Rầy Nâu thích tấn công cây lúa còn nhỏ, nhưng nếu mật số cao có thể gây hại mọi giai đoạn tăng trưởng của cây lúa: - Lúa đẻ nhánh: rầy chích hút nơi bẹ tạo thành những sọc màu nâu đậm d
Trang 1quán bò quanh thân cây lúa hoặc nhảy xuống nước hay nhảy lên tán lá để lẩn tránh khi bị khuấy động Rầy Nâu thích tấn công cây lúa còn nhỏ, nhưng nếu mật số cao có thể gây hại mọi giai đoạn tăng trưởng của cây lúa:
- Lúa đẻ nhánh: rầy chích hút nơi bẹ tạo thành những sọc màu nâu đậm dọc theo thân do nấm và vi khuẩn tấn công tiếp theo
- Lúa từ làm đòng đến trổ: rầy thường tập trung chích hút ở cuống đòng non
- Lúa chín: rầy tập trung lên thân ở phần non mềm
Cả thành trùng và ấu trùng rầy nâu đều chích hút cây lúa bằng cách cho vòi chích hút vào bó libe của mô hút nhựa Trong khi chích hút rầy tiết nước bọt phân hủy mô cây, tạo thành một bao chung quanh vòi chích hút, cản trở sự di chuyển nhựa nguyên và nước lên phần trên của cây lúa làm cây lúa bị khô héo, gây nên hiện tượng
"cháy rầy"
Ngoài ảnh hưởng gây hại trực tiếp như trên, Rầy Nâu còn gây hại gián tiếp cho cây lúa như:
- Mô cây tại các vết chích hút và đẻ trứng của rầy trên thân cây lúa bị hư do sự xâm nhập của một số loài nấm, vi khuẩn
- Phân rầy tiết ra có chất đường thu hút nấm đen tới đóng quanh gốc lúa, cản trở quang hợp, ảnh hưởng đến sự phát triển của cây lúa
- Rầy nâu thường truyền các bệnh lúa cỏ (grassy stunt), lùn xoắn lá (ragged stunt) cho cây lúa, trầm trọng nhất là bệnh lùn xoắn lá Triệu chứng để nhận diện
bệnh này là bụi lúa vẫn giữ màu xanh dù đã đến lúc thu hoạch, chóp lá xoắn lại, lá rách dọc theo bìa, cây đâm thêm chồi ở các đốt phía trên Nhìn chung, cả bụi lúa lùn hẳn và lá có màu xanh đậm Mức độ lùn của cây lúa còn tùy thuộc vào thời gian lúa
bị nhiễm bệnh:
* Nếu cây lúa bị nhiễm bệnh sớm, trong tháng đầu sau khi sạ, bụi lúa lùn hẳn và thất thu hoàn toàn
* Nếu cây lúa bị nhiễm bệnh muộn hơn, bụi lúa bị lùn ít và có thể trổ bông nhưng rất ít hoặc đòng lúa không thoát ra được, hạt bị lép nhiều, năng suất thất thu khoảng 70%
* Nếu ruộng lúa bị nhiễm bệnh muộn hơn nữa, từ khi lúa tròn mình trở về sau, bụi lúa sẽ không lùn và có thể trổ bông nhưng bông lúa bị lép nhiều và có thể thất thu đến 30%
6 Các yếu tố ảnh hưởng đến mật số
a/Thức ăn Đây là yếu tố quan trọng, đóng vai trò quyết định đối với việc tăng
hoặc giảm mật số rầy nâu trên đồng ruộng
* Giống lúa: Các giống lúa ngắn ngày, đáp ứng với phân đạm nhiều, lá xanh, thân mềm, năng suất cao nhưng không kháng rầy cao được trồng nhiều là nguồn thức ăn ưa thích của rầy Hơn nữa lúa mùa vẫn còn trồng tại một số địa phương nên
Trang 2đây là nơi để rầy nâu lây lan sang vụ Đông-Xuân hàng năm vì lúa mùa cao cây, rậm rạp rất thích hợp để rầy sinh sống
* Mùa vụ: Lúa cao sản được trồng liên tục 2 - 3 vụ trong một năm nên trên đồng ruộng luôn có thức ăn thích hợp cho rầy nâu
* Các điều kiện khác:
- Phân bón: Việc bón nhiều phân, nhất là đạm, làm cho cây lúa xanh tốt, nhiều dưỡng chất, thân mềm, dễ thu hút rầy tới sinh sống và phát triển mật số
- Thủy lợi: Hệ thống thủy lợi càng phát triển và hoàn chỉnh giúp cây lúa phát triển tốt, đây cũng là điều kiện thuận lợi cho rầy tới sinh sống và phát triển mật số
b/ Thời tiết:
* Nhiệt độ: Nhiệt độ thích hợp để Rầy Nâu phát triển là từ 25 - 30oC Theo thí nghiệm của Viện Nghiên Cứu Lúa Gạo Quốc Tế, Rầy Nâu cái nuôi ở nhiệt độ 20oC có thời gian đẻ trứng kéo dài 24 ngày, trong khi ở 30 oC thì thời kỳ này chỉ còn 3 ngày
* Ẩm độ và lượng mưa: Mưa lớn và liên tục trong nhiều ngày sẽ làm rầy trưởng thành bị suy yếu, rầy cám bị rửa trôi, đồng thời rầy cũng dễ bị nấm bệnh tấn công; trong khi mưa nhỏ hoặc mưa nắng xen kẻ, trời âm u rất thích hợp để rầy phát triển mật số Ẩm độ thích hợp đối với Rầy Nâu là từ 80 - 86%
* Gió: Rầy Nâu có khả năng di chuyển xa và nếu có gió rầy bốc lên theo gió và
bị cuốn đi có thể đến những nơi rất xa Các báo cáo ở Nhật và Phillipines cho thấy Rầy Nâu di chuyển rất xa, có thể đến hàng chục ngàn cây số
Yếu tố thức ăn và thời tiết có ảnh hưởng lớn đến sự hình thành số lượng rầy cái hoặc đực cũng như dạng cánh ngắn hay dài:
-Tỉ lệ rầy cái/đực:
# Ở thời kỳ đẻ nhánh đến trổ, nếu giống lúa thích hợp, thức ăn non mềm, số lượng rầy cái có thể gần bằng 4 số lượng rầy đực
# Ởí thời kỳ lúa chín, số lượng rầy cái và đực tương đương nhau
- Tỉ lệ rầy cánh ngắn/cánh dài:
# Nhiệt độ, ẩm độ thích hợp, thức ăn phong phú, loại hình cánh ngắn xuất hiện nhiều; trong số này thì rầy cái bao giờ cũng chiếm tỉ lệ cao hơn
# Nếu nhiệt độ cao, khô hạn, thức ăn không đầy đủ hay không thích hợp thì loại hình cánh dài xuất hiện nhiều
# Rầy Nâu sống trên lúa từ cuối giai đoạn đâm chồi đến ngậm sữa nếu có thức ăn đầy đủ đúng vào thời kỳ có điều kiện thời tiết thích hợp, loại hình cánh ngắn xuất hiện nhiều, có thể lên đến 100%
c/ Thiên địch Có nhiều loài côn trùng ký sinh, ăn thịt và nấm bệnh gây hại mọi
giai đoạn tăng trưởng của Rầy Nâu Các loài thiên địch quan trọng của Rầy Nâu là:
* Bọ Rùa: Có nhiều loài Bọ Rùa tấn công Rầy Nâu Mỗi ngày một con Bọ Rùa
Trang 3(cả thành trùng lẫn ấu trùng) có thể ăn từ 5 - 10 con Rầy Nâu (cả ấu trùng và thành
trùng)
* Kiến Ba Khoang: Có 2 loài Kiến Ba Khoang thường gặp trên ruộng lúa là:
Paederus fuscipes (Curtis) thuộc họ Staphylinidae và Ophionea indica (Schmidt -
Goebel) thuộc họ Carabidae Cả ấu trùng và thành trùng các loài Kiến Ba Khoang kể
trên đều ăn ấu trùng và thành trùng Rầy Nâu Một con Kiến Ba Khoang có thể ăn từ 3
- 5 Rầy Nâu mỗi ngày
* Bọ Xít Nước: Có 2 loài Bọ Xít Nước thường xuất hiện trên ruộng lúa là:
Microvelia atrolineata Bergroth (họ Veliidae) và Mesovelia sp (họ Mesoveliidae)
Cả hai loài trên thuộc bộ Cánh Nửa Cứng (Hemiptera) Ấu trùng và thành trùng các
loài Bọ Xít Nước đều chích hút chất dịch bên trong cơ thể ấu trùng và thành trùng
Rầy Nâu Một bọ xít có thể gây hại từ 4 - 7 ấu trùng và thành trùng Rầy Nâu mỗi
ngày
* Bọ Xít Mù Xanh.Tên khoa học : Cyrtorhinus lividipennis Reuter Họ: Miridae
Bộ: Cánh Nửa Cứng (Hemiptera) Ấu trùng và thành trùng Bọ Xít Mù Xanh chủ yếu
tấn công trứng của Rầy Nâu Thành trùng Bọ Xít Mù Xanh còn săn bắt cả ấu trùng và
thành trùng Rầy Nâu để ăn Mỗi ngày một con Bọ Xít Mù Xanh có thể ký sinh từ 7 -
10 trứng rầy hoặc từ 1 - 5 con rầy
* Các loài nhện: Phổ biến là loài Pardosa (Lycosa) pseudoannulata (Boesenberg-
Strand), một con nhện có thể ăn từ 5 - 15 Rầy Nâu mỗi ngày
* Các loài ký sinh: Có nhiều loài ong ký sinh đẻ trứng vào trứng, ấu trùng hoặc
thành trùng rầy Nâu Khả năng ký sinh của từng loài đều khác nhau, có loài chỉ ký
sinh từ 2 - 8 trứng rầy trong 1 ngày, có loài có thể đến 15 - 30 trứng/ngày
* Các loài vi sinh vật: Trong thiên nhiên có nhiều loài nấm, vi khuẩn hoặc vi
rút gây chết cho Rầy Nâu với tỷ lệ rất đáng kể; tùy mùa vụ, tỷ lệ này có thể lên đến
30% Ba loài nấm gây bệnh cho Rầy Nâu thường gặp trên đồng ruộng là:
Metarrhizium sp., Hirsutella sp và Beauveria bassiana
7 Biện pháp phòng trị
a/ Vệ sinh đồng ruộng:
- Phát sạch gốc rạ, vùi chôn lúa còn sót lại và đốt đồng ngay sau khi thu hoạch,
không để lúa chét phát triển
- Để ngừa bệnh lùn xoắn lá, cần nhổ bỏ các bụi lúa bị bệnh lùn xoắn lá để không
còn nguồn bệnh trên đồng ruộng
b/ Giống kháng: Nên trồng nhiều giống lúa có tính kháng trung bình trên
đồng ruộng cùng một lúc để tránh tình trạng rầy quen thức ăn và để tránh áp lực của
rầy khi rầy bộc phát
Trang 4c/ Thời vụ:
- Sạ lúa, gieo mạ, cấy lúa đúng thời vụ, gọn, tránh mùa vụ gối nhau làm lúa hiện diện liên tục trên đồng ruộng
- Nên có thời gian để đất trống để cắt đứt nguồn thức ăn của Rầy Nâu
d/ Mật độ sạ: Không nên sạ, cấy dày; mật độ sạ thích hợp là 150 kg/ha đất nếu có điều kiện sử dụng thuốc diệt cỏ hoặc tối đa là 180 kg/ha
e/ Phân bón:
- Nên bón phân với liều lượng đủ cho nhu cầu của cây lúa
- Bón đúng lúc và cân đối giữa các loại phân đạm, lân, kali Tránh bón nhiều và dư đạm, nhất là ở giai đoạn cuối của cây lúa
f/ Biện pháp sinh học:
- Cho vịt con từ 4 - 5 tuần tuổi vào ruộng lúa, khoảng 100 - 150 con/ha
- Thả cá như rô phi, mè vinh vào ruộng lúa
g/ Các biện pháp khác:
- Dùng dầu gasoil: cho dầu lên mặt nước ruộng xong dùng cây quơ lên lá lúa, rầy rớt xuống nước sẽ dính dầu bị chết Lượng dầu sử dụng là 5 - 7 lít/ha
- Bẩy đèn: Khi có Rầy Nâu cánh dài xuất hiện nên làm bẩy đèn để thu hút rầy tới Hàng đêm có thể đốt đèn từ 7 - 10 giờ tối Bẩy đèn nên làm đồng loạt
h/ Biện pháp hóa học Thăm ruộng thường xuyên để ghi nhận mật số của rầy cũng như của thành phần và số lượng thiên địch hiện diện trên đồng ruộng để quyết định việc áp dụng thuốc trừ rầy Khi cần phải áp dụng thuốc thì nên theo nguyên tắc
“bốn đúng” như sau:
* Đúng loại thuốc:: Dùìng các loại thuốc đặc trị rầy Nên sử dụng luân phiên các loại thuốc trên để tránh tình trạng rầy quen thuốc
* Đúng liều lượng:
- Pha thuốc đúng theo liều lượng và nồng độ khuyến cáo
- Nên sử dụng ít nhất là 4 bình/công ruộng
* Đúng lúc: Phun thuốc khi rầy nở rộ ở tuổi 2 - 3 (15 - 20 ngày sau khi Rầy Nâu có cánh vào đèn)
* Đúng cách: Phun thuốc vào gốc lúa là nơi rầy sinh sống
RẦY LƯNG TRẮNG
Tên khoa học: Sogatella furcifera (Horvath),
còn có tên là Sogata furcifera
Họ Rầy Thân (Delphacidae), Bộ Cánh Đều (Homoptera)
Trang 51 Phân bố
Trên thế giới, RLT xuất hiện ở các vùng trồng lúa, nhiệt đới cũng như ôn đới, như Ấn Độ, Đài Loan, đảo Fiji, Indonesia, Nhật Bản, nam Triều Tiên, Malaysia, Pakistan, Philippines, Sri Lanka, Thái Lan, Trung Quốc và Việt Nam
2 Khả năng gây hại
Ở Việt Nam RLT luôn hiện diện trên đồng ruộng và đã gây hại nặng tại một số địa phương như sau:
- Năm 1966 rầy gây thành dịch nặng ở tỉnh Thừa Thiên
- Vụ Đông - Xuân năm 1974 - 1975 Rầy Lưng Trắng xuất hiện trên đồng ruộng với mật số cao tại các tỉnh Gò Công và Tiền Giang
- Năm 1980 RLT bắt đầu gia tăng mật số ở nhiều tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long như Long An, Tiền Giang, Hậu Giang, Minh Hải và Kiên Giang
- Năm 1983 rầy gây hại trên giống lúa IR42 tại huyện Mỹî Xuyên, tỉnh Hậu Giang, nhiều nơi bị mất trắng
3 Ký chủ Ngoài cây lúa, RLT có nhóm ký chủ phụ tương đối rộng hơn Rầy Nâu như
lúa hoang, các loại cỏ lồng vực, cỏ mần trầu, cỏ đuôi phụng, cỏ chác, cỏ Panicum
pennisatum, cỏ Eleusine, Poa, Echinochloa, Digitaria
4 Đặc điểm hình thái và sinh học
Thành trùng có kích thước cơ thể dài
từ 3 - 4 mm, thân màu nâu đen Giữa ngực
trước có một vệt màu vàng lợt Cánh trong
suốt và có một đốm đen ở ngay giữa cạnh sau
của cánh trước, khi cánh xếp lại tạo thành
một đốm đen to trên lưng Thành trùng cái
vừa có dạng cánh ngắn và dạng cánh dài,
trong khi rầy đực chỉ có một dạng cánh dài
Tuổi thọ của thành trùng từ 15 - 20 ngày