-Vai trò của vốn đầu tư với sự phát triển kinh tế: Vốn là yếu tố quan trọng nhất trong qúa trình phát triển kinh tế của mỗi quốcgia.ở Việt nam, để đảm bảo cho nền kinh tế tiếp tục tăng t
Trang 1LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN NGUỒN VỐN ĐẦU
TƯ VÀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN VÀ SỬ DỤNG VỐN CHO ĐẦU TƯ
PHÁT TRIỂN CỦA NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN.
I ĐẦU TƯ VÀ NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN:
I 1.Khái niệm, đặc điểm và vai trò của đầu tư phát triển.
I 1.1 Khái niệm đầu tư
Thuật ngữ “đầu tư” được hiểu với nghĩa chung nhất là sự bỏ ra, sự hy sinhnhững cái gì đó ở hiện tại ( tiền, của cải vật chất, sức lao động, trí tuệ ) nhằm đạtđược các kết quả có lợi cho người đầu tư trong tương lai Đó có thể là các mục tiêukinh tế , xã hội, văn hoá,chính trị
Đầu tư trên giác độ nền kinh tế là sự hy sinh giá trị hiện tại gắn với việc tạo
ra tài sản mới cho nền kinh tế Các hoạt động mua bán, phân phối lại, chuyển giaotài sản hiện có giữa các cá nhân, các tổ chức, không phải là đầu tư với nền kinh tế
Còn trong hoạt động kinh doanh, đầu tư là sự bỏ vốn( tiền, nhân lực, nguyênliệu, công nghệ vào các hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ nhằm mục đích thulợi nhuận Đây được xem như bản chất cơ bản của các hoạt động đầu tư Kinhdoanh cần nghiên cứu đầy đủ các khía cạnh khác nhau của hoạt động đầu tư như :bản chất, đặc điểm, phân loại, vai trò để có những đối sách thích hợp đối với cácđối tác đầu tư khác nhau
Mặt khác, có thể hiểu đầu tư là việc đưa ra một khối lượng lớn vốn nhấtđịnh vào qúa trình hoạt động kinh tế nhằm thu được một khối lượng lớn hơn saumột khoảng thời gian nhất định
Khái niệm đầu tư còn được hiểu theo quan niệm tái sản xuất mở rộng, đầu tưthực tế là quá trình chuyển hoá vốn thành các yếu tố cần thiết cho việc tạo ra nănglực tái sản xuất, tạo ra những yếu tố cơ bản, tiên quyết cho quá trình sản xuất Đây
là hoạt động mang tính chất thường xuyên của nền kinh tế
Với đầu tư phát triển thì đây là hình thức đầu tư quan trọng và chủ yếu Loạiđầu tư này, người có tiền bỏ tiền ra để xây dựng , sửa chữa nhà cửa và kết cấu hạtầng, mua sắm trang thiết bị và lắp đặt chúng trên nền bệ, bồi dưỡng nguồn nhânlực thực hiện chi phí thường xuyên gắn liền với sự hoạt động của các tài sản này.Hoạt động đầu tư này nhằm nâng cao năng lực hiện có của các cơ sở sản xuất hiện
có cả về số lượng và chất lượng, tạo ra năng lực sản xuất mới Đây là hình thức táisản xuất mở rộng Hình thức đầu tư này tạo việc làm mới, sản phẩm mới và thúcđẩy nền kinh tế phát triển
Trang 2Tóm lại, hoạt động đầu tư vốn là quá trình huy động và sử dụng mọi nguồnvốn phục vụ sản xuất kinh doanh nhằm tạo ra sản phẩm cung cấp dich vụ đáp ứngnhu cầu cá nhân và xã hội.
I 1.2 Đặc điểm của đầu tư phát triển:
Đầu tư phát triển có những điểm khác biệt so với đầu tư tài chính vàđầu tư thương mại ở các điểm sau:
Thứ nhất : Tiền, vật tư, lao động cần cho công cuộc đầu tư là rất lớn.
Thứ hai : Thời gian cần thiết cho công cuộc đầu tư dài, do đó vốn ( tiền, vật
tư, lao động ) đầu tư phải nằm khê đọng, không tham gia vào quá trình chu chuyểnkinh tế và vì vậy, trong suốt thời gian này không sinh lời cho nền kinh tế
Thứ ba : Thời gian vận hành các kết quả đầu tư cho đến khi thu hồi đủ lượng
vốn đã bỏ ra hoặc thanh lý tài sản do vốn tạo ra cần và có thể thường là vài năm, cókhi hàng chục năm và có nhiều trường hợp là hoạt động vĩnh viễn
Thứ tư : Nếu thành quả đầu tư là các công trình xây dựng thì nó sẽ được sử
dụng ngay tại nơi nó tạo ra
Thứ năm : Các kết quả là hiệu quả hoạt động đầu tư chịu ảnh hưởng của
nhiều yếu tố không ổn định trong tự nhiên, trong hoạt động kinh tế xã hội như cácđiều kiện địa lý, khí hậu, chính sách, nghiên cứu thị trường và quan hệ quốc tế Vìvậy, độ mạo hiểm của loại hình này cao
Để đảm bảo cho mọi công cuộc đầu tư phát triển đạt hiệu quả kinh tế xã hộicao, trước khi tiến hành đầu tư phải làm tốt công tác chuẩn bị Sự chuẩn bị này thểhiện trong việc soạn thảo các dự án đầu tư và mọi công cuộc đầu tư phải tiến hànhtheo dự án
I.1.3 Vai trò của đầu tư phát triển:
Lý thuyết kế hoạch hoá tập trung và lý thuyết kinh tế thị trường đều coi đầu
tư phát triển là nhân tố quan trọng để phát triển kinh tế, là chìa khoá của sự tăngtrưởng Nó thể hiện các mặt sau:
Trên giác độ nền kinh tế:
Trang 3-Đầu tư vừa có tác động đến tổng cung, vừa tác động đến tổng cầu : Đầu tư
là yếu tố chiếm tỷ trong lớn trong tổng cầu của toàn bộ nền kinh tế Đối với tổngcầu tác động của đầu tư là ngắn hạn, tổng cung chưa kịp thay đổi, sự tăng lên củađầu tư làm cho tổng cầu tăng Khi thành quả của đầu tư phát huy tác dụng, cácnăng lực mới đi vào hoạt động thì tổng cung dài hạn tăng lên
-Đầu tư có tác động hai mặt đến sự ổn định và phát triển kinh tế : Sự tácđộng không đồng thời về mặt thời gian của đầu tư đối với tổng cung và tổng cầucủa nền kinh tế làm cho mỗi sự thay đổi của đầu tư, dù là tăng hay giảm đều cùngmột lúc vừa là yếu duy trì sự ổn định vừa là yếu tố phá vỡ sự ổn định của nền kinh
tế của mỗi quốc gia Chẳng hạn, khi đầu tư tăng, cần các yếu tố của đầu tư tănglàm cho giá trị các hàng hoá liên quan tăng đến mức độ nào đó dẫn đến tình trạnglạm phát Đến lượt mình lạm phát làm cho sản xuất đình trệ, đời sống người laođộng khó khăn Mặt khác, tăng đầu tư làm cho cầu các yếu tố có liên quan tăng,sản xuất của các ngành này phát triển, thu hút thêm lao động, giảm tệ nạn xã hội.Còn khi giảm đầu tư thì tác động ngược lại với hai chiều hướng trên
Đầu tư tác động đến tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế Kết quả nghiêncứu của các nhà kinh tế cho thấy muốn giữ tốc độ tăng trưởng trung bình thì tỷ lệđầu tư phải đạt được tù 15-25% so với GDP tuỳ thuộc vào ICOR của mỗi nước
ICOR = Vốn đầu tư / Mức tăng GDP
Từ đó suy ra :
Mức tăng GDP = Vốn đầu tư / ICOR
Nếu ICOR không đổi, mức tăng GDP hoàn toàn phụ thuộc vào vốn đầu tư
- Đầu tư tác động đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế:
Con đường tất yếu có thể tăng trưởng nhanh tốc độ mong muốn là tăngcường đầu tư nhằm tạo ra sự phát triển nhanh ở khu vực công nghiệp và dịch vụ
Vì các ngành nông, lâm, ngư nghiệp bị hạn chế về đất đai và khả năng sinh học
Do đó chính sách đầu tư quyết định quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở cácquốc gia nhằm đạt được tốc độ tăng trưởng nhanh của toàn bộ nền kinh tế
Bên cạnh đó đầu tư có tác dụng giải quyết những mất cân đối về phát triểngiữa các vùng, lãnh thổ, đưa những vùng kém phát triển thoát khỏi tình trạng đóinghèo, phát huy tối đa lợi thế so sánh về tài nguyên, kinh tế, chính trị
Trang 4-Đầu tư tác động tới việc tăng cường khả năng khoa học và công nghệ đấtnước: Công nghệ là trung tâm của công nghiệp hoá và hiện đại hóa đất nước.Đầu
tư là điều kiện tiên quyết của sự phát triển và tăng cường công nghệ của nước tahiện nay
Như chúng ta đã biết có 2 con đường cơ bản để công nghệ là nghiên cứu phátminh ra công nghệ và nhập công nghệ từ nước ngoài Dù tự nghiên cứu hay nhập
từ nước ngoài vào cần phải có tiền, cần phải có vốn đầu tư
Đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh và dịch vụ:
Đầu tư quyết định sự ra đời, tồn tại và phát triển của mỗi cơ sở Chẳng hạn,
để tạo dựng cơ sở vật chất- kỹ thuật cho sự ra đời của bất kỳ cơ sở nào đều cầnphải xây dựng nhà xưởng, cấu trúc hạ tầng, mua sắm và lắp đặt thiết bị và thựchiện chi phí khác với sự hoạt động trong một chu kỳ của các cơ sở vật chất, kỹthuật vừa tạo ra Các hoạt động này chính là hoạt động đầu tư đối với các cơ sở sảnxuất, kinh doanh dịch vụ đang tồn tại : sau một thời gian hoạt động, các cơ sở vậtchất kỹ thuật của các cơ sở này hao mòn hư hỏng Để duy trì hoặc đổi mới cũng cónghĩa là đầu tư
Như vậy, đầu tư có vai trò rất lớn không chỉ với nền kinh tế mà còn đối vớicác cơ sở sản xuất kinh doanh và dịch vụ Tuy nhiên, khi đầu tư ta thường đặt câuhỏi : vốn đầu tư lấy từ đâu ra và sử dụng vốn như thế nào ? Có rất nhiều cách vàcon đường để có vốn và sử dụng vốn em xin đề cập ở phần sau
I 2.Vốn và nguồn vốn đầu tư:
I 2.1.Nguồn vốn đầu tư:
Trong nền kinh tế mở nguồn vốn đầu tư được hình thành từ 2 nguồn đó lànguồn vốn trong nước và nguồn vốn nước ngoài
-Nguồn vốn trong nước: đó là nguồn vốn được hình thành và huy động trongnước nó bao gồm 3 bộ phận: tiết kiệm của nhà nước (Sg), tiết kiệm của các tổ chứcdoanh nghiệp ( Sc), tiết kiệm của khu vực dân cư ( Sh)
+ Nguồn vốn từ ngân sách nhà nước: Đó là phần còn lại của thu ngân sáchsau khi đã trừ đi các khoản chi thường xuyên của nhà nước:
Sg= T - G
Trang 5Trong đó: Sg là tiết kiệm của nhà nước.
T là tổng thu ngân sách nhà nước
G là các khoản chi thường xuyên của nhà nước
+Nguồn vốn từ các tổ chức doanh nghiệp: Đó là nguồn vốn được tạo ra từcác tổ chức doanh nghiệp trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh Nó baogồm lợi nhuận để lại doanh nghiệp ( lợi nhuận sau khi đã trừ đi các khoản thuế vàcác khoản phải nộp khác ) và quỹ khấu hao của doanh nghiệp
Sc = Dp + Pr
Trong đó : Sc : là tiết kiệm của các doanh nghiệp
Dp: là quỹ khấu hao của doanh nghiệp
Pr : là lợi nhuận để lại doanh nghiệp
+Nguồn vốn từ khu vực dân cư : Đó là nguồn vốn được hình thành từ thunhập sau thuế của dân cư sau khi đã trừ đi các khoản chi phí thường xuyên
Sh = DI - C
Trong đó : Sh : là tiết kiệm từ khu vực dân cư
DI : là thu nhập sau thuế của khu vực dân cư
C : là chi thường xuyên của khu vực dân cư
-Nguồn vốn nước ngoài: Bao gồm 2 hình thức chính là vốn đầu tư trực tiếp
và vốn đầu tư gián tiếp
+ Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI): Đó là nguồn vốn đầu tư của các tổchức, cá nhân nước ngoài vào Việt Nam trong đó người bỏ vốn và người sử dụngvốn là một chủ thể Hình thức này hình thành các doanh nghiệp liên doanh, doanhnghiêp 100% vốn nước ngoài và hợp đồng hợp tác kinh doanh
+ Vốn đầu tư gián tiếp (Ví dụ: ODA): Đó là nguồn viện trợ phát triển chínhthức, là nguồn tài chính mang tính chất hỗ trợ phát triển kinh tế xã hội của cácnước hiện nay các tổ chức tài chính quốc tế cho các nước thuộc thế giới thứ ba.Trong đó các tổ chức, các quốc gia bỏ vốn không trực tiếp sử dụng vốn đầu tư Cáchình thức của đầu tư gián tiếp nước ngoài là viện trợ kinh tế không hoàn lại và việntrợ có hoàn lại với lãi suất ưu đãi
Trang 6I.2.2 Vốn và vai trò của vốn đối với sự phát triển kinh tế
-Vốn đầu tư:
Vốn đầu tư là tiền tích luỹ của xã hội, của các cơ sở sản xuất kinh doanh,dịch vụ, là tiền tiết kiệm của dân và huy động từ các nguồn khác được đưa vào sửdụng trong quá trình tái sản xuất xã hội nhằm duy trì tiềm lực sẵn có và tạo tiềmlực mới cho nền sản xuất xã hội Vốn đầu tư tạo điều kiện cho sự bắt đầu hoạtđộng của các cơ sở vật chất kỹ thuật mới hoặc được đổi mới, nâng cấp hiện đại hoáđồng thời tạo ra các tài sản lưu động lần đầu tiên gắn liền với các tài sản cố địnhmới tạo ra hoặc được đổi mới
-Vai trò của vốn đầu tư với sự phát triển kinh tế:
Vốn là yếu tố quan trọng nhất trong qúa trình phát triển kinh tế của mỗi quốcgia.ở Việt nam, để đảm bảo cho nền kinh tế tiếp tục tăng trưởng và phát triển đạt 7-8% trong gia đoạn tới, vốn đầu tư là một trong các yếu tố hết sức quan trọng Theotính toán của các nhà kinh tế , nguồn vốn cho đầu tư phát triển gia đoạn 2002-2006phải đạt ít nhất 58-59 tỷ USD : trong đó nguồn vốn trong nước chiếm tỷ trọng60%, cơ cấu nguồn vốn cho đầu tư phát triển bao gồm vốn đầu tư từ ngân sách,vốn đầu tư tín dụng, vốn đầu tư của doanh nghiệp, vốn đầu tư dân cư và vốn đầu tưnước ngoài Dự tính trong vòng 5 năm tới vốn của các doanh nghiệp tự đầu tưchiếm tỷ trọng 14-15% tổng số vốn đầu tư xã hội, chủ yếu đầu tư vào đổi mới côngnghệ để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Ngoài ra theo tính toán của cácnhà kinh tế trong giai đoạn 2002-2006, đòi hỏi tỷ lệ tiết kiệm nội địa phải đạt đến25-26% GDP, trong đó tiết kiệm từ khu vực ngân sách khoảng 6%, tiết kiệm từkhu vực dân cư và doanh nghiệp là 19-20% GDP.Nguồn vốn huy động từ tiết kiệmtrong nước để cho đầu tư đạt 75% tổng tiết kiệm Theo kinh nghiệm phát triển củathế giới, các nước có đạt mức tăng trưởng kinh tế cao đều có mức huy động vốnđầu tư so với GDP khá lớn Nói cách khác là đều có tỷ lệ đầu tư phát triển trongGDP lớn hơn những nước có tốc độ phát triển bình thường và chậm biểu sau đây
có thể minh hoạ ý kiến trên
Quốc gia Thời kỳ Mức tăng
GDP bìnhquân năm %
Tỷ lệ đầu tưphát triển/GDP%
Số năm tăngtốc độ cao
Trang 7Nguồn : Thời báo kinh tế Việt nam số 12 năm 1999.
Theo lý thuyết tăng trưởng kinh tế của Harrod và Domar thì sự phụ thuộcgiữa mức tăng trưởng kinh tế và tỷ lệ vốn đầu tư trên GDP và hiệu quả và sử dụngvốn được hiểu theo công thức sau:
G x K= I/K trong đó:
G - Tốc độ tăng trưởng / năm
K - Hệ số ICOR ( vốn tăng thêm, hiệu quả vốn đầu tư)
I/K - Tỷ lệ vốn đầu tư trên GDP
Như vậy, vốn đầu tư là một nhân tố quan trọng thiết yếu trong quá trình pháttriển kinh tế và nhiệm vụ đặt ra đối với các ngân hàng, các tổ chức tín dụng là làmthế nào để có thể huy động và sử dụng có hiệu quả được các nguồn vốn, phục vụcho đầu tư phát triển kinh tế Đối với Ngân hàng đầu tư nhiệm vụ này càng quantrọng và khó khăn hơn vì hoạt động chính của Ngân hàng là huy động và cho vaycác nguồn trung, dài hạn là chủ yếu trong khi ngân hàng vẫn phải đảm bảo giữahiệu quả hoạt động kinh doanh của mình và hoạt động đầu tư phát triển
I 3.Vai trò hoạt động huy động vốn và sử dụng vốn cho phát triển kinh tế.
I.3.1 Vai trò của hoạt động huy động vốn:
Như trên đã phân tích vốn đầu tư có ý nghĩa to lớn đối với nền kinh tế,không những nó tạo ra của cải vật chất cho nền kinh tế, mà còn đưa đất nước pháttriển theo hướng ổn định, cân đối giữa các ngành nghề Do vậy để phát triển kinh
tế ta phải có vốn đầu tư, vậy vốn đầu tư lấy ở đâu và lấy bằng cách nào ? Câu hỏinày đã được trả lời một phần ở trên ( bao gồm vốn đầu tư trong nước và vốn đầu tưnước ngoài ) Muốn có nguồn vốn này, ta phải huy động Mặt khác mỗi doanhnghiệp, tổ chức kinh tế khi thành lập, không phải lúc nào cũng có đủ vốn để hoạtđộng sản xuất kinh doanh Trong những tình huống thiếu vốn thì họ phải huy động
Trang 8để đáp ứng nhu cầu này Tuy nhiên, để có thể huy động được số vốn mong muốnthì các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế phải có các chiến lược huy động phù hợp vớitừng tình huống cụ thể, từng thời kỳ
Tóm lại hoạt động huy động vốn là rất quan trọng cho sự phát triển kinh tếnói chung và đầu tư phát triển nói riêng, nó đẩy nhanh quá trình Công nghiệp hoá -Hiện đại hoá đất nước, phát triển kinh tế hoà nhập với kinh tế thế giới
Trong hoạt động huy động này thì hệ thống ngân hàng đóng góp một phầnquan trọng đặc biệt là ngân hàng đầu tư và phát triển ngân hàng với nhiệm vụ chủyếu là cung cấp vốn cho vay đầu tư phát triển
I.3.2 Vai trò của hoạt động sử dụng vốn:
Như đã trình bày ở trên vốn và hoạt động huy động vốn cho sự nghiệp pháttriển kinh tế xã hội đất nước là rất quan trọng Nhưng một phần cũng không kémphần quan trọng đó là hoạt động sử dụng vốn huy động này sao cho có hiệu quả đểđảm đem lại lợi ích và hiệu quả cao nhất Nếu chúng ta sử dụng vốn hiệu quả thìcác nguồn lực dành cho đầu tư xẽ phát huy được tối đa lợi ích cho chủ đầu tư nóiriêng và nền kinh tế nói chung và ngược lại nếu chúng ta sử dụng vốn đầu tưkhông hiệu quả thì các kết quả của những đồng vốn mà chúng ta bỏ ra sẽ khôngphát huy được tối đa cho nền kinh tế Để làm được vấn này đòi hỏi chúng ta phảilàm tốt các chiến lược sử dụng vốn cho đầu tư như: quản lý đầu tư, kế hoạch hoáđầu tư, cũng như các công tác thẩm định dự án và quản lý dự án đầu tư
II NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ TRONG QUÁ TRÌNH HUY ĐỘNG VỐN VÀ SỬ DỤNG CHO VỐN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN.
II.1.Vai trò và định hướng của ngân hàng đầu tư trong công cuộc đầu tư phát triển kinh tế
II.1.1.Vai trò của ngân hàng đầu tư.
Ngân hàng đầu tư là một thể chế tài chính nhằm thu hút, tập trung các nguồnvốn trung và dài hạn phục vụ cho đầu tư phát triển nền kinh tế Mục tiêu của ngânhàng không phải chỉ là lợi nhuận mà chủ yếu vẫn là :” hiệu quả chung của toàn bộnền kinh tế “ Từ những đặc điểm này ngân hàng đầu tư ở Việt Nam và các ngânhàng đầu tư ở các nước khác có một số nét khác biệt cơ bản như: Trong hoạt độnghuy động vốn: Được nhận, vay từ các nguồn tài trợ của chính phủ, các tổ chức
Trang 9nước ngoài, ngân hàng ĐTTW Hoạt động sử dụng vốn cũng chủ yếu tập trungvào các dự án kinh tế, kỹ thuật có tầm chiến lược, then chốt của quốc gia, chủ yếu
là các lĩnh vực mà tư nhân không đủ sức đầu tư như: Giao thông, năng lượng, xâydựng thông tin
Vấn đề đặt ra là ngân hàng đầu tư có nên thụ động dựa vào các nguồn tài trợ
từ ngân sách và các tổ chức quốc tế hay chủ động mở rộng hoạt động tìm cách tạonguồn vốn cho mình Ngoài ra, trong hoạt động sủ dụng vốn ngân hàng đầu tư cầnphải chủ động nâng cao nghiệp vụ, sức cạnh tranh và uy tín để thực hiện chiến lượcphục vụ cho đầu tư phát triển nền kinh tế ngày càng hiệu quả hơn
II.1.2 Định hướng của ngân hàng đầu tư:
- Đối với việc huy động vốn cho đầu tư phát triển:
Ngân hàng đầu tư và phát triển chủ trương coi khâu tạo vốn là khâu mởđường, tạo ra một nguồn vốn vững chắc cả VNĐ và ngoại tệ, Đa dạng các hìnhthức, biện pháp, các kênh huy động từ mọi nguồn và xác định “ nguồn vốn trongnước là quyết định, nguồn vốn nước ngoài là quan trọng ” Với định hướng khôngngừng tăng tỷ trọng nguồn vốn trung và dài hạn để phục vụ đầu tư phát triển.Thông qua huy động dưới các hình thức phát hành trái phiếu, kỳ phiếu và tiền tiếtkiệm có thời hạn dài Mặt khác, tiếp tục tăng trưởng nguồn tiền gửi có kỳ hạn củacác tổ chức kinh tế, khai thác triệt để nguồn vốn nước ngoài thông qua chức năngngân hàng đại lý, Ngân hàng phục vụ để tiếp nhận ngày càng nhiều vốn từ cácnguồn tài trợ, cộng tác đầu tư từ các quỹ, các tổ chức quốc tế, các chính phủ và phichính phủ cho đầu tư phát triển
- Đối với hoạt động sử dụng vốn cho đầu tư phát triển:
Ngân hàng đầu tư phát triển coi việc phục vụ trong sự nghiệp đầu tư pháttriển là một định hướng chính thể hiện vai trò ngân hàng đầu tư của mình Tronghoạt động cho vay đầu tư ngân hàng chú trọng quá trình tìm chọn dự án hiệu quả,thực hiện tốt công tác thẩm định và quản lý dự án sau khi cho vay cũng như thựchiện công tác tư vấn đầu tư giúp các chủ đầu tư hoạt động tốt nhằm đảm bảonguồn vốn cho vay của Ngân hàng
Như vậy định hướng nhìn chung rất rõ ràng, cái khó hiện nay là các bước đi
và giải pháp cụ thể Để có được những giải pháp hữu hiệu cần phải có sự nghiên
Trang 10cứu hệ thống hoá có lý luận cũng như kinh nghiệm thực tiễn qua nhiều năm đểphục vụ tốt hơn cho đầu tư phát triển.
II.2 Hoạt động huy động vốn cho đầu tư phát triển ở Ngân hàng đầu tư phát triển
II 2.1.Sự cần thiết của công tác huy động vốn ở Ngân hàng đầu tư & phát triển.
Huy động vốn là một trong những hoạt động chủ chốt của Ngân hàng đảmbảo cho ngân hàng có thể tồn tại và thực hiện chức năng của một trung gian tàichính trong nền kinh tế, bởi chức năng hoạt động chủ yếu của ngân hàng là “ đivay để cho vay ” Như chúng ta đã biết, một ngân hàng muốn thành lập phải có đủvốn ban đầu nhất định do ngân hàng nhà nước quy định Nhưng số vốn tự có chiếmkhoảng 10% vốn hoạt động Do vậy huy động vốn là điều kiện cần cho hoạt độngcủa ngân hàng
Đối với ngân hàng đầu tư kể từ khi thực hiện chức năng như một ngân hàngthương mại hoạt động chủ yếu phục vụ trong lĩnh vực đầu tư phát triển thì để cóvốn cho vay các dự án đầu tư đòi hỏi Ngân hàng phải huy động được vốn Phầnvốn tự có của Ngân hàng chỉ đảm bảo năng lực pháp lý và năng lực thị trường chohoạt động huy động vốn của Ngân hàng Pháp lệnh ngân hàng quy định một ngânhàng được phép huy động một lượng vốn tối đa bằng 20 lần vốn tự có của mình
II.2.2 Các nguồn vốn ở Ngân hàng đầu tư & phát triển cho đầu tư phát triển :
Nguồn vốn huy động của NH bao gồm : Ngắn hạn, trung hạn và dàihạn Ngân hàng để có thể đóng góp vào hoạt động đầu tư phát triển thì lượng vốn
huy động đòi hỏi phải là vốn trung và dài hạn (hay có thời hạn trên 1 năm) Nguồn
vốn ngắn hạn chỉ có vai trò là vốn lưu động đảm bảo các khoản cho vay ngắn hạn,
và chỉ được dùng một phần nhỏ để cho vay dài hạn khi lượng vốn ngắn hạn đủ lớn
và ổn định
Theo quan điểm của các nhà kinh tế thì các nguồn vốn sau đây ở Ngân hàng mới có đóng góp chính vào đầu tư phát triển.
+Các khoản tiền tiết kiệm và tiền gửi có thời hạn đến 1 năm
+Các kỳ phiếu, trái phiếu có thời hạn dài, phát hành trên thị trường trongnước và quốc tế
Trang 11+Các khoản đi vay trung hạn và dài hạn của các tổ chức tín dụng trong nước
và nước ngoài
+Các khoản thu nợ của các dự án cũ
+ Một phần huy động ngắn hạn có thể cho vay trung và dài hạn
+ Các khoản thu nhập dành cho cho vay đầu tư phát triển khác(lợi nhuận,tiềnthu bảo lãnh )
Như vậy trên cơ sở các nguồn vốn này để Ngân hàng đầu tư có thể huy độngđược vốn cho đầu tư phát triển ta phải có được những giải pháp để phát triển cácnguồn vốn này
II.2.3.Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả công tác huy động vốn cho đầu tư phát triển của Ngân hàng.
Nhằm đánh giá hiệu quả huy động vốn cho đầu tư phát triển( chủ yếu là vốntrung và dài hạn ) tại Ngân hàng thì cần có các chỉ tiêu Sau đây là các chỉ tiêuchính phản ánh hiệu quả công tác này:
Chỉ tiêu 1 Khối lượng vốn lớn, tăng trưởng ổn định:
-Vốn huy động cho đầu tư ( chủ yếu là trung và dài hạn ) có sự tăng trưởng
ổn định về mặt số lượng Nguồn vốn tăng đều qua các năm ( vốn năm sau lớn hơnvốn năm trước ), thoả mãn nhu cầu tín dụng đầu tư
-Tuy nhiên, nguồn vốn này phải ổn định về mặt thời gian ( đảm bảo tránh rủi
ro về mặt thời gian ) Nếu ngân hàng huy động được một lượng vốn lớn cho đầu tưnhưng không ổn định thường xuyên, khối lượng vốn dành cho đầu tư, cho vay sẽkhông lớn nhi đó ngân hàng thường xuyên đối đầu với vấn đề thanh toán, ảnhhưởng đến hoạt động của ngân hàng Do đó, hiệu quả huy động vốn sẽ không cao
Chỉ tiêu 2 Chi phí huy động:
Chi phí huy động được đánh giá qua chỉ tiêu lãi suất huy động bình quân, lãisuất huy động từng nguồn, chênh lệch lãi suất đầu vào đầu ra, đồng thời cũngthông qua chi phí phát hành Nếu ngân hàng giảm chi phí huy động bằng cách hạlãi suất huy động thì việc huy động vốn sẽ rất khó khăn Do vậy khó có thể thựchiện Ngược lại nếu lãi suất huy động càng cao thì lãi suất cho vay càng cao gây
Trang 12khó khăn cho người vay tiền và có thể gây ứ đọng vốn cho Ngân hàng, khi đó ngânhàng cần phải trả lãi cho người gửi tiền trong khi khoản vốn ứ đọng không sinh lãi.
Vì vậy ngoài việc tăng giảm lãi suất để có lợi cho người gửi tiền và ngườivay tiền có thể giảm chi phí khác như : Chi phí in ấn phát hành, chi phí quảng cáo,tiếp thị, trả lương cán bộ huy động, thuê địa điểm huy động
Chỉ tiêu 3 : Khả năng đáp ứng nhu cầu hoạt động kinh doanh của Ngân hàng.
Chỉ tiêu này được đánh giá qua việc so sánh nguồn vốn huy động và nhu cầuvay vốn vốn đầu tư phát triển ( chủ yếu là vốn trung dài hạn ) và các nhu cầu khác
Từ đó xác định nguồn vốn có thể huy động được là bao nhiêu và nguồn vốn cầnphải huy động thêm là bao nhiêu để đáp ứng nhu cầu đó
Để đạt đựơc mục tiêu này, Ngân hàng phải đặt ra cơ cấu huy động vốn trung
và dài hạn một cách hợp lý ( kỳ phiếu bao nhiêu ? trái phiếu lấy bao nhiêu? )
Để đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn đồng thời cũng đảm bảo cho ngân hànghuy động được nguồn vốn này với chi phí thấp nhất có thể
* Chỉ tiêu khác : Ngoài các chỉ tiêu trên hiệu quả công tác huy động vốn chođầu tư phát triển ở NH đầu tư còn được phản ánh qua các chỉ tiêu sau:
-Thời gian, mệnh giá huy động vốn cho đầu tư hợp lý
-Mức độ thuận tiện cho khách hàng : Đánh giá qua các thủ tục nhận tiền vàlàm các dịch vụ kèm theo
-Thời gian hoàn thành số lượng vốn so với quy định
-Số vốn bị rút trước hạn, hệ số sử dụng vốn
Tóm lại, khi đánh giá hiệu quả công tác huy động vốn nói chung và huyđộng vốn cho đầu tư phát triển nói riêng thì một chỉ tiêu không thể phản ánh đầy
đủ mà phải kết hợp nhiều chỉ tiêu đánh giá đúng hiệu quả sử dụng vốn
II.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến tình hình huy động vốn.
II.2.4.1.Nhân tố chủ quan:
- Các hình thức huy động vốn: Đây là một trong những nhân tố quantrọng ảnh hưởng đến tình hình huy động vốn của ngân hàng Hình thức huy động