1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

khảo sát sự đa dạng về thành phần loài dương xỉ (polypodiophyta) ở thị xã bình minh và huyện bình tân, tỉnh vĩnh long

83 676 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 7,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để góp phần thống kê thành phần loài dương xỉ ở huyên Bình Tân và thị xã Bình Minh tỉnh Vĩnh Long và bổ sung bộ sưu tập ảnh và bách thảo tâp phục vụ giảng dạy chúng tôi thực hiện đề tài

Trang 1

VÀ HUYỆN BÌNH TÂN, TỈNH VĨNH LONG

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CHUYÊN NGÀNH SƯ PHẠM SINH HỌC

Giáo viên hướng dẫn Sinh viên thực hiện

MSSV: 3112288 Lớp: Sư phạm Sinh học, K37

Trang 2

KHOA SƯ PHẠM

BỘ MÔN SƯ PHẠM SINH HỌC

KHẢO SÁT SỰ ĐA DẠNG VỀ THÀNH PHẦN LOÀI DƯƠNG XỈ (POLYPODIOPHYTA)

Ở THỊ XÃ BÌNH MINH

VÀ HUYỆN BÌNH TÂN  TỈNH VĨNH LONG

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CHUYÊN NGÀNH SƯ PHẠM SINH HỌC

Giáo viên hướng dẫn Sinh viên thực hiện

MSSV: 3112288 Lớp: Sư phạm Sinh học, K37

CẦN THƠ, 2015

Trang 3

- Con xin cảm ơn bố mẹ đã vất vả, tảo tần nuôi nấng con thành người

Em cảm ơn anh Hai đã hết lòng ủng hộ, động viên em trong tất cả mọi việc, mọi lúc em gặp khó khăn

- Em xin cảm ơn cô Phạm Thị Bích Thủy đã quan tâm, giúp đỡ, động viên em trong suốt quãng đời sinh viên Em cảm ơn cô đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ, động viên tinh thần trong quá trình em thực hiện

- Cảm ơn bạn Vi Thị Nguyệt đã đồng hành với mình trong suốt quá trình thực hiện đề tài

- Cảm ơn chị Đặng Thùy Gương, bạn Nguyễn Thị Huỳnh Như và tất

cả bạn bè đã ủng hộ tôi thực hiện đề tài này

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 4

TÓM LƯỢC

Đề tài “Khảo sát thành phần loài thuộc ngành Dương xỉ ở thị xã Bình

Minh và huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long” được tiến hành tại 3 phường, 5 xã

thuộc Thị xã Bình Minh và 11 xã thuộc huyện Bình Tân trong 6 tháng, từ

12/2014 đến 5/2015 Kết quả khảo sát, thống kê thành phần loài Dương xỉ

được 20 loài dương xỉ thuộc 14 chi, 8 họ Trong đó, thị xã Bình Minh được 19

loài thuộc 8 họ, huyện Bình Tân có 12 loài thuộc 6 họ Trong các loài thu được

có 6 loài dùng làm thức ăn cho người, 3 loài thường dùng làm thức ăn cho vật

nuôi, 13 loài dùng làm thuốc, 10 loài làm cảnh, 4 loài có công dụng khác (hấp

thu chất độc, tiểu thủ công nghiệp) và có 2 loài chưa xác định được công dụng

Đề tài không chỉ đánh giá sự đa dạng về thành phần loài mà còn đánh giá đa

dạng về sinh cảnh, dạng sống của Dương xỉ Đề tài đã thực hiện bộ sưu tập

ảnh gồm 80 ảnh và bộ mẫu ép gồm 50 mẫu của 20 loài trên

Từ khóa: Dương xỉ, thành phần loài, thị xã Bình Minh, huyện Bình Tân

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

TÓM LƯỢC ii

MỤC LỤC iii

DANH SÁCH BẢNG v

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1

1.1 Lý do chọn đề tài 1

1.2 Mục tiêu đề tài 1

1.3 Nội dung nghiên cứu 2

1.4 Phạm vi nghiên cứu 2

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Tổng quan về thị xã Bình Minh và huyện Bình Tân 3

2.1.1 Khái quát chung 3

2.1.2 Khái quát về huyện Bình Tân 4

2.1.3 Khái quát về thị xã Bình Minh 4

2.2 Tổng quan về ngành Dương xỉ 5

2.2.1 Nguồn gốc hình thành 5

2.2.2 Đặc điểm hình thái chung của Dương xỉ 6

2.2.3 Hệ thống phân loại 7

2.3 Dạng sống của Dương xỉ 14

2.4 Giá trị sử dụng của Dương xỉ 14

2.5 Các công trình nghiên cứu 16

2.5.1 Các công trình nghiên cứu trên thế giới 17

2.5.2 Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam 17

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19

3.1 Phương tiện nghiên cứu 19

3.1.1 Phương tiện nghiên cứu ngoài thực địa 19

Trang 6

3.2 Phương pháp nghiên cứu 19

3.2.1 Phương pháp khảo cứu tài liệu 19

3.2.2 Phương pháp ngoại nghiệp 20

3.2.2.1 Xác định tuyến và địa điểm thu mẫu 20

3.2.2.2 Phương pháp thu mẫu 20

3.2.3 Phương pháp nội nghiệp 20

3.2.3.1 Phương pháp phân tích mẫu và lập bảng danh lục 21

3.2.3.2 Thực hiện bộ sưu tập mẫu ép khô 23

3.2.3.3 Thực hiện bộ ảnh 24

3.2.3.4 Phương pháp đánh giá 24

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 26

4.1 Đa dạng về thành phần Dương xỉ (Polypodiophyta) ở thị xã Bình Minh và huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long 26

4.1.1 Danh lục các loài Dương xỉ thu được ở thị xã Bình Minh và huyện Bình Tân – tỉnh Vĩnh Long 26

4.1.2 Đa dạng về phân loại 29

4.1.3 Đa dạng về sinh cảnh và dạng sống của Dương xỉ 30

4.1.4 Đa dạng về giá trị sử dụng 32

4.2 So sánh đa dạng về thành phần Dương xỉ ở thị xã Bình Minh và huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long 34

4.3 Bộ sưu tập ảnh 39

4.4 Bộ bách thảo tập 39

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 40

5.1 Kết luận 40

5.2 Đề nghị 40

TÀI LIỆU THAM KHẢO 41 PHỤ LỤC I

Trang 7

Bảng 4.3: Đánh giá sự đa dạng loài ở bậc họ, chi 29

Bảng 4.4: Đa dạng về dạng sống của Dương xỉ ở thị xã Bình Minh và huyện Bình

Trang 8

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1.1 Lý do chọn đề tài

Dương xỉ là ngành rất đa dạng bắt nguồn từ Quyết trần Dựa vào các mẫu hóa thạch thu được, các nhà khoa học đã xác định Dương xỉ xuất hiện vào kỉ Devon (cách nay 370 triệu năm) và phần lớn đã bị tuyệt diệt, số còn lại phát triển trở thành Dương xỉ ngày nay (Lê Công Kiệt, 1974) Theo Phạm Hoàng Hộ (1999), ở Việt Nam có 851 loài Dương xỉ được chia thành 27 họ thuộc 3 lớp Bên cạnh đó, nhiều đề tài tìm hiểu về giá trị của Dương xỉ cũng được quan tâm nghiên cứu, đặc biệt như khả năng loại bỏ Asen trong đất nhiễm kim loại nặng (Bùi Kim Anh, 2012), làm sạch môi trường của một số loại Dương xỉ Phần lớn, các đề tài được thực hiện theo vùng, miền hay các khu vực nhất định như vườn quốc gia, khu bảo tồn Thành phần loài Dương

xỉ phân bố khác nhau tùy theo điều kiện tự nhiên ở từng địa phương Vĩnh long thuộc Đồng bằng sông Cửu Long nằm trong vùng khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều quanh năm, có hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt Đặc biệt, huyện Bình Tân và Thị xã Bình Minh tiếp giáp với sông Hậu và là vùng chuyên canh nông nghiệp, có độ ẩm cao nên càng thuận lợi cho sự phát triển của các loài thực vật ưa ẩm như Dương xỉ Để góp phần thống kê thành phần loài dương xỉ ở huyên Bình Tân và thị xã Bình Minh tỉnh Vĩnh Long và bổ sung bộ sưu tập ảnh và bách thảo tâp phục vụ giảng dạy chúng tôi thực hiện

đề tài “Khảo sát sự đa dạng về thành phần loài Dương xỉ (Polypodiophyta) ở thị xã Bình Minh và huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long”

- Thực hiện bô sưu tập ảnh và bách thảo tập các loài Dương xỉ thu được

ở huyện Bình Tân và thị xã Bình Minh tỉnh Vĩnh Long, nhằm bổ sung

Trang 9

vào bộ sưu tập mẫu ở phòng thí nghiệm thực vật phục vụ việc giảng dạy thực hành và tra cứu của phòng thí nghiệm

1.3 Nội dung nghiên cứu

- Khảo sát thực tế thành phần Dương xỉ xuất hiện ở thị xã Bình Minh và huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long

- Chụp hình, thu mẫu, phân tích mẫu, xác định tên khoa học của những loài ghi nhận được

1.4 Phạm vi nghiên cứu

Tiến hành nghiên cứu, thu mẫu tại các xã (phường) thuộc thị xã Bình Minh và huyện Bình Tân

Trang 10

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Tổng quan về thị xã Bình Minh và huyện Bình Tân

2.1.1 Khái quát chung

Vị trí địa lý – địa hình: Thuộc vùng hạ lưu sông Mê Kông, nằm giữa

sông Tiền, sông Hậu và ở trung tâm khu vực ĐBSCL

Vĩnh Long có địa hình khá bằng phẳng với độ dốc nhỏ hơn 2 độ Đây là dạng địa hình đồng bằng ngập lụt cửa sông,

Thời tiết - khí hậu: nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, quanh năm

nóng, ẩm, có chế độ nhiệt tương đối cao và bức xạ dồi dào Nhiệt độ trung bình của qua các năm biến động từ 27,3 – 28,4 0C Nhiệt độ và bức xạ dồi dào là điều kiện cho cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt

Thuỷ văn: Chịu ảnh hưởng chế độ bán nhật triều không đều của biển

Đông thông qua 2 sông lớn là sông Tiền và sông Hậu cùng với hệ thống kênh rạch chằng chịt, không bị ảnh hưởng mặn nên có nước ngọt quanh năm, thuận lợi cho quá trình sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và sinh hoạt của nhân dân địa phương

Mực nước và biên độ triều trên các sông khá cao, cường độ triều truyền mạnh, kết hợp với hệ thống kênh mương nội đồng nên có khả năng tưới tiêu

tự chảy tốt, giúp cho cây trồng sinh trưởng và phát triển

Thời tiết, khí hậu khá thuận lợi cho nông nghiệp theo hướng đa canh, thâm canh tăng vụ và thích hợp cho đa dạng sinh học tự nhiên phát triển Tuy nhiên, do lượng mưa chỉ tập trung vào 6 tháng mùa mưa cùng với nguồn nước lũ từ khu vực thượng nguồn của sông Mê Kông tạo nên những khu vực bị ngập úng cục bộ, ảnh hưởng đối với sản xuất nông nghiệp, ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt của người dân và môi trường sinh thái khu vực

(theo Cổng thông tin điện tử tỉnh Vĩnh Long)

Trang 11

2.2 Khái quát về huyện Bình Tân

Huyện Bình Tân được thành lập và chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/01/2008 trên cơ sở điều chỉnh địa giới hành chính huyện Bình Minh, theo Nghị định 125/2007/NĐ-CP, ngày 31/7/2007 của Chính Phủ Huyện có diện tích tự nhiên 15.288,63 ha và có 11 xã như sau: Mỹ Thuận, Nguyễn Văn Thảnh, Thành Trung, Tân Thành, Tân Hưng, Tân An Thạnh, Tân Lược, Tân Bình, Tân Quới, Thành Đông, Thành Lợi

Huyện nằm về hướng Tây Nam tỉnh Vĩnh Long, phía Tây và phía Bắc giáp tỉnh Đồng Tháp, phía Đông giáp huyện Tam Bình, phía Đông Nam giáp huyện Bình Minh, phía Tây Nam giáp Thành phố Cần Thơ

Huyện Bình Tân có đoạn sông Hậu đi qua dài khoảng 15 km Đường quốc lộ 54 đi qua dài 15,44 km, kết nối đường tỉnh 908 là tuyến đường giao thông huyết mạch đi trong và ngoài huyện, nối địa bàn huyện với tỉnh Đồng Tháp

Huyện Bình Tân nằm trong vùng chịu ảnh hưởng của các yếu tố khí hậu nhiệt đới gió mùa, quanh năm nóng ẩm, có chế độ nhiệt tương đối cao, nhiệt độ không khí trung bình hàng năm 27 0C Độ ẩm không khí trung bình

79 % Trong năm khí hậu chi thành 2 mùa rõ rệt Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau

Toàn huyện có 23.632 hộ, với 93.914 người, chủ yếu là dân tộc kinh Diện tích đất sản xuất nông nghiệp 12.841 ha, trong đó đất trồng cây hàng năm 9.562 ha Trên địa bàn huyện có 3 nhóm đất chính: (đất phù sa chiếm 20%, đất phèn tiềm táng chiếm 60%, đất phèn phát triển chiếm 20% diện tích tự nhiên)

(Theo Cổng Thông tin Điện tử huyện Bình Tân)

2.3 Khái quát về thị xã Bình Minh

Thị xã Bình Minh được thành lập theo Nghị quyết số 89/NQ-CP, ngày 28/12/2012, là một trong 08 huyện, thị xã, thành phố của tỉnh Vĩnh Long, tổng diện tích đất tự nhiên 9.363,29 ha, có 8 đơn vị hành chính trực thuộc cụ

Trang 12

tỉnh Vĩnh Long) Dân số năm 2010 là 95.089 người, mật độ dân số bình quân 956 người/km2; có 02 tuyến quốc lộ 1A và quốc lộ 54 đi qua, cách thành phố Cần Thơ 3 km, cách thành phố Vĩnh Long 30 km, cách thành phố

Hồ Chí Minh khoảng 165 km và cách sân bay quốc tế Cần Thơ 20 km Bình Minh có vai trò quan trọng là đô thị vệ tinh của thành phố Cần Thơ, có vị trí giao thông thủy, bộ và hệ thống cảng, đường hàng không thuận lợi trong việc giao lưu, hợp tác phát triển trong thời gian qua và những năm tiếp theo Ngoài ra, thị xã Bình Minh còn là trung tâm tổng hợp cấp vùng liên huyện,

có vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội đặc biệt thuận lợi; quốc phòng, an ninh luôn được đảm bảo; quy hoạch và thực trạng kết cấu hạ tầng

cơ sở tương đối đồng bộ là tiền đề cho xây dựng và phát triển đô thị

Thị trấn Cái Vồn, huyện Bình Minh (nay là phường Cái vồn, phường Thành Phước thị xã Bình Minh) được công nhận là đô thị loại IV theo Quyết định số 844/QĐ-BXD ngày 17/9/2010 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng và đã đạt được những tiêu chí cơ bản của cấp quản lý thị xã thuộc tỉnh

Địa giới hành chính: Phía Đông giáp huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long; Tây giáp huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long và thành phố Cần Thơ; Nam giáp huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long và thành phố Cần Thơ; Bắc giáp huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long

(Theo Cổng Thông tin Điện tử thị xã Bình Minh)

2.2 Tổng quan về ngành Dương xỉ

2.2.1 Nguồn gốc hình thành

Theo Hoàng Thị Sản (1999) dương xỉ cũng như thông đá và cỏ tháp bút, bắt nguồn từ Quyết trần và phát triển theo hướng lá to Những đại diện dương xỉ cổ nhất xuất hiện từ kỷ Devon và hiện nay đã tuyệt diệt

Theo Võ Văn Chi và Dương Đức Tiến (1978) ngành dương xỉ xuất phát từ dương xỉ trần, điều đó được chứng tỏ bằng sự có mặt những dạng hóa thạch vừa rất gần với dương xỉ trần vừa có đủ các bước quá độ đi tới những đại diện hoàn thiện nhất của ngành này

Trang 13

Dương xỉ bắt nguồn từ ngành Dương xỉ trần trong nhóm kiểu Rhynia Lá của Dương xỉ chính do một hệ thống nhánh trục kiểu Rhynia đính nhau làm thành, từ phân nhánh đơn phân tiến hóa lên phân nhánh lông chim Hệ thống dẫn trung trụ nguyên sinh đến trung trụ hình lưới, hình ống Lá từ không phân hóa thành lá mang bào tử và lá dinh dưỡng, sau phân biệt rõ rệt, nhưng đều có khả năng quang hợp được Bào tử nang lúc đầu xếp rời rạc trên đỉnh lá hay mép phiến, sau tụ hợp thành ổ túi nang

ở mặt dưới lá, có áo bao bọc ở ngoài Bào tử nang cũng tiến hóa từ loại rất lớn, có vỏ dày, nhiều lớp tế bào, đến loại bào tử nang nhỏ bé, có vỏ mỏng, chỉ có một lớp tế bào và hình thành vòng cơ tầng là cơ quan chuyên hóa để phát tán bào tử Sinh sản cũng tiến hóa từ đẳng bào tử, tiến lên loại dị bào với giao tử hình thái rõ ràng thể bào tử là cây trưởng thành, rất phát triển

so với thể giao tử (Trần Hợp, 1968)

2.2.2 Đặc điểm hình thái chung của Dương xỉ

Dương xỉ là những loài thực vật không có hoa, sinh sản bằng bào tử, đặc trưng bởi bào tử thực vật có rễ, thân và lá (lá lớn) xếp thành đường xoắn

ốc

Ngành Dương xỉ gồm những cây thân gỗ (chỉ gặp một số ở rừng nhiệt đới), thân thảo hay thân leo Về mặt cấu tạo giải phẫu, hệ thống ống dẫn của chúng tiến hóa từ kiểu trung trụ nguyên sinh đến trung trụ hình ống, hình mắt lưới

Lá cũng rất đa dạng Lá có hình dạng và có gân khác nhau thường chia thùy nhiều lần hay kép lông chim, cũng có khi lá nguyên Gân phân nhánh đôi đồng đều ở những dạng nguyên thủy và phân nhánh đơn, phân nhánh lông chim ở những dạng hoàn thiện hơn Cách phát gân từ chỗ hình nĩa với những đầu mút tự do đến chỗ hình lưới phức tạp hơn Ở những dạng nguyên thủy hơn, lá không phân hóa thành lá bào tử và lá không sinh sản

Hệ rễ phát triển mạnh Chúng luôn luôn là rễ chùm, không quang hợp mọc ngầm dưới đất, có chức năng hút nước và các chất dinh dưỡng từ trong

Trang 14

Về sinh sản, các túi bào tử ở các dạng nguyên thủy còn nằm ở đầu cành, ở đa số các dạng còn lại túi bào tử nằm ở mặt dưới của lá dinh dưỡng thông thường Bào tử có thể giống nhau, có thể khác nhau Sự xen kẽ thế hệ thể hiện rất rõ ràng trong đó thể bào tử là cây trưởng thành chiếm ưu thế so với thể giao tử (nguyên tản)

2.2.3 Hệ thống phân loại

Dương xỉ là một ngành rất lớn và khá phức tạp Do đó theo các nhà thực vật học khác nhau cũng có nhiều cách phân loại khác nhau Có tác giả chia ngành này thành 2 lớp: lớp Dương xỉ cổ (Sporangiatae) và lớp Dương

xỉ (Leptosporangiatae) , có tác giả chia làm 3 lớp (tách lớp Dương xỉ cổ thành 2 lớp riêng biệt) Sporne (1966) lại chia thành 4 lớp; còn Cronquist, Takhtajan và Zimmerman thì để chung vào một lớp với nhiều phân lớp khác nhau Gần đây, Takhtajan lại chia thành 5 lớp trong đó các Dương xỉ hiện sống nằm trong 3 lớp: Ophyoglossales, Marattiopsida, Polypodiopsida (Hoàng Thị Sản và Phan Nguyên Hồng, 1986)

Theo Hoàng Thị Sản (1999) Ở nước ta, Dương xỉ có 3 lớp:

tử giống nhau

Hiện còn 3 chi phân bố khắp thế giới Trong đó, Việt Nam có cả 3 chi với khoảng 8 loài:

Trang 15

+ Chi lưỡi rắn (Ophioglossum): Lưỡi rắn (O petiolatum Hook): Cây

cao 10 – 25 cm, lá dinh dưỡng hình bầu dục, gân lá hình mạng lưới; túi bào tử xếp thành hai dãy tạo thành một cái bông đơn Túi bào tử bám chặt vào nhau và bị mô của trục bông bao phủ nhiều hay ít

+ Chi Âm địa quyết (Botrychium) (3/23): Lá bất thụ chẻ nhiều lần lông

chim Phần mang bào tử phân nhánh, trên nhánh của chúng có những túi bào tử nằm trên những cuống ngắn Thường gặp ở các bãi cỏ rậm vùng Sapa Dùng làm thuốc ho

+ Chi Quản trọng (Helminthostachys): sâm bòng bong, quản trọng (H

Zeylanica Hook.): Lá chia ngón Thân rễ dùng làm thuốc bổ, chữa sốt

* Lớp tòa sen (Marattiopsida)

Cũng chỉ gồm một bộ Toà sen (Marattiales), một Họ Tòa sen (Marattiaceae): Cây lớn hay bụi nhỏ Lá nhiều khi rất lớn Lá kép lông chim một hay nhiều lần, mọc ra từ một thân rễ ngắn, nối với thân rễ bởi những chỗ phồng lên Lá non cuộn tròn Bào tử xếp khít nhau thành hai dãy, tạo thành những ổ túi hình vạch dài ở mặt dưới lá Vách túi bào tử cấu tạo bởi nhiều lớp tế bào (vách dày), có vòng cơ thô sơ Bào tử giống nhau

Theo Hoàng Thị Sản (1999) họ gồm 6 chi Trong đó 2 chi thường gặp ở

Việt Nam là Angopteris và Marattia

+ Chi Angopteris (tòa sen) có 2 loài phổ biến thường gặp ở miền Trung

và miền Bắc nước ta là: Móng trâu (Angopteris evecta): thân rễ đứng,

nửa hình cầu Lá rất to, dài tới 1,5 m kép lông chim, gốc cuống lá phồng nạc trông giống móng con trâu hay con ngựa, do đó toàn bộ củ nổi lên mặt đất trông như tòa sen của đức Phật Mọc phổ biến ở các khe suối trong rừng núi Sapa, Cúc Phương, Ba Vì Thân rễ có bột ăn được

và làm thuốc; Móng ngựa (Angopteris confertinervia Ching) có thân rễ

ngắn mang một chùm lá kép lông chim 2 lần Thân được bao kín bởi nhiều cuống lá Lá có cuống dài khoảng 0,5 m, lá chét bậc 2 không đều, những lá phía trên và tận cùng thường to hơn, dài hơn nhiều những lá

Trang 16

phía dưới Gân rất sít nhau Nang quần tròn, xếp sít nhau, thường gồm khoảng 10 – 20 bào tử nang, bào tử tròn màu đo đỏ

+ Chi Marattia (Ráng Mã liệt) : lá phát triển mạnh Túi bào tử nằm ở mặt dưới của lá Vòng cơ nằm trên đỉnh của túi bào tử M sambucina

Bl Có ở Nha Trang; Ráng Mã liệt (M pellucida Presl.): Có ở Phú

Khánh, Đà Lạt

* Lớp Dương xỉ (polypodiopsida)

Đây là lớp chính và lớn nhất của ngành, gồm những Dương xỉ trẻ và hầu hết đang sống hiện nay Đa số là cây thân cỏ, một số ít cây gỗ hoặc dây leo Cây có thể sống trên đất, ở nước hay bì sinh trên thân các cây khác Thân rễ nằm ngang hay thẳng đứng mang lá lớn, hình dạng rất khác nhau, đa

số xẻ lông chim nhiều lần, có trường hợp lá nguyên Lá non bao giờ cũng cuộn tròn ở đầu, túi bào tử thường tập trung thành ổ nằm ở mặt dưới lá, hoặc trong một khoang kín riêng biệt Vách túi bào tử mỏng gồm một lớp tế bào, thường có vòng cơ, bào tử giống nhau hoặc khác nhau, do đó nguyên tản lưỡng tính hoặc đơn tính

Lớp dương xỉ có trên một vạn loài chia thành 6 bộ: Osmundales, Schizacales, Polypodiales, Cyatheales, Marsileales và Salviniales, trong đó 4

bộ đầu gồm chủ yếu các Dương xỉ ở cạn còn 2 bộ sau gồm chủ yếu các Dương xỉ ở nước

Các Dương xỉ ở cạn có đặc điểm chung là bào tử giống nhau (nảy mầm cho nguyên tản lưỡng tính) Các túi bào tử thường tập hợp thành ổ túi nằm ở mặt dưới lá Hình dạng và vị trí của ổ túi ở mặt dưới lá rất khác nhau; bên ngoài ổ túi có khi có vảy (áo) che đậy (do biểu bì dưới của lá tách ra) Tính chất của vòng cơ ở túi bào tử cũng rất thay đổi trong các họ, các chi: vòng đầy đủ hay không, nằm dọc, nằm chéo qua chân hay nằm ngang ở đỉnh hoặc

ở vùng giữa túi bào tử

Thể giao tử của nhiều dương xỉ ở trên mặt đất, có màu lục, thường lưỡng tính Một số ít có khuynh hướng phân tính Các cơ quan hữu tính nằm ở mặt dưới của thể giao tử

Trang 17

Phôi phát triển trên nguyên tản, phân hóa và hình thành rễ sơ cấp Chân

bị bao quanh trong mô của nguyên tản Ở một số Dương xỉ bì sinh không hình thành rễ Lá mọc cách, sinh trưởng bằng ngọn và khi ở trạng thái non thì cuộn lại thành hình xoắn ốc, phần xoắn này nằm trong một mặt phẳng thẳng đứng Tùy theo mức sinh trưởng mà lá mở rộng dần ra Lá có thể biến đổi để phù hợp với với điều kiện sống Chúng có thể có lá dị hình Một số đại diện phổ biến:

Bộ rau vi (Osmundales) với họ đại diện là họ rau vi (Osmundaceae) gồm những cây sống lâu năm có thân ngắn lùn và nhiều lá lớn kép lông chim hai

hoặc ba lần Ở chi Rau vi (Osmunda),lá dị hình, túi bào tử lớn, có vách gồm

nhiều lớp nhưng lại có vòng nguyên thủy Túi bào tử trên cuống, mở dọc Ở

nước ta có 4 loài trong chi Osmunda, phổ biến là hai loài Rau vi lá dừa O

vachellii Hook và Rau vi O Japonica

Bộ Ráng (Schizacales)

- Họ bòng bong (Lygodium hay Schizaeaceae) cây có thân rễ thẳng đứng hay bò dài, lá nhỏ bé hay dài chia thùy, không có vảy Bào tử nang không cuống ở mép lá Vòng cơ cung đầy đủ ở phía đỉnh thành một vành đai, mở

theo đường thẳng đứng Chỉ có 1 chi Lygodium với khoảng 40 loài, mọc

hoang, nhiều loài dùng làm thuốc Một số loài phổ biến ở Việt Nam như:

bòng bong dẻo (Lygodium flexuosum), bòng bong leo (Lygodium

scandens), bòng bong Nhật (Lygodium japonicum), bòng bong lá xẻ

(Lygodium conforme) Cũng thuộc chi Lygodium, còn nhiều loài khác

cũng mang tên bòng bong và có môi trường phân bố tương tự các loài trên

- Họ Cỏ luồng (Pteridiaceae) Cây mọc ở đất có nhiều lông vảy Lá giống nhau hay có 2 loại: dinh dưỡng và sinh sản, đều kép lông chim, chia thùy đều đặn, rất ít khi xẻ ngón Gân nối với nhau thành hình vành khuyên Ổ

tử nang ở mép lá hay ở giữa vòng khuyên Có áo do mép lá gập lại Vòng

cơ không đầy đủ đi qua chân Họ có 2 chi phổ biến

Trang 18

chét to hình mũi giáo, lá hữu thụ ở phía trên hẹp hơn mang các ổ tử nang xếp dày đặc ở mặt dưới lá trừ gân giữa và mép

+ Chi Pteris với 3 loài thường gặp là Cỏ seo gà, Cỏ luồng (Pteris

ensiformis Burm); Cỏ seo gà, Phượng vĩ thảo (Pteris multifida); cây

Cẳng gà (Pteris semipinnata L.)

- Họ Tóc thần (Adiantaceae): thân rễ bò ở đất, đôi khi bì sinh hay thủy sinh, có nhiều lông hay vảy Lá chia thùy đa dạng Bào tử nang ở mép lá,

áo do mép lá gập lại liên tục hay đứt quãng Vòng cơ cung không đầy đủ,

đi qua chân, mở theo khe bên Các chi thường gặp là Ceratopteris với đại diện là cây Ráng gạc nai/Rau cần trôi (Ceratopteris thalictroides); Chi

Adiantum với loài đại diện là Tóc thần vệ nữ (Adiantum capillus – veneris), cây đuôi chồn (Adiantum caudatum L.)

Bộ dương xỉ (Polypodiales): họ đại diện là

- Dương xỉ (Polypodiaceae) gồm 65 chi hơn 1000 loài, chủ yếu phổ biến ở vùng nhiệt đới Nhiều nhóm trong họ này gồm cây phụ sinh Lá có dạng rất khác nhau Lá hình lông chim, có thùy hoặc nguyên Đa số có phát gân hình mạng Ổ túi không có áo túi, phần lớn là tròn, đôi khi kéo dài ra dọc theo gân Ở một vài loài túi bào tử rải rác khắp mặt dưới của lá Các chi thường gặp:

+ Ổ rồng (Platiserium): phổ biến ở các rừng nhiệt đới, là loài phụ sinh

có lá di hình, xẻ thùy sâu Lá đầu rộng, không cuống, không sinh sản, bám vào cơ chất, tích lũy mùn Lá sinh sản phân nhánh đôi và chúc xuống dưới Túi bào tử phát triển trên những phần chuyên hóa riêng của những lá ấy Rễ của cây ổ rồng có thể hình thành mầm truyền thể

dùng để sinh sản sinh dưỡng Ở Việt nam có loài ổ rồng (Platiserium

grandle A Cunn Ex J Sm)

+ Ráng đuôi phượng (Drynaria): loài phụ sinh Có 2 loại lá: lá gốc

không có màu lục, lá màu lục hình lông chim mang nang quần Các loài

thường gặp: Drynaria bonii Christ, Drynaria fortunei (Kunze) J Sm,

Drynaria quercifolia (L.) J Sm

Trang 19

- Họ Vọt (Gleicheniaceae): trong họ này có 3 chi với khoảng 100 loài, phân bố ở vùng nhiệt đới và ôn đới của Nam bán cầu Thân cây vọt thường mỏng, mọc bò có cấu tạo lưng bụng và có thân rễ thường phân nhánh Lá kép lông chim hoặc phân đôi Túi bào tử ít, tạo thành những ổ túi không có áo, xếp thành một dãy ở mỗi bên sóng lá, vòng đầy đủ, nằm

ngang Ở nước ta có khoảng 8 loài thuộc 2 chi Gleichenia và

Dicranopteris, có gân lá chẻ một đầu nhiều lần, ổ túi gồm hơn 6 túi bào

tử Loài phân bố rộng và được sử dụng hơn cả là cây vọt, hay guột, cỏ tế,

ràng ràng (Dicranopteris linearis)

Bộ Dương xỉ thân gỗ:

- Họ dương xỉ thân gỗ (Cyatheaceae): cây thân cột cao 10 – 15 m, bề dày thân từ 25 – 50 cm lá dài 5 – 6 m, rộng, hình lông chim hoặc kép lông chim 2 – 3 lần Túi bào tử có vòng hoàn toàn hay hơi xiên.Họ có 7 chi,

khoảng 850 loài trong đó Việt Nam có 1 chi Cyathea với 8 loài Loài đại diện Cyathea Spinulosa Wall Ex Hook

- Họ cẩu tích (Dicksoniaceae): có một lá lược kép, cao, các ổ túi ở mép,

bao bởi hai lớp áo túi Chi đại diện Cibotium Trong chi này có loài Lông

cu li (Cibotium barometz) rất phổ biến trong rừng và ven rừng ẩm ở nhiều

tỉnh thuộc nước ta, thân rễ có nhiều lông màu vàng bao phủ trông như con chó vàng Lông này dùng làm thuốc cầm máu

- Họ tổ chim (Aspleniaceae): cây ở mặt đất, ít khi phụ sinh Lá hình lông chim hoặc nguyên Nang quần kéo dài dọc theo gân, hình thuôn hoặc thành một đường dài, thường có áo túi Vòng cơ thẳng, không đầy đủ Ở

nước ta có trên 40 loài thuộc chi Thiết giác (Asplenium) với loài đại diện thường gặp là cây tổ chim (Asplenium nidus L.)

- Họ Rau dớn (Aspidiaceae): phần lớn là những cây trên mặt đất, lá có dạng khác nhau và xẻ ra Túi bào tử trên bề mặt, ít khi ở mép lá, thường

có áo túi Vòng thẳng đứng, hầu hết là vòng đầy đủ

+ Chi Christella, loài dương xỉ thường (Christella parasiticus): Thân rễ

Trang 20

hai lần; lá chét bên nhiều, xếp sít nhau, không cuống, xếp đối ở gốc, xếp so le ở trên, các lá chét cuối hợp nhau thành một bản chẻ lông chim sâu Ổ túi bào tử dính trên các gân, nằm ở quãng giữa mép và cuống lá, bào tử dạng bầu dục, màu vàng

+ Chi Diplazium, loài Rau dớn (Diplazium esculentum) : Rau dớn là loài

dương xỉ có thân rễ nghiêng, thường bao phủ vẩy ngắn màu hung Cuống lá dài 60-100cm, dày, màu vàng lợt hoặc nâu đen và phủ vẩy ở gốc, phiến lá thay đổi tuỳ theo tuổi của cây, nhưng có thể dài tới 1,5m, các lá lược non kép lông chim một lần, các lá lược già kép lông chim hai

lần Ổ túi bào tử dài, mỏng Bào tử hình thận

Theo Hoàng Thị Sản (1999), các Dương xỉ ở nước phân biệt với các Dương xỉ ở cạn bởi có bào tử khác nhau (bào tử lớn và bào tử nhỏ) Các túi bào tử nằm trong một khoang kín gọi là quả bào tử Vách của quả bào tử tương đương với áo túi

Nhóm Dương xỉ ở nước gồm 2 bộ:

Bộ rau bợ nước (Marsileales): chỉ có 1 họ Rau bợ (Masileaceae) Ở

nước ta chỉ gặp 1 chi Masilea với 3 loài (có môi trường phân bố gần như nhau) Loài đại diện là Rau bợ nước (Masilea quadrifolia L.): thân bò, lá có

cuống dài, phiến lá chia bốn thùy xếp hình chữ thập Quả bào tử có hình dạng và kích thước như hạt đậu xanh, nằm trên một cuống ngắn, thường cụm hai chiếc một mọc ra từ cuống lá Quả bào tử nhiều ô, trong ô chứa các túi bào tử lớn và các túi bào tử nhỏ Cây mọc phổ biến ở chỗ ẩm hoặc các mương nước nông, dùng làm thuốc chữa bệnh sỏi thận

Bộ bèo ong (Salviniales): quả bào tử chỉ có một ô Có 2 loại quả bào tử: quả bào tử lớn chứa các bào tử lớn và quả bào tử nhỏ chứa các bào tử nhỏ

Bộ gồm 2 họ:

- Họ bèo ong (Salviniaceae): không có rễ thật Mỗi đốt thân có 3 lá, trong

đó lá thứ ba chìm dưới mặt nước phân chia thành những sợi nhỏ giống như rễ và làm nhiệm vụ của rễ Lá sinh dưỡng nổi trên mặt nước có màu lục Quả bào tử hình cầu Ở Việt Nam phổ biến 2 loài rất gần gũi nhau,

Trang 21

thường phân bố cùng một nơi là Bèo vảy ốc (Salvinia natans Hoff), và bèo ong (Salvinia cuculata Roxb)

- Họ bèo hoa dâu (Azollaceae) chỉ có một chi Azolla: cây nổi trên mặt nước, có rễ thật Cây bèo hoa dâu (Azolla caroliana): cây rất nhỏ nổi trên

mặt nước, lá xếp hai dãy xít nhau Trong khoang lá có loài tảo lam

Anbaena azollae cộng sinh có khả năng cố định đạm

(Hoàng Thị Sản và Phan Nguyên Hồng, 1986; Trần hợp, 1968; Lương Ngọc Toản và Võ Văn Chi, 1978; Võ Văn Chi và Dương Đức Tiến, 1978; Đặng Minh Quân, 2011)

2.3 Dạng sống của Dương xỉ

Phân bố khắp nơi trên trái đất, đặc biệt ở vùng nhiệt đới nóng ẩm, thường mọc nhiều ở nơi ẩm như dọc bờ sông, suối hay những thung lũng ẩm trong rừng

Dạng sống của thực vật là biểu hiện về hình thái, cấu trúc cơ thể thích nghi với điều kiện môi trường, sinh cảnh sống khác nhau Theo Phạm Hoàng

Hộ (1999), phần lớn dạng sống của Dương xỉ là thân cỏ, dạng leo, số ít dạng

gỗ, Dương xỉ sống trên mặt nước có dạng nổi Theo Phạm Thị Nga và Võ Văn Bé (2010), phần lớn Dương xỉ là thân cỏ và đa niên, số ít thân gỗ với có

kích thước rất lớn như Angiopteris, Cyathea, Cnemidaria đến nay đã tuyệt

chủng hầu hết

- Thân leo: những loài thuộc chi Lygodium đều có dạng thân leo

- Thân cỏ bò hoặc đứng trên mặt đất: phần lớn các loài dương xỉ có môi trường sống trên mặt đất

- Phụ sinh trên thân cây khác: một số loài phụ sinh trên các cây cổ thụ

như Drynaria quercifolia (L.) J Sm., Nephrolepis biserrata (Sw.) Schott, Nephrolepis exaltata (L.)

- Thân nổi trên mặt nước có loài Salvini cucultta Roxb (bèo ong, bèo tai chuột) và Azolla caroliana Willd (bèo hoa dâu)

2.4 Giá trị sử dụng của dương xỉ

Trang 22

Dương xỉ là một ngành không có nhiều đóng góp vào sự đa dạng của thảm thực vật, ít có giá trị kinh tế nhưng vẫn nó có tầm quan trọng nhất định Theo Phạm Hoàng Hộ (1999), trong quyển "Cây cỏ Việt Nam" ngoài trình bày đặc điểm hình thái (vẽ hình minh hoạ), nơi phân bố tác giả còn giới

thiệu công dụng của các loài Dương xỉ

- Có rất nhiều loài dương xỉ có tác dụng chữa bệnh:

+ Âm địa quyết (Botrychium ternatum): dùng làm thuốc ho

+ Chi Helminthostachys (quản trọng): thân rễ dùng làm thuốc bổ, chữa

sốt

+ Loài Lygodium japonicum có tác dụng lợi tiểu

+ Chi Drynaria (Cốt toái bổ) dùng làm thuốc mạnh gân cốt

+ Cây Lông cu li - Cibotium barometz (L.) J Sm dung làm thuốc chữa

phong hàn, tê thấp, đau lưng nhức mỏi chân tay, đau thần kinh tọa Ngoài ra, lông trên thân rễ còn dùng để cầm máu

+ Chi Pteris: có loài Cỏ seo gà, Cỏ luồng (Pteris ensiformis Burm.) toàn cây dùng làm thuốc lợi tiểu; Cỏ seo gà, Phượng vĩ thảo (Pteris

multifida) làm thuốc chữa ngứa lở, kiết lị; cây Cẳng gà (Pteris semipinnata L.) dùng sát trùng

+ Tóc thần, Ráng trắc - Adiantum capillus - veneris L., thuộc họ Tóc thần – Adiantaceae có tác dụng làm dịu, làm long đờm, ngừng ho, cầm

máu, thanh nhiệt lợi thấp

+ Rau vi - Osmunda japonica Thunb, thuộc họ Rau vi – Osmundaceae:

Thân rễ dùng phòng trị cảm mạo, chữa đau đầu ngạt mũi, bệnh lỵ và băng lậu

+ Ráng ất minh Vachell, hoa nam tử ki - Osmunda vachellii Hook, thuộc họ Rau vi -Osmundaceae được dùng trị đau dạ dày, đái ra máu,

ngoại thương xuất huyết, bỏng lửa

Trang 23

+ Ổ sao vẩy ngắn, Ráng vi quần vẩy ngắn - Microsorum

buergerianum (Miq.) Ching, thuộc họ Polypodiaceae được dùng trị

bệnh đường tiết niệu, vàng da

+ Ổ rồng Platycerium grande A Cunn ex J Sm., thuộc họ Dương xỉ

Polypodiaceae Thân rễ và lá giã đắp dùng bó gãy xương Thân rễ còn được dùng chữa phù thũng Lá giã nhỏ với ít muối đắp hoặc lá phơi khô đốt thành tro rắc lên các nốt ghẻ để trị bệnh ghẻ ngứa

+ Tổ điểu, Tổ chim - Asplenium nidus L , thuộc họ Tổ chim – Aspleniaceae dùng lá chữa bệnh về tóc và da dầu, chữa bong gân, sai khớp

+ Bèo hoa dâu Azolla imbricala (Roxb), thuộc họ Bèo dâu

Azollaceae chữa sốt, chữa ho và làm thuốc lợi tiểu tiện

- Một số loài dương xỉ được dùng làm thức ăn:

+ Rau dớn - Diplazium esculentum thuộc họ Rau dớn (Aspidiaceae):

đọt non dùng làm thức ăn

+ Dây choại - Pteris scandens (Willd.) Roxb thuộc họ Pteridiaceae có

lá non ăn được

+ Rau bợ Masilea quadrifolia L: lá dùng để nấu canh

+ Chi Angiopteris thân rễ có bột để ăn hay dùng cho chăn nuôi (Theo

Hoàng Thị Sản,1999)

+ Rau cần trôi (gạc nai) - Ceratopteris thalictroides dùng làm thức ăn

cho lợn

+ Bèo vảy ốc (Salvinia natans Hoff), và bèo ong (Salvinia cuculata

Roxb) thuộc họ Bèo ong (Salviniales) dùng làm thức ăn cho lợn

- Một số dương xỉ dùng làm cảnh: Ổ rồng - Platycerium grandle A Cunn

ex J Sm, Tổ chim - Asplenium nidus L, Cây Tóc thần vệ nữ (Adiantum

capillus-veneris L), Phượng vĩ thảo (Pteris ensiformis Burm.)

- Theo Hoàng thị Sản (1999) một số dương xỉ làm vật liệu:

Trang 24

+ Vọt hay Guột (Gleichenia linearis Clarke) Cuống lá dùng đan rổ, rá,

làm dây buộc, đun thay rơm, củi

+ Ráng đại (Acrostichum aurenium L) Lá dùng làm chổi và lợp nhà

+ Bèo hoa dâu (Azolla) dùng làm phân bón

2.5 Các công trình nghiên cứu

2.5.1 Các công trình nghiên cứu trên thế giới

Nghiên cứu của Eric Schuettpelz (2007) khoa Sinh học trường Đại học Duke sự tiến hóa và đa dạng của các loài dương xỉ phụ sinh đã làm sáng tỏ được sự tiến hóa và đa dạng hóa các loài dương xỉ phụ sinh bằng cách tập hợp và phân tích các mối quan hệ phát sinh loài Theo Lecointre và Guyader (2001) trên toàn thế giới thì ngành Dương xỉ (Polypodiophyta) có

9.500 loài được mô tả, chiếm 0,05%

2.5.2 Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam

Trong quyển Phân loại thực vật (1968) của Trần Hợp đã chia Dương xỉ thành 3 nhóm lớn với 11 bộ và nêu phương pháp phân loại dựa vào hình thái bên ngoài

Trong quyển Khuyết thực vật (1974), Lê Công Kiệt đã đi sâu về mô tả

chi tiết từng bộ phận bên ngoài của dương xỉ, đồng thời tác giả phân tích về cấu tạo giải phẫu và mô học một số bộ phận của dương xỉ Từ đó, giúp người đọc nhận diện và phân loại một số loại dương xỉ

Trong quyển Phân loại học thực vật (1977) của Lương Ngọc Toản, tác giả chia ngành dương xỉ thành 2 lớp là lớp dương xỉ cổ bao gồm những dương xỉ cổ đã bị tuyệt diệt và lớp dương xỉ gồm những dương xỉ hiện còn đang sống, gồm 4 bộ: bộ rau vi, bộ dương xỉ, bộ rau bợ và bộ bèo ong

Hoàng Thị Sản nêu cách phân loại dương xỉ dựa vào các hình thái quan

sát bên ngoài của chúng trong quyển Phân loại học thực vât (năm 1999)

Phạm Hoàng Hộ (năm 1999), đã thống kê được khoảng 691 loài

dương xỉ trong đó tác giả mô tả và vẽ hình minh họa về hình thái của từng loài dương xỉ, từ đó giúp người đọc nhận diện và phân loại được một số loài dương xỉ

Trang 25

Trương Thị Đẹp đã nêu được công dụng dược lý của những Dương xỉ được phân loại và đi vào mô tả hình dạng của chúng trong Giáo trình Thực vật dược (năm 2007)

Bùi Kim Anh nghiên cứu sử dụng thực vật (dương xỉ) để xử lí ô nhiễm Asen trong đất vùng khai thác khoáng sản (năm 2012).

Trang 26

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Phương tiện nghiên cứu

3.1.1 Phương tiện nghiên cứu ngoài thực địa

- Dụng cụ để xác định tuyến thu mẫu: bản đồ hành chính và bản đồ vệ tinh huyện Bình Tân và thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long

- Dụng cụ thu mẫu và làm mẫu: Dao, kéo cắt cành, bọc nilon đựng mẫu, băng keo giấy, băng keo trong, vĩ ép mẫu, bìa carton, giấy báo, dây buộc mẫu

- Dụng cụ ghi chép và lưu trữ dữ liệu: Sổ ghi chép, bút chì, bút mực, máy vi tính

- Dụng cụ chụp ảnh: máy chụp ảnh, mảnh vải trắng kích thước 1×1 m, thước

3.1.2 Phương tiện nghiên cứu trong phòng thí nghiệm

- Dụng cụ phân tích mẫu: Kính lúp, kính hiển vi, kim mũi giáo, kim mũi mác, lame và lamelle

- Các tài liệu về phân loại thực vật

- Máy vi tính

3.2 Phương pháp nghiên cứu

3.2.1 Phương pháp khảo cứu tài liệu

- Thu thập thông tin về địa phương đang nghiên cứu từ các tài liệu có

liên quan như cổng thông tin điện tử của huyện Bình Tân và thị xã Bình Minh

-Tham khảo tài liệu về phương pháp nghiên cứu thực vật của Nguyễn Nghĩa Thìn; một số tài liệu liên quan đến dương xỉ để nhận dạng, phân loại

dương xỉ như quyển Khuyết thực vật của Lê Công Kiệt, Cây cỏ Việt Nam của Phạm Hoàng Hộ, Phân loại học thực vật của Hoàng Thị Sản

Trang 27

3.2.2 Phương pháp ngoại nghiệp

3.2.2.1 Xác định tuyến và địa điểm thu mẫu

Vì đề tài mang tính chất định tính, hai khu vực khảo sát có diện tích rộng lớn, đề tài được thực hiện trong thời gian ngắn nên không lập ô tiêu chuẩn, mà chỉ thu mẫu theo các tuyến đường và sinh cảnh Dựa vào bản đồ hiện trạng và đặc điểm địa hình, thiết lập các tuyến thu mẫu sao cho tuyến đường đi phải xuyên qua các vùng đại diện cho khu vực nghiên cứu, cắt ngang các môi trường sống Từ tuyến chính, mở các tuyến phụ theo kiểu xương cá về hai phía và đi qua các sinh cảnh khác nhau Trên mỗi tuyến, tiến hành điều tra các loài dương xỉ có ở các sinh cảnh đó

3.2.2.2 Phương pháp thu mẫu

Cách thu mẫu dựa theo quyển “Các phương pháp nghiên cứu thực vật”

của Nguyễn Nghĩa Thìn (2007)

Do đặc điểm khí hậu của địa phương có 2 mùa rõ rệt là màu mưa và mùa khô nên tiến hành khảo sát và thu mẫu theo 2 đợt tương ứng với 2 mùa trong năm để có cơ sở đánh giá đúng đắn hơn trong việc đánh giá

Xác định xem loài tìm thấy có phải thuộc ngành Dương xỉ hay không dựa vào các đặc điểm hình thái đặc trưng của Dương xỉ như: đọt non uốn cong lưỡi mèo, nách lá không có chồi, vảy hoặc lông màu vàng hay nâu trên thân và lá Bào tử nang ở bìa lá hoặc ở mặt dưới của lá, đôi khi ở những lá đặc biệt Trong quá trình điều tra, khảo sát nhận diện đúng được

loài Dương xỉ, tiến hành song song vừa chụp ảnh và thu mẫu

- Đối với những cây có kích thước quá lớn thì dùng kéo thu riêng từng bộ phân rễ, thân, lá Còn đối với những cây có kích thước nhỏ thì thu

Trang 28

- Khi thu phải ghi chép ngay những đặc điểm dễ nhận biết ngoài thiên nhiên như đặc điểm hình dạng, kích thước cây, nhất là các đặc điểm

dễ mất khi mẫu bị khô

- Tiến hành xử lí sơ bộ tại chỗ đối với những mẫu mềm, dễ bị giập,

héo

* Cách chụp ảnh để làm bộ sưu tập ảnh

- Nếu xác định được loài đang quan sát là dương xỉ thì tiến hành chụp

ảnh về sinh cảnh, môi trường sống hình dạng chung của loài (thân leo hay

thân đứng)

- Sau khi thu mẫu ta tiến hành chụp ảnh từng bộ phận của cây Trải một

tấm vải hoặc giấy trắng ở nơi bằng phẳng và có ánh sáng thích hợp

+ Chụp toàn bộ hình dạng ngoài của mẫu, dùng thước đo đối với những mẫu không quá lớn để xác định kích thước chiều dài lá,…

+ Chụp từng bộ phận : thân, lá, rễ Chụp sao cho thấy rõ hình dạng, cách xếp lá, răng lá, hình dạng, cách sắp xếp bào tử nang trên lá,

3.2.3 Phương pháp nội nghiệp

3.2.3.1 Phương pháp phân tích mẫu, xác định tên khoa học và lập bảng danh lục

Phương pháp phân tích và xác định tên khoa học của mẫu cây dựa theo quyển “Các phương pháp nghiên cứu thực vật” của Nguyễn Nghĩa Thìn (2007) Quá trình tiến hành như sau:

- Phân chia mẫu theo họ và chi: dựa theo hướng dẫn nhận dạng trong quyển “Phân loại học thực vật” của Võ Văn Chi và Dương Đức Tiến

(1978), “Phân loại học thực vật” của Hoàng Thị Sản (1999) và bài giảng

“Phân loại học thực vật” của Đặng Minh Quân (2011), tiến hành phân chia và sắp xếp các mẫu cây thu được theo từng họ, mỗi họ lại sắp xếp

theo từng chi trước khi phân tích và tiến hành xác định loài

- Phân tích mẫu và xác định tên của loài:

Trang 29

+ Quan sát hình thái của rễ, thân, lá của từng loài đã tìm được So sánh, đối chiếu với phần mô tả hình thái của các tác giả Phân tích từ tổng thể bên ngoài đến các chi tiết bên trong Phân tích từ cái lớn đến cái nhỏ Cần chú ý quan sát kỹ từng chi tiết nhỏ về số lượng, cách sắp xếp bào tử trên

lá, hình dạng, kích thước lá, hình dạng gân lá, bìa lá, cách xẻ thùy, lông hoặc gai,

+ Thực hiện tiêu bản tạm thời, quan sát dưới kính hiển vi hình dạng kích thước của túi bào tử và bào tử, cách sắp xếp vòng cơ

+ Quan sát dưới Kính lúp về cách phát gân lá

+ Chụp lại ảnh đã quan sát được, so sánh, đối chiếu giữa những loài có hình dạng bên ngoài gần giống nhau

+ Các tài liệu chính dùng trong quá trình xác định tên khoa học gồm:

“Cây cỏ Việt Nam – Quyển I” của Phạm Hoàng Hộ (1999), “Khuyết thực vật” của Lê Công Kiệt, “Từ điển thực vật thông dụng” gồm 2 tập của Võ Văn Chi (2003, 2004)

+ Kiểm tra tên khoa học: Khi đã có đầy đủ tên loài, tiến hành kiểm tra lại các tên khoa học để đảm bảo tính hệ thống, tránh sự nhầm lẫn và sai sót

+ Tham khảo ý kiến của các thầy cô có kinh nghiệm trong việc nghiên cứu về dương xỉ

- Xác định và thống kê công dụng của các loài dương xỉ dựa vào một

số tài liệu như “Phân loại học thực vật” của Hoàng Thị Sản và “Cây cỏ có ích” của Võ Văn Chi

- Dựa vào thực tế khảo sát được và quyển “Cây cỏ Việt Nam” của Phạm Hoàng Hộ và “Từ điển thực vật thông dụng” của Võ Văn Chi để xác định, thống kê dạng sống và sinh cảnh của các loài dương xỉ thu được

- Lập danh lục các loài dương xỉ ở huyện Bình Tân và thị xã Bình Minh: Bảng danh lục được xây dựng theo hệ thống phân loại của Brummitt (1992) Danh sách các loài xếp theo từng họ, các họ theo từng

Trang 30

từ thấp đến cao Ở mỗi lớp, các họ được xếp theo alphabet tên khoa học Danh lục các loài cần có tên khoa học, tên Việt Nam hay tên địa phương (nếu có) cùng với các thông tin giúp cho việc đánh giá tính đa dạng Đó là

các thông tin về sinh cảnh, dạng sống, giá trị sử dụng,…

3.2.3.2 Thực hiện bộ sưu tập mẫu ép khô

Do dương xỉ là những loài ưa ẩm, rất dễ bị héo, giập nên tiến hành ép

mẫu ngay sau khi đem về

- Chọn những cây đẹp đặt vào giữa tờ báo, bố trí hợp lý trên mặt báo sao cho vừa thấy được mặt trước và mặt sau của lá Nếu mẫu vật lớn hơn kích thước mặt báo thì bẻ gập mẫu lại theo hình chữ V hoặc chữ Z Hạn chế việc các lá xếp chồng lên nhau Vuốt cho mặt các lá thật phẳng

- Dùng keo trong cố định tạm thời mẫu trên mặt báo, chú ý không dán băng keo trực tiếp lên lá để tránh làm rách lá khi lấy mẫu ra để trình bày

- Ghi lại kí hiệu của mỗi mẫu vào nhãn dán, số hiệu mẫu, địa điểm

và nơi lấy mẫu (tỉnh, huyện, xã), ngày lấy mẫu, đặc điểm quan trọng: cây

gỗ hay dây leo, sinh cảnh, màu sắc lá, lông, gai, … Đeo nhãn vào mẫu, gấp báo lại và đặt vào thêm một tờ báo khác

- Đặt các mẫu ép vào giữa 2 tờ giấy carton cứng Cứ 5 đến 6 mẫu thì đặt thêm một tờ giấy Carton Dùng dây cột chặt lại

- Cứ khoảng 30 mẫu ta dùng cặp ép cây cố định cho mẫu thật thẳng Bó chặt chồng mẫu lại bằng dây thừng hoặc dây dù Sau đó, đem mẫu phơi nắng hoặc sấy khô Trong thời gian phơi nên thường xuyên kiểm tra mẫu, đảo những mẫu phía trong ra ngoài, hàng ngày phải thay giấy báo mới để mẫu chóng khô và không bị ẩm, không làm cho mẫu bị nát

- Trình bày mẫu: chọn những mẫu ép đẹp, thẳng, có bào tử để dán lên giấy Lấy mẫu vật ra khỏi tờ báo và đặt vào tờ giấy dán mẫu Bố trí sao cho mẫu vật nằm vừa vặn vào một nửa đã gấp đôi của tờ giấy dán mẫu Dùng keo dán chặt mẫu vật lên giấy dán mẫu Ở những mẫu dương xỉ có

Trang 31

phiến lá rộng như Ráng đuôi phượng có thể cố định mẫu bằng keo hai mặt

để tăng tính thẩm mỹ

- Ghi lại tên Việt Nam, tên khoa học, thời gian và địa điểm thu mẫu

đó lên nhãn dán và dán vào phía dưới góc phải của mẫu và gấp mặt giấy lại

3.2.3.3 Thực hiện bộ ảnh

Trong quá trình thu mẫu ta tiến hành song song việc thu mẫu và chụp ảnh để thực hiện bộ sưu tập ảnh Cần chụp rõ các phần sau:

- Hình dạng cây trong tự nhiên

- Ảnh từng bộ phận (rễ, thân, lá) của dương xỉ sau khi thu Cần chụp rõ cả mặt trước và mặt sau của lá

- Ảnh chụp cách đính bào tử trên lá, thực hiện tiêu bản tạm thời, chụp hình dạng của bào tử trên kính hiển vi

- Lựa chọn ảnh đẹp trình bày trong album ảnh

3.2.3.4 Phương pháp đánh giá

* Phương pháp đánh giá đa dạng về phân loại

Thống kê số loài, chi theo từng họ sau đó lập bảng Phân tích, đối chiếu giữa các họ Xác định có bao nhiêu họ , chi loài Các họ, chi có số loài nhiều nhất, ít nhất

* Phương pháp đánh giá đa dạng về phân bố

Thống kê, lập bảng thành phần loài trong từng huyện và từng xã (phường) trong huyện Đánh giá chung về số lượng loài ở toàn bộ khu vực nghiên cứu So sánh số lượng họ, chi, loài trong từng huyện và các đơn vị trong huyện Thảo luận nguyên nhân Tính tỷ lệ phần trăm số loài của từng đơn vị so với toàn bộ số loài của vùng nghiên cứu

*Phương pháp đánh giá tính đa dạng về dạng sống của loài dương xỉ thu được

Dựa theo“Danh lục các loài thực vật Việt Nam”gồm 3 tập do Phan Kế

Trang 32

2005); “Cây cỏ Việt Nam” của Phạm Hoàng Hộ có ghi rõ dạng sống của các

loài thực vật Việt Nam Thống kê số lượng và tính tỷ lệ phần trăm các loài dương xỉ thu được theo từng dạng sống (thân leo, thân cỏ, phụ sinh, ký sinh ) Từ đó xác định được dạng sống ưu thế của các loài dương xỉ ở vùng nghiên cứu

Trang 33

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 4.1 Đa dạng về thành phần dương xỉ (Polypodiophyta) ở thị xã Bình Minh

và huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long

Bảng 4.1: Số lượng họ, chi, loài dương xỉ ở thị xã Bình Minh và huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long

STT Quận/huyện

Số lượng

Tỉ Lệ (%)

Số lượng

Tỉ Lệ (%)

Số lượng

Tỉ Lệ (%)

Qua quá trình khảo sát, phân loại và thống kê, các loài dương xỉ ở thị

xã Bình Minh và huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long, kết quả đã thu mẫu và định danh được 20 loài Dương xỉ, thuộc 14 chi, 8 họ, tất cả các loài đều

thuộc lớp Dương xỉ (Polypodiopsida) Trong đó, thị xã Bình Minh có 19

loài, 14 chi, 8 họ; huyện Bình Tân có 12 loài, 11 chi, 6 họ; Có 12 loài thấy hiện diện ở cả hai huyện; 8 loài xuất hiện phổ biến

4.1.1 Danh lục các loài dương xỉ thu được ở thị xã Bình Minh và huyện Bình Tân – tỉnh Vĩnh Long

Bảng 4.2 Danh lục các loài dương xỉ thu được ở thị xã Bình Minh và huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long

sống

Sinh cảnh

Công dụng

I HỌ BÒNG

Lygodium flexuoxum

Trang 34

2 Bòng bong leo Lygodium scandens

Trang 36

Công dụng: T - Cây làm thuốc; C - Cây làm cảnh; A - cây làm thức ăn, As - Cây làm thức ăn gia súc, K: khác (hấp thu kim loại nặng, thủ

công, )

4.1.2 Đa dạng về phân loại

Qua quá trình khảo sát ở thị xã Bình Minh và huyện Bình Tân thuộc tỉnh Vĩnh Long đã ghi nhận được sự hiện diện của 20 loài dương xỉ thuộc 14 chi, 8

Trang 37

Họ ráng đà hoa (Davalliaceae) cũng có số lượng loài là 4 loài nhưng chỉ

thuộc 1 chi là Nephrolepis

Họ có số lượng chi, loài thấp nhất là họ dương xỉ (Polypodiaceae), họ rau

bợ nước (Marsileaceae), họ bào tai chuột (Salviniaceae) chỉ có 1 chi với 1 loài

* Đa dạng ở mức độ chi

Trong 14 chi, chi Nephrolepis có số lượng loài là 4, nhiều nhất trong các

chi Đa số các chi chỉ tìm được 1 loài (10/14 chi)

Mặc dù chỉ thống kê được số lượng loài dương xỉ rất nhỏ so với các thống

kê số lượng loài dương xỉ ở Việt Nam trong quyển “Cây cỏ Việt Nam” của Phạm Hoàng Hộ và các thống kê của một số tác giả khác, nhưng bước đầu chúng tôi đã tìm được 1 loài chưa có tên trong danh lục các loài dương xỉ ở Việt

Nam là loài Adiantum latifolium Lam và 1 loài chỉ phân loại được đến chi:

Cyclosorus sp

4.1.3 Đa dạng về sinh cảnh và dạng sống của dương xỉ

Dựa vào quan sát thực tế kết hợp với tham khao một số tài liệu chúng tôi

đã thể hiện cụ thể môi trường sống của các loài dương xỉ qua bảng sau:

Bảng 4.4 Đa dạng về dạng sống của Dương xỉ ở thị xã Bình Minh và

huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long

Trang 38

cảnh vườn cây lâu năm thấy hiện diện 14/20 loài, chiếm tỉ lệ cao nhất 70% tổng

số loài Dương xỉ ghi nhận được, ngoài ra đất hoang cũng là môi trường thích hợp gồm 13 loài (chiếm 65%), đất ngập nước 5 loài (chiếm 25%); ở những nơi trồng rau màu, hay ruộng lúa, do Dương xỉ không có nhiều giá trị trong lĩnh vực nông nghiệp thậm chí còn bị coi là loài gây hại nên thường được sử dụng thuốc bảo vệ để loại bỏ, phát hoang, chỉ thấy hiện diện có 2 loài, chiếm 10%

Về dạng sống, tất cả các loài dương xỉ thu được đều thuộc dạng thân cỏ nhỏ với dạng sống khác nhau

Bảng 4.5 Dạng sống của các loài Dương xỉ ở thị xã Bình Minh và huyện

mé nước, trong các vườn tạp, vườn cây ăn trái, đất hoang

Một số loài vừa có dạng sống trên mặt đất lại vừa phụ sinh được trên cây

như loài J Sm và Nephrolepis biserrata (Sw.) Schott, hoặc vừa có thân leo lại vừa có thân bò trên đất như Nephrolepis radicans (Burm.f.) Kuhn Hoặc một số

loài thân ngầm nằm sâu trong đất nhưng mang lá sinh trưởng vô hạn định leo

bám trên các cây khác như loài Lygodium flexuosum(L.) Sw., Lygodium

scandens (L.) Sw.), 2 loài này phổ biến trên toàn khu vực đang nghiên cứu

Trang 39

Đa số loài phụ sinh như Drynaria quercifolia (L.) J Sm., thường phân bố

ở những nơi có nhiều cây lớn ở ven các sông rạch nên sẽ ít tìm thấy loài này ở các địa phương có ngành công nghiệp, buôn bán phát triển như phường Cái Vồn

Loài có thân nổi sống trên mặt nước chỉ tìm thấy 1 loài là Salvini cucultta

Roxb phân bố rải rác ở một số nơi có ao, hồ, mương ít canh tác

Cả thị xã Bình Minh và huyện Bình Tân đều đang phát triển, tốc độ đô thị hóa đang tăng nhanh, nhưng nông nghiệp vẫn là hình thức kinh tế phổ biến với các kiểu canh tác đa dạng, tạo ra nhiều sinh cảnh tạo điều kiện cho sự đa dạng của dạng sống của các loài dương xỉ

4.1.4 Đa dạng về giá trị sử dụng

Ngành dương xỉ trước đây thường ít có ứng dụng vào cuộc sống của con người Nhưng cho đến nay, nhiều công dụng của dương xỉ đã được phát hiện và áp dụng Để dễ dàng tham khảo, chúng tôi đã phân loại những loài dương xỉ thu được ở khu vực được khảo sát thành những nhóm theo từng công dụng cụ thể ở bảng sau:

Bảng 4.6 Giá trị sử dụng của dương xỉ

Trang 40

Dựa vào kiến thức thực tế và một số tài liệu như “Phân loại học thực vật” của Hoàng Thị Sản và “Cây cỏ có ích” của Võ Văn Chi, chúng tôi xác định được 6 loài dùng làm thức ăn cho người, 3 loài thường dùng làm thức

ăn cho vật nuôi, 13 loài dùng làm thuốc, 10 loài làm cảnh, 4 loài có công dụng khác (hấp thu chất độc, tiểu thủ công nghiệp) và có 2 loài chưa xác định được công dụng

Như vậy, số loài dương xỉ có công dụng làm thuốc là nhiều nhất với 13/20 loài, chiếm đến 65% số loài dương xỉ tìm được ở thị xã Bình Minh và huyện Bình Tân Công dụng này đã được phát hiện và ứng dụng từ rất lâu

Có 10 loài trồng làm cảnh như Ceratopteris thalitroides (L) Brongn.,

Pteris vittata L., Stenochlaena palustris (Burn) Bedd, Adiantum latifolium

Lam., Nephrolepis biserrata (Sw) Schott, Nephrolepis exaltata, Nephrolepis

cordifolia (L) Presl, Pteris biaurita L Pityrogramma calomelanos (L.)Link, Drynaria quercifolia (L.) J Sm Các loài có công dụng làm cảnh chủ yếu

được tìm thấy ở thị xã Bình Minh, do địa phương này phát triển hơn huyện Bình Tân người dân có mức sống cao hơn nên có nhiều điều kiện và nhu cầu

về cây cảnh Do đặc tính dễ sinh trưởng, ít tốn công chăm sóc nên nhiều loài Dương xỉ ngày càng được nhiều người dân yêu thích cây cảnh ưa chuộng Cũng theo kết quả khảo sát, có 6 loài vừa dùng làm thức ăn vừa có giá

trị dược liệu: Ceratopteris thalitroides (L) Brongn., Acrostichum aureum L.,

Stenochlaena palustris (Burn) Bedd, Diplazium esculentum (Rezt) Sw., Nephrolepis cordifolia (L) Presl, Marsilea crenata Presl, đặc biệt Diplazium esculentum (Rezt) Sw được nhiều người dân trong vùng ưa

chuộng Loài có công dụng làm thức ăn gia súc rất ít chỉ 3/20 loài gồm:

Ceratopteris thalictroides (L.)Brongn., Marsilea crenata Presl., Salvini cucultta Roxb, chiếm tỉ lệ 15% và có 2 loài vẫn chưa xác định được công

dụng là Cyclosorus interruptus (Willd.) Ito ,Cyclosorus sp Trong đó,

Cyclosorus sp chưa được phân loại nên chưa có cơ sở để xác định

Đặc biệt, có 2 loài dương xỉ có công dụng hấp thu kim loại nặng đang

được chú ý là ráng chân xỉ có sọc (Pteris vittata L.) và ráng chò chanh

Ngày đăng: 17/02/2016, 10:04

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Lygodium flexuosum (L.) Sw - khảo sát sự đa dạng về thành phần loài dương xỉ (polypodiophyta) ở thị xã bình minh và huyện bình tân, tỉnh vĩnh long
Hình 1 Lygodium flexuosum (L.) Sw (Trang 63)
Hình 2: Lygodium scandens (L.) Sw. - khảo sát sự đa dạng về thành phần loài dương xỉ (polypodiophyta) ở thị xã bình minh và huyện bình tân, tỉnh vĩnh long
Hình 2 Lygodium scandens (L.) Sw (Trang 64)
Hình 3: Pteris biauvita L. - khảo sát sự đa dạng về thành phần loài dương xỉ (polypodiophyta) ở thị xã bình minh và huyện bình tân, tỉnh vĩnh long
Hình 3 Pteris biauvita L (Trang 65)
Hình 4: Pteris vittata L. - khảo sát sự đa dạng về thành phần loài dương xỉ (polypodiophyta) ở thị xã bình minh và huyện bình tân, tỉnh vĩnh long
Hình 4 Pteris vittata L (Trang 66)
Hình 6: Acrostichum aureum L. - khảo sát sự đa dạng về thành phần loài dương xỉ (polypodiophyta) ở thị xã bình minh và huyện bình tân, tỉnh vĩnh long
Hình 6 Acrostichum aureum L (Trang 68)
Hình 7: Ceratopteris thalictroides (L) - khảo sát sự đa dạng về thành phần loài dương xỉ (polypodiophyta) ở thị xã bình minh và huyện bình tân, tỉnh vĩnh long
Hình 7 Ceratopteris thalictroides (L) (Trang 69)
Hình 8: Pityrogramma calomelanos (L.) Link - khảo sát sự đa dạng về thành phần loài dương xỉ (polypodiophyta) ở thị xã bình minh và huyện bình tân, tỉnh vĩnh long
Hình 8 Pityrogramma calomelanos (L.) Link (Trang 70)
Hình 10: Drynaria quercifolia (L.) J. Sm. - khảo sát sự đa dạng về thành phần loài dương xỉ (polypodiophyta) ở thị xã bình minh và huyện bình tân, tỉnh vĩnh long
Hình 10 Drynaria quercifolia (L.) J. Sm (Trang 72)
Hình 12: Cyclosorus interruptus (Willd.) Ito. - khảo sát sự đa dạng về thành phần loài dương xỉ (polypodiophyta) ở thị xã bình minh và huyện bình tân, tỉnh vĩnh long
Hình 12 Cyclosorus interruptus (Willd.) Ito (Trang 74)
Hình 14: Diplazium esculentum (Retz.) Sw. - khảo sát sự đa dạng về thành phần loài dương xỉ (polypodiophyta) ở thị xã bình minh và huyện bình tân, tỉnh vĩnh long
Hình 14 Diplazium esculentum (Retz.) Sw (Trang 76)
Hình 15: Nephrolepis biserrata (Sw.) Schott - khảo sát sự đa dạng về thành phần loài dương xỉ (polypodiophyta) ở thị xã bình minh và huyện bình tân, tỉnh vĩnh long
Hình 15 Nephrolepis biserrata (Sw.) Schott (Trang 78)
Hình 16: Nephrolepis cordifolia (L.) Presl - khảo sát sự đa dạng về thành phần loài dương xỉ (polypodiophyta) ở thị xã bình minh và huyện bình tân, tỉnh vĩnh long
Hình 16 Nephrolepis cordifolia (L.) Presl (Trang 79)
Hình 17: Nephrolepis radicans (Burm.f.) Kuhn. - khảo sát sự đa dạng về thành phần loài dương xỉ (polypodiophyta) ở thị xã bình minh và huyện bình tân, tỉnh vĩnh long
Hình 17 Nephrolepis radicans (Burm.f.) Kuhn (Trang 80)
Hình 18 : Nephrolepis exaltata (L.) - khảo sát sự đa dạng về thành phần loài dương xỉ (polypodiophyta) ở thị xã bình minh và huyện bình tân, tỉnh vĩnh long
Hình 18 Nephrolepis exaltata (L.) (Trang 81)
Hình 19: Marsilea crenata Presl. - khảo sát sự đa dạng về thành phần loài dương xỉ (polypodiophyta) ở thị xã bình minh và huyện bình tân, tỉnh vĩnh long
Hình 19 Marsilea crenata Presl (Trang 82)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w