên, nếu sự dâng lên đó chỉ xảy ra trong thời gian ngắn
và hậu quả xói lở tức thì không quá nghiêm trọng thì bờ biển có thể trở lại trạng thái cân bằng như trước đó (điều này thường đúng với mực nước dâng do bão, có thể cao tới trên 3 m, song chỉ tồn tại trong 2 - 3 giờ) Nước dâng do gió mùa có thể chỉ dâng lên cỡ 30 - 40 cm song có thể tồn tại 1 tuần hoặc lâu hơn, tạo thời gian lâu dài hơn cho sóng đánh vào bờ ở mực cao hơn, đặc biệt là khi có cả mực triều cao Cũng như vậy có thể kết luận về tác động mực nước triều: Sự thay đổi mực nước triều không phải nguyên nhân trực tiếp, thường xuyên gây xói, sạt Một bằng chứng khá rõ rệt là hiện tượng xói lở xảy ra ở mọi nơi, không phân biệt chế độ thuỷ triều và biên độ của nó
Sự dâng lên của mực nước biển
Theo các nghiên cứu về dao động mực nước đại dương trên thế giới cho thấy nhiều thập kỷ gần đây mực nước đại dương có chiều hướng tăng lên, với mức độ khác nhau ở Việt Nam qua số liệu thống kê nhiều năm của các trạm ven biển từ Bắc đến Nam như trạm Cô Tô, Hòn Dáu, Sơn Trà, Phú Quí, Vũng Tàu, Côn Sơn, Phú Quốc trong vòng mấy chục năm qua cũng thể hiện quá trình biến động của mực nước biển
có chiều hướng tăng Mức độ tăng trung bình nhỏ nhất là 0,05 mm/năm và lớn nhất là 2,5 mm/năm [28]
Trong những năm gần đây mực nước biển tăng trung bình 2,25 mm/năm (tại Hòn Dáu), trong khi đó phần lục địa ven biển Trung bộ chỉ được nâng lên với giá trị trung bình 0,05 - 0,1 mm/năm, nhỏ hơn hẳn so với mực nước biển dâng tại Hòn Dáu tới 37 lần Điều đó chứng tỏ biển tiến đang xảy ra trên suốt dọc bờ biển của nước ta, dẫn đến nhiều đoạn bờ bị chìm ngập dưới mực nước biển và năng lượng sóng truyền vào bờ cũng được tăng lên, kết quả là mức độ xói lở bờ tăng lên Đối với quá trình xói
- bồi bờ biển, bờ sông ảnh hưởng của sự dâng cao mực nước đại dương thế giới được thể hiện ở xu thế nâng cao gốc xâm thực cơ sở ở các sông, giảm độ dốc thuỷ lực dòng chảy đổ ra biển và gây ngập lụt các vùng đồng bằng thấp
Tóm lại, vào mùa mưa lũ lớn tác động tổng hợp của nước dâng do bão - áp thấp
nhiệt đới kết hợp không khí lạnh và biển tiến cũng không chỉ là nhân tố làm giảm khả năng tiêu thoát lũ, mở rộng phạm vi và kéo dài thời gian ngập lũ ở đồng bằng (có lúc tới 15 20 ngày), mà còn gây xói lở bờ, bồi lấp vùng cửa sông như đã thấy ở cửa Đại, cửa Lở
Sự gia tăng của bão và áp thấp nhiệt đới
Theo kết quả thống kê thì từ năm 1891 đến năm 2008 tần suất bão đổ bộ vào bờ biển nước ta ngày càng gia tăng Nếu tính cho từng thời kỳ 30 năm thì từ 1901 - 1930
là 117 cơn, từ 1931 - 1960 là 134 cơn và từ 1961 - 1990 là 171 cơn Song có một điều đặc biệt hơn cả là trong khoảng 40 năm trở lại đây bão và áp thấp nhiệt đới lại có xu hướng dịch chuyển từ Bắc vào Nam, tăng cả tần suất lẫn cường độ và tập trung nhiều nhất ở Nam Trung bộ Bão và áp thấp nhiệt đới gây sóng to, gió lớn, nước dâng có sức phá huỷ bờ rất lớn, gây xói lở bờ nghiêm trọng
Dòng chảy
Dòng chảy đóng vai trò chính để phân bố lại bùn cát từ sông đưa ra và tải bùn cát đã được sóng bứt ra khỏi bờ, đáy ở khu bờ Dòng triều có tính chất thuận nghịch và
Trang 37do đú cú tỏc động tổng hợp vận chuyển bựn cỏt bằng khụng sau mỗi chu kỳ triều Dũng dư, dũng từ sụng đổ ra và dũng do súng tạo nờn dũng chảy ven bờ tổng hợp vận tải bựn cỏt dọc bờ
Súng
Súng là tỏc nhõn chớnh gõy ra sự phỏ hoại cỏc cụng trỡnh ven bờ và xúi bờ biển Ngoài tỏc động phỏ hoại trực tiếp (ỏp lực súng vỗ), năng lượng súng được truyền qua dũng chảy súng là nguyờn nhõn chủ yếu gõy ra sự vận chuyển bựn cỏt đỏy biển và tạo
ra cỏc vựng bồi xúi
IV.3 Nguyờn nhõn nhõn sinh
Cỏc hoạt động khai hoang lấn biển, thuỷ lợi, khai thỏc sa khoỏng, vật liệu xõy dựng, chặt phỏ rừng ngập mặn v.v cú thể gõy nờn, thường là ở mức độ địa phương, trong phạm vi hẹp, sự xúi lở - bồi tụ bờ sụng, bờ biển cửa sụng ở Quảng Nam cú thể dẫn ra khỏ nhiều vớ dụ như vậy
Đốt phỏ rừng đầu nguồn, canh tỏc vụ tổ chức trờn đất dốc
Đõy là nhõn tố làm suy giảm độ che phủ rừng và khả năng điều tiết dũng chảy của rừng, đồng thời gia tăng cường độ xúi mũn đất và khối lượng vật liệu phự sa đưa vào sụng suối Mặc dầu trong thập kỷ 80, 90 thế kỷ trước đó triển khai cỏc chương trỡnh trồng rừng nhưng độ che phủ rừng hữu hiệu cú tỏn che > 50 % (độ tỏn che cú khả năng điều tiết dũng chảy mặt) hoặc trờn 75% (đối với lónh thổ mưa nhiều và địa hỡnh dốc như ở Quảng Nam - Đà Nẵng) lại giảm xuống Theo số liệu điều tra lõm nghiệp nhờ cỏc chương trỡnh trồng rừng độ che phủ rừng lưu vực cỏc sụng tăng từ 36% (1990) lờn 56% (1999) Song cũng trong thời gian này diện tớch rừng giầu và rừng trung bỡnh
cú tỏn che > 50% (rừng hữu hiệu) lại bị suy giảm (do khai thỏc gỗ, đốt phỏ rừng để gieo trồng) từ 43% xuống 15% Trong lỳc đú, kết quả nghiờn cứu Hoàng Niệm (Viện Nghiờn cứu KT-TV) cho thấy khi mức độ che phủ rừng giảm từ 5 15 %, lưu lượng dũng lũ tăng lờn 30 50%, thậm chớ đến 100 150% đối với lưu vực hẹp cú mưa cường độ rất lớn như khu vực từ Nam Trung bộ và do đú, tỏc động xúi lở bờ sụng, bồi lấp cửa sụng mạnh mẽ như trong thời gian gần đõy là điều tất yếu Ngoài ra, độ che phủ rừng càng thấp càng rỳt ngắn thời gian truyền lũ từ vựng đồi nỳi vào đồng bằng duyờn hải
Khoanh đắp các đầm nuôi hải sản
Khoanh đắp cỏc bói triều thành cỏc khu nuụi trồng hải sản tự nhiờn trở thành phong trào mạnh mẽ ở cỏc vựng ven biển cửa sụng miền Trung nước ta, nhất là từ những năm 1990 thế kỷ trước đến nay Cỏc bói triều cao tự nhiờn cú rừng ngập mặn là nơi cư trỳ của nguồn giống tụm, cua, cỏ được đắp đờ khoanh kớn lại, xõy dựng hệ thống lấy nước và thải nước theo qui luật thuỷ triều Dựng lưới chặn giữ lại cỏc nguồn giống để nuụi lớn mới khai thỏc Khi khoanh đắp cỏc đầm nuụi hải sản cũng gõy ra hiệu quả của sự trao đổi nước hạn chế vào vựng cửa sụng, khụng gian của sụng bị thu hẹp
Xúi lở - bồi tụ do ảnh hưởng của cỏc cụng trỡnh giao thụng - thuỷ lợi
Trang 38Các công trình điều tiết nước trên vùng thượng nguồn các con sông đã làm giảm đáng kể lượng bùn cát vận chuyển về hạ du bồi đắp cho vùng cửa sông ven biển, gây thiếu hụt lượng trầm tích hàng năm bổ sung cho vùng ven biển và cửa sông dẫn đến hiện tượng bờ bị xói lở Đối với các sông miền Trung do lượng bùn cát hàng năm
đổ về vùng cửa sông không lớn nên khi có các công trình điều tiết nước ở thượng nguồn, lượng nước trong mùa cạn giảm đi đáng kể không đủ động năng để khơi thông luồng cửa sông đã tạo điều kiện cho sóng, dòng chảy sóng ven bờ gây bồi lấp cửa sông
Một số công trình giao thông (xây dựng cầu, cống) và công trình thuỷ lợi tưới tiêu vùng cửa sông ven biển (như cống thoát nước, kè nắn dòng) các hệ thống kênh đào và mương máng tưới tiêu, các đập và hồ chứa nước đầu nguồn đã làm ảnh hưởng tới dòng chảy trên sông và lượng vận chuyển bùn cát ra bờ biển gây nên hiện tượng xói lở cục bộ ở vùng cửa sông ven biển Qua điều tra nghiên cứu trong những năm gần đây đã cho thấy nhiều công trình giao thông, thuỷ lợi ở khu vực nghiên cứu mới được xây dựng đã ảnh hưởng đáng kể đến diễn biến vùng ven biển cửa sông
Hệ thống đường sá, kênh mương thuỷ lợi, cầu cống, bến cảng và bến phà trên sông, nhất là đường sắt Bắc - Nam, quốc lộ 1 chính là những vật cản lũ, tạo chênh lệch mực nước gây xói lở cục bộ và giảm thiểu khả năng tiêu thoát lũ ở đồng bằng trong nhiều năm qua Mặt khác, hầu như trên tất cả các tuyến cầu đường bộ, đường sắt gần hết "tuổi thọ" đều tiến hành gia cố bằng thi công ken dày thêm nhiều trụ cầu giữa sông Các trụ cầu "bổ sung" không những giảm thiểu khả năng tiêu thoát lũ, mà còn làm biến đổi vận tốc, hướng dòng chảy và do đó, gây xói lở bờ, bồi lấp lòng dẫn phức tạp ở ngay vùng kề cận đường sắt Bắc Nam
Tụ cư và khai thác kinh tế ven sông:
Dọc hai bờ sông và ngay trên các bãi nổi giữa sông của vùng hạ lưu của sông Thu Bồn (Giao Thuỷ - TP Hội An) là những nơi dân cư tràn ra lập làng, canh tác nông nghiệp Mật độ cư dân ở đây rất cao, nhiều thị trấn, thị tứ cũng mọc lên ngày càng nhiều Làng mạc, nhà cửa và vườn tược dày đặc ven sông và trên các bãi nổi giữa sông
là những vật cản dòng chảy, làm đổi hướng dòng chảy thẳng của dòng lũ khi đã tràn
bờ và do đó, càng gây biến động phức tạp quá trình xói - bồi lấp lòng dẫn các sông ở Quảng Nam
Xói lở do khai thác khoáng sản và vật liệu xây dựng
Khai thác cát, sỏi và vàng sa khoáng trái phép trên các dòng sông ở Quảng Nam
ngày càng trở nên nghiêm trọng Trên sông Thu Bồn, tình trạng thay đổi dòng chảy,
sạt lở bờ sông, bồi lấp cửa sông khiến người dân mất đất sản xuất, nhà cửa bị trôi sập còn do hậu quả của việc khai thác cát vô tội vạ ở phía hạ lưu Tình trạng khai thác cát thường xảy ra ở gò Mồ Côi, xã Điện Phong, khu vực thôn Triêm Tây, thuộc xã Điện Phương, huyện Điện Bàn, khu vực giáp xã Cẩm Kim - phường Thanh Hà (TP Hội An) Không ít trường hợp do thiếu hiểu biết và muốn khai thác khối lượng vật liệu lớn dân ở đây thường đào, bốc cát sỏi, lấy đất ở chính ngay chân và vách các đoạn bờ sông đang bị sụt lở Thậm chí dân ở xa (Cẩm Hà) cũng đến đào đất 30 40 m3 một ngày ở
Kỳ Lam (Điện Thọ), Tân Bình (Điện Trung) đưa về cung cấp cho lò nung gạch ngói ở
Trang 39Hội An Ngoài ra, tình trạng xói lở bờ sông, bờ biển cửa sông Cửa Đại cũng có một phần nguyên do từ việc khai thác titan tràn lan trong thời gian qua.
Công trình chống xói - bồi hiện có dọc các triền sông
Nhằm phòng chống sạt lở, ổn định dân sinh, kinh tế đối với những đoạn sông bị xói - bồi nghiêm trọng, Nhà nước và nhân dân địa phương, ngoài các giải pháp công trình, chủ yếu xây cất các cụm mỏ hàn, nhất là kè áp mái hộ đê và đê bao Nói chung nhiều công trình sạt lở đáp ứng chức năng, nhất là kè áp mái hộ bờ Tuy nhiên, do đoạn sông vùng hạ lưu, nhất là đoạn sông chuyển dòng chảy gần Bắc Nam thường hẹp, lại uốn khúc quanh co nên việc ưu tiên thi công tràn lan các cụm mỏ hàn không hiếm trường hợp không chống được sạt lở mà còn gây xói lở bờ ở nơi khác, đặc biệt là bờ đối diện Ngoài ra, việc chọn vị trí, kích thước công trình không hợp lý cũng thường dẫn đến công trình bị phá hỏng hoặc gây sạt lở bờ trong khu gian giữa các công trình, tức là các mỏ hàn
Từ việc phân tích ở trên về nguyên nhân và các yếu tố ảnh hưởng tự nhiên cũng như nhân tạo đối với quá trình sạt lở bờ biển, bờ sông, biến dạng dòng sông lại một lần nữa chứng minh hoạt động xói lở bờ sông, bờ biển và bồi lấp lòng sông, cửa sông là hậu quả tác động tương hỗ giữa các yếu tố động lực sông - biển và trong từng thời gian
cụ thể Tuy vậy vai trò của nguyên nhân và các yếu tố ảnh hưởng thuộc về động lực sông - biển đó trong quá trình sạt lở bờ sông, bờ biển và bồi lấp cửa sông rất khác nhau Một số yếu tố có tác động trực tiếp hay gián tiếp gây ra, chi phối quá trình phát triển hoạt động bồi lấp lòng sông, sạt lở bờ biển được đánh giá như là nguyên nhân hoặc yếu tố ảnh hưởng chính Các yếu tố khác, thậm chí một vài yếu tố có tác dụng hỗ trợ đắc lực, góp phần chi phối xu thế phát triển địa động lực sông - biển vẫn xếp vào nguyên nhân thứ yếu hay là yếu tố ảnh hưởng Dĩ nhiên vai trò các nguyên nhân thứ yếu hoặc yếu tố ảnh hưởng này cũng không giống nhau (tài liệu, số liệu nghiên cứu hiện có không cho phép đánh giá định lượng tác động của từng yếu tố ảnh hưởng đã phân tích ở trên)