Hơn tám thập kỷ đã trôi qua, từ khi có “một lối thơ mới trình chánh giữa làng thơ” đế ẫ biệt, vấn đề ngôn từ nghệ thuật Thơ mới luôn hấp dẫn người sáng tác, người thưởng thức và những ng
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
LA NGUYỆT ANH
NGÔN TỪ NGHỆ THUẬT THƠ MỚI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
THÁI NGUYÊN - 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
LA NGUYỆT ANH
NGÔN TỪ NGHỆ THUẬT THƠ MỚI
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
THÁI NGUYÊN - 2013
Trang 4Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả trong luận án là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận án
La Nguyệt Anh
Trang 5Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
5 Phương pháp nghiên cứu
6 Đóng góp mới của luận án
7 Cấu trúc của luận án
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
NGÔN TỪ NGHỆ THUẬT THƠ MỚI
1.1 Nghiên cứu về ngôn từ nghệ thuật Thơ mới giai đoạn 1932 - 1945
1.2 Nghiên cứu về ngôn từ nghệ thuật Thơ mới giai đoạn 1945 - 1985
1.3 Nghiên cứu về ngôn từ nghệ thuật Thơ mới từ 1986 đến nay
CHƯƠNG 2 THƠ MỚI – MỘT HÌNH THỨC GIAO TIẾP
Trang 6Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
2.1.2
2.2.1 Những tiền đề lịch sử, văn hóa, xã hội dẫn đến sự ra đời củ
2.2.2 Chủ thể lời nói trong giao tiếp nghệ thuật Thơ mới
CHƯƠNG 3 ĐẶC TRƯNG NGÔN TỪ NGHỆ THUẬT THƠ MỚI
3.2.1 Tiếp nối và phát triể
3.2.2.Tiếp thu những sáng tạo ngôn ngữ thơ trữ tình trung đại
3.2.3 Dịch chuyển gần hơn với ngôn ngữ đời sống
3.3 Ngôn từ Thơ mới có sự kết hợp giữa thơ Đường và thơ Pháp
3.3.1 Sự tích hợp giữa tư duy ngôn ngữ thơ Đường và tư duy ngôn ngữ
thơ Pháp
3.3.2 Sự ra đời của một hình t ừ mới: hiện đạ
CHƯƠNG 4 TỔ CHỨC VĂN BẢN NGÔN TỪ NGHỆ THUẬT THƠ MỚI
4.1 Từ ngữ Thơ mới phong phú, đa dạng
4.1.1 Sáng tạo từ ngữ trên cơ sở kết ghép
4.1.2 Sáng tạo từ ngữ theo cơ chế chuyển nghĩa
Trang 7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Trang 8Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Ngôn từ là yếu tố thứ nhất của văn học Sáng tạo, tiếp nhận, đánh
giá văn học nói chung và thơ nói riêng không thể thiếu được yếu tố này Ngôn từ nghệ thuật là một sự phân tầng khác của ngôn ngữ tự nhiên, “tương xâm” nhưng không đồng nhất với ngôn ngữ tự nhiên Nếu ngôn ngữ tự nhiên thường mang tính ổn định, thì ngôn từ nghệ thuật - đặc biệt ngôn từ thơ - với
tư cách là một “mã” nghệ thuật luôn thay đổi Mỗi thời đại văn học, mỗi trào lưu, khuynh hướng, mỗi tác giả lại có cách sử dụng ngôn ngữ riêng để mang đến một “thực tại” và hình thức mới cho ngôn từ nghệ thuật thơ
1.2 Trong dòng chảy của thơ ca Việt Nam, phong trào Thơ mới (1932 –
1945) là một hiện tượng độc đáo, đặc sắc Trên hành trình sáng tạo, các nhà Thơ mới đã đạt được thành công rực rỡ, đặt nền móng vững chắc cho công cuộc hiện đại hóa thơ Việt Nam Hơn tám thập kỷ đã trôi qua, từ khi có “một lối thơ mới trình chánh giữa làng thơ” đế ẫ
biệt, vấn đề ngôn từ nghệ thuật Thơ mới luôn hấp dẫn người sáng tác, người thưởng thức và những người nghiên cứu thơ
1.3 Các công trình nghiên cứu và bài viết về Thơ mới đã khám phá ngôn
từ thơ ở nhiều phương diện như: vần thơ, nhịp thơ, nhạc điệu, từ ngữ, phương thức biểu đạt, cấu trúc ngôn từ… Tuy nhiên, những khám phá, phân tích, lý giải chủ yếu tập trung vào khẳng định sức sáng tạo của từng cây bút hoặc nét độc đáo của từng thi phẩm Trên hành trình nghiên cứu Thơ mới, nhiều vấn đề
đã được bàn đến, những thành tựu và cả phần hạn chế của Thơ mới đã được
khẳng định Tuy nhiên, vấn đề ngôn từ nghệ thuật Thơ mới vẫn thiếu cái nhìn
Trang 9Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
toàn diện, hệ thống và còn có những điểm cần tiếp tục đi sâu tìm hiểu, phân tích, tổng hợp
Tiếp thu thành tựu của những người đi trước, tìm hiểu kết quả nghiên cứu về ngôn từ nghệ thuật những thập niên gần đây, chúng tôi thấy rằng, đã đến lúc cần thiết và có cơ sở để thực hiện một công trình nghiên cứu chuyên sâu về ngôn từ nghệ thuật Thơ mới; tiếp tục đáp ứng nhu cầu thưởng thức, khám phá hiện tượng văn học độc đáo, đặc sắc này khi trình độ tri nhận của độc giả ngày càng được mở rộng, nâng cao Từ việc tập trung nhận diện, phân tích, đánh giá đặc trưng ngôn từ nghệ thuật Thơ mới, luận án góp phần khẳng định những đóng góp đáng trân trọng của Thơ mới trong quá trình hiện đại hóa ngôn ngữ văn học Việt Nam
1.4 Thơ mới có một vị trí quan trọng trong chương trình Ngữ văn ở các
bậc học Thực tiễn giảng dạy và học tập về Thơ mới đòi hỏi sự chiếm lĩnh ngày càng sâu sắc những sáng tạo nghệ thuật của các nhà thơ, giúp người dạy và người học nhận thức vai trò và ý nghĩa của “cuộc cách mạng thơ ca”
- đặc biệt là trên phương diện thể loại và ngôn ngữ - mà các nhà Thơ mới đã đóng góp cho nền văn học nước nhà Việc tìm hiểu, nghiên cứu nhằm đáp ứng nhu cầu giảng dạy, học tập Thơ mới nói riêng và văn học Việt Nam hiện đại nói chung trong nhà trường cũng là một lý do thôi thúc chúng tôi mạnh
dạn lựa chọn đề tài này Hy vọng kết quả nghiên cứu vấn đề Ngôn từ nghệ thuật Thơ mới không chỉ có ý nghĩa thiết thực đối với tác giả luận án mà còn
có ý nghĩa tích cực đối với thực tiễn nghiên cứu, dạy và học môn Ngữ
Xuất phát từ những yêu cầu khoa học và nhu cầu thực tiễn trên, chúng
tôi lựa chọn đề tài: Ngôn từ nghệ thuật Thơ mới
Trang 10Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
2 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Luận án xác định đối tượng nghiên cứ
sáng tác của các nhà thơ thuộc phong trào Thơ mới 1932 – 1945
Trong quá trình thực hiện đề tài, tập trung vào đối tượng nghiên cứ
, nghiên cứu sáng tác của các tác giả Thơ mới qua các tuyển tập thơ
và các tập thơ được xuất bản (hoặc tái bản) trong nước từ trước Cách mạng tháng Tám đến nay, cụ thể:
mười bốn) [167]
) [183]
Các tập thơ tiêu biểu trong phong trào Thơ mới:
- Tâm hồn tôi của Nguyễn Bính (Nxb Văn nghệ, tái bản, 1999) [14]
- Lửa thiêng của Huy Cận (Nxb Hội Nhà văn, 1992, theo bản in năm 1940) [15]
- Thơ thơ (Nxb Hội Nhà văn, 1992, theo bản in năm 1938) [26], Gửi hương cho gió của Xuân Diệu (Nxb Hội Nhà văn, 1992, theo bản in năm 1945) [27]
- Hoa niên của Tế Hanh (Nxb Đời nay, 1945) [63]
- Mê hồn ca của Đinh Hùng (Nxb Hội Nhà văn, tái bản, 1995) [75]
- Tiếng thu của Lưu Trọng Lư (Nxb Hội Nhà văn, 1992, theo bản in năm
1939) [104]
- Mấy vần thơ của Thế Lữ (Nxb Hội Nhà văn, 1992, theo bản in năm 1941)
[105]
- Gái quê của Hàn Mặc Tử (Nxb Hội Nhà văn, tái bản, 1992) [211]
- Điêu tàn của Chế Lan Viên (Nxb Hội Nhà văn, 1992, theo bản in năm
1938) [212]…
Trang 11Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
3 Mục đích nghiên cứu
- Nhận diện, phân tích, khái quát những đặc trưng cơ bản, cách thức tổ chức và những đặc sắc trong tổ chức văn bản ngôn từ nghệ thuật Thơ mới
Khẳng định những đóng góp đáng trân trọng của Thơ mới trong quá trình hiện
đại hóa thơ ca và hành trình cách tân ngôn ngữ văn học Việt Nam
- Khẳng định mối quan hệ biện chứng giữa sáng tạo ngôn từ và tư tưởng nghệ thuật, giữa hình thức và nội dung; sự quy định của ý thức xã hội, trạng thái tri thức và hệ thống quyền lực đối với sáng tạo ngôn từ nghệ thuật
- Luận án cũng hướng tới khẳng định một hướng tiếp cận có hiệu quả trong nghiên cứu, tiếp nhận và thưởng thức thơ ca
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 12Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
5.2 Phương pháp thống kê - so sánh
Phương pháp này giúp chúng tôi thống kê, phân loại và mô tả cụ thể đặc
điểm ngôn từ nghệ thuật Thơ mới từ những khảo sát tin cậy với những số liệu
cụ thể làm cơ sở chắc chắn cho quá trình triển khai các luận điểm khoa học của luận án Tuy nhiên, để làm nổi bật nét đặc sắc và sự khác biệt, sự tiếp nối
và phát triển của ngôn từ nghệ thuật Thơ mới, bên cạnh thao tác thống kê chúng tôi thường xuyên sử dụng thao tác so sánh nhằm phát hiện, lý giải những yếu tố ảnh hưởng, tiếp biến, gặp gỡ, giao thoa và những cách tân ngôn
từ trong Thơ mới và trong thơ ca Việt Nam
5.3 Phương pháp phân tích văn bản
Nếu phương pháp cấu trúc – hệ thống tạo nên diện thì việc phân tích văn bản sẽ là điểm nhấn quan trọng tạo nên điểm của công trình nghiên cứu Việc
đặt văn bản trong mối tổng hòa với hàng loạt tương quan và phân tích tháo gỡ những tương quan hữu cơ đó được xem như sự minh họa sinh động gắn với từng yêu cầu cụ thể của luận án
5.4 Phương pháp nghiên cứu liên ngành
Luận án vận dụng tổng hợp phương pháp nghiên cứu khoa học của nhiều chuyên ngành: ký hiệu học, thi pháp học, ngôn ngữ học, lý thuyết thông tin nhằm khám phá đặc trưng của ngôn từ nghệ thuật Thơ mới Tác giả luận án cũng ý thức được rằ
: văn hóa học, dân tộc học Vận dụng phương pháp
nghiên cứu liên ngành, tác giả luận án mong muốn tránh được cái nhìn đơn giản, phiến diện và những kết luận một chiều đối với kết quả nghiên cứu
Sử dụng các phương pháp trên trong quá trình triển khai luận án, chúng tôi mong muốn đạt được mục đích nghiên cứu đã đề ra, đáp ứng tốt yêu cầu của luận án
Trang 13Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
6 Đóng góp mới của luận án
Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách toàn diện và hệ thống về
ngôn từ nghệ thuật Thơ mới
Luận án đã phân tích cụ thể những yếu tố nội sinh, ngoại sinh, những điều kiện văn hóa, lịch sử… như là những tiền đề quan trọng tạo nên sự thay đổi của
ngôn từ nghệ thuật Thơ mới Luận án khẳng định: Thơ mới là một hình thức diễn
ngôn nghệ thuật mới khác biệt với loại hình diễn ngôn thơ ca trước và sau nó Luận án đã khái quát những đặc trưng cơ bản của ngôn từ nghệ thuật Thơ
mới với những biểu hiện chủ yếu: mang đậm tính chủ quan, thiên về cảm xúc,
cảm giác, hiện đại và đầy cá tính Luận án cũng cho rằng, sự đổi mới của ngôn từ
nghệ thuật Thơ mới là kết quả của quá trình tiếp thu và tiếp nhận những tinh hoa
nghệ thuật thơ ca truyền thống, tinh hoa nghệ thuật thơ ca nhân loại Đây là sản phẩm của quá trình giao lưu và tiếp biến văn hóa
Luận án đã lựa chọn và khai thác một số bình diện tiêu biểu trong tổ chức
văn bản ngôn từ nghệ thuật Thơ mới ữ câu thơ và tổ chức bài thơ; trên cơ sở đó, luận án khẳng định nhữ
ừ thơ của thế hệ thi nhân Thơ mới
Kết quả của luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho công tác nghiên cứu, dạy và học thơ ca Việt Nam hiện đại ngành Ngữ văn trong các trường Cao đẳng, Đại học
7 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, phần nội dung
chính của luận án gồm bốn chương như sau:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu ngôn từ nghệ thuật Thơ mới Chương 2: Thơ mới – Một hình thức giao tiếp nghệ thuật mới
Chương 3: Đặc trưng ngôn từ nghệ thuật Thơ mới
Chương 4: Tổ chức văn bản ngôn từ nghệ thuật Thơ mới
Trang 14Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
NỘI DUNG
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NGÔN TỪ NGHỆ THUẬT THƠ MỚI
Hơn tám mươi năm qua, kể từ khi xuất hiện trên thi đàn Việt Nam đến nay, Thơ mới đã được nghiên cứu ở nhiều góc độ Ý kiến đánh giá về Thơ
mới khá đa chiều, đa diện, phản ánh sự phong phú trong cảm nhận nghệ thuật
và nghiên cứu khoa học của giới học thuật nước nhà Những nhận định, đánh giá về Thơ mới cho thấy quy luật nghiệt ngã của sáng tạo nghệ thuật: có thành công, có thất bại; có khi được đón nhận, có khi bị khước từ, phê phán… Tuy nhiên, đóng góp của Thơ mới ngày càng được khẳng định; các công trình nghiên cứu về Thơ mới không ngừng tăng theo thời gian
Quá trình triển khai đề tài, chúng tôi đã tập hợp một khối lượng lớn các công trình nghiên cứu về Thơ mới; từ đó, tập trung vào các ý kiến, luận giải,
đánh giá về ngôn từ nghệ thuật Thơ mới Trong phần Tổng quan nghiên cứu
của luận án, kết quả khảo sát những công trình, chuyên luận, những bài báo liên quan gần và trực tiếp đến ngôn từ nghệ thuật Thơ mới được tổng hợp, sắp xếp theo trình tự thời gian; theo đó, có thể khái quát tình hình nghiên cứu ngôn từ nghệ thuật Thơ mới qua các giai đoạn như sau:
1.1 Nghiên cứu về ngôn từ nghệ thuật Thơ mới giai đoạn 1932 - 1945
Theo nhiều ý kiến, ngày 10/3/1932, thời điểm Phan Khôi đưa Một lối thơ trình chánh giữa làng thơ [179, tr.51-54] được xem là một mốc quan trọng chính thức đánh dấu sự ra đời của Thơ mới Sự hiện diện của Thơ mới đã làm
đảo lộn khuynh hướng tư tưởng, làm thay đổi nhận thức và tư duy thơ từng tồn tại hàng ngàn năm trong nền thi ca Việt Nam Cùng với sự xuất hiện của Thơ mới, diễn đàn thơ từ Bắc vào Nam trở nên sôi động Nhiều vấn đề về
Trang 15Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ngôn từ thơ đã được gián tiếp đề cập đến qua các cuộc diễn thuyết và trên báo chí đương thời
Người công kích Thơ mới đầu tiên và mạnh mẽ nhất có lẽ là ông Vân
Bằng Mũi nhọn tấn công chĩa thẳng vào Phan Khôi Trên An Nam tạp chí,số
39, ngày 30/4/1932, Vân Bằng đã phản ứng lại bằng bài: Tôi thất vọng vì Phan Khôi [179, tr.55-56] Với thái độ mỉa mai, ông viết: “Ông Phan Khôi là
một nhà đại danh nho, đại tư tưởng, đại lý thuyết… Vừa đây, ông lại ra công
“sáng chế” một lối thơ “tân thời, tự do đặc biệt”, không cần niêm luật, tự ý vắn dài …” [179, tr.55]
Trước sự “dị ứng” của Vân Bằng, các “chiến sĩ” Thơ mới đã lên tiếng Trong Phong hóa, số 14, ngày 22/9/1932, mục Thơ, Văn Lực lên tiếng phản
đối thơ cũ, bênh vực Thơ mới và kêu gọi: “Bỏ luật, niêm, đối, bỏ điển tích,
sáo ngữ,…, đừng bắt chước cổ nhân một cách nô lệ Thơ ta phải mới, mới văn thể, mới ý tưởng” [106, tr.4] Trong Phụ nữ tân văn, số 153, tháng 6 năm
1932, Lưu Trọng Lư gửi Bức thư ngỏ cùng Phan Khôi, tỏ ý hưởng ứng Thơ mới và trách Phan Khôi “đánh trống bỏ dùi” Trong Phong hoá, số 31, ngày 31/1/1933, đăng lại bài này với tựa đề Lối Thơ mới, nhắc lại lời hô hào của số
báo trước: “Phong hóa đã bàn về những chỗ không hay, không hay vì bị bó buộc vào trong khuôn sáo của của lối thơ Đường luật” và kêu gọi các nhà thơ
“mở rộng lãnh thổ”, “đem cái thiên tài phú bẩm ra mà đua bơi, vẫy vùng” [104, tr.10]
Sang năm 1933, không khí tranh luận trở nên gay gắt Thời gian này,
trên các báo: Văn học tạp chí, Nam phong, Tiếng dân, Văn học tuần san, Tin văn… xuất hiện nhiều bài viết kịch liệt phê phán Thơ mới, ngợi ca Thơ cũ Trên Văn học tạp chí, Chất Hằng Dương Tự Quán liên tiếp tấn công Thơ mới bằng các bài: Ấm Hiếu không thể làm Tú Khôi, hay là một cái tỉ hiệu giữa Phan Khôi và Nguyễn Khắc Hiếu (số 18, ngày 1/6/1933) [179, tr.82], Thơ mới
Trang 16Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
(số 22, ngày 1/8/1933) [179, tr.87-89], Làm thế nào để đổi mới cho thơ (số
23, ngày 15/8/1933) [179, tr.110-114]… Trên Tiểu thuyết thứ bảy, Tàn Đà có các bài: Phong trào Thơ mới muốn cùng ai trong bạn làng thơ (số 26, ngày 24/11/1934) [179, tr.171-174], Cùng các bạn làng thơ (số 28, ngày 8/12/1924) [179, tr.176-182], Câu chuyện nói về thơ (số 32, ngày 5/1/1935) [179, tr.193- 202]… Trên Nam Phong, Nguyễn Hữu Tiến có bài: Thơ mới với thơ cũ (số 193, Février – Mars, 1934)… Nguyễn Hữu Tiến cho rằng:“Thơ mới này chỉ phóng theo được cái “mốt” đặt vần… mỗi bài thơ là một mớ câu nói lổng chổng, không có kết cấu liên lạc, điệu cách dịu dàng gì” [178, tr.75]
Trong số những tờ báo đương thời bênh vực, cổ vũ cho Thơ mới, tiêu
biểu là: Phụ nữ Tân văn, Tiểu thuyết thứ bảy, Hà Nội báo, Phong hóa, Ngày nay… với những bài viết của nhiều nhà thơ, nhà phê bình có tên tuổi, đặc biệt
là sự nhiệt tình ủng hộ của các tác giả Tự lực văn đoàn
Trong Cuộc điểm báo (Phong hóa, số 69, ngày 20/10/1933), Nhị Linh
(Nhất Linh) đã đối thoại với TR.GI (TR.GI chê các nhà thơ mới không biết dùng chữ): “Nhà làm Thơ mới cân nhắc từng chữ để đắn đo xem chữ nào diễn được cái cảm của mình tả được cái ý của mình đúng hơn hết, xem phải cần đến chữ nào, câu Thơ mới có cái điệu khả dĩ diễn được sự rung động của linh hồn một cách rõ rệt hơn” [98, tr.2] Không phủ nhận, cũng không ngợi ca một chiều, Nhị Linh đã chỉ ra điểm tiệm cận và sự khác nhau giữa Thơ cũ và Thơ mới: “trong Thơ cũ cũng có chữ dùng đúng chỗ, diễn đúng ý, và trong Thơ mới cũng có nhiều câu chỉ kêu mà không có hồn, song nói về toàn thể, thì
khác nhau…” [98, tr.2]
Trong bài luận về Thơ mới (Phong hóa, số 97, ngày 11/5/1934), Nguyễn
Tường Bách đã chỉ rõ ưu thế và thành tựu ban đầu của Thơ mới: “Thơ mới đã
có điệu, cũng ngâm được, du dương, êm ái không khác gì thơ cũ Mà âm điệu lại có thể thay đổi theo những cảnh, những tính tính, êm đềm hay dữ dội trong
Trang 17Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
bài thơ” Nguyễn Tường Bách khá khách quan khi phân tích hạn chế của Thơ
cũ và cả những nhược điểm của Thơ mới: “Thơ mới bị công kích nhất là về phần hình thức Vì nhiều người làm thơ không biết đặt câu cho có điệu, thành
ra bài thơ chỉ là những câu nói thường có vần” [179, tr.156-157]
Cùng với sự sôi động của diễn đàn thơ, thi đàn đã xuất hiện nhiều bài Thơ
mới Có bài “thật hay” mà cũng có bài “thật dở” Năm 1936, trên Hà Nội báo,
Lê Tràng Kiều liên tiếp có các bài Thơ mới [179, tr.298–302], Thơ mới Thái Can [179, tr.303–312], Thơ mới Nguyễn Vỹ [179, tr.327-338], Một nhà Thơ mới rất chú trọng về âm điệu: Lưu Trọng Lư [179, tr.355-363],…, khẳng định
“Chúng ta ngày nay đã có những nhà thi sĩ xứng đáng” [179, tr.300] Có thể
nói, đến năm 1936, thi đàn đã có những thay đổi lớn, cuộc tranh luận Thơ mới – Thơ cũ lắng xuống “Cuộc cách mạng về thi ca ấy, đã yên lặng như mặt nước
hồ mùa thu” “Từ bây giờ lịch sử chỉ còn ghi lại những áng thơ hay mà thôi, không còn chia ra mới, cũ nữa” [179, tr.286–287]
Từ năm 1937, trên mục Tin thơ của báo Ngày nay, Thế Lữ liên tục giới thiệu các nhà thơ mới Thấp thoáng trong mục Tin thơ những vấn đề ngôn từ
thơ cũng được Thế Lữ khái quát Nhận xét về thơ Xuân Diệu, Thế Lữ khẳng
định: “Thơ của ông không phải là “văn chương” nữa; đó là lời nói, là tiếng reo vui hay tiếng năn nỉ, là sự chân thành cảm xúc, hoặc là những tình ý rạo rực biến lẩn trong những thanh âm” [179, tr.384] “Tác giả biết dùng những chữ mạnh mẽ và thích đáng để làm nổi bật những hình ảnh mình cảm thấy hay trông thấy” [179, tr.389]; thơ cô Thiếu Tâm: “Lời thơ vừa đột ngột, vừa mộc mạc, vừa vụng về nhưng ý tứ thật mới mẻ” [179, tr 392]; rồi “ông Tử Hạ
có bài Đêm đông… Lời thơ mộc mạc như ca dao” [179, tr.424]…
Năm 1942, trong “bản tổng kết có ngay” về phong trào Thơ mới, tác giả Thi nhân Việt Nam đã khái quát lại hành trình Thơ mới từ bước khởi đầu đến
Trang 18Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
lúc cực thịnh rồi những ngả rẽ, những đỉnh cao và khẳng định: “phong trào thơ mới đã vứt đi nhiều khuân phép xưa, song cũng nhiều khuôn phép nhân
đó sẽ thêm bền vững” và đề cập tới “lối dùng chữ”, “hình dáng câu thơ”
[167, tr.44-45] Bằng một cảm quan tinh tế, nhạy bén, Hoài Thanh, Hoài Chân
đã nhận ra “cuộc cách mạng thi ca” ấy không chỉ là thành tựu nghệ thuật của
một thời đại mới, mà cao hơn nghệ thuật, Thơ mới chính là tình yêu tha thiết
đối với dân tộc và tiếng nói quê hương trong tâm thức các nhà thơ mới: “Họ yêu vô cùng thứ tiếng trong mấy mươi thế kỷ đã chia sẻ vui buồn với cha ông
Họ dồn tình yêu quê hương trong tình yêu tiếng Việt” [167, tr.47]
Cũng năm 1942, cuốn Nhà văn hiện đại của Vũ Ngọc Phan được xuất bản (Năm 2008, công trình này được in lại trong Tuyển tập Vũ Ngọc Phan) Trong quyển 3 mục VI Các thi gia của cuốn sách này, như chính tác giả bày tỏ, có
“một chút ý kiến rất sơ lược, chưa hẳn là phê bình” và tác giả “chỉ lựa một ít thi gia có những cái đặc biệt – cố nhiên cả về hay, lẫn về dở - để xem trong những áng Thơ mới bây giờ, có những cái gì là những cái có thể tồn tại và những cái gì
sẽ phải mai một với thời gian” [131, tr.633] Mặc dù không trực tiếp bàn về vấn
đề ngôn từ Thơ mới, song Vũ Ngọc Phan đã có những nhận xét mang tính gợi mở: “có thể kể những thi sĩ dùng lời thật cũ, thỉnh thoảng điểm một vài ý thật mới như Đái Đức Tuấn (Tchya), Nguyễn Bính… Lại có thể kể một số thi sĩ nửa
cũ, nửa mới cả về ý lẫn lời: thi sĩ ấy là Nguyễn Nhược Pháp…”
: “Thơ mới là lối thơ không theo qui củ của lối thơ cũ nghĩa là không hạn định số câu, số chữ, không theo niêm luật chỉ có vần và điệu” [60, tr.427]
Có thể thấy, ở giai đoạn này, sáng tạo ngôn từ thơ của các nhà thơ mới
đã được quan tâm nhưng chủ yếu là những cảm nhận chủ quan của người sáng tác, người yêu thơ và những cây bút phê bình văn học đương thời; ý kiến
Trang 19Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
nhận xét, thẩm bình, đánh giá về ngôn từ của Thơ mới thường được điểm xuyết, đan xen trong ý kiến bàn bạc, tranh luận về Thơ mới nói chung Ngôn
từ nghệ thuật Thơ mới chưa trở thành một đối tượng nghiên cứu cụ thể Trước nhiều vấn đề mang tính thời sự về Thơ mới lúc đó, ngôn từ nghệ thuật dường như bị bỏ ngỏ Đây cũng chính là điều mà các tác giả còn
“khất lại” với độc giả và các nhà thơ: “Nhưng hôm nay tôi chưa muốn nói nhiều về hình dáng câu thơ Một lần khác buồn rầu hơn chúng ta sẽ thảo luận
kỹ càng về luật Thơ mới, về những vần gián cách, vần ôm nhau, vần hỗn tạp,
về ngữ pháp, cú pháp và nhiều điều rắc rối nữa ” [167, tr.44] Tuy nhiên,
điều đó đã gợi mở hướng đi mới và cũng là vấn đề mà những người tiếp bước trên hành trình nghiên cứu Thơ mới cần tiếp tục giải quyết
1.2 Nghiên cứu về ngôn từ nghệ thuật Thơ mới giai đoạn 1945 - 1985
Vấn đề Thơ mới được đặt lại Do nhiều nguyên nhân, những đánh giá về Thơ mới ở giai đoạn này có phần khắt khe Ngay những đại biểu ưu tú của Thơ mới cũng nghiêm khắc với chính mình Tuy nhiên, nhận định về ngôn từ nghệ thuật Thơ mới lại có những điểm cụ thể, sáng rõ hơn Tình hình nghiên cứu Thơ mới diễn ra theo hướng phân cực ở hai miền đất nước
Ở miền Nam, có thể kể đến ý kiến của Phạm Văn Diêu [25], Thanh Lãng
[89], Nguyễn Tấn Long, Phan Canh [101], Phạm Thế Ngũ [121]…
Năm 1953, trong cuốn Việt Nam văn – học bình giảng (Sách giáo khoa Tân Việt), Phạm Văn Diêu đã giới thiệu khái quát: Thơ mới là gì? Lai – lịch Thơ mới, Các giai - đoạn trong lịch - sử hình - thành của Thơ mới, Các phái trong Thơ mới Tuy nhiên, trong giới thiệu của Phạm Văn Diêu thì phần dành
cho ngôn từ không nhiều và còn mang tính chủ quan Theo Phạm Văn Diêu, Thơ mới chỉ mới ở nội dung còn hình thức “không mới” Thơ mới “không phải
“mới” ở cách dùng câu, đặt chữ mà là “mới” ở tinh thần của thơ” [25, tr.241]
Trang 20Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
a chiều Nhìn chung, các nhà nghiên cứu
nhưng những nhận xét về ngôn từ nghệ thuật Thơ mới lại cởi mở, xác đáng Hoài Thanh - người đã từng có công lớn khám phá và bình giá Thơ mới, lúc này lại thuộc số ngườ ới Ông gọi Thơ mới là “những
vần thơ có tội” Năm 1964, trong Phê bình và tiểu luận (tập 2), ông viết: “Một vài ý kiến về phong trào “thơ mới” và quyển Thi nhân Việt Nam” Hoài Thanh
cho rằng: “Thơ mới cơ hồ không biết đến tiếng nói đau khổ, tiếng nói căm thù, tiếng nói quật khởi của các chiến sĩ cách mạng, của quần chúng cần lao” [166, tr.222] Dù vậy, tác giả không phủ nhận những đóng góp về nghệ thuật,
đặc biệt là đóng góp ở phương diện câu thơ của Thơ mới: “Qua phong trào
“Thơ mới” nhịp điệu câu thơ trở nên phong phú hơn, uyển chuyển hơn, tiếng nói trong câu thơ cũng trở nên trong sáng hơn, bình dị hơn” [166, tr.226]
Trang 21Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
[122, tr.78-82]
Năm 1966, trong chuyên luận Phong trào “Thơ mới”(1932 - 1945), trên
quan điểm phê bình mác xít, tác giả Phan Cự Đệ đã có những đánh giá về Thơ
mới Nhận xét của ông lúc đó thiên về tính tư tưởng, nặng về phê phán Song
ông khá khách quan khi chỉ ra những đóng góp và những hạn chế nhất định
trên phương diện ngôn từ của Thơ mới: “Về phương diện xây dựng ngôn ngữ
dân tộc, “thơ mới” cũng có nhiều đóng góp Khác với lối nói ước lệ, sáo rỗng
của những “thơ cũ”… ngôn ngữ “thơ mới” giàu hình tượng và cảm xúc Rất
nhiều hình dung ngữ mới xuất hiện, làm giàu thêm cho vốn ngôn ngữ dân tộc”
[40, tr.177] Tuy nhiên, như đánh giá của Phan Cự Đệ: “Ngôn ngữ “thơ mới” nói chung chưa tiếp thu được cái mạnh khỏe, ấm cúng của ngôn ngữ quần chúng” [40, tr.202]
ếp tụọ
ời sống, văn hóa, văn họ
Vấn đề ngôn từ Thơ mới được tiếp tục bàn đến
Năm 1987, tác giả
(In trong tập tiểu luận Một thời đại văn học mới
) Khi đề cập đến ngôn ngữ ỉ ra
Trang 22Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
nhữ ả những hạn chế trong ngôn từ Thơ mới Về thành tựu:
“Các nhà “Thơ mới” đã làm một bước quan trọng cải tạo hình thức ngôn ngữ thơ, đưa hình thức ngôn ngữ nói vào thơ, đưa vào thơ những ngữ điệu nhiều
vẻ của lời nói ngoài đời, tạo ra thơ trữ tình điệu nói” Về hạn chế: “Tất nhiên,
do chỗ “Thơ mới” chủ yếu là tiếng nói của cái tôi cá nhân cô đơn và bất lực, lánh xa hoặc quay lưng với đời sống chính trị sôi động của đất nước, nên
những giọng điệu do nó tạo ra vẫn còn thiếu phong phú, và đặc biệt, vẫn chưa
mở cửa cho ngôn ngữ quần chúng đi vào ngôn ngữ thơ” [111, tr.135]
Cũng trong năm 1987, qua chuyên luận Thi pháp thơ Tố Hữu, nhà nghiên cứu Trần Đình Sử đã có những nhận xét khái quát về “khả năng giao tiếp trực tiếp” của Thơ mới: “Thơ mới sử dụng giọng điệu trực tiếp của lời nói, của tiếng kêu, tiếng than tạo thành thơ trữ tình điệu nói” [152, tr.43]
Năm 1992, vấn đề ngôn từ Thơ mới được tác giả đề cập cụ thể hơn trong
bài viết: Thơ mới và sự đổi mới thi pháp thơ trữ tình Việt Nam Một lần nữa ông khẳng định: “ Thơ mới đã căn bản cải tạo lại thơ trữ tình tiếng Việt từ câu thơ “điệu ngâm” sang câu thơ “điệu nói” “Thơ mới đã đem lại một nhãn quan mới về ngôn ngữ thơ” [151, tr.108] Điều đó được tác giả đánh giá như
là nhiệm vụ lịch sử mà Thơ mới đã đảm nhiệm: “Do đó, nhiệm vụ lịch sử của
Phong trào Thơ mới là làm thay đổi nhãn quan thơ, thay đổi tiêu chuẩn đánh
giá hình thức thơ” [151, tr.109] Tác giả khẳng đị , t
” [151, tr.113]
Năm 1989, trong Thơ mới, những bước thăng trầm, tác giả Lê Đình Kỵ
nhận xét: “Nghệ thuật lãng mạn nói chung tự khẳng định như là một sự phản
ứng lại nghệ thuật cổ điển trước nó Với Thơ mới, mọi ràng buộc có tính quy phạm cũ đều bị cởi bỏ: luật bằng trắc, đối câu đối chữ, gieo vần, số từ trong một dòng thơ ” [87, tr.74] Ý kiến của Lê Đình Kỵ đã khái quát những thay
Trang 23Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
đổi cơ bản trong ngôn từ Thơ mới Đây là những gợi dẫn quý báu cho chúng tôi trong quá trình nghiên cứu
Năm 1992, tác giả Đỗ Lai Thúy trong công trình Con mắt thơ (Phê bình phong cách Thơ mới), đã chọn điểm xuất phát cho hành trình đi tìm những
“con mắt thơ” là “ngôn ngữ tác phẩm” Theo tác giả: “Mã số của thơ chỉ có thể cất dấu trong và bằng ngôn ngữ Có khi nó nằm ở những từ – chìa –
khóa… Đó là những ám ảnh, những vết nứt địa chấn, những dòng dung nham núi lửa cho phép người đọc cảm và hiểu được những gì đã xảy ra trong hồn
người, trong lòng đất Cũng có khi mật số đó nằm ngay ở nhan đề tác phẩm
mã số không nằm ở một nơi nhất định nào mà đan cài vào mọi cấp độ của tác phẩm như ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng, bố cục…” [189, tr.21-22] Trong
“chuyến du hành cùng nhà thơ vào thế giới của cái đẹp”, “con mắt thơ” Đỗ Lai Thúy đã có cái nhìn phát hiện về phong cách ngôn từ của các nhà thơ mới Năm 1993, nhân dịp kỉ niệm sáu mươi năm phong trào Thơ mới, những bài viết tham gia hội thảo đã được Huy Cận, Hà Minh Đức tập hợp trong
chuyên luận: Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thi ca (60 năm Phong trào Thơ mới) Từ những “hồi ức và cảm nghĩ về Thơ mới” đến việc “nhìn lại”
cuộc “cách mạng trong thi ca”, một lần nữa các tác giả khẳng định những
thành tựu của phong trào Thơ mới Đóng góp của Thơ mới như trong Lời nói đầu của các tác giả chủ biên: “ vẫn sinh sôi phát triển trong nền thơ hiện đại
như một nhân tố tích cực” [16, tr.4] Mặc dù các tác giả không trực tiếp đề cập đến vấn đề ngôn từ Thơ mới, nhưng nhiều bài viết trong hội thảo đã dành sự quan tâm đến vấn này
Trong bài viết Về Thơ mới (in trong Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thi ca) [16, tr.7–12], Huy Cận đã khẳng định: “Sự đóng góp của Thơ mới về ngôn ngữ là rất lớn” “Thơ mới tạo ra ngôn từ mới để biểu hiện cảm xúc mới… Thơ mới như “dòng nước nặng” làm ra năng lượng mới cho mỗi từ, mỗi câu
Trang 24Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
[16, tr.11] Theo Huy Cận, một trong những yếu tố cốt tủy thúc đẩy nhu cầu sáng tạo nghệ thuật, sáng tạo ngôn từ thơ là cảm xúc Những sáng tạo ngôn từ Thơ mới như nhận xét của Huy Cận, nhằm biểu hiện những cảm xúc mới của thế hệ ông Chính khát khao được thể hiện, được bộc lộ, giãi bày đã trở thành động lực thôi thúc các nhà thơ mới tìm đến những ngôn từ mới Tuy nhiên, ý
nghĩa cách mạng của Thơ mới không chỉ biểu hiện trong tư tưởng, trong cảm xúc Sáng tạo ngôn từ Thơ mới,quan trọng hơn, như đánh giá của Huy Cận là làm “tiếng Việt trẻ lại”: “Tiếng Việt đến thời Thơ mới đã đổi thịt thay da một lần nữa, cũng bởi vì các nhà Thơ mới đã yêu tiếng mẹ đẻ một cách tha thiết, ra sức bảo vệ tiếng nói của cha ông bằng những sáng tạo máu thịt của hồn mình”
[16, tr12] Sự “nhìn lại” của Huy Cận – “người trong cuộc” giúp chúng tôi nhận thức rõ hơn vai trò của thi nhân Thơ mới trong quá trình cách tân ngôn ngữ thơ ca cũng như ý thức gìn giữ và phát triển tiếng nói dân tộc
Vấn đề ngôn từ Thơ mới đã được Đỗ Đức Hiểu quan tâm đặc biệt Trong
bài: Thơ mới - cuộc nổi loạn của ngôn từ [16, tr.126–134], tác giả
những nhận xét hết sức quí báu đối với chúng tôi khi thực hiện đề tài này Tác
giả viết: “Thơ mới, theo tôi hiểu, trước hết là “sự nổi loạn của ngôn từ”, sự phản ứng lại những luật thơ cổ gò bó, là sự phản kháng các hạn chế âm thanh, nhịp điệu, sự đối kháng với những từ ngữ, cấu trúc, ngắt nhịp có tính tĩnh từ bao đời Thơ mới là một sáng tạo ngôn từ về thơ ở nhiều mặt; nó mở rộng câu thơ, bài thơ; nó đi vào chiều sâu của thơ bằng cấu trúc mới, cú pháp mới, từ ngữ mới, nhịp điệu mới Ngôn từ Thơ mới là sự kết nhịp nhàng các ngôn từ thơ Đông và Tây, là sự tương hợp âm thanh, màu sắc, hương thơm, con người – vũ trụ, của Đường thi với thơ Pháp trên cơ sở ngôn từ Việt Nam ” [16, tr.127-128] Cuộc “nổi loạn” của ngôn từ Thơ mới, theo ông,
một mặt phản ứng, phản kháng lại những hạn chế từ bao lâu nay trong thơ, mặt khác tiếp nhận những thành tựu của thơ ca phương Đông và phương Tây
Trang 25Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
trên “cơ sở ngôn từ Việt Nam” Đỗ Đức Hiểu đã đưa ra những nhận xét hết sức khách quan về vấn đề ngôn từ Thơ mới Đúng như nhận xét của ông, Thơ
mới nói chung, ngôn từ Thơ mới nói riêng chỉ kháng cự lại những lỗi thời, lạc
hậu, không phù hợp và có ý thức rất rõ trong việc tiếp nhận, kết hợp thành tựu thơ ca của cả phương Đông, phương Tây trên cơ sở ngôn từ dân tộc
Năm 1994, trong công trình nghiên cứu Quá trình hình thành và phát triển của phê bình văn học Việt Nam thời kỳ đầu thế kỷ XX đến 1945 (Luận án
Phó Tiến sĩ Khoa học Ngữ văn), khi đề cập tới hoạt động phê bình văn học trước cách mạng tháng Tám, tác giả Trần Thị Việt Trung đã có những nhận xét xác đáng về phong trào Thơ mới: “ riêng trong lĩnh vực thơ ca, chỉ trong khoảng thời gian ngắn gần mười lăm năm văn học, nó đã hoàn thành công cuộc hiện đại hóa và vươn tới những thành tựu rực rỡ của một nền thơ ca hiện
đại Thơ mới đã từ bỏ về cơ bản hệ thống thi pháp cổ điển với những tính qui phạm chặt chẽ, tính công thức và tính ước lệ để đi tới một thể thơ tự do về mặt câu chữ, bộc lộ một cách tự nhiên, phóng túng về những xúc cảm, những tâm tư, những suy nghĩ rất cá nhân, rất riêng biệt của mình” [203, tr.20] Năm 1995, cuốn Thơ mới bình minh thơ Việt Nam hiện đại của Nguyễn
Quốc Túy được xuất bản Chuyên luận gồm mười lăm chương, đề cập đến nhiều vấn đề của Thơ mới Vấn đề ngôn từ Thơ mới đã được tác giả trình bày kết hợp trong nội dung các chương Không những thế, ông còn dành hẳn
chương mười lăm để bàn “Về cấu trúc ngôn ngữ loại thể Thơ mới” Ông nhận
xét: “Cấu trúc ngôn ngữ Thơ mới đánh dấu một bước phát triển nhảy vọt của
tư duy thơ Việt Nam” [206, tr.181] “Thơ mới vừa là một đỉnh cao trong trường kỳ lịch sử phát triển của thơ tiếng Việt vừa là trang mở đầu hết sức rạng rỡ của thơ Việt Nam hiện đại” [206, tr.187]
Năm1996, công trình Ngôn ngữ thơ Việt Nam của Hữu Đạt là chuyên luận
mang tính chuyên biệt về ngôn ngữ thơ Mặc dù tác giả tiếp cận ngôn ngữ thơ
Trang 26Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
từ góc độ ngôn ngữ học, nhưng đã gợi mở cho chúng tôi khi tiếp cận đề tài
Đặc biệt trong “Vài nhận xét về sự phát triển của ngôn ngữ thơ ca Việt Nam hiện đại”, tác giả đã có những đánh giá xác đáng: “Tiếp tục thơ ca truyền
thống, thơ ca hiện đại Việt Nam mấy chục năm trở lại đây có nhiều bước tiến
đáng kể Trong tất cả những thay đổi lớn lao đó phải kể đến sự thay đổi về ngôn ngữ Thực hiện bước ngoặt đầu tiên chính là đóng góp của phong trào Thơ mới” [39, tr.215] Cách tiếp cận ngôn ngữ thơ của Hữu Đạt đã gợi mở
nhiều vấn đề mà các nghiên cứu về ngôn từ nghệ thuật cần quan tâm, chú ý
Năm 2002, chuyên luận Giọng điệu trong thơ trữ tình của tác giả
Nguyễn Đăng Điệp đã gián tiếp bàn đến vấn đề ngôn từ Thơ mới Tác giả
nhận xét: “ hiện tượng đổi mới cú pháp thời đại Thơ mới là một nỗ lực thoát khỏi lối giao tiếp gián tiếp của thơ ca cổ điển ” Tác giả cho rằng: “ hai khía cạnh thi pháp nổi bật trong lời thơ Thơ mới: cách dùng từ láy và cách sử dụng
ẩn dụ bổ sung ”, “ hệ thống ẩn dụ Thơ mới nghiêng về diễn tả những cảm
giác cay đắng, nghẹn ngào, rạn vỡ, biệt ly lời thơ Thơ mới là sản phẩm của kiểu nhà thơ trữ tình hiện đại” [46, tr.210-218] Tuy nhiên, do mục đích nghiên cứu, công trình này chưa đi vào khảo sát, phân tích các yếu tố ngôn từ một cách chuyên sâu Tác giả giới thuyết: “Để không lạc đề, chúng tôi cố gắng phân tích một cách sơ bộ cách dùng từ và cách sử dụng ẩn dụ nghệ thuật khiến cho những “sợi buồn” Thơ mới trở thành những hữu thể có thể nghe-nhìn-sờ-cảm được” và “Trong chuyên luận này, chúng tôi không có điều kiện khảo sát một cách cụ thể hơn cách dùng từ có tính đặc trưng của thời đại Thơ mới” [46, tr 214-216] Đó cũng chính là những “khoảng trống” cần được tiếp tục, được làm đầy về ngôn từ nghệ thuật Thơ mới, đòi hỏi cần có những công trình nghiên cứu chuyên biệt
Thơ Việt Nam thế kỷ XX (in trong
Trang 27Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Giang Lân đã khái quát “Sự vận động của ngôn ngữ thơ” và khẳng định: “Qua
mỗi giai đoạn phát triển của thơ, ngôn ngữ thơ cũng không ngừng biến đổi”
Tác giả nhận xét: “Ý thức khẳng định cá thể, cá tính, tự do tìm tòi, thể hiện
nội tâm buộc các nhà thơ trong phong trào Thơ mới tìm chữ, tìm câu để diễn
tả đúng những rung động tinh tế của tâm hồn một cách sinh động và chân thành ” [41, tr.508-515]
ấn đề ngôn từ Thơ mới còn được quan tâm tới trong các chuyên luận, các công trình chuyên biệt về tác giả, tác phẩm [57], [62], [80], [87], [147], [148], , cá [5], [32], [33], [55], [77], [123], [141], [143]
Các tác giả của chuyên khảo Tinh hoa Thơ mới thẩm bình và suy ngẫm,
với tư cách là chủ thể “đồng sáng tạo”, thông qua việc phân tích, thẩm bình những “điểm sáng thẩm mỹ” trong các tinh tuyển thi ca của Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyễn Bính, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Đoàn Phú Tứ,
Anh Thơ… đã có những khám phá về ngôn từ Thơ mới Khi phân tích Tràng
từ”, “ những từ láy, những từ, cụm từ chỉ sự trùng điệp, nối tiếp ở cuối các câu thơ tất cả những yếu tố ngôn từ ấy như những bè khác nhau, kết lại
với nhau, phụ họa lẫn nhau, tạo thành một âm hưởng trôi xuôi vô tận viên miễn cứ ngầm chảy trong lòng bài thơ này ” [62, tr.82] Lê Quang Hưng khi
quan tâm đến “hệ thống từ ngữ, nhất là các từ láy” trong bài thơ Chiều xuân
của Anh Thơ đã nhận thấy: “Những chữ ấy tạo nên không khí lắng dịu của buổi chiều xuân” [62, tr.182]
Góp phần vào bước tiến trong hành trình nghiên cứu ngôn từ nghệ thuật Thơ mới còn có các luận án tiến sĩ nghiên cứu về Thơ mới trong những năm
Trang 28Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
, ngôn từ
ố[78, tr.151-174] Luận án -
Sỹ Nguyên đã khái quát, phân tích và chỉ ra “bước đi liên tục” của ngôn ngữ Thơ
mới: Thứ nhất, từ ngôn ngữ thơ trung đại sang ngôn ngữ thơ hiện đại; Thứ hai, bước đi nhằm tăng cường giá trị biểu cảm và sự tế vi của ngôn ngữ thơ; Thứ ba, bước đi - về với ngôn ngữ thơ cổ điển;Thứ tư, bước đi để lạ hoá ngôn ngữ thơ
Tác giả khẳng định: “bước đi của ngôn ngữ thơ đã mang lại cho Thơ mới khả năng thể hiện tiếng nói sâu kín trong tâm hồn con người, thích hợp kiểu con người cá nhân thành thực, con người tâm linh, con người vô thức, tiềm thức Thơ mới đã góp phần đắc lực chuyển Văn học Việt Nam từ thi pháp trung đại sang hiện đại và tạo bước đi mới cho thơ” [124]
Năm 2012, Thơ mới đã đi qua chặng đường gần một thế kỷ Nhân kỉ
niệm tám mươi năm phong trào Thơ mới, nhiều sự kiện văn học đã diễn ra
Ngày 9/4/2012, Viện Văn học tổ chức tọa đàm Tám mươi năm phong trào Thơ mới và dành số chuyên san đặc biệt về Thơ mới (Tạp chí Nghiên cứu Văn học, số
Trang 29Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
6, năm 2012) Tác giả Đỗ Lai Thúy, bằng cái nhìn đa chiều về Thơ mới tiếp tục
có những nhận xét: Nhìn theo chiều ngang Thơ mới là thơ lãng mạn, Thơ mới nằm trong “thời hiện đại” và có “tính hiện đại” nhưng chưa phải là “hiện đại chủ nghĩa” Bởi vậy “tư duy Thơ mới” là “tư duy liên tục”, hệ quả của lối tư duy này
là: “phải có một ngôn ngữ trong sáng, rõ nghĩa, có màu sắc và độ âm vang” [190,
tr.36]; Nhìn theo chiều dọc Thơ mới đã chớm sang tượng trưng rồi siêu thực, “nó dẫn đến sự thay đổi lớn: tức từ hiện đại/ tiền hiện đại chủ nghĩa chuyển sang thơ hiện đại chủ nghĩa Thơ hiện đại chủ nghĩa thuộc loại thơ gợi cảm Nhà thơ
không trút cơn mưa cảm xúc của mình lên đầu độc giả mà tạo ra ma thuật ngôn
từ để làm mưa tình cảm và suy tưởng của độc giả Tác giả kết luận: “Ngôn ngữ, như vậy, là ga đi và ga đến của những chuyến thơ Ngôn ngữ thơ không còn là ngôn ngữ của những so sánh các sự kiện xã hội, bề ngoài, mà trở thành ngôn ngữ
ẩn dụ nhằm khám phá cái bề trong, bề sâu, bề xa của sự vật” [190, tr.37] Hiển nhiên thơ hiện đại chủ nghĩa có hệ hình tư duy riêng, đó là “tư duy đứt đoạn” và
là “một loại văn bản kiến tạo” Vì vậy, “người ta không thấy sự liền mạch cú pháp, logic, ở những câu, những ngữ đoạn, những từ, những hình ảnh” Quan sát của tác giả Đỗ Lai Thúy đã khái quát những bước chuyển trong hệ hình tư duy Thơ mới, chỉ ra mô hình tư duy, cơ chế ràng buộc đối với ngôn từ Thơ mới Đó chính là một trong các yếu tố cơ bản chi phối những sáng tạo và lựa chọn ngôn
từ của các nhà thơ mới
Ngày 20/10/2012, tại trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh,
Hội thảo Phong trào Thơ mới và văn xuôi Tự lực văn đoàn – 80 năm nhìn lại
cũng đã diễn ra trọng thể Sau Hội thảo, tháng1 năm 2013, tập nghiên cứu phê
bình Nhìn lại Thơ mới và văn xuôi Tự lực văn đoàn đã kịp thời ra mắt bạn đọc Những đóng góp đáng trân trọng của Thơ mới tiếp tục được khẳng định Trong nhiều tham luận, vấn đề ngôn từ Thơ mới được gián tiếp bàn đến Tìm hiểu cái “tôi” “Thơ mới”, tác giả Nguyễn Huệ Chi cho rằng: “nói đến phạm
trù “Thơ mới” là nói đến một hệ hình thơ đã hoàn thành, đã được mô thức
Trang 30Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
hóa… Vấn đề là phải xác định cho được các tiêu chí làm nên đường nét của
hệ hình kia như những nguyên tắc vô ngôn quy định tính nhất quán trong sự sáng tạo nghệ thuật ngôn từ muôn vẻ của cả một thời” [162, tr.67]; Trong bài
viết: Hồn dân tộc nhiệm màu từ Thơ mới, tác giả Đoàn Trọng Huy khẳng
định: “Một biểu hiện rất rõ của tinh thần dân tộc trong Thơ mới là tình yêu
tiếng mẹ đẻ… Tiếng Việt trong Thơ mới phong phú, đa dạng hơn về sắc thái biểu cảm, khúc triết, minh bạch hơn về luận đề ý tứ” [162, tr.90]
Có thể thấy, từ sau năm 1986 đến nay, cùng với sự gia tăng của các công trình nghiên cứu, vấn đề ngôn từ nghệ thuật – chất liệu thẩm mỹ tạo thành những tích hợp mới lạ của Thơ mới so với thơ ca Việt trước đó, được bàn đến một cách thấu đáo Những thành công và cả hạn chế của Thơ mới trên phương diện ngôn từ đã được khẳng định
Qua tìm hiểu quá trình và kết quả nghiên cứu về Thơ mới, chúng tôi nhận
thấy, vấn đề ngôn từ nghệ thuật Thơ mới đã được chú ý ngay từ khi Thơ mới
hiện diện trên thi đàn và ngày càng được quan tâm nhiều hơn Các ý kiến bàn
về ngôn từ nghệ thuật Thơ mới hướng tới sự khẳng định ở một số phương diện sau: thứ nhất, ngôn từ nghệ thuật Thơ mới đã có những thay đổi cơ bản, từ ngôn ngữ “điệu ngâm” sang ngôn ngữ “điệu nói”; thứ hai, cấu trúc ngôn từ Thơ mới tự do, phóng khoáng; thứ ba, những thành tựu trên phương diện ngôn từ
nghệ thuật của Thơ mới đã góp phần hiện đại hóa ngôn ngữ tiếng Việt
Trân trọng và kế thừa thành tựu của người đi trước, tiếp thu những định hướng khoa học đã được đặt ra, chúng tôi tiếp tục triển khai nghiên cứu toàn
diện và hệ thống về ngôn từ nghệ thuật Thơ mới Hy vọng kết quả nghiên cứu
của đề tài sẽ góp phần soi sáng hơn một phương diện quan trọng làm nên dấu
ấn của phong trào Thơ mới trong lịch sử thi ca Việt Nam
Trang 31Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Chương 2 THƠ MỚI – MỘT HÌNH THỨC
GIAO TIẾP NGHỆ THUẬT MỚI
2.1 Ngôn từ nghệ thuật – một hình thức giao tiếp đặc biệt
2.1.1
2.1.1.1 Khái niệm ngôn từ
“Ngôn từ là sự biểu hiện cụ thể của ngôn ngữ trong sự giao tiếp sống động của con người qua các lời nói của một cá nhân mang đậm sắc thái cá
nhân để tác động đến một người khác” [202, tr.51]
Tuy nhiên, trong đời sống hàng ngày cũng như trong văn phong khoa
học, văn phong nghệ thuật… hiện tượng ngôn ngữ/ ngôn từ chưa được phân
tách một cách rạch ròi, ở nhiều trường hợp còn thay thế cho nhau Ví dụ,
trong Từ điển tiếng Việt, ngôn ngữ được hiểu là: “1) Hệ thống những âm,
những từ và những quy tắc kết hợp chúng mà những người trong cùng một cộng đồng dùng làm phương tiện để giao tiếp với nhau 2) Hệ thống kí hiệu dùng làm phương tiện để diễn đạt, thông báo 3) Cách thức, nghệ thuật hay trình độ sử dụng ngôn ngữ có tính chất riêng” [134, tr.666]
Cũng trong Từ điển tiếng Việt, ngôn từ được đồng nhất với ngôn ngữ:
“Ngôn từ: ngôn ngữ được nói hay viết thành văn” [134, tr 666]
Điều này cho thấy tính phức tạp của hiện tượng mà nhiều người gọi là
tính nhị nguyên của ngôn ngữ và lời nói
Trong các nhà ngôn ngữ học lớn của thế kỷ XX, F de Saussure là người
đã mở ra một cái nhìn mới về ngôn ngữ Những tư tưởng của F de Saussure
đã được Charles Bally và Albert Sechehaye - hai người học trò, đồng thời là
Trang 32Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
hai nhà ngôn ngữ học trình bày lại trong cuốn Giáo trình ngôn ngữ học đại cương [215]
Theo F de Saussure, hoạt động ngôn ngữ bao hàm nhiều mặt, nhiều nhân tố không thể tách rời nhau: âm và nghĩa; nhân tố vật lý, sinh lý, tâm lý; nhân tố cá nhân và xã hội, truyền thống, thói quen… Trong sự phức tạp và
kỳ diệu ấy của đối tượng, F de Saussure đã phân biệt một cách rạch ròi hai
hiện tượng ngôn ngữ (langue) và lời nói/ ngôn từ (parole) Theo F de Saussure: Ngôn ngữ là một hệ thống ký hiệu, mỗi ký hiệu có hai mặt như hai
mặt của một tờ giấy, không thể tách rờ
“Nó vừa là một sản phẩm xã hội, vừa là một hợp thể gồm những quy ước tất yếu được tập thể xã hội chấp nhận, để cho phép các cá nhân vận dụng năng lực này” [215, tr.30] Tính chất xã hội, tính chất võ đoán là đặc điểm nổi bật của ngôn ngữ Còn
lời nói/ ngôn từ là: “một hành động cá nhân” Người nói dùng ngôn ngữ theo
quy phạm để biểu đạt ý nghĩa riêng của mình Trong đó, cơ chế tâm lý – vật
lý cho phép người nói thể hiện những cách kết hợp ngôn ngữ thành lời nói/ ngôn từ cụ thể
Theo đó, có thể hiểu, khi ta nói ngôn từ tức là nói về lời nói cá nhân, gắn với chủ thể phát ngôn trong những hoàn cảnh giao tiếp cụ thể và được tổ chức một cách sinh động
Từ mục đích nghiên cứu và đối tượng của luận án, chúng tôi thấy cần
thiết có sự phân định giữa khái niệm ngôn ngữ ngôn từ:
1) Khi nói ngôn ngữ (langue) là nói đến kho từ chung với những đặc trưng tiêu biểu mặc nhiên được toàn xã hội thừa nhận; Ngôn ngữ là tổng thể tất cả các
đơn vị, phương tiện, các kết hợp mà lời nói sử dụng như ngữ âm, từ vựng
Trang 33Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Khi nói ngôn từ là nói đến cách sử dụng ngôn ngữ
gắn với phong cách cá nhân
2.1.1.2
Ngôn từ nghệ thuật: “Khái niệm chỉ loại hình ngôn ngữ dùng để biểu đạt
nội dung hình tượng của các tác phẩm nghệ thuật ngôn từ (sáng tác lời truyền miệng và văn học viết) Về mặt chất liệu, các phương tiện ngôn ngữ được sử dụng ở nghệ thuật ngôn từ có thể không khác gì các phương tiện từ vựng, ngữ pháp của ngôn ngữ toàn dân cũng như không khác gì các yếu tố phương ngữ, ngôn ngữ thông tục và biệt ngữ…” [74, tr.1090-1091]
Trong thi học truyền thống, khái niệm ngôn từ văn học được đồng nhất với khái niệm ngôn từ thi ca (ngôn từ thi ca được hiểu theo nghĩa rộng) Từ
thời cổ đại, Aristote trong công trình Nghệ thuật thơ ca đã tổng kết kinh
nghiệm nghệ thuật Hy Lạp và dành nhiều chương viết (chương XIX, XX, XXI) bàn về “loại nghệ thuật mà chỉ dùng ngôn từ”, về “cách diễn đạt bằng ngôn từ” [1, tr.82] Có thể hình dung khái niệm thơ ca được Aristote nói tới với nội hàm rộng chỉ ngôn từ văn học với các quy tắc: Ngữ thức, âm cơ bản,
vần, liên từ, danh từ, động từ, quán từ, từ cũ và câu… Vì vậy, Nghệ thuật thơ
ca của Aristote đã được xem là cẩm nang về các quy tắc sáng tác, các lời
khuyên hữu ích cho những người sáng tác văn học
Theo G.N.Pospelov, ngôn từ nghệ thuật, ngôn từ văn học của dân tộc nào cũng nảy sinh trên cơ sở ngôn ngữ các dân tộc có các thổ ngữ địa phương vốn biểu hiện trong thực tiễn của lời nói miệng Dần dần với trình độ phát triển tương đối cao của văn hóa dân tộc, ọc hình thành dưới
Trang 34Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
dạng viết và diễn thuyết; theo đó, nó “đã làm giàu kho từ vựng và ngữ âm của ngôn ngữ dân tộc” [142, tr.358]
Theo nhà nghiên cứu Trần Đình Sử: “Ngôn từ văn học… không chỉ khác với lời nói tự nhiên hằng ngày, khác với các hình thức giao tiếp phi nghệ thuật khác mà cũng khác với hình thức của các nghệ thuật ngôn từ khác” [48, tr.208]
Từ các ý kiến trên, có thể thấy mối quan hệ biện chứng giữa ngôn ngữ
toàn dân và ngôn từ nghệ thuật Theo đó có thể hiểu, ngôn từ nghệ thuật là
một kiểu lời nói (hoặc viết) do nhà văn sáng tạo trên cơ sở ngôn ngữ chung Ngôn từ nghệ thuật là ngôn từ của tác phẩm văn học, của thế giới nghệ thuật,
là kết quả sáng tạo của người nghệ sĩ sinh thể tồn
tại trong thế giới nghệ thuật,
Ngôn từ thực dụng còn gọi là ngôn từ tự nhiên, ngôn từ (ngôn ngữ) phi
nghệ thuật (để phân biệt với ngôn từ nghệ thuật hay còn gọi là ngôn từ văn học) được dùng trong sinh hoạt hàng ngày, là phương tiện giao tiếp trong xã hội Nó tuân theo chuẩn mực chung của ngôn ngữ và phụ thuộc vào ngữ cảnh
cụ thể cùng các nghi thức của đời sống Đặc trưng của nó gắn liền tính cá thể, tính cụ thể, tính biểu cảm Tuy nhiên những tính chất này chỉ xuất hiện nhất thời không mang tính quy luật như trong ngôn từ nghệ thuật và mức độ biểu hiện của các tính chất này tùy thuộc vào hoàn cảnh giao tiếp
Ngôn từ khoa học được dùng trong lĩnh vực khoa học như sách, báo
khoa học, các công trình nghiên cứu khoa học chuyên sâu (như những phát minh, luận án) hoặc phong cách khoa học giáo khoa (như sác
Trang 35Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
R Jakobson - nhà ngôn ngữ học và lý luận thơ xuất sắc của thế kỷ XX cho rằng: “Ngôn ngữ phải được nghiên cứu trong tất cả các chức năng khác nhau của nó”[145, tr.51] Theo R.Jakobson, để mô tả chức năng này, cần quan
Trang 36Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
tâm đến những thành phần cơ bản tạo nên một sự kiện ngôn ngữ, một hành động giao tiếp Trong đó, các yếu tố cần thiết cho sự giao tiếp này bao gồ
ấu trúc hạt nhân được hình dung qua sơ đồ sau:
[145, tr.51]
kh
.Jakobson Tuy nhiên,
Trang 37Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Bàn về ngôn từ, M Bakhtin cũng đặt ngôn từ trong hoạt động giao tiếp Nếu R Jakobson chủ yếu quan tâm đến phương tiện biểu đạt thì M Bakhtin lại
đi xa hơn, quan tâm đến bản chất xã hội, thẩm mỹ của ngôn từ đối thoại như thuộc tính nguyên sinh của lời nói Theo chủ quan của Bakhtin, trong
huyền thoại và trong lịch sử loài người, chỉ có chàng Adam đơn độc trong thế giới trinh nguyên với tiếng nói đầu tiên mới né tránh được đến cùng sự đối thoại Lời nói của con người mang tính lịch sử, cụ thể thì không thể né tránh được điều đó; chỉ là có lúc trong chừng mực nào đó tính đối thoại đã bị lãng
quên đi một cách ước lệ Vì vậy cần thiết phải xem xét ngôn từ trong tính đối thoại nội tại của nó và đó cũng chính là yếu tố “có một sức mạnh cấu tạo
phong cách vô cùng to lớn” Bakhtin cho rằng: Ngôn từ ra đời trong đối thoại như một lời đối đáp sống động, nó hình thành trong quá khứ tương tác đối thoại với lời của người khác về đối tượng; Tính đối thoại của ngôn từ không phải chỉ bởi sự thâu tiếp đối tượng, bất kỳ lời nói nào cũng nhằm để được đáp lại và không thể tránh khỏi ảnh hưởng sâu xa của lời đáp dự kiến [9, tr.87-101]
Như vậy lời đối thoại nào cũng bao gồm: lời người phát (lời người nói), lời người nhận (lời người đáp), đối tượng hoặc lời đáp dự kiến Hoạt động giao tiếp bị chi phối bởi chất đối thoại và mang cấu trúc đối thoại đặc trưng
Trong giao tiếp hàng ngày, lời đối thoại gắn với ngữ cảnh của toàn bộ cuộc đối thoại, chất đối thoại thường được tách biệt thành một hoạt động độc lập đặc thù và mang tính trực tiếp Trong thực tế giao tiế
Trong giao tiếp nghệ thuật, chất đối thoại chi phối việc lựa chọn và sắc thái biểu cảm của ngôn từ làm biến đổi ngữ nghĩa và cấu trúc cú pháp củ
Trang 38
-Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
quan của lờ
ỏ tình cảm tha thiết với người mẹ ở chốn quê nhà…
, trong giao tiế ,
ờ , vì vậy,
Trang 39Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
khác, một từ đầy ắp âm vang của những phát ngôn lạ, và, cuối cùng, như một
từ của tôi bởi vì do tôi sử dụng nó trong một tình huống cụ thể, với một ý đồ nói cụ thể nên nó thấm đẫm nội dung biểu cảm của tôi” [10, tr.42]
Như vậ
[48, tr.215] Những “cấu trúc ngôn ngữ”, những “tổ chức ký hiệu” ấy hoàn toàn độc lập với hiện thực và người nói
ổ chứ
Từ góc độ bản chất, nghiên cứu về ngôn từ của M Bakhtin không tách rời khỏi yếu tố vật liệu Tuy nhiên, điều khiến ông quan tâm nhiều hơn chính
là yếu tố xã hội – thẩm mỹ của ngôn từ Theo ông, ngôn từ
, thể hiện nhãn quan của những nhóm xã hội khác nhau với tư cách là những chủ thể giao tiếp thẩm mỹ , vì vậ
Tác phẩm văn học được xem như là sản phẩm và sự kiện của sự tương tác giữa ý thức của người nói và ý thức của người nghe, giữa người sáng tác và người thưởng thức M Bakhtin khẳng định: “Sự giao tiếp đối thoại chính là lĩnh vực đích thực của
cuộc sống của ngôn ngữ” [9, tr.191] Với cách hiểu đó của M Bakhtin, đối thoại ngôn từ, thực chất là đối thoại về ý thức xã hội Ngôn từ văn học là sự
thống nhất không tách rời giữa ngôn từ và ý thức Bởi thế, ngôn từ văn học cần được nghiên cứu trong đời sống thực tiễn đích thực của nó Như cách đánh giá của M Bakhtin: “ngôn ngữ văn học là một hệ thống năng động đầy phức tạp… được tổ chức theo những nguyên lý riêng… có những sợi dây nối
Trang 40Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
buộc từ lịch sử xã hội tới lịch sử ngôn ngữ” [10] Điều đó dẫn tới một thực tế hiển nhiên là khi thời đại thay đổi, thì ngôn từ cũng thay đổi theo Qua ngôn ngữ văn học, không chỉ thấy sự vận động của ngôn ngữ trong lịch sử mà có thể thấy sự thay đổi của đời sống xã hội qua những thời đại khác nhau “Ở mỗi thời đại, trong mỗi nhóm xã hội đến từng phạm vi nhỏ bé trong gia đình, thân hữu nơi con người sinh sống bao giờ cũng có những truyền thống nào đó được thể hiện gìn giữ trong “bộ lễ phục ngôn từ” “Bao giờ cũng có những tư tưởng chủ đạo của các bậc “chúa tể trí tuệ” ở một thời đại nào đó, những khẩu hiệu, những nhiệm vụ cơ bản nào đó được thể hiện bằng ngôn từ”
Có thể nói, đến khi M Foucault đưa ra khái niệm diễn ngôn (discourse), thì vấn đề bản chất xã hội, thẩm mỹ của ngôn từ văn học đã
được “hiện ra rõ thêm một bước” [160] M Foucault đã xem xét ngôn ngữ
từ nhiều góc độ và đặc biệt quan tâm tới hệ thống cơ chế biểu đạt, sự chi phối của mô hình tư duy, những quy tắc ràng buộc nhất định đối với ngôn
từ Trong cách hiểu của M Foucault, diễn ngôn là hình thức biểu hiện
ngôn ngữ của một quần thể người trong một điều kiện xã hội, lịch sử nhất định Trong đó, cơ chế thầm kín chi phối ngôn từ đó là ý thức xã hội, trạng thái tri thức của con người và cơ chế quyền lực xã hội Sự quan tâm của M Foucault tới hệ thống các hạn chế, các giới hạn đối với hành vi ngôn ngữ là một bước tiến mới trong nhận thức luận Theo M Foucault, hướng nghiên cứu cấu trúc vô tình đã tước bỏ các điều kiện hình thành và