MỤC LỤCMỞ ĐẦU11. Lý do chọn đề tài12. Lịch sử vấn đề23. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu74. Phương pháp nghiên cứu85. Đóng góp của luận văn96. Cấu trúc luận văn9NỘI DUNG10CHƯƠNG 1: HÌNH TƯỢNG TÁC GIẢ TRONG THƠ, HÀNH TRÌNH THƠ LÊ ĐẠT VÀ TẬP BÓNG CHỮ101.1. Vấn đề hình tượng tác giả trong thơ101.1.1. Hình tượng tác giả trong sáng tác văn học101.1.2. Thơ trữ tình như một cách biểu hiện hình tượng tác giả151.1.3. Hình tượng tác giả qua một số trào lưu thơ hiện đại181.1.3.1 Hình tượng tác giả qua trào lưu thơ lãng mạn181.13.2. Hình tượng tác giả qua trào lưu thơ tượng trưng191.1.3.3. Hình tượng tác giả qua trào lưu thơ siêu thực211.2. Lê Đạt và kiểu hình tượng tác giả trong tập thơ “Bóng chữ”231.2.1. Khát vọng đổi mới và hành trình thơ Lê Đạt231.2.2. Vẻ đẹp của chủ thể giao tiếp trong tập thơ “Bóng chữ24CHƯƠNG 2: HÌNH TƯỢNG TÁC GIẢ QUA CÁI NHÌN VÀ SỰ MIÊU TẢ BỨC TRANH THẾ GIỚI322. 1. Cái nhìn mang xu hướng nữ hóa trong bức tranh ngoại cảnh322.2. Cái nhìn nghiêng về nhục cảm412.3. Tính chất truyền thống trong cái nhìn và sự miêu tả bức tranh thế giới50CHƯƠNG 3: HÌNH TƯỢNG TÁC GIẢ QUA CÁCH ỨNG XỬ VỚI NGÔN TỪ613.1. Ứng xử trong kiến tạo thi pháp chữ613.1.1. Thủ pháp đồng đẳng ngữ âm623.1.1.1. Sáng thế nghĩa từ những nguyên âm623.1.1.2. Từ chối sử dụng “con mắt thơ” nhãn tự653.1.1.3. Sự cộng hưởng của các con chữ673.1.2. Thủ pháp biến điệu chữ693.1.2.1. Thủ pháp nhại âm693.1.2.2. Cách nói “nhịu lời”713.1.2.3. Sự chuyển hóa linh hoạt của các từ loại733.2. Ứng xử trong kiến tạo thi pháp câu743.2.1. Phép tỉnh lược743.2.1.1. Tỉnh lược chủ ngữ753.2.1.2. Tỉnh lược động từ763.2.1.3. Tỉnh lược các quan hệ từ783.2.2. Phá vỡ trật tự cú pháp803.2.3. Phép chuyển hóa của các biện pháp nghệ thuật tu từ823.2.3.1. Điểm nhấn nghệ thuật trong cách sử dụng phép tu từ ẩn dụ823.2.3.2. Điểm nhấn nghệ thuật trong phép dùng điển cố843.2.3.3. Sự linh chuyển và mở rộng trường nghĩa của phép ẩn dụ và điển cố853.3. Ứng xử về kiểu nói trong “Bóng chữ”873.3.1. Từ chối cách ngắt câu cố định873.3.2. Giọng điệu893.3.2.1. Giọng điệu hóm hỉnh, phồn sinh903.3.2.2. Giọng điệu hồn nhiên, trong trẻo913.3.2.3. Giọng điệu triết luận, hướng nội92KẾT LUẬN95TÀI LIỆU THAM KHẢO98
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
4 Phương pháp nghiên cứu 8
5 Đóng góp của luận văn 9
6 Cấu trúc luận văn 9
NỘI DUNG 10
CHƯƠNG 1: HÌNH TƯỢNG TÁC GIẢ TRONG THƠ, HÀNH TRÌNH THƠ LÊ ĐẠT VÀ TẬP BÓNG CHỮ 10
1.1 Vấn đề hình tượng tác giả trong thơ 10
1.1.1 Hình tượng tác giả trong sáng tác văn học 10
1.1.2 Thơ trữ tình như một cách biểu hiện hình tượng tác giả 15
1.1.3 Hình tượng tác giả qua một số trào lưu thơ hiện đại 18
1.1.3.1 Hình tượng tác giả qua trào lưu thơ lãng mạn 18
1.13.2 Hình tượng tác giả qua trào lưu thơ tượng trưng 19
1.1.3.3 Hình tượng tác giả qua trào lưu thơ siêu thực 21
1.2 Lê Đạt và kiểu hình tượng tác giả trong tập thơ “Bóng chữ” 23
1.2.1 Khát vọng đổi mới và hành trình thơ Lê Đạt 23
1.2.2 Vẻ đẹp của chủ thể giao tiếp trong tập thơ “Bóng chữ" 24
CHƯƠNG 2: HÌNH TƯỢNG TÁC GIẢ QUA CÁI NHÌN VÀ SỰ MIÊU TẢ BỨC TRANH THẾ GIỚI 32
2 1 Cái nhìn mang xu hướng nữ hóa trong bức tranh ngoại cảnh 32
2.2 Cái nhìn nghiêng về nhục cảm 41
2.3 Tính chất truyền thống trong cái nhìn và sự miêu tả bức tranh thế giới 50
CHƯƠNG 3: HÌNH TƯỢNG TÁC GIẢ QUA CÁCH ỨNG XỬ VỚI NGÔN TỪ 61
3.1 Ứng xử trong kiến tạo thi pháp chữ 61
Trang 23.1.1 Thủ pháp đồng đẳng ngữ âm 62
3.1.1.1 Sáng thế nghĩa từ những nguyên âm 62
3.1.1.2 Từ chối sử dụng “con mắt thơ”- nhãn tự 65
3.1.1.3 Sự cộng hưởng của các con chữ 67
3.1.2 Thủ pháp biến điệu chữ 69
3.1.2.1 Thủ pháp nhại âm 69
3.1.2.2 Cách nói “nhịu lời” 71
3.1.2.3 Sự chuyển hóa linh hoạt của các từ loại 73
3.2 Ứng xử trong kiến tạo thi pháp câu 74
3.2.1 Phép tỉnh lược 74
3.2.1.1 Tỉnh lược chủ ngữ 75
3.2.1.2 Tỉnh lược động từ 76
3.2.1.3 Tỉnh lược các quan hệ từ 78
3.2.2 Phá vỡ trật tự cú pháp 80
3.2.3 Phép chuyển hóa của các biện pháp nghệ thuật tu từ 82
3.2.3.1 Điểm nhấn nghệ thuật trong cách sử dụng phép tu từ ẩn dụ 82
3.2.3.2 Điểm nhấn nghệ thuật trong phép dùng điển cố 84
3.2.3.3 Sự linh chuyển và mở rộng trường nghĩa của phép ẩn dụ và điển cố 85
3.3 Ứng xử về kiểu nói trong “Bóng chữ” 87
3.3.1 Từ chối cách ngắt câu cố định 87
3.3.2 Giọng điệu 89
3.3.2.1 Giọng điệu hóm hỉnh, phồn sinh 90
3.3.2.2 Giọng điệu hồn nhiên, trong trẻo 91
3.3.2.3 Giọng điệu triết luận, hướng nội 92
KẾT LUẬN 95
TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Một nền văn học phát triển không bao giờ chấp nhận sự bảo thủ, đơn điệu.
Đó là con đường đưa đến ngõ cùng của sáng tạo văn chương và điểm dừng của mọi
tư duy kiến tạo Với nghệ thuật, sáng tạo đồng nghĩa với dòng hoạt lưu, với mạchphát triển và tinh thần khẳng định cái tôi luôn được nạp đầy năng lượng Nghiêncứu văn học phải chăng là tìm hiểu và khẳng định vẻ đẹp, những đóng góp độc đáo,
cá thể của hình tượng nghệ thuật, của tác phẩm, của tác giả?
Ở những tầng bậc khác nhau, với những cách biểu hiện đa dạng, tác giả luôn đểlại dấu ấn của mình trong tác phẩm Sự đọc sáng tạo của độc giả có thể mở ra nhữngcách giải thích ý nghĩa khác nhau, nhưng không làm biến mất văn bản và khách thểthẩm mỹ ở trong ấy, và do đó không xóa bỏ được yếu tố tác giả như là người thamgia kiến tạo và luôn có mặt trong văn bản “Tác giả là trung tâm tổ chức tổ chức nộidung và hình thức cái nhìn nghệ thuật trong tác phẩm, là người mang thế giới cảmđặc thù và trung tâm tổ chức lại ngôn từ theo nguyên tắc nghệ thuật” [55, tr.106]
Hình tượng tác giả là một phạm trù quan trọng của thi pháp học hiện đại, là khái
niệm hữu ích với nghiên cứu văn học Tuy nhiên, xoay quanh vấn đề tưởng rằngmặc nhiên đã được coi là cơ sở nền tảng trong khám phá tác phẩm, hiện còn không
ít băn khoăn, ngờ hoặc; đòi hỏi những nỗ lực tiếp tục tìm hiểu và vận dụng kháiniệm này
1.2 Là người sớm có những mong muốn đổi mới trong sáng tạo thơ ca, Lê Đạt
tự coi mình là “phu chữ”, vác cây “thập giá chữ” trên suốt hành trình sáng tạo củamình Sáng tác của Lê Đạt như con thuyền độc mộc trên đại dương sóng cả của thơ
ca và văn nghiệp Có người quy kết thơ ông là hũ nút, là sự lên đồng chữ và muốngạt phăng nó ra khỏi chiếu thơ chung thời đại Thầm lặng trước những sóng giócuộc đời và văn nghiệp chính mình, ông “gò mình xuống mà viết”, “gò mình xuống
mà sáng tác”, “gò mình xuống mà cày xới chữ” [17] Và qua thực tế văn học, chúng
ta nhận thấy ngày càng nhiều hơn số người đồng cảm, khẳng định, mến yêu hết mựcnhững sáng tạo của ông
Trang 4Nhọc nhằn lao động với ý thức nghệ thuật nghiêm túc, Lê Đạt là người tiênphong tìm tòi, trả lại cho bản thể mỗi con chữ, mỗi cách nói cách viết khả năng biểunghĩa, tạo nghĩa phong phú của nó; đã góp phần tích cực đổi mới thi ca Việt Namsau thơ tiền chiến Giải thưởng nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2007 trao cho
cụm sáng tác của Lê Đạt, trong đó có tập thơ “Bóng chữ” là sự vinh danh xứng
đáng Sự nỗ lực của Người thơ đã được nâng đón bước đầu thỏa đáng, dù rằngchặng đường đi đến thành quả ấy thật quá gian lao! Trong sự nghiệp đổi mới vănhọc hiện nay, vẻ đẹp của hình tượng người sáng tạo những giá trị thẩm mỹ trong thơ
Lê Đạt nói riêng, sáng tác của ông nói chung vẫn là những trải nghiệm còn nhiều ẩn
số vẫy gọi chúng ta tìm hiểu
1.3 Hướng đến tập sáng tác tiêu biểu “Bóng chữ” của Lê Đạt, chúng tôi muốn
nhận thức rõ hơn những khía cạnh lý thuyết về phạm trù hình tượng tác giả của thi pháp học hiện đại, về đặc điểm và sự biểu hiện của hình tượng tác giả qua một hiện
tượng thơ đương đại Đây cũng là dịp để người viết luận văn này hiểu biết hơn vềtác phẩm và cuộc đời Lê Đạt- nhà thơ có tấm lòng tha thiết dành cho nghiệp bút, cótác phẩm để lại nhiều ấn tượng thẩm mỹ độc đáo về thi tứ, ngôn từ Đến với ông,người viết muốn thể hiện tình cảm chân thành yêu mến thơ ca, và cả sự yêu mến, tự
hào với nhà thơ của vùng đất Âu Lâu, Yên Bái Việc tìm hiểu đề tài “Hình tượng tác giả trong tập thơ Bóng chữ của Lê Đạt” giúp những người dạy học văn cơ hội
trang bị sâu rộng thêm kiến thức, tăng cường kĩ năng nghiên cứu và giảng dạy vănhọc
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Về hình tượng tác giả
Văn bản tác phẩm bao giờ cũng là kết quả sáng tạo của tác giả “Văn làngười”, nhưng cần chú ý phân biệt “tác giả tiểu sử” như cá thể người có hoàn cảnhsống, những đặc điểm số phận, tính cách… cụ thể với “hình tượng tác giả” như hìnhtượng chủ thể giao tiếp thẩm mỹ với cuộc đời, với bạn đọc qua văn bản tác phẩm
Hình tượng tác giả là một phạm trù của thi pháp học hiện đại Hình tượng tác giả
gắn liền với thế giới nghệ thuật mà nhà văn sáng tạo nên, mặc dù sự biểu hiện ở các
Trang 5tác phẩm của các thể loại không giống nhau Vì thế, nói đến thế giới nghệ thuật
trong tác phẩm văn học không thể không nói đến mối liên hệ, ảnh hưởng của hình tượng tác giả với các yếu tố khác trong tác phẩm văn học Đây là vấn đề thu hút sự
quan tâm tìm hiểu, lý giải của nhiều tác giả, học giả trong và ngoài nước
Nghiên cứu hình tượng tác giả, M.Bakhtin khẳng định: nhà văn “có thể xuất hiện trong trường miêu tả ở bất cứ tư thế tác giả nào, có thể mô tả những sự việc
có thật trong đời mình hoặc nói ám chỉ đến chúng, có thể can thiệp vào trò chuyện
với các nhân vật, có thể bút chiến công khai với các địch thủ văn học của mình" [43,
tr.57] Dù M.Bakhtin không gọi là hình tượng tác giả, nhưng quan niệm của ông
giúp ta hiểu: tác giả luôn hiện diện tại hình thức tác phẩm như một nguyên tắc thẩm
mỹ tạo hình cho thế giới nghệ thuật; trong văn bản tác phẩm, tác giả hiện diện nhưmột hệ thống điểm nhìn, một cái nhìn Và những nguyên tắc thẩm mỹ, cảm nhận đótrở thành trung tâm tổ chức tác phẩm, tạo thành sự thống nhất nội tại của tác phẩm
và sự thống nhất về phong cách học Như vậy, có thể hiểu, hình tượng tác giả là cái
được biểu hiện ra trong tác phẩm một cách đặc biệt
Trong nhiều công trình, V.Vinôgrađốp cũng khẳng định hình tượng tác giả là cơ
sở, là trung tâm của phong cách ngôn ngữ A.Chichêrin cũng cho rằng hình tượng tác giả được sáng tạo ra không phải như hình tượng nhân vật Sự chân thật của hình
tượng tác giả là sự chân thật nghệ thuật, nó không phải là chân lý sự kiện mà là
chân lý của ý nghĩa, của tư duy, chân lý của thi ca Hình tượng tác giả không chỉ là
sự phản ánh của tác giả vào tác phẩm, thể hiện tương quan giữa con người sáng tạo
ra văn học và tác phẩm mà còn là vấn đề của cấu trúc nghệ thuật, tự thể hiện của
chủ thể Theo Khrapchenko, “Hình tượng tác giả khi thì được coi như nhân vật của thiên truyện ở dạng này hay dạng khác, khi thì như cá tính sáng tạo của nhà văn” Ông cũng nhận thấy và chỉ ra rằng, biểu hiện của hình tượng tác giả còn gắn với
đặc trưng thể loại Nhà lý luận văn học Mĩ V Booth gọi hình tượng tác giả là "tác
giả hàm ẩn", xem đó là "cái tôi thứ hai" của tác giả được thể hiện trong tác phẩm…
Ở Việt Nam, từ những năm 1980, thi pháp học thu hút mối quan tâm của nhiềunhà nghiên cứu, hoạt động văn học bởi những khả năng mà nó mở ra trong việc tiếp
Trang 6cận, phân tích, lí giải…các vấn đề văn học Trong những kiến giải về thi pháp học
nói chung, phạm trù hình tượng tác giả là một nội dung quan trọng
Theo "Từ điển thuật ngữ văn học" (do Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi đồng chủ biên), hình tượng tác giả “là phạm trù thể hiện cách tự ý thức của tác giả về vai trò xã hội và vai trò văn học của mình trong tác phẩm, một vai trò được người đọc chờ đợi” [21, tr.124] Hình tượng tác giả ra đời và tồn tại trên hai cơ sở:
Cơ sở tâm lí là hình tượng cái “tôi” trong nhân cách mỗi người thể hiện trong giao
tiếp, và cơ sở nghệ thuật- chất gián tiếp của văn bản nghệ thuật Hình tượng tác giả
vừa có tính chất loại hình sâu sắc vừa mang đậm cá tính tác giả “khi vai trò của cái
tôi cá nhân được ý thức đầy đủ” Từ đó, các nhà nghiên cứu khẳng định:“Phạm trù hình tượng tác giả chẳng những cho phép nhận ra phong cách cá nhân mà còn giúp tìm hiểu tính hệ thống của văn bản tác phẩm, mối quan hệ của nó với ý thức về vai trò xã hội và văn học của bản thân văn học” [21, tr.125].
Trong cuốn “150 thuật ngữ văn học”, Lại Nguyên Ân đã xem xét thuật ngữ hình tượng tác giả từ cơ sở thuật ngữ tác giả văn học: “Tác giả là người sáng tác ra tác phẩm văn học, để lại dấu ấn nhân cách của mình ở thế giới nghệ thuật do mình sáng tạo ra” [3, tr.146], “tác giả không chỉ là phạm trù mĩ học mà còn là phạm trù
xã hội hóa văn hóa” [3] Nó vừa là sản phẩm văn hóa của mỗi thời đại nhất định,
vừa là một đại diện tin cậy của quảng đại quần chúng Đó chính là cơ sở gián tiếp
cho sự hình thành các loại hình tượng tác giả trong sáng tác Như vậy, theo Lại
Nguyên Ân, dấu ấn cá nhân của tác giả, các phương diện nội dung nhân cách tác giảthâm nhập sâu vào cơ cấu tác phẩm và đặc biệt là sự tự ý thức về vai trò xã hội, vai
trò văn học của tác giả là cơ sở làm nên hình tượng tác giả.
Trong giáo trình "Dẫn luận thi pháp học" của GS Trần Đình Sử, phạm trù hình tượng tác giả được lí giải thấu đáo, thuyết phục ở chương VI “Tác giả và kiểu tác giả” Theo đó, “hình tượng tác giả cũng là một hình tượng được sáng tạo ra trong tác phẩm, như hình tượng nhân vật nhưng theo một nguyên tắc khác hẳn” [55,
tr.107] Nếu hình tượng nhân vật xây dựng theo nguyên tắc hư cấu, theo một quan
niệm nghệ thuật về con người và theo tính cách nhân vật, thì hình tượng tác giả
Trang 7được thể hiện theo nguyên tắc tự biểu hiện sự cảm nhận và thái độ thẩm mỹ đối vớithế giới nhân vật Trong tác phẩm văn học, nhà văn thường biểu hiện mình nhưngười phát hiện, người khám phá cái mới, người có nhãn quan cấp tiến, có cá tínhnghệ sỹ Điểm lại các cách nhìn nhận, kiến giải về khái niệm này, từ góc độ lý
luận văn học, giáo sư Trần Đình Sử cho rằng “hình tượng tác giả thể hiện chủ yếu ở: cái nhìn riêng độc đáo, nhất quán có ý nghĩa tư tưởng, đạo đức, thị hiếu; giọng điệu trần thuật, gồm cả một phần giọng điệu nhân vật; và ở cả sự miêu tả, hình
dung của tác giả đối với chính mình” [55, tr.109] Đó là ba yếu tố cơ bản giúp xác
lập hình tượng tác giả, mà người đọc luôn bắt gặp trong quá trình giao tiếp, thưởng
thức thế giới nghệ thuật của tác phẩm Những nghiên cứu ứng dụng thành công của
giáo sư cũng góp phần soi rõ tính hợp lí của cách lí giải này Trong cuốn “Thi pháp thơ Tố Hữu”, người đọc thấy được sự chi phối của kiểu nhà thơ trữ tình- chính trị tới chất thơ và phương thức thể hiện Công trình “Thi pháp truyện Kiều” cho thấy hình tượng tác giả có tác dụng chi phối tới đặc điểm ngôn từ nghệ thuật như thế
nào: qua ngôn từ nghệ thuật của Truyện Kiều với những từ ưa dùng đã toát lên thần
thái của con người sáng tạo ra nó, đó là nét “thâm thúy, hóm hỉnh, nhìn thấu suốt mọi bề chân giả và gan ruột người đời”, “có con mắt trải đời”, “tâm linh chan chứa nhân ái” [56] của đại thi hào Nguyễn Du.
Những khảo lược ban đầu vừa trình bày giúp người viết nắm bắt sơ lược lịch sử
cách hiểu liên quan đến vấn đề hình tượng tác giả Đó cũng là cơ sở giúp chúng tôi
kế thừa, vận dụng và tiếp tục suy nghĩ, làm rõ trong luận văn của mình
2.2 Về tập thơ “Bóng chữ” và vấn đề nghiên cứu hình tượng tác giả trong tập thơ “Bóng chữ” của Lê Đạt
Sau khi tập thơ “Bóng chữ” của Lê Đạt được xuất bản năm 1994 và chùm tác
phẩm được trao Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2007 (tập thơ
“Bóng chữ”, tập thơ “Ngó lời”, tập truyện “Hèn đại nhân”), sơ bộ tìm hiểu ở giai
đoạn bước đầu trên các tạp chí viết chính thống cho đến các trang báo mạng của cáctác giả trong và ngoài nước, chúng tôi thấy có khá nhiều bài viết về ông trên cácphương diện nghệ thuật ở góc nhìn đa diện, nhiều chiều Ở đây, chúng tôi xin phép
Trang 8chỉ sơ bộ điểm lại các nhóm ý kiến từng lưu tâm sôi nổi nhất đến “Bóng chữ” của
Lê Đạt
Năm 1994 ngay sau khi tập thơ “Bóng chữ” được xuất bản, Hoàng Cầm người bạn gần gũi trong nhóm Nhân Văn Giai Phẩm của Lê Đạt, đã có “Cảm nghĩ khi đọc Bóng chữ” đăng trên Tác phẩm mới Hoàng Cầm phát biểu “Hầu như bài nào trong Bóng chữ cũng gây cho tôi ít nhiều khoái cảm, có những câu thơ đúng là
-xuất thần, hay đến đột ngột, vì có lẽ từ trong vô thức bật ra Có những câu thơ nhưmột bức tranh “nuy” hấp dẫn, đầy dục tính mà thanh khiết lạ thường” [5] Cũng
trong năm ấy, trên cùng tạp chí này Nguyễn Quân có bài “Lê Đạt - Bóng chữ bằng trực giác” Nội dung bài viết cũng ghi nhận những nỗ lực của Lê Đạt trong việc tìm
cách biểu hiện mới cho thơ
Tiếp đến là Trần Mạnh Hảo (1995), trong bài “Nhân đọc “Bóng chữ” bàn về chữ và nghĩa trong thơ” in trong sách Thơ phản thơ - với những ý kiến phủ nhận tập thơ của Lê Đạt Ngay sau đó, có nhiều người viết về Lê Đạt và “Bóng chữ”: Nguyên Anh với bài “Lại nói chuyện giết thơ” (evan.com.vn); Hải Âu với bài
“Tạm góp ý với ông Trần Mạnh Hảo” (Tác phẩm mới, số 9); Trần Đĩnh với bài
“Bóng nghĩa hình chữ” (Tác phẩm mới, số 9); Thanh Bình với bài “Ông Trần Mạnh Hảo lại phê hụt!” (evan.com.vn) Các tác giả này khẳng định những đổi mới ngôn từ nghệ thuật của Lê Đạt trong tập “Bóng chữ”, đồng thời vạch ra những điểm bất cập trong kiến thức, trong quan điểm thơ của Trần Mạnh Hảo
Năm 1996 Đỗ Minh Tuấn viết “Từ một kì trận chữ đến những mạch đời” (đọc Bóng chữ của Lê Đạt) in trong sách Ngày văn học lên ngôi; năm 2005 Trần Ngọc Hiếu viết “Tìm hiểu một quan niệm nghệ thuật về ngôn từ trong thơ ca đương đại” Cùng trong năm 2008 là các bài viết của Lê Thiếu Nhơn: “Phu chữ ngỏ lời phương nao?” (đăng trên http://evan.com.vn); của Trần Thiện Khanh: “Lê Đạt tư duy về thơ”, “Trạng thái thơ Lê Đạt” (http://HoiluanvanhocVietNam.org); của Đỗ Lai Thuý: “Mã thơ Lê Đạt” (đăng trên Tạp chí Nghiên cứu văn học số 6); của Võ Thị Hảo: “Người vác thập giá chữ” (đăng trên http://HoiluanvanhocVietNam.org)
… Nét chung tiêu biểu trong các bài viết ấy là ủng hộ, đề cao những nỗ lực cách
Trang 9tân, những bước đột phá của Lê Đạt trong việc tạo nên “kì trận chữ” đem lại nhiềukhoái cảm và sức hấp dẫn nghệ thuật
Ở hải ngoại cũng xuất hiện nhiều bài viết có giá trị đánh giá về cống hiến
nghệ thuật của Lê Đạt Đó là bài “Lê Đạt và Bóng chữ” của nhà phê bình Đặng Tiến (đăng trên báo Hà Nội mới số 14 (3/6/1995) và số 15 (10/6/1995); phần viết về tính chất tạo sinh ở “Bóng chữ Lê Đạt” của Thụy Khuê (trong sách “Cấu trúc thơ”,
in tại Văn nghệ California, Hoa Kì năm 1996) Thái Kim Lan- một người nghiên
cứu triết học đã ghi lại những cảm xúc thán phục khi chuyển thơ Lê Đạt sang tiếng
Đức (bài “Trắng chữ nhẹ tênh”, năm 2008)
Ở thời điểm hiện tại, theo tìm hiểu của cá nhân tôi, số lượng đề tài khoa học
viết về Lê Đạt còn rất khiêm nhường Đó là các luận văn Thạc sĩ: “Đặc điểm thi pháp thơ Lê Đạt qua hai tập Bóng chữ và Ngó lời” (năm 2008, Nguyễn Thị Lan Chi); “Hành trình Lê Đạt trong nhóm thơ Dòng chữ” (năm 2010, Trần Thị Thường); “Tư duy nghệ thuật thơ Lê Đạt” (năm 2011, Nguyễn Hữu Vĩnh) Những luận văn này, trừ đề tài “Hành trình Lê Đạt trong nhóm thơ Dòng chữ” của Trần
Thị Thường, còn lại chúng tôi mới chỉ tìm được ở dạng tên đề tài hoặc đề tài tómtắt Chúng tôi sẽ tiếp tục tìm hiểu trong thời gian tới
Các công trình và loạt bài viết về Lê Đạt ở các phương diện và cách nhìnkhác nhau chứng tỏ thơ Lê Đạt là một hiện tượng nghệ thuật có sức cuốn hút vàgiàu ý nghĩa Tuy vậy, số lượng và phạm vi nghiên cứu về Lê Đạt so với những tận
tụy cống hiến của ông còn quá khiêm tốn Tìm hiểu đề tài “Hình tượng tác giả Lê Đạt trong tập thơ Bóng chữ”- một phương diện chưa được trực tiếp đề cập, người
viết hy vọng có cơ hội tìm hiểu sâu hơn một vấn đề lí thuyết giàu ý nghĩa của thipháp học; góp thêm tiếng nói nhỏ bé trong việc khẳng định giá trị thơ, tâm huyếtsáng tạo cũng như những cống hiến của Lê Đạt cho văn học
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung làm rõ các biểu hiện của hình tượng tác giả trong/qua
một hiện tượng thơ Việt Nam hiện đại Điều đó đòi hỏi những nhận thức, kiến giải
về hình tượng tác giả trong thơ, trong các khuynh hướng thơ hiện đại – là những
Trang 10sáng tác thường để lại nhiều ẩn số trong giải mã, kiếm tìm trường nghĩa, gây ra
nhiều ngờ hoặc, băn khoăn về sự “có mặt” của hình tượng tác giả
Phạm vi khảo sát tập trung vào tập sáng tác tiêu biểu nhất trong thi nghiệp
của Lê Đạt - tập thơ “Bóng chữ” được xuất bản năm 1994 Cùng với “Ngó lời”,
“Hèn đại nhân”; “Bóng chữ” đã được trao Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ
thuật năm 2007 Đó là giải thưởng cao quý, ghi nhận và xướng danh cho những nỗlực khai phá, mở đường trong hành trình cách tân thơ Việt của cây bút này Quanghiên cứu về cái nhìn và miêu tả bức tranh thế giới, cũng như cách sáng tạo ngôn
từ của Lê Đạt, chúng tôi muốn góp phần chỉ ra sự tồn tại của hình tượng tác giả
trong sáng tác thơ đương đại
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình tìm hiểu, hoàn thành luận văn, chúng tôi đã vận dụng tổng hợpcác phương pháp nghiên cứu, trong đó cơ bản nhất là:
- Phương pháp tiếp cận thi pháp học: Qua tìm hiểu, phân tích, lập luận để hướng
tới cách hiểu về khái niệm hình tượng tác giả trong văn học nói chung, trong thơ
hiện đại nói riêng; từ đó, vận dụng nghiên cứu qua sáng tác cụ thể của Lê Đạt
- Phương pháp thống kê, phân loại: Từ việc thống kê, phân loại, chúng tôi cốgắng xác lập các mối quan hệ giữa các yếu tố, các biểu hiện trong thế giới nghệthuật thơ Lê Đạt để nhận ra hình tượng chủ thể giao tiếp mà tác giả biểu hiện khikiến tạo chỉnh thể văn bản thế giới nghệ thuật của mình
- Phương pháp so sánh: So sánh với các sáng tác khác của chính tác giả Lê Đạt,
những người bạn trong nhóm thơ Dòng chữ, một số tác giả thơ Mới và qua một số hiện tượng thơ ca khác để khẳng định và làm rõ lối biểu hiện riêng về hình tượng tác giả trong tập “Bóng chữ” của ông.
- Phương pháp phân tích- tổng hợp: vận dụng phương pháp phân tích, tổng hợp,bình giá sáng tác của Lê Đạt trên cả hai mặt: nghĩa và từ, nội dung biểu đạt và cáchthức biểu đạt… để làm rõ các khía cạnh của vấn đề được trình bày trong luận văn
Trang 115 Đóng góp của luận văn
Nghiên cứu đề tài “Hình tượng tác giả trong tập thơ Bóng chữ của Lê Đạt”
là một dịp để người viết được tìm hiểu thêm, soi chiếu rõ và khẳng định ý nghĩa của
phạm trù thi pháp hình tượng tác giả trong việc tạo lập và tiếp nhận chỉnh thể thế
giới nghệ thuật thơ ca
Mặt khác, hy vọng đây cũng là một tài liệu tham khảo với những người trântrọng, yêu mến những đóng góp độc đáo của thơ Lê Đạt
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn bao gồm ba chương:
Chương I: Hình tượng tác giả trong thơ, tập “Bóng chữ” và hành trình thơ
Lê Đạt
Chương II: Hình tượng tác giả qua cái nhìn và sự miêu tả bức tranh thế giới.Chương III: Hình tượng tác giả qua cách ứng xử với ngôn từ
Trang 12NỘI DUNG CHƯƠNG 1: HÌNH TƯỢNG TÁC GIẢ TRONG THƠ,
HÀNH TRÌNH THƠ LÊ ĐẠT VÀ TẬP BÓNG CHỮ 1.1 Vấn đề hình tượng tác giả trong thơ
1.1.1 Hình tượng tác giả trong sáng tác văn học
Hình tượng tác giả “là trung tâm tổ chức nội dung- hình thức cái nhìnnghệ thuật, là trung tâm tổ chức lại ngôn từ theo nguyên tắc nghệ thuật” Tác
phẩm là kết quả sáng tạo của tác giả, nhưng cần phân biệt hình tượng tác giả
luôn tồn tại trong tác phẩm và là phạm trù của thi pháp học hiện đại với “tác giả tiểu sử” như một khái niệm ngoài thi pháp “Tác giả tiểu sử” là khái niệm chỉ con người ngoài đời của nhà văn, có họ tên, quê quán, thời gian sống và hành trạng cụ thể Là người thực hiện hành vi sáng tác, nắm tác quyền về pháp lí, những đặc điểm của “tác giả tiểu sử” nhà văn ảnh hưởng, chi phối các khía cạnh tư tưởng, nghệ thuật của tác phẩm, góp phần soi sáng, giúp chúng
ta liên hệ để xác định hình tượng tác giả trong tác phẩm Vẫn biết “văn như
kỳ nhân” nhưng không phải đời sống tác giả thế nào thì trong văn chương sẽ
“sao chép” nguyên bản như vậy Hình tượng tác giả có thể thống nhất nhưng
không bao giờ đồng nhất với con người thực trong cuộc sống của nhà văn Chẳng hạn, Vũ Trọng Phụng- ông vua phóng sự đất Bắc là một người viết vô cùng sắc sảo về những kiếp cơm thầy, cơm cô; về tệ nạn cờ bạc, gái điếm… bằng thứ ngôn ngữ sâu cay như núi lửa, như a xít tạt vào mặt xã hội đương thời; nhưng ngoài đời ông lại là người vô cùng hiền lành, sống nghiêm túc và mẫu mực
Ngay cả ở những trường hợp không xác định được tác giả tiểu sử thì tác
phẩm vẫn tồn tại hình tượng tác giả Chẳng hạn như việc chưa xác định được
ai là dịch giả thực thụ của “Chinh phụ ngâm” nhưng người đọc vẫn nhận ra
Trang 13kiểu hình tượng tác giả trong khúc ngâm là tác giả giãi bày, oán than trước
cuộc đời.
Hình tượng tác giả cũng là khái niệm khác biệt với khái niệm “tác
giả-nhà tư tưởng xã hội thẩm mỹ” “Tác giả- giả-nhà tư tưởng xã hội thẩm mỹ” là khái niệm khái quát, gắn với toàn bộ quá trình/cuộc đời sáng tác của nhà văn - tác giả tiểu sử “Tác giả- nhà tư tưởng xã hội thẩm mỹ” là đối tượng mà lịch
sử văn học thường quan tâm nghiên cứu, để xác định đặc điểm, ý nghĩa những sáng tạo nghệ thuật của nhà văn Ví dụ như khi nói “Tônxtôi lánh xa phong trào tư tưởng tiên tiến của thời đại, bởi ông mang nặng các định kiến quý tộc gia trưởng Nga” (B Buốcxốp), hoặc “Nguyễn Du một mặt vẫn kế thừa truyền thống, mặt khác lại phá vỡ truyền thống để đi đến chủ nghĩa hiện thực, nhưng rốt cuộc Nguyễn Du vẫn dừng lại trước ngưỡng cửa của chủ nghĩa hiện thực chứ chưa đi được vào quỹ đạo của nó” (Nguyễn Lộc) [55, tr.106]… là nói khái quát về Tônxtôi, về Nguyễn Du như những “nhà tư tưởng xã hội thẩm mỹ” chứ không phải như những “tác giả tiểu sử” có thật ngoài đời, hay những
“hình tượng tác giả” gắn với sáng tác cụ thể.
Giữa “tác giả tiểu sử”, “tác giả- nhà tư tưởng xã hội thẩm mỹ” và hình tượng tác giả trong tác phẩm (cụ thể) có quan hệ qua lại với nhau Không
phải mọi dấu hiệu tiểu sử của tác giả cụ thể, mọi quan niệm tư tưởng xã hội thẩm mỹ của nhà văn đều được thể hiện trong tác phẩm Song, đó lại là cơ sở
tiền đề dẫn đến, soi chiếu hình tượng tác giả trong tác phẩm Việc tìm hiểu
“tác giả tiểu sử”, “tác giả- nhà tư tưởng xã hội thẩm mỹ” là cần thiết trong
nghiên cứu văn học, nhưng không thể thay thế được việc tìm hiểu hình tượng tác giả trong tác phẩm Với tư cách là cơ sở, trung tâm tổ chức nên thế giới nghệ thuật trong tác phẩm, hình tượng tác giả là một phạm trù của thi pháp
học hiện đại, gắn với việc xem xét các cấp độ chỉnh thể của tác phẩm nghệ thuật cụ thể.
Trang 14Tác phẩm văn học là sản phẩm sáng tạo độc đáo của nhà văn, luôn
mang đậm dấu ấn cá nhân của người nghệ sỹ Khái niệm hình tượng tác giả ở
đây được hiểu như là một hiện tượng thẩm mỹ, như là một hình tượng do nhà văn sáng tạo ra trong và qua các cấp độ, phạm vi của văn bản tác phẩm cụ thể Theo Giáo sư Trần Đình Sử, so với hình tượng nhân vật trong thế giới nghệ
thuật, “Hình tượng tác giả cũng là hình tượng được sáng tạo ra trong tác phẩm nhưng theo một nguyên tắc khác hẳn Nếu hình tượng nhân vật xây dựng theo nguyên tắc hư cấu, được miêu tả theo quan niệm nghệ thuật về con người, thì hình tượng tác giả được thể hiện theo nguyên tắc tự biểu hiện sự
cảm nhận về thái độ thẩm mĩ với thế giới nhân vật” [55,tr.107]
Trong giao tiếp cụ thể, nhu cầu được tự biểu hiện, tự khẳng định mình với người đối thoại là rất tự nhiên Đó có thể là cách tự biểu hiện mình như người uyên bác, hào phóng, hiếu khách, giàu tình cảm… theo những chuẩn mực, những yêu cầu tiến bộ của xã hội Với nghệ sỹ, sáng tạo là nhu cầu thường trực Tác phẩm là nơi tác giả thoải mái trường diễn một biểu hiện cụ thể, độc đáo cái tôi nghệ sỹ của mình Cũng vậy, trong tác phẩm văn học, tác giả thường thể hiện mình như người phát hiện, khám phá cái mới, có nhãn quan cấp tiến, cá tính độc đáo… Dù biểu hiện ở văn bản một cách trực tiếp hay gián tiếp, tác giả luôn hiện ra trong tác phẩm như chủ thể giao tiếp với người đọc, muốn đề xuất, cắt nghĩa, lý giải, đánh giá một vấn đề nào đó đối với độc giả Vì thế, trong quá trình đọc- tiếp nhận, cùng với nhu cầu nhận diện, khám phá tác phẩm, người đọc luôn có nhu cầu nhận biết, khái quát về tác giả - chủ thể cùng giao tiếp thẩm mỹ bằng/qua văn bản tác phẩm
Hình tượng tác giả được biểu hiện ra trong tác phẩm một cách đặc biệt.
Mỗi nhà văn, nhà thơ bất kể muốn hay không đều miêu tả/thể hiện chính mình trong tác phẩm qua thế giới hình tượng do chính mình tạo ra Điều ấy có nghĩa
là người nghệ sỹ biểu hiện cảm nhận của mình về thế giới, biểu hiện cách suy
Trang 15nghĩ của mình, cách diễn đạt của mình qua thế giới hình tượng bằng ngôn từ nghệ thuật Và chính cách suy ngẫm, diễn đạt, cảm nhận đó trở thành trung tâm
tổ chức tác phẩm, đem đến sự nhất quán lôgic, sự thống nhất của tác phẩm về mặt phong cách học Ngôn từ là phát ngôn của chủ thể lời nói, thể hiện giọng điệu, tư tưởng, tình cảm, văn hóa, địa vị xã hội của chủ thể, thể hiện phong cách nghệ thuật nhà văn, nhà thơ Vì thế, ngôn từ trong văn học cũng là biểu
hiện của hình tượng tác giả, trên các phương diện: từ vựng, ngữ pháp, ngữ
nghĩa, ngữ âm (Với Lê Đạt, tác giả chúng tôi đang quan tâm tìm hiểu, cách ứng xử với ngôn từ của ông, thi pháp chữ của ông là một trong những phương
diện vô cùng quan trọng trong việc thể hiện hình tượng tác giả).
Khi lý giải về sự hình thành kiểu tác giả trong lịch sử văn học, ở công
trình “Thi pháp văn học trung đại”, giáo sư Trần Đình Sử cho rằng: “Với tư
cách là tác giả, nghệ sỹ có một quan hệ nhất định với thế giới vật liệu đời sống, sẽ tạo thành thế giới nghệ thuật của anh ta, có thái độ nhất định với ngôn ngữ mà anh ta sử dụng” Tác giả luôn miêu tả mình trong tác phẩm dù
đó là trực tiếp hay gián tiếp, muốn hay không muốn; nghĩa là người đọc khi đi
tìm hiểu tác phẩm sẽ gặp được hình tượng tác giả với tư cách là người sáng
tạo, tổ chức nội dung và hình thức nghệ thuật theo quan niệm riêng và suy
nghĩ của mình về thế giới khách quan Hình tượng tác giả trong văn học là
hình tượng “hàm ẩn” trong tác phẩm nghệ thuật ngôn từ.
Viện sỹ Nga V.Vinôgrađốp trong nhiều công trình đã đề cập đến vấn đề
hình tượng tác giả Theo ông, hình tượng tác giả là phạm trù cơ bản nhất giúp
người đọc nhận ra dòng ý thức của tác giả và nhận thức được tác phẩm trong
tính toàn vẹn, sinh động của nó “Hình tượng tác giả là cơ sở, là trung tâm của phong cách ngôn ngữ” [55, tr.107]; là điểm quy tụ thống nhất về tư tưởng, kết cấu hình tượng… Như vậy, theo ông, hình tượng tác giả vừa là người
sáng tạo ra thế giới nghệ thuật vừa là cấu trúc lời nói, tổ chức ngôn từ nghệ
Trang 16thuật Thế giới hình tượng nghệ thuật và ngôn từ là hai cấp độ của văn bản tác phẩm, đó là kết quả sáng tạo của của người nghệ sỹ và là phương tiện để bộc
lộ hình tượng tác giả (Đây cũng chính là những phương diện biểu hiện đậm nét khi nghiên cứu về hình tượng tác giả trong tập thơ “Bóng chữ” của Lê Đạt)
Hình tượng tác giả là sự phản ánh nghệ thuật của tác giả vào tác phẩm, cho thấy tương quan giữa người sáng tạo ra tác phẩm văn học và văn học; đồng thời cũng là vấn đề của cấu trúc nghệ thuật, sự thể hiện của chủ thể nghệ
thuật trong tác phẩm văn học Như vậy, khi nói tới hình tượng tác giả hay
“tiếng nói tác giả” là ta nói tới dấu ấn cá nhân của những lớp ngôn từ nghệ thuật do chủ thể thẩm mỹ sáng tạo ra mà người ta không thể gán cho nhân vật chính hoặc người kể chuyện hư cấu M Bakhtin đã khẳng định: “Tác giả nằm ngoài thế giới nhân vật, đúng hơn là tiếp giáp với mặt ngoài của biểu hiện nhân vật Tác giả nên ở trên ranh giới của thế giới do anh ta sáng tạo… lập trường của tác giả có thể xác định qua cách mà anh ta miêu tả bề ngoài của
thế giới đó” Như vậy, hình tượng tác giả có thể hiểu như hình tượng biểu
hiện “lập trường tác giả” như chủ thể giao tiếp thẩm mỹ, hiện diện tại hình thức tác phẩm như là một nguyên tắc thẩm mỹ tạo hình cho thế giới nghệ thuật của tác phẩm.
Từ những luận điểm ấy, chúng ta nhận thấy rằng hình tượng tác giả là
trung tâm tổ chức nội dung, hình thức cái nhìn nghệ thuật, là người sáng tạo
ra thế giới nghệ thuật, đồng thời là trung tâm tổ chức ngôn từ nghệ thuật Mặt
khác, hình tượng tác giả là dấu ấn chủ thể sáng tạo in đậm trong tác phẩm,
thấm trong toàn bộ cơ chế và yếu tố tạo thành của sản phẩm nghệ thuật
Tuy nhiên, khi nói về hình tượng tác giả chúng ta cần nhận ra tính gián
cách của nó với những yếu tố trực tiếp của tác phẩm Dù chúng ta có thể tìm thấy nhiều dấu hiệu của phạm trù đó trong nhân vật trữ tình, người kể
Trang 17chuyện… nhưng không thể đồng nhất chúng một cách giản đơn, quy chụp.
Hình tượng tác giả phải là hình tượng một con người được người đọc khái
quát, suy ra từ chỉnh thể văn bản tác phẩm.
1.1.2 Thơ trữ tình như một cách biểu hiện hình tượng tác giả
Trước hết chúng ta cùng xem xét lại quan niệm của nhà nghiên cứu văn học
Lại Nguyên Ân về sự tồn tại của hình tượng tác giả: “Chỉ vận dụng vào các thể loại
tự sự mới có thể nói đến hình tượng tác giả- người trần thuật với tư cách là hình thức có mặt gián tiếp của tác giả ngay bên trong tác phẩm của mình Ở văn xuôi nghệ thuật, nói hình tượng tác giả hoặc tiếng nói tác giả là để nói đến dấu ấn cá nhân của những lớp ngôn từ nghệ thuật mà người ta không thể gán cho các nhân vật chính hoặc người kể chuyện hư cấu Có quan niệm coi hình tượng tác giả là hình tượng lời nói” [3, tr.147] Như vậy, ông quan tâm đến việc giải phóng giọng điệu cá nhân hình thành hình tượng tác giả Gắn hình tượng tác giả với tiếng nói
người nghệ sỹ là hoàn toàn có cơ sở, song nếu cho rằng thể loại trữ tình không thể
hoặc khó biểu hiện hình tượng tác giả lại là một thiên kiến cực đoan, thiếu hụt Hình tượng tác giả tất nhiên bộc lộ trong mọi tác phẩm của các thể loại, ngay cả tác phẩm văn học dân gian Tất nhiên hình tượng tác giả xuất hiện rõ nhất khi giọng
điệu cá nhân được giải phóng, khi mà các phương diện nội dung nhân cách chủ thểgiao tiếp thẩm mỹ (tính cách, thế giới quan, đặc biệt là lập trường tư tưởng- thẩmmỹ) ngày càng nhập sâu vào cơ cấu nghệ thuật của tác phẩm
Thực chất, ở mỗi thể loại văn học hình tượng tác giả biểu hiện có khác nhau,
phụ thuộc vào từng cấu trúc thể loại và loại hình tác phẩm cụ thể Trong kịch bản
văn học không dễ gì nhận ra hình tượng tác giả vốn cách biệt hẳn, ẩn sâu sau các
nhân vật, không có nhân vật chuyên kể chuyện Trong tiểu thuyết, truyện ngắn,thường có hình tượng người kể chuyện gắn kết các nhân vật của thế giới nghệ thuật
với hình tượng tác giả (thường ẩn sâu, bộc lộ mình qua nhân vật, sự kiện…) Hình tượng tác giả trong kí về cơ bản không hề trang điểm, trang sức mà xuất hiện như
trực tiếp giao tiếp với người đọc Tác giả kí là người trực tiếp tham gia vào thế giớihình tượng nghệ thuật của tác phẩm, phát huy khả năng quan sát, liên tưởng, tưởng
Trang 18tượng kết nối các chi tiết sự kiện, trực tiếp bày tỏ tư tưởng, tình cảm của mình đểhướng dẫn người đọc cảm thụ cuộc sống theo tư tưởng, quan niệm nghệ thuật nào
đó Trong thơ, hình tượng tác giả có đặc trưng riêng do những đặc điểm của thể loại
quy định
Ở thơ trữ tình, tình cảm, cảm xúc, tâm trạng, suy nghĩ của chủ thể giao tiếpđược trình bày trực tiếp và làm thành nội dung chủ yếu của tác phẩm Ở tác phẩm,nhà thơ có thể biểu hiện cảm xúc cá nhân của mình mà không cần kèm theo miêu tảbiến cố hay sự kiện nào Dấu ấn chủ quan của người nghệ sỹ bộc lộ rõ nhất qua “cáitôi trữ tình” Nhân vật trữ tình xưng “tôi” trong thơ thể hiện trực tiếp cảm xúc, suynghĩ chân thực của bản thân mình Cái “tôi” là kết quả của việc con người táchmình ra khỏi môi trường xung quanh, cho phép con người tự cảm thấy mình nhưmột chủ thể Cái “tôi” là quan niệm của chủ thể về mình hình thành trong hoạt độnggiao tiếp, mang đặc điểm như chỉnh thể thống nhất, có khả năng tự đánh giá, tựquan sát, tự điều chỉnh, bao gồm nhiều phương diện có mâu thuẫn nhưng thốngnhất Như vậy, cái tôi có chức năng tự nhận thức của chủ thể; giúp con người ý thức
về bản thân mình ở cái lõi tinh thần, xác định được vị trí của mình trong cuộc đời vàthế giới Cái “tôi” là cơ sở hình tượng của nhân vật trữ tình hay nói cách khác, “cái
tôi” là hạt nhân của cấu trúc hình tượng tác giả trong thơ trữ tình.
Cần nhận rõ sự khác biệt và những liên đới, giao thoa giữa các khái niệm
“nhân vật trong thơ trữ tình”, “nhân vật trữ tình”, “cái tôi trữ tình” và hình tượng tác giả trong tác phẩm thơ trữ tình “Nhân vật trong tác phẩm trữ tình” (chẳng hạn, trong “Bầm ơi” của Tố Hữu, có nhân vật bà mẹ chiến sĩ…) là đối tượng để “nhân
vật trữ tình” (anh bộ đội) gửi gắm tâm sự, cảm xúc, suy nghĩ của mình “Nhân vậttrữ tình” (anh bộ đội) là hình tượng để biểu hiện “cái tôi trữ tình” tha thiết yêu đấtnước, nhân dân, gia đình Và các cấp độ hình tượng cụ thể ấy là biểu hiện ở những
mức độ khác nhau của hình tượng tác giả trong bài thơ Mức độ giao hòa, gắn kết giữa “nhân vật trữ tình” với “cái tôi trữ tình” và hình tượng tác giả trong một bài thơ trữ tình là rất chặt chẽ “Cái tôi trữ tình” và hình tượng tác giả trong cả tập thơ
Trang 19lại là phạm vi khác, được khái quát từ/trên cơ sở những “cái tôi trữ tình” và hình tượng tác giả các bài thơ của tập
Nhân vật trữ tình không phải là đối tượng để nhà thơ miêu tả mà chính làhình tượng con người với những cảm xúc, ý nghĩ, tình cảm, tâm trạng, suy tư được thể hiện trong tác phẩm Khi đọc một bài thơ, trước mắt chúng ta không chỉxuất hiện những cảnh thiên nhiên, sinh hoạt, những con người – nhân vật, mà cònmột hình tượng của ai đó đang ngắm nhìn, rung động, suy tư về chúng, về cuộcsống nói chung “Nhân vật trữ tình” là phương thức bộc lộ “cái tôi trữ tình”, hìnhtượng của ý thức tác giả, “đồng dạng” với thi sỹ Hình tượng nhà thơ hiện ra từ vănbản trữ tình vô cùng đa dạng: như một con người có đường nét hay một vai sốngđộng, có số phận cá nhân xác định hay có thế giới nội tâm cụ thể, đôi khi có cả nét
vẽ chân dung mặc dù không bao giờ đạt tới đặc điểm của một nhân vật như trongtác phẩm văn xuôi
Trên phương diện ngôn ngữ học, lấy Bauderlaire làm điểm tựa phân tích,
Jacovson nhận xét: “Định hướng dùng ẩn dụ một cách cơ bản thì ai cũng biết, vấn
đề còn lại là xác định cấu trúc chủ tố của khuynh hướng trữ tình của nhà thơ những xung động trữ tình được sinh từ “cái tôi” của nhà thơ” [53, tr.224].
-Trong thực tế tài liệu mà chúng tôi tìm hiểu, mỗi người trên cơ sở quan điểm
của mình đề xuất một cách hiểu về hình tượng tác giả, cho thấy vấn đề hình tượng tác giả còn nhiều điều cần tiếp tục làm rõ Có người hiểu quá hẹp, có người mở quá rộng phạm vi hình tượng tác giả ở mọi thành tố cấu tạo tác phẩm: từ cách quan sát,
cách suy nghĩ, thích cái gì, ghét cái gì trong lập trường đời sống, đến giọng điệu lờivăn- cả giọng điệu người trần thuật và giọng điệu nhân vật Thi pháp học nghiên
cứu hình tượng tác giả như các hình tượng nghệ thuật khác, “là một hình tượng của tác giả được sáng tạo ra trong tác phẩm như là các nhân vật khác, sáng tạo ấy hoàn toàn không theo ý muốn chủ quan của cá nhân” [55, tr.107] Hình tượng ấy có
các biểu hiện khác biệt do phương thức tổ chức, do kiểu tái hiện đời sống và do sựgiao tiếp nghệ thuật ở mỗi thể loại tác phẩm văn học không giống nhau Đồng thời,
Trang 20ngay trong cùng một thể loại nhưng ở mỗi khuynh hướng sáng tác, hình tượng tác giả lại có cách bộc lộ khác.
Nếu các hình tượng nghệ thuật khác như thời gian nghệ thuật, không giannghệ thuật, nhân vật… giúp chúng ta chiếm lĩnh thế giới nghệ thuật được miêu tả
trong tác phẩm, thì hình tượng tác giả cho ta hiểu về chủ thể sáng tạo của văn bản tác phẩm, hiểu về phong cách tác giả Cho nên hình tượng tác giả phức tạp hơn các
hình tượng nghệ thuật khác Nó ẩn tồn tại gián tiếp sau mọi hình thức nghệ thuật
Nghiên cứu hình tượng tác giả phải tìm hiểu và khái quát qua nghiên cứu
không-thời gian, nhân vật tự sự, nhân vật trữ tình… của tác phẩm
Trở lại với thể loại thơ, qua các trào lưu, khuynh hướng sáng tác khác nhau,
chúng ta sẽ thấy sự biểu hiện phong phú của hình tượng tác giả
1.1.3 Hình tượng tác giả qua một số trào lưu thơ hiện đại
1.1.3.1 Hình tượng tác giả qua trào lưu thơ lãng mạn
Trào lưu văn học nghệ thuật lãng mạn được phát triển trước nhất ở Anh vàĐức vào cuối thế kỷ XVIII, sau đó lan sang Pháp cùng những nước khác với nhữngđại biểu xuất sắc: William Blake, William Wordsworth, Samuel Taylor Coleridge,Lord Byron, Percy Bysshe Shelley, và John Keats
I Kant, triết gia vĩ đại người Đức được coi như người đầu tiên phân biệtnghệ thuật với lĩnh vực thủ công, đã khẳng định: khi đến với nghệ thuật, bình diệnnhận thức phải đứng sau bình diện khoái cảm Và thơ chính là sự biểu hiện đã được
ý thức, là tiếng nói của tình cảm nhằm biểu hiện cái “tôi”, là vương quốc của cáitưởng tượng và những cảm xúc mãnh liệt Thơ ca lãng mạn là sự biểu hiện rõ nhất
hình tượng tác giả qua sự trải lòng của chủ thể một cách trực tiếp.
Nếu như nhà thơ cổ điển thường biểu hiện cái tĩnh lặng, bất biến; luôn muốntiết chế, kìm nén cảm xúc của mình lại, thì thơ lãng mạn lại luôn mở cửa cho nhữngdòng cảm xúc tuôn chảy Những cảm xúc mong manh nhất, run rẩy nhất, cái mơ hồthoáng qua hay sự thiết tha thắm lại đều được ngôn ngữ thơ lãng mạn biến thành lời
tâm tình, tâm sự: “Trời sinh ra bác Tản Đà/ Quê hương thời có, cửa nhà thời không”, “Túi thơ đeo khắp ba kì/ Lạ gì rừng biển thiếu gì gió trăng" (Thú ăn chơi-
Trang 21Tản Đà); “Tôi là con nai bị chiều đánh lưới/ Không biết đi đâu đứng sầu bóng tối" (Khi chiều giăng lưới- Xuân Diệu) ; "Tôi là người bộ hành phiêu lãng/ Đường trần gian xuôi ngược để vui chơi /Tìm cảm giác hay trong tiếng khóc, câu cười/ Trong lúc gian lao, trong giờ sung sướng" (Cây đàn muôn điệu- Thế Lữ)…
Đọc những vần thơ ấy ta cũng thấy rõ vì sao trong thơ lãng mạn một trongnhững cảm xúc dồi dào nhất là ý thức tự biểu hiện của cái tôi trữ tình, là nhiệt tình
tự khẳng định của hình tượng tác giả lồ lộ qua cái "tôi" kiêu hãnh, hào sảng, tha
thiết, rạo rực hay bi thiết, thê lương, chán chường, phiêu lãng
Nếu nhà thơ cổ điển thường là sử dụng hệ thống điểm nhìn siêu cá thể, hìnhtượng tác giả luôn nép mình dưới bóng dáng thiên nhiên, qua trạng thái hóa sinh tựnhiên của cõi tuần hoàn, thì các nhà thơ lãng mạn lại coi trọng, chú tâm trực tiếpbộc lộ tâm tình của mình Lúc này, con người trở thành trung tâm phóng chiếu lên
vạn vật : "Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang/ Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng" ("Đây mùa thu tới"- Xuân Diệu) ; "Ta muốn riết mây đưa và gió lượn, Ta muốn say cánh bướm với với tình yêu/ Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều/ Và non nước,
và cây, và cỏ rạng " ("Vội vàng"- Xuân Diệu) Vì vậy, ngay khi cả một bài thơ là bức
tranh thiên nhiên thì bức tranh thiên nhiên ấy vẫn phập phồng cảm giác, cảm xúc
của con người, của cái "tôi" tác giả (như "Tràng giang" của Huy Cận, "Đây mùa thu tới" của Xuân Diệu ) Thật có lý khi Thanh Tâm Tuyền chia sẻ : "Trong thơ ca, tôi trở thành ông hoàng trong vương quốc của tôi" Có thể thấy, lãng mạn là trào lưu thơ mà ở những tác phẩm của nó, hình tượng tác giả dần ngoại hiện trực tiếp, từ
cách xưng hô đến sự xuất hiện qua thế giới hình tượng, ngôn ngữ, nhịp điệu
1.13.2 Hình tượng tác giả qua trào lưu thơ tượng trưng
Dòng thơ tượng trưng là một trào lưu nghệ thuật ra đời vào những năm 20của thế kỉ XX với những tên tuổi như An-đrê Brơ-tông, Giăng Cốc-tô, Guy-ôm A-pô-li-ne, Sác- lơ Bô-đơ-le Với tư cách là trào lưu văn học ở các nước thì tượngtrưng là hiện tượng chóng tàn; nhưng xét về kiểu sáng tác thì thơ tượng trưng là mộthiện tượng khác hẳn các dòng thơ trước đó, và có ảnh hưởng sâu rộng tới thơ catoàn thế giới
Trang 22"Nhiệt tình của các nhà thơ tượng trưng là muốn vượt qua thi pháp thơ lãngmạn Họ không hài lòng với nguyên tắc miêu tả trực tiếp sự việc và bộc lộ trực tiếpnỗi lòng… Các nhà thơ tượng trưng muốn khắc phục bằng ám thị, tránh bớt các lờigiải thích, lời trình bày lộ rõ ý nghĩ và tình cảm" [57, tr.65] Điều đó cũng có nghĩa,trong quan niệm thông thường, "cái tôi" vẫn được biết đến như yếu tố trung tâmkhơi nguồn sáng tạo Song, với dòng thơ tượng trưng, "cái tôi" duy ngã đã mất sựđơn nghĩa độc tôn, bị lu mờ và bội phân, thậm chí lũy thừa để trở thành cái tôi "đa
ngã" Hình tượng chủ thể giao tiếp thẩm mỹ xuất hiện với nội dung, đặc điểm khác,
gắn với quan niệm của các nhà thơ tượng trưng coi cứu cánh của động tác thi canằm ở sự biểu lộ, phát giác phần vô thức của "cái tôi chưa biết"
Kì thực, thơ tượng trưng giống như một bài thách đố, đòi hỏi chúng ta phải
đi tìm kiếm những ý nghĩa nội tại đằng sau những câu chữ, hình tượng cụ thể trongtác phẩm, vốn được lựa chọn, sáng tạo, tổ chức để đạt hiệu quả cao nhất (tượngtrưng hàm súc nhất) trong miêu tả, biểu hiện Chủ trò tạo ra cuộc ú tim trong tròchơi chữ nghĩa ấy chính là chủ thể sáng tạo thẩm mỹ - hình tượng tác giả, kín đáobộc lộ mình qua dàn dựng, kiến thiết ngôn từ, hình ảnh theo cách riêng của bản
thân Theo đó, hình tượng tác giả sẽ hiện lên gián tiếp qua hình thức âm thanh, đi
vào cấu trúc không gian, qua lối viết tự động đảo lộn cú pháp truyền thống, quangôn ngữ cách tân dựa trên ngữ căn học… Cũng có nghĩa là dấu ấn chủ thể sẽ phát
lộ qua cách thức và kĩ thuật mà nhà thơ thể hiện trong sáng tạo nghệ thuật Như khi
Đái Vọng Thư viết : "Giương chiếc ô giấy dầu đơn độc/ Một mình nơi ngõ mưa dằng dặc/ Dằng dặc và vắng tanh/ Tôi ước mơ được gặp/ Một cô em đẫm buồn/ Như hoa Đinh Hương." (Ngõ mưa) Hình ảnh " cô em đẫm buồn" là hình ảnh con người đồng
dạng với nhà thơ, là số phận của nhà thơ Ta đoán nhận ra điều ấy qua sự lặp lại vàbiến đổi của các biểu tượng: một mình, ngõ mưa, dằng dặc, đợi chờ , chứ khônghiện lên trực tiếp qua con chữ phơi bày nét nghĩa
Cũng như thế, lời thơ tượng trưng: "Không ai chôn cất tiếng đàn/ Tiếng đàn như cỏ mọc hoang/ Giọt nước mắt vầng trăng/ Long lanh trong đáy giếng" ("Đàn ghi
ta của Lor- ca"- Thanh Thảo) mở ra nhiều hướng diễn dịch: là nỗi xót thương cái chết
Trang 23của một thiên tài, là nỗi xót tiếc hành trình cách tân dang dở không chỉ với Lor- ca màcòn với cả nền văn chương Tây Ban Nha Nhưng ý thơ đâu chỉ dừng lại ở đó; dườngnhư còn có cả hình tượng nghệ sĩ với nỗi buồn vương vất của người ham tìm tòi,cống hiến cái đẹp Ta cảm nhận được hình bóng tác giả ấy qua cấu trúc gián đoạn
"Giọt nước mắt vầng trăng/ Long lanh trong đáy giếng" tạo lập một hệ thống hình
ảnh trùng phức, giao thoa, ánh xạ vào nhau, gợi những suy tư đa chiều
Có lẽ, với thơ tượng trưng, chỉnh thể hình tượng chủ thể thẩm mỹ đa ngã mới
là điều quan trọng nhất mà tác giả nhằm tới trong giao tiếp nghệ thuật với độc giả.Những hình ảnh, biểu tượng được sáng tạo nhằm vào mục tiêu tượng ý hàm chứa,hơn là nhằm vào tính hợp lí của đường nét, màu sắc, hình khối của sự vật, sự việc ; vàcâu chữ cũng không câu nệ những diện mạo, kết hợp bề ngoài, nhiệm vụ của nó làkhêu gợi, truyền đạt những khả năng cảm hiểu thế giới nghệ thuật, cảm hiểu nhữngthông điệp thẩm mỹ phong phú, đa dạng mà tác giả muốn giao tiếp với cuộc đời
1.1.3.3 Hình tượng tác giả qua trào lưu thơ siêu thực
Theo "Tuyên ngôn siêu thực" do An-đrê Brơ-tông đưa ra năm 1942, chủ nghĩa siêu thực là "chủ nghĩa tự động tâm linh thuần túy mà từ đó người ta dễ dàng giải thích hoặc bằng lời, hoặc bằng cách viết, hoặc bằng mọi kiểu khác các chức năng thực sự của tư duy Là sự sao chép chống lại tư duy trong điều kiện không có sự kiểm soát của lí trí, nằm ngoài mọi quan điểm thẩm mĩ hay đạo đức" [37, tr.170]
Trào lưu thơ siêu thực đề ra một hệ thống quan điểm Thứ nhất là đề cao vàchú trọng khai thác cái ngẫu hứng, cái bất ngờ trong thế giới vô thức, thế giới hạ ýthức Ngay từ đầu, nhà thơ G A-pô-li-ne, người khai sinh ra chủ nghĩa siêu thực đãxác định: chính bằng ngẫu hứng, bằng vị trí quan trọng dành cho ngẫu hứng mà tinh
thần mới (siêu thực) phân biệt với tất cả các trào lưu trước đây Thứ hai, các nghệ sỹ
siêu thực đề cao vai trò của cái hỗn độn, phi lôgíc Họ vứt bỏ mọi sự phân tíchlôgíc, phá vỡ mọi suy luận lí tính Họ chỉ tin vào năng lực trực giác, giấc mơ, ảogiác, tin vào các linh cảm bản năng và sự tiên tri Do đề cao ngẫu hứng, các nhà siêuthực cho rằng thơ ca là sự tự động tuôn trào của mạch cảm xúc theo "chủ nghĩa tựđộng tâm linh" Quan điểm mỹ học thứ ba của nghệ thuật siêu thực là chủ trương
Trang 24phá vỡ sự ngăn cách giữa chủ thể và khách thể Họ biến chủ thể thành khách thể bởi
vì tùy theo vị trí của con người mà họ nhìn khách thể khác nhau với những bản chấtkhác nhau Đây là điểm tạo ra sự bí hiểm, khó hiểu của thơ ca siêu thực
Với hệ thống quan điểm mỹ học ấy, hình tượng tác giả có còn tồn tại không?
Liệu băn khoăn về "cái chết của tác giả" của các nhà hậu hiện đại là có cơ sở?Không! Tác phẩm văn học là đứa con tinh thần được nhà văn thai nghén, ấp ủ, sángtạo, sản phẩm ấy không thể không có dấu ấn của người nghệ sỹ Tuy không lộ diện
trên bề mặt ngôn từ, nhưng trong sáng tác siêu thực, hình tượng tác giả bộc lộ qua
cách thức các nghệ sỹ gạt bỏ mọi quy tắc ngữ pháp, gạt bỏ mọi nguyên tắc lôgíc của
lí tính; đề cao sự liên tưởng cá nhân độc đáo, kêu gọi hướng tới sự hồn nhiên, suynghĩ không mạch lạc; say mê với trạng thái mê sảng, tới ảo giác mộc mạc tồn tại
trong tư duy nguyên thủy Chẳng hạn, trong bài "Tự do" của P.Ê-luy-a, câu chữ chuyển đến người đọc những hình ảnh mơ hồ, trừu tượng : "Trên sa mạc trên rừng hoang/ Trên tổ chim hoa trái/ Trên thời thơ ấu ngân vang", "Trên những mảnh trời trong xanh/ Trên ao mặt trời ẩm mốc/ Trên hồ vầng trăng lung linh" Các địa điểm ở đây đều mang tính chất vô hình, cho dù có thể cảm nhận nhưng không thể “Tôi viết tên em" được Song, tác giả đã hai mươi lần lặp lại khát vọng ấy trong số hai mươi
mốt khổ thơ để biểu hiện hình tượng con người với mạch cảm xúc tha thiết tự dotuôn trào, dào dạt đến vô cùng Hình tượng ấy cũng cho thấy cảm xúc bức bách đến
đỉnh điểm của P.Ê-luy-a với tự do, khi mà nước Pháp của ông đang bị phát xít Đức
chiếm đóng
Như vậy, khái lược tìm hiểu về hình tượng tác giả trong thơ và qua một số
trào lưu thơ tiêu biểu, ta nhận thấy thơ trữ tình là thể loại phù hợp nhất trong việcbiểu hiện chủ thể giao tiếp thẩm mỹ qua tác phẩm Tuy nhiên, sự bộc lộ và hiệndiện ấy ở mỗi kiểu sáng tác lại có những sắc thái riêng Tính độc đáo, đặc thù củahình tượng tác giả càng rõ hơn khi chúng ta khảo sát, tìm hiểu tác phẩm cụ thể, sángtác của người viết cụ thể
Trang 251.2 Lê Đạt và kiểu hình tượng tác giả trong tập thơ “Bóng chữ”
1.2.1 Khát vọng đổi mới và hành trình thơ Lê Đạt
Hành trình sáng tác thơ Lê Đạt có thể coi như một sự ứng chiếu với hànhtrình bể ngải trong chính cuộc đời ông Nhiều tài liệu và nhiều học giả chia sáng táccủa Lê Đạt thành hai giai đoạn: trước và sau vụ Nhân Văn Giai Phẩm
Theo chúng tôi, có thể tìm hiểu hành trình sáng tác của nhà thơ qua ba chặngđường Chặng một từ 1955 đến 1958, tức là trước thời điểm xảy ra vụ Nhân VănGiai Phẩm Ý tưởng cách tân thơ Việt, vượt thoát ra khỏi cũi lồng của thơ Mới vàtung hoành tự do trong địa hạt sáng tạo văn chương của Lê Đạt và những người
đồng chí trong nhóm cùng xuất phát từ hướng này Tập thơ mang tên "Giai phẩm mùa xuân" được xuất bản vào tháng 1 năm 1956 của các cây bút Lê Đạt, Trần Dần,
Hoàng Cầm, Tử Phác… là kết quả của khao khát dân chủ trong sáng tạo thơ ca chữnghĩa Do học lối viết thơ leo thang của Maiacopxki, sáng tác của Lê Đạt ở thời kìthứ nhất này có mới lạ về hình thức, phần nào gây sốc về nội dung Tuy nhiên, như
chính tác giả tự nhận: tính cách tân vẫn chủ yếu chỉ ở chỗ “thiên hạ chủ yếu làm thơ ca ngợi (dấu cộng) Tôi chủ yếu làm thơ phê phán (dấu trừ)” [17] Mặt khác,
phần lớn cũng vì khát khao cách tân và cách thức thể hiện khát khao đó, từ tháng 8năm 1956, Lê Đạt chính thức nếm trải trái đắng trong cuộc đời và hành trình sángtác
Chặng hai từ 1958 đến 1988, tức là từ thời điểm Lê Đạt “gặp nạn” cho đếnlúc được “xóa tội” Chặng đường ấy ba mươi năm Ba mươi năm của thời trai trẻ là
cả một quãng thời gian “xanh non và biếc rờn” nhất của một đời người Lê Đạt trảiqua thời “xanh non và biếc rờn” ấy trong hoàn cảnh không được tự do Số đôngcông chúng văn học ngỡ rằng sẽ chỉ còn có thể thương nhớ ông qua hoài niệm với
sáng tác trong "Giai phẩm mùa xuân" thôi Nhưng bản lĩnh sống và bản lĩnh sáng tác của Lê Đạt thật dẻo dai, bền bỉ và mãnh liệt ý chí Trong tiểu luận Đường chữ, ông viết: “ trong suốt ba mươi năm đại hạn này, tôi có nhiều thời gian suy nghĩ về thơ mình cũng như về thơ nói chung Tôi buồn rầu nhận ra rằng thơ tôi chưa có cách tân triệt để” Với suy nghĩ ấy, thời gian chịu án treo bút cũng là thời gian ông tự
Trang 26truy vấn chính mình về lương tâm của người nghệ sỹ chân chính, về trách nhiệm
thực thụ của một nhà thơ “Tôi luôn tự hỏi: Chẳng lẽ mình thiếu nghị lực đến mức không tận dụng được những bất hạnh gây ra cho gia đình, bạn bè, người quen, người không quen cũng như cho chính bản thân mình để có đủ hơi sức tiến hành những cách tân thơ từng ôm ấp từ hồi nhỏ? Chẳng lẽ mình đành phí bỏ nghiệm sinh một cách vô ích và oan uổng? Làm thế nào để không bị rớt lại như một rơ- moóc già tại một ga xép rêu mốc?” [17] Sự trở trăn đầy tự trọng và đáng quý trọng vô ngần ấy đã trở thành động lực thôi thúc Lê Đạt “bắt đầu cuộc hành trình lần tìm vô thức thông qua việc giải phóng ngôn ngữ” [17] dưới sự dẫn dắt của thuyết phân tâm
học Freud Và hành trình ấy của ông đã thành công, được thừa nhận, được ghi tạcxứng đáng Dù rằng đâu đó vẫn định kiến với ông nhưng đại đa số người biết và
hiểu Lê Đạt đều gọi ông bằng biệt hiệu mến yêu“ông Di Lặc” Tìm hiểu sự nghiêm túc và những thành công trong “trò chơi con trẻ” với thơ ca của một phu chữ như
ông, ta thực sự thấu hiểu và đồng cảm khi thấy nhà thơ ứa nước mắt khi bước đầuchạm đến mục tiêu sáng tác, lúc ông được "xóa tội"- dù rằng đường đi và sự nghiệpsáng tác của ông lúc đó đã lấp ló ráng chiều
Chặng ba từ 1988 đến 2008 là thời điểm hai mươi năm cuối đời làm việc tự do
hoàn toàn Bóng chữ và các sáng tác tiêu biểu khác như Thơ Lê Đạt- Sao Mai, Ngó lời, Từ tình… đều được xuất bản trong thời gian này Đó là những sáng tác thực sự được mang nặng đẻ đau, là tâm huyết của “hành động yêu nước nghiêm túc nhất của một người công dân với tư cách một người làm thơ là cung cúc, tận tụy bảo vệ và mở mang bờ cõi chữ của dân tộc mình” Đây cũng là chặng đường mà ông và ba người
bạn khác trong nhóm Nhân Văn Giai Phẩm là Phùng Quán, Trần Dần, Hoàng Cầmđược trao Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật (năm 2007)
1.2.2 Vẻ đẹp của chủ thể giao tiếp trong tập thơ “Bóng chữ"
Người yêu thơ nào cũng có thể biết năm xuất bản của “Bóng chữ”, nhưng
không phải bạn đọc nào cũng hiểu tường minh hành trình gian truân mang nặng đẻđau tập thơ, suốt ba mươi năm trời, từ 1964 đến 1994 Ngay khi vừa chân ướt chân
ráo xuất hiện trên văn đàn, “Bóng chữ” đã bị "cho ăn đòn" ngay và lập tức cũng có
Trang 27sự phản hồi tức thì của các học giả mến yêu thơ Lê Đạt Thiên hình vạn lí,
khen-chê quay như đèn cù, chứng tỏ “Bóng chữ” đã có một lực hút đầy ma mị, là một
hiện tượng văn học lạ, dẫn dụ “sự đến” của các học giả, công chúng, người nghiêncứu văn học
Được Nhà xuất bản Hội nhà văn ấn hành tháng 4 năm 1994, tập thơ có 108
bài, chia làm bốn phần: Giáo đầu, Chiều Bích Câu, Lão núi, Mùi sầu riêng Có những bài dung lượng dài trên vài chục câu: Cha tôi, Ông phó cả ngựa, Ông cụ nguồn, Ông cụ chăn dê Còn lại chủ yếu là những bài thơ ngắn từ hai câu: Mimôza Tóc phố, Áo trắng, Tương tư, Pam… Số lượng không đồ sộ, xét tổng thể dung
lượng tập thơ không vĩ mô, nhưng cái quý giá và điều đáng trân trọng ở tập thơ là
tác giả đã rất thành tâm, đã đau đáu coi phận chữ chính là phận người Võ Thị Hảo
đã không chỉ một lần nghiêng mình xúc động : “Lê Đạt cặm cụi làm phu chữ Ông nhận ra Bóng chữ sừng sững bao phủ lên cuộc đời Và ông sống dưới Bóng chữ, tôn kính và thờ phụng nó Khi thờ phụng, ông lại cặm cụi cách tân Ông không chấp nhận những cái giỏ, những cái rương hòm quá chật chội và nhàm chán Khi vác thập giá với những chiếc đinh đau buốt đâm vào vai, bước lên Bóng chữ” [23].
Còn gì đáng trân trọng cúi đầu hơn sự tận tụy với lao động nghệ thuật Chúng tôi
cũng xuất phát từ niềm trân trọng tri nhận ấy khi tìm hiểu về hình tượng tác giả qua đối tượng cụ thể là Lê Đạt, với tập “Bóng chữ” Thật sự người viết rất xúc động với chia sẻ thành thực của nhà thơ trong Đường chữ: “Không biết từ đâu dư luận dứt khoát rằng thơ tôi khó hiểu Có người vừa mở tập Bóng chữ lướt qua đã gập sách lại và kêu ca rằng thơ tôi “hũ nút” Trong thơ, nạn đọc bằng tai chứ không đọc bằng mắt cũng khá phổ biến Tôi không cần độc giả ủng hộ vô điều kiện, tôi chỉ yêu cầu sự công bằng Đa số các bài thơ của tôi đều được viết đi viết lại nhiều lần Bài
“Át cơ” chỉ vẻn vẹn bốn, năm câu mà chi phí mất hàng tuần, chẳng lẽ độc giả quá tằn tiện đến mức không nỡ chiếu cố cho nó mươi mười lăm phút bạc vụn?” [17] Sự
“công bằng”, sự ao ước khiêm tốn “chiếu cố cho nó mươi mười lăm phút bạc vụn”
nghe sao xa xót!
Trang 28“Bóng chữ” của Lê Đạt là sự ghi lại lịch sử của một đời người qua buồn vui
của một cá nhân giữa thăng trầm của dân tộc và trăn trở của một người nghệ sỹthường xuyên tra vấn ngôn từ Được đánh giá là người có công tiên phong cho cuộc
cách mạng thơ ca Việt Nam thế kỉ XX, tập thơ “Bóng chữ” của Lê Đạt đã triệt để
khai thác khả năng văn học của chất liệu ngôn ngữ ở các mặt từ hệ và từ tổ, lịch đại
và đồng đại Dù cho rằng thơ Lê Đạt có quãng khó và tối, thì đó là cái khó của tìmtòi khoa học, cái tối là ẩn số của bình minh, là sự niêm phong và gạn lọc tư tưởng
Theo chúng tôi, “Bóng chữ” xứng đáng là một tác phẩm gây ấn tượng tốt đẹp về đổi
mới sáng tạo thơ, từ bản sắc triết học đến cấu trúc hình thức và biểu đạt nội dung
Với sự ra đời của văn học hậu hiện đại, làn sóng hoài nghi vị thế của tác giả,cùng với sự đề cao vai trò sáng tạo của người đọc dẫn đến những tuyên bố về "cáichết của tác giả", gạt bỏ vai trò của chủ thể sáng tạo trong tác phẩm Theo logic đó,
cũng không còn vấn đề hình tượng tác giả trong tác phẩm văn học.
Nhưng ai cũng biết, không thể có tiếp nhận văn học nếu không có tác phẩmvăn học Dù vai trò của người đọc quan trọng thế nào và được đề cao đến đâu, nếukhông có tác phẩm do tác giả sáng tạo, người đọc cũng không có cơ sở để phát huytrường suy nghĩ, chuỗi liên tưởng Tiếp nhận văn học là cuộc giao tiếp giữa ngườiđọc và tác giả qua một kênh duy nhất là tác phẩm Người sáng tác luôn luôn bằngcách này hay cách khác tự bộc lộ mình trong tác phẩm để giao tiếp với bạn đọc Vìthế, tác giả văn học luôn nằm trong thế giới nghệ thuật do bản thân họ sáng tạo nên
Sự tích cực của người đọc có phong phú đến đâu cũng không thể làm biến mất vănbản và khách thể thẩm mỹ trong đó, do vậy không thể xóa bỏ được yếu tố tác giảnhư là người tham gia vào sự kiện nghệ thuật qua tác phẩm
Đọc thơ Lê Đạt, ta thấy những nỗ lực cách tân thơ của ông nghiêng về xuhướng tượng trưng, có phần pha màu sắc siêu thực Điều đó được biểu đọng qua thế
giới hình tượng và ngôn từ nghệ thuật mà ông xây dựng nên, ở "Bóng chữ" nói riêng
và các tập thơ khác trong sự nghiệp sáng tác của ông nói chung Trong "Bóng chữ", trừ một vài bài trong phần Giáo đầu, và "Thuở xanh hai" của phần Chiều Bích Câu,
chúng ta không tìm thấy bất cứ một lời miêu tả trực tiếp về sự vật hay nỗi lòng,
Trang 29không hề dùng ngôn ngữ xưng hô "tôi", "ta" như kiểu "Ta là một, là riêng, là thứ nhất" của nhà thơ lãng mạn Thơ ông là một hệ thống ám thị, nó từ chối cách bộc lộ
giản đơn, khước từ cách viết nghĩa biểu đạt tràn trên bề mặt Thế giới hình tượngtrong thơ ông luôn như một câu đố, đòi hỏi người đọc phải tìm nghĩa nội tại ẩn đằngsau ngôn từ Đơn cử một ví dụ :
nhau, cùng tương ứng trong việc biểu hiện thế giới Trong “Anh ở lại” của Lê Đạt,
chúng ta cảm nhận được nỗi đau của lá lìa cành, màu xanh biến thành hình khốitừng hột rớt phiêu bồng trước mặt Ta thấy chữ nghĩa bị khúc xạ liên tục bởi sự đổichiều của ánh sáng, sự chao đảo của gió, và từ đấy nỗi đau về sự chia lìa rứt bỏ củanhân vật trữ tình loang loáng hiện lên, ám ảnh, day dứt…
Thơ tượng trưng là thơ ở thời đại con người đang rơi vào bi kịch sự tan rãcủa chính mình, con người hoài nghi chính bản thân, bắt đầu một ý thức mới về cái
"tôi" Lúc này, thơ không phải bộc lộ tình cảm mà là né tránh tình cảm; không biểu
đạt cá tính mà là né tránh cá tính Thậm chí, như X.Manlacmê nói: "Tôi bây giờ đã phi cá tính hóa rồi, tôi không còn là Xtêphan Manlacmê nữa mà chỉ là một loại phương pháp Bằng phương pháp này, vũ trụ tinh thần sẽ trở nên dễ nhận ra, và nó
có thể phát triển lên từ tất cả những gì là của tôi" Câu nói này của Manlacmê vừa khiến người ta băn khoăn về sự sụp đổ của hình tượng tác giả khi nói không với cá
tính (bởi cá tính là biểu hiện nổi bật của phạm trù chủ quan, tuy không đồng nhất
nhưng nó thống nhất và là sự thể hiện cơ bản nhất hình tượng tác giả), lại vừa mở ra
Trang 30cách tiếp cận mới cho bình diện thi pháp này Phát biểu ấy thực chất không phủnhận biểu hiện cá tính trong thơ tượng trưng, mà thơ tượng trưng chỉ mờ hóa một
diện mạo cái "tôi" bề mặt cụ thể, để biểu hiện "tất cả những gì là của tôi" lắng trong
bề sâu, trong tâm linh Là một đối cực với thơ lãng mạn trong cách biểu hiện cái
"tôi", thơ tượng trưng tìm tòi cách nhìn, thể nghiệm phương pháp, kỹ thuật: cáchlàm bài thơ, cấu trúc hình ảnh, sáng tạo ngôn từ
Cho nên, quay trở lại với quan điểm của các nhà hậu hiện đại khi người tatuyên bố "cái chết" của tác giả Cái chết ấy là cái chết tượng trưng, là cách ứng xử:nhường dân chủ cho người đọc bởi tác giả không phải là trung tâm duy nhất quy tụnghĩa văn bản Bản thân "cái chết của tác giả" là sự tự nén mình, nép bản thân lạicủa tác giả, để độc giả cùng tương tác với con chữ phát hiện ra nghĩa chứ khôngphủ nhận vai trò, ý nghĩa quan trọng của tác giả
Ví dụ với " Eye for Eye"- một tuyên ngôn về thơ cụ thể của Augusto de
Campos Đây là một tác phẩm, cũng đồng thời là một ý niệm Trong tư cách là mộtbài thơ, bản tuyên ngôn bằng hình ảnh của Campos vừa khẳng định sự sống củachính nó, vừa mang ý nghĩa thách thức lại những thành kiến tưởng như không thểthay đổi về thơ ca
Trang 31Với Campos, ngôn ngữ của thơ ca không nhất định chỉ giới hạn trong địa hạtngôn từ Nó giản dị hơn ngôn từ, nghĩa là trực tiếp hơn, cụ thể hơn, gần gũi và có sự
tác động mạnh mẽ hơn Ở "Eye for Eye", đó là dạng thức ngôn ngữ hình ảnh gần
gũi, bình dân (những bộ phận cơ thể người), gây ấn tượng tức thì với những gammàu sặc sỡ, sống động Những con mắt được mascara, những bờ môi được tô màu,những hàm răng trắng bóng như trong các quảng cáo kem đánh răng… Không gì
Trang 32khác, đó chính là sản phẩm của một xã hội tiêu dùng hay một nền công nghiệp tiếpthị Những kiểu chuốt mi, những cách kẻ mắt, tô mày, cách kết hợp tóc mái vớigương mặt… cũng là những gì quá quen thuộc với một công chúng liên tục chạytheo các kiểu mốt thời thượng Tất cả tạo thành một hợp thể phức tạp nhưng khôngmang tính thách đố hàn lâm, vừa kì quái xa lạ vừa gần gũi Thơ như thế không cònbắt người đọc phải mệt mỏi với những mớ ngôn ngữ trừu tượng nặng nề Người tađến với thơ, trước hết, là để giải trí, để được cuốn hút một cách thích thú vào sựsống động của những gì hiện hữu, và để nhìn lại niềm đam mê của chính mình trong
một chiều kích khác… Không chỉ thế "Eye for Eye" - tập hợp những hình ảnh được
cắt ra từ các tạp chí rẻ tiền, không chỉ là kết quả của kĩ thuật cắt dán, mà qua chấtliệu vật chất, ta có thể thấy một ý niệm của trào lưu Đađa được tiếp nối: khi nhữngthứ giấy rẻ mạt tầm thường, thậm chí bị chúng ta vứt bỏ lại được nâng lên thànhnghệ thuật- và ở đây là thành thi ca Đó chính dấu ấn của tác giả qua thủ pháp ngườinghệ sỹ làm, qua phương thức người nghệ sỹ chọn và qua quan niệm của chính chủthể sáng tạo ấy
Văn bản thơ E E Cummings cũng có trường hợp như vậy Từ motip chiếc lá
lẻ loi rơi từ cây xuống như một gợi nhắc nỗi cô đơn, tác giả kiến tạo bài thơ bằngcách sắp xếp các chữ cái theo chiều thẳng đứng (thay vì vốn theo chiều ngang) đểbiểu hiện sự chuyển động của chiếc lá một cách như nhìn thấy trước mắt Khi đọc,mắt có thể dõi theo sự rơi của chiếc lá từ trên xuống dưới, cũng như từ trái qua phải
và ngược lại
I (a le af fa ll s) one l
Trang 33Nếu cấu trúc theo cú pháp thông thường, bài thơ ấy có thể viết gọn gàng "I (a leaf falls) oneliness", và có thể tạm dịch là: chiếc lá rơi cô đơn
Như vậy, ngay cả khi văn tự- thứ vật liệu truyền thống và cơ bản nhất củavăn học được biến tấu khác đi, thì dấu ấn chủ thể sáng tạo vẫn còn rõ nét Dù tácphẩm chỉ là một từ (không phải một câu), dù chỉ là một bố cục hình họa theo kiểuthơ thị giác để cùng phát nghĩa theo sự đồng sáng tạo của người đọc, thì cái "tôi" tác
giả vẫn hiện tồn Hình tượng tác giả vẫn được thể hiện qua phương pháp tổ chức,
kiến tạo bài thơ, qua vương quốc tạo lập riêng cho trường phái thơ của chính mình
Liên hệ với thơ của Augusto de Campos và Cummings như vậy, càng thấy sự
tồn tại không thể phủ nhận của tác giả trong mọi sáng tác, cũng như ý nghĩa to lớncủa hình tượng tác giả trong nghiên cứu văn học Như cách nói của Hoàng Hưng:
“Thơ cổ điển là lí trí, lãng mạn là tình cảm, tượng trưng là tâm linh” Và cái hình tượng tác giả trong tập "Bóng chữ" thơ Lê Đạt là sự nới lỏng tối đa của lí trí để
"tôi"-trực giác, "tôi"-trực cảm, tâm linh lên ngôi qua phương pháp làm bài thơ, qua cách ứng
xử với ngôn từ, qua mỹ cảm chọn lựa và xây dựng hệ thống hình ảnh, xây dựng bứctranh nghệ thuật về thế giới – những nội dung chúng tôi triển khai cụ thể ở nhữngchương tiếp theo
Trang 34
CHƯƠNG 2: HÌNH TƯỢNG TÁC GIẢ QUA CÁI NHÌN VÀ SỰ MIÊU TẢ
BỨC TRANH THẾ GIỚI
2 1 Cái nhìn mang xu hướng nữ hóa trong bức tranh ngoại cảnh
Trong tác phẩm văn học, ngôn từ luôn gắn bó hữu cơ với thế giới hình tượng,với mục tiêu giao tiếp, truyền đạt tới người đọc cảm quan, tư tưởng thẩm mỹ, cáinhìn nghệ thuật của nhà văn Nói tới cái nhìn nghệ thuật là người ta nói đến quanniệm của chủ thể sáng tạo đối với đời sống, con người Cái nhìn nghệ thuật quyếtđịnh và được biểu hiện qua cách thức thể hiện của tác phẩm, từ hình ảnh, ngôn ngữ,đến thủ pháp nghệ thuật Cái nhìn biểu hiện dấu ấn cá nhân độc đáo của chủ thểsáng tạo Cùng chiếm lĩnh một đối tượng thẩm mỹ, mỗi nghệ sỹ với cái nhìn riêng
sẽ tạo nên hình tượng nghệ thuật mang quan niệm, giá trị thẩm mỹ riêng trong "vân chữ" của mình Nếu điểm nhìn nghiêng về phương thức, phương tiện khám phá, chỉ
vị trí, chỗ đứng mà tác giả (hoặc người trần thuật, nhân vật) nhìn, miêu tả sự vật,hiện tượng, thì cái nhìn nghệ thuật gắn với những khám phá mới mẻ của nhà văn vềđối tượng, là một phương diện biểu hiện của hình tượng tác giả
Đọc “Bóng chữ” của Lê Đạt, qua các bức tranh ngoại cảnh đầy chất tượng
trưng, ta như thấy chủ thể thẩm mỹ với cái nhìn mang xu hướng nữ hoá Ở nhiều bàithơ trong tập, thiên nhiên, cuộc sống, con người thường được biểu hiện bởi nétduyên dáng, gợi cảm, tinh khôi, thánh thiện của người thiếu nữ Đồng thời, cũngqua cái nhìn có xu hướng nữ hóa, các hình ảnh hiện lên trong thế giới thơ Lê Đạt lại
có cả sự bỏng rát, rạo rực trước cái đẹp trinh nguyên
Khảo sát tập thơ, chúng tôi nhận thấy có ít nhất 42 trên tổng số 108 bài (gần39%) bộc lộ rõ cái nhìn theo xu hướng trên Có những bài xu hướng nữ hóa lộ ngay
từ nhan đề: "Thu nhà em", "Tóc phố", "Tuổi chín", "Mắt bão", "Tình hoa", "Phố xuân", "Nai phố", "Mắt Maria"… Ngay cả ở những thi phẩm mang nhan đề "Ông cụ chăn dê", "Ông
cụ nguồn", "Tuổi Việt Minh", "Đào Uyên Minh"…, ngỡ rằng không thể xuất hiện bóng
dáng của người con gái, vậy mà những hình ảnh nữ hóa vẫn đậm đặc
Biết lập thu
Trang 35Heo mi rải hồ Biếc thổi mắt mùa xưa
Lá mách lẻo thư rừng Thì lạ Phố ngàn chim
Tuổi Việt Minh thu băm sáu bến cờ hồng
Áo bướm phố truyền đơn Nắng rám
má bòng thơm mười chín Rõi bóng em đi
bản đồ đất nước
(Tuổi Việt Minh)
Sau bản án Nhân Văn Giai Phẩm, Lê Đạt lặng im với mọi sự biến của thờicuộc Ông chỉ cặm cụi, gò mình trên cánh đồng chữ nghĩa Cho nên, kiểu bài thơ ở
đề tài này thật hiếm gặp trong "Bóng chữ" nói riêng và sáng tác của ông nói chung.
Việt Minh là liên minh chính trị do Đảng Cộng sản Đông Dương thành lập ngày 19
tháng 5 năm 1941 với mục đích "Liên hiệp tất cả các tầng lớp nhân dân, các đảng phái cách mạng, các đoàn thể dân chúng yêu nước, đang cùng nhau đánh đuổi Nhật - Pháp, làm cho Việt Nam hoàn toàn độc lập, dựng lên một nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa" Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, Việt Minh là một vũ
khí chính trị hiệu quả do Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập nhằm thu hút mọi tầnglớp nhân dân thuộc các đảng phái, tôn giáo tham gia chiến đấu dưới sự lãnh đạo củaĐảng Cộng sản Đội ngũ ấy, hiện lên trong thơ Lê Đạt vừa đặc trưng cho nhiệm vụ
chính trị: "Lá mách lẻo thư rừng", "truyền đơn", "cờ hồng", với bước chân đi của người
cách mạng dọc theo chiều dài bản đồ đất nước Nhưng, trong cảm quan nghệ sỹ LêĐạt, lực lượng tham gia Việt Minh -trong đó có các cô gái, thật mềm mại, thật ngọtngào, trái ngược hẳn với nhiệm vụ cách mạng, kháng chiến đấu tranh giữa hai bờ
sống chết Còn gì đẹp hơn ở thời điểm "lập thu", sự trong trẻo ngây thơ như nước hồ
xanh biếc, như sự sóng sánh trong ánh mắt tinh khôi của má bòng thơm mười chín
Trang 36Cái nhìn ấy biểu hiện qua sự kiệm lời bề mặt, chỉ một thoáng thán từ: "Em! Ô đừng heo may" ở cuối bài cho thấy sự xót xa "tuổi Việt Minh" lăn lộn cùng "bản đồ đất nước" Chẳng lẽ một cảm quan trữ tình Nhân Văn như thế, phẩm chất người, phẩm
chất thơ của ông như thế lại khó có giao hòa đồng điệu ư?
Trong tập "Bóng chữ", hình tượng em hoặc bóng dáng em xuất hiện ở hầu khắp
mọi sự vật, sự việc, hiện tượng với các hình ảnh mắt, mi, mày, môi, má, đùi, tóc, áo,thân trắng, đường nét thon cong…Việc kết hợp những đặc điểm của người thiếu nữ,
mà nhất là người thiếu nữ đẹp - là xu hướng của cái nhìn nữ hóa đậm đặc trong thế
giới hình tượng thơ Lê Đạt Từ việc miêu tả "má bờ đê con gái", "bờ má sương mưa", "má hồng xiêm em ngọt", môi men má nắng", "má sông đào", "má đèn", lúm má xoan"; đến hình ảnh "giàn mi thiên lý", "mi liễu", thậm chí là "mi chớp giật"; và cách lạ hóa, ẩn dụ "mày quá khứ", "mày cúc lăm răm"; "tóc lau lay", "tóc phong lan", "tóc hoa đèn", "tóc liễu", "tóc gió",
"tóc hè"… đến những yếu tố gợi cảm nhất của người nữ cũng được nhìn, đặt bên cạnh
các trường sự vật sinh sôi chữ nghĩa không hề là hiện tượng cá biệt mà rất nổi trội
trong cả tập thơ Đó là cách nhìn thể hiện qua các hình ảnh, hình tượng "ngực đèn",
"ngực triều non", 'ngực dự hương thơm", "ngực tình ca", "ngực chín nắng xoài thơm", "ngực đòng", là cách tế nhị mà gợi cảm: "đùi bãi ngô non", "đùi thắng cảnh"…Và có lẽ tiêu
biểu nhất, hình tượng đôi mắt- khung cửa sổ tâm hồn của người con gái được Lê Đạttrau chuốt hơn cả Một loạt cách so sánh và hình ảnh được lấy làm biểu tượng chomắt, và loạt sự vật, sự việc, hiện tượng, vấn đề được biểu đạt, nhìn thấu qua hình ảnh
đôi mắt: "mắt vạn niên thanh", "mắt lá tre đằng ngâm mộng ba giăng", " mắt thuyền quên",
"mắt lá ngày răm mát", "mắt thủy mặc hồ", "mắt huyền thoại", "mắt hải đăng", "mắt ảo đăng",
"mắt danh lam", " mắt thu thiên", "mắt Đáp Cầu", mắt nguồn xanh vần vụ", "mắt gió bay mùa hoa cải", "mắt lá thả đò ngang", “mắt triều phà mưa vội"
Những kết hợp từ trên gợi nhắc chúng ta quan niệm của F.De.Saussure vềtương quan, quan hệ giữa hình thức, nội dung của cái biểu đạt và cái được biểu đạt
Nhưng, nhiều hình ảnh, nhiều kết hợp từ trong thơ “Bóng chữ” chỉ cho thấy những
cái biểu đạt; người đọc phải ngụp lặn sâu trong chữ, trong câu để tìm nghĩa bêntrong những cái bóng hất loang loáng ra bên ngoài Có thể lí giải được theo cơ chế
Trang 37tư duy lô gic:“Em đùi thắng cảnh mắt danh lam" là cách so sánh vẻ đẹp của cô gái
với vẻ đẹp của danh lam thắng cảnh, dù từ dùng để so sánh đã bị lược bỏ Thế
nhưng, "mắt lá tre đằng ngâm mộng ba giăng" là ngụ ý gì quả không thể hời hợt
thoáng đọc mà có thể hiểu Có lẽ, từ sự liên tưởng đến lá tre đằng ngà, vẻ thon dàióng chuốt đặc trưng của vật thể tự nhiên; nhưng, lá tre “ngâm mộng ba giăng” thì đã
ảo hóa mắt cô gái, nói tâm sự chất chứa, hàm ẩn vì thế mà câu thơ thêm giàu tiềm
năng ý nghĩa Tương tự, "mắt hải đăng" chỉ con mắt sáng, con mắt soi đường, dẫn đường tình ; nhưng "mắt ảo đăng" thì lại thành trừu tượng Những kết hợp từ miêu tả
má, ngực người con gái đều rất gợi hình, gợi cảm khiến người đọc cảm nhận được
sự trẻ trung về vóc dáng, căng tràn sức sống của tuổi trẻ Có thể nói, qua con mắtthơ của mình, Lê Đạt đã đem hình ảnh mới thế cho vỏ bọc đã cũ, khơi gợi hiệu ứng
mỹ cảm mới cho người yêu thơ
Hơn nữa, ở chính cái nhìn mang xu hướng nữ hóa, thi sỹ đã khoác lên vạn vậtthiên nhiên vô tri một sức sống mãnh liệt, dồi dào, mơn man giàu cảm giác xác thịt
Dù là người vô cảm, đời sống tinh thần nghèo nàn nhưng nhắc đến hoa mười giờ- loàihoa phổ dụng ấy thì có lẽ hầu như ai cũng biết Thế nhưng, để tinh tường quan sát,
ngắm nhìn dáng hoa tròn vành để đặt tuổi cho nó thành "em mười bảy", có từng tia
cánh nhỏ với các sắc màu rạng rỡ: vàng, đỏ, cam đều kết ở độ rực màu, hóa thành:
Mắt đuôi chớp xuân về Hoa chạy hường lên má
Hoa em đền hoa má Thơm má hoa mười giờ (Hoa mười giờ)
thì chắc chỉ có Lê Đạt với con mắt xanh của mình chiêm ngắm mà thôi Cái ánh mắt
của tuổi dậy thì làm chúng ta nhớ đến sự thơ ngây, trong sáng của cô gái mới lớn "
Em nhỏ thơ ngây đôi mắt biếc/ Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay" của Thâm Tâm.
Có thể có ý kiến cho rằng chúng tôi khiên cưỡng khi ghép hai hình ảnh này vớinhau, song với người viết, sự ám ảnh và mối liên hệ tương đồng đến thật tự nhiên
Trang 38Cùng là độ tuổi đang chớm bước đến thềm người lớn, vừa qua độ trẻ con; cùng ở sựngây thơ, trong trẻo đến lạ thường Biết rằng Thâm Tâm hình như man mác tâm
trạng để gọi mùa thu đậu vào "đôi mắt biếc", còn Lê Đạt lại hồn nhiên qua cử chỉ
"mắt đuôi chớp" làm cho màu sáng của xuân như hiện về Cái nhìn tinh tế dẫn đến sự liên tưởng độc đáo hoa "chạy hường lên má" và trở thành hình ảnh đồng nhất "hoa"-" hoa má"- "hoa mười giờ" Iu Lotman đã nói đại ý: cuộc sống xung quanh ta là vô vàn
kí hiệu, người đối diện sẽ "đọc" được thông tin, sẽ giải mã được sự vật, hiện tượng
thông qua kí hiệu giản đơn hay phức tạp mà chúng biểu hiện Với "Hoa mười giờ", Lê
Đạt đến với chúng ta bằng thứ ngôn ngữ thiên nhiên đã được tấu hòa không chỉ về
màu sắc, kiểu dáng, hình khối mà còn cả phát xạ hương thơm: "Thơm má hoa mười giờ".
Trong bài thơ "Hái hoa" cũng vậy, lối nói mơ hồ đầy biểu tượng để biểu thị
tình yêu của Lê Đạt cũng được tỏ bày thật lãng mạn qua ánh nhìn đa tình, trai trẻ
Anh rừng anh hái hoa Hoa lúm hoa bông thắm Hoa bông môi thật hồng
Chúng ta sẽ tìm hiểu cụ thể lối nghệ thuật cắt dán, đảo cấu trúc ở nhữngchương sau Chỉ xét riêng cái nhìn, chúng ta đã nhận thấy ở đây sự hòa trộn giữa
hoa và người, giữa người với hoa Rõ ràng, trang thơ mở ra là "rừng hoa" nhưng thoắt chuyển hóa thành "hoa lúm", thành "hoa bông thắm" và thành sự gợi cảm đến nồng nàn
"hoa bông môi" với cảm giác "thật hồng" Sự biến ảo kỳ diệu ấy diễn ra thật nhanh bởi cặp mắt của nhân vật trữ tình "anh" ngay ở đầu bài Sắc thái tình yêu say đắm như
càng nhân lên sau sự tếu đùa của cô gái ở giữa bài, cho nên toàn bộ khổ sau, vẫn nói
đến hoa nhưng đã trở thành hoa- người, hoa- em, hoa- cô gái trong mong ước "hái", trong động tác "hái" của chàng trai.
Đúng là thế giới thơ, theo như cách nói của Bích Khê là một cõi trời xa vớimột không gian bất tận và vĩnh viễn Thơ là tinh hoa, là bí ẩn của trời đất, là nhịpđiệu của vũ trụ, là chốn tương giao của mọi vẻ đẹp: nhạc điệu, sắc màu, hương
thơm và giai nhân Quả thật thế khi đến với "Sông quê" Lê Đạt, ta gặp:
Trang 39Bầy em én tin xuân tròn mẩy áo Hội kênh đầy
chân trắng ngấn sông quê Nắng mười tám
má bờ đê con gái Cũng vậy, đến với "Quen…lạ" ta gặp "Áo buồm cong nét nắng", gặp "Tóc hoa đèn/ tim lần giở trang em"; đến với "Thu nhà em" ta gặp " Đồi cốm đường thon ngõ nhỏ", "Tóc hong mùi ca dao"; lại gặp "sóng mày", "mi rào ngăn lối" trong "Thủy thủ"; "má hồng xiêm", "môi thơm đầu mùa", "mi khép góc phùn đông" trong "Anh ở lại" ; hoặc ở bài
"Những cái hôn" là loạt hình ảnh: "dải yếm đào gẫy cầu", "má mùa nắng hạ", "lá ô môi"…
Rõ ràng lòng khát khao thể hiện cái đẹp, chiếm lĩnh người đẹp luôn hiện tồn trongcảm xúc nồng nàn Lê Đạt Chính điều đó làm cho thế giới nghệ thuật thơ của ôngdồi dào sức sống Ai cũng biết gió, nắng, bồ kết, hoa cúc thuộc về thiên nhiên,
nhưng khi được kết hợp "Gió bồ kết/ nắng lung linh mày cúc" lại đem đến nghĩa
mới cho gió và cả gợi hương tóc người con gái gội bằng nước bồ kết dân dã Riêng
từ "lung linh" vừa tả sắc nắng ánh lên hoa cúc, vừa gợi sự long lanh, lúng liếng của đôi mắt đẹp ẩn sau hàng lông mày của người thiếu nữ đa tình Nhất là với "Quan họ",
hình ảnh:
Cây gạo già lơi tình lên hiệu đỏ
La lả cành cởi thắm
để hoa bay
Chúng ta sẽ còn trở lại bài thơ này ở phần mục khác; tuy nhiên với cái nhìn
Lê Đạt, ta nhận thấy rõ nhất tín hiệu trao cho cây gạo nét duyên, nét nữ tính có phần
khêu gợi, gọi tình bởi chính sự "lơi tình", sự "la lả" và "cởi thắm" của cây gạo già Màu
Trang 40sắc như bỗng vỡ òa, được bung ra sau một thời gian dài bị kìm nén, làm cho hiệu đỏtrở nên rực rỡ Đó cũng chính là sự trẻ trung, đa tình, là trạng thái vận động tràn đầysức sống của cây gạo già trong mùa xuân, gọi ra bóng dáng người con gái quan họtình tứ, uyển chuyển, yếm thắm thấp thoáng trong tà áo mớ ba mớ bảy của ngàyhội.
Bên cạnh đó, cái nhìn mang xu hướng nữ hóa còn là sự thổ lộ thành thật nhấtvới lòng mình của nhà thơ Yêu người phụ nữ, yêu cái đẹp- đó là bản chất chung rấtđỗi nhân loại mà nhiều lúc vì sự sĩ diện đàn ông, người ta cứ đeo mặt nạ để chối bỏcảm xúc thực của mình Với Lê Đạt thì không, thi nhân cứ nhìn rồi viết, viết để nhìnnhư kẻ say cảnh, say người, say vật:
Nụ xuân chớp đông hoa xuân chợp hồng Chũm cau tứ thì chúm chím
Ú ớ mơ ngần một giấc chim xuân Chiều bóng mây
hay mắt em rợp tím
Hè thon cong thân nắng cựa mình Gió ngỏ tình
xanh nín lộc giả làm thinh (Nụ xuân)
Dựa trên sự tích nhựa của mùa đông để quẫy chồi vào xuân mới của quy luật
tự nhiên, thi nhân đã có cách gọi từ thật đẹp "nụ" vào lúc "chớp đông" để vào xuân, viên mãn thành "hoa" với màu sắc bừng dậy như "chợp hồng" Người viết không quan niệm
từ "xuân" thứ nhất được nhắc đến là trạng từ chỉ thời gian, mà nó là tính từ chỉ bản chất "nụ", sắc thái của "nụ" (dồi chứa sức xuân) Đặt hình ảnh trong hệ thống toàn bài,
"chũm cau" chính là biểu trưng của tuổi dậy thì, của cô gái Nó hô ứng và nhất hợp với cái nhìn "giấc chim xuân" để từ áng mây chiều hóa thành "mắt em rợp tím", để từ