TÓM LƯỢC Đề tài: “Khảo sát sự đa dạng về thành phần loài Dương xỉ Polypodiophyta ở huyện Châu Thành A và huyện Phụng Hiệp tỉnh Hậu Giang” được thực hiện từ tháng 12/2014 đến 05/2015..
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA SƯ PHẠM
BỘ MÔN SƯ PHẠM SINH HỌC
KHẢO SÁT SỰ ĐA DẠNG
VỀ THÀNH PHẦN LOÀI DƯƠNG XỈ (POLYPODIOPHYTA)
Ở HUYỆN CHÂU THÀNH A VÀ HUYỆN PHỤNG HIỆP
CẦN THƠ, 2015
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA SƯ PHẠM
BỘ MÔN SƯ PHẠM SINH HỌC
KHẢO SÁT SỰ ĐA DẠNG
VỀ THÀNH PHẦN LOÀI DƯƠNG XỈ (POLYPODIOPHYTA)
Ở HUYỆN CHÂU THÀNH A VÀ HUYỆN PHỤNG HIỆP
CẦN THƠ, 2015
Trang 3LỜI CẢM TẠ
Để hoàn thành đề tài này không những là cố gắng và nổ lực của bản thân mà
còn có sự quan tâm, giúp đỡ và hướng dẫn tận tình của quý thầy cô, gia đình và tất
cả bạn bè tôi Tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn đến:
Cô Phạm Thị Bích Thủy vừa là cố vấn học tập, vừa là cán bộ hướng dẫn
luận văn tốt nghiệp Cảm ơn cô đã tận tình chia sẻ, quan tâm, giúp đỡ và dành thời
gian để hướng dẫn em trong quá trình học tập và nghiên cứu
Con xin cảm ơn cha mẹ, cảm ơn gia đình đã yêu thương, quan tâm, động
viên và tạo mọi điều kiện cho con được đến trường và học tập
Xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến tất cả thầy cô trường Đại học Cần Thơ,
đặc biệt là thầy cô trong Bộ môn Sinh đã tận tình chỉ dẫn, truyền đạt kiến thức và
chia sẻ những kĩ năng, những kinh nghiệm trong học tập cũng như cuộc sống
Cảm ơn tập thể lớp Sư phạm Sinh K37, cảm ơn bạn Nguyễn Thị Thủy Tiên
đã đồng hành, chia sẻ cùng tôi trong suốt chặng đường học tập và trong quá trình
thực hiện đề tài
Cảm ơn bà con nhân dân ở hai huyện Châu Thành A và Phụng Hiệp đã
nhiêt tình, giúp đỡ và cung cấp thông tin liên quan trong quá trình điều tra thực địa
Do đề tài thực hiện trong thời gian ngắn và kiến thức còn hạn chế nên bài
viết còn nhiều thiếu xót, rất mong thầy cô và các bạn góp ý để bài viết được hoàn
thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn
Cần Thơ, ngày 15 tháng 05 năm 2015
SV thực hiện
Trang 4TÓM LƯỢC
Đề tài: “Khảo sát sự đa dạng về thành phần loài Dương xỉ
(Polypodiophyta) ở huyện Châu Thành A và huyện Phụng Hiệp tỉnh Hậu
Giang” được thực hiện từ tháng 12/2014 đến 05/2015 Kết quả đã thống kê, định
danh và mô tả được 24 loài, thuộc 17 chi, 11 họ, tất cả đều thuộc lớp Dương xỉ;
Trong đó, ở huyện Châu Thành A tiến hành điều tra 8/10 xã, thị trấn, thu được 20
loài, thuộc 15 chi, 10 họ Dương xỉ; Huyện Phụng Hiệp tiến hành điều tra 10/15 xã,
thị trấn, thu được 18 loài, thuộc 13 chi, 10 họ; Có 7 loài phổ biến được tìm thấy ở
cả 2 huyện Châu Thành A và huyện Phụng Hiệp Hoàn thành bộ sưu tập ảnh gồm
80 ảnh và bộ mẫu gồm 50 mẫu ép khô, góp phần làm phong phú bộ sưu tập mẫu
trong phòng thí nghiêm thực vật, đồng thời bổ sung cho những mẫu bị hư hại, phục
vụ trong học tập và trong nghiên cứu Đề tài không chỉ đánh giá sự đa dạng về
thành phần loài mà còn đánh giá đa dạng về sinh cảnh, dạng sống và công dụng
của Dương xỉ
Từ khoá: Dương xỉ, đa dạng loài, sinh cảnh, công dụng, huyện Châu Thành A,
huyện Phụng Hiệp
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM TẠ i
TÓM LƯỢC ii
MỤC LỤC iii
DANH SÁCH BẢNG v
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 6
1 1 Lí do chọn đề tài 6
1.2 Mục tiêu đề tài 7
1.3 Nội dung nghiên cứu 7
1.4 Phạm vi nghiên cứu 7
CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 8
2.1 Tổng quan về huyện Châu Thành A và huyện Phụng Hiệp 8
2.1.1 Sơ lược chung về khí hậu 8
2.1.2 Khái quát về huyện Châu Thành A 8
2.1.3 Khái quát về huyện Phụng Hiệp 9
2.2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu 10
2.2.1 Trên Thế Giới 10
2.2.2 Ở Việt Nam 10
2.3 Giới thiệu chung về ngành dương xỉ 12
2.3.1 Lịch sử tiến hóa 12
2.3.2 Đặc điểm chung để nhận diện dương xỉ: 13
2.3.3 Hệ thống phân loại 14
2.4 Môi trường phân bố, sinh cảnh và dạng sống của các loài Dương xỉ 20
2.5 Công dụng của Dương xỉ 21
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
3.1 Phương tiện 24
3.1.1 Phương tiện ngoài thực địa 24
Trang 63.1.2 Phương tiện phân tích và xử lí mẫu trong phòng thí nghiệm 24
3.2 Phương pháp thực hiện 24
3.2.1 Phương pháp khảo cứu tài liệu 24
3.2.2 Phương pháp ngoại nghiệp (Nguyễn Nghĩa Thìn, 2005) 24
3.2.2.1 Xác định tuyến đường và địa điểm thu mẫu 24
3.2.2.2 Thu mẫu (theo nguyên tắc Nguyễn Nghĩa Thìn, 1997) 25
3.2.3 Phương pháp nội nghiệp (theo phương pháp của Nguyễn Nghĩa Thìn, 1997) 27
3.2.3.1 Phương pháp phân tích mẫu 27
3.2.3.2 Thực hiện bộ sưu tập mẫu ép khô 27
3.2.3.3 Phân loại, định danh và lập bảng danh lục 27
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 29
4.1 Đa dạng về thành phần loài Dương xỉ (Polypodiophyta) ở huyện Châu Thành A và huyện Phụng Hiệp – Tỉnh Hậu Giang 29
4.1.1 Lập Danh lục các loài dương xỉ ở ở huyện Châu Thành A và Huyện Phụng Hiệp 29
4.1.2 Đánh giá đa dạng về phân loại 32
4.1.3 Đa dạng về sinh cảnh và dạng sống 33
4.1.4 Đa dạng về giá trị sử dụng 35
4.2 So sánh đa dạng các loài Dương xỉ ở huyện Châu Thành A và huyện Phụng Hiệp, Hậu Giang 38
4.3 Bộ sưu tập ảnh và mẫu 45
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 46
5.1 Kết luận 46
5.2 Kiến nghị 46
TÀI LIỆU THAM KHẢO 47
PHỤ LỤC I
Trang 7DANH SÁCH BẢNG
Bảng 3.1: Các tiêu chí xây dựng bảng danh lục……… 28
Bảng 4.1: Danh lục các loài Dương xỉ thu được ở hai huyện Châu Thành A và Huyện Phụng Hiệp……… 29
Bảng 4.2: Đánh giá sự đa dạng loài ở bậc họ……… 32
Bảng 4.3: Đánh giá đa dạng loài ở bậc chi………33
Bảng 4.4: Đa dạng về sinh cảnh của các loài Dương xỉ……… 33
Bảng 4.5: Các dạng sống của Dương xỉ ở huyện Châu Thành A và huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang……… 34
Bảng 4.6: Đa dạng về giá trị sử dụng của các loài Dương xỉ ở Huyện Châu Thành A và huyện Phụng Hiệp……… 36
Bảng 4.7: Số lượng loài, họ của Dương xỉ ở huyện Châu Thành A và huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang……… 38
Bảng 4.8: Đa dạng thành phần loài Dương xỉ ở hai khu vực nghiên cứu của tỉnh Hậu Giang và thành phố Cần Thơ ……….44
Trang 8CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU
1 1 Lí do chọn đề tài
Đa dạng về thành phần loài thực vật là một trong những đề tài được các nhà
khoa học trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu rất sớm, là cơ sở quan trọng để
đánh giá mức độ đa dạng sinh học ở khu vực nghiên cứu Ở nước ta với tính chất
khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng, ẩm, có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho các sinh
vật phát triển, có độ đa dạng sinh học cao, chỉ riêng nhóm thực vật bậc cao có
mạch đã thống kê được 10.580 loài cây, thuộc 2.342 chi, 318 họ (Nguyễn Nghĩa
Thìn, 2004) Hiện nay, các nhà thực vật vẫn không ngừng tìm kiếm các loài mới để
bổ sung vào danh lục các loài thực vật có ở Việt Nam
Trong giới thực vật, Dương xỉ (Polypodiophyta) là một ngành lớn, rất đa
dạng và phong phú, phân bố trên khắp trái đất, nhiều nhất là vùng nhiệt đới Theo
Takhtajan (1986), ngành này được phân thành 5 lớp gồm 300 chi và hơn 10.000
loài Trong đó, các Dương xỉ hiện sống nằm trong 3 lớp (Ophioglossopsida,
Marattiopsida và Polypodiopsida), hai lớp còn lại gồm những đại diện Dương xỉ cổ
nhất, xuất hiện từ kỷ Ðêvôn nhưng hiện nay đã tuyệt chủng do sự biến đổi khí hậu
và điều kiện sống Trong quyển “ Cây cỏ Việt Nam” của Phạm Hoàng Hộ (1999),
tác giả thống kê được Dương xỉ có 3 lớp, 27 họ, 789 loài Bên cạnh đó, nhiều đề
tài tìm hiểu về giá trị của Dương xỉ cũng được quan tâm nghiên cứu, đặc biệt như
khả năng loại bỏ Asen trong đất nhiễm kim loại nặng (Bùi Kim Anh, 2011), làm
sạch môi trường của một số loại Dương xỉ Phần lớn, các đề tài được thực hiện theo
vùng, miền hay các khu vực nhất định như vườn quốc gia, khu bảo tồn và do điều
kiện sống, đặc điểm khí hậu, địa lí giữa các vùng, các khu vực khác nhau nên có sự
dao động về số lượng, thành phần loài cũng như sự mật độ phân bố của các loài
Dương xỉ
Hậu Giang là một tỉnh ở hạ nguồn sông Hậu của khu vực Đồng bằng sông
Cửu Long (ĐBSCL) Đây là vùng có hệ sinh thái thực vật rất đa dạng và có năng
suất sinh học cao, phần lớn diện tích đất Hậu Giang thuộc vùng sinh thái đất ngập
nước, đặc biệt hệ sinh thái nông nghiệp kết hợp vườn cây ăn trái rất phát triển Với
điều kiện tự nhiên sông ngòi chằng chịt, nóng, ẩm, là môi trường sống thuận lợi
Trang 9cho nhiều loài Dương xỉ sinh sống và phát triển Với lí do trên tôi chọn đề tài:
“Khảo sát sự đa dạng về thành phần loài Dương xỉ ở khu vực huyện Châu
Thành A và huyện Phụng Hiệp tỉnh Hậu Giang” nhằm góp phần đánh giá tính
đa dạng về thành phần loài Dương xỉ ở Hậu Giang, đồng thời làm phong phú thêm
bộ sưu tập ảnh, bộ mẫu ép khô của Phòng Thí Nghiệm Thực Vật
1.2 Mục tiêu đề tài
Xây dựng bảng danh lục các loài Dương xỉ thu được ở huyện Châu Thành
A và huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang
Phân tích và đánh giá tính đa dạng các loài Dương xỉ ở bậc họ, chi; đồng
thời đánh giá đa dạng về sinh cảnh, dạng sống và công dụng của các loài Dương xỉ
Xây dựng bộ sưu tập ảnh mẫu về các loài Dương xỉ, nhằm bổ sung vào
bộ mẫu ở Phòng Thí Nghiệm Thực Vật, phục vụ cho việc giảng dạy thực hành và
tra cứu trong phòng thí nghiệm
1.3 Nội dung nghiên cứu
Khảo sát thực địa ở huyện Châu Thành A và huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang
Tiến hành chụp hình, thu mẫu, xử lí và trình bày mẫu làm cơ sở định danh,
phân loại
1.4 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài được tiến hành ở các thị trấn và các xã thuộc huyện Châu Thành A và
huyện Phụng Hiệp – tỉnh Hậu Giang
Trang 10CHƯƠNG 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1.1 Khái quát chung về điều kiện tự nhiên
Khí hậu cận xích đạo gió mùa, chia thành hai mùa rõ rệt,thể hiện rõ nhất ở
chế độ gió và chế độ ẩm, mùa mưa có gió Tây Nam từ biển thổi vào gây ra mưa,
ẩm từ tháng 5 đến tháng 11, lượng mưa ở Hậu Giang thuộc loại trung bình, chiếm
từ 92 - 97% lượng mưa cả năm khoảng 1800 mm/năm, lượng mưa cao nhất vào
khoảng tháng 9 (250,1 mm), mùa khô có gió Đông Bắc từ tháng 12 đến tháng
4 hàng năm
Trung bình là 270C không có sự trên lệch quá lớn qua các năm Tháng có
nhiệt độ cao nhất (350C) là tháng 4 và thấp nhất vào tháng 12 (20,30C)
Ẩm độ tương đối trung bình trong năm phân hoá theo mùa một cách rõ rệt,
chênh lệch độ ẩm trung bình giữa tháng ẩm nhất và tháng ít ẩm nhất khoảng 11%
Độ ẩm trung bình thấp nhất vào khoảng tháng 3 và 4 (77%) và giá trị độ ẩm trung
bình trong năm là 82%
2.1.1 Khái quát về huyện Châu Thành A
Huyện Châu Thành A nằm ở phía Bắc của tỉnh Hậu Giang; Bắc giáp thành
phố Cần Thơ; Nam giáp huyện Phụng Hiệp; Đông giáp huyện Châu Thành; Tây
giáp huyện Vị Thủy, thành phố Cần Thơ, tỉnh Kiên Giang; có 15.662,18 ha diện
tích tự nhiên và 107.713 nhân khẩu, có 10 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm
các xã: Trường Long Tây, Tân Phú Thạnh, Thạnh Xuân, Nhơn Nghĩa A, Trường
Long A, Tân Hoà và các thị trấn: Cái Tắc, Rạch Gòi, Một Ngàn, Bảy Ngàn
Châu Thành A được coi là cửa ngõ của tỉnh Hậu Giang, nơi hội tụ nhiều lợi
thế để phát triển thương mại dịch vụ công nghiệp và kinh tế xã hội (đã hình
thành khu công nghiệp tập trung Tân Phú Thạnh và đang khởi động cụm công
Trang 11nghiệp Nhơn Nghĩa A) Sau khi được thành lập, Châu Thành A đã có sự chuyển
biến mạnh trên nhiều lĩnh vực, trở thành địa phương năng động, biết bứt phá trong
vận hội mới
Là huyện có nền nông nghiệp trồng lúa là chủ yếu, hiện đang phát triển theo
hướng đa canh, mô hình trồng rau màu và nuôi trồng thủy sản phát triển mạnh, đầu
tư phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, nhất là công nghiệp chế biến, các
ngành nghề phục vụ cho quá trình công nghiệp hóa nông nghiệp và nông thôn Quy
hoạch, đầu tư xây dựng, nâng cấp các trung tâm thương mại; đa dạng hoá các loại
hình thương mại, dịch vụ, trong đó tập trung khai thác các khu dân cư, tái định cư
Tiếp tục đẩy mạnh phát triển toàn diện kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng
sản xuất nông nghiệp chất lượng cao, tạo ra những sản phẩm chất lượng phục vụ
cho ngành công nghiệp chế biến và thương mại - dịch vụ
(Theo Trang thông tin điện tử huyện Châu Thành A, Được cấp giấy phép theo
Quyết định số 2598/QĐ-UBND ngày 30/12/2010 của UBND tỉnh Hậu Giang.)
2.1.2 Khái quát về huyện Phụng Hiệp
Phụng Hiệp nằm ở phía Đông của tỉnh Hậu Giang, phía Bắc giáp huyện
Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang; Phía Đông giáp huyện Châu Thành và thị xã Ngã
Bảy, tỉnh Hậu Giang; Phía Nam giáp huyện Châu Thành và huyện Mỹ Tú tỉnh Sóc
Trăng; Phía Tây giáp huyện Vị Thủy và huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang
Huyện chia thành 15 đơn vị hành chính gồm 03 thị trấn: Cây Dương, Kinh
Cùng, Búng Tàu và 12 xã: Phụng Hiệp, Long Thạnh, Thạnh Hòa, Tân Bình, Hòa
An, Hiệp Hưng, Tân Phước Hưng, Hòa Mỹ, Phương Bình, Phương Phú, Tân Long
và Bình Thành Có vị thế nằm gần với sông Hậu và nhiều kênh trục chạy qua, đồng
thời quy mô đất đai và dân số của huyện lớn là tiềm năng và lợi thế cho phát triển
kinh tế - xã hội, nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp
Diện tích 483,66 Km2, dân số trung bình là 193.704 người, dân cư phân bố
không đều, tập trung nhiều ở nông thôn (170.496 người), ở thành thị (23.208
người)
Nông nghiệp vẫn là thế mạnh của huyện, những năm qua, ngành nông
nghiệp huyện chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, trên cơ sở quy hoạch phát triển
Trang 12sản xuất hợp lý, phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng và sinh thái của từng vùng Liên
tục nhiều năm qua, tốc độ tăng trưởng kinh tế của huyện tăng 10% năm Từ nền
kinh tế thuần nông, do chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu kinh tế, đến nay đã hình thành
rõ rệt 3 khu vực nông nghiệp, công nghiệp, thương mại và dịch vụ, góp phần tích
cực vào giải quyết các vấn đề xã hội, nâng cao mức sống người dân Về thương
mại, dịch vụ: tổng giá trị đạt 3.172 tỷ đồng
Địa hình của huyện nhìn chung khá bằng phẳng, cao độ có xu thế thấp dần
theo hướng từ Bắc xuống Nam, từ Đông sang Tây thấp dần vào giữa huyện, đã tạo
thành các khu vực có địa hình cao thấp khác nhau
Phụng Hiệp có hệ thống sông ngòi chằng chịt với nhiều con sông lớn nhỏ
Sông Hậu là nguồn cung cấp nước chủ yếu trên địa bàn huyện với nguồn nước dồi
dào quanh năm tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh tế -xã hội của huyện
đặc biệt là trong lĩnh vực nông nghiệp
(Theo Cổng Thông Tin Điện Tử huyện Phụng Hiệp)
Nhìn chung về vị trí địa lí và định hướng phát triển kinh tế xã hội của
huyện Châu Thành A và huyện Phụng Hiệp khác nhau, nhưng có nhiều tương đồng
về điều kiện tự nhiên thuận lợi cho Dương xỉ tồn tại và phát triển
2.2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu
2.2.1 Trên Thế Giới
Kết quả điều tra hệ thực vật tại miền Ha Oai, đã thống kê 1.100 loài, trong đó
dương xỉ có 140 loài Miền Niu Zilan có hệ thực vật với nhiều loài đặc hữu, Dương xỉ
chiếm 40% trong đó 2 chi Cyathea và Dicksonia chiếm 75% Phía Đông Nam miền
Madagatca, hệ thực vật gần giống với hệ thực vật Ấn Độ và Malezi, Dương xỉ nhiệt đới
là loài chiếm ưu thế.Theo nghiên cứu của Tohns và Bellamy (1979) tại Papua Niu
Ghine thì ngành Dương xỉ chiếm 12,05%; Theo Dixit (1984), ở Ấn Độ Dương xỉ chiếm
10%; Theo Lecointre và Guyader (2001) trên toàn thế giới thì ngành Dương xỉ
(Polypodiophyta) có 9.500 loài được mô tả, chiếm 0,05% (Nguyễn Nghĩa Thìn, 2004)
2.2.2 Ở Việt Nam
Lê Công Kiệt (1979), trong quyển “Khuyết thực vật” đã đi sâu về mô tả chi
tiết từng bộ phận bên ngoài của Dương xỉ, đồng thời tác giả phân tích đặc điểm
Trang 13chung về cấu tạo giải phẫu và mô học một số bộ phận của các loài, họ, bộ của ngành
Dương xỉ Từ đó, giúp người đọc nhận diện và phân loại một số loại Dương xỉ
Hoàng Thị Sản và Phan Nguyên Hồng (1986), trong quyển “Thực vật học
phần phân loại” đã trình bày đặc điểm chung của từng họ, lớp, bộ và lớp Dương xỉ
Phạm Hoàng Hộ (1999), trong quyển “Cây cỏ Việt Nam” là công trình
nghiên cứu khoa học về các giống, loài của thảm thực vật trong nước với các tiêu
chí khoa học, tác giả mô tả về đặc điểm hình thái (vẽ hình minh họa), môi trường
sống, phân bố, công dụng của khoảng 789 loài Dương xỉ
Ngoài ra, trong quyển I “Cây cỏ có ích ở Việt Nam” của Võ Văn Chi và
Trần Hợp (1999) đã trình bày công dụng của 181 loài Dương xỉ; Bên cạnh đó, các
tác giả còn mô tả đặc điểm hình thái (vẽ hình minh họa), nơi phân bố, sinh thái để
người đọc hiều đầy đủ hơn về các đặc tính của Dương xỉ
Nguyễn Thị Quý (1999), đã điều tra thành phần loài Dương xỉ ở khu bảo tồn
thiên nhiên Pù Mát và lần đầu tiên xác định có 90 loài, 42 chi, 32 họ phân bố trong
6 sinh cảnh khác nhau, trong đó có 66,7% là cây kinh tế
Nguyễn Nghĩa Thìn (2005), khi nghiên cứu về đa dạng thực vật bậc cao tại
Việt Nam đã thống kê được ngành Dương xỉ có 713 loài thuộc 170 chi, 26 họ;
đồng thời xác định loài Drynaria fortune (Kuntze ex Mett.)J Smith, 1857 là loài
sắp nguy cấp V, Drynaria bonii Christ, 1910 là loài sắp nguy cấp T
Võ Văn Chi (2007), trong quyển “Sách tra cứu cây cỏ Việt Nam”, tác giả đã
giới thiệu danh pháp thực vật, các bậc phân loại, danh mục các chi cùng với các
loài trong chi của nhóm thực vật bậc cao có mạch, trong đó có Dương xỉ
Nguyễn Đắc Tạo và Phan Thị Thanh Thủy (2008), đánh giá tính đa dạng thành
phần loài thực vật bậc cao có mạch ở khu vực Hồ Phú Ninh, Tỉnh Quảng Nam ghi nhận
được Dương xỉ (Polypodiophyta) với 11 họ (10,68%), chi (4,89%), 19 loài (5,08%)
Nghiên cứu sử dụng thực vật (Dương xỉ) để xử lí ô nhiễm Asen trong đất
vùng khai thác khoáng sản đã được Bùi Kim Anh thực hiện năm 2011
Đề tài nghiên cứu “Thành phần loài Dương xỉ (Polypodiophyta) ở thành phố
Cần Thơ” của Phạm Thị Bích Thuỷ (2012) đã định danh và mô tả được 29 loài
Dương xỉ, thuộc18 chi, 10 họ
Trang 14Nguyễn Thị Thanh Tú (2013), Nghiên cứu sử dụng cỏ Vetiver và Dương xỉ
để cải tạo đất bị ô nhiễm kim loại nặng sau khai thác thiếc tại xã Hà Thượng,
Huyện Đại Từ, Tỉnh Thái Nguyên
Trong những năm gần đây, nghiên cứu đa dạng thành phần loài cũng là đề
tài được nhiều sinh viên Đại học Cần Thơ quan tâm chọn làm đề tài Luận văn tốt
nghiệp như đề tài “Thực hiện bộ sưu tập các loài thuộc ngành Dương xỉ
(Polypodiophyta) ở quận Cái Răng và quân Bình Thủy thành phố Cần Thơ” của
Đinh Thị Duyên và Lê Nguyễn Phương Thúy (2012), đã định danh được 23 loài
Dương xỉ, thuộc 13 chi, 9 họ; đề tài “Khảo sát thành phần loài thực vật bậc cao có
mạch trong hệ sinh thái rừng tràm ở khu bảo tồn thiên nhiên Lung Ngọc Hoàng –
Phụng Hiệp – Hậu Giang” của Ngô Thúy Ngân (2012), đã định danh được 8 loài
Dương xỉ, thuộc 7 họ, 8 chi
2.3 Giới thiệu chung về ngành Dương xỉ
2.3.1 Lịch sử tiến hóa
Trong lịch sử tiến hóa của trái đất, Dương xỉ đã xuất hiện rất sớm, dựa vào
kết quả nghiên cứu hóa thạch của một số nhà khoa học, cổ sinh học cho biết ngành
Dương xỉ đã xuất hiện đầu tiên trong Kỷ Devon, sau đó phát triển hưng thịnh và
chiếm ưu thế trên trái đất ở Kỷ Than đá với nhiều loài Dương xỉ có kích thước gỗ
lớn đến nay đã tuyệt chủng hầu hết Các loài Dương xỉ hiện nay chủ yếu là thân
thảo lâu năm, kích thước nhỏ, thân gỗ rất ít (Hoàng Thị Sản, 1999)
Xét về nguồn gốc cũng như thông đá và cỏ tháp bút, Dương xỉ bắt nguồn từ
quyết trần phát triển theo hướng lá to (Hoàng Thị Sản, 1999), là một trong ba nhóm
tiến hóa chiếm ưu thế trên bề mặt trái đất cho đến hiện nay và là tổ tiên của các loài
có mối quan hệ gần gũi nhưng không phải là tổ tiên trực tiếp của ngành hột trần và
ngành hột kín
Ngành Dương xỉ thuộc nhóm thực vật bậc cao có mạch, không có hạt, sinh
sản thông qua các bào tử, gồm những cây thân gỗ hay thân thảo, lá kiểu đại diệp,
có nguồn gốc từ cành kiểu Rhynia biến đổi thành, từ phân nhánh đơn phân tiến hóa
lên phân nhánh lông chim, chia thùy nhiều lần Hệ thống dẫn trung trụ nguyên sinh
đến trung trụ hình lưới, hình ống Lá từ không phân hóa thành lá mang bào tử và lá
Trang 15dinh dưỡng, sau phân biệt rõ rệt Bào tử nang lúc đầu xếp rời rạc trên đỉnh lá hay
mép phiến, sau tụ hợp thành ổ túi nang ở mặt dưới lá, có áo bao bọc ở ngoài Bào
tử nang cũng tiến hóa từ loại rất lớn, có vỏ dày, nhiều lớp tế bào, đến loại bào tử
nang nhỏ bé, có vỏ mỏng, chỉ có một lớp tế bào và hình thành vòng cơ tầng là cơ
quan chuyên hóa để phát tán bào tử Sinh sản cũng tiến hóa từ đẳng bào tử, tiến lên
loại dị bào với giao tử hình thái rõ ràng (Trần Hợp, 1968) Vòng đời đặc trưng bởi
sự luân phiên các thế hệ, với một pha thể bào tử lưỡng bội và một pha thể giao tử
đơn bội, thể bào tử là cây trưởng thành, rất phát triển so với thể giao tử
2.3.2 Đặc điểm chung để nhận diện Dương xỉ:
Theo Trần Hợp (1968), Dương xỉ gồm những cây thân gỗ hay cỏ, thân rễ bò
ngang, nghiêng hay thẳng đứng, mọc ở đất, trên thân cây khác, hay trong nước
Lá to kiểu đại diệp, lúc non cuộn tròn lại Lá có hình dạng và gân lá khác
nhau, thường chia thùy nhiều lần hoặc lá kép lông chim (Lê Công Kiệt, 1974)
Lá được chia ra thành hai kiểu:
+ Lá dinh dưỡng: Là lá không sinh ra bào tử, nó chỉ sản xuất các chất đường
nhờ quang hợp để dương xỉ phát triển
+ Lá sinh sản : Lá sinh ra bào tử Điểm khác biệt là các lá bào tử của dương
xỉ thông thường không chuyên biệt hóa, nghĩa là nó vừa sản xuất các chất đường
nhờ quang hợp, giống như các lá dinh dưỡng, vừa thực hiện chức năng sinh sản do
mang bào tử
Đặc điểm bào tử
Bào tử có thể giống hoặc khác nhau tùy theo điều kiện môi trường trên cạn hay dưới nước Đa số bào tử nang nằm ở bìa lá, ở mặt dưới của lá
hoặc đôi khi ở những lá đặc biệt (Hoàng Thị Sản, 1999)
Về cấu tạo cũng phức tạp, túi bào tử thường tập hợp thành ổ ở mặt dưới lá, ổ túi có hình dạng khác nhau, có vảy (áo) phủ hay không Có vòng
cơ do những tế bào chuyên hóa xếp thành làm nhiệm vụ phát tán bào tử Vị
trí và cách sắp xếp vòng cơ đặc trưng cho từng nhóm dương xỉ, là một trong
những cơ sở quan trọng để nhận diện, phân loại các loài trong cùng một họ
hay cùng một chi (Theo Võ Văn chi và Dương Dức Tiến, 1978)
Trang 16 Thân: có nhiều dạng khác nhau tùy theo loài, thường là thân rễ mọc bò
ngầm dưới lòng đất, đôi khi thân bò mọc bò trên mặt đất hoặc thân cột bán hóa gỗ
mọc thẳng trên mặt đất, phân nhánh hoặc không phân nhánh
Rễ: Chúng luôn luôn là rễ chùm, không quang hợp mọc ngầm dưới đất, có
chức năng hút nước và các chất dinh dưỡng từ trong đất
2.3.3 Hệ thống phân loại
Dương xỉ là một ngành lớn vô cùng đa dạng, phong phú với nhiều họ, giống
và có ít nhất 10.000 loài và khoảng 300 chi Việc phân loại Dương xỉ khá phức tạp
và khác nhau, tùy theo các tác giả Có tác giả chia ngành này thành 2 lớp: Lớp
Dương xỉ cổ (Sporaiangiantae) và lớp Dương xỉ (Leptosporangiatac), có tác giả chia
thành 3 lớp (tách lớp Dương xỉ thành hai lớp riêng biệt), Sporne (1996) lại chia thành
4 lớp Còn Cronquist,Takhtajan và Zimmerman thì để chung một lớp với nhiều phân
lớp khác nhau (Lương Ngọc Toản và Võ Văn Chi, 1978) Theo Takhtajan (1986),
ngành này được chia làm 5 lớp, trong đó các Dương xỉ hiện sống thuộc 3 lớp
(Ophioglossopsida, Marattiopsida và polypodiopsida) còn hai lớp kia thuộc loại
Dương xỉ cổ nhất đã tuyệt chủng hàng loạt cùng đa số các sinh vât do sự thay đổi đột
ngột của khí hậu và những biến cố địa chất (Hoàng Thị Sản,1999)
Theo Hoàng Thị Sản (1999) Ở nước ta, dương xỉ có 3 lớp:
Lớp Lưỡi rắn (Ophioglossopsida) Lớp Tòa sen (Marattiopsida) Lớp Dương xỉ (Polypodiopsida)
Lớp Lưỡi rắn (Ophioglossopsida)
Là đại diện cổ và nguyên thủy nhất của ngành Dương xỉ Đó là những cây
nhỏ, có thân rế ngắn, bò trên mặt đất Lá gồm 2 phần, phần mang túi bào tử tập hợp
thành bông và phần không sinh sản hình phiến, có màu lục Túi bào tử không
cuống, vách dày gồm nhiều lớp tế bào, không có vòng cơ Bào tử giống nhau
Lớp này chỉ có 1 bộ Lưỡi rắn (Ophioglossales) với 1 họ Lưỡi rắn
(Ophioglossaceae) Hiện chỉ còn 3 chi: Lưỡi rắn (Ophioglossum) khoảng 50 loài,
Quản trọng (Helminthostachys) 1 loài và Âm địa (Botrychium ) khoảng 36 loài
Trang 17Đại diện:
Chi Ophioglossum (Ophioglossum petiolatum Hook.): Ở miền núi cao, lá
hữu thụ và bất thụ đều nguyên Lá bất thụ thuôn bầu dục, gân nỗi rõ Lá hữu thụ
hình bông dài, dẹt, đơn
Chi Helminthostachys (Helminthostachys zeylanica (L.) Hook.): Trong
rừng thứ sinh, ẩm, miền trung du Lá bất thụ xẻ thùy chân vịt sâu, rộng lớn, dày Lá
hữu thụ là bông đơn
Chi Botrychium (Botrychium ternatum Sw.): Trong rừng gần biên giới
Việt Trung, nơi ẩm lạnh Lá bất thụ, kép long chim, Lá hữu thụ hình chùy (bông
kép)
Lớp Tòa Sen (Marattiopsida)
Là một trong những nhóm tương đối nguyên thủy của Dương xỉ hiện đại,
chúng gồm những cây lớn hay bụi nhỏ Lá kép lông chim 1 hay nhiều lần, gốc lá
thường phồng lên, mọc ra từ một thân rễ ngắn Túi bào tử xếp sít nhau thành ổ ở
mặt dưới lá, vách dày, có nhiều lớp, vòng cơ đơn giản, bào tử giống nhau
Gồm 1 bộ Tòa sen (Marattiales), 1 họ Tòa sen (Marattiaceae) Họ này có 6
chi, trong đó 2 chi hay gặp ở nước ta là Angiopteris (11 loài) và Marattia
Đại diện:
Chi Angiopteris (Angiopteris annamensis C ch và Tardieu):Cây bụi lớn,
lá kép lông chim 2 lần Ổ tử nang hình trái xoan ở gầng mép lá Có nhiều trong
rừng ẩm, miền Trung Cây có dáng đẹp, được trồng làm cảnh; thân rễ có thể ăn
được, hay dùng làm thức ăn trong chăn nuôi
Chi Marattia (Marattia sambucina Dl): Cây cao 50 cm, lá kép lông chim
2 3 lần Ổ tử nang xếp theo gân thứ cấp Cây dễ gặp trong rừng ẩm, chân núi cao
Lớp Dương xỉ (Polypodiopsida)
Đây là lớp chính và lớn nhất của ngành Dương xỉ, có tới 1 vạn loài với hơn
270 chi, gồm các Dương xỉ trẻ và hiện đang sống Cây thân cỏ chiếm đa số, một số ít
thân gỗ hoặc dây leo Cây sống trên đất, ở nước hay bì sinh trên các cây gỗ khác
Cây có thân rễ phân nhánh hay hơi phân nhánh, nằm ngang hay thẳng đứng mang lá
Trang 18lớn Lá rất khác nhau về kích thước, cách phát gân và mật độ, có hình dạng rất khác
nhau, xẻ lông chim nhiều lần, rất ít có lá nguyên Lá non bao giờ cũng cuộn tròn ở
đầu Phần lớn lá đồng dạng không phân hóa thành lá dinh dưỡng và lá mang bào tử
Hệ thống phân loại lớp Dương xỉ còn phức tạp, chưa có sự thống nhất giữa
các tác giả Theo Trần Hợp (1968) trong quyển “Phân loại thực vật” chia lớp
Dương xỉ thành hai bộ: Bộ Dương xỉ và bộ thủy Dương xỉ Còn theo sách “Khuyết
Thực Vật” của Lê Công Kiệt (1974), thì chia lớp Dương xỉ (Pteropsida) thành 4
lớp phụ Theo Dương Ðức Tiến và Võ Văn Chi (1978), sách “Phân loại học Thực
vật (Phần Thực vật bậc cao)”, lớp Dương xỉ (Polypodiopsida) được chia thành 3
phân lớp theo hệ thống phân loại của Takhtajan
Theo cách phân chia của Hoàng Thị Sản (1999), Dương xỉ chia thành 6 bộ
(Osmundales, Schizaeales, Polypodiales, Cyatheales, Marsileales, Salviniales) thì 4
bộ đầu chủ yếu các loài thuộc nhóm Dương xỉ cạn, 2 bộ sau gồm các loài thuộc
nhóm Dương xỉ nước
Dương xỉ cạn: Có đặc điểm chung là bào tử giống nhau (nẩy mầm cho
nguyên tản lưỡng tính) Các bào tử nang thường tập hợp thành nang quần nằm ở
mặt dưới của lá hoặc ở bìa lá Hình dạng và vị trí của mỗi bào tử nang ở mặt dưới
lá rất khác nhau; bên ngoài nang quần có khi có vẩy (áo) che đậy (do biểu bì dưới
của lá tách ra) Tính chất của phần cơ ở bào tử nang cũng rất thay đổi trong các họ,
các giống, vòng cơ tầng đầy đủ hay không, nằm dọc, nằm chéo qua chân hay nằm
ngang ở đỉnh hoặc ở vùng giữa bào tử nang Thể giao tử của nhiều Dương xỉ ở cạn
có màu lục, thường lưỡng tính, một số ít có khuynh hướng phân tính Phôi phát
triển trên nguyên tản Phôi này sau đó có sự phân hóa và hình thành rễ sơ cấp Ở
một số Dương xỉ bì sinh không hình thành rễ, chúng bám chặt nhờ những lông
(lông rễ) mọc trên thân và lá hoặc nhờ những thân rễ
Bộ Bòng bong (Schizaeales)
Họ Schizaeaceae với giống đại diện thường gặp là:
+ Bòng bong (Lygodium flexuosum (L.) Sw.): Thân leo, có cuống dài
Lá kép lông chim 2 3 lần, ổ túi nằm ở mép lá Cây mọc dại ven đồi hay bờ
đường, phổ biến ở nhiều nơi
Trang 19+ Bòng bong nhật (Lygodium japonicum (Thunb) Sw.): Lá nhỏ hơn lá
bòng bong, rộng 3 8cm, có khía răng thường gặp trong các bụi thường
dùng làm thuốc lợi tiểu
+ Bòng bong lá xẻ (Lygodium confome C Chr.): Cây leo gần 10m
Lá chân vịt, phổ biến ở khắp nơi dùng làm thuốc
+ Bòng bong leo (Lygodium scandens (L.) Sw.): Lá chét nhỏ dài 2
3cm, cuống lá không có cánh
Bộ Dương xỉ (Polypodiales)
Họ đại diện Dương xỉ (Polypodiaceae): Gồm 65 chi, 1.200 loài, đa
số mọc ở vùng nhiệt đới Căn hành nằm, thường phụ sinh Lá có dạng rất
khác nhau; lá hình lông chim, có thùy hoặc lá nguyên; gân lá hình mạng
lưới Nang quần không có bao mô Nang quần tròn, đôi khi kéo dài ra dọc
theo gân, hoặc song hành với bìa lá, hoặc rãi đều trên một phần hay khắp
mặt dưới của lá Bào tử có đối xứng lưỡng biên Nguyên tản hình tim
Các đại diện thường gặp:
+ Cốt toái bổ/Tắc kè đá (Drynaria bonii Christ): Thân rễ ngắn, có lá
thoái hóa, mỏng, lớn bao bọc ở gốc, nhiều mùn ở trong Lá dài chia thùy
long chim cách nhau, sâu, tròn ít khi thuôn dài, ổ tử nang tròn nhỏ, xếp đều
đặn Có nhiều ở vách đá, ẩm
+ Lưỡi mèo tai chuột (Pyrrosia adnascens (Swartz.) Ching: Thân rễ
nhỏ, dài, thường mọc bò, bì sinh trên các cây to Có lá sinh dưỡng và lá sinh
sản riêng biệt, lá sinh dưỡng hình bầu dục giống tai chuột, lá sinh sản hình
thuôn dài giống lưỡi mèo, mang rất nhiều túi bào tử ở mặt dưới
Bộ Cỏ luồng (Pteridales)
Họ Cỏ seo gà (Pteridaceae): Gồm những dương xỉ có căn hành nằm hoặc đứng, bao bọc bởi lông hoặc vảy Lá có hình dạng rất biến thiên, nhỏ
hoặc rất to; cuống không có khớp, phiến hình lông chim Gân hở hoặc giao
tiếp nhau tạo thành nhiều ô nhỏ, không có gân nhỏ trong những ô nầy Nang
quần mọc liên tục ở sát bìa lá, nơi 2 ngọn gân giao tiếp nhau
Trang 20+ Guột (Dicranopteris linearis (Burm.) Undrew.): Lá to và cứng,
chia 3 4 nhánh, có cuống dài, nhẳn và dai Cây chịu hạn, cuống lá dùng để
đan rổ, rế hoặc dùng làm dây buộc, cây dễ cháy nên dùng đun thay rơm, củi
+ Ráng (Acrostichum aureum L.): Mọc ở các bãi lầy gần bờ nước
mặn hay nước lợ Thân rễ mọc thẳng đứng, dày, lá kép lông chim có lá bất
thụ to lớn, lá hữu thụ nhỏ bé ở gốc mang ổ bào tử nang xếp dày đặc Ổ tử
nang ở mạt dưới lá trừ gân giữa và mép Ở nước ta gặp phổ biến ở nhiều nơi
Dùng làm rau ăn hay sử dụng cọng phơi khô để làm chổi, rất bền
+ Pteris vittata L.: Bụi cao 0,3 1,5m Thân rễ ngắn, phủ vẩy dài 5mm, màu hung Lá mọc thành hình hoa thị, phiến kép lông chim lẻ Ổ túi
bào tử liên tục ở mép lá không đi đến ngọn, áo túi hẹp, mỏng Chúng chỉ sinh
trưởng tốt ở những nơi có đá vôi Nó có thể được nhìn thấy dễ dàng trên các
kết cấu bê tông và các vết nứt Hiện nay loài này là đối tượng nghiên cứu về
khả năng loại bỏ Asen trong đất nhiễm kim loại nặng
Họ Nguyệt xỉ, Tóc thần (Adiantaceae):
+ Cây Tóc thần vệ nữ (Adiantum capillus veneris L.): Cây có thân rễ
bò dài, lá có cuống đen, mảnh, bóng, phiến xẻ 2 lần long chim, hình tam
giác mà cạnh có ổ tử nang xếp đứt quãng trong các áo do mép lá gập lại,
mỏng Cây mọc rất nhiều ở bãi cỏ, chân đồi, hình dạng đẹp
Họ Gạc nai (Pakeriaceae)
+ Ráng gạc nai, Rau cần trôi, Rau câu trời (Ceratopteris thalictroides (L.) Brong.): Cây sống hàng năm, có thân rễ mọc đứng Lá xẻ
2 lần lông chim, lá xẻ hình sợi sâu; cuống lá dày xốp mọng nước Cây
thường mọc ở ruộng, đồng lầy Dùng làm thức ăn cho Heo
Bộ Dương xỉ thân gỗ (Cyatheales)
Họ Cẩu tích (Dicksoniaceae)
+ Cẩu tích, Cây lông cu li (Cibotium bazometz (L.) Sm.): Thân rễ to
có nhiều lông màu vàng nâu bao phủ, lá lớn có cuống dài 12 m, màu nâu
nâu, ở phía gốc có vẩy hình dải rất dài màu vàng và bóng phủ dày đặc, phiến
Trang 21lá dày tới 3 m, rông 60 80 cm, kép long chim bậc hai Nang quần 1 hay 2,
có khi 3 hay 4 ở mỗi bên của gân giữa bậc 3, màu nâu nâu Thân rễ dùng
làm thuốc là loài quý hiếm
Họ Tổ chim (Aspleniaceae):
+ Tổ chim (Asplenium nidus L.): lá đơn nguyên, dài, xếp hình hoa thị
trên thân rễ ngắn, mang nhiều ổ túi hình vạch xếp song song với các gân
phụ Sống bì sinh trên các cây gỗ to trong rừng, trồng làm cảnh
- Họ Rau dớn ( Aspidiaceae)
+ Dương xỉ thường (Christella parasiticus (L.) Fawell): Thân rễ
ngắn, mọc bò Lá kép lông chim 2 lần, cuốn dài 20 40 cm, màu vàng rơm,
có vảy ở gốc, còn toàn cuống đều có lông trắng, lá chét bên nhiều, xếp xít
nhau, không cuống, xếp đối ở gốc, xếp so le ở trên Nang quần nằm trên các
gân con, giữa mép và cuống lá Bào tử hình bầu dục, màu vàng Cây mọc
phổ biến ở khắp nước ta
Dương xỉ nước: Có bào tử khác nhau (bào tử lớn và bào tử nhỏ ) Các bào tử
nang nằm trong một khoang kín gọi là bào tử quả Nguyên tản đực rất tiêu giảm
Bộ Rau bợ (Marsileales): chỉ có một họ Rau bợ (Marsileaceae) Ở ta
chỉ gặp 1 giống Marsilea với 3 loài có môi trường phân bố gần như nhau (Phạm
Hoàng Hộ, 1991)
+ Rau bợ (Marsilea quadrifolia L.): Cây thân cỏ, bò, mảnh, nằm
ngang trên mặt đất hoặc dưới nước Lá gồm 4 lá chét xếp chéo chữ thập
Cây mọc phổ biến nơi đất ẩm hoặc các ao mương nước nông, ruộng lúa…
Rau bợ là loài cỏ dại, y học dân tộc dùng làm thuốc chữa bệnh thận, đối với nông
nghiệp nó ăn hại màu của đất
Bộ Bèo ong (Salviniales): Bào tử nang nằm trong bào tử quả, mỗi bào tử
quả chỉ là một nang quần (tức chỉ có một ô) duy nhất được bao bọc trong một bao
mô; bao mô nầy chính là vách của bào tử quả Bào tử quả cũng có 2 loại: Bào tử
lớn chứa các đại bào tử , bào tử quả nhỏ chứa các tiểu bào tử Bộ gồm 2 họ:
Trang 22 Họ Bèo ong (Salviniaceae): Không có rễ thật Ở Việt Nam phổ biến hai loài rất gần gũi nhau, thường phân bố cùng một nơi Cả 2 loài thường
được người dân dùng làm thức ăn cho lợn
+ Bèo ong/ bèo tai chuột (Salvinia cucullata Roxb.) + Bèo vảy ốc (Salvinia natans Hoff.)
Họ Bèo hoa dâu (Azollaceae)
+ Bèo hoa dâu (Azolla caroliana Willd.): Cây rất nhỏ, nổi trên mặt
nước, có rễ thật Thân phân thành nhiều nhánh, nhánh có mang nhiều lá sắp
kết lợp thành 2 hàng Lá nhỏ độ 1mm, không cuống Là nguồn phân bón tốt
cho ruông lúa
2.4 Môi trường phân bố, sinh cảnh và dạng sống của các loài Dương xỉ
Dạng sống của thực vật là biểu hiện về hình thái, cấu trúc cơ thể thích nghi
với điều kiện môi trường, sinh cảnh sống khác nhau giữa các vùng hay nói cách khác
dạng sống biểu hiện mối tương quan với các nhân tố sinh thái của nơi sống tạo nên
Dương xỉ là loài dễ thích nghi, môi trường sống rộng khắp nơi Theo Phạm
Hoàng Hộ (1999), chúng phân bố từ đồng bằng cho đến các Bình nguyên, Cao
nguyên (Taenitis blechnoides (Wild.) Sw., Adiantum induratum Chr.,…) hay cả
vùng núi cao như chi Osmunda (Osmunda cinnamomea L, Osmunda vachellii
Hook.); chi Plagiogyra (Plagiogyra adanata (BI.) Bedd., Plagiogyra maxima C
Chr.) và cả sa mạc khô đá như Woodsia và Cheilanthes (theo Phạm Thị Nga và Võ
Văn Bé, 2010)
Về dạng sống, theo Phạm Hoàng Hộ (1999), phần lớn dạng sống của Dương
xỉ là thân cỏ, dạng leo, số ít dạng gỗ, Dương xỉ sống trên mặt nước có dạng nổi
Theo Phạm Thị Nga và Võ Văn Bé (2010), phần lớn Dương xỉ là thân cỏ và đa
niên, số ít thân gỗ với có kích thước rất lớn như Angiopteris, Cyathea, Cnemidaria
đến nay đã tuyệt chủng hầu hết Và các giống khác, mặc dù có hình thái giống cây
thân gỗ nhưng chúng không có cấu trúc gỗ thứ cấp hoặc dây leo, một số cây có
thân rễ nằm ngang hay thẳng đứng mang lá lớn
Trong tự nhiên Dương xỉ hiện diện ở nhiều loại sinh cảnh, môi trường sống
khác nhau, chúng phát triển tốt ở những nơi ẩm ướt, dưới bóng râm hay trên cây
Trang 23trong các vườn tạp, vườn cây ăn trái, đất hoang, đất ruộng, bờ đường , ven bờ kinh
mương (đầm rầy, đất ngập nước), dưới nước … và đó được xem là các sinh cảnh,
nơi sống tiêu biểu của Dương xỉ Điển hình một số loài sống chìm trong nước như
Ceratopteris; Chi Salvinia (Bèo vảy ốc Salvinia natans Hoff) và chi Azolla (bèo
hoa dâu Azolla caroliana Willd.) trôi nổi trên mặt nước; một số khác là sống bì
sinh trên thân cây như Cốt toái bổ (Drynaria bonii Christ ), Chi Asplenium (Tổ
chim Asplenium nidus L.); hoặc dây leo như chi Lygodium (Bòng bong dẻo
Lygodium f lexuosum (L.) Sw.)
2.5 Công dụng của Dương xỉ
Dương xỉ là một ngành không có nhiều đóng góp vào sự đa dạng của thảm
thực vật, ít có giá trị kinh tế nhưng vẫn nó có tầm quan trọng nhất định, từ xa xưa
con người đã biết sử dụng Dương xỉ để làm thuốc, làm phân bón, làm tiểu thủ công
nghiệp hay dùng làm thức ăn gia súc Ngày nay, cùng với sự tiến bộ của khoa học kĩ
thuật, con người đã phát hiện được vai trò rất quan trọng của Dương xỉ là chúng có
khả năng hấp thụ kim loại nặng, làm giảm ô nhiễm môi trường ở các khu công nghiệp;
Bên cạnh đó, nhiều loài Dương xỉ còn được trồng làm cảnh bởi vẻ đẹp
Theo Võ Văn Chi và Trần Hợp (1999), trong quyển "Cây cỏ có ích ở Việt
Nam" đã thống kê được 182 loài Dương xỉ có công dụng Theo Nguyễn Nghĩa
Thìn (2005) nghiên cứu đa dạng về cây trồng Việt Nam trong 3 ngành: Dương xỉ,
Hạt trần và ngành Hạt kín đã xác định được khoảng 12 loài Dương xỉ được nhân
trồng làm cảnh, chiếm tỉ lệ 0,84% Theo Phạm Hoàng Hộ (1999), trong quyển "Cây
cỏ Việt Nam" ngoài trình bày đặc điểm hình thái (vẽ hình minh hoạ), nơi phân bố
tác giả còn giới thiệu công dụng của các loài Dương xỉ Công dụng của Dương xỉ
chủ yếu phân vào các nhóm: Thức ăn, dược liệu, trồng cảnh, phân bón, hiện nay
một số loài là đối tượng cho nghiên cứu khoa học
Quản trọng (Helminthostachys zeylanica (L.) Hook.): Bộ phận dùng thân
rễ Thân rễ được dùng trị ho có nhiều đờm, hen suyễn và ho lao Dùng ngoài, giã
thân rễ tươi đắp vết thương và rắn độc cắn, đồng thời sắc nước uống Ở Ấn Ðộ,
người ta dùng trị bệnh đau dây thần kinh tọa
Trang 24 Cốt toái bổ (Drynaria fortunei (G Ktze) J.Sm.): Bộ phận dùng thân rễ
Cốt toái bổ là một trong những cây thuốc có tác dụng dự phòng và điều trị loãng
xương, điều trị gãy xương và các bệnh về xương khớp khác
Cẩu tích, Cây lông cu li (Cibotium barometz (L.) J Sm.): Bộ phận dùng
thân rễ, lông phủ ngoài thân rễ Dùng chữa phong hàn, thấp tê đau lưng, nhức mỏi
chân tay, khó cử động, đau dây thần kinh toạ, chứng đi tiểu són không cầm Lông
cẩu tích có tác dụng cầm máu có tính cơ học bằng cách hút huyết thanh của máu và
giúp cho sự tạo máu cục, làm cho máu chóng đông
Rau dớn (Diplazium esculentum (Retz.) Sw): do tính mát nó là một trong
những vị thuốc có tác dụng lợi tiểu, chóng táo bón, giúp dễ ngủ, ngủ sâu, giúp cơ
thể khỏe mạnh
Rau bợ, Cỏ chữ điền (Marsilea quadrifolia L.): Bộ phận dùng toàn cây
Trong y học, thường dùng trị suy nhược thần kinh, sốt cao không ngủ, điên cuồng,
viêm thận phù 2 chân, viêm gan, viêm kết mạc, sưng vú, tắc tia sữa, rắn độc cắn,
sốt rét, động kinh, thổ huyết, đái ra máu, sỏi thận, sỏi bàng quang, đái đường
Theo sách đỏ Việt Nam (2007), hiện nay 2 loài thuộc họ Dương xỉ
polypodiaceae đang đứng trước một nguy cơ rất lớn sẽ bị tuyệt chủng ngoài tự
nhiên trong tương lai gần:
Tắc kè đá (Drynaria bonii C Chr.) theo quan sát trực tiếp được coi là loài
nguy cấp do suy giảm nơi cư trú, khu phân bố và/hay chất lượng nơi sinh cư, do
mức độ khai thác hiện nay hoặc khả năng
Cốt toái bổ (Drynaria forttunei (Kuntze ex Mett.) J Smith) được coi là
loài sẽ nguy cấp do suy giảm nơi cư trú, khu phân bố và/hay chất lượng nơi sinh
cư, do mức độ khai thác hiện nay hoặc khả năng
Rau cần trôi, ráng gạc nai (Ceratopteris thalictroides (L.) Brongn): Dùng
làm thức ăn cho gia súc và được coi là một loại rau dại có thể ăn
Rau dớn (Diplazium esculentum (Retz.) Sw)
Ráng đại (Acrostichum aureum L.)
Trang 25 Choại, Chạy (Stenochlaena palustris (Burn) Bedd.),…
Nhiều loài Dương xỉ được chọn để trang trí, làm cảnh như: Cây Ráng ổ
tràng Platycerium coronarium (Koenig) Desv), Stenochlaena palustris (Burm.f.)
Bedd., Tóc thần lá quạt Adiantum flabellu-latum L.)
Nghiên cứu khoa học:
Pteris vittata L.: Cải tạo đất bị nhiễm kim loại nặng (nhiễm Asen), nước
sinh hoạt Đây được xem là công nghệ thân thiện với môi trường, chi phí thấp
nhưng hiệu quả cao, rất phù hợp với điều kiện ở Việt Nam (Theo kết quả nghiên
cứu của Bùi Kim Anh, 2011)
Ngoài ra:
Bèo hoa dâu (Azolla caroliana Willd.): Trong khoang lá Bèo hoa dâu
(Azolla caroliana Willd.) có loài vi khuẩn lam Anabaena azollae cộng sinh có khả
năng cố định nitơ tự do được xem là nguồn phân xanh bón cho ruộng lúa, làm tăng
năng suất, sản lượng và rất hiệu quả; Ngoài ra nó còn có tác dụng giữ nước, chống
cỏ dại, chống rét và là nguồn thức ăn cho lợn, gà, vit,…Đây là nguồn phân bón tốt
và tương đối dễ trồng (Ths Đặng Minh Quân, 2011)
Loài Acrotichum aureum L dùng lợp nhà, làm chổi
Một số loài dùng chỉ thị như cỏ đuôi chồn Pteris, vv…
Trang 263.1.2 Phương tiện phân tích và xử lí mẫu trong phòng thí nghiệm
Kính hiển vi (KHV), Kính lúp, lame, lamme,…
Vĩ ép mẫu, Giấy báo, Keo trong, Dây buộc, Bìa cứng, Giấy Croki,…
Tài liệu, Sách tham khảo định danh,phân loại…
3.2 Phương pháp thực hiện
3.2.1 Phương pháp khảo cứu tài liệu
Tìm hiểu các nguồn tài liệu tổng quan về địa điểm và điều kiện khu vực
nghiên cứu
Thu thập các sách tham khảo, tài liệu, các đề tài dự án có liên quan đến đối
tượng nghiên cứu, tiến hành chọn lọc, tổng hợp tìm hiểu về đặc điểm, mô tả hình
thái, công dụng, phân bố, sinh thái để thuận tiện trong quá trình nhận dạng, định
danh và xây dựng bảng danh lục về thành phần loài dương xỉ ở khu vực nghiên
cứu
Nghiên cứu tài liệu hướng dẫn cách thu, xử lí và trình bày mẫu, định danh
và phân loại mẫu
3.2.2 Phương pháp ngoại nghiệp
3.2.2.1 Xác định tuyến đường và địa điểm thu mẫu
Vì đề tài mang tính chất định tính, hai khu vực khảo sát có diện tích rộng
lớn, huyện Châu Thành A có 10 đơn vị hành chính, Phụng Hiệp có đến 15 đơn vị
hành chính và đề tài được thực hiện trong thời gian ngắn nên không lập ô tiêu
chuẩn, mà chỉ thu mẫu theo các tuyến đường và sinh cảnh
Trang 27Ở mỗi huyện, quá trình khảo sát được được hiện trên các tuyến đường, địa
điểm sau:
Huyện Châu Thành A:
Xã Thạnh Xuân, Nhơn Nghĩa A, Tân Phú Thạnh, Tân Hòa
Thị trấn Cái Tắc, Rạch Gòi, Một Ngàn, Bảy Ngàn
Huyện Phụng Hiệp
Xã Thạnh Hòa, Tân Long, Bình Thành, Tân Bình, Hòa An, Phụng Hiệp, Long Thạnh, Hòa Mỹ
Thị trấn Cây Dương, Kinh Cùng
Và các sinh cảnh như: Đất hoang, đất ngập nước, vườn cây lâu năm (vườn
tạp, vườn cây ăn trái các loại), đất trồng hoa màu,…
Trên mỗi tuyến đường và sinh cảnh, bước đầu chúng tôi tiến hành nhận diện
những cây thuộc ngành Dương xỉ, chụp ảnh, thu mẫu để làm tiêu bản mẫu ép khô,
bộ sưu tập ảnh, phân tích và tra cứu tên khoa học
3.2.2.2 Thu mẫu (Nguyễn Nghĩa Thìn, 1997)
Dựa vào đặc điểm hình thái của của ngành Dương xỉ chủ yếu là: lá to kiểu
đại diệp, hình lông chim, lúc non cuộn tròn lại (lá lược đuôi mèo), bào tử nang ở
bìa lá hoặc ở mặt dưới của lá, đôi khi ở những lá đặc biệt Trong quá trình điều tra,
khảo sát nhận diện đúng được loài Dương xỉ, tiến hành song song vừa chụp ảnh và
thu mẫu
Mỗi loài cần phải thu từ 3 – 5 mẫu:
+ Những mẫu giống nhau vừa để nghiên cứu các dạng thay đổi của loài
+ Có thể lựa chọn mẫu đẹp vì trong quá trình thu giữ mẫu, xử lí mẫu, trình bày mẫu không tránh khỏi hư hại
Mỗi mẫu phải có đầy dủ các bộ phận:
+ Nếu mẫu cỡ nhỏ như thân cỏ, bụi, kích thước không quá 1m, thu toàn bộ cây(đầy đủ các bộ phận: rễ, thân, lá)
Trang 28+ Nếu mẫu quá lớn, kích thước trên 1m, ta tiến hành thu từng bộ phận của mẫu: rễ, thân, lá
Đối với mẫu lá, thu đồng thời lá chứa bào tử và lá dinh dưỡng, đối với lá
vừa là dinh dưỡng vừa là sinh sản, cần chọn những lá trưởng thành (có chứa bào
tử), hoặc rau bợ và các loại bèo, cố gắng thu được những mẫu có thể quả
Cần phải ghi chú lại địa điểm thu mẫu (xã, huyện) và nơi, sinh cảnh thu
mẫu (đất ngập nước, đất vườn, đất hoang hay bì sinh trên cây, ) để làm cơ sở đánh
giá sự đa dạng thành phần loài, đa dạng về môi trường và dạng sống của dương xỉ
giữa các khu vực nghiên cứu
Tiến hành xử lí sơ bộ tại chỗ đối với những mẫu mềm (mẫu nhỏ, thu toàn
bộ: rễ, thân, lá non) Những mẫu cứng, ít bị thay đổi được giữ trong bịt nilong đem
về xử lí trong Phòng Thí Nghiệm (thực hiện bộ sưu tập mẫu ép)
Cách chụp ảnh để làm bộ sưu tập ảnh
Chụp tổng quan sinh cảnh, môi trường sống của loài: trong vườn, đất hoang, đất
trồng hoa màu,bì sinh…
Chụp tổng quát toàn thân để thấy dạng sống: chúng là thân cỏ, thân bụi, dây
leo hay dạng bì sinh
Trải mẫu lên tờ giấy Ao và tiến hành chụp hình mẫu lần nữa:
Chụp toàn bộ hình dạng ngoài của mẫu, dùng thước đo đối với những mẫu
không quá lớn để xác định kích thước một số đặc điểm như chiều dài lá,…
Trang 293.2.3 Phương pháp nội nghiệp (Nguyễn Nghĩa Thìn, 1997)
3.2.3.1 Phương pháp phân tích mẫu
Đối với các loài Dương xỉ trong cùng một họ, một chi có nhiều đặc điểm hình
thái bên ngoài giống nhau, khó khăn trong việc nhận diện, phân loại các loài Do đó:
+ Quan sát dưới KHV về vị trí, cách sắp xếp vòng cơ bào tử nang và hình dạng bào tử
+ Quan sát dưới Kính lúp về cách phát gân lá
Là cơ sở quan trọng để phân loại, định danh
3.2.3.2 Thực hiện bộ sưu tập mẫu ép khô
Trải mẫu ra một tờ báo, vuốt ngay ngắn, thể hiện được đặc điểm dạng
sống ngoài tự nhiên, mỗi mẫu phải có lá sấp, lá ngửa để có thể quan sát dễ dàng cả
hai mặt lá mà không phải lật mẫu Những mẫu có kích thước lớn bẻ gập theo dạng
chữ V hay dạng Z để thu gọn mẫu lại, thuận lợi hơn cho quá trình trình bày mẫu
sau này Dùng băng keo trong để cố định mẫu, sau đó gập tờ báo lại, tiến hành như
thế 510 mẫu dùng bìa carton đặt thêm vào để làm tăng độ cứng cho mẫu, cho đến
khoảng 15 20 mẫu dùng đôi cặp vĩ ép để ốp ngoài rồi ép chặt mẫu và bó lại Các
bó mẫu được đem phơi nắng Phải thường xuyên theo dõi mẫu, thay giấy báo mới
khi thấy báo đã thấm ẩm để mẫu chóng khô và không bị ẩm mốc, không làm cho
mẫu bị nát
Ghi lại các thông tin về mẫu: Tên khoa học, tên thông thường, họ, ngày
thu, địa điểm thu
Trình bày mẫu và dán nhãn vào bìa cứng croki
+ Những mẫu có kích thước nhỏ đính toàn bộ cây, lá có mặt úp- mặt ngửa,
nếu cây chưa có bào tử thì đính kèm phía trên lá có bào tử
+ Những mẫu lớn, cần phải gập lá theo hình zizag hay hình chữ v, có mặt úp
và mặt ngửa
+ Dán nhãn vào gốc phải bên dưới mẫu và gập giấy lại
3.2.3.3 Phân loại, định danh và lập bảng danh lục
Xác định trên khoa học
Trang 30Mẫu thu được sau khi xử lí sẽ tiến hành so sánh, đối chiếu với các tài liệu
tham khảo như: Quyển “Khuyết thực vật” của Lê Công Kiệt (1974), “Cây cỏ Việt
Nam” của Phạm Hoàng Hộ (1999), “Danh lục các loài thực vật Việt Nam, tập I
(2001)” của Nguyễn Tiến Bân Theo Võ Văn Chi và Trần Hợp (1999), “Cây cỏ có
ích ở Việt Nam” để nhận diện và xác định tên khoa học
Xây dựng bảng danh lục
Sau khi xác định tên khoa học, chúng tôi tiến hành lập danh lục các loài
Dương xỉ theo các tiêu chí sau:
STT Tên Khoa học Tên Việt Nam
cảnh
Dạng sống
Công dụng
1
…
Trang 31CHƯƠNG 4
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Đa dạng về thành phần loài Dương xỉ (Polypodiophyta) ở huyện Châu
Thành A và huyện Phụng Hiệp – Tỉnh Hậu Giang
Qua khảo sát và điều tra theo sinh cảnh ở hai huyện Châu Thành A và huyện
Phụng Hiệp – Tỉnh Hậu Giang, kết quả đã thu mẫu và định danh được 24 loài
Dương xỉ, thuộc 17 chi, 11 họ, tất cả các loài đều thuộc lớp Dương xỉ
(Polypodiopsida) Trong đó, huyện Châu Thành A hiện diện 20 loài thuộc 15 chi,
10 họ; huyện Phụng Hiệp hiện diện 18 loài, 13 chi, 10 họ; Có 14 loài thấy hiện diện
ở cả hai huyện; 7 loài xuất hiện phổ biến; Bên cạnh đó, chúng tôi ghi nhận được có
8 loài xuất hiện một lần khi khảo sát
4.1.1 Lập Danh lục các loài Dương xỉ ở ở huyện Châu Thành A và Huyện
Công dụng CTA PH
Trang 33IX HỌ RAU DỆU MARSILECEAE
20 Rau Dệu răng Marsilea crenata Presl,1825 x C 1, 2,4 T, A,
Trang 3423 Salvinia molesta Mitch,
Chú thích: Dạng sống: L - Thân leo, C - Thân cỏ bò, đứng hay thân
ngầm, K - Cây bán kí sinh, phụ sinh, N: thân nổi
Nơi sống:1 - Đất hoang, 2 - Đất ngập nước, 3 - Vườn cây lâu năm, 4- đất
trồng hoa màu, 5- Dạng khác (phụ sinh trên cây, bám trên tường, trồng, )
Công dụng: T - Cây làm thuốc; C - Cây làm cảnh; A - cây làm thức ăn, As -
Cây làm thức ăn gia súc; P: phân bón, K: khác (hấp thu kim loại nặng, thủ
công,…)
4.1.2 Đánh giá đa dạng về phân loại
Đánh giá đa dạng loài ở bậc họ
Trong 11 họ thu được có 4 họ giàu nhất, chiếm số lượng từ 3 loài trở lên
Trang 35 Đánh giá đa dạng loài ở bậc chi
Trong 17 chi, có 2 chi chiếm ưu thế với chi Nephrolepis (Họ
Davalliaceae) 4 loài và chi Salvinia (Họ Salviniaceae) 3 loài (Bảng 4.3)
Qua tìm hiểu các nguồn tài liệu về môi trường, sinh cảnh sống của Dương xỉ
để thuận lợi trong quá trình điều tra, khảo sát thực tế theo sinh cảnh Chúng tôi
nhận thấy rằng Dương xỉ có sinh cảnh và dạng sống rất đa dạng
Sinh cảnh sống của các loài Dương xỉ khảo sát ở huyện Châu Thành A và
huyện Phụng Hiệp phân thành các nhóm sau:
Trang 36Qua bảng ta thấy sinh cảnh của các loài Dương xỉ rất đa dạng, chúng phân
bố chủ yếu ở vườn cây lâu năm (vườn tạp hay vườn cây ăn trái các loại), đây là môi
trường thuận lợi cho nhiều loài Dương xỉ thân cỏ nhỏ sinh trưởng và phát triển, rất
ít Dương xỉ thân cỏ lớn như Ráng đại (Acrostichum aureum L.), Rau choại
(Stenochlaena palustris (Burn) Bedd.), Dớn (Diplazium esculentum (Rezt) Sw),.…
thấy hiện diện 13/24 loài, chiếm tỉ lệ cao nhất 54,17%, ngoài ra cũng gặp nhiều ở
các vùng đất hoang 9 loài (chiếm 37,5%), đất ngập nước 8 loài (chiếm 33,33%); rất
ít gặp ở những nơi trồng rau màu, hay ruộng lúa, do Dương xỉ không có nhiều giá
trị trong lĩnh vực nông nghiệp nên thường được xem là loài cỏ dại, sử dụng thuốc
bảo vệ để loại bỏ, phát hoang, chỉ thấy hiện diện có 2 loài, chiếm 8,33%
Về dạng sống các loài Dương xỉ thu được không có dạng thân gỗ, tất cả đều
thuộc dạng thân cỏ nhỏ với dạng sống khác nhau, chúng tôi tạm xếp vào 4 dạng
sống, được thể hiện bảng 4.5 sau:
Hiệp, tỉnh Hậu Giang
Kết quả cho thấy, đa số các loài Dương xỉ dạng thân cỏ (thân ngầm nằm
ngang dưới đất, đôi khi có thân ngầm ngắn dạng đứng mang những vòng lá khít
nhau), chúng thường sống trên đất ẩm, thảm cây mục, mé nước, đất ngập nước
trong các vườn tạp, vườn cây ăn trái, đất hoang hay đất ruộng, dạng này gồm 13/24
loài chiếm tỉ lệ cao nhất 54,17%
Ở một số loài, thân ngầm nằm sâu trong đất nhưng mang lá sinh trưởng vô
hạn định leo bám trên các cây khác như hai loài Bòng bong (Lygodium flexuosum
Trang 37(L.) Sw., Lygodium scandens (L.) Sw.), Choại (Stenochlaena palustris (Burn)
Bedd) và Nephrolepis radicans (Burm.f.) Kuhn Mặc dù nhóm này chỉ gồm 4 loài,
tuy nhiên, 3/4 loài là những loài phổ biến xuất hiện thường xuyên trên toàn khu vực
nghiên cứu
Nhóm thứ 3 bao gồm những loài sống bám trên thân cây khác, Nhóm này
chỉ gồm 4 loài là Ổ rồng (Platycerium coronarium (Koenig) Desv.), Ráng Hỏa mạc
lá dài (Pyrrosia longifolia (Burm.) Morton.), Ráng vi quần đóm (Microsorum
punctatum (L.) Copel), Cây Tổ điểu bầu dục Asplenium anthrophyoides Christ
Phần lớn những loài phụ sinh này được trồng làm cảnh
Nhóm thân nổi trên mặt nước, thu được 4 loài gồm 3 loài Bèo tai chuột
(Salvinia cucullata Roxb., Salvinia natans (L.) All., Salvinia molesta Mitch) và
Bèo hoa dâu (Azolla pinnata Br.)
Mặc dù Huyện Châu Thành A và Phụng Hiệp đang từng bước đô thị hóa,
nhiều công trình, cơ sở hạ tầng, khu công nghiệp được hình thành dẫn đến môi
trường sống của các loài dương xỉ bị ảnh hưởng, nhưng hai huyện Châu Thành A
và Phụng Hiệp vẫn thuộc vùng nông thôn, nền nông nghiệp giữ chủ đạo, kinh tế
vườn cây ăn trái các loại kết hợp mô hình ao cá phát triển, đặc biệt là Phụng Hiệp
có hệ thống sông ngòi kênh rạch chằng chịt, là điều kiện thuận lợi cho nhiều loài
Dương xỉ sống khu vực có thủy sinh phát triển mạnh, phần lớn Dương xỉ phụ sinh
hiện nay được tìm thấy chủ yếu là được trồng làm cảnh Nhưng càng vào sâu huyện
Phụng Hiệp, còn rất nhiều loài cây to, cổ thụ lâu năm đây là môi trường sống tốt
cho các Dương xỉ phụ sinh sinh sống
4.1.4 Đa dạng về giá trị sử dụng
Qua nghiên cứu thực tế và tìm hiểu các tài liệu như “Cây cỏ có ích ở Việt
Nam” của Võ Văn Chi và Trần Hợp (1999), “Cây cỏ Việt Nam” của Phạm Hoàng
Hộ (1999), kết quả cho thấy công dụng của Dương xỉ rất đa dạng, một loài nhưng lại
có nhiều giá trị sử dụng khác nhau Chúng tôi xếp công dụng Dương xỉ thu được vào 6
nhóm được thể hiện cụ thể qua bảng 4.6:
Trang 38Bảng 4.6: Đa dạng về giá trị sử dụng của các loài Dương xỉ ở Huyện Châu Thành
Kết quả trong 24 loài thu thập được, có tới 17 loài dùng làm thuốc, chiếm tỉ
lệ cao nhất 70.83%; Có 5 loài làm thức ăn cho gia súc (Ceratopteris thalitroides
(L) Brongn., Marsilea crenata Presl, S alvinia cucullata Roxb., Salvinia natans
(L.) All.,Azolla pinnata Br.,), chiếm tỉ lệ khá cao 20, 83% Phân bón có 1 loài: Bèo
hoa dâu (Azolla pinnata Br.) dùng làm phân xanh do khả năng cố định đạm, đem
lại hiệu xuất cho cây trồng
Có 6 loài vừa dùng làm thức ăn vừa có giá trị dược liệu: Ceratopteris
thalitroides (L) Brongn., Acrostichum aureum L., Stenochlaena palustris (Burn)
Bedd, Diplazium esculentum (Rezt) Sw., Nephrolepis cordifolia (L) Presl,
Marsilea crenata Presl, đặc biệt Diplazium esculentum (Rezt) Sw được nhiều
người dân trong vùng ưa chuộng
Có 12 loài trồng làm cảnh như Ceratopteris thalitroides (L) Brongn., Pteris
vittata L., Stenochlaena palustris (Burn) Bedd, Platycerium grande J Sm Ex
Hook Sensu Bedd., Microsorum punctatum (L.) Copel., Asplensium antrophyoides
H Christ, Nephrolepis biserrata (Sw) Schott, Nephrolepis exaltata Suzi Wong.,
Trang 39Nephrolepis cordifolia (L) Presl, Marsilea crenata Presl, Salvinia molesta Mitch,
Azolla pinnata Br Huyện Phụng Hiệp Và Châu Thành A là hai huyện thuộc vùng
nông thôn nhưng lại tìm thấy nhiều loài Dương xỉ trồng làm cảnh Điều đó cho
thấy vẻ đẹp hoang dã của nhiều loài Dương xỉ ngày càng được nhiều người dân có
nhu cầu thẩm mỹ, yêu thích cây cảnh ưa chuộng
Loài Pteris vittata L hiện đang là một trong những đối tượng nghiên cứu
khoa học về khả năng loại bỏ kim loại nặng trong đât cũng được tìm thấy ở nhiều
xã trong khu vực nghiên cứu và hai loài (Acrostichum aureum L., Stenochlaena
palustris (Burn) Bedd.), có ứng dụng trong lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp, cũng
được tìm thấy ở nhiều nơi trong khu vực khảo sát
Có 4 loài vẫn chưa xác định được giá trị Cyclosorus interruptus (Wild.),
Pyrrosia longifolia (Burm.) F Morton, Nephrolepis radicans (Burm.f.) Kuhn và
Adiantum latifolium Lam., chưa có tên trong danh lục thực vật Việt Nam
Trang 404.2 Đánh giá đa dạng các loài Dương xỉ ở huyện Châu Thành A và huyện
Phụng Hiệp, Hậu Giang
Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang
TX Thạnh Xuân; TH Tân Hòa
NNA Nhơn Nghĩa A;