A. BỆNH HẠI CÂY LÚABỆNH ĐỐM VẰNPhân bố và tác hại Phân bố : Tại các nước như : Nhật, Philippines ,Srilanka, Trung Quốc và nhiều nước Châu Á. Sau đó bệnh phát triển lan rộng sang Brazil, Venezuela, Madagasca và Mỹ.Tác hại : Ở Nhật hàng năm có từ 120.000 – 190.000 ha lúa bị hại. Năm 1954 mất năng suất từ 24.000 – 38.000 tấnnăm. Ở Việt Nam 1983 tại Tiền Giang 5000 ha lúa bị hại, 1984 là 21.500 ha. Bệnh có thể hại từ gốc lên đến bông làm giảm năng suất rất lớn.2. Triệu chứng bệnhĐầu tiên bệnh có vết đốm màu lục tối, ướt, hình bầu dục. Sau lan rộng ra và liên kết lại với nhau thành những đám chồng chất với các màu sắc khác nhau, vằn vện giống da hổ, vân mây…. Bên ngoài rìa vết bệnh viền nâu, bên trong có màu xám xanh hoặc xám vàng, khi vết bệnh trưởng thành thì khô vàng đi. Phần bị bệnh có mọc ra những sợi nấm màu trắng và về già có màu nâu vàng .
Trang 1CHÀO MỪNG CÔ VÀ CÁC BẠN ĐẾN VỚI BÀI
THUYẾT TRÌNH CỦA NHÓM 6
• Nhóm thực hiện
Trang 3NỘI DUNG
A BỆNH HẠI CÂY LÚA
B BỆNH HẠI CÂY BẮP
Trang 4BỆNH ĐỐM VẰN
1 Phân bố và tác hại
a Phân bố : Tại các nước như : Nhật, Philippines
,Srilanka, Trung Quốc và nhiều nước Châu Á Sau đó bệnh phát triển lan rộng sang Brazil, Venezuela, Madagasca và Mỹ.
b Tác hại : Ở Nhật hàng năm có từ 120.000
– 190.000 ha lúa bị hại Năm 1954 mất
năng suất từ 24.000 – 38.000 tấn/năm Ở Việt Nam 1983 tại Tiền Giang 5000 ha lúa
bị hại, 1984 là 21.500 ha Bệnh có thể hại
từ gốc lên đến bông làm giảm năng suất rất lớn.
A BỆNH HẠI CÂY LÚA
Trang 52 Triệu chứng bệnh
Đầu tiên bệnh có vết đốm màu lục tối, ướt, hình bầu dục Sau lan rộng ra và liên kết lại với nhau thành những đám chồng chất với các màu sắc khác nhau, vằn vện giống da hổ, vân mây… Bên ngoài rìa vết bệnh viền nâu, bên trong có màu xám xanh hoặc xám vàng, khi vết bệnh trưởng thành thì khô vàng đi Phần bị
bệnh có mọc ra những sợi nấm màu trắng và về già có màu nâu vàng
Trang 73 Nguyên nhân gây bệnh
Bệnh do nấm Rhizoctonra Solani Nấm thuộc loại bán kí sinh có tính chuyên hóa rộng, gây hại trên 40 loại cây trồng : lúa, bắp, đậu phọng, chuối, dâu, cỏ dại… Nguồn bệnh tồn tại dưới dạng hạch khuẩn có thể sống lâu trong đất ruộng, trong tàn dư cây
trồng.
Trang 84 Đặc điểm phát sinh phát triển bệnh
-Phát sinh mạnh ở điều kiện :
+ nhiệt độ, ẩm độ cao > 95%, ruộng bón nhiều đạm, bón không cân đối N-P-K.
+Yếu tố ngoại hình của cây lúa : Chiều cao, lá rộng bản, bẹ lúa dày sẽ nhiễm bệnh ít, giống thấp cây, bẹ ngắn sẽ bệnh nặng.
-Cách gây hại :
Nấm bệnh trong đất ruộng Nấm bệnh nổi lên mặt nước
và tiếp xúc vơi cây lúa Bệnh bắt đầu gây hại lúc lúa đẻ nhánh Bệnh gây hại nặng lúc đứng cái ,trỗ Nấm rơi xuống đất sau thu hoạch.
Trang 95 Biện pháp phòng trừ
- Có thể kết hợp sử dụng các giống kháng với các biện pháp canh tác và hóa học để làm giảm bớt thiệt hại của bệnh :
+ Làm sạch cỏ ven bờ ruộng.
+ Cày lật đất vùi hạch nấm xuống sâu sau vụ thu hoạch + Đốt rơm rạ, tiêu diệt nguồn bệnh.
+ Sạ, cấy vừa phải.
+ Không bón N quá cao, bón cân đối N-K
+ Không bón nuôi đòng và hạt trong ruộng có nguồn bệnh.
+ Dùng thuốc hóa học và chon thời điểm phun thuốc phù hợp.
Trang 10BỆNH CHÁY LÁ LÚA ( bệnh đạo ôn)
1 Phân bố và tác hại :
a Phân bố : Đầu tiên tại Trung Quốc, sau đó lan nhiều
quốc gia khác: Ý(1788), Mỹ (1876 ) và Ấn Độ ( 1913 ) Đây là bệnh phân bố rộng, có mặt trên 80 quốc gia
trồng lúa trên thế giới : Nhật, Philippines, Việt Nam….
b Tác hại : Ở Nhật 1953 -1960 thiệt hại về năng suất là
2,98 %, có năm làm mất trắng năng suất như ở Hà Đông ( Việt Nam ).Ở Miền Bắc các vùng Hải Phòng, Thái
Nguyên, Ninh Bình, Bắc Giang, Hà Đông bị thiệt hại
nặng
Trang 112 Triệu chứng bệnh
- Bệnh hại từ giai đoạn mạ đến chín trên các bộ phận :
bẹ lá, lá, thân, cổ bông, gié…
+ Trên mạ : vết bệnh có hình thoi nhỏ, màu hồng hoặc
nâu vàng.
+ Trên lá : vết bệnh hình thoi màu nâu nhạt, rộng ở phần giữa và nhọn ở hai đầu, giữa vết bệnh có màu xám tro, xung quanh nâu đậm, vòng ngoài cũng có màu nâu
vàng nhạt.
+ Trên thân, cổ bông : ban đầu trên lá có một chấm nhỏ màu nâu xám, sau lớn dần bao quanh đốt thân làm thân thắt lại, trên cổ bông làm bông bạc làm bông gáy gục + Trên hạt vết bệnh không định hình có màu đen hoặc
nâu đen.
Trang 133 Nguyên nhân gây bệnh
Bệnh do nấm Pylicularia oryzae Nấm sinh ra các độc
tố ức chế sự phát triển của cây mạ và sự nảy mầm của bào tử nấm, làm cây bệnh tạo và tập trung chất
coumarin làm cây lúa bị lùn.
Trang 144 Đặc điểm phát sinh phát triển bệnh
- Bệnh phát sinh bất thường, phụ thuộc vào nhiều yếu tố ngoại
cảnh, nhiệt độ.
- Phụ thuộc vào nguồn bệnh và sự tích lũy nguồn bệnh : nấm
gây bệnh tồn tại chủ yếu trong gốc rạ , rơm và hạt bị nhiễm bệnh Ở hạt nấm tồn tại trong phôi, phôi nhủ, vỏ hạt và có khi
ở lớp giữa vỏ và hạt Ngoài ra nấm còn lưu tồn trên nhiều loại cây trồng và cỏ dại.
- Phụ thuộc vào cây kí chủ : cây họ hòa thảo, các loại cỏ gừng…
Trang 155 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của bệnh
5.1 Ảnh hưởng của yếu tố thời tiết :
-Nhiệt độ : Nhiệt độ đất khoảng 20 độ C thì bệnh rất nghiêm trọng.
Trang 165.2 Ảnh hưởng của yếu tố dinh dưỡng
-Phân đạm : bón nhiều đạm thì bệnh càng nặng.
-Phân kali : bón vừa đủ thì bệnh sẽ giảm, bón quá nhiều
bệnh sẽ gia tăng.
-Phân silica : bón phân silica sẽ làm tăng tính chống
chịu bênh của cây, làm giảm tính nhiễm bệnh,
-Phân lân : bón vừa đủ cho nhu cầu phát triển của cây
lúa thì bệnh sẽ nhẹ, bón vượt nhu cầu bệnh sẽ nặng.
5.3 Ảnh hưởng của giống
Giống nhiễm + điều kiện thuận lợi làm bệnh rất nặng.
5.4 Ảnh hưởng điều kiện khô hạn
Lúa bị khô hạn làm bệnh rất nặng, nhất là lúa trồng
trên các đòi núi.
Trang 176 Biện pháp phòng trừ
- Dự báo bệnh : căn cứ vào số giờ mưa, ẩm độ không khí, tính cảm nhiễm của giống và cũng có thể dự báo bệnh bằng ruộng dự báo.
- Chọn giống kháng hoặc giống ít nhiễm bệnh.
- Thời vụ : bố trí thời vụ tránh được các tháng quá ẩm hay có nhiều sương mù.
- Giữ ruộng luôn ngập nước.
- Bón phân phù hợp.
- Không gieo sạ quá dày.
- Vệ sinh đồng ruộng.
- Dùng thuốc hóa học.
Trang 18BỆNH ĐỐM NÂU
1 Phân bố và tác hại
a Phân bố : bệnh được Breda de Haan mô tả đầu tiên vào năm
1980, sau đó được biết phổ biến khắp các nước trồng lúa ở Á châu và Phi châu.
b Tác hại : mạ bị chết, giảm trọng lượng hạt, giảm năng suất
lúa do sự phát triển của rễ và thân lúa bị hạn chế
Trang 192 Triệu chứng bệnh
Vết bệnh ban đầu nhỏ như mũi kim màu nâu nhạt, sau đó phát triển thành hình bầu dục nhỏ, hơi tròn như hạt vừng, có màu nâu đậm ở cả hai mặt vết bệnh xung quanh có viền vàng nhỏ Bệnh nặng vết bệnh lớn có màu nâu, tâm màu xám trắng, có dạng hơi tròn hoặc hình thoi.
Trên vỏ trấu của hạt đốm bệnh có màu đen hay nâu sậm, nếu
nhiễm nặng thì phần lớn hay toàn bộ bề mặt vỏ hạt bị nâu.
Trang 213 Nguyên nhân gây bệnh
Bệnh do nấm Helminthosporium oryzae Nấm tiết ra hai loại độc
Trang 224 Đặc điểm phát sinh phát triển bệnh
- Lưu tồn trong tàn dư cây bệnh, trên hạt bệnh bào tử có thể
sống được 3 năm.
- Xâm nhiễm:
+ Trên hạt : nấm xâm nhiễm chủ yếu qua chân của các lông trên
vỏ hạt và sau đó phát triển sang các tế bào biểu bì xung
quanh.
+ Trên lá lúa : xâm nhập trực tiếp vào biểu bì lá.
- Quá trình xâm nhiễm của nấm gây bệnh : Mầm bệnh tấn công vào tế bào kí chủ, tiết ra độc tố ophiobilin làm chết tế bào kí chủ Trong tế bào kí chủ, khi vừa nhiễm hàm lượng độc tố
chưa đủ để giết chết tế bào, tế bào tăng cường tạo ra các hợp chất phenol.Các hợp chất phenol tích tụ này sẽ được
polyphenoloxydase do nấm tiết ra oxi hóa thành quinone
Dưới tác động của một số phân hóa tố của nấm, quinone này
sẽ trùng hợp nhanh chóng để tạo ra các thể màu nâu và sẽ lan trong vết bệnh tạo đốm nâu đặc trưng của bệnh.
Trang 235 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của bệnh
- Đất đai và phân bón : bệnh thường xảy ra trên các
chân đất thiếu dinh dưỡng hoặc đất ngập liên tục
- Nhiệt độ, ẩm độ và ánh sáng ; ở nhiệt độ 25 độ C và
ẩm độ không khí > 90 % thuận lợi cho bào tử nấm xâm nhiễm Trời có nhiều mây mù, ánh sáng yếu sẽ thuận lợi cho sự phát triển của vết bệnh.
- Giống : có thời gian sinh trưởng dài thì bệnh nặng.
Trang 245 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của bệnh
- Đất dai và phân bón : bệnh thường xảy ra trên các
chân đất thiếu dinh dưỡng hoặc đất ngập liên tục Nếu thiếu kali, kích thước vết bệnh sẽ lớn, nếu thừa đạm và kali cây dễ bị nhiễm bệnh Nếu thừa lân và thiếu đạm, thiếu kali thì cây sẽ bị nhiễm nặng.
- Nhiệt độ, ẩm độ và ánh sáng ; ở nhiệt độ 25 C và ẩm
độ không khí > 90 % thuận lợi cho bào tử nấm xâm nhiễm Trời có nhiều mây mù, ánh sáng yếu sẽ thuận lợi cho sự phát triển của vết bệnh.
- Giống : có thời gian sinh trưởng dài thì bệnh nặng.
Trang 256 Biện pháp phòng trừ
- Chọn hạt giống khỏe.
- Cải tiến tình trạng đất và bón phân thích hợp.
- Chăm sóc, làm cỏ kịp thời và bón thúc sớm cho mạ.
- Vệ sinh đồng ruộng, thu dọn sạch tàn dư sau thu
hoạch, cắt bỏ lúa chét, diệt cỏ dại Phối hợp với biện pháp kĩ thuật canh tác theo từng giai đoạn sinh
trưởng của cây lúa.
- Chỉ dùng thuốc hóa học khi thật cần thiết.
- Chú ý khâu chọn lọc giống.
Trang 26Bệnh gây thất thu nặng cho các giống nhiễm Tại
Surima bệnh đã làm thất thu đến 40% sản lượng lúa trong các năm 1953 - 1954
Bệnh phân bố rộng ở Đồng bằng sông Cửu Long và thường thấy ở vụ hè thu
Trang 272 Triệu chứng bệnh
Trên giống lúa kháng bệnh, vết bệnh hẹp bề rộng khoảng 1mm, dài
từ 2-10mm màu nâu sậm.
Trên lá, vết bệnh là những đường gạch màu nâu hẹp, các gạch
chạy dọc trên gân phụ của lá, nên trông như xếp so le trên các
đường song song.
Trên giống lúa nhiễm bệnh, vết bệnh rộng hơn, dài hơn và có màu
nâu nhạt ở xung quanh và ở giữa có màu sáng hơn Nhiều vết bệnh trên lá làm lá bị vàng rũ.
Triệu chứng tương tự cũng xuất hiện trên bẹ lá.
Trang 28Cuống lá và giẻ cũng bị nhiễm bệnh, ở một số nơi
trong vùng đồng bằng Sông Cửu Long trên vụ lúa hè thu và thu đông, bệnh có thể gây 20% trong tổng số hạt bị lem, lép
Trang 293 Nguyên nhân gây bệnh
Bệnh do nấm Cercospora oryzae Miyake Nhiệt độ
thích hợp cho nấm phát triển từ 25-28 độ C, pH từ
5,7-7,1 Nấm cũng có nhiều dòng sinh lý với độc tính gây bệnh khác nhau
4 Cách gây hại của nấm
Nấm xâm nhập vào lá lúa qua khí khổng, chiếm
ngay các tế bào nhu mô bên cạnh và sau đó lan dọc theo các tế bào biểu bì Từ khi nấm bắt dầu xâm
nhập vào lá đến khi phát bệnh khoảng 30 ngày, do
vậy bệnh gạch nâu luôn xuất hiện ở giai đoạn sau
của cây lúa cũng như trên các lá già có nhiều vết
bệnh gạch nâu hơn lá non
Trang 30Bệnh cũng phát triển mạnh ở các chân đất chua,
mặn và đất nghèo dinh dưỡng Chế độ phân bón
nhất là phân đạm có ảnh hưởng rất mạnh đến sự
phát triển của bệnh, nếu bón đạm thấp, bón lân cao bệnh rất nặng
0C
Mầm bệnh có thể lưu tồn trong hạt bệnh, rơm rạ,
lúa chét, cỏ dại, nhất là cỏ ống, cỏ đuôi phụng
Trang 316 Biện pháp phòng trừ
- Gieo trồng đúng thời vụ
- Xử lý hạt giống
- Bón phân đầy đủ và hợp lý, chú ý bón phân
chuồng, bón đạm đón đòng phải kết hợp bón thêm lân và kali, bón vôi để cải tạo đất chua
- Không để ruộng quá ngập hoặc quá khô
- Trồng giống kháng bệnh.
- Đốt rơm rạ, vệ sinh cỏ dại
- Không bón quá thừa phân kali
Trang 32bệnh ít thấy ngoại trừ Nga có thể có
Ở nước ta bệnh phá hại nghiêm trọng trên các giống lúa mới nhập và trên cả giống cũ
Bệnh hại chủ yếu ở lá lúa, đặc biệt là lá đòng làm lá sớm tàn, nhanh chóng bị chết khô, ảnh hưởng đến
quang hợp, tăng số hạt lép, hạt lững, sự tích lũy chất khô giảm lượng đạm và protein thô trong hạt dẫn đến năng suất giảm
Trang 332 Triệu chứng bệnh
Hại từ thời kỳ mạ đến chín, triệu chứng điển hình ở lúa cấy từ giai đoạn sau đẻ, trổ đến chín sữa Bệnh bao gồm 3 triệu chứng sau:
* Cháy bìa lá.
Ngoài đồng bệnh thường xuất hiệc ở giai đoạn trổ, tuy nhiên cũng có khi bệnh gây hại trên mạ
Trên mạ: bìa của các lá
già bên dưới có những
đốm úng nước nhỏ, sau
đốm lớn dần làm lá trở
nên vàng và khô héo
Trang 34Trên phiến lá: Vết bệnh thường bắt đầu ở
chóp lá hay mép lá tạo những sọc dài ngắn úng nước ở một bên hay hai bên bìa lá Sau vài
ngày vùng bệnh biến sang màu vàng, bìa gợn sóng, vùng bệnh phát triển dần ra, vùng mô tiếp giáp giữa mô bệnh và mô khỏe bị úng nước
Trên hạt: vỏ hạt bị biến màu, viền úng
nước nếu hạt còn non, nếu hạt già đốm
bệnh có màu xám trắng hay trắng vàng
Trang 35* Héo xanh
Bệnh thường thấy trên các cây lúa đã lớn, trong khi các lá già bên dưới có màu xanh bình thường, các lá non lại có màu vàng nhạt, hay có các sọc to màu
vàng hoặc xanh vàng trên phiến lá
Triệu chứng bệnh thường xuất
hiện 1-2 tuần sau khi cấy, lá
bệnh có màu xanh xám, cuốn
tròn dọc theo gân lá Ở lúa cấy
Trang 363 Nguyên nhân gây bệnh
Bệnh do vi khuẩn Xanthomonas campestris
pv.oryzae Dowson.Nhiệt độ thích hợp là 26-300C, tối thiểu 0,50C, tối đa 400C, nhiệt độ gây chết 530C trong
10 phút, pH 5,7-8,5, thích hợp là 6,8-7,2
Xâm nhiễm
Vi khuẩn xâm nhiễm qua thủy khổng, lổ khí trên mặt
lá, qua vết nứt do rễ mới phát triển ở chân mạ hay các vết thương do các nguyên nhân khác Sau 1-2 ngày xâm nhiễm vi khuẩn sẽ phát triển tích cực rồi lan vào trong cây
Trang 37Lưu tồn
Trong đất:
Trong hạt:
Trong cỏ dại:Trong gốc rạ:
Trang 38Trong nước kinh rạch, nước ruộng một số vi khuẩn hầu như cao quanh năm
Nước ruộng ô nhiễm
Trang 39Lan truyền
Vi khuẩn lan truyền nhờ
mưa, gió, vết thương do côn trùng cắn phá, do mực nước trong ruộng cao, do mật độ
xạ cấy qúa dày vi khuẩn
truyền lan qua hạt giống, tàn
dư cây bệnh qua đất và
nước
Trang 404 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát sinh phát
triển bệnh
- Bệnh phát sinh phát triển mạnh trong mùa mưa
nhất là những tháng mưa nhiều, những vùng trũng hay
bị ngập lụt và có nhiều cỏ dại trong ruộng
- Phụ thuộc vào chế độ phân bón, bón quá thừa đạm hay thiếu lân và kali đều làm gia tăng bệnh
- Ở điều kiện miền Bắc phát triển trong tất cả các vụ nhưng mức độ phát triển chậm do khí hậu lạnh Ở
miền Nam bệnh phát sinh mạnh trong mùa mưa khi
nhiệt độ 26-300C và độ ẩm cao, mưa gió mạnh vào
giai đoạn làm đòng trở đi
Trang 41- Bón vôi giảm được bệnh, sự nhiễm bệnh còn phụ thuộc vào giai đoạn sinh trưởng từ mạ non đến đẻ nhánh ít bệnh hơn là giai đoạn từ đẻ nhánh đến trổ bông Mức độ chống bệnh ở các giống khác nhau, giống mới thấp cây hoặc cao cây, lá to bản thời gian sinh trưởng dài hay ngắn đều do bệnh nặng.
Trang 42- Dựa vào tính kháng của giống:
5 Biện pháp phòng trừ
* Sử dụng giống kháng
* Dự báo bệnh
- Dựa vào mật độ vi khuẩn
- Dựa vào yếu tố khí hậu
* Xử lý hạt giống
* Các biện pháp hóa học
Trang 43BỆNH SỌC TRONG
1 Phân bố và tác hại
Bệnh đã được Reinking báo cáo vào năm 1918 ở
Philippines Đến năm 1957, Fang et al ở Trung Quốc
đã phân biệt bệnh này với bệnh cháy bìa lá và đặt tên bệnh là bệnh sọc trong Bệnh phổ biến ở nhiều nước châu Á nhiệt đới, ngoài Philippines và Nam Trung
Quốc, bệnh cũng có ở Thái Lan, Malaysia, Ấn Độ, Việt Nam, Cambodia và ở các nước tây châu Phi
Thiệt hại do bệnh nhiều hay ít còn tùy giống Trên
các giống nhiễm, năng suất có thể thất thu từ
8,3-17,1% trong mùa mưa và 1,5-2,5% trong mùa khô
Trọng lượng 100 hạt trên giống nhiễm có thể giảm từ 28,6-32,3%
Trang 442 Triệu chứng bệnh
Trên lá, vết bệnh ban đầu là những sọc nằm giữa các gân
lá, sọc có màu xanh úng Các sọc sau đó lớn dần ra Khi trời
ẩm, trên bề mặt vết bệnh có
những giọt vi khuẩn ứa ra và
sẽ khô lại tạo các gai vàng nhỏ trên các sọc bệnh Khi có ẩm
độ do mưa hay sương vùng bị bệnh sẽ bị biến vàng Lá bệnh sau cùng sẽ bị nâu khô đi và đổi màu xám trắng, do có
nhiều vi sinh vật hoại sinh và ở giai đoạn này rất khó phân biệt với bệnh cháy bìa lá
Trang 453 Nguyên nhân gây bệnh
Bệnh do vi khuẩn Xanthomonas campestris pv
Oryzicola., phát triển thích hợp ở 28°C Khuẩn lạc tròn, bóng, viền đều, có màu vàng nhạt, nhầy Vi khuẩn cũng có thể có nhiều dòng với độc tính gây bệnh khác nhau và một giống kháng ở nơi này lại
có thể bị nhiễm nơi khác
Trang 464 Đặc điểm phát triển bệnh
Lưu tồn: Vi khuẩn có thể lưu tồn trong xác lá cây
bệnh, trong hạt giống Nhiều loại cỏ dại thuộc
nhóm đơn tử diệp và các loại cây trồng như đậu
nành, bắp, lúa mì, lúa mạch đều có khả năng bị nhiễm với vi khuẩn này
Xâm nhiễm:Vi khuẩn nhiễm vào lá theo các khí
khổng và lúc đầu chỉ phát triển trong nhu mô giữa các gân lá Sau khi xâm nhập, vi khuẩn sẽ phát
triển ở khoảng trống bên dưới khí khổng và lan đi theo các khoảng trống giữa các tế bào nhu mô và
bị các gân lá hạn chế, nên tạo vết bệnh ở dạng sọc
Vi khuẩn cũng có thể nhiễm vào hạt, nằm bên dưới lớp vỏ trấu, từ đó nhiễm vào phôi, vào lá mầm, bẹ
và phiến lá khi hạt nảy mầm