Hình bên trái là trứng có nắp bên trên khác với trứng của rầy nâu không có nắp Rầy cái dùng bộ phận đẻ trứng bén nhọn ở cuối bụng rạch bẹ lá hoặc gân lá đẻ thành từng hàng trứng vào tro
Trang 1Vòng đời của Sogatella furcifera (Horvath) (Theo Reissig và ctv., 1986)
Hình bên trái là trứng có nắp bên trên (khác với trứng của rầy nâu không có nắp)
Rầy cái dùng bộ phận đẻ trứng bén nhọn ở cuối bụng rạch bẹ lá hoặc gân lá đẻ thành từng hàng trứng vào trong bẹ cây lúa, mỗi ổ từ 5 - 20 cái, một rầy cái có thể đẻ từ 300 - 350 trứng trong vòng hai tuần
Trứng tương tự trứng Rầy Nâu nhưng nấp nhọn hơn và dài hơn Trứng được đẻ vào trong bẹ lá hay gân chính của lá, gần cổ lá Thời gian ủ trứng từ 5 - 7 ngày
Ấu trùng có 5 tuổi, phát triển trong thời gian từ 15 - 20 ngày Khi mới nở màu trắng sữa, trông rất giống ấu trùng Rầy Nâu; nhưng bắt đầu sang tuổi 2 toàn thân rầy có màu xám, giữa bụng ở mặt lưng có một đốm trắng, cuối bụng nhọn hơn phần cuối bụng của Rầy Nâu
5 Tập quán sinh sống và cách gây hại
Thành trùng rất thích ánh sáng đèn, nhất là lúc trăng tròn và rầy cánh dài di chuyển đến ruộng lúa rất sớm Rầy đực thường vũ hoá trước rầy cái từ 2 - 3 ngày Rầy cái cánh ngắn thường vũ hoá trước rầy cái cánh dài Rầy cái của cảí hai dạng cánh đều bắt đầu đẻ trứng từ 3 - 4 ngày sau khi bắt cặp Các vết đẻ chung quanh ổ trứng bị
hư và ngả sang màu nâu đậm lúc trứng gần nở
Rầy non mới nở tập trung chích hút tại ổ trứng, vài ngày sau phân tán đến hầu hết các bộ phận của cây Cả thành trùng và ấu trùng đều thích chích hút cây lúa còn non từ giai đoạn mạ đến nhảy chồi, sau đó mật số giảm dần và đến lúc lúa trổ rầy
không còn gây hại nhiều cho cây lúa RLT chích hút cây lúa tạo hiện tượng “cháy rầy” tương tự như Rầy Nâu nhưng không truyền bệnh virus cho cây lúa
6 Các yếu tố ảnh hưởng đến mật số
1/ Thức ăn: Rầy thích nhất lúa từ giai đoạn mạ đến nhảy chồi tối đa
2/ Thời tiết Nhiệt độ thích hợp đối với rầy là 27 - 29 oC Các yếu tố gió, mưa ảnh hưởng đến Rầy Lưng Trắng tương tự như đối với Rầy Nâu
3/ Thiên địch: Đây là yếu tố quan trọng, góp phần làm giảm mật số RLT trên đồng ruộng rất nhiều và rầy có quần thể thiên địch giống như của Rầy Nâu
7 Biện pháp phòng trị
Đối với RLT, ở giai đoạn đầu của cây lúa, nếu mật số cao có thể sử dụng các loại thuốc cũng như các biện pháp phòng trị giống như đối với Rầy Nâu Đặc biệt nên chú ý phân biệt với rầy nâu để xác định rõ tầm quan trọng trong việc quyết định chiến lượïc phòng trị
Trang 2CÁC LOÀI RẦY XANH
Trên lúa, tại châu Á thường có 4 loài rầy xanh gây hại quan trọng là:
1 Nephotettix cinticeps (Uhler)
2 Nephotettix nigropictus (Stal) còn có tên là Nephotettix apicalis
(Motschulsky)
3 Nephotettix virescens (Distant) còn có tên là Nephotettix impicticeps
Ishiwara
4 Nephotettix malayanus Ishihara và Kawase
Cả 4 loài trên thuộc họ Rầy Lá (Cicadellidae), bộ Cánh Đều (Homoptera)
1 Phân bố Các loài rầy xanh hiện diện ở khắp các quốc gia trồng lúa trên thế giới
như Ấn Độ, Đài Loan, Nhật, MaLaysia, Philippines, Sri - Lanka, Trung Quốc, Triều Tiên và Việt Nam
2 Ký chủ Ngoài cây lúa, rầy xanh còn có thể sinh sống trên lúa mì, bắp, lúa hoang,
các loại cỏ như cỏ lồng vực, cỏ Hordenium vulgarae, Triticum aestivum, Echinochloa, Leersia, Poa
3 Đặc điểm hình thái và sinh học
Thành trùng các loài rầy xanh có hình dáng và kích thước tương đối giống nhau là hình thoi dài, màu xanh lục hơi vàng, chỉ có một dạng cánh dài, cơ thể dài từ 4,5 đến 5,5 mm Đốt chày chân sau có hai hàng gai đều đặn ở hai bên Thành trùng cái có bộ phận đẻ trứng bén nhọn hình răng cưa ở dưới bụng Thời gian sống của thành trùng từ 10 - 25 ngày Một thành trùng cái đẻ từ 20 - 200 trứng Số trứng mỗi ổ thay đổi từ 8 - 16 cái Đặc điểm hình thái của từng loài như sau:
1- N cinticeps: đỉnh đầu có một băng đen ngang, phần giáp giữa đầu và ngực
không đậm, cánh không có đốm đen
2- N nigropictus: đỉnh đầu có một băng ngang màu đen, phần giáp giữa đầu
và ngực có một vạch ngang màu đen, trên cánh có đốm đen
Trang 3Các loài rầy xanh thường gặp (đặc điểm của đầu và cánh của từng loài)
(Theo Reissig và ctv., 1986)
3- N virescens: đỉnh đầu nhọn, có đốm đen giữa cánh hay không
4- N malayanus: đỉnh đầu tròn hơn Nephotettix virescens, cuối đỉnh đầu có
băng đen, cánh không có đốm đen
Trứng các loài rầy xanh có dạng giống hình hạt gạo nhưng hơi cong, dài từ 0,9 đến 1 mm, màu trắng trong khi mới đẻ, khi sắp nở chuyển thành màu nâu và có hai điểm mắt màu đỏ Trứng được đẻ thành từng hàng từ 8 - 16 cái trên gân chính của lá hay bẹ lá Thời gian ủ trứng khoảng từ 5 - 12 ngày Trứng nở rộ nhất từ 10 giờ sáng đến 2 giờ trưa và tỉ lệ nở rất cao
Ấu trùng rầy xanh màu trắng sữa, cơ thể thon dài, có 5 tuổi, phát triển trong thời gian từ 15 - 20 ngày
4 Tập quán sinh sống
Thành trùng các loài rầy xanh bay vào ruộng lúa rất sớm, khi cây lúa còn nhỏ Thành trùng ban ngày trốn ở thân cây hay phía dưới tán lá lúa, tối bò lên phía trên lá để chích hút Khi di chuyển rầy có thể bò ngang và nhảy Thành trùng rầy xanh bị thu hút nhiều bởi ánh sáng đèn và vào đèn nhiều lúc trăng tròn và có thể di chuyển rất xa
Trang 4Vòng đời của rầy xanh
Trứng của rầy xanh đẻ ở dưới góc bẹ lá lua: nhìn từ phía ngoài và khi tách bẹ lá lúa ra (phóng đại) (Theo Reissig và ctv , 1996)
Rầy thích đẻ trứng trên lúa xanh tốt, rậm rạp, ít ánh sáng, ẩm độ cao và sau khi vũ hoá từ 3 - 7 ngày rầy cái có thể đẻ trứng Trứng thường được đẻ vào buổi sáng, chiều và tối nhưng thường nhất là từ 12 giờ đêm đến 6 giờ sáng Rầy cái dùng bộ phận đẻ trứng rạch gân chính của phiến lá hoặc bẹ lá đẻ thành từng ổ xếp hàng một đều đặn
Ấu trùng rầy xanh mới nở thường tập trung ở mặt dưới lá và có thể chích hút nhưng không hoạt động Vài ngày sau rầy bắt đầu nhảy và bò Buổi sáng ẩm độ cao, trời mát, rầy thường bò lên tán lá để sinh sống, buổi trưa trời nắng gắt rầy non thường trốn dưới tán lá Nếu bị khuấy động rầy có thể nhảy từ bụi lúa này sang bụi lúa khác hoặc nhảy xuống nước và bò lên thân cây một cách dễ dàng Ấu trùng thường lột da vào buổi sáng từ 6 - 9 giờ Lúc lột da rầy ở yên một chỗ, thân rất yếu, không hoạt động, nếu bị rơi xuống nước rầy nhảy lên thân cây lúa rất khó khăn
Khả năng chịu đựng của rầy rất kém, nếu nhịn đói 2 ngày rầy có thể chết
5 Cách gây hại
Các loài rầy xanh gây hại cây lúa bằng hai cách:
- Trực tiếp: Thành trùng và ấu trùng chích hút mọi bộ phận của cây lúa như gân, bẹ, lá và ngay cả đòng lúa còn non làm cây bị héo khô, gây hiện tượng "cháy rầy"
Trang 5- Gián tiếp:
* Vết đẻ trứng cũng như vết chích hút của rầy làm cho phần mô cây lúa tại đó bị hư
* Phân do rầy tiết ra có chứa chất đường thu hút nấm đen tới làm cản trở quang hợp, ảnh hưởng đến sự phát triển của cây lúa
* Rầy chích hút cây lúa bệnh sẽ lưu giữ mầm bệnh trong cơ thể, sau đó
truyền sang cây lúa mạnh Loài Nephotettix nigropictus (Stal) ít truyền bệnh nhất, các
loài còn lại đều truyền cho cây lúa các bệnh như tungro, lùn vàng, lá cam, vàng lụi Đây là nguyên nhân rầy xanh gây hại trầm trọng cho cây lúa hơn là sự chích hút trực tiếp
5 Các yếu tố ảnh hưởng đến mật số
1/ Thức ăn: Rầy xanh thích giống lúa có lá xanh tốt Lúa sạ thích hợp cho rầy hơn lúa cấy Rầy phát triển nhiều ở nương mạ hoặc ruộng ướt, ruộng gần làng, gần đường đi, trũng Đối với cây lúa thì rầy thích lúa ở giai đoạn tăng trưởng mạnh như làm đòng, ngậm sữa
2/ Thời tiết: Điều kiện thích hợp cho rầy phát triển là nhiệt độ tương đối cao, ẩm độ cao
3/ Thiên địch:
- Trứng rầy xanh thường bị ong thuộc các họ Trichogrammatidae, Mymaridae ký sinh và bọ xít mù xanh họ Miridae săn tìm để chích hút
- Thành trùng và ấu trùng rầy xanh thường bị gây hại bởi ong thuộc họ Pipunculidae, Dryinidae, các loài nấm bệnh, tuyến trùng, chuồn chuồn
6 Biện pháp phòng trị
a/ Biện pháp canh tác:
- Để đất nghỉ một thời gian, cắt đứt nguồn thức
ăn của rầy
- Cày vùi gốc rạ sau khi gặt
- Trồng giống lúa chín sớm
b/ Biện pháp hóa học:
- Ngâm rễ mạ trong dung dịch thuốc lưu dẫn từ
6 - 12 giờ trước khi cấy bảo vệ cây mạ khoảng 20 ngày,
trong khi nếu áp dụng thuốc lưu dẫn trong nương mạ
có thể bảo vệ cây lúa từ 30 - 40 ngày, nhất là nếu dùng
các loại thuốc chôn vùi dưới gốc lúa
- Áp dụng các loại thuốc đặc trị rầy