1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thơ lục bát Việt Nam trong phong trào thơ mới lãng mạn 1932-1945

110 1,4K 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong thời hiện đại, giữa bộn bề các thể thơ mới và cũ thơ một chữ, hai chữ, ba chữ, bốn chữ, nâm chữ, bảy chữ, tám chữ, thơ cổ phong, thơ đường luật, thơ lục bát, song thất lục bát, th

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 3

1 Lí do chọn đề tài 3

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7

3 Mục đích – đối tượng nghiên cứu 10

3.1 Mục đích nghiên cứu 10

3.2 Đối tượng nghiên cứu 10

4 Phương pháp nghiên cứu 11

4.1 Phương pháp thống kê, phân loại 11

4.2 Phương pháp phân tích 11

4.3 Phương pháp so sánh, đối chiếu 11

4.4 Phương pháp liên ngành 11

5 Cấu trúc luận văn 12

NỘI DUNG 13

Chương 1 NHỮNG HIỂU BIẾT CHUNG VỀ THƠ LỤC BÁT VIỆT NAM 13

1.1 Thể loại và các thể thơ Việt Nam 13

1.1.1 Một số quan niệm về thể loại thơ 13

1.1.2 Các thể thơ Việt Nam 20

1.2 Sự vận động và phát triển của thơ lục bát Việt Nam 25

1.2.1 Lịch sử hình thành thể thơ lục bát 25

1.2.1.1 Nguồn gốc sinh thành 25

1.2.1.2 Lịch sử phát triển thể loại 29

1.2.2 Đặc điểm thơ lục bát 31

1.2.2.1 Niêm, vần, luật 31

1.2.2.2 Nhịp điệu 33

1.2.2.3 Đối 35

1.2.2.4 Các biến thể của lục bát 36

Chương 2 CÁC KHUYNH HƯỚNG LỤC BÁT TRONG THƠ LÃNG MẠN GIAI ĐOẠN 1932 – 1945 42

Trang 3

2.1 Bối cảnh lịch sử và ý thức nhà thơ 42

2.1.1 Bối cảnh lịch sử 42

2.1.2 Ý thức nhà thơ 44

2.2 Các khuynh hướng lục bát trong thơ lãng mạn giai đoạn 1932 – 1945 47

2.2.1 Diện mạo thơ lục bát 47

2.2.2 Khuynh hướng lục bát dân gian 50

2.2.3 Khuynh hướng lục bát trí tuệ 58

Chương 3 NHỮNG ĐÓNG GÓP TIÊU BIỂU VỀ HÌNH THỨC NGHỆ THUẬT CỦA THƠ LỤC BÁT TRONG THƠ LÃNG MẠN GIAI ĐOẠN 1932 - 1945 67

3.1 Ngôn ngữ thơ 67

3.1.1 Tiếp thu ngôn ngữ thơ ca truyền thống 69

3.1.1.1 Ngôn ngữ đời thường mộc mạc, giản dị 69

3.1.1.2 Sử dụng” số đếm” trong ca dao 72

3.1.1.3 Đưa thành ngữ vào trong thơ 74

3.1.1.4 Ngôn ngữ thơ cổ điển 76

3.1.2 Sự lạ hóa trong ngôn ngữ, sáng tạo từ mới 78

3.1.3 Sử dụng các từ mờ nghĩa 80

3.2 Hình ảnh thơ 81

3.2.2 Hình ảnh ước lệ tượng trưng 85

3.2.3 Hình ảnh lạ, mang màu sắc siêu thực 87

3.3 Nhịp điệu thơ 92

3.3.1 Khuynh hướng kế thừa nhịp điệu thơ lục bát truyền thống 93

3.3.2 Khuynh hướng hiện đại hóa nhịp điệu thơ lục bát 96

KẾT LUẬN 102

TÀI LIỆU THAM KHẢO 105

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Thơ ca là hình thức nảy sinh đầu tiên của nghệ thuật ngôn từ và luôn khẳng định được vị trí đặc biệt quan trọng trong đời sống tinh thần nhân loại Thơ ca ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu giải trí, bộc lộ tâm tư, tình cảm của con người Xoay quanh định nghĩa về thơ có rất nhiều ý kiến khác nhau “Thơ ca xét về nội dung là một nghệ thuật phong phú nhất” (Georg wihelm Friedrich Hegel), “Thơ ca đồng thời là âm nhạc, hội họa, điêu khắc, thuật hùng biện….” ( Théodore de Banville) “Thơ ca là loại nghệ thuật cao nhất… Thơ ca bao gồm tất cả mọi yếu tố của các nghệ thuật khác” (Bielinxki) “Thơ ca nếu không có người tôi đã mồ côi” (Raxum Gamzatôp)… Hay “Thơ là một hồn đi tìm những hồn đồng điệu”(Tố Hữu), “Thơ là bà chúa nghệ thuật, là cái nhụy của cuộc sống” (Sóng Hồng) Con người vốn yêu thơ, tôn trọng thơ, coi thơ là nguồn giá tài sản tinh thần vô giá Thơ ca có một vai trò rất to lớn trong đời sống nhân loại Thơ làm cho đời sống tâm hồn mỗi con người chúng ta thêm phong phú, tươi trẻ, nhân bản Thơ nâng đỡ và chắp cánh cho tâm hồn mỗi chúng ta Bằng sự tinh vi, khéo léo của nghệ thuật ngôn từ, thơ chắt lọc nhụy thơm, mật ngọt của cuộc đời, rọi chiếu vào tâm hồn chúng ta sự nhân văn, nhân bản, những ý nghĩa cao cả nhất, cứu rỗi tâm hồn mỗi chúng ta khỏi sự cằn cỗi trước cuộc sống mưu sinh cơm áo gạo tiền Thơ đem lại niềm vui, sự đầy ắp cho cuộc đời Thơ làm cho người với người sát lại gần nhau cùng cảm thông và chia sẻ Thơ xóa bỏ bức tường rào ngăn cách giữa các quốc gia, sắc tộc, cùng phấn đấu hướng tới những giá trị cao cả, thiêng liêng chân, thiện,

mĩ Cuộc sống không có thơ ca chẳng khác gì khi khát nước mà đi trên một bãi sa mạc khô cằn Thơ như dòng suối mát chảy bất tận trong trái tim nhân loại Tuy nhiên, mỗi thời kì, mỗi tác giả lại có những quan niệm khác nhau về

sự tồn tại của thơ Điều đó góp phần làm cho kho tàng thơ ca càng thêm chất

Trang 5

chứa, bề bộn, bởi tâm hồn thơ trong mỗi con người, mỗi thời đại luôn căng tràn một tình yêu mãnh liệt Có thể khẳng định, thơ là một đối tượng phong phú và sẽ ngày càng phong phú hơn Cho nên nó mãi mãi sẽ vẫn là mảnh đất màu mỡ cho người cày, kẻ xới Biết bao đối tượng yêu thơ đều không bỏ phí ngòi bút đầy sinh lực của mình nhằm thực hiện khát vọng, đam mê giải mã những bí ẩn của dòng thơ Người ta có thể tiếp cận đối tượng từ nhiều phía nội dung, tư tưởng, hình thức, kết cấu bài thơ, câu thơ, trong đó tiếp cận từ hướng thể thơ là một phương pháp khoa học được nhiều người lựa chọn, tiến hành, và đó cũng là định hướng của chúng tôi trong luận văn này

Thể thơ là phương thức tồn tại của thơ ca Nó không tự sinh ra, không

tự mất đi mà phải trải qua một quá trình lâu dài hình thành, phát triển, là kết quả của quá trình sàng lọc nghiệt ngã của thời gian, của tâm lí cộng đồng tiếp nhận Có những thể thơ chỉ tồn tại trong một giai đoạn nhất định sau đó tự mất đi, có những thể trường tồn cùng thời gian trong suốt chiều dài lịch sử của tiến trình thơ ca, là thứ “vàng mười”, là niềm tự hào của mỗi dân tộc, cộng đồng

Dọc theo tiến trình thơ Việt Nam, ta có thể điểm ra được rất nhiều thể thơ khác nhau, từ cổ phong đến hiện đại như thơ một chữ, hai chữ, ba chữ, bốn chữ, năm chữ, bảy chữ, tám chữ, thơ tự do, thơ văn xuôi, thơ Đường luật, thơ song thất lục bát, thơ lục bát… Trong số đó có một thứ “vàng mười” luôn tồn tại đi suốt chiều dọc tiến trình thơ ca rất âm thầm, lặng lẽ, nhẹ nhàng, rất duyên dáng, đằm thắm mà cũng rất mới mẻ, tân kì Thể thơ vừa mới, vừa

cũ đã thu hút biết bao bút lực và tâm lực của người cầm bút ấy chính là thể thơ lục bát Thơ lục bát, câu sáu chữ nối tiếp câu tám chữ, vượt qua mọi sự sàng lọc nghiệt ngã của thời gian đã chứng tỏ sự bất diệt của mình, và không biết tự bao giờ nó đã trở thành hồn cốt, là điệu hồn, biểu tượng tiêu biểu của đời sống văn hóa tinh thần của người dân đất Việt Người ta thuộc câu thơ lục

Trang 6

bát như một lẽ tất yếu phải hít thở không khí để sinh tồn Là nhịp thở của giống nòi, là điệu hồn dân tộc, người ta có thể dùng những câu lục bát để đọc, ngâm, hát, ví, kể chuyện, để tâm tình, để giãi bày tâm trạng Từ những câu ca

dao mượt mà, ngọt ngào say đắm đến Truyện Kiều (Nguyễn Du), đến thơ

hiện đại, lục bát mãi vẫn làm đắm lòng biết bao tâm hồn yêu say đắm tiếng thơ rủ rỉ tâm tình bởi những nét duyên riêng Không ồn ào, hối hả, không rộn

rã hoan ca, lục bát cứ âm thầm lặng lẽ, bền bỉ, kiên trì đi theo dọc tiến trình vận động, phát triển của nền văn học nước nhà Trong thời hiện đại, giữa bộn

bề các thể thơ mới và cũ ( thơ một chữ, hai chữ, ba chữ, bốn chữ, nâm chữ, bảy chữ, tám chữ, thơ cổ phong, thơ đường luật, thơ lục bát, song thất lục bát, thơ tự do, thơ văn xuôi), thể lục bát vẫn giữ một vị trí, một góc sân, một khoảng trời riêng không dễ pha tạp, vẫn khẳng định được sức sống, sự bền bỉ trường tồn của mình Người ta đi từ trăm mọi nẻo đường để đến với lục bát Rất dễ kể ra những cây bút kì cựu trong làng lục bát như: Tố Hữu, Nguyễn Bính, Nguyễn Đình Thư, Nguyễn Duy, Bùi Giáng, Đổng Đức Bốn… Ấy là còn chưa kể biết bao thế hệ các nhà thơ trong cuộc đời sáng tác của mình ít nhiều cũng có một vài giây phút thả hồn, buông con thuyền thơ ca trôi theo sự

êm đềm của dòng sáu tám Thơ lục bát - tinh hoa, hồn cốt dân tộc chính là điểm nhấn không thể xóa nhòa khi người ta nhắc đến thơ ca dân tộc Việt

Phong trào Thơ mới giai đoạn 1932 – 1945 là giai đoạn quan trọng trong tiến trình phát triển của thơ ca Việt Nam đúng như lời nhận xét rất xác đáng của học giả Hoài Thanh – “một thời đại thi ca” Phong trào Thơ mới ra đời trong buổi giao thời của dân tộc với rất nhiều hệ tư tưởng cũ mới, trái ngược đan xen nhau Cuộc đấu tranh giữa mới và cũ, truyền thống và hiện đại, cách tân hay gìn giữ nguyên bản lối sống, truyền thống văn hóa lâu đời của cha ông của một thế hệ người mới - tầng lớp tiểu tư sản diễn ra rất căng thẳng Các nhà trí thức mới ra sức phản đối lối thơ luật cũ của cha ông, họ cho

Trang 7

rằng thơ phải chứa đựng tình cảm của con người Vì thế cho dù sáng tác của

họ theo thể truyền thống hay thể loại mới cũng luôn mới mẻ trong nội dung và cách thức thể hiện Chúng ta rất dễ nhận thấy sự giao thoa giữa những nét truyền thống, mẫu mực, cổ điển, với luồng gió mới đến từ phương Tây xa lạ - tiêu biểu là nước Pháp trong tư tưởng, phong cách của họ Hàng loạt các bài viết tranh luận diễn ra trên diễn đàn, “một cuộc cách mệnh trong thi ca đã

nhóm dậy” với sự thắng thế của phong trào Thơ mới, bài thơ Tình già của Phan Khôi đăng trên báo Phụ nữ tân văn “đã chính thức khép lại cả một nền

văn học Việt Nam trung cận đại mở ra một thời kì mới văn học Việt Nam bước vào giai đoạn hiện đại” (7;4) Từ đó hàng loạt các thể thơ mới hình thành và phát triển bên cạnh sự trường tồn, bền bỉ của các thể loại thơ ca truyền thống, khẳng định sự tìm tòi sáng tạo, cách tân của các nhà thơ thông qua các thể thơ mới như thơ hai chữ, ba chữ, bốn chữ, thơ tự do, thơ văn xuôi…… Trong giai đoạn giao thoa này cũng khẳng định sức sống bền bỉ, trường tồn mãnh liệt của các thể thơ cổ truyền Thi nhân tìm về với thơ lục bát như trở về với những giá trị nhân bản, vĩnh cửu, với điệu hát ru ầu ơ của bà của mẹ bên cánh nôi đưa giữa bao la hương lúa ngọt ngào Tuy nhiên, cái thể thơ xinh xắn, hài hòa, cân xứng, nhịp nhàng, du dương, uyển chuyển, mượt

mà, lắng đọng, như thủ thỉ, tâm tình, như ru, như than, như giãi bày chia sẻ ấy

phù hợp biết bao với tạng người Việt Nam Thể thơ tương đối dễ làm nhưng

khó hay ấy rất “kén chọn nhà thơ” Trong quá trình sáng tác rất dễ đưa một tác phẩm thơ thành bài ve vẻ vè ve để người ta ngâm nga giải trí “Nó đi cheo leo trên một sợi dây vô hình giữa một bên là thi phẩm làm rung động lòng người và một bên là bài vè thô thiển” (46;5).Ai cũng có thể làm được thơ lục bát, nhưng để làm được một câu, một bài lục bát hay để đời thì không dễ chút

nào Nguyễn Phan Cảnh đã từng tổng kết trong Ngôn ngữ thơ: “Thơ lục bát

làm được tốt thì là tính dân tộc, làm không tốt sẽ trở thành diễn ca” (5) Vì thế

Trang 8

số lượng thi nhân thành công với thể thơ lục bát không nhiều chỉ là những con

số đếm đơn thuần, nhưng thơ của họ lại chiếm một vị trí quan trọng trong làng thơ Việt Nam Thơ lục bát Việt Nam trong phong trào Thơ mới là một dẫn chứng tiêu biểu Giai đoạn 1932 – 1945 nở rộ với biết bao thi nhân và biết bao thi phẩm hay, mới lạ, nhưng đều được viết dưới hình thức thơ mới hoặc thơ vay mượn, còn số người trở về với thể thơ dân tộc và thành công nhờ thể thơ này chỉ có một số tác giả tiêu biểu như Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Huy Cận, Bàng Bá Lân, Nguyễn Bính, Xuân Diệu v.v… Họ tìm đến với thể lục bát để giãi bày những tâm tư, tình cảm một cách trong sáng, thuần túy nhất

Xoay quanh việc sử dụng thơ lục bát Việt Nam trong sáng tác của các nhà thơ mới lãng mạn 1932 – 1945, đã có rất nhiều ý kiến khác nhau, khen có, chê có Cũng đã có một số công trình nghiên cứu về thơ lục bát của các nhà thơ mới và đạt được những thành công nhất định, là nguồn tư liệu quý giá cho thế hệ đi sau, nhưng vẫn còn mang tính nhỏ lẻ trong từng tác giả cụ thể chứ chưa mang tầm khái quát về một trào lưu Vì thế chúng tôi bước đầu khảo sát, tiến hành nghiên cứu thơ lục bát Việt Nam trong phong trào Thơ mới lãng mạn 1932 – 1945 với hy vọng giúp bạn đọc thấy được sự kế thừa những giá trị truyền thống tốt đẹp và nhìn ra những nét độc đáo, cách tân, mới mẻ trong sáng tác của các nhà thơ mới qua thể thơ truyền thống lục bát

Trang 9

nét độc đáo, bản sắc, hồn cốt dân tộc đã được hun đúc, gìn giữ và lưu truyền, phát triển từ ngàn đời nay Viết và nghiên cứu về thể thơ này đã tốn không ít giấy mực của các nhà nghiên cứu, phê bình có lòng yêu, niềm đam mê với thể thơ cổ truyền của dân tộc Việt

Các công trình nghiên cứu về ca dao, tục ngữ ít nhiều cũng dành phần nghiên cứu cho thể thơ lục bát, đã góp tiếng nói rất quan trọng trong hành trình nghiên cứu đầy gian nan và phức tạp về thể thơ cổ truyền Trong cuốn

Tục ngữ Việt Nam, Chu Xuân Diên đã bước đầu khẳng định: “Tục ngữ (vần

và nhịp) là nguồn gốc ra đời lục bát và song thất lục bát” Theo Nguyễn Xuân

Kính trong Thi pháp ca dao, có đến 95% ca dao được sáng tác bằng thể lục bát Hay cuốn Những thế giới nghệ thuật ca dao (tác giả Phạm Thu Yến)

cũng nhấn mạnh ý nghĩa của lục bát trong những sáng tác dân gian và dòng văn học viết Qua đây chứng tỏ thể lục bát có vị trí rất lớn trong nền văn hóa, văn học dân tộc Càng có ý nghĩa hơn khi dòng thơ này vẫn bền bỉ cùng sự trường tồn của dân tộc Việt, đi từ dân gian đến hiện đại ngoài việc giữ gìn những nét bản sắc mang phong cách dân gian, thơ lục bát không ngừng được cách tân, hiện đại hóa theo nhịp sống hiện đại đáp ứng đầy đủ nhu cầu bộc lộ thế giới tình cảm đa chiều phức tạp của con người thời mới

Phan Diễm Phương trong những nghiên cứu của mình về thể thơ lục bát

luôn đặt nó trong sự đối sánh với thể song thất lục bát : Lục bát và song thất

lục bát – lịch sử phát triển, đặc trưng thể loại – Nhà xuất bản Khoa học Xã

hội, Hà Nội, 1998 Những biến đổi trên dòng thơ lục bát hiện đại – Tạp chí Văn học số 10 năm 1994; Nghiên cứu so sánh sự phát triển về cấu trúc âm

luật và chức năng biểu đạt của hai thể thơ lục bát và song thất lục bát –

Luận án Tiến sĩ; Thơ lục bát ở một thế hệ nhà thơ hiện đại – Tạp chí Văn học số 2 năm 1998; Thể thơ dân tộc và sự lựa chọn của nền văn học mới

Tạp chí Văn học số 11 năm 1995 v.v…

Trang 10

Lục bát là một thể thơ bền bỉ và sâu lắng, nó đồng hành cùng với tiến trình phát triển của lịch sử và xã hội Nó thể hiện những cảm thức của cộng đồng, là sự thăng hoa trong tư tưởng con người, là sự kết tinh những nét tiêu biểu nhất trong trong tinh hoa văn hóa và ngôn ngữ dân tộc Là thể thơ dễ đọc, dễ hiểu, dễ thuộc, ra đời từ rất sớm, mang âm hưởng trữ tình dân gian rõ nét, nhưng lại chứa đựng trong nó nhiều khả năng cách tân, biến đổi và hiện đại hóa Nghiên cứu thể thơ này dưới góc độ thẩm mĩ và hình thức nghệ thuật cũng có rất nhiều công trình đạt được những thành tựu lớn, là nguồn tư liệu quý giá để thế hệ đi sau định hướng, tiếp tục cày xới trên cánh đồng lục bát

Là một thể thơ cổ có yêu cầu khắt khe về cấu tứ, ngôn ngữ, giọng điệu, điều

đó không có nghĩa là trong thơ không có đặc sắc về nghệ thuât, ngược lại nghệ thuật thơ lục bát rất phong phú Đến nay đã có khá nhiều công trình nghiên cứu đi sâu vào tìm hiểu lục bát ở khía cạnh âm luật Các công trình

nghiên cứu tiêu biểu như: Mai Ngọc Chừ - Vần nhịp, thanh điệu và sức

mạnh biểu hiện của lục bát biến thể; Phan Ngọc, Nguyễn Xuân Kính, Hà

Quảng, Vũ Duy Thông – Về sự phá vỡ truyền thống trong thơ lục bát v.v…

Các công trình nghiên cứu trên đi sâu vào nghiên cứu vần, nhịp, điệu của lục bát Ngoài ra, còn một số công trình nghiên cứu khác cũng nghiên cứu về thể

lục bát như: Bùi văn Nguyên, Hà Minh Đức – Thơ ca Việt Nam- Hình thức

và thể loại; Mã Giang Lân – Thơ hình thành và tiếp nhận v.v…

Thơ lục bát Việt nam đi từ ca dao mộc mạc, đằm thắm, chân tình đến

Truyện Kiều (Nguyễn Du) đến thời hiện đại trải qua bốn giai đoạn cơ bản, từ

những nét sơ khai nhất đến đỉnh cao Truyện Kiều và những thành tựu nổi bật

là lục bát hiện đại còn có rất nhiều điểm nhấn, rất nhiều nốt trầm làm cho dòng tiến triển của lục bát được liền mạch Ngoài hai giai đoạn đỉnh cao là

Truyện Kiều và lục bát hiện đại giai đoạn 1975 – 2000, trong các giai đoạn có

thể coi là gạch nối không phải là không có những bài thơ để đời, không phải

Trang 11

là không có những cá nhân xuất sắc, ưu việt Chính những gạch nối ấy góp phần bổ sung cho sự phong phú của lục bát Việt Nam về tác giả và thể tài Thơ lục bát Việt Nam trong phong trào Thơ mới lãng mạn là một minh chứng tiêu biểu Dù dóng góp không nhiều, nhưng trong giai đoạn này các nhà thơ mới đã có những sự tìm tòi sáng tạo, những cách tân độc đáo, thổi luồng gió mới vào cái áo cổ Là bước đệm, là nền tảng là cơ sở cho sự cách tân, sáng tạo thể nghiệm của lục bát Việt Nam giai đoạn sau 1975 – 2000

3 Mục đích – đối tƣợng nghiên cứu

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Để thực hiện được mục đích đề ra, luận văn của chúng tôi tập trung đi sâu vào nghiên cứu thể loại thơ lục bát trong tiến trình thơ Việt Nam hiện đại

giai đoạn từ năm 1932 – 1945 thông qua cuốn: Tuyển tập thơ mới lãng mạn

Việt Nam 1932 – 1945 Các tác phẩm mà chúng tôi sử dụng trong bài nghiên

cứu này chủ yếu là thơ lục bát giai đoạn 1932 – 1945 của các nhà thơ như: Lưu Trọng Lư; Thế Lữ; Lưu Kỳ Linh; Xuân Diệu; Huy Cận; Nguyễn Bính;

Hồ Dzếnh; Bàng Bá Lân; Phan Thanh Dật; Phan Thanh Phước; Hằng Phương; Mộng Huyền; Nguyễn Đình Thư; Trần Huyền Trân v.v… Ngoài ra, còn một số tác phẩm thơ lục bát của một số tác giả cùng thời và kế cận như:

Tố Hữu; Phạm Công Trứ; Đổng Đức Bốn; Nguyễn Duy được đưa ra nhằm mục đích so sánh đối chiếu làm sáng tỏ luận điểm mà chúng tôi nghiên cứu

Trang 12

4 Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết vấn đề triệt để, chúng tôi sử dụng một số phương pháp sau đây

4.1 Phương pháp thống kê, phân loại

Đây là phương pháp quan trọng góp phần hình thành những nhận định đánh giá chính xác, khoa học về đặc điểm thể thơ, tiến trình hình thành và phát triển thể loại, những đặc điểm nổi bật về nội dung và hình thức nghệ thuật của thơ lục bát trong phong trào thơ mới Lãng mạn 1932 – 1945 Chúng tôi tiến hành thống kê, phân loại đối tượng theo tiêu chí nội dung và hình thức nghệ thuật để làm sáng tỏ luận điểm đã nêu

4.2 Phương pháp phân tích

Thông qua phương pháp này, luận văn sẽ nêu bật những đặc trưng về nội dung và hình thức nghệ thuật trong thơ lục bát giai đoạn 1932 – 1945 Đồng thời tránh được những nhận xét, kết luận cảm tính về khuynh hướng cũng như thành tựu của các nhà thơ mới làng mạn trong dòng lục bát

4.3 Phương pháp so sánh, đối chiếu

Đây là phương pháp quan trọng không thể thiếu khi chúng tôi tiến hành nghiên cứu Như chúng tôi đã nói ở trên, thơ lục bát giai đoạn 1932 – 1945 là nốt trầm trong tiến trình phát triển thể loại Nhưng không phải vì thế mà giai đoạn này không có thành tựu nổi bật và các cá nhân xuất sắc Để thấy được đặc trưng của lục bát giai đoạn này, chúng tôi thực hiện so sánh đối chiếu sáng tác của các tác giả lãng mạn với sáng tác của các tác giả ở các trào lưu khác cùng thời và các tác giả đương đại Qua đó những nét tiêu biểu trong sáng tác của các tác giả lãng mạn sẽ được sáng tỏ và có sức thuyết phục cao

4.4 Phương pháp liên ngành

Trong quá trình nghiên cứu đề tài, chúng tôi luôn kết hợp chặt chẽ hữu

cơ các phương pháp kể trên nhằm mục đích giải quyết vấn đề nêu ra một cách

Trang 13

triệt để, khoa học, có hệ thống, đem lại những thông tin hữu ích nhất cho đối tượng tiếp cận đề tài

5 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được chúng tôi triển khai theo

3 chương:

Chương 1: Những hiểu biết chung về thơ lục bát Việt Nam

Chương 2: Các khuynh hướng lục bát trong thơ lãng mạn giai đoạn

1932 - 1945

Chương 3: Những đóng góp tiêu biểu về hình thức nghệ thuật của thơ lục bát trong thơ lãng mạn giai đoạn 1932 - 1945

Trang 14

NỘI DUNG

Chương 1

NHỮNG HIỂU BIẾT CHUNG VỀ THƠ

LỤC BÁT VIỆT NAM

Văn học là hình thức nghệ thuật ngôn từ, thông qua thế giới nghệ thuật

đó, mọi tâm tư, tình cảm của con người được chuyển tải một cách phong phú

và sâu sắc nhất Tuy nhiên thế giới nội cảm của con người không ngừng biến động, và ngày càng đa đạng, phức tạp, điều đó đòi hỏi phải có những thể loại văn học phù hợp thích ứng để có thể diễn tả đấy đủ mọi cung bậc của thế giới nội tâm con người

1.1 Thể loại và các thể thơ Việt Nam

1.1.1 Một số quan niệm về thể loại thơ

Là cụm từ được sử dụng khá rộng rãi và phổ biến Tuy nhiên, tại Việt Nam vấn đề này vẫn còn gây rất nhiều tranh cãi chưa tìm được tiếng nói chung, thống nhất giữa các nhà nghiên cứu Chúng ta vẫn thường hiểu nôm na

“thể” là hình thức tác phẩm, ta thường gọi thể một chữ, thể hai chữ v.v…, hay thể thơ có vần, thể thơ không vần “Loại” rộng hơn thể, bao hàm cả thể Loại được phân chia dựa trên cả tiêu chí nội dung và hình thức Do đó, trong quá trình sáng tác cũng như nghiên cứu một tác phẩm văn học, khi động chạm đến vấn đề thể, loại hay một kiểu lối thơ nào đó chúng ta thường sử dụng một cách trực quan như một thói quen cố hữu chứ không dựa trên một tiêu chí khoa học nào Dần dần thói quen cố hữu đó ăn sâu, bám rễ vào trong tư tưởng mỗi chúng ta, đến mức ta chỉ sử dụng thậm chí nhiều khi ta không hiểu được

sử dụng như vậy là hợp lý hay chưa Sở dĩ có thói quen như vậy là do một vài nguyên nhân khách quan sau:

Trang 15

Tìm hiểu một chút về lịch sử văn hóa dân tộc Việt Nam Trong suốt hơn 1000 năm Bắc thuộc, chúng ta chịu ảnh hưởng sâu sắc từ Văn hóa Trung Quốc, đặc biệt là trên phương diện văn chương cử tử Để tuyển chọn người tài, người ta dựa vào chế độ khoa cử, các nhà nho Việt Nam muốn có được chỗ đứng vững chắc dưới bệ Rồng đều không ngừng rèn luyện tu dưỡng bản thân chốn cửa Khổng sân Trình theo học thuyết bất di bất dịch của ông tổ Nho gia – Khổng Tử Họ dựa vào những lý thuyết răn dạy lễ nghĩa, dùng văn chương để “tải đạo”, lấy văn chương làm vũ khí để “di dưỡng tính tình” Tất

cả các sáng tác đều phải tuân theo một chuẩn mực nhất định không những về

tư tưởng mà về thể thơ cũng phải tuân thủ nghiêm ngặt theo các thể với những niêm luật được định sẵn Ngoài các thể cổ phong quen thuộc như: song điệp,

vĩ tam thanh, thủ vĩ ngâm, hồi văn, yết hậu, liên hoàn v.v…; thơ Đường luật được sử dụng rộng rãi, phổ biến trong suốt mười thế kỷ văn học Trung đại, trở thành chuẩn mực, thước đo để đánh giá tài năng thơ phú của Nho sĩ Trong suốt gần một thiên niên kỉ hệ thống thể loại này đã thống soái và chi phối nền văn học Việt Nam, và cho đến nay nó vẫn giữ được một vị trí quan trọng trong dòng chảy văn học nước ta

Sang đầu thế kỷ XX, khi thực dân Pháp sang xâm lược đã thổi một luồng gió văn hóa mới vào nền Văn hóa nước ta, chúng ta được tiếp xúc với nền văn hóa phương Tây, từ đó kéo theo rất nhiều thay đổi trong văn chương cũng như trong tư tưởng của thế hệ văn sĩ mới Một tầng lớp trí thức mới được du học, tiếp xúc với nền văn hóa mới đã có những sự cách tân mạnh mẽ trong cách nghĩ cũng như cách sống, họ tôn thờ “cái tự nhiên của con tâm” (Phan Khôi) Họ không ngừng phê phán thơ luật đã bó buộc cảm xúc, giam hãm sự bứt phá của tâm hồn, họ kêu gọi đổi mới trong tình và hình thể loại, thổi hồn vào câu thơ Thơ ca là ngôn ngữ diễn tả cảm xúc, tâm trạng một cách

Trang 16

hữu hiệu nhất, và hàng loạt các thể thơ ra đời kéo theo những quan niệm khác nhau về thể loại

Sự phức tạp trong quan niệm về thể và loại của thơ còn bắt nguồn từ sự phức tạp của thơ Con người Việt Nam vốn yêu thơ, trân trọng thơ, coi thơ ca

là tinh hoa là sự chắt lọc những giá trị cao nhất của cuộc đời, thơ là nơi để con người giãi bày, chia sẻ với nhau những tâm tư, tình cảm, những kinh nghiệm sống Thơ là nơi neo đậu tâm hồn, là bến đỗ bình yên cho tâm hồn mỗi con người Khi vui nghĩ đến thơ, khi buồn người ta cũng nghĩ tới thơ, thơ là ngọn nguồn của những giá trị cao nhất trong trái tim đa cảm chất chứa yêu thương của mỗi con người Thơ không phải là một giá trị bất biến, nó tồn tại vĩnh hằng cùng với thời gian và luôn có sự vận động, biến thiên cùng với thế giới tâm trạng đầy phức tạp của mỗi chúng ta Ở mỗi thời kì, mỗi giai đoạn chúng

ta lại tìm đến với những quan niệm khác nhau về thơ Thơ là “bà chúa nghệ thuật”, là “cái nhụy của cuộc sống” (Sóng Hồng), là “sự thể hiện con người và thời đại một cách cao đẹp” Nhà thơ như con ong hút nhụy từ những bông hoa của đời sống để tạo thành mật ngọt dâng hiến cho đời Nếu không có sự khổ luyện của con ong thì phấn hoa cũng không trở thành mật ngọt, cũng giống như nhà thơ nếu không có sự khổ công trau dồi ngòi bút thì cũng không thể có được những bài thơ hay Thơ thuộc phương thức trữ tình, nên thơ lấy điểm tựa ở sự bộc lộ thế giới nội cảm của nhà thơ trước cuộc đời Thơ thiên về thế giới nội cảm, là tiếng nói của tình cảm, là sự rung động của con người trước cuộc sống một cách chân tình, tự nhiên “Thơ là tiếng nói hồn nhiên nhất của tâm hồn” (Tố Hữu) Sự phức tạp của thơ có cội rễ từ yếu tố tình cảm Tình cảm trong thơ nảy sinh từ những rung cảm trực tiếp của nhà thơ trước cuộc đời, có rung động mới có sự sáng tạo trong thơ, “thơ phát khởi từ trong lòng người ta” (Lê Quý Đôn) Ngô Thì Nhậm lại cho rằng, “Mây gió cỏ hoa xinh tươi kì diệu đến đâu hết thảy cũng đều từ trong lòng mà nảy ra…Hãy xúc

Trang 17

động hồn thơ để cho ngọn bút có thần” Dù đông tây hay kim cổ thì cũng đều thống nhất cho rằng, tình cảm là yếu tố quan trọng nhất trong thơ, sự phức tạp của tình cảm làm cho thế giới thơ ca thêm phong phú nhiều màu sắc, bởi

“Thơ là người thư kí trung thành của những trái tim” (Đuy Belây), “Thơ là nhiệt tình kết tinh lại” (Anphret đơ Vinhi)

Những nguyên nhân mà chúng tôi vừa thống kê trên là dẫn chứng tiêu biểu, tích cực nhất dẫn tới những cách hiểu, sử dụng khác nhau về cụm từ

“thể loại” tại Việt Nam Để luận văn mang tính logic, khoa học, đúng đắn, tránh những lệch lạc, thiếu sót khi nghiên cứu về phạm trù “thể loại” nói chung, thể lục bát nói riêng, chúng tôi điểm qua nguồn gốc của cụm từ và những vận dụng khoa học của giới nghiên cứu Việt Nam về cụm từ này trong tiến trình lịch sử nghiên cứu văn học Việt Nam

“Thể loại” là một phạm trù mang tính hình thức Đây có lẽ là thuật ngữ

mà chúng ta du nhập từ Văn học Trung Quốc B.L.Riftin đã đưa ra dẫn chứng rất thiết thực chứng minh: “Bản thân khái niệm “thể loại” trong khoa nghiên cứu Văn học Trung Quốc đương đại được truyền đạt qua từ thể tài, trong đó

“thể” nghĩa đen là “thân thể”, “hình thức” Cùng với từ này người ta dùng các thuật ngữ khác như “văn thể” theo nghĩa đen là “thân thể văn học”, “hình thức văn học” Những khái niệm này mới chỉ xuất hiện trong thế kỉ XX, nhưng bảo lưu trong chúng thành tố “thể” tức là “thân thể” vốn đã được sử dụng theo nghĩa đó từ thời viễn cổ” (52;24) Thông qua quá trình giao lưu văn hóa, văn học, cụm từ này được du nhập vào nền văn học Việt Nam và đến nay đã trở thành thuật ngữ quen thuộc trong khoa sáng tác và nghiên cứu văn học Rất nhiều nhà nghiên cứu của Việt Nam đã coi đó là một khái niệm chuẩn mực và trong quá trình nghiên cứu đã chịu ảnh hưởng không ít Ta sẽ thấy rõ điều này qua một số nghiên cứu của một số học giả Việt Nam

Trang 18

Theo Từ điển tiếng Việt của Trung tâm Từ điển học – xuất bản năm

1998 thì: “thể” là “hình thức sáng tác thơ văn” (39;900), “loại” là “tập hợp người hoặc vật có chung những đặc trưng nào đó, phân biệt với những người khác, vật khác” (39;553); còn “thể loại” là “hình thức sáng tác văn học nghệ thuật chia theo phương thức phản ánh hiện thực, vận dụng ngôn từ” (39;900)

Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “Thể loại là một dạng thức tồn tại

của tác phẩm văn học, được hình thành và tồn tại tương đối ổn định trong quá trình phát triển của lịch sử văn học thể hiện ở sự giống nhau về cách thức tổ chức tác phẩm, về đặc điểm của các loại hiện tượng đời sống được miêu tả và

về tính chất của mối quan hệ của nhà văn đối với các hiện tượng đời sống ấy” (17; 202 – 203) Mà thế giới đời sống của con người là một bức tranh muôn màu, muôn vẻ, dưới lăng kính của các nhà văn, nhà thơ nó được thu nhỏ, được phản ánh dưới các góc độ khác nhau, khi thì là viễn cảnh, khi thì là cận cảnh, “thể hiện những quan hệ thẩm mĩ khác nhau đối với hiện thực” (17;203) Tương ứng với nó là “những hoạt động nhận thức khác nhau của con người, hoặc là trầm tư, chiêm nghiệm, hoặc qua các biến cố liên tục, hoặc qua xung đột…” (17;203), cũng có khi là sôi nổi, hoạt bát hoặc qua các biến

cố, xung đột liên tục tiếp diễn… Sự thống nhất giữa đối tượng tiếp nhận và đối tượng truyền tải thông tin về cùng một đối tượng khác nhau đã tạo nên

“sự thống nhất quy định lẫn nhau về các loại đề tài, cảm hứng và các hình thức nhân vật, hình thức kết cấu và hình thức lời văn” (17;203) Tuy nhiên,

“thể loại” là một phạm trù vừa mới, vừa cũ, không bất biến mà trái lại nó luôn vận động biến đổi trong sự ổn định nhằm phản ánh những khuynh hướng phát triển của văn học “Thể loại văn học trong bản chất phản ánh những khuynh hướng phát triển vững bền, vĩnh hằng của văn học; và các thể loại văn học tồn tại là để gìn giữ, đổi mới thường xuyên các khuynh hướng ấy Do đó mà thể loại văn học luôn luôn vừa mới, vừa cũ, vừa biến đổi, vừa ổn định.” (17;203)

Trang 19

Chính sự phong phú đó cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến những quan niệm khác nhau về cụm từ thể loại mà chúng tôi đã lí giải ở phần trên

Tuy nhiên, để tránh sử dụng cụm từ một cách vô thức, dựa theo những

lý thuyết và luận cứ khoa học minh bạch Giới học giả nghiên cứu đã chỉ ra được những nhận định khách quan về cụm từ này như sau:

Các nhà lí luận văn học trong suốt quá trình nghiên cứa “đã dựa vào yếu tố ổn định của thể loại mà chia tác phẩm văn học thành các loại và các thể (hoặc thể loại hoặc thể tài)” (17; 203) “Thể” thiên nhiều về hình thức, đó là cách kết cấu tổ chức tác phẩm như truyện ngắn, truyện dài, truyện vừa, tiểu thuyết v.v… “Loại rộng hơn thể, thể nằm trong loại” (17;203) “Loại” bao hàm nhiều thể khác nhau “Bất kì một tác phẩm văn học nào cũng nằm trong một “loại” nhất định, và quan trọng hơn là có một hình thức “thể” nào đó Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng có ba loại: tự sự, trữ tình và kịch” (17;203) Nếu đặt loại trên tiêu chí nội dung, trong thơ được chia ra thành các loại như: thơ trữ tình, thơ trào phúng Còn nếu đặt loại trong tiêu chí phương pháp sáng tác có thể chia thành các loại thơ như: thơ lãng mạn, thơ hiện thực, thơ cách mạng; chi tiết hơn ta có thể chia ra thành thơ trữ tình chính trị, thơ chính luận, thơ châm biếm và thơ đả kích Như vậy có thể khẳng định, “thể loại là một dạng thức tồn tại của một tác phẩm, cùng một loại nhưng các thể khác nhau rất sâu sắc Ngoài đặc trưng của loại, các thể còn phân biệt nhau bởi hình thức lời văn (thơ hay văn xuôi), dung lượng (truyện dài, truyện ngắn), nội dung phản ánh (thơ trào phúng, thơ ca ngợi)” (17;203) Một số nhà nghiên cứu còn

đề xuất chia thể theo loại đề tài, chủ đề, chẳng hạn: thơ tình, thơ điền viên v.v… Sự phân chia này được sử dụng khá phổ biến trong quá trình sáng tác

và nghiên cứu văn học Việt Nam

Trong phần mở đầu chúng tôi khẳng định, thể loại tồn tại song song với tiến trình phát triển của lịch sử xã hội, theo thời gian, có những thể trường tồn

Trang 20

mãi mãi, nhưng cũng có những thể chỉ tồn tại ở một môi trường cụ thể, một giai đoạn lịch sử nhất định sau đó tự biến mất “một đi không trở lại” hoặc được biến đổi thành một thể khác cho phù hợp với hoàn cảnh xã hội, tình cảm

và tâm sinh lý cộng đồng tiếp nhận đúng như nhận định của Backhtin: “Thể loại vừa rất cổ sơ nhưng luôn luôn mới mẻ, nó vừa muốn quên mình là ai đi nhưng luôn nhắc nhở những người khác nhớ về gốc gác của nó” Hay theo nhận định của D.Likhasốp thì: “Thể loại là một phạm trù lịch sử, nó chỉ xuất hiện vào một giai đoạn nhất định của văn học và sau đó biến đổi và được thay thế” (17;204) Như vậy, thể loại vừa mang tính ổn định, bền vững, vừa không ngừng cách tân biến đổi, vận động

Mỗi giai đoạn lịch sử văn học, mỗi trào lưu văn học lại gắn liền với một thể loại khác nhau, hoặc đề cao thể loại này, hoặc hình thành lên thể loại mới, hoặc cùng tồn tại và phát triển tạo nên sự đa dạng, phong phú về thể loại trong từng giai đoạn văn học nhất định Ngoài ra, thể loại còn mang tính lịch sử và dân tộc, kế thừa và sáng tạo Dấu ấn lịch sử bao giờ cũng in đậm nét trên chân dung mỗi thể loại Có những thể loại chỉ sinh ra và tồn tại trong một giai đoạn lịch sử nhất định sau đó tự biến mất “một đi không trở lại” như truyện thần thoại, truyền thuyết…

“Thể loại” gắn bó mật thiết với tính dân tộc Mỗi một dân tộc trong quá trình hình thành và phát triển của mình lại gắn với một thể loại văn học cụ thể,

nó phù hợp với bản lĩnh, tính cách, khí phách và tâm hồn, ngôn ngữ, văn hóa mỗi quốc gia dân tộc riêng biệt Khi nhắc tới văn hoc Trung Quốc không thể không kể tới thể Đường thi, tiểu thuyết chương hồi, cũng giống như người Nhật

tự hào mình là lãnh địa của thơ Haikư, và lục bát của Việt Nam Những thể loại này góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa, hồn thiêng sông núi của mỗi một quốc gia dân tộc Và trong quá trình phát triển của mình, nó không ngừng cách tân, sáng tạo làm mới mình cho phù hợp với bối cảnh mới của lịch sử xã hội

Trang 21

Bản thân “thể loại” còn luôn mang trong mình khả năng bảo lưu và giao thoa, làm mới mình Thực tế lịch sử văn học thế giới chứng minh, có những thể loại chỉ tồn tại trong một giai đoạn lịch sử của văn học sau đó tự mất đi Nhưng cũng có những thể loại không mất đi mà đã kết hợp với một vài thể loại khác để cùng tồn tại và phát triển làm nên sự phong phú của thể loại trong nền văn học Chúng ta đã quá quen thuộc với các cụm từ thể loại trong văn học như kịch thơ, thơ văn xuôi, tiểu thuyết phóng sự… Thực chất các thể loại đó là sự giao thoa kết hợp giữa các thể kịch, thơ, văn xuôi, tiểu thuyết và phóng sự mà thành

Trong mỗi thời kì lịch sử văn học cụ thể chúng ta lại có những quan niệm khác nhau về “thể loại”, bởi “thể loại” luôn vận động, biến đổi cho phù hợp với tư duy sáng tác, quan điểm thẩm mĩ, đối tượng tiếp nhận Tuy nhiên

có một điều không thể phủ nhận đó là, “thể loại” là dạng thức tồn tại của tác phẩm văn học, nó mang tính hình thức và luôn bảo lưu trong mình các đặc thù

cơ bản: tính lịch sử; tính dân tộc; khả năng giao thoa; tính kế thừa; sự sáng tạo; khả năng cách tân và đổi mới… Ở luận văn này chúng tôi dùng từ “thể”

có lúc tùy theo văn cảnh sẽ dùng từ “thể loại”

1.1.2 Các thể thơ Việt Nam

Đặt cụm từ “thể loại” trong tiến trình phát triển của lịch sử văn học Việt Nam từ thời Trung đại đến nay, văn học Việt Nam đi từ những bài hịch cáo, thơ cổ phong, thơ Đường luật, thơ lục bát, song thất lục bát đến kịch, tự

sự, trữ tình và trong mỗi loại lại bao gồm rất nhiều các thể khác nhau Trong khuôn khổ luận văn không cho phép chúng tôi liệt kê đầy đủ các thể loại trên trong tiến trình phát triển nền văn học Việt Nam Chúng tôi chỉ điểm qua một vài nét về sự vận động của các thể thơ Việt Nam hiện đại nhằm góp phần giúp người đọc hiểu rõ hơn về đề tài mà chúng tôi đang tiến hành nghiên cứu

Trang 22

Giai đoạn 1932 – 1945 xuất hiện nở rộ với hăng loạt câc băi thơ mới không chỉ về nội dung tư tưởng, mă còn mới cả trín phương diện hình thức nghệ thuật Với quan niệm phải thổi “tình” vằ trong mỗi vần thơ, thơ phải chuyển tải được “câi tình say đắm, câi tình thoảng qua, câi tình xa xôi, câi tình gần gũi”(35;21), “câc nhă thơ mới đê dọ dẫm từ những cđu thơ hai tiếng đến những cđu thơ mười hai tiếng (mă có người mô phỏng thơ Phâp đê gọi lă

“vế”, đặc dụng nhứt lă những cđu năm tiếng, bảy tiếng, tâm tiếng (vă đôi khi chín tiếng)” (74) vă đê gặt hâi được những thănh công rất lớn, lă tiền đề cho thơ ca Việt Nam hiện đại giai đoạn sau tiếp bước vă hoăn thiện Những sâng tạo thể loại mới mẻ đó của câc nhă thơ mới được đânh dấu bằng một hệ thống thể thơ từ một chữ, hai chữ đến thơ tự do, thơ văn xuôi Tâc giả Hoăi Thanh –

Hoăi Chđn trong cuốn Thi nhđn Việt Nam khẳng định, thể thơ thất ngôn (bảy

tiếng), ngũ ngôn (năm tiếng) vă thơ tâm tiếng lă sâng tạo mới của câc nhă thơ mới, còn lục bât, lục ngôn, thơ bốn chữ, từ khúc lă thể thơ kế thừa truyền thống Xoay quanh vấn đề sự hình thănh câc thể thơ mới, nhă nghiín cứu Mê

Giang Lđn trong cuốn Thơ - Hình thănh vă tiếp nhận đê dăy công khảo cứu

vă giới thiệu rất đầy đủ, tỉ mỉ từ nguồn gốc sinh thănh, quâ trình phât triển đến

những đặc trưng tiíu biểu về nghệ thuật Trong Sự biến đổi thể loại trong thơ

Việt Nam thế kỉ XX, ông nhận định: “Câc nhă thơ mới lúc năy viết nhiều thơ

bảy chữ vă tâm chữ, một thể thơ có nguồn gốc thơ ca dđn tộc (ca trù)” (60;22) Chứng tỏ sang đến giai đoạn văn học năy, câc nhă thơ mới không còn quâ chú trọng đến niím luật, cấu trúc cđu thơ nữa, điều căn bản quan trọng nhất lă phải thể hiện được câi tình, câi “tôi”, câi “cảm của nhă viết thơ” (74)

Vì thế trong từng hoăn cảnh cụ thể, tùy theo cảm xúc, tđm trạng mă người viết gửi hồn thơ của mình trong từng thể thơ nhất định Nguyễn Vỹ đê diễn tả cảm xúc chơi vơi, bđng khuđng mính mang của mình bằng thể thơ hai dòng rất hiệu quả, đưa đến cho người đọc một cảm giâc buồn man mâc, dịu nhẹ, nói

Trang 23

như Hoài Thanh – Hoài Chân: “Cái gì đó có thể là những giọt sương, cũng có thể là những giọt lệ hay những giọt gì vẫn cứ rơi đều đều, chầm chậm trong lòng ta mỗi lúc vẩn vơ buồn ta đứng một mình trong lặng lẽ” (35;117)

Sương rơi Nặng trĩu Trên cành Dương liễu…

…Từng giọt, Thánh thót, Từng giọt, Tơi bời Mưa rơi, Gió rơi,

Lá rơi,

Em ơi

(Sương rơi – Nguyễn Vỹ)

Đôi khi nhà thơ lại thả hồn trôi theo thể thơ bốn chữ quen thuộc thường thấy trong tục ngữ, ca dao, dân ca:

Xuân gội tràn đầy Giữa lòng hoan lạc, Trên mình hoa cây…

Nắng vàng lạt lạt Ngày đi chầy chầy…

(Chiều xuân – Huy Cận)

Cũng có khi nhà thơ lại đắm mình trong dòng cổ phong (ngũ ngôn cổ phong) và thơ Đường (ngũ ngôn Đường luật):

Đôi mắt em lặng buồn

Trang 24

Nhìn thôi mà chẳng nói Tình đôi ta vời vợi

Có nói cũng không cùng

(Một mùa đông - Lưu Trọng Lư)

Và thơ lục ngôn – một dạng thơ ít được sử dụng trong làng thơ Việt Nam:

Em là gái trong song cửa, Anh là mây bốn phương trời;

Anh theo cánh gió chơi vơi

Em vẫn nằm trong nhung lụa

(Một mùa đông – Lưu Trọng Lư)

Dù cho các nhà thơ quan niệm sáng tác bằng bất cứ thể thơ nào, chỉ cần

“lướt theo ý tưởng”, nhưng sở trường của các nhà thơ vẫn là thể bảy chữ và

thể tám chữ:

Hôm nay tôi đã chết trong người Xưa hẹn nghìn năm yêu mến tôi

(Xuân Diệu) Hoài Thanh cho rằng : “Hai câu thất ngôn ấy của Xuân Diệu hình dáng giống thơ xưa biết bao Phép dùng chữ, phép đặt câu đổi mới một cách táo bạo cũng thay hình dáng câu thơ không ít Những thể thơ cũng như toàn thể

xã hội Á Đông, muốn mưu lấy sinh tồn, không ít thì nhiều cũng phải thay đổi hình dáng” (35;57)

Thể bảy chữ và thể tám chữ có nguồn gốc từ thể thơ ca dân tộc, thể hát nói (ca trù), mang âm hưởng mênh mang nửa hát nửa nói:

Trang 25

- Chao ôi! Mong nhớ! Ôi mong nhớ!

Một cánh chim thu lạc cuối ngàn!

(Xuân - Chế Lan Viên)

- Tôi đã dám cầu xin hai giọt lệ Trên mi nàng huyền bí vẻ say mê Cho điệu buồn man mác tự đâu về Đưa ngọn gió theo chiều mây lặng lẽ

(Chiều buồn - Phạm Hầu)

Ngoài ra, thời kì này còn xuất hiện một số dạng thể thơ mới như thơ tự

do, thơ văn xuôi Sự xuất hiện của các thể thơ này đã chứng minh cho tính chất phong phú, phức hợp của phạm trù thể loại, đó là tính giao thoa, tương tác giữa các thể loại Đồng thời đáp ứng nhu cầu bộc lộ thế giới nội cảm mãnh liệt của một thế hệ nhà thơ mới Dù cho xuất hiện với tần suất không nhiều, nhưng thơ tự do và thơ văn xuôi cũng đã khẳng định được dấu ấn của mình trong trào lưu Thơ mới lãng mạn “Phong trào thơ mới lúc bột phát có thể xem như một cuộc xâm lăng của thơ văn xuôi Văn xuôi tràn vào địa hạt thơ, phá phách tan tành.” (35;46) Giai đoạn đầu khi mới xuất hiện thơ văn xuôi còn mang tính chất văn xuôi, sau khoảng mười năm phát triển “thơ văn xuôi càng thêm hàm súc” (35;46), đôi khi hàm súc quá khiến người đọc không hiểu được bởi nó đã vượt khỏi khuôn mẫu thông thường bởi những hình ảnh ngôn

từ mang ý nghĩa tượng trưng, siêu thực

Phong trào Thơ mới là sự bùng phát, nở rộ của các thể thơ mới, bên cạnh sự tồn tại phát triển song song của các thể thơ cũ như thơ Đường luật, dòng thơ dân gian Trong ngàn hoa đua sắc thắm đó, lục bát vẫn giữ được vẻ duyên dáng, dịu dàng, đằm thắm của mình – một bông hoa đồng nội dịu dàng

e ấp, giản dị mà đằm thắm Giai đoạn này không phải là đỉnh cao của thơ lục

bát như trong Truyện Kiều, nhưng nó vẫn tiếp tục tiếp bước cùng thế hệ

Trang 26

những người đi trước như Tản Đà, Trần Tuấn Khải không ngừng tiếp thu tinh hoa dân tộc, cùng đổi mới cách tân sáng tạo làm mới điệu thơ, hồn thơ khẳng định sự trường tồn, bền bỉ, mãnh liệt của giọng thơ dân tộc Những đóng góp của các nhà thơ mới đối với việc lưu giữ “điệu hồn” của dân tộc vô cùng lớn lao Bằng trái tim yêu tha thiết một phần bản sắc văn hóa dân tộc, các nhà thơ như: Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Nguyễn Bính, Xuân Diệu Huy Cận, Hồ Dzếnh, Mộng Huyền, Bàng Bá Lân v.v… “đã làm bùng nổ những tư tưởng mới trong những cái áo khoác mới được kết bằng những chất liệu quen thuộc truyền thống” (35; 36)

1.2 Sự vận động và phát triển của thơ lục bát Việt Nam

1.2.1 Lịch sử hình thành thể thơ lục bát

1.2.1.1 Nguồn gốc sinh thành

Như chúng tôi đã nói trong phần mở đầu, nền văn học luôn vận động và phát triển theo sự chuyển mình của lịch sử, xã hội Cũng giống như nền văn học thế giới, theo bước đi của thời gian, nền văn học Việt Nam cũng không ngừng vận động và biến chuyển Những đóng góp của nền văn học Việt Nam vào quỹ đạo văn học thế giới đã được nhân loại biết đến và trân trọng Trong

số đó, thơ lục bát có thể được coi là dấu ấn riêng, đặc sắc, nổi trội, là tiếng nói tiêu biểu cho văn học Việt Nam, tâm hồn Việt Nam khi người ta nhắc đến nền văn học Việt

Mỗi một thể thơ được hình thành dựa trên những yếu tố nguồn gốc khác nhau, có những thể được hình thành do nhu cầu của con người, thời đại,

do môi trường sinh tồn, do nền tảng văn hóa, do nhu cầu giao lưu và học hỏi

Có những thể là sự kế bước những thành tựu vĩ đại của dân tộc từ thưở xa xưa Sự hình thành thể thơ tại Việt Nam cũng vậy, “Một số xuất phát từ văn học dân gian phát triển lên mà hình thành, một số khác từ nước ngoài du nhập vào rồi Việt hóa cho phù hợp với quy luật ngôn ngữ và tính cách người Việt”

Trang 27

(24;449) Dọc theo tiến trình hình thành và phát triển thể loại tại Việt Nam, có rất nhiều thể thơ khác nhau, mỗi thể đều có nguồn gốc nhất định, trong đó lục bát là thể thơ dân gian có nguồn gốc từ ca dao Đây là “một thể câu thơ cách luật mà các thể thức được tập trung thể hiện trong một khổ gồm hai dòng với

số tiếng cố định: dòng sáu tiếng (câu lục) và dòng tám tiếng (câu bát)” (17;131) Lục bát là thể thơ rất dễ nhận, dễ đọc, dễ hiểu và dễ nhớ nhất bởi nó

mang âm hưởng dân gian phù hợp với tạng người Việt Nam “âm điệu trên sáu

dưới tám Bắt đầu bằng câu sáu, tiếp theo là câu tám cứ như thế diễn đạt cho đến hết bài” (32;49), cách gieo vần uyển chuyển, linh hoạt, nhịp điệu trầm bổng du dương Khác với các thể thơ hai chữ, ba chữ, bốn chữ, hay bảy chữ, lục bát không mang trong mình sự đài các, cao sang, trang trọng, không ồn ào mãnh liệt, cũng không não nề thê lương, lục bát mang trong mình những cảm xúc mênh mang, dạt dào, tha thiết Như một thói quen, các nhà thơ trở về với mạch nguồn dân tộc không những tìm về với giá trị vĩnh hằng, bất biến của nhân loại, mà còn thể hiện tâm thức thời đại với những trăn trở, khắc khoải về nhân tình thế thái Xã hội luôn biến động không ngừng, thời gian cứ thế lặng

lẽ trôi đi, đời người lại rất ngắn ngủi, chỉ có những giá trị cao đẹp sẽ trường

tồn trước sự vô định đó Chẳng thế mà trường thiên Truyện Kiều của Nguyễn

Du viết cách chúng ta mấy thế kỉ rồi mà vẫn như đang hiện hữu đâu đây Sự toàn bích, sáng chói của nó luôn khiến người đời bừng tỉnh, ngỡ ngàng Ai

cũng biết Truyện Kiều là đỉnh cao chói lọi của lục bát dân tộc Việt, Truyện

Kiều đã đưa thể lục bát Việt Nam bước lên đài vinh quang của nền văn học

thế giới Nhưng ít ai biết để đạt danh hiệu cao quý đó, máu từ ngòi bút của tác giả chảy tràn trên từng trang thơ Nguyễn Du đã phải trăn trở khôn nguôi để

có thể viết được những câu thơ thần kì chở nặng tình đời, tình người Đóng góp lớn lao, vĩ đại hơn cả là ở chỗ Nguyễn Du đã nâng thể thơ dân tộc lên một tầm cao mới Tiếp bước cha ông, thế hệ đi sau không ngừng cách tân, sáng tạo

Trang 28

để lục bát truyền thống luôn mới, và luôn gắn bó mật thiết với sự tiến bộ của nhân loại Lục bát là niềm tự hào của dân tộc Việt Và càng tự hào hơn nữa khi bản sắc văn hóa dân tộc Việt đã được nhân loại biết đến, khẳng định và tôn vinh Để đạt được những chiến công vang dội đó, chúng ta đã luôn nỗ lực cống hiến, không ngừng tìm kiếm, lựa chọn, sàng lọc, kế thừa, phát huy, sáng tạo đổi mới tạo cho lục bát sự tinh luyện, thù biệt “Nếu như người Anh, người Ý tự hào vì có thơ Sonne, người Nhật có thơ Haikư, người Trung Quốc

có Đường thi…, thì chúng ta cũng có quyền tự hào vì có thơ lục bát Đó là một trong những thể thơ đã có tự ngàn năm, tồn tại và phát triển thông qua lời

ăn, tiếng nói của ông bà ta xưa truyền lại cho con cháu, qua tục ngữ, ca dao và qua làn điệu dân ca ở khắp mọi miền đất nước Có thể nói: ở đâu có lục bát là

ở đó có văn hóa Việt Nam.” (68)

“Cội nguồn của lục bát luôn là bí mật đầy hấp dẫn, luôn mời gọi những cuộc khám phá đầy phiêu lưu của các nhà thi học, đặc biệt là “lục bát học” Chắc chắn sẽ còn nhiều cuộc lội ngược về ngọn nguồn của tiếng Việt, lội ngược về cái vùng được xem là tiền sử của văn học và thơ ca Việt để mà khảo sát, tìm kiếm, lục lọi, để truy tìm bằng được khởi thủy của thể loại này” (73) Thực tế chứng minh, có rất nhiều người đã đặt ra những giả thiết khác nhau

về nguồn gốc sinh thành thể loại như: Nguyễn Đổng Chi, Hoa Bằng; Cao Huy Đỉnh; Nguyễn Văn Hoàn…Có tác giả dựa vào một số yếu tố như ca dao, điển tích, điển cố, ngôn ngữ… để giải thích sự ra đời của Lục bát Qua đó nhận định: “Từ xửa từ xưa, có lẽ từ trước đời Lý, tức thế kỉ XI, nhân dân ta ít ra cũng có một lối gì, hoặc gần như lục bát, để phô diễn tư tưởng và thể hiện tình cảm” (59;48) Nhưng kiến giải này không được Nguyễn Văn Hoàn chấp nhận, ông cho rằng: „tham vọng sắp xếp văn học truyền miệng vào một cái khung niên đại cụ thể, quả khó tránh khỏi thái độ võ đoán, cưỡng ép” (59;48) Thông qua quá trình nghiên cứu những tài liệu hiện có, Nguyễn Văn Hoàn nhận

Trang 29

định: “Thể lục bát, sớm nhất cũng chỉ xuất hiện vào khoảng cuối thế kỉ XV” (59) Theo Phan Diễm Phương – người đã rất dày công nghiên cứu hai thể thơ lục bát và song thất lục bát của dân tộc thì cả hai thể trên “được hình thành dựa trên những điều kiện cụ thể là tiếng Việt và văn hóa Việt trong mối liên

hệ rất mật thiết với văn vần dân gian của dân tộc Việt” (31;123) Tuy mỗi tác giả tìm về với cội nguồn của thể lục bát theo các hướng khác nhau, nhưng tất

cả đều gặp nhau, thống nhất ở một điểm là thể lục bát sớm nhất cũng ra đời ở

khoảng thế kỉ XV, và được hoàn thiện dần dần, đến Truyện Kiều của Nguyễn

Du thì thể loại này đi vào ổn định và không ngừng cách tân đổi mới cho đến ngày nay

Từ xưa đến nay chúng ta quen gọi thơ lục bát là đặc trưng văn hóa, là cốt cách, tâm hồn người Việt Vậy thơ lục bát có phải là của người Việt không? Đã có rất nhiều ý kiến không đồng nhất về vấn đề này Nhà nho Phạm Đình Toái ở thế kỉ XIX gọi lục bát là “lối văn tuyệt diệu của ta” (59), cụ Bùi

Kỉ cho rằng đây là “lối văn của riêng ta mà Tàu không có”(31) Nhà nghiên

cứu văn học dân gian Nguyễn Xuân Kính trong cuốn Thi pháp ca dao nhận

định: “Ở văn học người Hán của Trung Quốc không có thể lục bát Trong lịch

sử văn học người Việt, thể lục bát có vai trò đặc biệt và có sức sống mạnh mẽ” (20;215) Các công trình nghiên cứu trên đều thống nhất khẳng định lục bát là thể thơ thuần Việt

Trên tạp chí Văn hóa – nghệ thuật số 9 năm 2001 có đăng bài viết So

sánh lục bát Chăm – Việt đã chỉ ra những sự giống và khác nhau giữa lục bát

Chăm và Việt, trên website http://pwd.vn, tác giả Inrasara với bài viết Lục bát

và các dòng thơ cũng cho rằng “lục bát là thể thơ gần như là của chung của

các dân tộc Đông Nam Á” (69), tác giả đưa ra dẫn chứng cụ thể: “Ngay từ cuối thế kỷ XVI – đầu thế kỉ XVII được ghi nhận là thời điểm ra đời sử thi Akayet Dewa Mưno, lục bát Chăm đã rất chuẩn mực Trước đó nữa trong ca

Trang 30

dao Chăm, lục bát là thể thơ được độc quyền sử dụng Chăm gọi là thể Ariya” Tuy nhiên, trong quá trình so sánh giữa hai thể loại thơ này, tác giả đã chỉ ra được những dấu ấn khẳng định tính riêng biệt của Lục bát Việt Nam và

đã đưa ra các dẫn chứng chứng minh sự ổn định về thể loại, nghiêm ngặt về cấu trúc âm luật của lục bát Việt, điều này trong lục bát Chăm không có được Trong cuối bài viết tác giả khẳng định: “Đến nay các nhà nghiên cứu chưa thể khẳng định thời điểm ra đời của lục bát, càng không biết dân tộc nào khai sinh

ra nó nữa Nhưng điều chắc chắn là có sự ảnh hưởng và tác động qua lại Từ thập niên 50 của thế kỉ trước, giới làm thơ Chăm có sáng tác theo thể thuần Việt, chỉ gieo vần bằng và hiệp vần ở tiếng thứ sáu” (69) Và trong bài viết

Thân phận vấn đề lục bát trên wesite:http://inrasara.com ngày 27 tháng 2

năm 2010, tác giả khẳng định: “Tôi chưa khẳng định ở đâu là của Chăm vay mượn Việt hoặc ngược lại” (70) Như vậy đây cũng là một hướng nghiên cứu mới của tác giả trên chặng đường đi tìm nguồn gốc thơ lục bát, tuy chưa đem lại kết quả xác thực, nhưng hướng này đã cung cấp thêm cho chúng ta những đặc trưng riêng không lẫn của lục bát Việt Nam Thông qua những nguồn tư liệu hiện có và một kho tàng ca dao dân ca, thơ lục bát Việt, chúng ta vẫn có quyền tự hào, lục bát là ngôn ngữ của cộng đồng Việt, mang tâm thức Việt, là điệu hồn của dân tộc Việt với những câu ca ngọt ngào tha thiết:

Khi đi anh nhớ quê nhà Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương

Nhớ ai dãi nắng dầm sương Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao

(Trần Tuấn Khải)

1.2.1.2 Lịch sử phát triển thể loại

Trong phần giới thiệu về thể loại, chúng tôi đã nêu ra các tính chất của thể loại, đó là tính lịch sử và tính dân tộc Mỗi một thể loại luôn mang trong

Trang 31

mình tính chất trên Thơ lục bát Việt Nam đi từ ca dao đến Truyện Kiều đã

trải qua các giai đoạn hình thành phát triển thể loại rất rõ ràng Từ ngày đầu

sơ khai thể loại, cũng giống như thể song thất lục bát, thơ lục bát vẫn còn chưa định dạng hoàn chỉnh (dạng 4+4/6 hoặc 4/4+4), cấu trúc lỏng lẻo, xô bồ,

âm luật không rõ ràng, gieo vần cả ở tiếng thứ tư và tiếng thứ sáu Theo thời gian cấu trúc câu thơ được hoàn thiện dần dần, số câu gieo vần ở tiếng thứ tư

giảm dần với hai tác phẩm dài hơi là Thiên Nam minh giám (song thất lục bát), và Thiên Nam ngữ lục (lục bát) Đến đỉnh cao Truyện Kiều thì thơ lục

bát Việt Nam bước vào giai đoạn ổn định về cấu trúc thể loại, cách thức gieo vần, phối điệu thống nhất hài hòa đăng đối và ngày càng khởi sắc hơn Trong câu thơ đã chấm dứt hoàn toàn hiện tượng kí sinh từ, vế đối hoàn chỉnh, trong dòng thơ lục bát có thể đối ý, đối vế, làm cho câu thơ trở nên súc tích cô

đọng, nhịp điệu thơ dồn nén Truyện Kiều là mẫu mực, cổ điển, là thước đo,

là tấm gương sáng để lục bát giai đoạn tiếp bước soi vào Tiếp bước Truyện

Kiều, lục bát Việt Nam giai đoạn hiện đại bên cạnh việc tiếp nối thành tựu

cha ông, đã có những sự phá cách cho phù hợp với xu hướng phát triển mới của thời đại, sự biến chuyển của tình cảm và thị hiếu độc giả tiếp nhận Mỗi một giai đoạn phát triển ghi dấu một mốc son của lục bát Việt Nam trong làng thể loại văn học, khẳng định sức sống mãnh liệt, bền bỉ và những nét độc đáo riêng của thể loại thơ dân gian

Về vấn đề phân chia các giai đoạn phát triển của thơ lục bát, có không

ít tác giả với các phương pháp nghiên cứu khác nhau đều cố gắng phân chia

một cách khoa học nhất như Nguyễn Xuân Kính trong Thi pháp ca dao, Trần Khánh Thành trong Thi pháp thơ Huy Cận,…Các công trình nghiên cứu đó

đều thống nhất gặp nhau ở một điểm chia hành trình phát triển của lục bát thành bốn giai đoạn phát triển cụ thể:

Trang 32

1 Lục bát từ cuối thế kỉ XV đến trước Truyện Kiều (Truyện Kiều

được sáng tác khoảng 1804 – 1809)

1 Lục bát trong Truyện Kiều

2 Lục bát trong phong trào Thơ mới (1932 – 1945)

3 Lục bát đương đại (từ 1945 đến nay)

Trong mỗi giai đoạn đó đều có những đóng góp quan trọng, làm phong phú thêm thể lục bát về hình thức nghệ thuật Đồng thời truyền tải được những thông điệp thời đại đến với độc giả

1.2.2 Đặc điểm thơ lục bát

1.2.2.1 Niêm, vần, luật

Vần là những chữ có cách phát âm giống nhau, hoặc gần giống nhau, được dùng để tạo âm điệu trong thơ Đây là một quy luật để nối các câu trong bài thơ với nhau Trong sáng tác thơ ca thường có hai cách gieo vần: Gieo vần giữa câu (yêu vận hay vần lưng), gieo vần cuối câu (cước vận hay vần chân) Lục bát là thể thơ đặc biệt của Việt Nam có thể kết hợp hài hòa cả hai kiểu gieo vần trên Vì thế trong quá trình nghiên cứu ta có thể thấy trong thơ lục bát hoặc là gieo vần lưng hoặc là kết hợp cả vần lưng và vần chân Tiếng Việt

là ngôn ngữ phong phú, giàu ngữ nghĩa, đa âm điệu với sáu thanh sắc cơ bản: sắc, hỏi ngã, nặng, bằng, không và được chia làm hai nhóm: thanh bằng (bằng, không); thanh trắc (sắc, hỏi, ngã, nặng) Thông thường, lục bát luôn gieo vần ở thanh bằng Sơ đồ cấu trúc như sau:

(B: vần bằng; T: vần trắc)

Trang 33

- Niêm luật giữa câu lục và câu bát nhất thiết phải theo từng cặp tương liên: B – B; T – T; B – B

- Thơ lục bát thông thường khởi đầu là vần bằng, kết thúc cũng là vần bằng; chữ thứ sáu của dòng lục hiệp vần với chữ thứ sáu của dòng bát; chữ thứ tám của dòng bát hiệp vần với chữ thứ sáu của dòng lục Thơ lục bát gieo

cả vần chân và vần lưng

- Chữ thứ sáu và chữ thứ tám của dòng bát đều là thanh bằng nhưng phải đổi thanh, nếu tiếng này “đoản bình” thì tiếng kia phải là “trường bình” (chữ thứ sáu không dấu thì chữ thứ tám phải có dấu hoặc ngược lại)

Chúng ta cùng sơ đồ hóa cấu trúc trên bằng một số dẫn chứng cụ thể sau:

- Muốn cho biển hẹp như ao Bắc cầu đòn gánh mà trao nhân tình

- Cái giần vục phải cái sàng Xui cho hai đứa nhỡ nhàng gặp nhau

(ca dao)

Hay trong Truyện Kiều:

-Trăm năm trong cõi người ta Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau Trải qua một cuộc bể dâu Những điều trông thấy mà đau đớn lòng

Chữ thứ hai trong dòng lục hoặc dòng bát không bị bó buộc, có thể biến hóa linh hoạt trong từng ngữ cảnh cụ thể

Có trường hợp chữ thứ hai của câu lục là vần trắc, theo sơ đồ sau:

Trang 34

Ví dụ:

Trăm thức hoa nở cả trên cành

Hồ dung tam đáo, hồ dung đôi đường Hay:

Xây dọc rồi lại xây ngang

Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân

Có trường hợp chữ thứ hai của câu bát là vần trắc:

Ví dụ: Anh thương hoa mận hoa đào

Còn bên hoa cúc lọt vào tay ai?

Đào kia chưa thắm đã phai

Thoang thoảng hoa nhài mà lại thơm lâu

Tùy theo ngữ nghĩa biểu hiện của câu thơ mà chữ thứ hai ở cả câu lục

Trang 35

khác nhau, cân xứng hay không cân xứng Về cơ bản một cặp thơ lục bát được coi là một đơn vị ngữ nghĩa bao gồm 14 chữ Trong 14 chữ đó tùy từng ngữ cảnh câu thơ lại được ngắt nhịp theo từng tiết tấu khác nhau của từ vựng

Theo Bùi Văn Nguyên và Hà Minh Đức trong cuốn Thơ ca Việt Nam – Hình

thức và thể loại thì nhịp điệu thơ lục bát được chia ra thành mười sáu dạng cơ

bản với sáu dạng dòng lục và mười dạng dòng bát:

Trong số 16 dạng trên có sáu nhịp lẻ và 10 dạng nhịp chẵn Có nghĩa là trong thơ lục bát phổ biến là ngắt nhịp theo dạng nhịp chẵn, đặc biệt là cách ngắt nhịp đôi:

Câu lục: 2/2/2 Câu bát: 2/2/2/2

Ví dụ:

Rủ nhau/ xuống biển/ mò cua Đem về/ nấu quả/ mơ chua/ trên rừng

Ai ơi/ chua ngọt/ đã từng Gừng cay/ muối mặn/ xin đừng /quên nhau

(ca dao) Hay:

Non cao/ những ngóng/ cùng trông Suối khô/ dòng lệ/ chờ mong/ tháng ngày

(Thề non nước – Tản Đà)

Trang 36

Cách ngắt nhịp ba cũng khá quen thuộc trong thơ lục bát, thường thấy ngắt nhịp nhiều ở câu lục, giữa hai vế thường có dấu phẩy ngăn cách:

Ví dụ:

Cây đa cũ,/ bến đò xưa

Bộ hành có nghĩa nắng mưa cũng chờ

(ca dao) Khi nhà em/ ở phía đông Mỗi ban mai/ mặt trời hồng/ có em (Nguyễn Khoa Điềm) Ngắt nhịp chẵn làm cho câu thơ nhịp nhàng, cân đối, nhưng nếu sử dụng thường xuyên trong cấu trúc bài thơ nếu không khéo rất dễ đẩy câu thơ, bài thơ đến chỗ đơn điệu Vì vậy để câu thơ trở nên uyển chuyển, tùy theo tiết tấu và ngữ điệu cụ thể, có thể ngắt nhịp lẻ hoặc chẵn

Ví dụ: - Ôi kim lang! hỡi kim lang

Thôi thôi/ thiếp đã/ phụ chàng/ từ đây

- Rằng:/ sao trong tiết thanh minh

- Nhà huyên chợt tỉnh,/ hỏi:/ cơn cớ gì?

- Màu hoa lê/ hãy dầm dề giọt sương

- Nửa chừng xuân/ thoắt/ gãy cành thiên hương

(Truyện Kiều – Nguyễn Du)

1.2.2.3 Đối

Đối không phải là đặc điểm cần phải có trong thơ lục bát, bởi “lục bát

là lối văn có vần mà không đối nhau”, nhưng hình thức đối lại được dùng khá

phổ biến trong thơ lục bát đặc biệt là trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, và

đã mang lại những hiệu quả nghệ thuật độc đáo, đặc sắc riêng của Nguyễn

Du Hình thức này xuất hiện cả trong văn học dân gian và văn học viết với

Trang 37

những mức độ đậm nhạt khác nhau Có các dạng đối như: đối chọi, đối cân, đối thanh, đối ý, đối cả thanh lẫn ý, tiểu đối

Ví dụ:

- Trên đồng cạn / dưới đồng sâu

- làn thu thủy / nét xuân sơn

- Ngựa xe như nước / áo quần như nen

- người quốc sắc / kẻ thiên tài

- Người nách thước / kẻ tay đao

- Thành xây khói biếc / non phơi bóng vàng

(Truyện Kiều – Nguyễn Du)

Chơi câu đối là thú vui của người Việt ta từ xa xưa Trong một câu đối phải tuân thủ theo đúng luật đối (thanh – thanh; ý – ý…) Hình thức đối trong thơ “tạo nên vẻ tao nhã, nhịp nhàng, bớt nôm na của thể lục bát” (20;240)

1.2.2.4 Các biến thể của lục bát

Thơ lục bát thường có quy định rõ ràng về niêm luật, cấu trúc Tuy nhiên trong thực tế nó lại luôn biến hóa rất linh hoạt, sinh động uyển chuyển Thông qua sự lưu chuyển đó, sắc màu cuộc sống, các cung bậc tình cảm được phô diễn trọn vẹn

* Biến thể về cách gieo vần

Lục bát thường gieo vần chân và vần lưng, chữ sáu dòng lục hiệp vần với chữ sáu dòng bát, chữ tám dòng bát lại hiệp vần với chữ sáu dòng lục và thường gieo vần ở thanh bằng, cứ như thế cho đến hết bài Cũng có một vài trường hợp gieo vần ở thanh trắc:

Tò vò mà nuôi con nhện Ngày sau nó lớn nó quện nhau đi

Tò vò ngồi khóc tỉ ti Nhện ơi, nhện hỡi, nhện đi đằng nào

Trang 38

Hay:

Con cò mắc giò mà chết Con quạ ở nhà mua nếp làm chay

- Đêm nằm gối gấm không êm Gối lụa không mềm, bằng gối tay em

(ca dao)

* Biến thể trong cấu trúc câu thơ

Cấu trúc thường thấy của câu thơ lục bát là (6/8), dòng lục sáu chữ, dòng bát tám chữ Bên cạnh đó còn có một số dạng khác của thơ lục bát, hiện tượng này ta hay thấy trong ca dao và và trong thơ lục bát hiện đại

Trước hết ta nói đến sự biến thể ở dòng lục, dòng bát giữ nguyên Có thể giảm chữ ở câu lục:

Trang 39

Biến thể giảm hai chữ:

Ví dụ:

- Buồn ngủ buồn nghê Buồn ăn cơm nếp cháo kê thịt gà

- Giấy trắng mực đen Duyên ai phận nấy chớ ghen mà già

(ca dao) Biến thể giảm ba chữ:

Ví dụ:

Xấu như ma Uống nước Thanh Trì cũng đẹp như tiên

Đẹp như tiên Uống nước Đồng Tiền cũng xấu như ma

(ca dao) Biến thể thêm chữ ở câu lục:

- Ới thầy mẹ ơi! Cấm đoán em chi

- Chàng trẩy đi nước mắt thiếp tôi chảy quanh

Chân đi thất thểu lời anh dặn dò

(Ca dao) Biến thể thay đổi ở dòng bát:

Ví dụ:

- Lời nguyền trước cũng như sau

Trang 40

Ta không ham vui bỏ bạn, bạn chớ tham giàu bỏ ta

- Bao giờ rừng quế hết cay Dừa Tam Quan hết nước thì em đây mới hết tình

(Ca dao) Biến thể kéo dài cả câu lục và câu bát:

Ví dụ:

- Đứng bên ni đồng ngó bên tê đồng mênh mông bát ngát Đứng bên tê đồng ngó bên ni đồng bát ngát mênh mông

- Thân em như chẽn lúa đòng đòng

Phất phơ giữa ngọn nắng hồng ban mai

(Ca dao) Biến thể ở phạm vi bài thơ:

Có trường hợp bài thơ lục bát bắt đầu bằng câu bát:

Buồn rầu buồn rĩ, nghĩ lại buồn riêng Hai tay bưng quả đào tiên Miệng cười hớn hở dạ phiền tương tư

(Ca dao)

Có khi tác phẩm bắt đầu bằng hai dòng lục:

Chợ Giăng rồi lại chợ Chùa Chợ rạng thì phải qua đò Chợ Lường lắm bánh, ăn dò mà đi

(Ca dao) Đôi khi tác phẩm lại kết thúc bằng câu lục và bỏ lửng:

Anh về xẻ ván cho dày Đánh thuyền đợi bến rước thầy mẹ sang Thuyền lớn quan bắt chở lương Còn chiếc thuyền nhỏ cùng nường qua sông

Ngày đăng: 23/03/2015, 09:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Tuấn Anh, Nửa thế kỷ thơ Việt Nam 1945 – 1995, NXB.KHXH, H,2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vũ Tuấn Anh, "Nửa thế kỷ thơ Việt Nam 1945 – 1995
Nhà XB: NXB.KHXH
2. Lại Nguyên Ân, 150 thuật ngữ văn học, NXB. Đại học Quốc gia Hà Nội, H,2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Nhà XB: NXB. Đại học Quốc gia Hà Nội
4. Nguyễn Hòa Bình, Về sự đổi mới của thơ lục bát, Báo Văn nghệ số 51 – năm 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về sự đổi mới của thơ lục bát
5. Nguyễn Phan Cảnh, Ngôn ngữ thơ, NXB. VHTT, H,2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ
Nhà XB: NXB. VHTT
6. Hoàng Minh Châu, Bàn về thơ: tiểu luận, NXB. Văn học, H,1990 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về thơ
Nhà XB: NXB. Văn học
7. Nguyễn Huy Cương, Bản sắc “cái tôi trữ tình” trong dòng thơ đồng quê 1932 – 1945, Báo cáo khoa học, H,2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản sắc “cái tôi trữ tình” trong dòng thơ đồng quê 1932 – 1945
8. Hữu Đạt, Ngôn ngữ thơ Việt Nam, NXB. KHXH, H,1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ Việt Nam
Nhà XB: NXB. KHXH
9. Phan Cự Đệ (chủ biên), Văn học Việt Nam thế kỷ XX – Những vấn đề lịch sử và lí luận, NXB. Giáo dục, H,2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam thế kỷ XX – Những vấn đề lịch sử và lí luận
Nhà XB: NXB. Giáo dục
10. Phan Cự Đệ, Phong trào thơ mới, NXB. KHXH, H,1982 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong trào thơ mới
Nhà XB: NXB. KHXH
11. Hà Minh Đức, Văn học Việt Nam hiện đại: bình giảng và phân tích tác phẩm, NXB. Hà Nội, H,1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam hiện đại: bình giảng và phân tích tác phẩm
Nhà XB: NXB. Hà Nội
15. Hà Minh Đức, Một thời đại trong thi ca (về phong trào thơ mới 1932 - 1945), NXB. KHXH, H,1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một thời đại trong thi ca
Nhà XB: NXB. KHXH
16. Hà Minh Đức – Bùi Văn Nguyên, Thơ ca Việt Nam - Hình thức và thể loại, NXB. KHXH, H,1987 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ ca Việt Nam - Hình thức và thể loại
Nhà XB: NXB. KHXH
17. Lê Bá Hán – Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên), Từ điển thuật ngữ văn học, NXB.GD, H,1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Nhà XB: NXB.GD
18. Đỗ Đức Hiểu, Thi pháp hiện đại, NXB. Hội nhà văn, H,2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp hiện đại
Nhà XB: NXB. Hội nhà văn
19. Bùi Công Hùng, Góp phần tìm hiểu nghệ thuật thơ ca, NXB. KHXH, H,1983 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần tìm hiểu nghệ thuật thơ ca
Nhà XB: NXB. KHXH
20. Nguyễn Xuân Kính, Thi pháp ca dao, NXB. ĐHQG, H,2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp ca dao
Nhà XB: NXB. ĐHQG
21. Mã Giang Lân, Văn học hiện đại Việt Nam – Vấn đề và tác giả, NXB. Giáo dục, H,2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học hiện đại Việt Nam – Vấn đề và tác giả
Nhà XB: NXB. Giáo dục
22. Mã Giang Lân, Tiến trình thơ hiện đại Việt Nam, NXB. ĐHQG, H,2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiến trình thơ hiện đại Việt Nam
Nhà XB: NXB. ĐHQG
23. Mã Giang Lân, Thơ - Hình thành và tiếp nhận, NXB. ĐHQG, H,2004 24. Mã Giang Lân, Thơ hiện đại Việt Nam - Những lời bình, NXB. Giáodục, H,2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ - Hình thành và tiếp nhận", NXB. ĐHQG, H,2004 24. Mã Giang Lân, "Thơ hiện đại Việt Nam - Những lời bình
Nhà XB: NXB. ĐHQG
71. Hà Quảng, Vẻ đẹp mới trong thơ lục bát, website http://gio- o.com/HaQuang.html Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w