1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Sâu hại cây lương thực - lúa, bắp, khoai : Sâu hại cây lúa part 10 pps

5 339 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 288,45 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tập quán sinh sống và cách gây hại Thành trùng rầy Zigzag vào ruộng rất sớm và bị thu hút nhiều bởi ánh đèn và vào đèn nhiều lúc trăng tròn.. Ấu trùng sống cả trên lá lúa, ở phần trên

Trang 1

RẦY ZIGZAG (RẦY BÔNG)

Tên khoa học: Recilia dorsalis (Motschulsky) hay : Inazuma dorsalis (Motschulsky)

Họ: Rầy lá (Cicadellidae), Bộ: Cánh Đều (Homoptera)

1 Phân bố và ký chủ

Rầy Zigzag thường xuất hiện ở các vùng trồng lúa ở đông nam Á châu như Âún Độ, Đài Loan, Malaysia, Nhật và Philippines Rầy có thể sống được

trên lúa, bắp, mía, cỏ Echinochloa

2 Đặc điểm hình thái và sinh học

Thành trùng có chiều dài cơ thể từ 3,5 - 4 mm, có hình zigzag màu nâu trên cánh Thời gian sống của thành trùng từ 10 - 15 ngày, một rầy cái có thể đẻ từ 100 đến 200 trứng

Trứng màu trắng, được đẻ thành từng hàng trong bẹ lá Thời gian ủ trứng từ 5 đến 9 ngày

Ấu trùng màu vàng nâu nhạt, dài từ 1 - 3 mm, có 5 tuổi, phát triển trong thời gian từ 16 - 18 ngày

3 Tập quán sinh sống và cách gây hại

Thành trùng rầy Zigzag vào ruộng rất sớm và bị thu hút nhiều bởi ánh đèn và vào đèn nhiều lúc trăng tròn Rầy phát triển mật số nhanh vào đầu mùa mưa Ấu trùng sống cả trên lá lúa, ở phần trên của cây lẫn các chồi ở gần gốc cây lúa

4 Biện pháp phòng trị

Để đất trống, nhổ sạch cỏ, tránh nơi rầy trú ẩn khi trên đồng ruộng không còn lúa Ở giai đoạn đầu của cây lúa chỉ áp dụng thuốc khi mật số rầy cao và thành phần cũng như số lượng thiên địch ít

C SÂU HẠI CÂY LÚA TỪ TRỔ ĐẾN CHÍN

Trang 2

BỌ XÍT HÔI

Tên khoa học: Leptocorisa acuta Thunberg

Họ Bọ Xít Mép (Alydidae), Bộ Cánh Nửa Cứng (Hemiptera)

1 Phân bố Bọ xít hôi xuất hiện ở hầu hết các quốc gia trồng lúa trên thế giới như Ấn

Độ, Bangladesh, Bhutan, Burma, Indonesia, Kampuchea, Lào, Malaysia, Nepal, Pakistan, Philippines, Thái Lan, miền nam Trung Quốc, Nhật, Triều Tiên và Việt Nam

2 Ký chủ Bọ xít hôi có rất nhiều ký chủ phụ thuộc 2 họ Hòa bản và cỏ Cú, đặc biệt

thường gặp trên cỏ lồng vực, lúa hoang, bắp, kê, lúa miến, quan trọng nhất là lúa và

cỏ Echinochloa

3 Đặc điểm hình thái và sinh học

Thành trùng có màu xanh hơi pha nâu ở trên lưng và màu vàng nâu ở mặt bụng, dài từ 14 - 18 mm, mình thon dài, chân và râu đầu rất dài, râu đầu có 4 đốt Đầu dài, 2 phiến cạnh của đầu nhô ra trước như dạng ngón tay Bọ xít đực và cái phân biệt dễ dàng nhờ con cái ở cuối đốt bụng thứ 8 (thấy thực tế là đốt bụng thứ bảy) chẻ đôi thành 2 phần, trong khi ở con đực thì cuối bụng tròn Đời sống của thành trùng có thể đến 2 - 3 tháng, trong thời gian này một thành trùng cái có khả năng đẻ từ 250 - 300 trứng trong vòng khoảng 8 tuần Trứng được đẻ thành nhiều hàng trên phiến lá, ở cả hai mặt, hoặc bẹ lá, mỗi ổ có từ 10 - 30 trứng

Trứng hình bầu dục, hơi dẹp, dài từ 1,2 - 1,4 mm, mới đẻ màu trắng đục, sắp nở màu nâu đen bóng Thời gian ủ trứng là 5 - 8 ngày Trứng được đẻ thành từng hàng song song trên phiến lá từ 10 - 20 trứng, dọc gân chính, ở mặt trên lá

Ấu trùng có 5 tuổi, màu xanh lá cây lợt, râu màu nâu đậm, mới nở dài khoảng

2 mm, tuổi lớn nhất dài từ 12 - 14 mm Thời gian phát triển của giai đoạn ấu trùng từ

15 - 22 ngày

Vòng đời bọ xít hôi từ 31 - 40 ngày

4 Tập quán sinh sống và cách gây hại

Khi trên ruộng chưa có lúa, thành trùng có thể sống trên cỏ dại và thường di chuyển vào ruộng khi lúa trổ Thành trùng hoạt động mạnh vào sáng sớm và chiều tối và không bị thu hút nhiều bởi ánh sáng đèn

Trang 3

kỳ sinh trưởng, cách chích và triệu chứng gây hại trên hạt lúa

(Theo Reissig và ctv., 1986)

Trứng nở vào buổi sáng, sau khi nở ấu trùng tập trung quanh ổ trứng, 2 - 3 giờ sau phân tán lên bông hay lá lúa non để chích hút nhựa Khi bị động, cả ấu trùng và thành trùng đều tiết ra mùi hôi; ấu trùng buông mình rơi xuống đất trong khi thành trùng bay lên rất nhanh Ấu trùng và thành trùng thường tập trung trên bông lúa, chích hút hạt lúa đang ngậm sữa bằng cách dùng vòi chọc vào giữa 2 vỏ trấu, chích hút hạt lúa, làm hạt bị lép hoặc lửng, rất dễ bể khi xay

Vết chích hút do bọ xít để lại là một đốm nâu trên hạt lúa do nấm bệnh tấn công Khi cây lúa còn non, bọ xít có thể chích hút trên lá và đọt non

5 Các yếu tố ảnh hưởng đến mật số

- Thời tiết: Nhiệt độ từ 27 - 29oC và ẩm độ từ 80 - 85% thích hợp cho bọ xít Thường trời có nhiều mây, âm u, ẩm, ít mưa, ít gió thích hợp cho bọ xít phát triển; vì vậy ở đồng bằng sông Cửu Long bọ xít gia tăng mật số vào các tháng 8, 9 trong vụ Hè - Thu, lúc lúa từ trổ đến vào chắc và tiếp tục gia tăng đến cuối vụ Đông - Xuân Lúc này ruộng không còn lúa, Bọ Xít di chuyển sang các ký chủ phụ

- Thức ăn: giống lúa có râu được ghi nhận là không kháng bọ xít

- Thiên địch Các loài ong thuộc họ Scelionidae thường ký sinh trứng bọ xít

Các loài nhện ăn thịt ấu và thành trùng Nấm Beauveria bassiana gây hại cả ấu trùng

lẫn thành trùng

6 Biện pháp phòng trị

Vệ sinh đồng ruộng, diệt cỏ, nhất là cỏ lồng vực vì hột cỏ có sẵn trong ruộng lúa và trổ trước lúa nên Bọ Xít thường bay tới đẻ trứng trên cỏ Dùng thuốc có mùi hôi xua đuổi thành trùng ra khỏi ruộng lúa

NHỆN GIÉ (BỆNH NÁM BẸ, BỆNH “CẠO GIÓ”)

Tên khoa học: Steneotarsonemus spinki (Smiley)

Họ Tarsonemidae, Bộ Acarina

1 Phân bố Loài này hiện diện ở tất cả các vùng trồng lúa trên thế giới nhưng nhiều

nhất là ở châu Á, đặc biệt được báo cáo nhiều ở Ấn Độ Ở Việt Nam, nhện gié được phát hiện đầu tiên là ở tỉnh An Giang và Đồng Tháp và một đề tài nghiên cứu đã được thực hiện để điều tra về tình hình phân bố, khả năng gây hại và đề xuất biện

Trang 4

2 Ký chủ Hiện nay chỉ ghi nhận được là cây lúa, kể cả lúa hoang hay lúa cỏ, còn

ngoài ra chưa phát hiện được loài cây nào khác bị tấn công

3 Đặc điểm hình thái và sinh học

Thành trùng có cơ thể nhỏ, trong suốt, màu nâu sáng, có 4 đôi chân, 2 đôi chân cuối của con cái thoái hoá, đôi chân cuối của con đực phát triển thành như cái kẹp để mang con cái trong lúc giao hợp Thành trùng cái sống từ 5 - 7 ngày và một con cái đẻ khoảng 50 trứng

Trứng hình tròn, màu trắng trong, có kích thước khá lớn và dễ thấy, được đẻ riêng lẻ thành từng cái ở mặt trong của bẹ lá lúa Thời gian ủ trứng từ 2 - 4 ngày

Ấu trùng có hình dạng và màu sắc tương tự như thành trùng, có 3 cặp chân Ấu trùng được phát tán từ nơi này đến nơi khác nhờ thành trùng đực Ấu trùng có 1 ngày bất động trứơc khi thành thành trùng

Steneotarsonemus spinki

(Smiley):

Thành trùng và nơi sống của nhện trong bẹ lúa (Theo Reissig và ctv.,1986)

4 Tập quán sinh sống và cách gây hại

Thành trùng thường sống ở phần trên của bẹ lúa chích hút nhựa ở mặt trong của bẹ và tạo ra vết nâu chạy dọc bên ngoài bẹ trong giống như vết cạo gió theo cách tưởng tượcg của nông dân Khi lúa trổ đòng, nhện di chuyển vào tấn công gié và khi lúa trổ nhện bò lên tấn công bông lúa non gây ra các triệu chứng như thân của bông lúa bị vặn vẹo, hạt lúa ở phía dưới của gié lúa bị lép hoặc lững và có màu nâu Khi trên ruộng không còn lúa nhện thường sống trên lúa chét

Thiên địch của nhện gié: bù lạch thuộc họ

Trang 5

5 Biện pháp phòng trị

- Nên có thời gian cách ly giữa hai vụ lúa liên tiếp, ít nhất là 20 ngày để làm giảm khả năng sống sót của chúng trên các lúa rài hay lúa tái sinh Không nên canh tách 3 vụ lúa liên tiếp trong năm mà thay một vụ lúa giữa bằng một vụ màu trồng cạn như đậu, mè, bắp

- Đốt đồng bằng cách đốt rơm rạ từ vụ trước cũng có tác dụng làm giảm được nguồn lây lan

- Điều tra phát hiện sớm khi triệu chứng nám bẹ mới chỉ là những vệt nâu nhỏ trên bẹ lá lúa còn non ở phía trong Aïp dụng thuốc trừ sâu dạng lưu dẫn và ít độc với thuỷ sinh vật, hoặc phun thuốc trừ nhện với hạt thuốc phun thật nhỏ, dùng lượng dung dịch thuốc lớn và phun vào vị trí gần bẹ lúa non

- Lưu ý là có nhiều thiên địch cùng sống chung với quần thể nhện gié trong bẹ

lá lúa Nhện nhỏ bắt mồi Amblysius sp (Tarsonomidae, Acari) và bù lạch đen lớn

thuộc họ Phlaeothripidae (Thysanoptera) thường thấy ở Tiền Giang và An Giang

ỐC BƯƠU VÀNG

Tên khoa học: Pomacea canaliculata (Lamarck)

Họ Ampullariidae, Bộ Mesogastropoda

Ốc bươu vàng (OBV) được du nhập vào Việt Nam để nuôi làm thực phẩm và xuất khẩu vào khoảng năm 1988, rồi sau đó chúng thoát ra ngoài tự nhiên và gặp điều kiện sinh sống thích hợp nên đã phát triển thành loài động vật gây hại trầm trọng cho lúa ở hầu hết các tỉnh miền Nam Chúng có hình dạng và kích thước rất

giống với ốc bươu (Pila polita) và ốc lác (Pila conica) của địa phương nên có nhiều dư

luận cho rằng OBV đã lai được với hai loại ốc này, và nơi nào mà OBV phát triển nhiều thì gần như hai loài ốc kia không còn nhiều nữa

Ngày đăng: 24/07/2014, 22:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN