1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN TRONG HỆ THỐNG CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

38 441 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lý luận chung về đầu tư phát triển trong hệ thống các doanh nghiệp nhà nước
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại tiểu luận
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 355 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn kinh tế: LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN TRONG HỆ THỐNG CÁC DNNN

Trang 1

CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN TRONG HỆ

THỐNG CÁC DNNN

I.Lý luận chung về đầu tư,đầu tư phát triển

1.Khái quát về đầu tư,đầu tư phát triển

1.1.Đầu tư

Đầu tư nói chung là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành cáchoạt động nào đó nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơncác nguồn lực đã bỏ ra để đạt được kết quả đó Như vậy, mục tiêu của mọicông cuộc đầu tư là đạt được các kết quả lớn hơn so với những hy sinh vềnguồn lực mà người đầu tư phải gánh chịu khi tiến hành đầu tư

Nguồn lực phải hy sinh có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức laođộng và trí tuệ

Đầu tư được chia làm ba loại chính:

- Đầu tư phát triển

- Đầu tư tài chính

- Đầu tư thương mại

Ba loại đầu tư này luôn luôn tồn tại và có quan hệ tương hỗ nhau Đầu tưphát triển để tăng tích lũy,phát triển đầu tư tài chính và đầu tư thươngmại.Ngược lại đầu tư tài chính và đầu tư thương mại hỗ trợ và tạo điều kiện

để tăng cường đầu tư phát triển

1.2.Đầu tư phát triển

1.2.1 Khái niệm đầu tư phát triển

Đầu tư phát triển là bộ phận của đầu tư, là việc chi dùng vốn ở hiện tại đểtiến hành các hoạt động nhằm làm tăng thêm hoặc tạo ra những tài sản vậtchất (nhà xưởng thiết bị…) và tài sản trí tuệ (tri thức kỹ năng…), gia tăngnăng lực sản xuất, tạo nên việc làm và vì mục tiêu phát triển

Đầu tư phát triển cần rất nhiều loại nguồn lực Theo nghĩa hẹp, nguồn lựccho đầu tư phát triển là tiền vốn Theo nghĩa rộng, nguồn lực cho đầu tư pháttriển là tiền vốn, đất đai, lao động, máy móc thiết bị, tài nguyên Như vậy,khi xem xét lựa chọn dự án đầu tư hay đánh giá hiệu quả hoạt động của đầu

tư phát triển cần tính đúng tính đủ các nguồn lực tham gia

Đối tượng của đầu tư phát triển là tập hợp các yếu tố được chủ đầu tư bỏvốn thực hiện nhằm đạt được nhưng mục tiêu nhất định Trên quan điểmphân công lao động xã hội, có hai nhóm đối tượng đầu tư chính đó là đầu tưtheo ngành và đầu tư theo lãnh thổ Trên góc độ tính chất và mục đích đầu

tư, đối tượng đầu tư chia làm hai nhóm chính: công trình vì mục tiêu lợinhuận và công trình phi lợi nhuận Trên góc độ xem xét mức độ quan trọng,đối tượng đầu tư chia thành: loại được khuyến khích đầu tư, loại không đượckhuyến khích đầu tư và loại bị cấm đầu tư Từ góc độ tài sản, đối tượng đầu

Trang 2

tư chia thành: những tài sản vật chất (tài sản thực) và tài sản vô hình Tài sảnvật chất, ở đây, là những tài sản cố định được dùng cho sản xuất kinh doanhcủa doanh nghiệp và nền kinh tế và tài sản lưu động Tài sản vô hình phátminh sáng chế, uy tín, thương hiệu…

Các kết quả đạt được của đầu tư góp phần làm tăng thêm năng lực sảnxuất của xã hội Hiệu quả của đầu tư phát triển phản ánh quan hệ so sánhgiữa kết quả xa hội thu được với chi phí chi ra để đạt được kết quả đó Kếtquả và hiệu quả đầu tư phát triển cần được xem xét cả phương diện chủ đầu

tư và xã hội, đảm bảo kết hợp hài hòa giữa các loại lợi ích, phát huy vai tròchủ động sáng tạo của chủ đầu tư, vai trò quản lý giám sát của cơ quan quản

lý nhà nước các cấp Thực tế, có những khoản đầu tư tuy không trực tiếp tạo

ra tài sản cố định và tài sản lưu động cho hoạt động sản xuất kinh doanh nhưđầu tư cho y tế, giáo dục, xóa đói giảm nghèo…nhưng lại rát quan trọng đểnâng cao chất lượng cuộc sống và vì mục tiêu phát triển, do đó, cũng đượcxem là đầu tư phát triển

1.2.2 Mục đích và kết quả chung

Mục đích của đầu tư phát triển là vì sự phát triển bền vững vì lợi ích quốcgia, cộng đồng và nhà đầu tư Trong đó, đầu tư trong nước nhằm thúc đẩytăng trưởng kinh tế, tăng thu nhập quốc dân, góp phần giải quyết việc làm vànâng cao đời sống các thành viên trong xã hội

1.2.3 Đặc điểm đầu tư phát triển

- Quy mô tiền vốn, vật tư, lao động cần thiết cho đầu tư phát triển thườngrất lớn Vốn đầu tư lớn nằm khê đọng lâu trong suốt quá trình đầu tư Quy

mô vốn đầu tư lớn đòi hỏi phải có giải pháp tạo vốn và huy động vốn hợp lý,xây dựng các chính sách, quy hoạch, kế hoạch đầu tư đúng đắn, quản lý chặtchẽ tổng vốn đầu tư, bố trí vốn theo tiến độ đầu tư, thực hiện đầu tư trọngtâm trọng điểm

- Thời kỳ đầu tư kéo dài Thời kỳ đầu tư tính từ khi khởi công xây dựng

dự án đến khi dự án hoàn thành và đi vào hoạt động Nhiều công trình đầu tưphát triển kéo dài hàng chục năm Do vốn lớn lại khê đọng trong suốt quátrình thực hiện đầu tư nên để nâng cao hiệu quả sử vốn đầu tư, cần tiến hànhphân kỳ đầu tư, bố trí vốn và các nguồn lực tập trung hoàn thành dứt điểmtừng hạng mục công trình, quản lý chặt chẽ tiến độ kế hoạch đầu tư, khắcphục tình trạng thiếu vốn, nợ đọng vốn đầu tư xây dựng cơ bản

- Thời gian vận hành các kết quả đầu tư kéo dài Thời gian vận hành cáckết quả đầu tư tính từ khi đưa công trình vào hoạt động cho đến khi hết thờihạn sử dụng và đào thải công trình Nhiều thành quả đầu tư phát huy tácdụng lâu dài, có thể tồn tại vĩnh viễn như Kim Tự Tháp Ai Cập, Nhà Thờ La

Mã ở Rôm, Vạn Lý Trường Thành ở Trung Quốc … Trong suốt quá trình

Trang 3

vận hành, các thành quả đầu tư chịu tác động của hai mặt, cả tích cực và tiêucực, của nhiều yếu tố tự nhiên, chính trị, xã hội…Để thích ứng với đặc điểmnày công tác quản lý hoạt động đầu tư cần chú ý một số nội dung sau:

+ Thứ nhất, cần xây dựng cơ chế và phương pháp dự báo khoa học ở cảcấp vĩ mô và vi mô về nhu cầu thị trường đối với sản phẩm đầu tư trongtương lai, dự kiến khả năng cung từng năm và cả vòng đời dự án

+ Thứ hai, quản lý tốt quá trình vận hành, nhanh chóng dưa các thành quảđầu tư vào sử dụng, hoạt động tối đa công suất để nhanh chóng thu hồi vốn,tránh hao mòn vô hình

+ Thứ ba, chú ý đúng mức đến yếu tố độ trễ thời gian trong đầu tư Đầu

tư trong năm nhưng thành quả đầu tư chưa chắc đã phát huy tác dụng ngaytrong năm đó mà từ những năm sau và kéo dài trong nhiều năm Đây là đặcđiểm rất riêng của lĩnh vực đầu tư, ảnh hưởng lớn đến công tác quản lý đầutư

- Các thành quả trong hoạt động đầu tư phát triển mà là các công trìnhxây dựng thường phát huy tác dụng ở ngay tại nơi nó được tạo dựng nên, do

đó quá trình thực hiện đầu tư cũng như thời kỳ vận hành các kết quả đầu tưchịu ảnh hưởng lớn của các nhân tố tự nhiên, kinh tế, xã hội vùng Khôngthể dễ dàng di chuyển các công trình đã đầu tư từ nơi này sang nơi khác, nêncông tác quản lý đầu tư phát triển cần quán triệt đặc điểm này trên một sốnội dung sau :

+ Trước tiên cần phải có chủ trương đầu tư và quyết định đầu tư đúngđắn Đầu tư cái gì, công suất bao nhiêu là hợp lý… cần phải được nghiêncứu kĩ lưỡng, dựa trên những căn cứ khoa học Thí dụ, công suất xây dựngnhà máy sàng tuyển than ở khu vục có mỏ than ( do đó, quy mô vốn đầu tư)phụ thuộc rất nhiều vào trữ lượng than của mỏ Nếu trữ lượng của mỏ ít thìquy mô nhà máy sàng tuyển không nên lớn để đảm bảo cho nhà máy hàngnăm hoạt động hết công suất với số năm tồn tại của nhà máy theo dự kiếntrong dự án

+ Lựa chọn địa điểm đầu tư hợp lý Để lựa chọn địa điểm đầu tư đúngcần phải dựa trên những căn cứ khoa học, dựa vào một hệ thống các chỉ tiêukinh tế, chính trị, xã hội, môi trường, văn hóa…Cần xây dựng một bộ tiêuchí khác nhau và nhiều phương án so sánh để lựa chọn vùng lãnh thổ và địađiểm đầu tư cụ thể hợp lý nhất, sao cho khai thác được tối đa lợi thế vùng vàkhông gian đầu tư cụ thể, tao điều kiện nâng cao hiệu quả sủ dụng vốn đầutư

+ Đầu tư phát triển có độ rủi ro cao Do quy mô vốn đầu tư lớn, thời kỳđầu tư kéo dài và thời gian vận hành các kết quả đầu tư cũng kéo dài…nênmức độ rủi ro của hoạt động đầu tư phát triển thường cao Rủi ro đầu tư donhiều nguyên nhân, trong đó, nguyên nhân chủ quan từ phía các nhà đầu tư

Trang 4

quản lý kém, chất lượng sản phẩm không đạt yêu cầu… có nguyên nhânkhách quan nhu giá nguyên liệu tăng, giá sản phẩm giảm, công suất khôngđatj công suất thiết kế…Ví dụ, để nghiên cứu tính khả thi về mặt thị trường,chủ đầu tư phải nghiên cứu tình hình cung, cầu, giá cả… của sản phẩm dựdịnh đầu tư của dự án Với mức giá sản phẩm là 10000đồng/sản phẩm, dự ánxây dựng dòng tiền thu, chi và tính được tổng lợi nhuận thuần của cả vòngđời dự án Tổng lợi nhuận thuần cang lớn, quyết định đầu tư càng dễ dàng.Tuy nhiên nếu khi dự án đi vào hoạt động, giá của sản phẩm giảm và chỉ là

5000 đ, thì trong các điều kiện khác không đổi, tổng lợi nhuận thuần của dự

án chỉ đạt 50% so với dự kiến ban đầu Đây là rủi ro do giá bán sản phẩmgiảm Như vậy, để quản lý hoạt động đầu tư có hiệu quả, cần thực hiện cácbiện pháp quản lý ruỉ ro bao gồm:

+ Thứ nhất, nhận diện rủi ro đầu tư Có nhiều nguyên nhân rủi ro, do vay,việc xác định đúng nguyên nhân rủi ro sẽ là khâu quan trọng đầu tiên đẻ tìm

ra giả pháp phù hợp để khắc phục

+ Thứ hai, đánh giá mức độ rủi ro Rủi ro có khi xảy ra rất nghiêm trọng,nhưng có khi chưa đến mức gây nên nhưng thiệt hại về kinh tế.Đánh giáđúng mức độ rủi ro sẽ giúp ta đưa ra nhưng biện pháp phòng và chống phùhợp

+ Thứ ba, xây dựng các biện pháp phòng và chống rủi ro Mỗi loại rủi ro

và mức độ rủi ro nhiều hay ít sẽ có biện pháp phòng và chống tương ứngnhằm hạn chế đến mức thấp nhất có thể có do rủi ro này gây ra

1.2.4 Nguồn vốn cho đầu tư phát triển

Nguồn lực để thực hiện đầu tư là vốn Nội dung và nguồn gốc của vốn

là những vấn đề cốt lõi cần phải giải quyết của lý thuyết đầu tư pháttriển.Bản chất của đầu tư phát triển còn được thể hiện ở nội dung vốn vànguồn vốn đầu tư, lý luận biện chứng về mối quan hệ hữu cơ giữa hai vấn đềnày

Vốn đầu tư phát triển là bộ phận cơ bản của vốn nói chung Trênphương diện kinh tế, vốn đầu tư phát triển là biểu hiện bằng tiền toàn bộnhững chi phí đã chi ra để tạo ra năng lực sản xuất (tăng thêm tài sản cố định

và tài sản lưu động) và các khoản đầu tư phát triển khác.Về cơ bản vốn đầu

tư phát triển mang những đặc trung của vốn như:(1) vốn đại diện cho mộtlượng giá trị tài sản;(2) vốn phải vận động sinh lời;(3) vốn cần được tích tụ

Trang 5

và tập trung đến một mức nhất định mới có thể phát huy tác dụng;(4) vốnphải gắn với chủ sở hữu;(5) vốn có giá trị về mặt thời gian.

Nội dung cơ bản của vốn đầu tư phát triển trên phạm vi nền kinh tế baogồm:

(a) Vốn đầu tư xây dựng cơ bản: là những chi phí bằng tiền để xâydựng mới ,mở rộng,xây dựng lại hoặc khôi phục năng lực sản xuất của tàisản cố định trong nền kinh tế quốc dân

(b) Vốn lưu động bổ sung: bao gồm những khoản đầu tư nhằm muasắm nguyên vật liệu,thuê mướn lao động…làm tăng tài sản lưu động trong

kỳ của toàn bộ xã hội

(c) Vốn đầu tư phát triển khác: là tất cả cá khoản đầu tư của xã hộinhằm gia tăng năng lực phát triển của xã hội,nâng cao trình độ dân trí,cảithiện chất lượng môi trường.Ví dụ như vốn đầu tư cho lĩnh vực giáodục:chương trình phổ cập giáo dục,nghiên cứu,triển khai đầo tạo…Vốn chicho các chương trình mục tiêu quốc gia nhằm tăng cường sức khoẻ cộngđồng như chương trình tiêm chủng mở rộng,chương trình nước sạch nôngthôn…

Nguồn vốn đầu tư phát triển là thuật ngữ chỉ các nguồn tích luỹ, tậptrung và phân phối cho đầu tư Về bản chất, nguồn hình thành vốn đầu tưphát triển chính là phần tiết kiệm hay tích luỹ mà nền kinh tế có thể huyđộng để đưa vào quá trình tái sản xuất xã hội Nguồn vốn đầu tư phát triểntrên phương diện vĩ mô, bao gồm nguồn vốn trong nước và nguồn vốn nướcngoài Nguồn vốn trong nước gồm: Vốn nhà nước, vốn dân doanh và vốntrên thị trường vốn Nguồn vốn nước ngoài bao gồm: Vốn đầu tư trực tiếpnước ngoài (FDI), vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), vốn vay thươngmại nước ngoài và nguồn vốn trên thị trường vốn quốc tế Trong mỗi thời kỳkhác nhau, quy mô và tỷ trọng vốn của từng nguồn vốn có thể thay đổi

Trang 6

nhưng để chủ động phát triển KTXH của quốc gia theo định hướng chiếnlược và kế hoạch đặt ra, cần nhất quán quan điểm: xem vốn trong nước giữvai trò quết định, vốn nước ngoài là quan trọng.

II.LÝ LUẬN VỀ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC (DNNN)

1.Khái niệm chung về DNNN

Trên cơ sở Nghị quyết Trung ương Ba, khóa IX, Luật DNNN năm

2003, tại Điều 1 đã quy định: "DNNN là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữutoàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dướihình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn"

Đó là những doanh nghiệp do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc giữhơn 50% vốn điều lệ DNNN được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước,công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, trong đó:

1 - DNNN có 100% vốn Nhà nước hoạt động theo Luật DNNN mới (năm2003) được gọi là Công ty nhà nước (để phân biệt với DNNN có 100% vốnnhà nước hoạt động theo các luật khác);

2 - Công ty cổ phần, công ty TNHH một hoặc hai thành viên trở lên có100% vốn Nhà nước hoạt động theo Luật Doanh nghiệp;

3 - Công ty cổ phần, Công ty TNHH hai thành viên trở lên có cổ phần chiphối hoặc vốn góp chi phối của Nhà nước hoạt động theo Luật Doanhnghiệp, Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

Do khái niệm DNNN được mở rộng hơn trước đây, cho nên, nếu dùngcùng một khái niệm DNNN thì dễ lẫn lộn giữa ba loại DNNN nói trên Đểphân biệt giữa DNNN hoạt động theo Luật DNNN mới với DNNN hoạtđộng theo các luật khác, loại DNNN do Nhà nước thành lập, sở hữu 100%vốn điều lệ hoạt động theo luật DNNN mới (Luật DNNN năm 1995 gọi làDNNN) được gọi là Công ty Nhà nước

Ngoài ra theo khoản 1 điều 4 chương I của Luật doanh nghiệp 2005(sửa đổi) thì: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ

sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luậtnhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”

Cũng theo khoản 22 điều 4 chương I của luật này thì “DNNN là doanhnghiệp trong đó nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ”

Vai trò chủ đạo của DNNN thể hiện qua:

Vai trò kinh tế: DNNN giúp khắc phục những khuyết tật của cơ chế thị

trường; đảm nhận các lĩnh vực sản xuất - kinh doanh có tính chiến lược đốivới sự phát triển kinh tế - xã hội đòi hỏi vốn đầu tư lớn vượt quá khả năng

Trang 7

của tư nhân; tham gia vào những lĩnh vực khoa học-công nghệ mũi nhọn, có

hệ số rủi ro cao; tham gia vào một số ngành có lợi thế cạnh tranh

Vai trò chính trị: Một là, DNNN nắm giữ những ngành đặc biệt quan trọng liên quan đến an ninh, quốc phòng quốc gia Hai là, DNNN tham gia chiếm

giữ một số vị trí thiết yếu, quan trọng (tuỳ theo từng thời kỳ phát triển kinhtế) để chủ động định hướng xã hội, làm đối trọng trong phát triển hội nhậpkinh tế quốc tế

Vai trò xã hội: DNNN gánh vác chức năng và vai trò xã hội và khác biệt

so với các loại hình doanh nghiệp khác, những ngành ở những địa bàn khókhăn có ý nghĩa chính trị-xã hội mà tư nhân không muốn đầu tư, đảm bảocân bằng về đầu tư phát triển theo vùng, miền, đảm nhận các ngành sản xuấthàng hoá công cộng thiết yếu

2.Các nội dung cơ bản của đầu tư phát triển trong DNNN.

Theo khái niệm, nội dung đầu tư phát triển bao gồm: Đầu tư những tàisản vật chất (tài sản thực) và đầu tư những tài sản vô hình Đầu tư phát triểncác tài sản vật chất gồm: đầu tư tài sản cố định (đầu tư xây dựng cơ bản) vàđầu tư vào hàng tồn kho Đầu tư phát triển tái sản vô hình gồm các nội dung:đầu tư nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đầu tư nghiên cứu triển khai cáchoạt động khoa học-công nghệ-kĩ thuật, đầu tư xây dựng thương hiệu-quảngcáo…

2.1 Đầu tư xây dựng cơ bản

Đầu tư xây dựng cơ bản là hoạt động đầu tư nhằm tái tạo tài sản cố địnhcủa doanh nghiệp Đầu tư xây dựng cơ bản bao gồm các hoạt động chínhnhư: Xây lắp và mua sắm máy móc thiết bị Trong doanh nghiệp đặc biệtdoanh nghiệp sản xuất kinh doanh, để các hoạt động diễn ra bình thường đềucần xây dựng nhà xưởng, kho tàng, các công trình kiến trúc, mua và lắp đặttrên nền bệ các máy móc thiết bị… Hoạt động đầu tư này đòi hỏi vốn lớn vàchiếm tỉ trọng cao trong tổng vốn đầu tư phát triển của đơn vị

2.2 Đầu tư bổ sung hàng tồn trữ.

2.2.1 Khái niệm

Hàng tồn trữ trong doanh nghiệp là toàn bộ nguyên-nhiên vật liệu, bánthành phẩm và sản phẩm hoàn thành được tồn trữ trong doanh nghiệp Tùytheo loại hình doanh nghiệp, quy mô và cơ cấu các mặt hàng tồn trữ cũngkhác nhau Nguyên vật liệu là một bộ phạn hàng tồn trữ không thể thiếu củadoanh nghiệp sản xuất nhưng lại không có trong doanh nghiệp thương mạidịch vụ Tỉ trọng đầu tư vào hàng tồn trữ trong tổng vốn đầu tư phát triểncủa doanh nghiệp thương mại thường cao hơn các loại hình doanh nghiệpkhác Do vậy xác định quy mô đầu tư hàng tồn trữ tối ưu cho doanh nghiệp

là rất cần thiết

Trang 8

*Vai trò của dự trữ

Dụ trữ luôn là vấn đề sống còn là một đòi hỏi tất yếu khách quan, nóđảm bảo tính liên tục và hiệu quả của sản xuất và tiêu dùng

Trong mô hình dự trữ JIT ( Just in time ) chỉ ra:

+ Nếu dự trữ thật nhiều dẫn đến ứng đọng vốn , hàng hoá hỏng , tăngchi phí bảo quản không hiệu quả

+ Nếu dự trữ ít quá không đủ nguyên vật liệu để sản xuất , không đủhàng hoá để bán và dẫn đến gián đoạn sản xuất kinh doanh

+ Cần phải phân biệt giữa dự trữ và tình trạng dư thừa ứng đọng sảnphẩm trong các doanh nghiệp

2.2.2 Phân loại hàng tồn trữ :

- Căn cứ vào khái niệm hàng tồn trữ được chia thành :

+ Nguyên vật liệu, bán thành phẩm+ Thành phẩm

- Căn cứ vào bản chất của cầu hàng tồn trữ được chia thành :

+ Cầu các khoản mục độc lập+ Cầu các khoản mục phụ thuộc2.2.3 Chi phí hàng tồn trữ

- Theo quan điểm của nhà quản trị chi phí tồn trữ gồm hai loại chi phíđặt hàng và chi phí dự trữ hàng

- Chi phí đặt hàng là toàn bộ chi phí liên quan đến việc thiết lập mộtđơn hàng

- Nội dung của chi phí đặt hàng :

+ Chi phí tìm nguồn hàng+ Chi phí thực hiện quy trình đặt hàng+ Chi phí chuẩn bị chuyển hàng về kho

- Đặc điểm của chi phí đặt hàng là tương đối ổn định khi quy mô đặthàng thay đổi

2.2.4 Chi phí dự trữ hàng

- Chi phí dự trữ hàng là toàn bộ chi phí liên quan đến hàng đang dựtrữ tại kho

- Nội dung của chi phí dự trữ hàng :

+ Chi phí về kho hàng (lệ phí kho bãi, bảo hiểm kho hàng…)+ Chi phí sử dụng thiết bị (điện nước

+ Chi phí về nhân lực (tiền công của bảo vệ, giám sát tưvấn…)

Trang 9

+ Lệ phí đầu tư vào hàng dự trữ lãi suất tiền vay+ Những hao hụt được phép.

- Đặc điểm chi phí dự trữ là thay đổi tỷ lệ thuận với quy mô đặt hàng

2.3 Đầu tư phát triển nguồn nhân lực.

Nguồn nhân lực có vị trí đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế vàdoanh nghiệp Chỉ có nguồn nhân lực chất lượng cao mới đảm bảo dànhthắng lợi trong cạnh tranh Do vậy, đầu tư nâng cao chất lượng nhân lực làrất cần thiết Đầu tư phát triển nguồn nhân lực bao gồm: đầu tư cho hoạtđộng đào tạo (chính quy, không chính quy, dài hạn, ngắn hạn, bồi dưỡngnghiệp vụ….) đội ngũ lao động; đầu tư cho công tác chăm sóc sức khỏe-y tế;đầu tư cải thiện môi trường-điều kiện lao động của người lao động…Trảlương đúng và đủ cho người lao động cũng được xem là hoạt động đầu tưphát triển Đầu tư phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp bắt đầu từkhâu tuyển người lao động Đây là cơ sở để có được lực lượng lao động tốt,bởi vậy khâu tuyển người đòi hỏi cần phải rất khắt khe cẩn thận nhất.Tuyểnngười hiện nay đòi hỏi phải đạt được các yêu cầu như : Trình độ văn hoá ,ngoại ngữ, trình độ vi tính …Tiếp đến là quá trình nâng cao khả năng laođộng của người lao động thường xuyên.Trong điều kiện đổi mới hiện nay rấtnhiều công nghệ hiện đại đã và đang được ứng dụng trong các loại hìnhdoanh nghiệp nước ta.Vì vậy việc đào tạo lao động là yêu cầu vô cùng quantrọng Cuối cùng là việc khen thưởng tổ chức các hoạt động về tinh thầngiúp người lao động hăng say trong công việc từ đó nâng cao năng suất laođộng Các hinh thức khen thưởng đang được thực hiện ở các doanh nghiệpcác cá nhân thành viên có thanh tích tốt đều được thưởng xứng đáng gópphần nâng cao trong xí nghiệp , công ty , các cuộc thi các cá nhân …Nhờ cóchính sách đào tạo lao động nhiều doanh nghiệp đã đạt được những thanhcông to lớn , góp phần không nhỏ trong chiến lược sản xuất kinh doanhcũng như chiến lược cạnh tranh của mình

2.4 Đầu tư nghiên cứu và triển khai các hoạt động khoa học và công nghệ.

Phát triển sản phẩm mới và các lĩnh vực hoạt động mới đòi hỏi đầu tưcho các họat động nghiên cứu, triển khai, ứng dụng công nghệ Đầu tưnghiên cứu hoặc mua công nghệ đòi hỏi vốn lớn và độ rủi ro cao Hiện naykhả năng cho họat động nghiên cứu và triển khai khoa học và công nghệ củadoanh nghiệp Việt Nam còn khá khiêm tốn Cùng với đà phát triển của kinh

Trang 10

tế đất nước và doanh nghiệp, trong tương lai tỷ lệ chi cho hoạt động đầu tưnày sẽ ngày càng tăng ương ứng với nhu cầu và khả năng của doanh nghiệp.

*Các yếu tố ảnh hưởng đến nghiên cứu và triển khai của doanh nghiệp

-Khả năng tài chính của doanh nghiệp: khả năng tài chính của doanh nghiệp

sx cho phép xác định được khả năng và quy mô đầu tư nghiên cứu và triểnkhai của doanh nghiệp

-Quy mô sản xuất kinh doanh cua doanh nghiệp: quy mô sản xuất kinhdoanh cang lớn thì khả năng quy mô đầu tư nghiên cứu triển khai càng lớn -Cơ hội về đổi mới kĩ thuật và các cơ hội trong ngành: những ngành cónhiều cơ hội đổi mới công nghệ và kĩ thuật đòi hỏi các doanh nghiệp trongngành đó phải tích cực đầu tư cho nghiên cứu nắm bắt kịp thời các cơ hội về

kĩ thuật và công nghệ của ngành

Khi đánh giá hiệu quả đầu tư nghiên cứu triển khai các doanh nghiệpthường dựa trên một số quan điểm sau :

+ Thứ nhất là, hiệu quả đầu tư nghiên cứu triển khai phải được xem xétđánh giá toàn diện về các mặt tài chính kinh tế xã hội , môi trường

+ Thứ hai là, hiệu quả đầu tư nghiên cứu và triển khai vừa có thể lượnghoá được vừa có thể không lượng hoá được Do đó kết quả của đầu tư chonghiên cứu và triển khai có thể được thể hiện dưới dạng hiện hoặc dưới dạng

ẩn tuỳ theo dự án, chương trình nghiên cứu

Tóm lại có thể nói đầu tư cho nghiên cứu triển khai đóng vai trò quantrọng trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp Các chương trình

và dự án R&D gắn chặt với chiến lược kinh doanh giúp các doanh nghiệpđạt được các mục tiêu ngắn hạn cũng như dài hạn về kinh tế cũng như cácảnh hưởng khác

Trang 11

2.5 Đầu tư cho hoạt động marketing.

Thứ nhất là : đầu tư cho việc nghiên cứu thị trường của doanh nghiệp

trước hết là nghiên cứu khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.Có thể nóicạnh tranh là một đặc tính cơ bản nhất của thị trường của doanh nghiệp, sẽkhông có thị trường nếu không có cạnh tranh, trong môi trường cạnh tranhhoàn hảo mục tiêu của doanh nghiệp, người tiêu dùng là tối đa hoá lợi nhuận

và sự tiện ích của chính mình, khả năng cạnh tranh là nguồn năng lượngthiết yếu để doanh nghiệp tiếp tục vững bước trên con đường hội nhập kinhtế

Trang 12

Thực tế cho thấy doanh nghiệp kinh doanh thành công thực hiện các kĩnăng cạnh tranh rất thuần thục, nó tạo thành phương pháp cạnh tranh đặctrưng của doanh nghiệp

Các kĩ năng này tập trung vào :

-Tạo lập và phát triển uy tín doanh nghiệp

-Coi trọng chiến lược mở rông thị trương

-Xây dựng và thực hiện đổi mới sản phẩm , mẫu mã

-Luôn tìm cách giảm chi phí sản xuất

-Sách lược tiêu thụ sản phẩm khôn khéo

Thứ hai là: khi nghiên cứu thị trường trong đầu tư tài sản vô hình của

doanh nghiệp ta cần phải nghiên cứu hành vi của người tiêu dùng

Hành vi của người tiêu dùng thực hiện trong việc tìm kiếm, mua, sửdụng đánh giá và vứt bỏ các sản phẩm và dịch vụ mà họ dự định sẽ thoả mãncác nhu cầu của họ Nghiên cứu hành vi của người tiêu dùng là nghiên cứucác cá nhân đưa ra quyết định thế nào đối với việc chi tiêu các nguồn tàinguyên có thể sử dụng của họ trong các hạng mục liên quan đến sự tiêudùng Qua việc nghiên cứu hành vi người tiêu dùng sẽ cung cấp cho các nhàsản xuất những thông tin quan trọng để họ lên kế hoạch sản xuất thiết kế cảitiến và xây dựng được cac chiến lược khuyến mại

Mục đích của nghiên cứu người tiêu dùng là phục vụ cho công tác quản

lí kinh doanh sản xuất và dịch vụ Các nhà quản lí muốn biết nguyên nhânhành vi của người tiêu dùng , họ muốn biết con người đưa ra quyết định muahàng sử dụng, cất kho và vứt bỏ các sản phẩm như thế nào từ đó xây dựngchiến lược Marketing lập ra những mảng thị trường mới cho một sản phẩmriêng hay một loại sản phẩm Nghiên cứu hành vi người tiêu dùng được tiếnhành bởi các tổ chức Maketing riêng biệt

Trang 13

Thấy được tầm quan trọng và cần thiết của việc nghiên cứu hành vingười tiêu dùng, các doanh nghiệp đang đầu tư một cách thích đáng cho việcnghiên cứu Việc nghiên cứu thành công giúp doanh nghiệp có chiến lượcsản xuất kinh doanh đúng hướng, tiêu thụ nhanh sản phẩm quay vòng vốnnhanh thúc đẩy nền kinh tế phát triển.

Từ các nội dung của đầu tư phát triển đã trình bày ở trên, các DNNNhoạt động trên các lĩnh vực khác nhau cần xác định nội dung nào là quantrọng, có vai trò quyết định đến các nội dung khác ở doanh nghiệp mình đểtập trung đầu tư và phát triển

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CỦA HỆ THỐNG

CÁC DNNN

Số doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất kinh doanh tại thời điểm31/12 hàng năm phân theo loại hình doanh nghiệp ở nước ta có thể được thểhiện qua bảng số liệu tóm lược sau:

Trang 14

+ Trung ương 3,86 3,26 2,64 2,14 1,62

(Nguồn: Niên giám thống kê 2006)

Từ bảng số liệu chúng ta thấy rằng số lượng các DNNN có xu hướng

ngày càng giảm và điều này hoàn toàn phù hợp Xét về lý thuyết, khu vực

DNNN trong nền kinh tế thị trường không cần có tỷ trọng cao mà chỉ cần

chiếm giữ những vị trí then chốt Lý thuyết và kinh nghiệm thực tiễn cho

thấy, tỷ trọng DNNN được coi là quá lớn khi vượt quá giới hạn 20-25% và

quá nhỏ khi ở dưới mức 5% GDP Trong thời kỳ chuyển đổi cần khẳng định

vai trò chủ đạo của DNNN nhưng xét về lâu dài DNNN sẽ giữ vai trò nòng

cốt, là một trong những công cụ điều tiết vĩ mô Xét về cơ cấu sở hữu,

DNNN là một bộ phận quan trọng, cùng với các bộ phận sở hữu khác phát

triển bình đẳng và cạnh tranh với nhau

Trong những năm vừa qua, phần lớn các DNNN được sắp xếp lại theo

hướng cổ phần hóa đã nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm đối với nền

kinh tế, sản xuất kinh doanh đã có lãi, nhiều DN đã mạnh dạn đầu tư đổi mới

công nghệ, máy móc thiết bị để nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản

phẩm, khắc phục tình trạng lỗ lũy kế và có vốn tích lũy để tái sản xuất mở

rộng

Trong đó vốn là nguồn lực để thực hiện đầu tư phát triển Việc sử

dụng vốn như thế nào có ý nghĩa rất quan trọng đối với doanh nghiệp

DNNN là loại hình kinh tế được nhà nước đầu tư vốn lớn vì vậy việc sử

dụng vốn có hiệu quả hay không ảnh hưởng rất nhiều đến sự phát triển của

nền kinh tế Từ sau khi thực hiện công cuộc đổi mới nền kinh tế, nhà nước

đã có những chính sách phù hợp hơn đối với sự phát triển của DNNN, nhờ

vậy hiệu quả sử dụng vốn của DNNN đã được nâng cao rõ rệt Tuy nhiên

vẫn còn nhiều mặt hạn chế để hiểu rõ tinh hình sử dụng vốn đầu tư của

DNNN ta xem bảng số liệu sau :

Vốn sản xuất kinh doanh và doanh thu thuần của DNNN

Trang 15

DNNN 444673 611167 666022 708045 838395.6

Qua bảng số liệu chúng ta thấy rằng quy mô về vốn đầu tư cho khu

vực kinh tế nhà nước tăng dần qua các thời kỳ, tốc độ tăng đồng đều và ổn

định, trong đó tốc độ tăng của vốn cho các DNNN ở cấp trung ương tăng

nhanh hơn so với cấp địa phương (cụ thể là 101,7% so với 86,8%) Thứ hai

là tỷ trọng vốn đầu tư cho khu vực DNNN nhà nước có xu hướng giảm dần

qua các thời kỳ (từ 67,13% xuống 54,96%) - điều này là hoàn toàn hợp lý và

phù hợp với yêu cầu của tiến trình cổ phần hóa các DNNN tuy nhiên là tỷ

trọng này vẫn còn khá cao, cần tiếp tục điều chỉnh giảm

SỐ DNNN HOẠT ĐỘNG LỖ - LÃI QUA CÁC THỜI KỲ

Đi sâu vào phân tích hoạt động sử dụng vốn vào SXKD, và quan

trọng hơn là mảng sử dụng vốn cho hoạt động đầu tư phát triển của các

DNNN nhà nước, chúng ta có thể bắt gặp một số tồn tại cơ bản sau:

1.Về đầu tư xây dựng cơ bản.

Xây dựng cơ bản luôn là quá trình đi tiên phong của bất cứ quá trình

đầu tư nào Nó tạo ra các cơ sở vật chất mới làm tiền đề cho việc tiến hành

hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Quyết toán chi ngân sách nhà nước (tóm lược)

Trang 16

(Nguồn: Quyết toán chi ngân sách nhà nước-Tổng cục thống kê)

Từ bảng số liệu chúng ta thấy rằng chi cho xây dựng cơ bản chiếm tỷtrọng rất lớn trong tổng chi cho đầu tư phát triển (luôn đạt mức trên 85%),qua đó chúng ta mới thấy được vai trò quan trọng xây dựng cơ bản trong đầu

tư phát triển Tuy nhiên chúng ta cũng nhận thấy rằng quy mô tăng của vốnxây dựng cơ bản lại đang có xu hướng giảm qua các giai đoạn, cụ thể là giai

đoạn 2002-2003 vốn tăng 13650 tỷ đồng nhưng giai đoạn 2003-2004 vốn chỉtăng 7316 tỷ đồng Điều này có thể giải thích là giai đoạn đầu các doanh

nghiệp phải đầu tư mới hoàn toàn vì vậy vốn xây dựng cơ bản đòi hỏi lớn,đến giai đoạn vận hành sản xuất thì doanh nghiệp chỉ phải đầu tư sửa chữa

và mở rộng sản xuất do đó lượng vốn cho xay dựng cơ bản không cần nhiềunhư ban đầu

Mặc dù xây dựng cơ bản đóng vai trò quan trọng như vậy nhưng quátrình tiến hành hoạt động này của các DNNN lại chưa thực sự coi trọng nó

Có thể đề cập ở đây chính là vấn đề thất thoát và lãng phí trong đầu tư xây

dựng cơ bản Lãng phí và thất thoát, tiêu cực trong đầu tư và xây dựng đang

là vấn đề nhức nhối, cả xã hội quan tâm; kéo dài nhiều năm với mức độ ngàycàng trầm trọng mà đến nay vẫn chưa có biện pháp hữu hiệu để hạn chế.Không có một bộ số liệu chính thức nào thống kê được chính xác tỷ lệ thấtthoát trong hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản nhưng có thể khẳng định rằng:

“Mọi dự án đầu tư xây dựng cơ bản đều có sai phạm”

Kết quả kiểm tra năm 2002 của 995 dự án với tổng vốn đầu tư 20.736

tỷ đồng, đã phát hiện sai phạm về tài chính và sử dụng vốn đầu tư là 1.151 tỷ

Tỷ đồng

TỔNG CHI

10896 1

12977 3

14820 8

18118 3

21417 6 Trong tổng chi

Chi đầu tư phát triển 29624 40236 45218 59629 66115

Trang 17

đồng, bằng khoảng 5,5% tổng vốn đầu tư các công trình được kiểm tra.Riêng 17 công trình do Thanh tra Nhà nước thực hiện kiểm tra phát hiện saiphạm tài chính lên tới 13% Đó là chưa kể đến các lãng phí lớn do chậmtriển khai công trình và nhất là do sai sót trong chủ trương đầu tư mà hiệnchưa có cách đánh giá thống nhất

(Nguồn: Báo cáo tại hội nghị toàn quốc về Quản lý đầu tư và Xây dựng Cơ bản)

Theo kết quả thanh tra quản lý đầu tư xây dựng, tất cả các dự án đều

có sai phạm, diễn ra ở tất cả các khâu, các giai đoạn đầu tư, đặc biệt là côngtác lập dự án, thiết kế sơ sài dẫn tới vượt dự toán rất cao

Qua thống kê 36 tỉnh, thành phát hiện tổng giá trị sai phạm lên tới113,913 tỷ đồng, chủ yếu là thất thoát, lãng phí do chất lượng khảo sát, thiết

kế không phù hợp, thay đổi chủng loại vật liệu, trang thiết bị không đảmbảo… Trong công tác đấu thầu, các sai phạm thường gặp như chỉ định thầu,xét thầu, áp dụng kết quả đấu thầu sai qui định, bán thầu

Đây là một kết quả đáng chú ý của việc thực hiện việc thanh tra, kiểmtra hành chính, chuyên ngành năm 2006 Đến nay, toàn ngành thanh tra đã

cơ bản kết thúc 12.636 cuộc trong tổng số 14.167 cuộc đã triển khai; pháthiện sai phạm với tổng giá trị 6.382,961 tỉ đồng và 5.478,583 triệu USD,hơn 11.346ha đất Qua thanh tra, kiểm tra, ngoài kiến nghị xử lý, khắc phụcphần có giá trị sai phạm, giảm trừ, loại khỏi quyết toán , các tổ chức thanhtra nhà nước đã kiến nghị thu hồi 447,712 tỉ đồng và 207.923 USD; kiểm tra

xử lý hành chính gần 3.000 trường hợp và kiến nghị cơ quan điều tra xử lý

95 vụ với 201 người

Đi sâu vào tìm hiểu vấn đề náy chúng ta thấy rằng: Vốn đầu tư thấtthoát diễn ra từ khâu chuẩn bị dự án, thẩm định và phê duyệt dự án đầu tưđến khâu thực hiện đầu tư và xây dựng Tình trạng đầu tư không theo quyhoạch được duyệt; khâu khảo sát nghiên cứu thiếu tính đồng bộ, không đầy

đủ các chỉ tiêu kinh tế, khả năng tài chính, nguồn nguyên liệu, bảo vệ môitrường, điều tra thăm dò thị trường không kỹ; chủ trương đầu tư không đúngkhi xem xét, phê duyệt dự án đầu tư Việc thẩm định và phê duyệt chỉ quantâm tới tổng mức vốn đầu tư, không quan tâm tới hiệu quả, điều kiện vậnhành của dự án, nên nhiều dự án sau khi hoàn thành và đưa vào sử dụngkhông phát huy tác dụng, gây lãng phí rất lớn

Ngoài ra, do năng lực quản lý điều hành kém của chủ đầu tư, các banquản lý dự án, các tổ chức tư vấn cũng là nguyên nhân gây lãng phí, thấtthoát vốn đầu tư

Nguyên nhân chính, tổng quát của hiện tượng lãng phí và thất thoátnằm ở chính những cơ chế kiểm soát hiện có; vừa cồng kềnh, vừa chồng

Trang 18

chéo nhau, làm cho có quá nhiều người có thẩm quyền can thiệp vào côngtrình nhưng không thể xác định được trách nhiệm chính thuộc về ai, do đókhông thể quản lý được hoặc quản lý rất kém hiệu quả.

2.Về đầu tư phát triển nguồn nhân lực.

Theo đánh giá của nhiều quốc gia thì Việt Nam có một lực lượng laođộng dồi dào, đa phần là lực lượng trẻ có khả năng thích ứng nhanh trướcnhững ngành nghề mới Tuy nhiên, cần phải thừa nhận: lực lượng lao độngnhiều nhưng chất lượng lao động thấp, chưa đáp ứng được nhu cầu phát triểncủa đất nước trong hiện tại và những năm tiếp theo Trình độ chuyên môn kỹthuật của những người lao động còn thấp và cơ cấu các loại trình độ chưahợp lý, cơ cấu ngành nghề phân bố cũng chưa hợp lý, có nhiều ngành nghềđào tạo thừa không sử dụng hết, song lại có nhiều ngành nghề quá thiếu, đặcbiệt là đội ngũ công nhân kỹ thuật thiếu hầu hết ở các ngành, khu vực kinh

tế Tình trạng lao động có trình độ cao trong các ngành nghề cung cấp không

đủ những vùng đô thị hoá, các khu công nghiệp, khu chế xuất đang diễn ragay gắt, làm cản trở quá trình chuyển đổi và phát triển nền kinh tế Nguồnnhân lực hiện nay thể hiện rất rõ trạng thái mất cân bằng, trong đó cung lớnhơn cầu, đại bộ phận lao động nông thôn thiếu việc làm

Có thể nói, phát triển nguồn nhân lực và nhân tài trong quản lý kinhdoanh hơn bao giờ hết đang là một vấn đề cần được đặc biệt chú trọng Với

ý nghĩa này, các nhân tố phát năng sự phát triển nguồn nhân lực được đề cậplà: giáo dục và đào tạo; sức khoẻ và dinh dưỡng; môi trường và việc làm

Riêng đối với khu vực kinh tế nhà nước đặc biệt là các DNNN trongnhững năm qua đã tiến hành rất nhiều lần cải cách nhằm thanh lọc nhữngcán bộ yếu kém về năng lực, chủ động và mạnh dạn sử dụng các cán bộ trẻ

có năng lực-trình độ, cộng với hoài bão lớn và nhiệt huyết của tuổi trẻ Tuynhiên vấn đề đầu tư phát triển nguồn nhân lực trong quản lý kinh doanh củacác DNNN vẫn chưa thực sụ được quan tâm đúng mức Có một thực trạng làcác học sinh-sinh viên ra trường với bằng ưu thường được các DNNN chủđộng nhận về làm việc nhưng trong quá trình làm việc họ ít được quan tâmtheo dõi sát sao để phát triển các năng lực thế mạnh của mình

- Đầu tiên là vấn đề giáo dục-đào tạo, các DNNN ít khi chủ động liên

hệ với các cơ sở đào tạo để nâng cao trình độ cho cán bộ công nhân viên,đểtiếp cận tri thức khoa học mới, có chăng là họ cũng chỉ tổ chức những buổitọa đàm-nói chuyện về kinh nghiệm nghề nghiệp

- Thứ hai là vấn đề chế độ đãi ngộ: có một cái khó cho các DNNN ởđây là mức lương thì do Quốc hội và Bộ tài chính thông qua, các DNNNkhông thể tự điều chỉnh được do đó với chế độ lương hiện tại thì không thể

Trang 19

đáp ứng được nhu cầu sinh hoạt của cán bộ công nhân viên Tuy nhiênchúng ta vẫn có thể lấy lợi nhuận sau thuế làm tiền thưởng cho cán bộ nhưngvới các DNNN khoản lợi nhuận thường là âm do vẫn còn dư âm của chế độbao cấp nên các DNNN chưa thực sự hoạt động hết mình.

- Thứ ba là môi trường làm việc còn sắp xếp thiếu khoa học, không cótính cạnh tranh cao, không thúc đẩy được người lao động tham gia sản xuấtvới hiệu quả cao nhất

Thực trạng đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực của các DNNN trêncác mặt giáo dục-đào tạo,y tế,văn hóa thể thao có thể được trình bày dướibảng số liệu sau:

Vốn đầu tư của khu vực kinh tế nhà nước theo giá thực tế

Cơ cấu vốn đầu tư của khu vực kinh tế nhà nước theo giá thực tế

Từ bảng số liệu chúng ta thấy rằng đầu tư cho phát triển nguồn nhânlực của các DNNN có xu hướng tăng đều qua các năm và tăng trên cả 3 mặtcần quan tâm là giáo dục-y tế-văn hóa thể thao Điều này chứng tỏ cácDNNN cũng có quan tâm đến việc phát triển nguồn nhân lực tuy nhiênchúng ta cũng thấy rằng tỷ trọng vốn dành cho đầu tư phát triển nguồn nhânlực vẫn còn ở mức thấp tức là ở cả 3 mảng cần quan tâm thì tỷ trọng đầu tưchiếm chưa đến 5% tổng vốn đầu tư của doanh nghiệp Điều này thực sự làchưa hợp lý bởi vì trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế và cạnh tranh

Ngày đăng: 30/04/2013, 17:03

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ : Phân loại hàng tồn kho ở doanh nghiệp thương mại và doanh nghiệp - LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN TRONG HỆ THỐNG CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
h ân loại hàng tồn kho ở doanh nghiệp thương mại và doanh nghiệp (Trang 21)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w