QUAN ĐIỂM CỦA NGUYỄN PHAN CẢNH Trong công trình nghiên cứu về Ngôn ngữ thơ, Nguyễn Phan Cảnh đã tập trung làm sáng tỏ các vấn đề như: hai thao tác cơ bản của hoạt động ngôn ngữ, hai p
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 21.1 Quan điểm của Nguyễn Phan Cảnh
1.2 Quan điểm của Hữu đạt
1.3 Quan điểm của Bùi Công Hùng
1.4 Quan điểm của Chim Văn Bé
1.5 Hướng tiếp cận đề tài
CHƯƠNG 2: NGÔN TỪ NGHỆ THUẬT TRONG MỘT SỐ BÀI THƠ CỦA NGUYỄN BÍNH
2.1 Vài nét về tác giả
2.1.1 Cuộc đời
2.1.2 Sự nghiệp văn chương
2.2 Phân tích một số bài thơ của Nguyễn Bính từ góc độ ngôn từ
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Nếu như âm thanh, giai điệu là chất liệu của âm nhạc, đường nét màu sắc là chất liệu của hội họa thì ngôn ngữ chính là viên gạch xây dựng nên những công
trình văn học Macxim Gorki nói: “Ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học”
Nhưng ngôn ngữ trong mỗi thể loại lại có những đặc điểm riêng Thơ là một hình thức nghệ thuật dùng ngôn ngữ làm chất liệu Vì thế, trong thơ, ngôn ngữ giữ một vị trí đặc biệt Đó là thứ rượu được chưng cất cẩn thận, để rồi say lòng người đọc Nó đem lại cho thơ những đặc trưng mà những thể loại khác không có được Về mặt nội dung, có không ít những công trình tìm hiểu, nghiên cứu Nhưng còn về mặt ngôn ngữ, yếu tố góp phần không nhỏ cho thành công của tác phẩm, vẫn chưa được quan tâm đúng mức Một số công trình nghiên cứu vẫn còn nhiều chỗ chưa thỏa
đáng như Ngôn ngữ thơ của Nguyễn Phan Cảnh, Tiếp cận nghệ thuật thơ ca của Bùi Công Hùng hay Ngôn ngữ thơ Việt Nam của Hữu Đạt Vì thế chúng tôi thực
hiện công trình nghiên cứu này, nhằm tìm hiểu những đặc trưng của ngôn ngữ thơ
trữ tình, góp phần khám phá đặc sắc của thơ ca Việt Nam
So với các nhà thơ lãng mạn trước cách mạng, Nguyễn Bính đứng riêng một
cõi Về các nhà thơ khác, Hoài Thanh nhận xét: “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ
tôi Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu Nhưng càng đi sâu càng lạnh Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong tình trường cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mạc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu Nhưng động tiên đã khép, tình yêu không bền, điên cuồng rồi tỉnh, say đắm vẫn bơ vơ Ta ngơ ngẩn buồn rồi trở về hồn ta cùng Huy Cận” Họ thì đi tìm cái khác lạ, mới mẻ Riêng Nguyễn
Bính thì trở về với thiên nhiên, làng quê, với những tình cảm giản dị nhưng đậm đà của con người
Tình yêu trong thơ Nguyễn Bính mang hương vị rất riêng Đó là hương đồng
cỏ nội gần gũi với con người Việt Nam Tình yêu ấy không chỉ khép kín giữa nam
và nữ, mà còn là nỗi niềm nhớ thương mẹ cha, người chị, đứa em, vườn dâu, ao cá, bến đò…Những tình cảm gắn bó những người, những vật ở làng quê từ bao đời, nay thức dậy thì thầm trong tâm thức chúng ta khi thưởng thức thơ Nguyễn Bính Vì thế
Trang 4chúng tôi quyết định chọn thơ của Nguyễn Bính để tìm hiểu đặc trưng của ngôn ngữ thơ Việt Nam
2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
2.1 Về ngôn ngữ thơ
Theo Trần Đình Sử: “Văn học là một phương tiện giao tiếp đặc biệt giữa
người và người và với tư cách đó nó là một ngôn ngữ theo quan điểm của kí hiệu học” Ngôn ngữ văn chương (cũng gọi là ngôn ngữ văn học, ngôn ngữ nghệ thuật
của văn học) là hệ thống cấu tạo để thực hiện chức năng giao tiếp thẩm mĩ của văn học Trước đây người ta hiểu ngôn ngữ văn chương là ngôn ngữ được sử dụng trong văn bản, thể hiện qua các phép tu từ Ngày nay người ta hiểu ngôn ngữ văn chương
là ngôn ngữ của toàn bộ văn bản văn chương Trên cấp độ văn bản các đơn vị ngôn ngữ không kết hợp giản đơn theo tuyến tính, mà trở thành một cấu trúc chỉnh thể có nội dung và ý nghĩa riêng Chỉ trong văn bản văn chương thì đặc trưng của ngôn ngữ văn chương mới được bộc lộ đầy đủ, trọn vẹn Thành phần của ngôn ngữ này không chỉ bao gồm các yếu tố ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp như một ngôn ngữ mà lâu nay ta hiểu, mà còn bao gồm các yếu tố của văn bản như thể thức cấu tạo, thể loại văn học như thơ, truyện, nhân vật, kết cấu, cốt truyện, Motip, không gian, thời gian, điểm nhìn… Chính vì vậy, đã xuất hiện nhiều khuynh hướng tiếp cận văn chương từ nhiều góc độ
Về khuynh hướng tiếp cận ngôn từ nghệ thuật từ góc độ Thi pháp học, có
thể kể đến công trình nghiên cứu của Hoàng Trinh, Nguyễn Thái Hòa, Nguyễn Phan
Cảnh và Hữu Đạt Đi sâu vào việc nghiên cứu ngôn từ thơ trữ tình từ góc độ Thi pháp học, đáng chú ý là Ngôn ngữ thơ của Nguyễn Phan Cảnh và Ngôn ngữ thơ Việt Nam của Hữu Đạt Trong hai công trình này, tác giả đã vận dụng lí thuyết Thi pháp học của R.Jakobson vào việc xem xét thơ trữ tình Việt Nam thông qua thao
tác kết hợp và lựa chọn Qua đó, cũng nêu được đặc trưng cơ bản của ngôn từ thơ trữ tình ở một số phương diện Tuy nhiên, việc tiếp thu diễn giải quan điểm của R.Jakobson đã bộc lộ nhiều bất cập, thậm chí là sai lệch
Ngoài ra, ngôn ngữ thơ còn được xem xét trong các công trình nghiên cứu về
thơ của Hà Minh Đức, Bùi Công Hùng Trong Tiếp cận nghệ thuật thơ ca của Bùi
Công Hùng, ông dành một chương để luận giải các thành phần trong câu thơ Đó là
Trang 5từ ngữ, nhịp điệu, vần, ngữ điệu Tuy nhiên, ông không đưa ra được kiến giải mới
mẻ nào về đặc trưng ngôn từ thơ ca mà còn làm vấn đề thêm rối rấm và bộc lộ nhiều hạn chế
Một công trình đã giải quyết được những hạn chế vừa nêu và mang lại cái
nhìn toàn diện về đặc trưng ngôn ngữ thơ Việt Nam đó là quyển Ngôn ngữ học văn chương Việt nam của Chim Văn Bé Trong quyển sách này, ngôn từ nghệ thuật
được tiếp cận ở hai cấp độ vi mô và vĩ mô Ở cấp độ vĩ mô, ngôn từ nghệ thuật được xem xét ở tính chỉnh thể của nó Ở cấp độ vi mô, ngôn từ nghệ thuật được xem xét ở
cấp độ Thi pháp học trong mối quan hệ với đặc trưng thể loại của thơ trữ tình và
truyện Xét riêng đối với thơ trữ tình, ngôn từ nghệ thuật được tập trung lý giải về phương diện ngữ nghĩa -ngữ dụng thông qua tính tạo hình- biểu cảm, tính biểu trưng, tính hòa phối đa phương diện và mạch lạc trong tổ chức nội tại của câu và mạch lạc của văn bản thơ trữ tình
2.2 Về ngôn từ nghệ thuật trong một số bài thơ của Nguyễn Bính
Trước tiên, khi đánh giá về phương diện nghệ thuật, các tác giả có những nhận định như sau:
Trong công trình nghiên cứu Thơ Nguyễn Bính với nghệ thuật biểu hiện đậm đà sắc thái văn hóa dân gian, Đoàn Đức Phương nhận xét: “Một đời thơ đã
khép lại, nhưng vẫn còn đó những vần thơ ngọt ngào như ca dao của Nguyễn Bính Có thể nói đến với thơ Nguyễn Bính là đến với những hình thức dân gian dân tộc, đến với những giá trị văn hóa truyền thống của quảng đại nhân dân”
[7,tr.325]
Hay trong Thi pháp dân gian trong thơ mới Nguyễn Bính, Nguyễn Quốc
Túy cho rằng: “Không gian nghệ thuật của thơ mới dân gian Nguyễn Bính là một
thứ không gian của cổ tích, của huyền thoại Thời gian nghệ thuật là một thứ trộn lẫn giữa xưa và nay” [7, tr.342]
Mã Giang Lân nhận định: “Bản sắc dân tộc trong thơ Nguyễn Bính rất đậm,
rất rõ từ nội dung đến hình thức Tâm hồn dân tộc, giọng điệu dân tộc là chất men
để thơ ông thấm sâu vào trí nhớ người đọc trong thơ Nguyễn Bính bên những câu thơ duyên dáng thuần thục như ca dao, ta thấy xen vào nhưng câu thơ quá mới, nên thơ ông giống ca dao mà cũng khác ca dao” [7, tr.168-169]
Trang 6Trong Đường về chân quê của Nguyễn Bính, Đỗ Lai Thúy cho rằng: “Nhà
thơ muốn níu kéo cái quê hương đang dần đi đến “cảnh biến thiên” Ông bòn mót lại những giá trị của một nền văn hóa đang vơi cạn, kiếm tìm lại cái hài hòa đã mất” [7, tr.179]
Còn trong Nguyễn Bính- Thi sĩ nhà quê, Đoàn Phương nhận định rằng:
“Thơ Nguyễn Bính đã tách khỏi dòng thơ dân gian, mở rộng thi pháp của nó để biểu hiện những vấn đề của một nhà thơ mới, và bản thân nhà thơ đã tiếp nhận và phát triển thi pháp và tư duy của thơ mới” [7, tr.191]
Việt Hùng nhận định trong Thơ mới và thơ Nguyễn Bính: “Chất liệu đồng
quê được tô điểm thi vị để tạo nên hương sắc lôi cuốn người đọc them trân trọng mến yêu quê hương Giọng điệu thơ Nguyễn Bính đằm thắm trữ tình và là tiếng nói của cõi lòng tin yêu và xót xa trong cuộc đời cũ” [9, tr.232] Và ông còn nhận xét
thêm: “Những hình ảnh ẩn dụ thường xuyên đi về trong thơ Nguyễn Bính Nói đến
tình yêu lứa đôi, tác giả thường nhắc đến hoa bướm, trầu cau, bến đò Nói về thân phận người con gái đi lấy chồng mà không có hạnh phúc tác giả gọi là “lỡ bước sang ngang, phím đờn ngang cung” Ngôn ngữ ẩn dụ không những làm cho câu thơ trở nên sinh động mà còn giúp tác giả nhắc đến đối tượng một cách gián tiếp, kín đáo tế nhị” [9, tr.244]
Xét đến phần nội dung, các tác giả cũng đưa ra nhiều nhận định:
Hà Minh Đức nhận xét trong công trình Nguyễn Bính, Thi sĩ của đồng quê
rằng: “Với những chất liệu khác nhau nhưng về hiệu quả, thi ca Nguyễn Bính đã
nói được những khát vọng sâu xa của những người nông dân lam lũ ước mong về cuộc sống tốt đẹp hơn, hòa đồng với cảnh vật làng quê tươi thắm” [7, tr.129]
Đoàn Thị Đặng Hương cũng có ý kiến tương tự: “Cho đến nay trong thơ Việt
Nam vẫn chưa ai có thể vượt ông khi nói về thân phận người con gái quê như ông Cái hồn quê trong ông là một thứ hồn quê đúng điệu, nó không phải một thứ giả vờ hay bắt chước, hay chỉ là có cái vẻ giống bề ngoài, Đố ai viết được cái tình của cô gái quê e ấp mà táo bạo, rụt rè mà mãnh liệt như ông” [9, tr.29]
Còn Đỗ Đình Thọ trong Nguyễn Bính, Nhà thơ của tình yêu thì nhận định:
“Nguyễn Bính đến với bạn đọc như một cô gái quê kín đáo, mặn mà, duyên dáng Người đọc thấy ở thơ ông những nét dung dị, đằm thắm, thiết tha, đậm sắc hồn dân
Trang 7tộc, gần gũi với ca dao Cái tình trong thơ Nguyễn Bính luôn luôn mặn mà, mộc mạc, sâu sắc và tế nhị hợp với phong cách và điệu tâm hồn của người Á Đông”
[9,tr.154]
Trong Tình yêu trong thơ Nguyễn Bính, Thanh Việt cũng nêu những đánh
giá của mình: “Thơ Nguyễn Bính thiên về tiếng nói tình cảm, những tâm trạng bộc
bạch của chính nhà thơ Tình yêu trong thơ Nguyễn Bính chiếm đa phần trong cái bầu cảm xúc của ông Tình yêu nhất là tình yêu đơn phương bao giờ cũng tìm được chỗ bám víu vu vơ nhất để mơ mộng Mơ mộng một tình yêu không tưởng, một mái
ấm hạnh phúc lứa đôi, mơ mộng một tình yêu trong hoài niệm” [9, tr.164-165]
4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Nguyễn Bính bước vào thi đàn Thơ mới và để lại một dấu ấn khó phai trong lòng người đọc bởi những nét vẽ rất đặc trưng về đời sống nông thôn Việt Nam Một dòng sông bên lở, bên bồi, một con đò nằm đợi khách sang ngang, một vườn chè, một nương dâu, một gian nhà cỏ đầy trăng….đã đi vào hồn người như là
những hình ảnh rất đỗi thân quen nơi thôn dã Nguyễn bính đã chinh phục độc giả
bằng nội dung lẫn nghệ thuật đậm đà màu sắc dân tộc Xác định hướng đề tài là tìm hiểu ngôn từ nghệ thuật trong thơ Nguyễn Bính và trên cơ sở các công trình của những người đi trước, chúng tôi chủ yếu tập trung nghiên cứu những bài viết có đề cập đến ngôn ngữ thơ của tác giả để từ đó hệ thống lại những đặc trưng tiêu biểu
Với hi vọng phần nào có thể phần nào nhìn nhận, đánh giá thơ Nguyễn Bính một cách đúng đắn và toàn diện hơn, chúng tôi xin được phép tập trung khảo sát
ngôn từ nghệ thuật trong một số bài thơ: Mưa xuân, Lỡ bước sang ngang, Tương tư,
Ghen
Trang 85 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trước hết, chúng tôi sử dụng phương pháp hệ thống để hệ thống lại những đặc điểm nổi bật, độc đáo của Nguyễn Bính trong các bài thơ đã chọn trong mục IV
Kế đến, bằng phương pháp so sánh, chúng tôi so sánh thơ Nguyễn Bính với tác phẩm của những nhà thơ cùng thời Qua đó chúng tôi khẳng định nét riêng, giá trị của tập thơ và tài năng của tác giả
Đặt tập thơ vào hoàn cảnh cụ thể, chúng tôi lựa chọn phương pháp lịch sử để từng bước tiếp cận, tìm hiểu bối cảnh thời đại đã sản sinh ra nhà thơ tài hoa cũng như khẳng định những thành công và đóng góp của nhà thơ Nguyễn Bính
Kế đến, chúng tôi sử dụng phương pháp phân tích Khi sử dụng phương pháp này, chúng tôi sẽ phân chia đối tượng nghiên cứu thành những yếu tố cấu thành đơn giản để đi sâu phân tích, phát hiện từng thuộc tính và bản chất của từng yếu tố và từ
đó giúp chúng tôi hiểu đối tượng một cách cụ thể hơn, chi tiết hơn
Từ những điều phân tích được, chúng tôi tổng hợp lại để có cái nhìn toàn diện, khái quát để tìm ra được quy luật vận động của đối tượng nghiên cứu
Ngoài ra cũng không thể thiếu phương pháp thống kê trong hầu hết các công trình nghiên cứu Công trình nghiên cứu của chúng tôi cũng không ngoại lệ
Tất cả các phương pháp vừa kể trên, chúng tôi không sử dụng riêng lẻ mà phải sử dụng một cách kết hợp để mỗi phương pháp phát huy thế mạnh của mình
Trang 9PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG MỘT VẤN ĐỀ ĐẶC TRƯNG CỦA NGÔN TỪ THƠ CA
TIẾNG VIỆT
Trong lịch sử phát triển của các thể loại văn chương thuộc nhiều nền văn hóa Đông, Tây, thơ có lịch sử lâu đời nhất Song song với lịch sử hình thành và phát triển của thơ ca Việt Nam, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về thơ và ngôn ngữ thơ từ nhiều khía cạnh khác nhau Trong đó có nhiều khuynh hướng tiếp cận khác nhau về những vấn đề đặc trưng của ngôn ngữ thơ Việt Nam nhằm làm rõ sự khác biệt giữa thơ và các loại hình ngôn ngữ nghệ thuật khác Cũng đã có nhiều công
trình đi sâu vào nghiên cứu ngôn từ thơ trữ tình Đáng chú ý nhất là Ngôn ngữ thơ của Nguyễn Phan Cảnh, Ngôn ngữ thơ Việt Nam của Hữu Đạt, Tiếp cận nghệ thuật thơ ca của Bùi Công Hùng và tiêu biểu hơn cả là công trình nghiên cứu Ngôn ngữ văn chương của Chim Văn Bé
1.1 QUAN ĐIỂM CỦA NGUYỄN PHAN CẢNH
Trong công trình nghiên cứu về Ngôn ngữ thơ, Nguyễn Phan Cảnh đã tập
trung làm sáng tỏ các vấn đề như: hai thao tác cơ bản của hoạt động ngôn ngữ, hai
phương thức của nghệ thuật ngôn ngữ, cách tổ chức kép các lượng ngữ nghĩa hay bản chất các phương thức chuyển nghĩa có tính chất ẩn dụ, lắp ghép hai bản chất các phương thức chuyển nghĩa có tính chất hoán dụ, mối quan hệ của ngôn ngữ thơ
và ngôn ngữ văn xuôi… Sau đây, chúng tôi xin trình bày những vấn đề ngôn ngữ
đáng chú ý mà Nguyễn Phan Cảnh đã trình bày trong công trình nghiên cứu của mình
1.1.1 Về thao tác cơ bản của hoạt động ngôn ngữ
Tác giả cho rằng: “Thao tác lựa chọn là một thao tác dựa trên một khả năng
của ngôn ngữ là các đơn vị có thể luân phiên cho nhau nhờ vào tính tương đồng
Trang 10Ông dẫn ra ví dụ để minh họa cho nhận định vừa nêu đó là so sánh mối quan
hệ giữa từ “ăn” với từ “chén”, “xơi” như sau:
Nguyễn Phan Cảnh cho rằng, từ “ăn” sẽ mang nghĩa chung mà cả nhóm cùng có (đưa thức ăn vào mồm), cộng với những sắc thái nghĩa a (không thân mật), sắc thái nghĩa b (không trang trọng) và sắc thái nghĩa n…xuất hiện do đối lập với
mỗi từ trong nhóm
Về việc nghiên cứu cách tổ chức ngôn ngữ để giao tế thì Nguyễn Phan Cảnh cho rằng, các yếu tố ngôn ngữ bất kì ở cấp độ nào cũng đều được thực hiện dưới dạng lớn hơn một Ở cấp độ âm vị thì các âm vị tồn tại trong các chất biến thể Còn
ở cấp độ hình vị, các hình vị cũng tồn tại trong các tha hình Vì vậy, theo Nguyễn Phan Cảnh, trong ngôn ngữ có hiện tượng biến dạng, các biến thể âm vị hay các tha hình đều được phân công cụ thể, không dẫm chân nhau, nghĩa là được phân bố vào những bối cảnh nhất định
Theo tác giả, hiện tượng lựa chọn diễn ra giữa vốn ngôn ngữ và cá nhân tác giả Công việc này giúp cho tác giả nói được ý mình Nếu xét từ phía người đọc, thì hiện tượng lựa chọn diễn ra giữa vốn ngôn ngữ và cá nhân người đọc Công việc này giúp người đọc hiểu được ý tác giả
Nguyễn Phan Cảnh kết luận rằng trong hoạt động ngôn ngữ thao tác lựa chọn liên quan đến vốn ngôn ngữ, tức đến những đơn vị ngôn ngữ tồn tại trong óc các cá nhân, và vận dụng năng lực liên tưởng để cung cấp sự lựa chọn cho những đơn vị ngôn ngữ cần thiết
xơi
b
Trang 11Đề cập đến thao tác kết hợp, Nguyễn Phan Cảnh định nghĩa: “Thao tác kết
hợp dựa trên một khả năng khác của hoạt động ngôn ngữ, là các yếu tố ngôn ngữ
có thể đặt bên cạnh nhau nhờ vào mối quan hệ tương cận giữa chúng” [4, tr.19]
Các đơn vị ngôn ngữ đều là ngữ cảnh của những đơn vị ngôn ngữ đơn giản hơn và đều tìm thấy ngữ cảnh của mình trong một đơn vị ngôn ngữ học phức tạp hơn Thực
tế này cho phép giả định rằng có thể kết hợp vế này với vế khác trong khi nói, cũng giống như trong quan hệ tương đồng ở đó các sắc thái của từ không được thể hiện ra trong câu nói hiện thực mà nó được thể hiện chính bằng thao tác kết hợp, trong khi đặt yếu tố ngôn ngữ này bên cạnh yếu tố ngôn ngữ khác, đã dùng mối quan hệ tương cận đó để nói lên
1.1.2 Về hai phương thức của ngôn ngữ nghệ thuật
Nguyễn Phan Cảnh cho rằng hai phương thức cơ bản của ngôn ngữ nghệ
thuật là phương thức tạo hình và phương thức biểu hiện
Theo ông, nét nổi bật của phương thức tạo hình trong nghệ thuật là “trực tiếp
miêu tả các hiện tượng của hiện thực vẽ nên bức tranh về cuộc sống, mở ra trước mắt người xem những tác phẩm giống với các đối tượng trong thực tế” [4, tr.28]
Chính khả năng này đã giúp ngôn ngữ hoàn thành tốt đẹp nhiệm vụ của một chất
liệu của hình thái nghệ thuật tạo hình: “nhờ khả năng nói về đối tượng, ngôn ngữ có
thể phản ánh hiện thực một cách trực tiếp trong tất cả tính cụ thể và tầm rộng lớn của nó.” [4, tr.30]
Nguyễn Phan Cảnh còn nhận định rằng để thỏa mãn yêu cầu tạo hình của văn bản, nghĩa là để làm cho tính định danh của các từ được phát huy đầy đủ nhất, nghĩa trực tiếp của các từ đã nổi lên hàng đầu trong tác phẩm Ở đây, văn bản nghệ thuật được tri giác trên bình diện ngữ nghĩa thứ nhất của nó Và do đó, ngôn ngữ sẽ hoạt động trong phạm vi của nguyên lí gần nhau là nguyên lí lấy sự kết hợp giữa các yếu
tố làm giá trị
Đồng thời, chính nhờ đặc tính của phương thức tạo hình này đã nảy sinh một
khả năng vô cùng quyết định đối với nghệ thuật ngôn ngữ là lắp ghép tức là “xây
dựng những kết hợp như thế nào đấy mà trong khi vẫn tập trung sự chú ý của người nghe vào bình diện ngữ nghĩa thứ nhất, đã đồng thời lại tạo nên một ý nghĩa mới có nội dung lớn hơn tổng số nội dung ý nghĩa của các thành tố của kết hợp” [4, tr.32]
Trang 12Và chính ngay lúc chức năng định danh bị xóa nhòa đi thì chức năng biểu hiện được nảy sinh
Tác giả định nghĩa phương thức biểu hiện là “biểu hiện những cảm nghĩ nhất
định của con người, thể hiện cách nhận thức và đánh giá của con người đối với cuộc sống” [4, tr.33]
Theo tác giả, khi một ý nghĩ trực tiếp của các từ bị đẩy lùi để làm cho chức năng định danh của nó bị hạn chế đến mức cao nhất, tự khắc bình diện ngữ nghĩa thứ hai của văn bản sẽ chiếm ưu thế trong sự tri giác, nhằm phát huy đầy đủ năng lực biểu hiện của các yếu tố ngôn ngữ Ngôn ngữ trong những văn bản trữ tình hoạt động theo nguyên lí của sự giống nhau, thay thế bằng tín hiệu khác bộc lộ hơn trong cùng một mã ngôn ngữ
Nguyễn Phan Cảnh cũng đưa ra lưu ý rằng: “Trong thực tiễn sinh động, cũng
như hai thao tác lựa chọn và kết hợp là xoắn xuýt với nhau, dạng tạo hình và biểu hiện cũng luôn xen lẫn nhau” Trong một tác phẩm biểu hiện có thể có những yếu
tố tạo hình và ngược lại Thậm chí trong một đoạn tạo hình cũng có thể có những chi tiết biểu hiện [4, tr 38-39]
1.1.3 Về cách “tổ chức kép” các lượng ngữ nghĩa hay bản chất các
phương thức chuyển nghĩa có tính chất ẩn dụ
Nguyễn Phan Cảnh định nghĩa: “Tổ chức kép các lượng ngữ nghĩa là kỹ
năng dựa vào sức liên tưởng của người nhận, đem liên kết các tín hiệu ngôn ngữ hoặc cùng xuất hiện trên thông báo và tồn tại trong mã ngôn ngữ, để kiến lập những chỉnh thể không phân lập về mặt mỹ học, tạo nên ý ngầm về chiều dày các câu, chữ” [4, tr.81]
Ông quan niệm rằng “Tổ chức các lượng ngữ nghĩa” là lấy nghĩa đen làm
giá trị, tức nhân tố thứ hai không được sử dụng, nghĩa trực tiếp của từ là tất nhiên và
không gây bất cứ sự chú ý nào đối với người tiếp nhận Còn về phần “Tổ chức kép
các lượng ngữ nghĩa” thì lấy nghĩa ngầm làm giá trị, trước mắt người đọc chỉ là
những câu chữ đơn sơ, tức nhân tố thứ nhất và khi đó nhân tố thứ hai mới là yếu tố chính Lúc này, nhân tố thứ nhất được nhận thức là một vế đối lập của ý ngầm được tri giác
Trang 13Tác giả cũng khẳng định, muốn cho một tín hiệu gọi một tín hiệu khác, thì phải tổ chức ngôn ngữ thành một đơn vị không phân lập, sao cho đủ liên tưởng đến tín hiệu muốn kêu gọi Theo Nguyễn Phan Cảnh, cách tổ chức lượng ngữ nghĩa kép tối ưu là phương thức ẩn dụ, kế đến là so sánh và điển tích
Ẩn dụ là kiểu mã hóa cơ bản “nơi mối liên tưởng do chỗ không bị quy định
bởi tín hiệu trên thông báo cũng như bởi nội dung của tín hiệu được kêu gọi, nên đã trở thành vô cùng linh hoạt, đa dạng cho phép nhà thơ đi hết chiều sâu của năng lực hình tượng của mình […] làm nên nội dung chủ yếu của một thời đại thi ca”
[4,tr.86]
So sánh là “cách tổ chức dễ thấy nhất, cho phép tín hiệu kêu gọi và tín hiệu
được kêu gọi cùng xuất hiện trên thông báo, và thông qua một tín hiệu chỉ dẫn người đọc được báo về mối liên tưởng đó” [4, tr.91-92]
Điển tích thì “chỉ tín hiệu kêu gọi là xuất hiện trên thông báo, còn tín hiệu
được kêu gọi thì không những tiềm tàng trong mã mà còn chỉ có thể được liên tưởng với điều kiện là phải có sự tích lũy văn học nhất định về phía người đọc”
[4,tr.98]
Nguyễn Phan Cảnh cho rằng các phương thức chuyển nghĩa có tính chất ẩn
dụ về bản chất vẫn là việc khai thác khả năng thi ca trên trục lựa chọn của ngôn ngữ Cái được sử dụng là các đơn vị, vì thế người ta trau chuốt từ, cảm xúc mỹ học được xây dựng bằng hiệu quả của bất ngờ từ pháp, nghĩa là của tổ chức kép các lượng ngữ nghĩa, của các cấu trúc ẩn dụ tính
1.1.4 Về lắp ghép hay bản chất các phương thức chuyển nghĩa có tính chất hoán dụ
Nguyễn Phan Cảnh định nghĩa: “Lắp ghép là kỹ năng dựa vào tình tiết và
thứ tự về sức chú ý và theo dõi của người nhận, đem nối các cảnh mô tả theo một quy luật nhất định, để nhầm tạo nên ý ngầm giữa các khoảng cách của những cảnh đó” [4, tr.103]
Theo tác giả, một văn bản thơ bao gồm nhiều cảnh miêu tả riêng lẻ với tư cách là những yếu tố tạo thành của một tác phẩm Khi nhân tố thứ hai không được
sử dụng, thì nhân tố thứ nhất cũng gần như không được tri giác, người đọc sẽ không
có cảm giác gì về khoảng cách giữa các cảnh, nghĩa trực tiếp của từ là tất nhiên và
Trang 14không làm người đọc có suy nghĩ gì khác - đây là cách phân bố từ bình diện nghĩa này đến bình diện ngữ nghĩa khác, tức là phân bố tuyến tính, lấy trật tự làm giá trị
Ngược lại, khi một cảnh xuất hiện mà chúng ta không thể đoán trước được thì sẽ xuất hiện một ý ngầm giữa khoảng cách của hai cảnh miêu tả Từ đó, Nguyễn
Phan Cảnh suy ra mối quan hệ ẩn ngầm trong ngôn ngữ thơ là: “Khi mối quan hệ ẩn
ngầm được phát hiện đầy đủ, sẽ xuất hiện một bố cục thứ hai, trên cơ sở của bố cục thứ hai đó, quá trình tri giác của văn bản nghệ thuật mới thật sự kết thúc”
[4,tr.109]
Nguyễn Phan Cảnh cho rằng các phương thức chuyển nghĩa có tính chất hoán dụ về bản chất vẫn là việc khai thác khả năng thi ca trên trục kết hợp của ngôn ngữ Cái được sử dụng là các quan hệ, vì thế người ta trau chuốt câu, cảm xúc mỹ học được xây dựng bằng hiệu quả bất ngờ cú pháp - nghĩa là của lắp ghép, của cấu trúc hoán dụ tính
1.1.5 Về nhạc thơ
Nguyễn Phan Cảnh cho rằng: “Chính yêu cầu truyền đạt thông tin đã được
xử lý về thời gian và không gian làm xuất hiện nhạc thơ” [4, tr.117]
Ông khẳng định chức năng của nhạc thơ là: “phát các tín hiệu báo động
trước kết thúc đơn vị không phân lập để hướng đơn vị không phân lập theo sau vào thế sẵn sàng Với chức năng này, nhạc thơ tồn tại như một cơ chế hãm/ chặn chống lại các hợp thành thi pháp không chương trình hóa, qua đó loại trừ mọi sai lệch khả năng, đảm bảo độ trung thành cao cho hệ lưu giữ - truyền đạt” [4, tr.117] Nhạc
thơ đóng vai trò đặc biệt trong thi pháp: “thiên chức tự điều chỉnh thiêng liêng đã
làm nhạc hòa hồn thơ” [4, tr.117]
Nguyễn Phan Cảnh nêu ra ba hệ thống nhịp điệu như sau:
“Một mặt, các thuộc tính âm thanh vừa có đối lập, nghĩa là một trong hai vế của chúng (cao - thấp, mạnh - nhẹ, dài - ngắn) là được thực hiện trong một thông báo
Mặt khác, các thuộc tính âm thanh lại còn có tương phản, nghĩa là hai vế của chúng chỉ nhận diện hoàn toàn khi cả hai cùng hiện diện trên chiết đoạn Một
hệ luận quan trọng đã xuất hiện từ đây: nhờ quan hệ tương cận, tính chất của các thuộc tính âm thanh đã được nêu bật
Trang 15Và chính các vế có tính chất cực này, một khi được luân phiên chính xác, sẽ tạo nên những khoảng cách tương tự về thời gian
Từ đó đã nảy sinh ba hệ thi pháp cơ bản của ngôn ngữ: nếu đối lập quan hệ dài - ngắn trong nguyên âm có tính chất âm vị học, thì thi pháp của ngôn ngữ đó là
hệ câu thơ theo lượng như thơ La tinh…, nếu đối lập mạnh nhẹ ở âm tiết có tính chất âm vị học, thì thi pháp của ngôn ngữ đó là hệ câu thơ theo trọng âm thơ Nga…, còn nếu đối lập bằng - trắc ở âm tiết có tính chất âm vị học thì thi pháp của ngôn ngữ này là hệ câu thơ theo thanh điệu như thơ Việt…
Hệ bằng- trắc, lấy đối lập thanh điệu làm chất liệu, chính là hệ thi pháp của các ngôn ngữ thanh điệu chính danh, nơi sự luân phiên của các bước thơ theo trình
tự BẰNG - TRẮC - BẰNG - TRẮC…sẽ tạo nên tiết tấu thơ” [4, tr.120-121]
Nguyễn Phan Cảnh cho rằng “tiết tấu là các thuộc tính âm thanh được lưu
giữ- truyền đạt trong khi tổ chức các quá trình thi ca Vần là các đơn vị âm thanh được lưu giữ truyền đạt trong khi tổ chức các quá trình loại thể Chính dưới hiệu quả của tiết tấu và vần này mà đã chỉ cho phép xuất hiện các hợp thành thi pháp chương trình hóa: mang cơ chế tự điều chỉnh trong mình, thơ ca đã đi vào quỹ đạo của những hệ bền vững, từ đó tạo nên một nét riêng tiêu biểu - gọi là đặc trưng nhạc tính Mặt khác tiết tấu được tác giả định nghĩa là sự lặp đi lặp lại một cách liên tục các hiện tượng tương tự có thể thay thế cho nhau trong thời gian và không gian” [4, tr.119-120]
Theo tác giả có hai cách khai thác nhạc tính chủ yếu: “giai đoạn văn học khi
thơ là chủ đạo và giai đoạn văn học khi văn xuôi là chủ đạo Trong giai đoạn văn học khi thơ là chủ đạo thì văn bản ngôn ngữ xây dựng theo hệ lựa chọn, nhạc thơ thì xây dựng theo hệ đối lập: mọi khai thác nhạc tính trong thơ sẽ xoay quanh vần Điều này làm cho thể loại chặt chẽ hơn Nhạc thơ ở đây do nguyên âm và phụ âm đưa lại Các nguyên âm trong tiếng Việt nằm trong thế đối lập bao gồm trầm - bổng
và khép-mở” [4, tr.124] “Trong giai đoạn văn học khi văn xuôi làm chủ đạo: văn bản ngôn ngữ xây dựng theo hệ kết hợp, nhạc thơ xây dựng theo hệ tương phản: mọi khai thác nhạc tính trong thơ sẽ xoay quanh tiết tấu Điều này làm cho số lượng
âm tiết trong câu thơ tự do hơn Nhạc thơ ở đây do thanh điệu tạo thành Các nguyên âm tiếng Việt nằm trong thế đối lập cao - thấp và bằng - trắc” [4, tr.127]
Trang 161.1.6 Nhận xét quan điểm của tác giả
Tên công trình nghiên cứu của Nguyễn Phan Cảnh là Ngôn ngữ thơ và hệ
thống thành mười hai chương nhưng chưa thực sự giúp người đọc nắm bắt được nội dung, đặc điểm mà ông trình bày Hơn nữa tiêu đề của mỗi chương lại là những cách định danh xa lạ và khó hiểu
Ông vận dụng quan điểm của R Jakobson vào việc nghiên cứu thơ trữ tình Việt Nam thông qua hai thao tác lựa chọn và kết hợp Qua đó, Nguyễn Phan Cảnh cũng nêu lên được một số phương diện của ngôn ngữ thơ trữ tình Việt Nam, nhưng vẫn còn nhiều điểm bất cập cần xem xét
Kế đến, tác giả đề cập đến “lắp ghép - một khả năng vô cùng quyết định với
nghệ thuật ngôn ngữ” [4, tr.32], nhưng khái niệm mà tác giả đưa ra không rõ nội
hàm gì cả Mà thực chất cái mà tác giả gọi là lắp ghép chính là một tên gọi khác của song hành cú pháp trong tu từ học
Nguyễn Phan Cảnh đặt tên chương V là: Cách tổ chức kép các lượng ngữ nghĩa hay bản chất các phương thức chuyển nghĩa có tính chất ẩn dụ Ngay phần
tiêu đề, ông đã đồng nhất tổ chức kép các lượng ngữ nghĩa với phương thức ẩn dụ
Mà bản thân khái niệm Tổ chức kép các lượng ngữ nghĩa cũng đã là một khái
niệm quá mơ hồ, không có cơ sở ngôn ngữ học Xét về mặt thao tác ngôn từ nói đến
tổ chức kép là nói đến việc tạo nghĩa bằng thao tác kết hợp ứng với quan hệ ngữ
đoạn Và thực chất tổ chức kép không đơn giản chỉ là kép (hai) mà cón có thể nhiều hơn hay chính xác hơn, đó là hiện tượng đa nghĩa theo tác giả Chim Văn Bé đã dẫn
ra trong công trình nghiên cứu Ngôn ngữ văn chương của ông Còn ẩn dụ là việc
chuyển nghĩa theo thao tác lựa chọn ứng với quan hệ đối vị, dựa trên sự tương đồng
của sự vật Vì vậy, không thể đồng nhất ẩn dụ và tổ chức kép các lượng ngữ nghĩa theo Nguyễn Phan Cảnh đã khẳng định Theo chúng tôi ẩn dụ không phải là “kiểu
mã hóa cơ bản nơi mối liên tưởng do chổ không bị quy định bởi tín hiệu trên thông báo cũng như bởi nội dung của tín hiệu được kêu gọi” [4, tr.86] như Nguyễn Phan
Cảnh đã nhận định, mà bởi lẽ ẩn dụ mang tính chất đơn nghĩa, nó chỉ được hiểu
theo nghĩa mới, nghĩa bóng, xuất hiện trong ngôn cảnh Và ẩn dụ chỉ có giá trị tạo
hình và biểu cảm, chứ không phải là cách tổ chức kép các lượng ngữ nghĩa như
Nguyễn Phan Cảnh đã nhìn nhận
Trang 17Bên cạnh đó, tác giả cho rằng: “ẩn dụ là phương thức mà các tín hiệu ngôn
ngữ cùng xuất hiện trên thông báo" [4, tr.81] Đây hoàn toàn là một kết luận thiếu
chính xác, thiếu tính khoa học, bởi nếu cùng xuất hiện thì sao gọi là “ẩn” được
Ngoài ra, khi nói “so sánh cho phép tín hiệu kêu gọi và tín hiệu được kêu gọi
cùng xuất hiện trên thông báo” [4, tr.91] thì lời giải thích này lại mâu thuẫn với
nhận định của ông khi cho rằng so sánh cũng là một hình thức của tổ chức kép các
lượng ngữ nghĩa Vì đã cùng xuất hiện thì sao gọi là “kép” được So sánh thực ra
được tạo lập trên thao tác kết hợp ứng với quan hệ ngữ đoạn, chứ không phải là được tạo lập trên quan hệ đối vị của trục lựa chọn như tác giả đã nêu
Ở chương VI, Lắp ghép hay bản chất các phương thức chuyển nghĩa có tính chất hoán dụ, tác giả cũng đưa ra những nhận định thiếu cơ sở Xét cho cùng,
lắp ghép chính là việc chuyển nghĩa theo thao tác kết hợp ứng với quan hệ ngữ đoạn Còn hoán dụ là việc tạo nghĩa theo thao tác lựa chọn ứng với quan hệ đối vị, dựa trên sự gần gũi của sự vật Cho nên không thể đồng nhất hoán dụ và lắp ghép
Qua những nội dung được tác giả đề cập trong chương V và chương VI của
Ngôn ngữ thơ thì nếu tác giả có làm sáng tỏ được nội hàm ẩn dụ, hoán dụ hay so
sánh thì đó chẳng qua chỉ là việc khám phá lại những phương thức mà tu từ học đã nghiên cứu và thành công từ rất lâu
Ở chương VII, phần Nhạc thơ trên cơ sở xem xét các thuộc tính của âm
thanh bộc lộ qua quan hệ đối vị và quan hệ ngữ đoạn, Nguyễn Phan Cảnh đã nêu ra
ba hệ thống nhịp điệu [4, tr.121] Cách phân loại hệ thi pháp của Nguyễn Phan Cảnh
rõ ràng là không nhất quán: Các thể đối lập trong ba hệ thi pháp khi thì được xem qua nguyên âm có tính chất âm vị học, khi thì xem xét qua âm tiết có tính chất âm
vị học Bản thân hai khái niệm nguyên âm có tính chất âm vị học và âm tiết có tính chất âm vị học cũng chẳng rõ nội hàm gì cả Đáng lưu ý là, mặc dù có đề cập đến
các thuộc tính cao - thấp mạnh - yếu, dài - ngắn của các nguyên âm và âm tiết,
nhưng Nguyễn Phan Cảnh lại khẳng định rằng, thơ Việt thuộc hệ thơ thanh điệu, tức loại hình thơ có nhịp điệu phát triển trên cơ sở thanh điệu, và bước thơ chỉ là sự luân phiên hai âm tiết đối lập về âm điệu (bằng - trắc) của thanh điệu Nhưng nếu ý kiến của Nguyễn Phan Cảnh là đúng, chẳng lẽ mọi bài thơ đều rập khuôn theo cách
Trang 18ngắt nhịp 2/2, vậy đối với thể loại thơ ngũ ngôn, thất ngôn thì phải chia như thế nào, chẳng lẽ ngắt nhịp 2/2?
Tác giả kết luận rằng loại hình nhịp điệu của thơ tiếng Việt thuộc loại thanh điệu tính [4, tr.120-121], nhưng ông lại phản bác chính mình khi đưa ra những khẳng định tiếp theo trong phần nhạc tính của tiếng Việt trong hai giai đoạn văn
học Đó là đối với giai đoạn văn học thơ là chủ đạo thì ông khẳng định: “Nhạc thơ
ở đây chủ yếu do nguyên âm, phụ âm đưa lại [4, tr.124], còn đối với giai đoạn văn
xuôi là chủ đạo thì: “Nhạc thơ chủ yếu do thanh điệu tạo thành” Nhưng thực chất
nhịp điệu thơ tiếng Việt thuộc loại trọng âm - âm tiết tính
Mặt khác, sự hòa phối về thanh điệu, vần, nhịp điệu và tiết tấu chỉ tạo nên tính nhạc cho ngôn ngữ thơ ca chứ không tạo nên nhạc thơ, tức âm nhạc của thơ như tác giả đã diễn đạt Vì trong âm nhạc, cao độ, trường độ của các nốt nhạc cũng như nhịp, tiết tấu và quãng lặng là xác định Còn tính nhạc của ngôn từ thơ ca là khách quan nhưng nó vẫn mơ hồ, không rõ ràng Điều đó cho thấy Nguyễn Phan Cảnh không có ý thức xác lập mối quan hệ giữa các yếu tố biểu hiện tính nhạc của ngôn ngữ thơ và các thành tố âm nhạc
1.2 QUAN ĐIỂM CỦA BÙI CÔNG HÙNG
Công trình nghiên cứu của Bùi Công Hùng về Tiếp cận nghệ thuật thơ ca là
một trong ba công trình nghiên cứu thơ của ông Trong công trình vừa nêu, Bùi Công Hùng đã nghiên cứu về các phương diện của nghệ thuật thơ ca Trong đó, phương diện ngôn ngữ được ông xem xét qua các cấp độ cấu trúc bài thơ
Với điều kiện trong phạm vi luận văn, chúng tôi xin xem xét về hệ thống
ngôn ngữ, các thành phần của câu thơ trong bài thơ
1.2.1 Về hệ thống ngôn ngữ
Theo Bùi Công Hùng: “ Hệ thống ngôn ngữ được xây dựng theo các quy luật
của mối quan hệ ngôn ngữ trong tác phẩm, giữa cái biểu đạt và cái biểu hiện trong văn học Vì vậy, khi nghiên cứu thơ ca, ta phải phân biệt ngôn ngữ nói chung ngôn
Bùi Công Hùng đi vào ngôn ngữ thơ, xác định ngôn ngữ thơ có nhiều nét tương đồng với âm nhạc, nhưng lại có nhiều nét khác biệt Ông cho rằng ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ âm nhạc đều có sự hòa âm, có các quãng cách giữa các nhịp, có sự
Trang 19phân bố dài ngắn của các âm Ông đã tiếp thu quan điểm của Jimunxki khi cho
rằng: “Trong ngôn ngữ thơ, quãng cách không xác định rõ ràng như trong âm
nhạc, còn quãng cách trong âm nhạc phải được xác định rõ ràng, không được tùy tiện thay đổi Trong ngôn ngữ thơ, sự phân bố độ dài ngắn của các âm trong từ không có sự chình xác cố định Còn sự phân bố độ dài ngắn của âm trong âm nhạc được xác định thời gian cố định trong các nốt nhạc” [8, tr.69]
Bên cạnh việc phân biệt ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ âm nhạc, ông còn phân biệt ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ văn xuôi Ông nêu nhận định của Tômasépki đó là ngôn ngữ trong thơ không dày đặc như trong văn xuôi, mà chia cắt ra thành các phần dài ngắn theo âm luật Các thành phần này được chia ra thành câu thơ và thường thường lại chia thành các dòng thơ nhỏ hơn Hay theo Gôntrarôp, trong tác
phẩm Tổ chức âm thanh của câu thơ và vấn đề vần, thì “cấu trúc âm thanh của
văn xuôi chỉ có một bình diện, nghĩa là ngữ điệu và giọng đọc trùng khít với nhau, đơn vị của viêc đọc và ngữ điệu trong văn xuôi là câu văn xuôi Trong thơ, ngữ điệu
trong cuốn Lược khảo về những nguyên tắc của luật âm học Anh thì thơ khác văn
xuôi ở chỗ: “Trong thơ, sự phát âm có sự xác định rõ ràng lớn hơn, từng âm được
Bùi Công Hùng còn so sánh câu thơ văn xuôi với câu văn xuôi Câu thơ văn
xuôi khác câu văn xuôi ở chỗ: “Câu thơ tự do tuy dài đến mấy cũng phải ngắt thành
nhiều dòng thơ riêng biệt trong khi đọc theo những chỗ ngắt có tính chất ngữ điệu - nhịp điệu, và cuối cùng là các dòng thơ riêng biệt ấy vẫn tuân theo quy luật âm
Ngoài ra, Bùi Công Hùng còn có sự chú ý đặc biết đến tính cô đọng, hàm súc
trong thơ Ông cho rằng: “Sự cô đọng trong sáng tác nghệ thuật về mặt hình thức là
thuộc về phương pháp trình bày súc tích, nhanh, gọn, trên cơ sở nghiên cứu rất kỹ càng, chi tiết, lâu dài” [8, tr.77] Và “sự hàm súc trong tác phẩm là sự trình bày những bản chất của sự kiện, hiện tượng mà vẫn giữ nguyên sức hấp dẫn có tính nghệ thuật của nó” [8, tr.78]
Trang 201.2.2 Các thành phần của câu thơ
Khi dựa vào thơ để nghiên cứu toàn bộ các bộ phận của bài thơ, Bùi Công Hùng đã lấy câu thơ làm đơn vị cơ bản Theo ông, một câu thơ gồm các thành phần
cơ bản: từ ngữ, nhịp điệu, vần, ngữ điệu
Về Từ ngữ trong câu thơ, theo Bùi Công Hùng:
(1) “Từ ngữ trong thơ là những từ ngữ cô đọng, hàm súc có sự lựa chọn kĩ
(2) “Từ ngữ trong thơ chứa đựng tiếng vang cảm giác được của các chữ
(3) “Trong từ ngữ của thơ, có những từ ngữ vị trí là vai trò, là chìa khóa của
bài thơ, là từ đặc biệt mang âm hưởng riêng, sắc thái riêng của bài thơ, là điểm ngời sáng trong bài thơ” [8, tr.172]
(4) “Từ ngữ trong thơ có sức tạo nên sự liên tưởng nhiều tầng”[8, tr.175]
(5) “Từ ngữ sử dụng trong thơ được vận dụng bởi nhiều phép chuyển nghĩa,
nhưng chủ yếu là ẩn dụ [8, tr.178]
Về Nhịp điệu, Bùi Công Hùng cho rằng: “Nhịp điệu là sự nối tiếp của các
tiếng sắp xếp thành từng khung đều đặn của giọng nói và theo thời gian” và “nhịp điệu trong thơ xuất hiện trên cơ sở nhịp điệu của lao động, nhịp điệu của hơi thở con người” [8, tr.178]
Ngoài ra, ông dẫn ra hàng loạt nhận định của các tác giả nước ngoài:
Theo Tômasépki: “Nhịp của bài thơ được xây dựng trên bản chất của chính
vật liệu ngôn ngữ và nó động viên chính các thuộc tính biểu hiện các vật liệu ngôn ngữ, dù cơ cấu bài thơ có riêng biệt và đặc thù bao nhiêu đi nữa, thì cơ cấu ấy cũng thuộc về một ngôn ngữ và không lặp lại ngoài giới hạn của các hình thức dân tộc trong lời nói”.[8, tr.182]
Hay theo Jimunxki thì âm luật nghiên cứu quy luật chung của việc luân phiên các âm mạnh và âm yếu Nhịp điệu trog thơ gồm các phần cụ thể áp dụng theo quy luật của âm luật Nhịp điệu của thơ tạo nên theo quy luật của sự luân phiên
âm mạnh và âm yếu xuất hiện trong sự xuất hiện trong sự tác động của các bản chất
tự nhiên của tài liệu ngôn ngữ và âm luật
Trang 21Theo Calatorova , trong Thơ và nhịp điệu, thì nhịp điệu của câu thơ là dòng
thơ tương ứng vói sự thụ cảm trong đời sống Sự lặp lại các đơn vị chia cắt được là
cơ sở của các dấu hiệu nhịp điệu
Bùi Công Hùng kết luận nhịp điệu của thơ xuất hiện trên cơ sở lặp lại và luân phiên các đơn vị âm luật theo sự cấu tạo đơn vị ngữ điệu của ngôn ngữ
Về phần Vần, Bùi Công Hùng dẫn một số quan niệm của những tác giả nước
ngoài như theo Hêghen thì “vần trong thơ là do nhu cầu thực sự của tâm hồn muốn
Còn theo Gôntrarốp trong Tổ chức âm thanh của câu thơ và vấn đề vần, thì
“vần xét về phương diện ngữ âm có thể coi như sự lặp lại các âm trong một tập hợp
âm nối giữa hai dòng thơ và kéo dài đến cuối bài thơ” [8, tr.188-189]
Bùi Công Hùng nhận định: “Vần có khả năng tạo nên giọng đọc của đoạn
thơ: nó hoàn thành việc thông báo dòng thơ ở đơn vị kết thúc có tính chất thơ Khi trong thơ có sự tác động lẫn nhau giữa các đơn vị ngữ điệu và ngữ điệu giai đoạn, vần có khả năng tạo nền sự liên hệ giữa chúng” và “ vần có ý nghĩa về phương diện ngữ âm như một sự lặp lại âm thanh, và có ý nghĩa vận luật tạo nên giới hạn của một dãy âm trong một câu thơ Và có thể chia thành nhiều dấu hiệu khác nhau, tùy theo sự phân loại nhấn mạnh mặt này hay mặt kia, theo cách người nghiên cứu vần thơ chọn lựa”[8, tr.189]
Tác giả cũng nhấn mạnh rằng: “trong từng đoạn thơ, trong từng bài thơ cụ
thể, vần có thể không có Nhưng xét chung trong toàn bộ thơ ca Việt Nam, từ quá
Về Ngữ điệu, các nhận định của các nhà nghiên cứu được Bùi Công Hùng dẫn ra như Vinôgrađốp, trong cuốn Về lý luận của ngôn ngữ nghệ thuật, ngữ điệu
của câu thơ là phương tiện ngữ pháp để tạo thành câu và xuất hiện với tư cách là một trong những dấu hiệu thường xuyên của câu Ngữ điệu trong ngữ pháp tự nó ở ngoài nội dung của từ, ở ngoài quan hệ của lời đối với hiện thực Timôpheép cho rằng ngữ điệu là không gian và thời gian của một từ sống, nó tồn tại và thể hiện ý
nghĩa có tính hiện thực: cơ sở của ngữ điệu là sự xác định luân phiên của giọng cất
cao lên và hạ thấp xuống, đem lại sắc thái tư tưởng của câu Tômasépki thì cho
rằng ngữ điệu trong thơ là âm thanh biểu hiện ở giọng lên cao và xuống thấp, lời
Trang 22chậm và nhanh, giọng mạnh và yếu Còn theo Khôsennhicốp, thì ngữ điệu bao gồm
các dấu hiệu như giọng lên cao và xuống thấp, chỗ ngắt mạnh nhiều hay mạnh ít
trong lời, sự sắp đặt các trọng tâm câu mạnh hay yếu, từng phần của nhóm từ nhanh hay chậm tương đối
Ngoài ra, theo Lâm Vinh (Tạp chí văn học số 6 - 1981) thì ngữ điệu bao gồm
các dấu hiệu: Lên cao và xuống thấp, chỗ ngắt mạnh nhiều hay mạnh ít trong lời
nói, sự sắp đặt các trọng tâm câu mạnh hay yếu và từng phần của nhóm từ nhanh hay chậm tương đối
Nhạc sĩ Lê Yên đã ghi thành ba nốt nhạc sau đây có thể xem như ba cung bậc tiêu chuẩn của các thanh trong tiếng Việt: âm khu cao là sắc ngã, âm khu trung
là không dấu, âm khu trầm là huyền, hỏi, nặng
Cuối cùng Bùi Công Hùng đúc kết lại: “Ngữ điệu trong thơ một mặt phụ
thuộc vào nhịp điệu, âm thanh, từ ngữ trong chính văn bản của câu thơ, một mặt do người đọc, người đọc có thể nhấn mạnh vào các khía cạnh khác nhau, hoặc giọng đọc cao hơn hay ít hơn một ít” [8, tr.207] Ngoài ra, ông còn cho rằng ngữ điệu
trong thơ được chia thành hai nhóm cơ bản: thơ để hát, để ngâm và thơ để nói, để đọc
1.2.3 Nhận xét quan điểm của tác giả
Tuy tựa đề công trình nghiên cứu của Bùi Công Hùng là Tiếp cận nghệ thuật thơ ca, nhưng tác giả lại không đem đến cho người đọc điều gì là tiếp cận cả
ngoài những khái niệm mơ hồ, những nhận định mâu thuẫn và không hiểu ý định cuối cùng của tác giả là gì
Ông trích dẫn quá nhiều nhận định của những tác giả nước ngoài, nhưng riêng phần mình thì ông không mang lại điều gì mới mẻ và cũng không tự mình nêu lên được khái niệm cho công trình mình nghiên cứu
Hơn nữa, chúng ta có thể nhận thấy đây là công trình thiếu tính hệ thống Bởi khi chúng ta xem xét từ cấp độ từ ngữ thì phải đến cấp độ cú pháp, nhưng tác giả lại chuyển sang các thành phần câu
Trong phần lấy ví dụ chứng minh: Trong thơ của ta, đơn vị nhịp điệu có thể
là từ một từ trở lên (thường là một âm tiết) và thường là từ hai trở lên, Bùi Công Hùng dẫn chứng các câu thơ và ngắt nhịp rất tùy tiện là:
Trang 23Trẻ/ nào/ (Hồ Chủ tịch)
Người/ bên ấy/ (Lê Đức Thọ)
Văn nghệ/ là thuyền/ (Tố Hữu)
Trăm năm/ trong cõi/ người ta/ (Nguyễn Du) Nhưng ngắt nhịp đúng phải là:
Trang 241.3 QUAN ĐIỂM CỦA HỮU ĐẠT
Công trình Ngôn ngữ thơ Việt Nam của Hữu Đạt đề cập đến các nội dung
như: Đặc điểm về loại hình ngôn ngữ và phong cách thơ ca Việt Nam, hai phương
thức cơ bản của ngôn ngữ thơ, tổ chức ngôn ngữ và cấu trúc hình tượng thơ, một số tính chất và đặc điểm quan trọng của ngôn ngữ thơ, chơi chữ, vài nhận xét về sự phát triển của ngôn ngữ thơ hiện đại
Sau đây chúng tôi xin điểm qua một số nội dung của phương diện ngôn ngữ
trong công trình nghiên cứu của Hữu Đạt: hai phương thức cơ bản của ngôn ngữ
thơ, tổ chức ngôn ngữ và cấu trúc hình tượng thơ, một số tính chất và đặc điểm quan trọng của ngôn ngữ thơ
1.3.1 Về phương thức của ngôn ngữ
Theo Hữu Đạt, phương thức tạo hình và phương thức biểu hiện là hai
phương thức cơ bản của ngôn ngữ thơ
Về phương thức tạo hình thì Hữu Đạt định nghĩa rằng tạo hình là phản ánh
trực tiếp đối tượng, nghĩa là miêu tả đối tượng như nó vốn có trong thực tế khách quan Một tác phẩm thơ ca có tính chất tạo hình là một tác phẩm đem đến cho người đọc những bức tranh sinh động về cuộc sống và hiện thực thực tế khiến người ta có thể cảm nhận được Muốn như vậy, nhà nghệ sĩ phải sử dụng hai thao tác cơ bản là
thao tác lựa chọn và thao tác kết hợp Thao tác lựa chọn cho phép nghệ sĩ lựa chọn các yếu tố ngôn ngữ như là các bức tranh riêng lẻ về hiện thực Thao tác kết hợp
cho phép nhà nghệ sĩ xây dựng những bức tranh chung rộng lớn hơn bằng việc kết hợp những bức tranh riêng lẽ này lại với nhau theo những quy luật nhất định
Từ khi tồn tại độc lập chỉ là một hình ảnh chứ chưa phải là một “bức tranh tạo hình” với cái nghĩa đơn giản của nó Nhưng khi “từ tồn tại trong ngữ thì từ đã được hiện thực hóa bằng văn cảnh Lúc này, từ không còn là bức tranh trừu tượng,
là hình ảnh của sự vật nữa, mà bắt đầu trở thành bức tranh hoàn toàn cụ thể, có thể tri giác được bằng cảm giác Nói cách khác, lúc này từ hoạt động với tư cách là bức tranh tạo hình” [6, tr.40-41] Một câu có thể được xem như bức tranh khá hoàn chỉnh, trọn vẹn về sự vật Còn một đoạn câu, một văn bản là bức tranh rộng lớn về nhiều sự vật, hiện tượng được hòa phối với nhau trong một chỉnh thể thống nhất
Trang 25Ngoài ra ông cũng khẳng định: “Một văn bản thơ có tính tạo hình là văn bản có khả
năng gợi ra trước mắt người đọc hình ảnh về một sự vật, hiện tượng nào đó Hình
Hữu Đạt cho rằng phương thức tạo hình không đơn giản là để phô diễn tài năng sử dụng ngôn ngữ mà còn thông qua phương thức này, tác giả thể hiện nội tâm, biểu lộ cảm xúc của nhân vật trữ tình hay của chính tác giả
Theo ông khi cần miêu tả những sắc thái nội tâm, những sự biến đổi trong tình cảm con người, cần nhiều đến phương thức biểu hiện Còn khi cần miêu tả về không gian, thời gian, những bối cảnh trong đó có con người hoạt động thì lại cần nhiều đến phương thức tạo hình Để phát huy triệt để phương thức tạo hình, thơ ca
hiện đại thường nghiêng về cách “tạo hình để biểu hiện” “Chính vì phương thức
tạo hình thường tiềm tàng to lớn, nên các nhà thơ có kinh nghiệm vẫn dùng phương thức tạo hình để phát họa ra các tính cách nhân vật với các dáng vẻ riêng khác nhau” [6, tr.47]
Ông còn khẳng định tiền đề vật chất của phương thức tạo hình trong thơ ca Việt Nam là giá trị gợi hình của vần và nguyên âm
Theo ông, các từ láy mang các vần trên cũng có giá trị gợi hình rất cao Về
phần nguyên âm thì nguyên âm i là nguyên âm có giá trị gợi ra những hình ảnh có kích thước, âm thanh nhỏ bé Nguyên âm e có giá trị gợi ra hình ảnh về các sự vật
mảnh và nhỏ, các âm thanh bé và chói [6, tr.59] Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng không phải tất cả từ nào mang các vần, các nguyên âm trên đều có khả năng tạo hình
Về phương thức biểu hiện, theo Hữu Đạt: “Phương thức biểu hiện là việc
khai thác các khả năng biểu hiện của đơn vị ngôn ngữ thông qua thao tác lựa chọn
và thao tác kết hợp trong quá trình tổ chức văn bản” [6, tr.65] Ông cũng cho rằng thao tác lựa chọn cho phép nhà nghệ sĩ lựa chọn một đơn vị trong một loạt đơn vị
có giá trị tương đương nhau, có thể thay thế nhau trên trục dọc còn thao tác kết hợp,
nhà nghệ sĩ sau khi đã lựa chọn có thể tạo ra những kết hợp bất ngờ sáng tạo dựa trên tiền đề vật chất mà ngôn ngữ dân tộc cho phép
Theo ông nhận định thì phân tích phương thức biểu hiện của ngôn ngữ thơ
thực chất phải bao gồm hai mặt: Mặt thứ nhất là phải phân tích những kiểu diễn đạt
Trang 26cơ bản trong thơ ca (so sánh, ẩn dụ, hoán dụ, tỉ dụ, khoa trương) Mặt thứ hai là cần phải phân tích những biện pháp chuyển nghĩa mà nhà thơ áp dụng để biểu thị những suy nghĩ tình cảm của mình trước đối tượng, cũng như việc miêu tả những tính chất và phẩm cách của đối tượng [6, tr.76-77]
Hữu Đạt cho rằng tiền đề vật chất của phương thức biểu hiện là phương tiện
tình thái Ngoài ra ông còn khẳng định: “Tính tình thái tồn tại ở các đơn vị thuộc
mọi cấp độ của ngôn ngữ” Nguyên nhân làm nảy sinh tính tình thái của các đơn vị
ngôn ngữ đó là việc hình thành các thể đối lập trong các cấp độ ngôn ngữ và việc hình thành ra thế bổ sung giữa các đơn vị ngôn ngữ
Việc hình thành thế đối lập xảy ra bốn trường hợp:
thích: “Hiện tượng các từ được cấu tạo bằng âm cuối là phụ âm mũi, khi đọc lên có
cảm giác bay bổng, ngân vang hơn, biểu hiện những tình cảm dàn trải, mênh mang Trái lại, các từ được cấu tạo bằng âm cuối là phụ âm tắc, khi đọc lên thường không
có tiếng vang bay bổng, thường có sức biểu hiện cho những tình cảm khúc mắc
[6,tr.90-91]
Bên cạnh hình thành các thế đối lập vừa nói trên, việc hình thành ra thế bổ sung trong ngôn ngữ cũng là một tiền đề vật chất tạo ra những khả năng phong phú
cho phương thức biểu hiện trong thơ do sự tồn tại hàng loạt các từ đồng nghĩa trong thế bổ sung ý nghĩa lần nhau đã làm cho khả năng biểu hiện của Tiếng Việt vô cùng phong phú về nhiều phương diện
Trang 271.3.2 Về tổ chức ngôn ngữ và cấu trúc hình tượng thơ
Hình tượng thơ là một bức tranh sinh động và tương đối hoàn chỉnh về cuộc
sống được xây dựng bằng một hệ thống các đơn vị ngôn ngữ có tính chất vần điệu với trí tưởng tượng sáng tạo và cách đánh giá của người nghệ sĩ [6, tr.100]
Nghĩa hình tượng của từ được hình thành do quá trình phát sinh ý nghĩa xảy
ra trong quá trình lịch sữ lâu dài
1.3.3 Một số tính chất và đặc điểm quan trọng của ngôn ngữ thơ
Về tính tương xứng, Hữu Đạt cho rằng: “Không những tính tương xứng bao
gồm những cái tương phản, đối ứng hoặc cân đối với nhau mà nó còn bao gồm cả những cái tồn tại trong thế bổ sung cho nhau” [6, tr.131]
Theo Hữu Đạt, đứng từ góc độ cái biểu hiện và cái được biểu hiện thì bao
gồm: tính tương xứng được biểu hiện qua mặt âm thanh, ý nghĩa của các đơn vị
ngôn ngữ và tính tương xứng trực tiếp, gián tiếp
Hữu Đạt nhận định: “Tính tương xứng về âm thanh có tác dụng làm cho sự
liên kết giữa những dòng thơ, câu thơ trở nên gắn bó ràng buộc” Nói đến tương
xứng về mặt âm thanh, trước hết phải nói đến tính tương xứng về mặt thanh điệu
Ông còn chỉ ra rằng: Tính tương xứng về thanh điệu không chỉ là đối ứng giữa hai
loại thanh bằng trắc mà còn bao gồm các hiện tượng đi sóng đôi với nhau, tạo thành những cặp nhất định Các thanh điệu trong tiếng Việt ngoài sự đối lập với nhau về bằng trắc, còn đối lập với nhau về âm vực theo tiêu chí cao/thấp và về đường nét theo tiêu chí bằng phẳng/không bằng phẳng, gấp khúc/không gấp khúc
[3, tr.134]
Ông phân loại tính tương xứng về âm thanh thành hai kiểu Đó là tính tương xứng về âm thanh trên hai dòng thơ và trên một dòng thơ Tương xứng âm thanh trên hai dòng thơ bao gồm tính tương xứng toàn bộ và tương xứng bộ phận Còn tương xứng âm thanh trên một dòng thơ thì bao gồm tương xứng giữa hai vế của dòng thơ và tương xứng giữa các bộ phận trong một trong một vế của dòng thơ
Ngoài ra ông cũng nêu tác dụng của hai kiểu này đó là tương xứng trên các dòng thơ tạo nên vẻ đẹp chung, hoàn chỉnh, còn tương xứng trên một dòng thơ làm nên
vẻ đẹp riêng của mỗi câu thơ, từ đó làm cơ sở hình thành cho vẻ đẹp chung của toàn bài thơ
Trang 28Còn tương xứng về ý nghĩa trong ngôn ngữ thơ bao gồm bốn loại: tương
xứng ý nghĩa về từ vựng, tương xứng về từ loại, tương xứng ở bậc từ, tương xứng ở bậc cấu trúc Hữu Đạt khẳng định rằng: tất cả các kiểu tương xứng đều có thể xảy
ra trên trục hệ hình và trục cú đoạn
Theo tác giả, biểu hiện của tính tương xứng về ý nghĩa từ vựng là “các từ
cùng lúc tham gia vào nhiều thế tương xứng trên cả trục hệ hình và trục cú đoạn”
Ông cho rằng kiểu này có thể chia thành hai loại nhỏ: tương xứng theo nét nghĩa đối
lập (trái nghĩa nhau) và tương xứng theo nét nghĩa bổ sung (gần nghĩa, đồng nghĩa)
Trong tính tương xứng về từ loại, Hữu Đạt cho rằng: “tương xứng về từ loại
là tương xứng gồm các từ cùng thuộc một nhóm từ loại đi sóng đôi với nhau (cùng
là danh từ, cùng là tính từ…) Thường gặp sự tương ứng của các từ loại thuộc nhóm thực từ và sự tương ứng có thể diễn ra cả trên trục hệ hình và trục cú đoạn”
[6, tr.144]
Tương xứng ở bậc từ, theo Hữu Đạt định nghĩa “Là sự tương xứng mà các từ
đi thành từng cặp sóng đôi với nhau trên trục hệ hình và trục cú đoạn” [6, tr.144]
Về tương xứng ở bậc cấu trúc, ông cho rằng có sự tương xứng của các loại
kết cấu: Kết cấu - chính phụ và Kết cấu động – danh – tính
Cuối cùng, khi nói đến tính tương xứng trực tiếp và gián tiếp trong ngôn ngữ
thơ ca, Hữu Đạt xem xét mối quan hệ về mặt vị trí giữa các yếu tố với nhau, về bản
chất, tính tương xứng trực tiếp và gián tiếp nằm ngoài cấu trúc nội tại của nó Ông
nhận định về tính tương xứng trực tiếp như sau: “Nếu chúng ta có cặp các yếu tố
AB, CD… (yếu tố ở đây có thể là một từ, một cụm từ hoặc một câu) tương xứng với nhau thì xét trên trục hệ hình và cú đoạn giữa A và B, giữa C và D không có một yếu tố X nào xen giữa” [3, tr.145] Còn tương xứng gián tiếp (gián cách) được ông
nhận định: “Nếu chúng ta có cặp yếu tố AB, CD (yếu tố ở đây được hiểu là một từ,
một cụm từ hoặc một câu) tương xứng với nhau thì xét trên trục hệ hình và trục cú đoạn giữa A và B, C và D có yếu tố X nào đó xen giữa” [6, tr.146] Tuy nhiên trên
thực tế, nó thường xảy ra trên trục hệ hình, hầu như không xảy ra trên trục cú đoạn
Về tính nhạc của ngôn ngữ thơ, xét mối quan hệ giữa ngôn ngữ lời nói với
ngôn ngữ âm nhạc, Hữu Đạt cho rằng, ngôn ngữ gồm có: ngôn ngữ âm thanh (lời
Trang 29nói) và văn tự (chữ viết), âm nhạc gồm có: các nốt nhạc và các kí hiệu của nốt nhạc
Ông cho rằng: “thực chất mối quan hệ giữa ngôn ngữ và âm thanh chính là
mối quan hệ giữa âm thanh và các nốt nhạc, còn mối quan hệ giữa chữ viết và các
kí hiệu của nốt nhạc là sự biểu hiện bên ngoài của mối quan hệ đó Nghĩa là chỉ có nhịp điệu, ngữ điệu của lời nói, độ dài, ngắn, mạnh, yếu của các kết hợp âm thanh bao gồm: cao độ, trường độ, cường độ, âm sắc của từng âm thanh cụ thể và của
Hữu Đạt cũng khẳng định tiếng Việt ta giàu có về nguyên âm, phụ âm và thanh điệu nên độ dài âm tiết thường ngắn và bao giờ cũng tách rời nhau Đây là
đặc điểm khiến ngôn ngữ Việt giàu tính nhạc: “Một âm tiết của tiếng Việt bao giờ
cũng được biểu thị bằng một nốt nhạc, hoặc bằng vài nốt nhạc luyến láy với nhau”
[6, tr.158-159]
Đầu tiên xem xét tính nhạc trong ngôn ngữ thơ ca Việt Nam, Hữu Đạt cho rằng khi nói đến cách hòa âm trong thơ là nói tới cách hòa phối các thanh điệu, các cách kết hợp âm thanh theo một kiểu nhất định nào đó ở trong câu thơ, đoạn thơ và một bài thơ cụ thể
Tác giả cũng khẳng định: “không phải mỗi một thanh điệu sẽ ứng sẽ ứng với
một nốt nhạc nhất định mà nó có thể ứng với một nốt nhạc hoặc một vài nốt nhạc Ngược lại một nốt nhạc cũng có thể ứng với một thanh điệu hoặc một vài thanh điệu khác nhau” [6, tr.160]
Hơn nữa tác giả cho rằng chính tính giàu khả năng biểu hiện của các đơn vị
ngôn ngữ trong tiếng Việt cũng như giá trị gợi hình của chúng là một cơ sở vật chất quan trọng giúp cho các nhà nghệ sĩ tìm tòi, phát hiện và sáng tạo ra những hình tượng âm nhạc phong phú.[6, tr.162]
Hữu Đạt cho rằng “chính sự khác nhau về âm vực, về đường nét của thanh
điệu, sự khác nhau về cách kết hợp nguyên âm, phụ âm với nguyên âm trong từng
âm tiết cũng như cách kết hợp các âm tiết để tạo thành câu thơ sẽ tạo nên sự khác nhau về cao độ, trường độ của nốt nhạc Cũng chính vì vậy, nó sẽ tạo ra sự khác
Trang 30Đồng thời ông khẳng định: “Tính năng động và tính quy định tương đối cũng
xảy ra giữa giai điệu, nhịp độ, nhịp điệu của âm nhạc với cách kết hợp âm của mỗi âm tiết cụ thể và giữa các âm tiết với nhau Tức là, có liên quan đến độ đóng
tr.161] Hay khẳng định: “rõ ràng là, trong các bài hát, ca khúc, các yếu tố ngôn
ngữ có vai trò cực kì quan trọng làm nên cấu trúc âm nhạc nói chung” [6,
tr.161-162] Tác giả cũng quan niệm ngôn ngữ thơ có cơ cấu dễ làm chỗ dựa cho các
phương pháp diễn đạt âm nhạc[6, tr.163] Cuối cùng ông kết lại rằng : “ Bởi như trên đã phân tích, mối quan hệ giữa ngôn ngữ và âm nhạc không đồng nhất, có tính quy định lẫn nhau”.[6, tr.164]
Theo tác giả: “Chúng ta cần phải quan niệm một cách rõ ràng rằng tính xác
định về quãng cách trong âm nhạc hoàn toàn khác với tính không xác định về cách chia cắt nhịp điệu thơ theo cảm tính về tính nhạc của nó Sự ngắt nhịp thơ trên phương diện ngôn ngữ đòi hỏi phải có sự nghiêm ngặt chứ không tùy tiện.”[6,
tr.166]
1.3.4 Nhận xét quan điểm của tác giả
Hữu Đạt đặt hai thao tác lựa chọn và kết hợp lên đầu công trình Ngôn ngữ thơ Việt Nam, ông cho rằng đó là cơ sở dẫn đến đặc trưng của ngôn ngữ thơ Nhưng
thực ra lựa chọn và kết hợp là hai thao tác tất yếu khi sử dụng ngôn ngữ không chỉ trong văn chương mà còn tồn tại trong mọi hoạt động nói năng giao tiếp
Khi bàn về phương thức tạo hình, Hữu Đạt cho rằng tiền đề vật chất của
phương thức tạo hình là giá trị gợi hình của phần vần và nguyên âm Nhưng hầu nhưng ông dẫn ra các ví dụ toàn là từ láy Dường như, ông chỉ biết giá trị gợi hình của từ láy, còn những khía cạnh khác của vấn đề thì không
Còn phần phương thức biểu hiện thì tác giả giải thích chưa thật thỏa đáng:
“Phương thức biểu hiện là việc khai thác các khả năng biểu hiện của đơn vị ngôn ngữ thông qua thao tác lựa chọn và thao tác kết hợp trong quá trình tổ chức văn bản” Định nghĩa dường như càng là người đọc càng mơ hồ do nó quá chung
chung, và không có cơ sở khoa học
Ông càng cực đoan hơn khi cho rằng: Các từ mang nguyên âm dòng trước: i,
ê, e thường có sức biểu hiện cho những tình cảm tươi sáng, nhí nhảnh, còn các từ
Trang 31mang nguyên âm dòng sau và dòng giữa: ư, u, o, ô thường có sức biểu hiện gợi ra cảm giác u tối, trầm buồn Về thanh điệu, thanh bằng diễn tả tâm trạng sâu lắng, những nỗi buồn vắng mênh mông, thanh trắc thể hiện cảm xúc mạnh mẽ, khỏe khoắn Vậy thì tệ hại, bi thảm, bẽ bàng thì sao? Đây là những từ không hề gợi sự
tươi vui mà thậm chí mang tâm trạng đau buồn, chua xót Hay tươi vui, rộn rã, nô nức có gợi cảm giác buồn bã không hay nó đang diễn tả niềm vui, niềm hạnh phúc của con người
Hữu Đạt cũng thiếu chính xác khi cho rằng chuyển nghĩa sẽ làm nảy sinh phương thức biểu hiện
Trong phần tính tình thái của các đơn vị ngôn ngữ, theo Hữu Đạt, tính tình
thái tồn tại ở các đơn vị thuộc mọi cấp độ của ngôn ngữ, tức cả âm vị, hình vị và từ cũng có tính chất này, nhưng thực tế chỉ câu và văn bản mới có tính chất này
Còn về tính tương xứng thì tác giả có chỉ ra được nhưng chỉ tập trung ở phép
đối mà không định nghĩa tính tương xứng là gì, không đi sâu phân tích, chứng minh
và quan trọng hơn là không nêu ra ý nghĩa của nó Đồng thời, tính tương xứng mà ông nêu ra rất giống với phép đối- một loại nghệ thuật tu từ rất phổ biến trong thơ
ca Ngoài ra, tác giả còn xem tính tương xứng như là một đặc điểm duy nhất tạo nên
vẻ đẹp đăng đối, hài hòa của bài thơ
Và cuối cùng là phần tính nhạc, Hữu Đạt đã dành hẳn một chương để bàn về tính nhạc trong thơ ca Nhưng kết quả mà ông cố công phân tích chỉ khẳng định chủ quan, lộn xộn, mâu thuẫn từ đầu đến cuối Ông đề cập đến sự tương thích giữa thanh điệu, một số loại hình âm tiết tiếng Việt với độ cao của một số nốt nhạc có nguồn gốc phương Tây nhưng ông không định nghĩa thế nào là tính nhạc và tính nhạc mang lại điều gì cho thơ ca Việt Nam
Trong quá trình luận giải mối quan hệ giữa ngôn từ thơ ca và âm nhạc, Hữu
Đạt đưa ra hàng loạt nhận định mâu thuẫn với nhau: khi thì tác giả nhận định ngôn
từ thơ ca tạo ra âm nhạc, quy định âm nhạc [6, tr.160] Nhưng khi xem xét mối
tương quan về độ cao của các thanh điệu với độ cao của các nốt nhạc, ông lại nhận
định độ cao của thanh điệu không phải là cái tương ứng với độ cao của âm nhạc [6,
tr.160] Kết luận thanh điệu và nốt nhạc không có quan hệ quy định về độ cao là chính xác, nhưng lại đối lập với nhận định vừa mới nêu trên đây Cũng liên quan
Trang 32đến nội dung này, Hữu Đạt cho rằng âm nhạc quy định ngôn từ [6, tr.161] Nhưng đến trang kế tiếp, tác giả lại nhận định ngược lại: ngôn từ là cơ sở tạo nên âm nhạc [6, tr.162] Hay ngôn ngữ thơ có cơ cấu dễ làm chỗ dựa cho các phương pháp diễn
đạt âm nhạc [6, tr.163] Tuy vậy, chỉ ngay sau đó, ông lại cho rằng: ngôn ngữ và âm
mà Hữu Đạt đề cập là loại âm nhạc phương Tây du nhập vào Việt Nam Tiếc rằng trong quá trình kiến giải, ông lại giải thích không chính xác
Chính vì thiếu hiểu biết về tính nhạc của thơ nên ông đã phê phán một quan
niệm rất đúng: “Trong ngôn ngữ thơ, quãng cách không xác định rõ rang như trong
âm nhạc…Còn quãng cách trong âm nhạc phải được xác định rõ ràng không thể tùy tiện thay đổi” [6, tr.165 - 166] Thực tế thì nhận định của các nhà nghiên cứu
hoàn toàn chính xác so với quan điểm thiếu khoa học mà Hữu Đạt đã đưa ra
Mối quan hệ giữa ngôn từ thơ ca và âm nhạc mà Hữu Đạt cố gắng làm sáng
tỏ không đạt được kết quả gì thực chất chỉ là mối quan hệ giữa thơ được phổ nhạc
và nhạc phổ thơ trong ca khúc phổ thơ
1.4 QUAN ĐIỂM CỦA CHIM VĂN BÉ
Trong giáo trình Ngôn ngữ học văn chương Việt Nam, Chim Văn Bé dành
riêng chương II để làm sáng tỏ phương thức biểu đạt và đặc trưng của ngôn từ thơ
trữ tình Công trình nghiên cứu của Chim Văn Bé đã góp phần không nhỏ vào việc tìm hiểu đặc sắc thơ ca Việt Nam
1.4.1 Phương thức biểu đạt của thơ trữ tình
Theo tác giả thơ trữ tình sử dụng hai phương thức biểu đạt chính: miêu tả và
biểu lộ
Ông định nghĩa: “Miêu tả là thể hiện đối tượng trong mối quan hệ với đặc
trưng, tính chất, trạng thái hay hành động, hoạt động, quá trình nào đó” và “Biểu
Trang 33lộ là bày tỏ thái độ, suy nghĩ chủ quan của chủ thể trữ tình trước bức tranh ngoại vật hay nội tâm được tạo ra bằng phương thức miêu tả” [1, tr.37]
Theo Chim Văn Bé: “Trong văn bản thơ trữ tình, số dòng thơ, khổ thơ được
tạo tác bằng phương thức miêu tả thường chiếm tỉ lệ cao hơn nhiều lần so với dòng thơ, khổ thơ được tạo tác bằng phương thức biểu lộ Tuy vậy phương thức biểu lộ
có tầm quan trọng đặc biệt Do đặc trưng thể loại quy định, ngôn ngữ thơ trữ tình không thể dừng lại ở việc miêu tả bức tranh ngoại vật hay tâm trạng, mà thông qua miêu tả, nhà thơ thường bày tỏ thái độ, suy tư chủ quan về đối tượng được miêu tả” [1, tr.38]
Ngoài ra, ông còn cho rằng bên cạnh miêu tả và biểu lộ, thơ trữ tình còn sử dụng phương thức thuật sự
1.4.2 Đặc trưng của ngôn từ thơ trữ tình
1.4.2.1 Tính tạo hình - biểu cảm
Về tính tạo hình, tác giả khẳng định: “Tạo hình là tạo ra hình ảnh cụ thể
sinh động” và “thơ ca tạo hình bằng ngôn từ thể hiện qua phương thức miêu tả trực tiếp và các biện pháp tu từ như so sánh, ẩn dụ, nhân hóa Kết cấu ngôn từ có giá trị tạo hình kích thích tâm trí người đọc, rồi với tri thức về thế giới tự nhiên và đời sống xã hội đã trải nghiệm, tích lũy được, người đọc cảm nhận được hình ảnh cụ thể sinh động của đối tượng được miêu tả thông qua trí tưởng tượng”.[1, tr.39]
Ông lưu ý rằng tính tạo hình của ngôn ngữ thơ ca nói riêng và của ngôn từ nghệ thuật nói chung không chỉ thể hiện qua hình ảnh thị giác mà còn bao gồm cả hình ảnh thính giác, hình ảnh xúc giác, hình ảnh khứu giác, hình ảnh vị giác, hình ảnh động giác, tức cảm giác về sự vận động và đặc biệt hình ảnh mang tính chất phối cảm loại hình ảnh được tạo ra từ sự cảm nhận phối hợp nhiều giác quan.[1,tr.39] Đồng thời, tính tạo hình còn được thể hiện qua đơn vị ngôn từ dùng để miêu tả Đơn vị ngôn từ này thuộc hai cấp độ danh ngữ và cấu trúc đề thuyết
Theo Chim Văn Bé thì ở cả hai cấp độ, nghĩa của vị từ, ngữ vị từ làm định tố hay phần thuyết càng có sắc thái miêu tả cụ thể, thì tính tạo hình cành đậm nét, hình ảnh của sự vật càng sinh động Vì thế, từ láy, từ ghép chính - phụ sắc thái hóa về nghĩa, từ tượng hình và từ tượng thanh có ưu thế nổi trội về chức năng tạo hình trong ngôn từ thơ ca, nên các nhà thơ thường tập trung khai thác các lớp đơn vị này
Trang 34Mặt khác, ngữ vị từ làm định tố hay phần thuyết càng được phức hóa bằng nhiều bậc quan hệ chính phụ, thì sắc thái miêu tả càng tăng lên Tuy nhiên, do dòng thơ có giới hạn về độ dài, nên ngữ vị từ làm định tố hay phần thuyết thường được phức hóa không quá hai ba bậc
Bên cạnh đó, theo tác giả: “Trong văn bản thơ trữ tình, còn xuất hiện những
danh ngữ hay cấu trúc đề thuyết, trong đó các thành tố có quan hệ bất thường về
từ trung tâm của phần thuyết biểu thị hành động, quá trình vật chất cụ thể, quan sát được kết hợp với phần đề hay bổ tố biểu thị những sự vật trừu tượng, vô hình, không quan sát được Quan hệ bất thường về nghĩa giữa các thành tố có tác dụng lạ hóa đối tượng được miêu tả, gây ấn tượng mạnh đối với người đọc Tính chất bất thường giữa các thành tố càng cao, thì hình ảnh càng lạ, ấn tượng đối với người đọc càng mãnh liệt
Chim Văn Bé cũng khẳng định: “Do yêu cầu hiệp vần và tạo nhịp, định tố
miêu tả hay phần thuyết có thể được đảo vị trí, đặt ở đầu dòng thơ hay đặt trước
còn thường xuất hiện trạng ngữ cách thức cấu tạo bằng vị từ, ngữ vị từ, có chức năng miêu tả hình thức diễn ra của sự tình được biểu đạt tiếp theo Vì thế, loại trạng ngữ này có chức năng đặc thù cho việc tạo hình ảnh trong văn bản thơ
Đặc biệt là tính chất tạo hình của ngôn từ thơ ca còn được thể hiện qua một lớp đơn vị có nghĩa biểu thị hình dạng hay / và khối lượng của sự vật, mà ở đây
chúng tôi tạm gọi là danh từ chỉ hình khối: “cơn, làn, mái, mảnh, bờ, dòng, khối,
nhánh, luồng, từng (tầng), quả, trái, sợi…” Những danh từ này làm chính tố trong
danh ngữ, có định tố đứng sau là danh từ chỉ vật thể hay chất thể, có thể bị tỉnh lược Ý nghĩa hình dạng của lớp từ này có thang độ đậm nhạt khác nhau tùy đơn vị
cụ thể Chính cái nghĩa hình dạng của lớp từ này gợi ra hình ảnh cụ thể, sinh động của đối tượng được cả danh ngữ biểu thị, nhất là khi đối tượng là những sự vật trừu tượng, vô hình, không quan sát được
Để hiểu đúng và đánh giá chính xác cái hay của hình ảnh trong thơ trữ tình,
trong nhiều trường hợp theo Chim Văn Bé cần xác định góc nhìn, cái tọa độ không
gian mà từ đó đối tượng được quan sát Trong những trường hợp này, hình ảnh hiện
Trang 35ra là hoàn toàn tùy thuộc vào góc nhìn Nhìn chung, góc nhìn trong thơ trữ tình có thể là chủ thể trữ tình (cái tôi trữ tình, nhân vật trữ tình)
Về tính biểu cảm, Chim Văn Bé đã khái niệm biểu cảm là bộc lộ các trạng
thái cảm xúc như chán chường, buồn bã, đau đớn, câm phẫn, phấn khởi, hào hứng, tiếc nuối, tuyệt vọng, v.v Bản thân khái niệm trữ tình cũng đã nói lên rằng tính biểu cảm như là đặc trưng bản thể của thơ trữ tình Và cần lưu ý rằng, hình ảnh không phải là cái đích sâu xa mà chủ thể trữ tình hướng đến Cái đích ấy là bộc lộ, bày tỏ tâm tư, xúc cảm [1, tr.47]
Chủ thể bày tỏ các trạng thái cảm xúc trong thơ trữ tình là chủ thể trữ tình (nhân vật trữ tình, cái tôi trữ tình), có thể hiển hiện, ẩn mình hay nhập vai vào nhân vật trong thơ trữ tình Các trạng thái cảm xúc có thể được bộc lộ trực tiếp qua tình thái ngữ biểu thị xúc cảm hay cấu trúc đề thuyết mang tính chất cảm thán Hoặc các trạng thái cảm xúc có thể bộc lộ trực tiếp qua hình thức câu hỏi tu từ Nhưng quan trọng hơn là các trạng thái cảm xúc gắn bó máu thịt với hình ảnh, không tách rời ra được Chính sự gắn bó máu thịt giữa hình ảnh và cảm xúc làm cho ngôn ngữ thơ trữ tình có sức ám ảnh, lay động sâu xa tâm hồn người đọc, tạo thành những rung cảm thẩm mỹ sâu sắc [1, tr.47]
1.4.2.2 Tính biểu trưng - đa nghĩa
Theo tác giả tính chất biểu trưng là “tính đa nghĩa của từ ngữ xuất hiện khi
từ ngữ vừa được dùng với nghĩa vốn có trong hệ thống ngôn ngữ, vừa biểu thị những hàm nghĩa mới xuất hiện nhất thời trong ngôn cảnh, nảy sinh trên cơ sở quan hệ liên tưởng tương đồng tiềm tàng trong tâm thức văn hóa của cộng đồng Vì thế, từ ngữ mang tính biểu trưng có nhiều lớp nghĩa: nghĩa hiển hiện (nghĩa bề mặt)
và những lớp nghĩa biểu trưng (nghĩa hàm ẩn, nghĩa bóng) và cả hai phương diện nghĩa đều có giá trị như nhau Chính tính biểu trưng là nguồn gốc sâu xa, chủ yếu tạo nên hiện tượng đa nghĩa của ngôn từ thơ trữ tình” [1, tr.50] Ông kết luận:
“Biểu trưng là phương thức tạo nên nghĩa mới, nghĩa biểu trưng cho từ ngữ trong ngôn cảnh cụ thể” [1, tr.50]
Trang 361.4.2.3 Tính hòa phối đa phương diện
Về tính hòa phối đa phương diện, tác giả định nghĩa:“Hòa phối là phối hợp
với nhau tạo nên sự hài hòa, đăng đối, thể hiện ở nhiều phương diện như ngữ âm,
từ vựng-ngữ nghĩa, cú pháp” [1, tr.68]
Tính hòa phối về ngữ âm, trước hết là sự hòa phối về vần, Chim Văn Bé
cho rằng: “Trong ngôn từ giao tiếp nói chung và trong ngôn từ thơ ca nói riêng, hai
âm tiết hoàn toàn tương đồng hay hoàn toàn khác biệt thì không thể gọi là vần Hai
âm tiết được xem là vần với nhau, khi chúng vừa có yếu tố âm thanh tương đồng hoàn toàn hay có xê xích, vừa có những yếu tố khác biệt Các yếu tố âm thanh tương đồng giữa hai âm tiết là những yếu tố tạo nên vần, còn các yếu tố âm thanh khác biệt là yếu tố tạo ngôn cảnh của vần [1, tr.65] Trên cơ sở đó, ông kết luận:
“Về cơ bản, vần trong thơ tiếng Việt là tổ hợp nguyên âm và phụ âm cuối hay bán
âm cuối, được gọi là vần cái hay vận mẫu Còn thanh điệu và âm đệm chỉ được tính đến khi sự tương đồng của vần cái mờ nhạt hay không còn nữa.” [1, tr.65]
Về phần hòa phối thanh điệu, “Thanh điệu tiếng Việt được xem xét, phân
loại theo hai đặc trưng ngữ âm: điệu tính và phi điệu tính (Đặc trưng điệu tính là những đặc trưng ngữ âm được thể hiện bằng tần số âm thanh cơ bản (Fₒ) trong cấu trúc thanh điệu và âm điệu như âm vực Đặc trưng phi điệu tính là những đặc trưng không thể hiện bằng Fₒ như cường độ, trường độ, hiện tượng yết hầu hóa và thanh hầu hóa)” [1, tr.68]
Sơ đồ phân loại thanh điệu theo tiêu chí điệu tính:
Âm điệu Bằng Ngang, huyền
Trang 37phối thanh điệu trong từ láy và ngôn từ thơ ca, chúng ta phải dựa vào sự đối lập âm vực mang tính chất truyền thống này
Theo Chim Văn Bé, sự hòa phối về thanh điệu được tập trung xem xét về
mặt âm điệu Về phương diện này ông nhận định thanh điệu có thể hòa phối với nhau theo hai hướng: tương phản và tương đồng
Tuy nhiên, theo ông, hiện tượng hòa phối tương đồng hay tương phản tuyệt đối hay tương đối về âm điệu giữa các dòng thơ xuất hiện không phổ biến mà phổ
biến hơn là hiện tượng hòa phối thanh điệu giữa các âm tiết thể hiện nhịp thơ, âm
tiết mang trọng âm, diễn ra theo quan hệ ngữ đoạn trong từng dòng thơ và theo
quan hệ đối vị giữa các dòng thơ nối tiếp nhau
Tiếp theo là về phần hòa phối về nhịp điệu và tiết tấu, tác giả nhận định nhịp thơ tiếng Việt “thuộc loại hình âm tiết-trọng âm tính, loại nhịp thơ thể hiện
qua sự kết hợp âm tiết không mang trọng âm với âm tiết trọng âm , trong đó, cả âm tiết không trọng âm lẫn âm tiết trọng âm đều được tính đến, bất kể số lượng âm tiết
nghĩa: “Nhịp thơ tiếng Việt là sự luân phiên nối tiếp đều đặn hay tương đối đều
đặn theo chu kì giữa âm tiết không trọng âm và âm tiết trọng âm, mỗi chu kì luân phiên là một nhịp Âm tiết mang trọng âm ở đây được xác định dựa trên sự tương phản về độ mạnh, độ dài và tính trọn vẹn của đường nét thanh điệu giữa các âm tiết trong dòng thơ Sự luân phiên diễn ra điều đặn khi số lượng âm tiết giữa các chu kì trong dòng thơ ngang nhau Sự luân phiên nối tiếp diễn ra tương đối đều đặn khi số lượng âm tiết giữa các chu kì trong dòng thơ chênh lệch nhau” [1, tr.81]
Ông còn phân biệt hai khái niệm nhịp và nhịp điệu: “Nhịp là danh từ đếm
được, chỉ đơn vị tính toán trừu tượng, nên chỉ có thể định lượng mà không thể định tính”, còn “nhịp điệu là danh từ khái quát, chỉ nhịp trong mối quan hệ với những thuộc tính nào đó của nó, nên không thể định lượng, mà chỉ có thể định tính”
[1,tr.81]
Chim Văn Bé nhận định sự luân phiên nối tiếp đều đặn hay tương đối đều đặn giữa các âm tiết không mang trọng âm và âm tiết trọng âm trong dòng thơ được hiện thực hóa bằng những tổ hợp âm tiết, trong đó âm tiết trọng âm và âm tiết không mang trọng âm kết hợp với nhau theo số lượng và trật tự phân bố cụ thể Tác
Trang 38giả định nghĩa: “Các tổ hợp âm tiết hiện thực hóa nhịp là bước thơ” [1, tr.81] và
“bước thơ là đơn vị cơ sở của nhịp thơ tiếng Việt” [1, tr.81]
Ông còn lưu ý thêm rằng: “Bước thơ không phải là những thực thể tồn tại ổn
định, bền vững mà chỉ là đơn vị tạo nhịp thơ, hình thành nhất thời trên cơ sở mối quan hệ tương đương giữa các tổ hợp âm tiết trong ngôn cảnh cụ thể Chính vì thế
mà trong những ngữ cảnh nhất định, việc xác định bước thơ có thể xê xích trong phạm vi một âm tiết, tùy theo quan hệ tương đương mà ta lấy làm cơ sở chủ yếu.”
[1, tr.82]
Xem xét thơ tiếng Việt trong thực tế, Chim Văn Bé cho rằng bước thơ
thường gặp là hai âm tiết (nhịp hai), và ba âm tiết (nhịp ba) có thể được phân bố
theo trật tự mạnh -nhẹ hay nhẹ- mạnh, trong đó, nhẹ- mạnh xuất hiện phổ biến hơn Bước thơ một âm tiết và bước thơ bốn âm tiết ít xuất hiện hơn, trong đó bước thơ một âm tiết là bước thơ đặc biệt, bản thân nó luôn mang trọng âm Mỗi dòng thơ có thể chỉ có một bước thơ hay một nhịp, nhưng thường từ hai đến bốn bước thơ Dòng thơ có từ năm bước thơ trở lên rất ít gặp, chỉ xuất hiện trong những bài thơ tự do
Về phần tiết tấu, ông nhận định “các bước thơ hay nhịp thơ kết hợp với nhau
theo quan hệ ngữ đoạn sẽ tạo ra tiết tấu của dòng thơ Như vậy, tiết tấu của dòng thơ là sự luân phiên nối tiếp theo chu kì giữa các bước thơ theo quan hệ ngữ đoạn, qua đó, sự tương đồng về tính chất trọng âm và không trọng âm giữa các bước thơ nổi bật lên Trong quan hệ luân phiên giữa các bước thơ, các âm tiết trọng âm có thể hòa phối với nhau theo hướng tương đồng hay tương phản về âm điệu”
[1,tr.85]
Tiếp theo, ông cho rằng đơn vị ngôn từ cơ sở thể hiện tiết tấu thơ là dòng thơ Nó có thể tổ chức theo mô hình kết hợp các bước thơ cùng loại hay khác loại, cuối dòng thơ là quãng ngắt tiết tấu dài Nếu dòng thơ được tổ chức bằng một loại
bước thơ, thì tiết tấu sẽ đều đều đơn điệu, nếu dòng thơ được tổ chức bằng cách phối hợp nhiều loại bước thơ, thì tiết tấu sẽ biến hóa, lúc nhặt, lúc khoan Trong
mỗi dòng thơ, khoảng cách giữa các âm tiết trọng âm là một quãng (interval) Các
quãng trong mỗi dòng thơ có thể đều đặn, nếu nhà thơ chỉ dùng một loại bước thơ, hay xê xích, nếu nhà thơ phối hợp nhiều loại bước thơ Chỗ ngừng sau âm tiết trọng
âm, nếu có là quãng ngừng tiết tấu , có thể dài (//) hay ngắn (/) , có tác giả gọi là
Trang 39nhịp độ Tuy nhiên, trong quan niệm phổ biến, nhịp độ được hiểu là độ nhanh của
nhịp trong âm nhạc hay mức độ tiến triển của công việc Trong mỗi dòng thơ, nếu không có quãng ngững thì tiết tấu thường khoan thai, dàn trải, nếu có nhiều quãng ngừng thì tiết tấu thường gấp gáp, dồn dập
Chim Văn Bé phân biệt rõ biên giới bước thơ với chỗ ngừng tiết tấu bằng việc xác định chỗ ngừng tiết tấu trong dòng thơ dựa vào những mối quan hệ mang
tính chất ngữ pháp sau:
Giữa các câu là một quãng ngừng dài
tuyến tính, có thể được nhà thơ chia tách sẵn bằng dấu phẩy hoặc không Giữa các
cú là một quãng ngừng dài
cú pháp đẳng lập) được kết hợp với nhau bằng trật tự tuyến tính, có thể được chia tách sẵn bằng dấu phẩy hoặc không Giữa các thành phần ngữ pháp đồng chức năng là một quãng ngừng ngắn
thơ, tình thái ngữ, hô- ứng ngữ, giải thích ngữ, phụ chú ngữ và cấu trức đề thuyết Giữa các thành phần phụ này và cấu trúc đề thuyết là một quãng ngừng ngắn
Tác giả còn phân biệt mối quan hệ giữa tiết tấu ngôn từ thơ ca và ngữ điệu của lời nói miệng từ góc độ bản thể và từ thực tế diễn xướng
Về tính hòa phối về mặt ngữ nghĩa, theo Chim Văn Bé thì trong ngôn từ thơ
ca, sự hòa phối về ngữ nghĩa diễn ra ở hai cấp độ có quan hệ chặt chẽ với nhau: từ
ngữ và câu cú
tương đồng và tương phản Hòa phối tương đồng thể hiện qua việc lặp từ, dùng từ
đồng nghĩa (bao gồm đồng nghĩa ngôn ngữ và đồng nghĩa ngôn cảnh) và từ gần
nghĩa Hòa phối tương phản thể hiện qua việc dùng từ trái nghĩa và khác nghĩa Khi xem xét sự hòa phối về ngữ nghĩa, cần phát hiện được nét nghĩa chủ đạo chi
phối nghĩa của cả chỉnh thể Sự hòa phối này làm nổi bật lên bức tranh ngoại vật,
Trang 40tâm trạng của chủ thể trữ tình, chủ đích nghệ thuật, cảm hứng chủ đạo hay chủ đề của bài thơ, tùy vào chỉnh thể mà trong đó hiện tượng hòa phối diễn ra
tương đồng hoặc tương phản Đó là sự tương đồng hay tương phản về tính chất
giữa các sự tình được câu cú biểu đạt
Hòa phối về mặt cú pháp, theo tác giả, sự hòa phối về mặt cú pháp chỉ diễn
ra theo hướng tương đồng, đó là hiện tượng điệp cấu trúc cú pháp giữa các câu thơ, còn gọi là song hành cú pháp
Vận dụng quan điểm của R Jakobson về tính song hành cú pháp vào việc
xem xét ngôn ngữ thơ tiếng Việt, tác giả cho rằng: Giữa các chỉnh thể cú pháp thể
hiện tiết điệu (tương đương với cấu trúc đề - thuyết bậc câu, cú, tiểu cú) có thể diễn
ra hiện tượng điệp hoàn toàn, tuyệt đối các thành phần, thành tố cú pháp, tiêu biểu như phép đối trong thơ luật Đường, hay có biến đổi tiểu tiết theo yêu cầu của việc hiệp vần và tạo nhịp điệu tiết tấu Hiện tượng điệp có thể diễn ra giữa các chỉnh thể
kế cận hay gián cách, tạo thành từng đôi, ba hay bốn chỉnh thể song hành xuất hiện trong từng dòng thơ, giữa các dòng thơ trong cùng một khổ, một đoạn thơ hay giữa các khổ thơ [1, tr.110]
Tác giả lưu ý rằng trong từng khổ thơ, bên cạnh dòng thơ song hành cú pháp, thường có những dòng thơ biệt lập (isolated lines), nghĩa là nằm ngoài quan hệ song hành cú pháp Hiện tượng song hành cú pháp và phi song hành có mối quan hệ quy định lẫn nhau Những dòng thơ phi song hành cú pháp làm nổi rõ dòng thơ song hành cú pháp và ngược lại
Tác giả kết luận hiện tượng hòa phối đa phương diện trong ngôn ngữ thơ ca tạo nên hình tượng ngôn từ có giá trị tự thân
1.4.2.4 Tính nhạc
Chim Văn Bé cho rằng để làm sáng tỏ tính nhạc của ngôn từ thơ ca, điều tất yếu là phải chỉ ra những thành tố thể hiện nhạc tính của thơ trong mối liên hệ với những thành tố của âm nhạc nói chung Theo ông, tính nhạc của ngôn từ thơ ca chủ yếu thể hiện qua mối liên hệ giữa các thành tố: