Khái niệm đầu tư- đầu tư phát triển Theo quan điểm kinh tế, đầu tư phát triển là làm tăng vốn cố định tham gia vào hoạt động của các doanh nghiệp trong nhiều chu kỳ kinh doanh nối tiếp.
Trang 1Chương 1 Những lý luận chung về đầu tư phát triển
1 Bản chất của đầu tư phát triển
1.1 Khái niệm đầu tư- đầu tư phát triển
Theo quan điểm kinh tế, đầu tư phát triển là làm tăng vốn cố định
tham gia vào hoạt động của các doanh nghiệp trong nhiều chu kỳ kinh doanh nối tiếp.Đó là quá trình làm tăng tài sản cố định cho sản xuất và kinh doanh.Quan điểm kinh tế xem xét đầu tư dưới dạng kết quả
Theo quan điểm tài chính, đầu tư là quá trình làm bất động một số
vốn nhằm thu lợi nhuộn trong nhiều thời kỳ nối tiếp nhau.Quan điểm này xem xét đầu tư dưới góc độ vốn và cho rằng: ngoài việc tạo ra các tài sản vật chất tham gia trực tiếp vào hoạt động của doanh nghiệp, còn bao gồm các khoản chi tiêu gián tiếp cho sản xuất-kinh doanh, như: các chi phí nghiên cứu, đào tạo nhân viên, chi phí quản lý…
Theo quan điểm kế toán, khái niệm đầu tư gắn liền với việc phân
bổ các khoản vốn đã bỏ ra vào các mục chi cố định, trong một thời gian nhất định, phục vụ cho công tác quản lý các kết quả đầu
tư Thực chất đây là sự ghi chép, hạch toán kết quả đầu tư
Trong quá trình nghiên cứu nguồn gốc vốn đầu tư, các học giả của trường đại học Harvard (Mỹ) đã phát biểu: “ đầu tư là để dành tiêu dùng hiện tại thay vì tiêu dùng lớn hơn trong tương lai”
Ngày nay, đa số các nhà kinh tế cho rằng: “Đầu tư là phương thức tạo giá trị đối với những thứ có thể đầu tư, để cho vốn thực hiện được chức năng cung cấp giá trị thặng dư cho người sở hữu nó “
Trang 2Các quan điểm trên đều đúng, song chưa đầy đủ, chưa mang tính tổng hợp mà mới chỉ dừng lại ở từng góc độ tiếp cận nghiên cứu.Rõ ràng, đầu tư là một khái niệm trừu tượng Bản chất của hoạt động đầu tư cần được phân tích một các tổng quát hơn với đặc tính của nó.
Một cách tổng quát, đầu tư phát triển ( gọi tắt là quá đầu tư) là quá trình sử dụng vốn đầu tư để tái sản xuất giản đơn hoặc tái sản xuất mở rộng các cơ sở vật chất - kỹ thuật thông qua các hoạt động xây dựng nhà cửa, cấu trúc hạ tầng, mua sắm và lắp đặt máy móc thiềt bị trên nền bệ, tiến hành các công tác xây dựng cơ bản khác và thực hiện các chi phí phục vụ cho sự huy tác dụng trong một chu kỳ hoạt động của các cơ sở vật chất - kỹ thuật này
Theo định nghĩa về đầu tư phát triển thì các hình thức mua cổ phần, gửi tiền tiết kiệm, mua hàng tích trữ đều không được xem là những hoạt động tạo vốn tư bản thật sự, vì vậy không phải là đầu
tư phát triển Trên giác độ toàn xã hội, đầu tư phát triển là sự hy sinh giá trị hiện tại gắn với việc tạo ra các tài sản ( tài chính, vật chất, trí tuệ…) mới cho nền kinh tế Các hoạt động mua bán, phân phối lại chuyển giao tài sản hiện có giữa các cá nhân tổ chức không phải là đầu tư đối với nền kinh tế
Xuất phát từ bản chất và lợi ích do đầu tư đem lại, chúng ta có thể phân biệt các loại đầu tư trong phạm vi quốc gia là: đầu tư tài chính, đầu tư thương mại , đầu tư tài sản vật chất và sức lao động ( gọi chung là đầu tư phát triển)
Trang 3là loại đầu tư trong đó người có tiền bỏ ra cho vay hoặc mua các chứng chỉ có giá để hưởng lãi suất định trước ( gửi tiền tiết kiệm , mua trái phiếu chính phủ) Hoặc lãi suất tuỳ thuộc vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty phát hành Đầu tư tài sản tài chính không tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế ( nếu không xét đến quan hệ quốc tế trên lĩnh vực này ) mà chỉ làm tăng giá trị tài sản tài chính của các tổ chức, cá nhân đầu tư Vốn bỏ ra đầu tư được lưu chuyển dễ dàng khi cần có thể rút ra một cách nhanh chóng ( rút tiết kiệm, chuyển nhượng trái phiếu, cổ phiếu cho người khác ), điều đó khuyến khích người có tiền bỏ ra đầu tư Đầu tư tài chính có tác dụng thúc đẩy tích tụ và tập trung vốn, tạo kênh huy động vốn cho tăng trưởng và phát triển kinh tế Đầu tư tài chính mang hình thức vận động là : T- T’ ( T’ > T).
b, Đầu tư thương mại:
Đầu tư thương mại là loại đầu tư trong đó người có tiền bỏ tiền ra
để mua hàng hoá và sau đó bán với giá cao hơn nhằm thu lợi nhuộn do chênh lệch giá khi mua và gía khi bán Cũng giống như đầu tư tàI chính, đầu tư thương mại cũng không tạo ra tàI sản mới cho nền kinh tế (nếu không xét đến ngoại thương ), mà chỉ làm tăng tàI sản tài chính của người đầu tư trong quá trình mua đi bán lại, chuyển giao quyền sở hữu hàng hoá giữa người bán với người đầu tư và người đầu tư với khách hàng của họ Tuy nhiên, đầu tư thương mại có tác dụng thúc đẩy quá trình lưu thông , phân phối hàng hoá do đầu tư phát triển tạo ra, từ đó thúc đẩy đầu tư phát triển, tăng thu cho ngân sách, tăng tích luỹ vốn cho phát triển sản
Trang 4xuất kinh doanh dịch vụ nói riêng và nền sản xuất xã hội nói chung Đầu tư tài chính mang hình thức vận động là:
T - H - T’ ( T’ > T)
c, Đầu tư tài sản vật chất và sức lao động ( hay đầu tư phát triển )Đầu tư phát triển là hình thức đầu tư trong đó người có tiền bỏ tiền ra để tiến hành các hoạt động nhằm tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế, làm tăng tiềm lực sản xuất kinh doanh và mọi hoạt động
xà hội khác, là điều kiện chủ yếu để tạo việc làm, nâng cao đời sống cuả mọi người dân trong xã hội Đó chính là việc bỏ tiền ra
để xây dựng , sửa chữa nhà cửa và các kết cấu hạ tầng, mua sắm trang thiết bị và lắp đặt chúng trên nền bệ và bồi dưỡng đào tạo nguồn nhân lực, thực hiện các chi phí thường xuyên gắn liền với
sự hoạt động của các tài sản này nhằm duy trì tiềm lực của các cơ
sở đang tồn tại và tạo tiềm lực mới cho nền kinh tế xã hội Loại đầu tư này gọi chung là đầu tư phát triển
Trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh, dịch vụ , đầu tư phát triển mang hình thức vận động chủ yếu là:
H
T TS T’ ( T’ > T)
DV
12 Đặc điểm của hoạt động đầu tư phát triển.
Một là: Hoạt động đầu tư phát triển đòi hỏi một số vốn lớn và
Trang 5lao động cần huy động cho một công cuộc đầu tư là rất lớn và phải sau một thời gian khá dài thực hiện đầu tư công trình mới phát huy tác dụng.
Hai là:Thời gian để tiến hành một công cuộc đầu tư cho đến khi
các thành quả của nó phát huy tác dụng thường đòi hỏi nhiều năm với nhiều biến động xảy ra
Ba là:Thời gian cần hoạt động để có thể thu hồi đủ vốn đã bỏ ra
với các cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ sản xuất kinh doanh thường đòi hỏi nhiều năm tháng và do đó không tránh khỏi sự tác động tích cực và tiêu cực của các yếu tố không ổn định về tự nhiên, xã hội, chính trị, kinh tế
Bốn là:Các thành quả của hoạt động đầu tư phát triển có giá trị sử
dụng, nhiều năm tháng, có khi hàng ngàn năm và thậm chí tồn tại vĩnh viễn như các công trình kiến trúc nổi tiếng thế giới như: Ai Cập, Nhà thờ La Mã ở Rôm, Vạn Lý Trường Thành ở Trung Quốc…điều này nói lên giá trị lớn của các thành quả đầu tư phát triển
Năm là: Các thành quả của hoạt động đầu tư là các công trình xây
dựng.Các công trình xây dựng phong phú, đa dạng về hình thức
và chủng loại, nhưng mang nặng màu sắc cá biệt (phụ thuộc vào yêu cầu sử dụng), được sản xuất đơn chiếc theo hợp đồng giao nhận thầu Công trình xây dựng cố định tại một chỗ (nơi sản xuất
ra nó đồng thời là nơi sử dụng sau này), không di chuyển đi nơi khác được Vì vậy, vị trí xây dựng là yếu tố chi phối sâu sắc nhất tới quá trình thi công xây dựng công trình (việc sản xuất xây dựng
Trang 6thuận lợi hay khó khăn, chất lượng tốt hay xấu, chi phí tăng hay giảm, thời gian thi công dài hay ngắn…đều do địa điểm quyết định là chủ yếu ).Tính chất linh động, không ổn định trong sản xuất xây dựng cũng do nguyên nhân này gây lêm làm cho năng suất lao động không cao, thời gian thi công kéo dài, chất lượng công trình không đảm bảo, tốc độ quay vòng của đồng vốn bỏ vào đầu tư xây dựng chậm, chi phí phát sinh tăng, tình trạng thất thoát, lãng phí vốn đầu tư xảy ra khá phổ biến Mặt khác, địa điểm xây dựng cũng là yếu tố quyết định rất lớn tới chi phí và chất lượng khai thác, sử dụng công trình sau này (đặc biệt với những công trình sản xuất ), như: ảnh hưởng tới chi phí vận chuyển các yếu tố đầu vào đầu ra cuả quá trình sản xuất kinh doanh, tới vấn đề an toàn lao động , vệ sinh công nghiệp và môii trường sinh thái…Từ đó ảnh hưởng đến mục tiêu lợi nhuộn của doanh nghiệp và mục tiêu phát triển kinh tế xã hội trong từng thời kỳ.
Quá trình hoạt động đầu tư diễn ra càng dài, việc bỏ vốn đầu tư càng gặp nhiều khó khăn do không dự tính hết được những biến
cố bất lợi tác động tới lợi ích của dự án.Vì vậy, thời hạn thu hồi vốn đầu tư được các nhà đầu tư đặc biệt quan tâm, nó là một trong những chỉ tiêu quan trọng của việc đánh giá hiệu quả sử dụng vốn đầu tư Để hoàn vốn nhanh, khi tiến hành đầu tư cần phải tiến hành lựa chọn hình thức và trình tự bỏ vốn thích hợp nhằm giảm thiểu thiệt hại do ứ đọng vốn đầu tư bởi các khối lượng xây dựng
Trang 7Sáu là, đầu tư là một loại hình hoạt động kinh tế gắn liền với các
yếu tố rủi ro, bất trắc Nói cách khác, rủi ro là đặc trưng cơ bản của quá trình đầu tư Thời gian đầu tư càng kéo dài, khả năng gặp rủi ro càng cao.Ngoài nhửng rủi ro thường gặp về thị trường, thu nhập và thanh toán (giá cả, thị hiếu tiêu dùng, đối thủ cạnh tranh…) các nhà đầu tư cũng phải đối mặt với nhiều rủi ro về bất
ổn chính trị-xã hội, bất ổn tài chính…Tuy nhiên, nếu có những biện pháp thích hợp nhằm giảm thiểu rui ro, nâng cao hiệu quả sử dụng đồng vốn đầu tư, sẽ kích thích các nhà đầu tư bỏ vốn vào phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Vì vậy, cần có những chính sách rõ ràng, hấp dẫn, tạo điều kiện để các hoạt động đầu tư diễn ra thuận lợi, đồng thời hạn chế tới mức thấp nhất thiệt hại do những yếu tố rủi ro mà các nhà đầu tư có thể gặp phải trong suất quá trình đầu tư của họ
Bảy là, đầu tư phát triển đòi hỏi một khối lượng vốn rất lớn để
đáp ứng các yêu cầu của quá trình tạo ra những điều kiện vật chất,
kỹ thuật cho giai đoạn khai thác, sử dụng sau này như: xây dựng
cơ sở hạ tầng, nhà xưởng, vật kiến trúc, mua sắm lắp đặt máy mọc thiết bị, tiến hành các công tác cơ bản khác…nhằm đảm bảo duy trì ổn định và phát triển xã hội
Đầu tư phát triển là một hoạt động vô cùng phức tạp và là cơ sở quan trọng cho sự phát triển kinh tế của một quốc gia vì vậy để đảm bảo cho mọi công cuộc đầu tư đem lại hiệu quả kinh tế -xã hội cao đòi hỏi phải làm tốt công tác chuẩn bị
1.3.Vai trò của đầu tư phát triển
Trang 81.3.1Đối với nền kinh tế xã hội
+Đầu tư tác động hai mặt đến sự ổn định kinh tế
Đầu tư là một yếu tố chiếm tỷ trọng lớn trong tổng cầu của toàn
bộ nền kinh tế, thường vào khoảng 24 - 28%.Đối với tổng cầu tác động của đầu tư là ngắn hạn Với tổng cung chưa kịp thay đổi, sự tăng lên của đầu tư làm cho tổng cầu tăng.Khi thành quả của đầu
tư phát huy tác dụng, các năng lực mới đi vào hoàt động thì tổng cung , đặc biệt là tổng cung dài hạn tăng len Sản lượng tăng,giá
cả giảm cho phép tăng tiêu dùng.Tiêu dùng tăng lại tiếp tục kích thích sản xuất hơn nữa Sản xuất phát triển là nguồn gốc để tăng tích luỹ, phát triển xã hội…
Sự tác động không đồng thời về mặt thời gian của đầu tư đối với tổng cầu và tổng cung của nền kinh tế làm cho mỗi sự thay đổi của đầu tư,dù là tăng hay giảm đều cùng một lúc vừa là yếu tố duy trì sự ổn định vừa là yếu tố phá vỡ sự ổn định cuả nền kinh tế của mọi quốc gia
Khi tăng đầu tư, cầu về các yếu tố đầu vào của đầu tư tăng làm cho giá cả của các hàng hoá có liên quan tăng ( giá chi phí vốn, giá công nghệ, giá lao động, vật tư ) đến một mức nào đó dẫn đến tình trạng lạm phát Lạm phát sẽ làm cho sản xuất đình trệ, đời sống người lao động gặp khó khăn, thâm hụt ngân sách và kinh tế phát triển chậm lại Mặt khác tăng đầu tue làm cho cầu của các yếu tố có liên quan tăng, sản xuất của các ngành này phát triển, thu hut thêm lao động , giảm tình trạng thất nghiệpm , giảm tệ nạn
Trang 9.+ Đầu tư tác động đến tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế.Trong quá trình phát triể kinh tế của mỗi quốc gia, vốn đầu tư là một trong những yếu tố có ý nghĩa quyết định đến tốc độ tăng trưởng kinh tế Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội thường được coi
là đầu vào, là một trong những yếu tố cùng với lao động- kỹ thuật- công nghệ tạo nên sự tăng trưởng Đầu tư đồng nghĩa với việc cung cấp nhiên liệu, động lực và các yếu tố cần thiết khác cho nền kinh tế vận hành
Theo các chuyên gia kinh tế, muốn giữ được tốc độ tăng trưởng ở mức trung bình thì tỷ lệ đâù tư phải đạt từ 15 - 25% so với GDP tuỳ thuộc vào ICOR của mỗi nứơc ICOR là chỉ tiêu tổng hợp cho phép đánh giá hiệu quả đầu tư của một nền kinh tế, được tính toán trên cơ sở so sánh đầu tư với mức tăng trưởng kinh tế hàng năm
Về mặt lý thuyết khi hệ số ICOR càng thấp, chứng tỏ nền kinh tế càng có hiệu quả, vốn đầu tư bỏ ra tuy ít nhưng tăng trưởng kinh
tế đã đạt mức cao theo mong muốn
+ Đầu tư tác động tới việc tăng cường khả năng công nghệ và khoa học cuả đất nước
Trung tâm của công nghiệp hoá , hiện đại hoá là phát triển công nghệ Đặc điểm quan trọng, cơ bản mang tính quýêt định nhất của công nghiệp là sự thay thế lao động thủ công sang lao động mang tính kỹ thuật, máy móc đẩy mạnh sự phân công lao động xã hội Đầu tư là điều kiện tiên quyết cuả sự phát triểnvà tăng cường khả năng công nghệ của nứơc ta hiện nay
Trang 10Có hai con đường cơ bản để có công nghệ là tự bỏ vốn ra đầu tư
để nghiên cứu và phát minh ra công nghệ và nhập công nghệ từ nứơc ngoài Việt Nam đang ở trong giai đoạn đầu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá Theo đánh giá của các chuyên gia công nghệ thì công nghệ của nứơc ta còn rất lạc hậu so với thế giới và chúng ta không đủ nguồn lực để tự phát minh ra các máy móc thiết bị hiện đại Dù là công nghệ tự nghiên cứu hay nhập từ nước ngoài đều cần phải có vốn đầu tư
+Đầu tư và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Kinh nghiệm của các nước trên thế giới cho thấy con đường tất yếu có thể tăng trưởng nhanh tốc độ mong muốn là tăng cường đầu tư nhằm tạo ra sự phát triển ở công nghiệp và dịch vụ Như vậy, chính đầu tư quyết định quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế các quốc gia nhằm đạt được tốc độ tăng trưởng nhanh của toàn bộ nền kinh tế
Về cơ cấu lãnh thổ, đầu tư có tác dụng giải quyết những mất cân đối về phát triển giữa các vùng lãnh thổ, đưa những vùng kém phát triển thoát khỏi tình trạng đói nghèo, phat huy tối đa những lợi thế so sánh về tài nguyên, địa thế, kinh tế, chính trị…cuả những vùng có khả năng phảt triển nhanh hơn, làm bàn đạp thúc đẩy những vùng khác cùng phát triển
1.3.2.Đối với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh
Chính đầu tư đã quyết định sự ra đời, tồn tại và phảt triển của mỗi doanh nghiệp.Thật vậy, để tạo dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật cho
Trang 11xưởng, cấu trúc hạ tầng, mua sắm lắp đặt máy móc thiết bị và thực hiện các chi phí khác gắn liền với sự hoạt động trong một chu kỳ của các cơ sở vật chất- kỹ thuật đã được tạo ra Do đó vốn đầu tư là yếu tố đầu tiên cần phải có để hình thành nên các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ, tạo điều kiện cho các cơ sở này tiến hành hoạt động cuả mình.
Trong quá trình hoạt động các cơ sở vật chất- kỹ thuật bị hao mòn hữu hình và vô hình theo thời gian và theo mức độ sử dụng Cho nên để duy trì sự hoạt động của chúng doanh nghiệp phải tiếp tục đầu tư trang bị lại, hiện đại hoá, thay thế hay sửa chữa lớn.Nhưng đối với các doanh nghiệp, để đứng vững trong nền kinh tế thị trường, không chỉ cần quan tâm đến việc thay thế, sửa chữa máy móc thiết bị mà còn phải thường xuyên đổi mới để thích ứng với điều kiện hoạt động mới của sự phát triển khoa học - kỹ thuật và nhu cầu tiêu dùng của nền sản xuất xã hội, phải mua sắm các trang thiết bị mới thay thế cho các trang thiết bị cũ đã lỗi thời, cải tiến công nghệ, tăng cường đào tạo , phát triển nguồn nhân lực để thich nghi với yêu cầu của sự phát triển, đẩy mạnh hoạt động marketing… Tất cả các hoạt động này đều đòi hỏi có sự đầu tư thoả đáng
1.4 Sự quán triệt các đặc điểm của đầu tư phát triển trong công tác chuẩn bị ,thực hiện và vận hành kết quả đầu tư
1.4.1.Sự quán triệt các đặc điểm của đầu tư phát triển trong công tác chuẩn bị đầu tư
+.Nghiên cứu cơ hội đầu tư
Trang 12Như vậy ngay trong việc nghiên cưu cơ hội đầu tư ,nhà đầu tư đầu
tư đó rất quan tõm đến nguốn lực mà 1 dự án đầu tư phải bỏ ra vỡ nều dự ỏn khụng cú khả năng thư hiện mà tiếp tục các bước nghiên cứu sau thỡ sẽ rất mất thời gian và cỏc chi phớ khỏc nha đầu tư sẽ bị thiệt hại về mặt tài chớnh Vỡ vậy ,cần thiết phải nghiờn cứu cơ hội đầu tư 1 cách đầy đủ và chỡnh xỏc những nội dung đó nờu trờn
+Nghiên cứu tiền khả thi
Nghiên cứu tiền khả thi đượcthưc hiện sau khi cơ hội đầu tư triển vọng đã được lựa chọn .Cơ hội đầu tư này thường có vốn lớn,giảipháp kĩ thuật phức tạp,thời gian thu hồi vốn lâu ,có nhiêù yếu tố bất định tác động.Bước này nhăm sàng lọc,lựa chọn để khẳng định cơ hội đầu tư có khả thi haykhông
Đối với cơ hội đầu tư có quy mô nhỏ ,không phức tạp về mặt kĩ thuật và triển vọng đem lại hiêụ quả rõ ràng thì có thể bỏ qua giai đoạn này
Nghiên cứu tiền khả thi gồm những vấn đề sau:
-các bối cảnh chung về kinh tế xã hội,pháp luật có ảnh hưởng tới quá trình thực hiện đầu tư và giai đoạn vận hành khai thác dư án.-Nghiên cứu thị trường
-Nghiên cứu kĩ thuật
-Nghiên cứu khía cạnh tổ chức và quản lí nhân sự của dự án
-Nghiên cứu khía cạnh tài chính
Được xem là bước nghiên cứu trung gian giữa nghiên cứu cơ hội
Trang 13nghiên cưú sơbộ các yếu cơ bản của dự án.Vì giại đoạn nghiên cứu khả thi rất tốn kém về tiền bạc và thời gian Trong giai đoạn nghiên cứu tiền khả thi này 1 lần nữa chủ đầu tư thận trọngtrong việc có nên đầu tư vào một dự án hay không Bởi vì hoạt dộng đầu tư phát triển là hoạt động cần nhiều vốn , vật tư , lao động.Nếu không nghiên cứu thật kĩ lưỡng các yếu tố ảnh hưởng thì khi mang những nguồn lực này đi đầu tư thì chủ đầu có thể gặp nhũng rủi ro lúc này chủ đầu tư không thể ngừng hoạt hoạt động đầu tư vì nếu ngừng lại chủ đầu tư sẽ mất tất cả nguồn lực
đã bỏ ra ,nếu chủ đầu tư tiếp tục đầu tư thì có thể dự án sẽ không
có hiệu quả ,chủ đầu tư sẽ không thu được kết quả ngư mong muốn
+Nghiên cứu khả thi
Đây là bước sàng lọc cuối cùng để lựa chọn được dự án tối ưu.ở giai đoạn này cần khẳng định cơ hội đầu tư có khả thi hay không ?có vững chắc có hiệu quả hay không ?
Nội dung nghiên cứu ở giai đoạn này tương tự giai đoạn nghiên cứu tiền khả thi nhưng khác nhau ơ mức độ chi tiết hơn ,chính xác hơn Mọi khía cạnh đều có tính đến yếu tố bất định có thể xảy ra theo từng nội dung nghiên cứu Xem xét tính vững chắc về hiệu qquả của dự án trong điều kiện có sự tác động của các yếu tố bất định và đưa ra các biện pháp tác động bảo đảm cho dự án có hiệu quả Nội dung nghiên cứu ở giai đoạn này gồm những vấn đề sau:-Nghiên cứu các căn cứ chủ yếu hình thành dự án đầu tư
-Nghiên cứu về thị trường tiêu thụ sản phẩm
Trang 14-Nghiên cứu khia cạnh kĩ thuật của dự án
-Nghiên cứu khía cạnh tổ chức và quản lí nhân sự của dự án
-Phân tích khía cạnh tài chính của dự án
-Phân tích khía cạnh kinh tế –xã hội của dự án
Những vấn đề được nghiên cứu trong giai đoan khả thi đươc tiến hành một cách tỉ mỉ và chi tiết , cac đề án kinh tế kĩ thuật ,các lịch biểu va tiến độ thực hiện dự án trước khi quyết định đầu tư chính thức Vì báo cáo nghiên cứu khả thi là khâu cuối cùng để quyết định xem có nên đầu tư hay không Do đó
,ta sẽ xem xét các vấn đề cần làm trong giai đoạn này để thâý được sự quán triệt các đặc điểm của đầu tư phát triển trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư như thế nào
(+).Nghiên cứu các căn cứ chủ yếu hình thành dự án đầu tư
+Nghiên cứu điều kiện vĩ mô ảnh hưởng đến sự hình thành và thực hiện dự án đầu tư
Nghiên cứu này nhằm đánh giá quy mô và tiềm năng của dự án trên cơ sở đánh giá tác động của môi trường vĩ mô như điều kiện vềkinh tế ,chính trị luật pháp , môi trường xã hội văn hóa , các điều kiện tư nhiên có thể ảnh hưởng ddeens triển vọng rađời và quá trình thực hiện cũng như vận hành kết quả
- Nghiên cứu môi trường kinh tế vĩ mô
Môi trường kinh tế vĩ mô ảnh hưởng đến ý tưởng đầu tư và chi phối hoạt động củ các dự án :tạo thuận lợi hoặc gây cản trợ quá trình thực hiện dự án Điều kiện kinh tế vĩ mô thuận lợi không
Trang 15trong những chừng mực nhát địnhcòn có thể làm xuất hiện ý tưởng đầu tư Vì vậy nghiên cứu ,đánh giá đièu kiện kinh tế vĩ mô
có ý nghĩa quan trọng trong quá trình lập và quản lí dự án Các nhân tố của môi trường kinh tế vĩ mô có rất nhiều nhưng khi tiến hanh đầu tư nhà đầu tư cần chú ý những vấn đề căn bản sau ;
(-) Tốc độ tăng trưởng :
Động thái và xu thế tăng trưởng kinh tế của 1 quốc gia có thể ảnh hưởng đến tình hình đầu tư và phát triển 1 nghành ,1 lĩnh vực và sau đó là kết quả và hiệu quả của 1 dự án đầu tư cụ thể Chặng hạn ,trong bối cảnh nền kinh tế có tốc độ tưng trưởng kinh tế cao
và có triển vọng duy trì trong thoi gian dài thì cơ hội đầu tư của các dự án trong lĩnh vực công nghệ mới,các dự án cung cấp hàng hóa và dịch vụ có chất lượng cao sẽ có nhiều khả năng thành công.Nhưng khi nền kinh té bước vào giai đoạn suy thoái,tốc độ tăng trưởng chậm thì đối với các dự án sản xuất cung cấp hàng hóa xa xỉ và lâu bền sẽkhó thành công hơn
(-)Lãi suất
Lãi suất ảnh hưởng đến chi phí sự dụng vốn và sau đó là hiệu quả đầu tư.Nếu lãi suất cao hơn ,sẽ có ít dự án thỏa mãn tiêu chuẩn hiệu quả và ngược lại lãi suất thấp hơn chi phí sử dụng vốn sẽ thấp hơn và có nhièu dự án thỏa mãn tiêu chuẩn hiệu quả hơn (-)Tỷ lệ lạm phát
Tỷ lệ lạm phát có ảnh hưởng lớn đênsuw ổn định môi trường kinh
tế vĩ mô và có thể ảnh hưởng đến ý định và hành động của nhà
Trang 16đầu tư.Lạm phát có thể là rủi ro tiềm tàng làm suy giảm hiệu quả đầu tư.
(-)Tình hìnhngoại thương và các chế định có liên quan như chính sách thuế ,các hàng rào phi thuê quan ,chính sách tỷ giá hối đoái nhưng vấn đề này đặc biệt quan trọng đối với dự án sản xuất hàng xuất khẩu ,nhập khẩu nguyên liệu máy móc
(-)Tình hình thâm hụt ngân sách
Thâm hụt ngân sách ở mức cao có thể dẫn đến chính phủ pphải đi vay nhiều hơn, điều này ảnh hưởng tới mức lãi suất cơ bản của nền kinh tế và sau đó là chi phí sử dụng vốn và hiệu quả đầu tư.(-)Hệ thống kinh tế và các chính sách đièu tiết vĩ mô của nhà nước
Cầnphải nghiên cứu cơ cấu tổ chức hệ thống kinh tế theo nghành, theo quan hệ sở hữu , theo vùng lãnh thổ để làm cơ sở đánh giá trnhf đọ và lợ thế so sánh của dự án đầu tử Trong một chừng mực nhất định , khía cạnh này có thể ảnh hưởng đến kết quả và hiệu quả đầu tư
+Môi trường chính trị , luật pháp
Sự ổn định về mặt chính trịcũng nhưnhững dảm bảo về mặt pháp líliên quan đến quyền sở hữu tài sản có ý nghĩa quan trọng ảnh hưởng rất lớn đến ý định và hành vi của nhà đầu tư Theo đánh giá của ngân hàng thế giói trong báo cáo phát trien thế giới 2005
có tiêu đề “Môi trường đầu tư tốt hơn cho mọi người “ thì mức độ tin tưởng của doanh nghiệp vào tương lai –kể cả độ tin cậy trong
Trang 17hay không và sẽ đầu tư như thề nào.Cũng trong báo cáo này, doah nghiệp và giới đầu tưtại các nước đang phát triẻn xếp sự bất định
về chính sách là mối quan ngại hàng đầu của họ Cùng với các nguyên nhân khác gây nên rủi ro liên quan đến chinh trị và luật pháp , sự bất định về chính sách sẽ là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp làm suy giảm động lực dầu tư Theo đánh giá viêc nâng cao khả nâng tiên liệu chính sách có thể làm tăng khả năngthu hút dầu tư mới lên 30%
+Môi trường văn hóa ,xã hội
Nội dung nghiêncứu va mức độ nghiên cứu môi trường văn hóa
xã hội ảnh hưởng đến quá trìng thực hiện và vận hành kết quả đầu
tư của từng dự án cụ thể có thể khác nhau tuy thuọc vào lĩnh vưc hoạt động , tính chất và mục tiêu của dự án cụ thể
Đối với các dự án về sản xuất nông , lâm nghiệp thì các nghiên cứu về tình trạng sử dụng đất , về tập quán canh tác , năng suất lao động , tình hình sự dụng sức lao động , tổ chức lao động , thu nhập , mức sống cần được đièu tra tỉ mỉ , vì đây không chỉ là căn
cư lựa chọn cơ hội đầutư mà còn là căn cư nhằm tìm rra các giải pháptổ chức lại sản xuất , phân bố lại đất đại sử dụng.Đối với các nghành này , thậm chí đây còn là căn cư hàng đầu quýêt định khả năng thành công của dự án
Đối với sản xuất công nghiệp thì nội dung nghien cứu về tập quán tiêu dùng, quy mô dan số , về kết cấu hạ tầng , về sức mua sản phẩm mà dự án cung cấp sẽ được chú trọng.Trong khi các dụ án
về phúc lợi xã hội thì các
Trang 18thông số như :mật dộ dan số ,chất lượng dân số , cơ cấu dân số và các chỉ tiêu đặc trưng như:số bác sĩ , số giáo viên , trên 1000 dân
số được quan tâm thích đáng
+Môi trường tự nhiên và nguồn tài nguyen tthiên nhiên có thể khai thác cho việc thực hiện dự án
Tùy từng dự án mà yếu tố môi trường tự nhiên sẽ được nghiên cứu dưói mức độ khác nhau nhằm đảm bảo sự thành công mỗi công cuộc đầu tư cụ thể Chẳng hạn đối với các dự ánvề nông, lâm nghiệp, cần phân tích chi tiết về khí hậu như diến biến mùa mưa qua cấc tháng trong năm và trong 1 số năm để từ đó phân tích quy luật pphân bố mưa và đánh giá ảnh hưởng của lượng mưa đến năng suất và hiệu quả của dự án
-Nghiên cứu thị trường
Nghiên cứu thị trường là sự nghiên cứu tỉmỉ , có khoa học xuất phát từ nghiên cứu nhu cầu của người tiêu dùng để đi đến quyết định nên sản xuất kinh doanh mặt hàng gì ,cách thưc và chất lượng như thế nào, với khối lượng bao nhiêu và lựa chọn phương thức bán hàng tiếp thị nào để tạo chỗ đứng cho sản phẩm trên thị trường và trong tương lai hay nói cách khác thị trường là 1 nhân
tố quyết định lựa chọn mục tiêu và quy mô thực hiện dự án
(-)Mục đích của nghiên cứuthị trường
Nghiên cứu thị trường sản phẩm của dự án nhằm xác định đươc thị phần của dự án trong tương lai và cách chiếm lĩnh đoạn thị trường đó Nghiên cứu thị trường bao gồm những nội dung sau :
Trang 19/Phân đoạn thị trường và xác định thị trường mục tiêu của dự án /Xác định sản phẩm
/Dự báo cung-cầu của dự án trong tương lại
/Lựa chọn các biện pháp tiếp thị và khuyến mãi cần thiết
/Phân tích khả năng cạnh tranh và chiếm lĩnh thị trường về sản phẩm của dự án
(-)Vai trò của nghiên cứu thị trường
Nghiên cứu thị trường có vai trò quan trọng và ý nghĩa hết sức to lớn.Nghiên cứu thị trường cho phép người soạn thảophân tich, đánh giá cung –cầu thị trường ở hiện tại và tương lai về sản phẩm của dự án Kết quả nghiên cứa thị trường cho phép người soạn thảo đi đến quyết định có nên đầu tư hay không và xác định quy
mô đầu tư cho thích hợp Bởi vì dự án chỉ được thực hiện hay chấp nhận khi đạt hiệu quả (hiệu quả tài chính và hiệu quả kinh tế
xã hội )
(+)Nghiên cứu khía cạnh kĩ thuật của dự án
Nghiên cứu kĩ thuật công nghệ của dự án là phân tích , lựa chọn phương pháp sản xuất, công nghệ và thiết bị, nguyên liệu ,địa điểm phù hợp với những ràng buọoc về vốn , trình độ quản lí và
kĩ thuật , quy mô thị trường ,yêu cầu xã hội vè việc làm giới hạn cho phép mức độ ô nhiễm của dự án tạo ra Đây là nội dung hết sức quan trọng vì nó quyết định sản phẩm của dự án được sản suất ra bằng cách nào ?chi phí bao nhiêu ?chất lượng ? Nói cách khác dự án sẽ được đầu tư như thế nào cho có hiệu quả nhất ,có hiệu quả nhất ,khôn ngoan nhất
Trang 20(-)Vị trí cảu nghiên cứu kĩ thuật
Nghiên cứu kĩthuật là bước nghên cứu sau nghiên cứu thị trường
và là tiền đề cho việc tiến hành nghiên cứu mặt kinh tế tài chính của dự án Không có số liệu kĩ thuật thì không thể tiến hành nghiên cứu mặt kinh tế tài chính của dự án Các dự án không khả thi về mặt kĩ thuật phải được bác bỏ để tránh những tổn thất trong quá trình thực hiện đầu tư và vận hành kết quả đầu tư sau này( chẳng hạn địa điểm thực hiện đầu tư không ổn định , hoặc gây ô nhiệm quá nặng nề cho khu vực dân cư đòi hỏi chi phí sử lí quá lớn ) Việc nghiên cứu khía cạnh kĩ thuật còn nhằm phát hiện
ra các dự án khả thi về mặt này Điều này cho pép một mặt tiết kiệm được các nguồn lực ,mặt khác tranh thủ được cơ hội để tăng thêm nguờn lực Ngươc lạ, nếu chấp nhận dự án không khả thi do nghiên cứu chưa thấu đáo hoặc do coi nhẹ yếu tố kĩ thuật, hoặc bác bỏ dự án khả thivề mặt kĩ thuật do chủ quan ,do quá thận trọng thì hoặc là gây tổn thất nguồn lực, hoặc là đã bỏ lỡ cơ hội để tăng nguồn lực
(-)Nội dung của nghiên cứu khía cạnh kĩ thuật của dự án đầu tư Tùy vào từng dự án cụ thể mà nội dung nghiên cứu kĩ thuật có mức độ phức tạp khác nhau ,không có một mô hình nghiên cứu kĩ thuật thích được đối với tất cả các loại dự án Trong đó mô hình nghien cứu kĩ thuật của dự án thuộc lĩnh vực công nghiệp bao gồm tương đối đầy đủ các vấn đề kĩ thuật cơ bản như đặc tính sản phẩm của dự án , công nghệ và trang thiết bị , nguyên liệu , địa
Trang 21nghiệp Đi vào nghiên cứu từng nội dung của nghiên cứu khía cạnh kĩ thuật của dự án ta sẽ rhấy một cách rõ nét hơn sự quán triệt các đặc điểm của đầu tư phát triển trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư
/Mô tả sản phẩm của dự án
Sau khi nghiên cứu thị trương thì người soạn thảo đã đưa sản phẩm đi vào sản xuất Việc mô tả sản phẩm sẽ cho chủ đầu tư một cái nhìn tổng quát về sản phẩmmà minh sẽ sản xuất trong tuơng lai từ đó làm tiền đề để lựa chon côn nghệ và phương pháp sản xuất ,lựa chọn nguyên vật liệu cho phù hợp Vì đầu tư phát triển
là công việc phức tap về mặt kĩ thuật cho nên khi mô tả sản phẩm chính xác ,tỉ mỉ tạo điều kiện cho hoạt động đầu tư diễn ra thuận lợi ,tiết kiệm thời gian ,nhanh chong đưa vào vận hành thu hồi vốn đầu tư
/Lựa chọn hình thức đầu tư
Để thực hiện mục tiêu đề ra dự án có thể chọn các hình thức đầu
tư sau :đầu tư theo chiều rộng hoặc đầu tư theo chiều sâu.Việc lưa chon hình thức đầu tư phù hợp là rất quan trọng đối với chủ đầu
tư vì việc chon lựa hinhthức đầu tư sai có thể làm cho dự án đầu
tư hoàn toàn thất bại Ví dụ như nếu ta tiến hành đầu tư theo chiều rộng đối với những sản phẩm đã có sẵn trên thị trường thì khi dự
án sản xuất ra sản phẩm do phải bù cho chi phí ban đầu nên giá thành có thể sẽ cao hơn so với những sản phẩm có cùng chất lượng trên thị trường ,dẫn đến không tiêu thụ được sản phẩm ,tính hiệu quả của dự án sẽ giảm Chủ đầu tư cần cnân nhắc kĩ khi lựa
Trang 22chọn hinhthức đầu tư dưa trên các căn cứ như nguồn lực hiện
có ,sảnphẩm sản xuất là sản phẩm cũhay mới ,tình hinh sản xuất
và tiêu thụ loại sản phảm đó tren thị trường
/Xác định công suất của dự án
Để có phương án công nghệ thích hợp , trước hết phải xác địnhnăng suất hoặc năng lực phục vụ của dự án Năng suất của dự
án được phản ánh thông quaôs lượng đơn vị sản phẩm hàng hóa , dịch vụ được thực hiên trong 1 đơn vị thời gian vơis những điều kiện cho phép xác định công suất của dự án là công việc quan trọng ảnh hưởng tới khâu thực hiện và vận hành kết quả của dự án , ảnh hưởng đến viẹc tính ttoán chi phí doanh thu của dự án Khi lựa chọn công suất của dự án phải dựa trên căn cứ và chỉ tiêu sau :
-Căn cứ vào nhu cầu thỉ trường hiện tại và tương lai đối với các loại sản phẩm của dự án
-Khả năng chiếm lĩng thỉtường của chủ đầu tư
-Các thông số kĩ thuật và kinh tế của máy móc thiết bị hiện có trên thị trường
-Khả năng cung cấp cac yếu tố đầu vào
-Năng lực tổ chức và điều hành sản xuất , khả năng về vốn đầu tư của chủ đầu tư
-Các chỉ tiêu hiệu quả của từng phương án công suất
(-)Lựa chọn công nghệ kĩ thuật cho dự án
Để sản xuất được một sản phẩm có nhiều công nghệ khác nhau
Trang 23công suất giá cả nhiệm vụ của người soạn thảo dứ án là phải lựa chọn được công nghệ thích hợp Khi lựa chọn công nghệ cho một
dự án đầu tư cần quán triệt được các đặc điểm của đầu tư phát triển Do hoạt động đầu tư phát triển tiến hành lâu dài nên công nghệ lựa chọn phải không quá lạc hậu , mức độ hiện đại của công nghệ cần phù hợp với điều kiện mỗi nước , phù hợp về nguyên vật liệu cần để vận hành máy móc thiết bị , nguồn nhân lực Đảm bảo
dự án đi vào hoạt động trong thời gian đủ dài để thu hồi vốn đầu
tư và có lãi
(-)Nguyên ,vật liệu đầu vào
Nguyen vật liệu đầu vào bao gồm tất cả nguyên vật liệu chính và phụ , vật liệu bao bì đóng gói Đây là một khía cạnh kĩ thuật quan trọng của dự án bởi nguyên vật liệu được ví như cơm gạo sản xuất , nó quyết định giá thành sản xuất , tính dều đặn của quá trình sabr xuất vì vậy nội dung này cần được xem xét kĩ Khi lựa chọn nguyên vật liệu cần phải có sự phù hợp thống nhất từ đầu ,đó là phù hợp với chất lượng sản phẩm của dự án , phù hợp với công nghệ sản xuất đã lựa chọn Vì hoạt động đầu tư phát triển diễn ra trong một thời gian dài nên nguồn cung cấp và khả năng cung cấp nguyên vật liệu cần đặc biệt quan tâm Nguồn cung cấp phải đảm bảo đủ sự dụngcho dự án hoạt động hết đời.Đối với những nguyên vật liệu hiếm thì cần có sự tính toán về chi phí tỉ
mỉ để đảm bảo cho dự án đi vào hoạt động có hiệu quả
(-)Cơ sở hạ tầng
Trang 24Nhu cầu năng lượng , nước , giao thông thông tin liên lạc của
dự án phải được xem xét kĩ ,nó ảnh hưởng đến chi phí đầu tư và chi phí sản xuất có hay không có các cơ sở hạ tầng này Hoạt động đầu tư là hoạt động cần nhiều vốn đầu tư do đó cơ sở hạ tầng ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định đầu tư của chủ đầu tư Đây cũng là cơ sở để nhà nước xây dựng các khu công nghiệp ,trong các khu công nghiệp này đã có đầy đủ cơ sở hạ tầng dễ dàng cho việc tiến hành hoạt động đầu tư Cơ sở hạ tầng cũng ảnh hưởng tới thời gian của một dự án đầu tư ,khi đã có sẵn những cơ
sở hạ tầng thì chủ đầu tư sẽ rút ngắn đượcthời gian thực hiện đầu
tư giảm thiểu được việc vốn nằm khê đọng trong thời gian thực hiện dự án
(-)Địa điểm thực hiện dự án
Thành quả hoạt động đầu tư phát huy tác dụng ngay tại nơi nó được xây dựng nên Địa điểm tác động lâu dài đến hoạt động và lợi ích của doanh nghiệp , đồng thời ảnh hưởng lâu dài đến khu vưc dân cư xung quanh Địa điểm là nhân tố ảnh hưởng lớn nhất đến định phí và biến phí của sản phẩm , cũng như sự tiện lợi trong
sự hoạt động của doanh nghiệp Theo kinh nghiệm chọn được một địa điểm phù hợp có thể giảm được chi phí giá thành sản phẩm xuống hơn 10% Nếu địa điểm không tốt sẽ gây bất lơi ngay từ đầu và sẽ rất khó khấc phục Do đó khi lựa chon địa điểm đầu tư cần tuẩn thủ những nguyên tắc sau:
-Lựa chọn vùng đặt địa điểm sau đó mới chọn địa điểm cụ thể
Trang 25-Xem xét các tieu chuản kĩ thuật sau đó mới xem xét các tiêu chuẩn kinh tế
-Địa điểm phải phù hợp với quy hoặch chung , bảo đảm an ninh hông gây o nhiễm môi trường
-Môi trường tự nhiên phải phù hợp với yêu cầu đặt ra của dự án -Địa điểm được chọn có diện tich đủ rộng để dễ bố trí các cơ sở sản xuất và dễ dàng mở rộng khi muốn đầu tư thêm
-Địa điểm lựa chọn phải đảm bảo được nguyên vật liẹu cần thiết cho dự án Có cơ sở hạ tầng thuận lợi Địa điểm dễ dàng trong việc hợp tác với các doanh nghiệp trong vùng ,có lợi thế cạnh tranh so với các doanh nghiệp cùng loại
(-)Giải pháp xây dựng công trình của dự án
Giải pháp xây dựng công trình nhằm tạo điều kiện thuận lợi để khi dự án đi vào thực hiện ,thi công xây dựng sẽ được tiến hành một cách thuânl lợi rút ngắn thời gian thi công xây dựng và đối phó một cách chủ động đối với các rủi ro gặp phải trong quá trình thi công xây dựng ,đồng thời đảm bảo chiphí ít nhất và hiệu quả kinh tế lớn nhất Nội dung cơ bản của phần giải pháp xây dựng bao gồm :
-Giới thiệu về tình hình xây dựng:đây là cơ sở để đưa ra giải pháp xây dựng Trong phần này cần đưa ra những nội dung sau :tình hình về điều kiện tự nhiên ,tình hình về kinh tế xã hội
- Giải pháp quy hoặch tổng mặt bằng của công trình
Đối với dự án đầu tư phát triển quy hoặch tổng mặt bằng cần quán triệt các đặc điểm của đầu tư phát triển đó là hoạt động đầu tư
Trang 26phát triển được tiến hành trong thời gian dài ,phat huy tác dụng ngay tai nơi nó được xây dựng nên do đó khi quy hoặch tổng mặt bằng cần phải đảm bảo các yêu cầu về bảo vệ môi trường , đảm bảo độ bền chắc của công trình và đáp ứng các yêu cầu về an toàn ,sử dụng hợp lí đất đai tiét kiệm đất bảo đảm nhu cầu phát triển tương lai
-Giải pháp về kiến trúc
-Giải pháp về két cấu xây dựng
-Giải pháp về công nghệ và tổ chức xây dựng
-Thống kê kết quả tính toán thành các bảng biểu
(-)Đánh giá tác động môi trường của dự án
Thành quả của hoạt động đầu tư phát triển phát huy tác dụng ngay tại nơi nó được xây duựng lên trong một thời gian dài do đó mà ảnh hưởng mãnh mẽ tới môi trường tại nơi đó Theo quy định của nhà nước thì các dự án làm ô nhiệm môi trường sẽ không đủ điều kiện để được cấp giấy phép hoạt động Vì vậy mà đánh giá tác động môi trường lá căn cứ rất quan trọng để chủ đầu tư quyết định có nên tiến hành đầu tư hay không Đánh giá tác động môi trường nhằm phát hiện tác động xấu của dự án đến môi trường , tìm ra các công cụ để quản lí ,hạn chế và ngăn ngừa chúng, đưa ra các biện pháp tích cực để bảo vệ môi trường vào các bước sớm nhất của quá trình chuẩn bị và thực hiện dự án ,trên cơ sở đó đảm bảo cho dự án phát triển gắn liền với bảo vệ môi trường
(-)Lịch trình thực hiện dự án
Trang 27Hoạt động đầu tư phát triển là hoạt động rất phúc tạp ,làm nhiều công việc Lập lịch trình của dự án đảm bảo cho dự án thực hiện dúng tiến độ Đồng thời là căn cứ quan trọng để bố trí vốn đầu tư hợp lí theo từng hạng mục công trình ,tránh tình trạng vốn nằm ứ đọng không sinh lời Lịch trình thực hiện dự án hợp lí làm tăng hiệu quả đầu tư
(+).Ngiên cứu khía cạnh tổ chức và quản lí nhân sự của dự án đầu
tư
(+) Phân tich tài chính dự án đầu tư
Phân tích dự án là một quá trình quan trọng trong quá trìng soạn thảo dự án ,nhằm đánh giá tính khả thi của dự án thông qua việc :-Xem xét nhu cầu và sự đảm bảo các nguồn lực tài chính cho việc thực hiện có hiệu quả dự án đầu tư
-Dự tính các khoản chi phí ,lợi ích và hiệu quả hoạt động của dự
án trên góc độ hạch toán kinh tế của đơn vị thực hiện dự án
-Đánh giá độ an toàn về mặt tài chính của dự án đầu tư
Phân tích tài chính của dự án có vai trò quan trọng không chỉ với chủ đầu tư mà còn cả đối với cơ quan có thẩm quỳên quyết định đầu tư của nhà nước :
-Đối với chủ đầu tư :
PTTC cung cấp thông tin cần thiết để chủ đầu tư đưa ra quyết định có nên đầu tư hay không vì mục tiêu của tổ chức và cá nhân đầu tư là việc lựa chọn đầu tư vào đâu để đem lại lợi nhuận thích đáng nhất
Trang 28-Đối với cơ quan có thẩm quyền :PTTC là một trong những căn
cứ để các cơ quan này xem xét cho phép đầu tư đối với các dự án
sử dụngnguồn vốn của nhà nước
-Đối với cơ quan tài trợ vốn cho dư án :PTTC là căn cứ quan trọng để quyết định tài trợ vốn cho dự án Dự án có thể tài trợ là
dự án phải khả thi về mặt tài chính
-PTTC còn là cơ sở để tiến hành phân tích khía cạnh kinh tế xã hội
(-)Một số vấn đề cần xem xét khi tiến hành PTTC
-Gía trị thời gian của tiền :
Tiền có giá trị về mặt thời gian do ảnh hưởng của các yếu tố sau :/Do ảnh hưởng của yếu tố lạm pphát
/Do ảnh hưởng của yếu tố ngẫu nhiên
/Do thuộc tính vận động và khả năng sinh lợi của tiền
Vì tiền có giá trị về mặt thời gian đồng thời thời gian vận hành kết quả đầu tư kéo dài do đó khi PTTC cần chuyển các khoản tiền phát sinh trong những khoản thời gian khác nhau về cùng một mặt bằng thời gian thì mới so sánh một cách chính xác các nguồn lực
đã bỏ ra và các quả thu về ,từ đó mới đánh giá chính xác dự án có hiệu quả hay không
(-)Nội dung PTTC của dự án đầu tư
-Xác định tổng mức vốn đầu tư và cơ cáu nguồn vón của dự án Tổng mức vốn đầu tư của dự án gồm toàn bộ só vốn cần thiết để thiết lập và đưa dự án vào hoạt động Nó là cơ sở để thiết lập kế
Trang 29hoặch và quản lí vốnđầu tư , xác định hiệu quả vốn đầu tư của dự
án
Quy mô tiền vốn cần thiết cho hoạt động đầu tư phát triển thường rất lớn đây là đặc điểm của hoạt động đầu tư phát triển do đó cần
co giải pháp huy động vốn hợp lí Nguồn vốn huy động cho dự án
có thể do ngân sách nbhà nước cấp phát , ngân hàng cho vay ,vốn góp cổ phần ,vốn liên doanh do các bên liên doanh góp ,vốn tự có hoặc vốn huy động từ các nguồn khác Để đảm bảo tiến độ thực hiện đầu tư của dự án ,vừa để tránh ứ đọng vốn nên các nguồn tài trợ không chỉ xem xét về mặt số lượng mà về cả thời điểm nhận được tài trợ.Các nguồn vốn dự kiến này phải đảm bảo chắc chắn Sự đảm bảo này thể hiện ở tính pháp lí và cơ sở thực tế của các nguồn vốn huy động
Sau khi xác định được nguồn tài trợ cho dự án , cần xác định cơ cấu nguồn vốn cho dự án cónghĩa là tính toán tỉ trọng vốn của từng nguồn huy động chiếm trong tổng mức đầu tư trên cơ sở đó lập tiến độ huy động vốn hàng năm đối với từng nguồn vốn cụ thể
-Lập báo cáo tài chính hàng năm
Bước này tính toán các chỉ tiêu kinh tế tài chính của dự án thông qua việc lập các báo cáo tài chính dudự tính cho từng năm hoặc từng giai đoạn của dự án Các báo cáo tài chính giúp cho chủ đầu
tư thấy được tình hình hoạt động tài chính của dự án và nó là nguồn số liệu giúp cho việc tính toán phân tích các chỉ tiêu phản ánh mặt tái chính của dự án
Trang 30-Đánh giá độ an toàn về mặt tài chính của dự án đầu tư
Đây là căn cứ quan trọng để đánh ggiá tính khả thi về tài chính của dự án Độ an toàn về mặt tài chính của dự án được thểhiện trên các mặt sau :
/An toàn về vốn
/An toàn về khả năng thanh toán nghĩa vụ tài hính ngắn hạnvàkhả năng trả nợ
/An toàn cao cho các chỉ tiêu hiệu quả tính toán
Hoạt động đầu tư phát triển đòi hỏi quy mô vốn lớn , thời kì đầu
tư kéo dài và thời gian vận hành các kết quả đầu tư cũng kéo dài nên mức độ rủi ro của hoạt động đầu tư phát triển thường cao Đặc biẹt trong hoạt động tài chính của doanh nghiệp chịu rất nhiều sự tác động của các yếu tố khách quan , rủi ro là điều chủ đầu tư không mong muốn nhưng cũng cần phải tính đến do đó cần quản trị rủi ro trong hoạt động tài chính của dự án đầu tư Để PTTC trong hoàn cảnh tác động của nhiều yếu tố khách quan ta
có thể sự dụng cácphương pháp :
-Phân tích độ nhạy
-Phương pháp toán xác suất
-Phương pháp mô phỏng của Monte Carlo
-Phân tích dự án trong trường hợp có lạm phát và trượt giá
(+)Phân tích khía cạnh kinh tế xã hội của dự án
Phân tích khía cạnh kinh tế xã hội của dự án đầu tư lá việc so sánh , đánh giá một cách có hệ thống giữa những chi phí và các
Trang 31lợi íchcủa dự án trên quan điểm của toàn bộ nền kinh tế và toàn
bộ xã hội
Phân tich KT-XH của dự an snhằm xác định sự đóng góp của dự
án vào các mục tiêu phát triển cơ bản của nền kinh tế và phúc lợi của đất nước Những lợi ích mà xã hội thu được chính là sự đáp ứng của dự án đối với viẹc thực hiện ccác mục tiêu chung của nền kinh tế và của cả xã hội Những sự đáp ứng này có thể được xem xét mang tính chất định tính như đáp ứng các mục tiêu phát triển kinh tế , phục vụ việc thực hiện chủ trương chính sách của nhà nước ,góp phần chống ô nhiễm môi trường hoặc đo lường bằng các tínhtoán định tính như tăng thu cho ngân sách nhà nước ,mức gia tăng số người có việc làm
Chi phí mà xã hội phải gánh chịu khi một công cuộc đầu tư đượcthực hiện bao gồm toàn bộ các tài nguyên thiên nhiên , của cải vật chất , sức lao độngmà xã hội dành cho đầu tư trong tương lai không xa
Phân tích KT-XH không chỉ có ý nghĩađối với nhà đầu tư mà còn
có ý nghĩa với cơ quan có thẩm quyền nhà nước và các địmh chế tài chính
-Đối với chủ đầu tư :đây là căn cứ chủ yếu để nhà đầu tư thuyết phục các cơ quan có thẩm quyền chấp thuận dự án và thuyết phục các định chế tài chính tài trợ vốn
-Đối với nhà nước :đây là căn cứ quan trọng để cho phép đầu tư -Đối với các định chế tài chính :căn cứ chủ yếu để quyết định tài trợ vốn hay không
Trang 321.4.2.Sự quán triệt các đặc điểm của đầu tư phát triển trong công tác thực hiện dự án đầu tư
1.4.3.Sự quán triệt các đặc điểm của đầu tư phát triển trong công tác vận hành kết quả
Vận hành kết quả đầu tư nhằm đạt được các mục tiêu của dự
án Nếu các kết quả do giai đoạn thực hiện đầu tư tạo ra đảm bảo tính đồng bộ , giá thành tốt chất lượng tốt ,đúng tiến độ , tại địa điểm thích hợp ,với quy mô tối ưu thì hiệu quả hoạt động của các kết quả này và mục tiêu của dự án chỉ còn phụ thuộc trực tiếp vào quá trình tỏ chức quản lí hoạt động các kết quả đầu tư Trong giai đoạn vận hành kết quả đầu tư lại được chia ra ba giai đoạn trong từng giai đoạn nhỏ này đã quán triệt các đặc điểm của hoạt động đầu tư phát triển
Trang 33Chương 2: Thực trạng đầu tư phát triển ở Việt Nam và sự quán triệt các đặc điểm của đầu tư phát triển vào quản lý
hoạt động đầu tư
2.1 Thực trạng đầu tư phát triển ở Việt Nam giai đoạn 1990- 2003:
Hiện nay đầu tư phát triển ở Việt Nam đang gia tăng với tốc độ tăng trưởng gấp đôi tốc độ tăng trưởng nền kinh tế, ở mức trên 18% và chiếm tới 41% GDP Làn sóng đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đang tiếp tục gia tăng mạnh mẽ, năm 2006 đạt 10,2 tỷ USD
và có khả năng đạt trên 14 ty USD năm 2007
Mức tăng trưởng kinh tế bền vững, trung bình 7% mỗi năm, đã đưa Việt Nam lên vị trí thứ hai sau Trung Quốc trong danh sách các nước có tốc độ phát triển kinh tế nhanh nhất Châu Á Gần đây, việc được kết nạp là thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) càng tạo cho Việt Nam một sức hấp dẫn đặc biệt đối với các nhà đầu tư nước ngoài
2.1.1 Tỷ lệ đầu tư tăng lên nhưng tốc độ phát triển kinh tế tổng thể không có sự thay đổi căn bản:
Thứ nhất là sự tăng lên của hệ số ICOR:
BẢNG 1: Đầu tư, tăng trưởng và ICOR giai đoạn 1990- 2003:Năm Vốn đầu tư
Giá trị (Tỷ
Tốc độ tăng (%)
Trang 35biến động ở một vài năm, nhưng nếu như năm 1990 hệ số ICOR chỉ là 3,55 thì đến 2003 đã lên đến 5,0 Hệ số ICOR không phải là chỉ tiêu duy nhất để đánh giá hiệu quả đầu tư, nhưng đây là chỉ tiêu quan trọng hàng đầu, từ những thất thoát lãng phí trong đầu
tư xây dựng, tình trạng tham ô diễn ra một cách khá phổ biến ở Việt Nam trong thời gian qua đã cho thấy sự gia tăng của hệ số ICOR là hoàn toàn có cơ sở
Thứ hai là vấn đề đầu tư tài sản vốn vật chất:
Giai đoạn cuối thập kỷ 70 đầu thập kỷ 80 (thế kỷ XX), Việt Nam thực hiện chính sách ưu tiên đầu tư quá mức vào ngành công nghiệp nặng thông qua khu vực các doanh nghiệp nhà nước hoạt động kém hiệu quả, trong khi không đi kèm với việc đầu tư vào vốn con người, công nghệ…, dẫn đến sự mất cân đối nghiêm trọng về phân bổ và sử dụng nguồn lực Từ giữa thập kỷ 80, chính sách đầu tư vào tài sản vốn vật chất đã có một sự thay đổi đáng
kể, theo đó giảm sự can thệp trực tiếp của nhà nước vào các hoạt động sản xuất kinh doanh cụ thể Nhà nước chỉ quan tâm ở tầm vĩ
mô, tạo cơ chế huy động và khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư, thực hiện cổ phần hoá và đổi mới doanh nghiệp, tiếp tục thực hiện chính sách mở cửa, hội nhập kinh tế Tuy nhiên thực tế là trong giai đoạn này, đầu tư của Nhà nước vào khu vực kinh tế quốc doanh vẫn tiếp tục giữ tỷ trọng cao và tăng lên khá nhiều so với các thành phần kinh tế khác, mặc dù xu hướng đóng góp của khu vực này cho GDP lại có xu hướng giảm đi, điền đó dược thể hiện ở bảng dưới đây:
Trang 36BẢNG 2: Cơ cấu đầu tư theo thành phần kinh tế và tỷ trọng của
từng khu vực trong GDP (giá hiện hành)
Cơ cấu đầu tư (%) Cơ cấu GDP (%)
1995 2000 2003 1995 2000 2003Khu vực nhà
tư 0,52% và năm 2003 là 0,55% Vì vậy trong thời gian tới chúng
ta cần xem xét lại cơ cấu đầu tư một cách hợp lý hơn theo hướng tập trung vào những ngành mang lại hiêụ quả kinh tế cao, những khu vực có khả năng đóng góp cho GDP nhiều nhất, tránh tập trung quá nhiều vào khu vực nhà nước kém hiệu quả
………
Trang 37Năm Giá trị tài sản cố định
mới tăng theo giá thực tế
Vốn đầu tư theo giá thực tế
2.1.3 Tình trạng thất thoat lãng phí trong đầu tư xây dựng
2.1.4 Tình trạng đáng báo động về nợ đọng trong xây dựng
2.1.5 Dự án kém hiệu quả chủ yếu sử dụng nguồn vốn ngân sách
2.2 Sự quán triệt những đặc điểm đầu tư phát triển vào công tác chuẩn bị đầu tư
2.2.1 Đặc điểm nguồn lực đầu tư phát triển và sự chuẩn bị + Tình hình nguồn lực cho đầu tư phát triển
Trong tình hình nhu cầu vốn đầu tư rất lớn, khả năng huy động có hạn quan điểm bố trí được xác định là: Kế hoạch bố trí phải bám sát những định hướng, chủ trương của Chính phủ, nghị quyết của tỉnh đồng thời phải đạt mục tiêu khai thác và phát huy được các
Trang 38nguồn vốn khác Ưu tiên cho dự án đầu tư chuyển tiếp, nợ cũ, kiên quyết cắt giảm các hạng mục, công trình chưa thực sự cần thiết, khắc phục tình trạng đầu tư phân tán, kéo dài Theo đó vốn đầu tư tập trung ưu tiên cho dự án ODA, dự án bộ ngành theo cam kết, dự án chuyển tiếp và thanh toán nợ Giành một phần cho quy hoạch, chuẩn bị đầu tư, chỉ bố trí mới các công trình cấp bách, đủ thủ tục và có khả năng cân đối Vốn hỗ trợ có mục tiêu từ Trung ương được thực hiện theo đúng dự kiến, định hướng, ưu tiên cho công trình trọng điểm Vốn đầu tư cho chương trình mục tiêu bố trí đúng mục tiêu, nhiệm vụ, mức vốn từng dự án Vốn vay, vốn tín dụng tập trung vào các công trình hạ tầng, dự án trọng điểm Vốn thu từ nguồn thu sử dụng đất giao cho chính quyền các cấp quản lý.
Để khai thác và quản lý tốt nguồn vốn đầu tư phát triển năm 2006 cần tập trung thực hiện tốt một số giải pháp: Đổi mới tích cực và triển khai đồng bộ các giải pháp về huy động nguồn lực cho đầu
tư phát triển Trong đó tập trung nâng cao trách nhiệm các cấp, các ngành để tranh thủ sự ủng hộ từ bộ, ngành Đồng thời làm tốt công tác chuẩn bị đầu tư, nhất là các dự án trong chương trình mục tiêu Chỉ đạo tốt công tác quy hoạch, cải cách thủ tục hành chính, rà soát bổ sung các quy định tạo cơ chế thuận lợi
Xác định các trọng điểm đầu tư, nhất quán trong bố trí vốn để tập trung và phát huy được nguồn lực tạo ra động lực mới như các dự án: Nông nghiệp, giao thông, thủy lợi hạ tầng kinh tế, xã hội, các
Trang 39thời tăng cường công tác quản lý Nhà nước về xây dựng cơ bản, đầu tư hạn chế thống nhất những sai sót, mâu thuẫn trong tiến trình phát triển Vấn đề huy động vốn trở nên rất cần thiết
Căn cứ vào tình hình thực hiện 9 tháng đầu năm và với việc quyết tâm cao của các ngành, các cấp trong việc tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện thuận lợi để huy động mọi nguồn vốn trong và ngoài nước cho đầu tư phát triển, tăng cường các biện pháp đẩy mạnh thi công và giải ngân nguồn vốn nhà nước, ước tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội năm 2007 đạt 464,5 nghìn tỷ đồng, bằng 40,6% GDP, tăng 2,8% so với kế hoạch và tăng 16,4% so với ước thực hiện năm 2006 Ước thực hiện từng nguồn vốn cụ thể như sau:
1 Vốn đầu tư thuộc ngân sách nhà nước (NSNN) ước đạt khoảng 101,5 nghìn tỷ đồng, tăng 2,1% so với kế hoạch năm và tăng 17,5% so với năm trước Tiến độ thực hiện và giải ngân nguồn vốn đầu tư phát triển từ NSNN trong 9 tháng không đạt kế hoạch năm và thấp hơn tiến độ giải ngân của năm trước Ước đến hết tháng 9 vốn đầu tư thực hiện từ nguồn NSNN đạt khoảng 64,9 nghìn tỷ đồng, bằng 65,3% kế hoạch (thấp hơn cùng kỳ năm 2006
Trang 40ngân được 833,4 tỷ đồng, bằng 28% kế hoạch năm; Bộ Quốc phòng giải ngân 122,4 tỷ đồng, bằng 21,4% kế hoạch năm; các địa phương giải ngân được 1.703,1 tỷ đồng, bằng 27,3% kế hoạch năm Với việc tăng cường các biện pháp nhằm đẩy nhanh tiến độ đầu tư và giải ngân trong các tháng cuối năm, ước thực hiện nguồn vốn trái phiếu Chính phủ cả năm sẽ đạt khoảng 16 nghìn tỷ đồng.
3 Nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước ước thực hiện khoảng 40 nghìn tỷ đồng, đạt kế hoạch đề ra, trong đó nguồn vốn vay trong nước của tín dụng đầu tư nhà nước đạt 85% kế hoạch, nguồn vốn ODA cho vay lại đạt 90% kế hoạch Nguồn vốn tín dụng chính sách vượt 40% kế hoạch đề ra
4 Nguồn vốn ODA: ước cả năm tổng giá trị vốn ODA ký kết đạt khoảng 3.157 triệu USD, tăng 12% so với ước thực hiện năm
2006, trong đó vốn vay 2.705 triệu USD, vốn viện trợ không hoàn lại 452 triệu USD Tổng mức ODA giải ngân ước đạt khoảng 2.000 triệu USD, tăng 5,2% so với kế hoạch đề ra; trong đó vốn vay khoảng 1.800 triệu USD, vốn viện trợ không hoàn lại khoảng
200 triệu USD Nguồn vốn ODA được sử dụng một phần đưa vào cân đối ngân sách nhà nước, một phần để cho vay lại theo các chương trình, dự án tín dụng đầu tư
5 Nguồn vốn đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước ước đạt 64 nghìn tỷ đồng, tăng 3,8% so với kế hoạch
6 Nguồn vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài: số vốn đăng ký cấp