Tính cấp thiết của đề tài Trong quá trình thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đòi hỏi phải xây dựng một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, đồ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN THỊ HUỆ
XÂY DỰNG Ý THỨC PHÁP LUẬT CHO
NÔNG DÂN - QUA THỰC TIỄN TỈNH NAM ĐỊNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN THỊ HUỆ
XÂY DỰNG Ý THỨC PHÁP LUẬT CHO
NÔNG DÂN - QUA THỰC TIỄN TỈNH NAM ĐỊNH
Chuyên ngành : Lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp luật
Mã số : 60 38 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Hoàng Thị Kim Quế
Hà Nội - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia
Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Trần Thị Huệ
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIÊT TẮT TRONG LUẬN VĂN
CNH : Công nghiệp hóa
GDPL : Giáo dục pháp luật
HĐH : Hiện đại hóa
KNTC : Khiếu nại tố cáo
NTM : Nông thôn mới
PBGDPL : Phổ biến giáo dục pháp luật
TTV : Tuyên truyền viên
UBND : Ủy ban nhân dân
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN VĂN
Trang
Bảng 2.1: Tăng trưởng kinh tế tỉnh Nam Định qua các năm 40
Bảng 2.2: Hiện trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Nam Định qua
Bảng 2.3: Số lượt nông dân được tuyên truyền, phổ biến, giáo dục
Trang 6MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CÁC CHỮ VIÊT TẮT TRONG LUẬN VĂN
DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN VĂN
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG Ý THỨC PHÁP LUẬT 8
CỦA NÔNG DÂN 8
1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ Ý THỨC PHÁP LUẬT 8
1.1.1 Khái niệm ý thức pháp luật 8
1.1.2 Chức năng của ý thức pháp luật 11
1.1.3 Cấu trúc của ý thức pháp luật 13
1.1.4 Vai trò của ý thức pháp luật 16
1.2 KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA NÔNG DÂN VIỆT NAM 20
1.2.1 Khái niệm nông dân 20
1.2.2 Đặc điểm của nông dân Việt Nam 21
1.3 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VỀ Ý THỨC PHÁP LUẬT CỦA NÔNG DÂN VIỆT NAM 22
1.3.1 Khái niệm ý thức pháp luật của nông dân Việt Nam 22
1.3.2 Đặc điểm ý thức pháp luật của nông dân Việt Nam 23
1.4 XÂY DỰNG Ý THỨC PHÁP LUẬT CỦA NÔNG DÂN 28
1.4.1 Khái niệm, ý nghĩa xây dựng ý thức pháp luật của nông dân 28
1.4.2 Vai trò xây dựng ý thức pháp luật của nông dân 31
1.4.3 Nội dung xây dựng ý thức pháp luật của nông dân 34
1.4.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến xây dựng ý thức pháp luật của nông dân 36
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG XÂY DỰNG Ý THỨC PHÁP LUẬT CỦA NÔNG DÂN Ở TỈNH NAM ĐỊNH 39
Trang 72.1 KHÁI QUÁT CÁC ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý THỨC PHÁP LUẬT CỦA NÔNG DÂN NAM ĐỊNH 39
2.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa - xã hội ảnh hưởng đến ý thức pháp luật của nông dân Nam Định 39 2.1.2 Khái quát về nông dân tỉnh Nam Định 43
2.2 QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG Ý THỨC PHÁP LUẬT CHO NÔNG DÂN TỈNH NAM ĐỊNH 45
2.2.1 Giáo dục pháp luật cho nông dân tỉnh Nam Định 45 2.2.2 Những ưu điểm, kết quả về xây dựng ý thức pháp luật của nông dân tỉnh Nam Định 50 2.2.3 Những hạn chế về xây dựng ý thức pháp luật của nông dân tỉnh Nam Định 56 2.2.4 Một số nguyên nhân và yếu tố ảnh hưởng đến xây dựng ý thức pháp luật của nông dân tỉnh Nam Định 61
CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG Ý THỨC PHÁP LUẬT CHO NÔNG DÂN TỈNH NAM ĐỊNH 64 3.1 TÍNH TẤT YẾU KHÁCH QUAN CỦA XÂY DỰNG Ý THỨC PHÁP LUẬT CHO NÔNG DÂN Ở TỈNH NAM ĐỊNH 64 3.2 QUAN ĐIỂM VỀ XÂY DỰNG Ý THỨC PHÁP LUẬT CHO NÔNG DÂN TỈNH NAM ĐỊNH TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 70
3.2.1 Xây dựng ý thức pháp luật cho nông dân gắn với các chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn, xây dựng nông thôn mới 70 3.2.2 Xây dựng ý thức pháp luật cho nông dân nhằm đảm bảo quyền, lợi ích của nông dân, thực hiện dân chủ ở cơ sở 72 3.2.3 Xây dựng ý thức pháp luật cho nông dân trên cơ sở kết hợp với xây dựng ý thức đạo đức, văn hóa 74
Trang 83.2.4 Xây dựng ý thức pháp luật cho nông dân nhằm giáo dục ý thức về quyền, nghĩa vụ của nông dân, hình thành lối sống tôn trọng, tuân thủ
pháp luật, yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền, hội nhập quốc tế 75
3.3 NHỮNG GIẢI PHÁP CƠ BẢN VỀ XÂY DỰNG Ý THỨC PHÁP LUẬT CHO NÔNG DÂN TỈNH NAM ĐỊNH HIỆN NAY 77
3.3.1 Lập chương trình, kế hoạch về xây dựng ý thức pháp luật cho nông dân 77
3.3.2 Xây dựng đội ngũ cán bộ phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân 78
3.3.3 Đổi mới nội dung, hình thức và phương pháp giáo dục pháp luật cho nông dân nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động xây dựng ý thức pháp luật cho nông dân 80
3.3.4 Nghiên cứu, khảo sát tình hình về xây dựng ý thức pháp luật của nông dân, thu thập, xử lý thông tin phản hồi từ nông dân 82
3.3.5 Nâng cao năng lực quản lý, phẩm chất đạo đức, hiệu quả hoạt động của các cấp chính quyền cơ sở, tạo lập niềm tin của nhân dân 84
3.3.6 Thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, thu hút sự tham gia của nông dân vào việc góp ý, giám sát hoạt động của chính quyền cơ sở 85
3.3.7 Phát triển kinh tế, văn hóa xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nông dân 88
3.3.8 Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật theo hướng thiết thực, hiệu quả 91
KẾT LUẬN 93
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
PHỤ LỤC 103
Trang 91
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đòi hỏi phải xây dựng một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, đồng bộ, phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng một xã hội trong đó mọi người đều có ý thức tôn trọng pháp luật, tự nguyện tuân thủ và nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, có tinh thần bảo vệ pháp luật, sống và làm việc theo pháp luật
Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước với những giá trị xã hội của nền dân chủ ngày càng được củng cố và mở rộng đang đặt ra đòi hỏi bức xúc là xây dựng lối sống theo pháp luật Điều 8 Hiến pháp năm 2013 quy định: “…Nhà nước quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật”, cùng với đó, Nghị quyết Đại hội lần thứ IX năm 2001 của Đảng nói đến mục tiêu xây dựng con người mới, lối sống văn hóa, lành mạnh đã cho thấy việc xây dựng ý thức pháp luật cho công dân là một vấn đề có tính pháp lý, khách quan Và hơn nữa trong xu hướng hội nhập và phát triển toàn cầu ngày nay thì vấn đề hiểu biết về pháp luật, xây dựng lối sống theo pháp luật ở mỗi quốc gia là một vấn
đề hết sức quan trọng và cũng được quan tâm đặc biệt Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng ta khẳng định: “Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa… Nhà nước ban hành pháp luật, tổ chức quản lý xã hội bằng pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa” [24]
Để thực hiện mục tiêu này, song song với việc xây dựng và không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật, một trong những vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt là phải nâng cao ý thức pháp luật cho mọi nhóm đối tượng, trong đó có nông dân là đối tượng chiếm số đông trên địa bàn nông thôn Đây là yêu cầu, đòi hỏi cấp thiết mang tính khách quan, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc
Trang 102
Ở nước ta vẫn còn một bộ phận không nhỏ người nông dân nói chung
và các chủ thể nói riêng khi tham gia quan hệ pháp luật vẫn còn nhiều hạn chế, việc vi phạm pháp luật của các chủ thể có thể gây hại cho nền kinh tế, cho xã hội Ví dụ như, sản xuất, kinh doanh, buôn bán trái luật; cạnh tranh không lành mạnh dẫn đến lợi ích của nhà nước, của nhân dân bị xâm hại Nhất là tình trạng vi phạm pháp luật do thiếu hiểu biết pháp luật còn xảy ra khá phổ biến ở cư dân vùng nông thôn
Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do ý thức pháp luật của người dân còn hạn chế, nhận thức của người dân giữa các vùng, miền không đồng đều Do vậy, việc nâng cao ý thức pháp luật đang là một yêu cầu nhiệm vụ đặt ra hết sức cần thiết và mang tính chiến lược ở nước ta hiện nay, trong đó có đối tượng nông dân
Đối với tỉnh Nam Định, là tỉnh nằm ở phía Nam vùng Đồng bằng Sông Hồng, có diện tích tự nhiên 1.652km2, dân số trên 1,8 triệu người Toàn tỉnh
có 238.484 hộ nông dân, chiếm xấp xỉ trên 70% tổng số hộ Nông dân là lực lượng nòng cốt trên lĩnh vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn và phong trào xây dựng nông thôn mới Nhưng đây cũng là đối tượng dễ gánh chịu các rủi
ro trong các quan hệ xã hội, ví dụ như: Khi ký hợp đồng mua bán, tiêu thụ nông sản giữa nông dân với các doanh nghiệp theo Quyết định số 80/2002/QĐ-TTg ngày 24-6-2002 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách khuyến khích tiêu thụ nông sản hàng hoá thông qua hợp đồng, nhưng khi giao kết hợp đồng do thiếu hiểu biết về pháp luật nên nông dân thường ở vào vị thế bất lợi; hay do thiếu hiểu biết về pháp luật nên khi có tranh chấp xảy ra thì thường dẫn tới khiếu kiện vượt cấp, nhất là khiếu kiện liên quan đến đền bù giải phóng mặt bằng, tranh chấp đất đai, các chính sách xã hội vì vậy việc xây dựng, nâng cao ý thức pháp luật cho đối tượng này đang là vấn đề cấp thiết hiện nay
Nhận thức được tầm quan trọng của việc nâng cao ý thức pháp luật cho
Trang 113
nông dân đối với sự phát triển của xã hội và đất nước trong giai đoạn hiện tại
và tương lai Là một học viên lớp cao học, tôi đã chọn đề tài “Xây dựng ý thức pháp luật cho nông dân - qua thực tiễn tỉnh Nam Định” làm đề tài
luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ luật học
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Những nội dung liên quan đến ý thức pháp luật, thời gian qua đã có một số người quan tâm nghiên cứu Các tác giả đã công bố các công trình nghiên cứu của mình, dưới các hình thức như đề tài khoa học, luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, sách, các bài viết trên các báo và tạp chí Tiêu biểu là một số công trình sau đây:
2.1 Đề tài cấp bộ, cấp Nhà nước:
- Cơ sở khoa học cho việc xây dựng ý thức và lối sống theo pháp luật,
Chương trình Khoa học công nghệ cấp Nhà nước KX.07, đề tài KX.07.17 (1995), Viện Nghiên cứu Nhà nước và pháp luật - Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn quốc gia
- Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về giáo dục pháp luật trong công cuộc đổi mới, Đề tài Khoa học cấp bộ (1995) của Bộ Tư pháp
2.2 Các luận án tiến sỹ, luận văn thạc sỹ có:
- Nâng cao ý thức pháp luật của đội ngũ cán bộ quản lý hành chính Nhà nước ở nước ta hiện nay, Luận án tiến sỹ Luật học của Lê Đình Khiên,
năm 1996
- Ý thức pháp luật và giáo dục pháp luật ở Việt Nam, Luận án Phó tiến
sỹ Luật học của Nguyễn Đình Lộc, năm 1987
- Giáo dục pháp luật cho nông dân tỉnh Thái Bình trong giai đoạn hiện
nay, Luận văn thạc sỹ Luật học của Nguyễn Trung Thành, năm 2004
- Những đặc điểm của quá trình hình thành ý thức pháp luật ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ Triết học, tác giả Đào Duy Tấn, năm 2000
Trang 124
- Sự hình thành và phát triển ý thức pháp luật của nhân dân đồng bằng sông Cửu Long trong điều kiện đổi mới ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ
Luật học, tác giả Hồ Việt Hiệp, năm 2000
- Lôgic khách quan của quá trình hình thành và phát triển ý thức pháp luật ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ Triết học, tác giả Nguyễn Thị Thúy Vân,
giả Lê Xuân Huy, năm 2005
- Ảnh hưởng của tâm lý tiểu nông đối với việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ Triết học, tác giả
Cao Thị Sính, năm 2012
- Ý thức pháp luật và xây dựng ý thức pháp luật trong điêu kiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sĩ Luật học, tác giả Ngô
Văn Nam, năm 2009
- Ý thức pháp luật của thanh, thiếu niên trong thời kỳ hiện nay, Luận
văn thạc sĩ Luật học, tác giả Đinh Thị Hồng Ánh, năm 2010
- Nâng cao ý thức pháp luật của cán bộ công chức chính quyền cơ sở ở tỉnh Hà Nam trong giai đoạn hiện nay, Luận văn thạc sĩ Luật học, tác giả
Nguyễn Thị Lan Anh, năm 2006
- Nâng cao ý thức pháp luật của cán bộ công chức đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật
học, tác giả Nguyễn Thị Vân Giang, năm 2007
2.3 Sách, báo, tạp chí
- Xã hội và pháp luật, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994
Trang 135
- Chính sách pháp luật và ý thức pháp luật Việt Nam, Tạp chí Nhà
nước và pháp luật, số 4/1993, tác giả Nguyễn Như Phát
- Giáo dục cho công dân - cơ sở để nâng cao hiệu quả của quá trình điều chỉnh pháp luật, Tạp chí Cộng sản, 1999, tác giả Lê Quốc Hùng
- Chính sách pháp luật và hệ thống pháp luật cơ sở của việc xây dựng ý thức và lối sống theo pháp luật, Nhà nước và pháp luật, 1993, tác giả Nguyễn
Như Phát
- Vấn đề văn hóa pháp luật ở nước ta trong giai đoạn hiện nay, Tạp chí
Luật học, số 5/1998, tác giả Lê Minh Tâm
- Một số nhận thức lý luận về các biện pháp pháp lý chủ yếu nhằm hình thành và nâng cao ý thức pháp luật ở nước ta hiện nay, Tạp chí Dân chủ và
pháp luật, số 12/2003, tác giả Nguyễn Văn Động
- Văn hóa pháp lý trong điều kiện phát huy dân chủ ở nước ta hiện nay,
Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 9/2006, tác giả Nguyễn Văn Động
- Bàn về ý thức pháp luật, Tạp chí Luật học, số 1/2003, tác giả Hoàng
Trong công cuộc đổi mới đất nước, xây dựng nền dân chủ XHCN, các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ VI, VII, VIII, IX luôn nhấn mạnh phải tăng cường pháp chế XHCN, nâng cao ý thức pháp luật cho nhân dân nói chung và đối tượng nông dân nói riêng, thực hiện mục tiêu
“Sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật” Luận văn sẽ tập trung
Trang 146
nghiên cứu một cách hệ thống quá trình xây dựng ý thức pháp luật của nông dân - qua thực tiễn tại tỉnh Nam Định và đề ra các giải pháp xây dựng ý thức pháp luật của nông dân Trong quá trình nghiên cứu, Luận văn kế thừa có chọn lọc kết quả nghiên cứu của các công trình, tài liệu khoa học trên các tài liệu khác có liên quan
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Luận văn nghiên cứu quá trình xây dựng ý thức pháp luật của nông dân Trong luận văn này, ý thức pháp luật được tiếp cận từ góc độ khoa học lý luận
về Nhà nước và pháp luật, toàn bộ nội dung của luận văn đều nhằm làm rõ ý thức pháp luật, quá trình xây dựng ý thức pháp luật và giải pháp nhằm nâng cao ý thức pháp luật của nông dân tỉnh Nam Định
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
Mục đích nghiên cứu của luận văn là đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao ý thức pháp luật cho nông dân ở tỉnh Nam Định trong giai đoạn hiện nay
Để đạt được mục đích nêu trên, Luận văn đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:
- Nghiên cứu có hệ thống các vấn đề lý luận về ý thức pháp luật của nông dân
- Đánh giá những nhân tố ảnh hưởng đến ý thức pháp luật của nông dân Đánh giá thực trạng quá trình xây dựng ý thức pháp luật của nông dân trên địa bàn tỉnh Nam Định
- Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao ý thức pháp luật cho nông dân ở tỉnh Nam Định
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dựa trên lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê Nin
để tìm ra mối liên hệ giữa các hiện tượng nhằm đánh giá các vấn đề nghiên cứu một cách khoa học; dựa trên tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp
Trang 157
luật, bám sát đường lối, chủ trương của Đảng về tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa gắn với việc quản lý xã hội bằng pháp luật nhằm xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân
Phương pháp nghiên cứu của luận văn sử dụng phối hợp nhiều phương pháp nghiên cứu như: phương pháp lịch sử, phân tích, so sánh, chứng minh, tổng hợp, logic và phương pháp xã hội học khác như lấy số liệu, tham khảo ý kiến của những người làm công tác thực tiễn… để làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu
6 Ý nghĩa của đề tài
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm sáng tỏ thêm một số vấn đề lý luận của ý thức pháp luật nông dân, từ đó làm phong phú thêm lý luận chung về Nhà nước và pháp luật
Những đề xuất của luận văn có ý nghĩa nhất định trong việc hoạch định chính sách và xây dựng các văn bản pháp luật về nông dân Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được khai thác, sử dụng trong công tác nghiên cứu về nông dân và có thể làm tài liệu tham khảo trong xây dựng các chế độ, chính sách về nông dân
7 Kết cấu của luận văn
Luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về xây dựng ý thức pháp luật của nông dân Chương 2: Thực trạng xây dựng ý thức pháp luật của nông dân ở tỉnh
Nam Định
Chương 3: Quan điểm và giải pháp xây dựng ý thức pháp luật cho nông
dân tỉnh Nam Định
Trang 168
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG Ý THỨC PHÁP LUẬT
CỦA NÔNG DÂN
1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ Ý THỨC PHÁP LUẬT
1.1.1 Khái niệm ý thức pháp luật
Ý thức pháp luật là một trong những vấn đề cơ bản, đa dạng và phức tạp của đời sống xã hội Với tư cách là một trong những hình thái của ý thức
xã hội, ý thức pháp luật xuất hiện cùng với sự ra đời của nhà nước và pháp luật, phản ánh trực tiếp các quan hệ kinh tế của xã hội Nó là sản phẩm của quá trình phát triển của xã hội, chịu sự ảnh hưởng sâu sắc của các hệ tư tưởng, quan điểm và quan niệm trong xã hội Nếu một xã hội mà người dân được giáo dục ý thức pháp luật, nhận biết về pháp luật thì xã hội đó sẽ hạn chế được vi phạm pháp luật, tội phạm Bằng cách đó mà góp phần tích cực vào việc hình thành, xây dựng văn hóa pháp lý cho cá nhân và toàn xã hội
Đời sống pháp luật trước hết là nhu cầu điều chỉnh hành vi xử sự của con người bằng các quy tắc, nhằm tạo lập một trật tự xã hội nhất định Nhu cầu này trong xã hội có giai cấp được các giai cấp thống trị nhận thức và hình thành ý thức pháp luật của giai cấp mình
Trong nghiên cứu lý luận cũng như trong thực tế xã hội đã có nhiều quan niệm về ý thức pháp luật, sự khác nhau rõ nhất giữa các quan niệm là hình thức thể hiện và nội hàm của các quan điểm đó
Ý thức pháp luật hiểu theo nghĩa hẹp, theo nghĩa thông thường là ý thức chấp hành những quy định pháp luật của con người Vì thế khi đánh giá
ý thức pháp luật của một tập thể, cá nhân nào đó người ta thường so sánh giữa hành vi chấp hành của những đối tượng đó với yêu cầu của những quy định trong văn bản pháp luật để đánh giá ý thức pháp luật cao hay thấp, tốt hay
Trang 179
kém của họ Quan niệm này đồng nhất ý thức pháp luật với một hình thức biểu hiện cụ thể của nó, như vậy sẽ quá hẹp, thiếu toàn diện, chưa thể hiện rõ được bản chất, vai trò năng động, sáng tạo của ý thức pháp luật [55]
Trong lý luận khoa học, ý thức pháp luật được hiểu theo nghĩa rộng Tuy nhiên do mục đích và phương diện nghiên cứu khác nhau mà cho đến nay cũng xuất hiện nhiều quan niệm khác nhau về ý thức pháp luật
Quan niệm thứ nhất cho rằng: “Ý thức pháp luật là một hình thái ý
thức xã hội, biểu thị mối quan hệ của con người đối với pháp luật” [15, tr.147] Đây là quan niệm mang tính khái quát cao, nhưng lại quá chung chung chưa phản ánh kết cấu nội dung của ý thức pháp luật
Quan niệm thứ hai: Thường nhấn mạnh mặt này hay mặt khác của ý
thức pháp luật Có quan niệm tập trung nhấn mạnh cơ cấu của ý thức pháp luật “ý thức pháp luật là tổng hợp những tư tưởng, quan điểm pháp luật và tâm lý pháp luật Hay nói cụ thể hơn, là tổng hợp những nhận thức, những hiểu biết quan điểm pháp luật, những tình cảm pháp luật, cùng với sự tôn trọng và thói quen chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật” [50, tr.235] Xét về mặt bản chấp giai cấp, có quan niệm cho rằng: “Ý thức pháp luật XHCN là tổng hòa những quan điểm quan niệm, tình cảm về mặt pháp luật thể hiện thái
độ của giai cấp công nhân và của nhân dân lao động do giai cấp công nhân lãnh đạo, đối với pháp luật, đối với những yêu cầu khác của pháp luật, đối với các quyền và nghĩa vụ của công dân” [76, tr 196] Một số ý kiến khác lại thu hẹp cơ cấu của ý thức pháp luật, chỉ nhấn mạnh mặt tri thức pháp luật như:
Ý thức pháp luật là tổng thể những học thuyết, tư tưởng, quan điểm và quan niệm thịnh hành trong xã hội, thể hiện mối quan hệ thông qua sự hiểu biết của con người đối với pháp luật hiện hành, pháp luật đã qua và pháp luật cần phải có, thể hiện sự đánh giá về tính hợp pháp hay không hợp pháp trong
Trang 18Quan niệm thứ ba: Đề cập tới ý thức pháp luật một cách đầy đủ, toàn
diện hơn Nó không những chỉ ra được tính chất, cơ cấu và nội dung của ý thức pháp luật mà còn đề cập đến cả nguồn gốc, mối liên hệ phổ biến, tất yếu của ý thức pháp luật đối với đời sống xã hội Theo quan niệm này:
Ý thức pháp luật là một hình thái của ý thức xã hội, là tổng thể những quan điểm, khái niệm, học thuyết pháp lý, tình cảm của con người (cá nhân, giai cấp, tầng lớp) thể hiện thái độ của họ đối với pháp luật hiện hành, trật tự pháp luật, sự đánh giá về tính công bằng hay không công bằng, đúng đắn hay không đúng đắn của pháp luật hiện hành, pháp luật đã qua và pháp luật trong tương lai, và hành vi hợp pháp, hành vi không hợp pháp của cá nhân, các cơ quan Nhà nước, tổ chức [29, tr.290]
Trên cơ sở nghiên cứu các ý kiến, cùng với mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn, chúng tôi đồng ý với quan niệm:
Ý thức pháp luật là một hình thái của ý thức xã hội, mang tính giai cấp sâu sắc phản ánh một cách tích cực, sáng tạo và trực tiếp đời sống pháp luật, hình thành những khái niệm, quan điểm, tư tưởng, tình cảm của con người (cá nhân, giai cấp, tầng lớp) đối với pháp luật, thể hiện sự hiểu biết, thái độ của
họ đối với pháp luật hiện hành, pháp luật trong quá khứ và pháp luật trong tương lai, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể pháp luật, tính hợp pháp hay
Trang 19Là một hình thái ý thức xã hội, ý thức pháp luật tuân thủ quy luật chung của sự hình thành ý thức xã hội phản ánh đời sống pháp luật, mà trước hết là nhu cầu pháp lý đặt ra của đời sống xã hội, thông qua chuẩn mực pháp luật để điều chỉnh hành vi con người, nhằm thiết lập trật tự kỷ cương xã hội theo ý chí của giai cấp cầm quyền
1.1.2 Chức năng của ý thức pháp luật
Chức năng của ý thức pháp luật là các phương thức hoạt động cơ bản của ý thức pháp luật Chức năng của ý thức pháp luật thể hiện vai trò, giá trị
xã hội và tính sống động của ý thức pháp luật
Ý thức pháp luật là hiện tượng xã hội phức tạp, sự vận động của các yếu tố trong cơ cấu của nó cũng phức tạp và phong phú Ý thức pháp luật có bốn chức năng cơ bản thể hiện trên bốn mặt hoạt động chủ yếu sau:
- Chức năng phản ánh: Ý thức pháp luật phản ánh đời sống pháp luật
xã hội thông qua hoạt động của con người
Đời sống pháp luật xã hội là khái niệm rất rộng, nó có cả những yếu tố vật chất lẫn tinh thần, là khách thể phản ánh của ý thức pháp luật Đời sống pháp luật xã hội bao gồm những hiện tượng pháp luật cơ bản như: hệ thống văn bản pháp luật, tình trạng pháp chế, văn hóa pháp lý, thi hành và áp dụng pháp luật… Những hiện tượng này luôn tác động vào các giác quan của con người, được con người ghi nhận bằng các cảm giác, tri giác và thông qua các hoạt động đánh giá, so sánh, khái quát hóa… để hình thành các biểu tượng,
Trang 2012
khái niệm Các tri thức về pháp luật ngày càng phong phú tức là con người càng hiểu biết đầy đủ, chính xác khách thể, “hình ảnh của khách thể càng rõ nét, trình độ ý thức pháp luật của chủ thể càng cao
- Chức năng nhận thức: Để hình thành các quan điểm, quan niệm,
lòng tin về các quy phạm pháp luật hiện hành và cần ban hành, phải phân tích hiện thực khách quan và nhận thức được hiện thực đó - ý thức pháp luật có chức năng nhận thức - tức nhận thức các quá trình kinh tế - xã hội, các giá trị đạo đức đã được thể chế hóa hoặc sẽ được thể chế hóa
Ý thức pháp luật phản ánh đời sống pháp luật xã hội thông qua hoạt động của con người, mà hoạt động của con người là hoạt động có ý thức, có mục đích Quá trình vận động của ý thức pháp luật là quá trình nhận biết, quá trình tích lũy tri thức pháp luật, từ chưa biết đến biết, từ biết ít đến biết nhiều Mỗi nấc thang của sự nhận biết được đánh dấu bởi số lượng các tri thức về pháp luật mà con người có được, thể hiện dưới dạng các khái niệm, phạm trù, quan niệm pháp luật, là cơ sở và phương tiện giúp con người nhận thức các hiện tượng pháp luật mới Qua quá trình nhận thức, con người ngày càng tiến dần đến hiện thực đời sống khách quan của xã hội Thông qua quá trình nhận thức, ý thức pháp luật của con người ngày càng được nâng cao, sự phản ánh của con người đối với hiện thực càng sâu sắc, toàn diện giúp cho con người hoạt động tự tin, chủ động và sáng tạo
- Chức năng mô hình hóa pháp lý: Nhờ có ý thức pháp luật mà đánh
giá được các mô hình nào là cần thiết và tất yếu để hướng hành vi, cách xử sự, các quan hệ xã hội phát triển có kết quả Trên cơ sở nhận thức đúng đắn về lợi ích, trách nhiệm của cá nhân, của tập thể và toàn xã hội sẽ tạo cho các chủ thể
ý thức tự điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với lợi ích của chủ thể khác cũng như với lợi ích chung của toàn xã hội Chức năng mô hình hóa của
ý thức pháp luật thể hiện rõ nhất trong các hoạt động chính sách, xây dựng
Trang 2113
pháp luật Người làm chính sách, pháp luật phải có những ý tưởng thiết kế mô hình về những dự án định đưa ra
- Chức năng điều chỉnh hành vi của con người: Ý thức pháp luật định
hướng cho hành vi của con người phù hợp hay không phù hợp với yêu cầu của pháp luật hiện hành, hoặc làm cho hành vi của con người trở nên không phù hợp với các yêu cầu đó
Các chức năng trên của ý thức pháp luật liên hệ chặt chẽ với nhau và tác động trong một cơ chế thống nhất, chúng bao gồm cả yếu tố đánh giá và dự báo
xã hội Ý thức pháp luật luôn chứa đựng sự đánh giá hiện thực khách quan, hành vi xử sự của con người dưới lăng kính pháp lý, đồng thời cùng với việc đưa ra nguyên tắc mô hình hóa pháp lý cũng như trong thực hiện pháp luật
1.1.3 Cấu trúc của ý thức pháp luật
Quá trình phân tích, làm rõ được cấu trúc của ý thức pháp luật là tiền đề quan trọng giúp chúng ta tìm ra những phương thức phù hợp tác động để nâng cao ý thức pháp luật
Cấu trúc của ý thức pháp luật là cách thức tổ chức bên trong của ý thức pháp luật, trong đó, giữa các nhân tố cấu thành của ý thức pháp luật vừa thống nhất với nhau vừa tác động ảnh hưởng lẫn nhau và với các hiện tượng khác trong đời sống xã hội
Ý thức pháp luật là hiện tượng xã hội phức tạp, theo những phương diện khác nhau, có thể chia ý thức pháp luật thành những yếu tố cấu thành khác nhau Mỗi cách phân chia đều có ý nghĩa nhất định trong việc tìm hiểu bản chất, đặc điểm và vai trò của ý thức pháp luật Xuất phát từ mục đích và nhiệm vụ của luận văn chúng tôi theo cách tiếp cận cấu trúc của ý thức pháp luật gồm hai bộ phận: Hệ tư tưởng pháp luật và tâm lý pháp luật
1.1.3.1 Hệ tư tưởng pháp luật
Hệ tư tưởng pháp luật là tổng hợp các quan điểm, ý niệm, tư tưởng, của con người về đời sống pháp luật hợp thành hệ thống thống nhất, phản ánh một cách sâu sắc đời sống pháp luật trên lập trường của một giai cấp nhất định
Trang 2214
Hệ tư tưởng pháp luật phản ánh hiện thực một cách không trực tiếp, trực diện mà phản ánh một cách gián tiếp dưới dạng các khái niệm, phạm trù, quan điểm, tư tưởng… Hệ tư tưởng pháp luật là sự nhận thức ở trình độ lý luận, có tính hệ thống về các vấn đề có tính bản chất của pháp luật và các hiện tượng pháp luật
Nội dung của hệ tư tưởng pháp luật chủ yếu là những tri thức về vai trò, chức năng, bản chất giai cấp của pháp luật, về mối quan hệ giữa pháp luật với dân chủ, bình đẳng, công bằng tự do của con người, mối quan hệ giữa quyền
và nghĩa vụ pháp chế trong tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước về sáng tạo pháp luật và thực hiện pháp luật
Hệ tư tưởng pháp luật chính thống của một quốc gia bao giờ cũng là hệ
tư tưởng của giai cấp thống trị; trong xã hội tư bản chủ nghĩa, giai cấp thống trị
là giai cấp tư sản, trong xã hội XHCN giai cấp thống trị là giai cấp công nhân
và nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Khi giai cấp thống trị là lực lượng tiến bộ của xã hội, có lợi ích phù hợp với lợi ích căn bản của đông đảo các lực lượng khác trong xã hội thì tính khoa học, tính dân chủ và tính xã hội của hệ tư tưởng pháp luật sẽ thể hiện nổi bật, rõ nét Ngược lại, nó
sẽ trở thành hệ tư tưởng pháp luật lạc hậu, thậm chí phản động Song, dù có tiến bộ hay lạc hậu thì trong quá trình tồn tại và phát triển, các hệ tư tưởng này luôn có ý thức chuyển hóa mạnh mẽ thành ý thức pháp luật của toàn xã hội
Ở nước ta hiện nay tư tưởng pháp luật của chủ nghĩa Mác - Lê Nin và
Hồ Chí Minh được cụ thể hóa trong đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước ta Một trong những đặc điểm cơ bản nhất của sự hình thành ý thức pháp luật ở Việt Nam là quá trình tự giác dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam Đây chính là nhân tố quyết định của bản chất giai cấp công nhân và tính nhân dân của ý thức pháp luật [55]
Trang 2315
Muốn nâng cao được ý thức pháp luật chúng ta cần dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vai trò, bản chất của pháp luật làm cho các quan điểm
đó trở thành hệ tư tưởng pháp luật chi phối đời sống pháp luật toàn xã hội ở Việt Nam hiện nay Bên cạnh đó Nhà nước phải kịp thời thể chế hóa đường lối chính trị của Đảng thành pháp luật để đưa đường lối của Đảng đến toàn xã hội
1.1.3.2 Tâm lý pháp luật
Tâm lý pháp luật được hình thành một cách tự phát dưới tâm trạng, cảm xúc, thái độ, tình cảm đối với pháp luật và các hiện tượng pháp lý khác Nó là nấc thang đầu tiên của nhận thức con người về vấn đề liên quan đến pháp luật,
là kết quả của nhận thức trực tiếp, mang nhiều yếu tố chủ quan, cảm tính
Tâm lý pháp luật là trình độ nhận thức trực giác cảm tính dưới sự tác động mạnh mẽ của các yếu tố nhu cầu, lợi ích cá nhân, nhóm người, hay cộng đồng xã hội nó mang nhiều tính chất chủ quan, tự phát Trong hoạt động giao tiếp hàng ngày thường xuất hiện những trạng thái tâm lý pháp luật trong con người bao gồm: Tình cảm, tâm trạng, truyền thống, thói quen, niềm tin, thành kiến… Tâm lý pháp luật tồn tại phổ biến trong mọi cá nhân, nó là yếu tố ảnh hưởng lớn đến sự hình thành trình độ nhận thức cảm tính trong tâm lý pháp luật thể hiện ở thái độ của nhân dân đối với pháp luật hiện hành và việc chấp nhận các quy định của pháp luật Thái độ này có thể biểu hiện khi chưa có hiểu biết pháp luật và có thể khi đã có kiến thức pháp luật thông thường nhưng về thái độ lại xem thường pháp luật Chính vì thế, quá trình hình thành
ý thức pháp luật, trước tiên cần cho mọi người hiểu biết pháp luật và xây dựng thái độ tôn trọng pháp luật Trình độ hiểu biết pháp luật, văn hóa pháp lý luôn là cơ sở cho sự nhận thức để hình thành ý thức pháp luật và củng cố thái
độ, niềm tin đối với pháp luật
Trong những trạng thái của tâm lý pháp luật thì tình cảm pháp luật, pháp luật là yếu tố năng động Nếu chủ thể nhận thức được giá trị của pháp
Trang 2416
luật và cơ chế điều chỉnh của pháp luật phù hợp với nguyện vọng, lợi ích nhu cầu của mình thì nảy sinh tình cảm pháp luật tích cực Ngược lại, sẽ xuất hiện tình cảm tiêu cực Tình cảm pháp luật này ảnh hưởng rất lớn tới thái độ tích cực hoặc tiêu cực của con người đối với pháp luật
Truyền thống, thói quen, niềm tin pháp luật là nhân tố tương đối ổn định trong tâm lý pháp luật Nó được hình thành trong một thời gian dài và trải qua thử thách, giúp cho con người hoạt động một cách tự tin và kiên định
Vì vậy nó là yếu tố quan trọng trong việc hình thành ý thức pháp luật
Trong mọi lĩnh vực cũng phải cân nhắc cẩn thận việc tiếp thu, kế thừa truyền thống thói quen, bởi vì truyền thống thói quen có cả mặt tích cực và mặt tiêu cực Chẳng hạn, do điều kiện lịch sử, đất nước ta nhìn chung chưa có thói quen sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật, do vậy trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền chúng ta phải khắc phục hạn chế này
Là một bộ phận của ý thức xã hội, luôn gắn liền với truyền thống tập quán, thói quen của con người, tâm lý pháp luật, ít biến đổi, biến đổi chậm chạp, do đó nó bền vững, bảo thủ hơn so với tư tưởng pháp luật Cho nên muốn xóa bỏ ý thức pháp luật lạc hậu, xây dựng ý thức pháp luật tiến bộ thì cần phải có quá trình lâu dài, phức tạp
Tâm lý pháp luật và hệ tư tưởng pháp luật có mối quan hệ biện chứng với nhau Tâm lý pháp luật ra đời một cách tự phát, nhưng chịu sự chi phối của hệ tư tưởng pháp luật Ngược lại, sự phát triển của hệ tư tưởng pháp luật cũng chịu ảnh hưởng của tâm lý pháp luật Tâm lý pháp luật và hệ tư tưởng pháp luật là hai trình độ phản ánh đời sống pháp luật, nhưng có mối quan hệ tác động lẫn nhau trong sự hình thành ý thức pháp luật
1.1.4 Vai trò của ý thức pháp luật
Ý thức pháp luật là một hình thái ý thức xã hội cùng với pháp luật và các hiện tượng pháp lý khác cấu thành kiến trúc thượng tầng pháp lý xã hội Ý
Trang 2517
thức pháp luật và pháp luật là hai hiện tượng pháp lý khác nhau nhưng có quan hệ biện chứng với nhau
1.1.4.1 Ý thức pháp luật và hoạt động xây dựng pháp luật
Ý thức pháp luật có vai trò là tiền đề, cơ sở trực tiếp để xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật:
- Ý thức pháp luật là tiền đề trực tiếp cho hoạt động xây dựng pháp luật Ý thức pháp luật cao cho phép đánh giá đúng đắn tầm quan trọng pháp lý của các quan hệ xã hội, xây dựng pháp luật điều chỉnh chúng Ý thức pháp luật cao đảm bảo cho hoạt động soạn thảo, xây dựng dự án pháp luật được tiến hành tốt
- Ý thức pháp luật là nhân tố chủ quan, có ý nghĩa quyết định đối với nội dung của các văn bản quy phạm pháp luật Ở Việt Nam hiện nay, nhìn toàn cục, pháp luật hiện hành phù hợp với những tư tưởng cơ bản của ý thức pháp luật tiến bộ, ghi nhận và phản ánh trung thành các tư tưởng dân chủ, nhân đạo, công cụ bằng sự thống nhất quyền và nghĩa vụ
- Xuất phát từ vai trò trên của ý thức pháp luật đối với hoạt động xây dựng pháp luật, cần thiết phải hoàn thiện hệ tư tưởng pháp luật Với tính cách là bộ phận lý luận khoa học của ý thức pháp luật mà ở đó phản ánh các lợi ích và nhu cầu xã hội và chuyển hóa chúng thành các chế định và quy phạm pháp luật
- Liên quan tới sự nâng cao trình độ pháp luật nghề nghiệp của các cán
bộ, cơ quan có thẩm quyền xây dựng pháp luật Ý thức pháp luật là biểu hiện khả năng nhận thức của con người trong lĩnh vực pháp luật Nếu ý thức pháp luật là tích cực, nó trở thành điều kiện trực tiếp quan trọng để xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Nghĩa là, những người có trách nhiệm soạn thảo, xây dựng và ban hành pháp luật có ý thức pháp luật tốt, có trình độ hiểu biết pháp luật cao; cũng góp phần vào việc xây dựng và ban hành pháp luật có giá trị cao Ngược lại, nếu ý thức pháp luật của họ còn ở trình độ thấp, không
Trang 2618
đầy đủ thì họ sẽ không thể xây dựng được những văn bản pháp luật tốt, phù hợp với yêu cầu khách quan của xã hội Nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của vấn đề chất lượng các văn bản pháp luật được ban hành, Đảng ta chủ trương nâng cao hơn nữa chất lượng hoạt động lập pháp
1.1.4.2 Ý thức pháp luật và thực hiện pháp luật
Ý thức pháp luật có vai trò thúc đẩy việc thực hiện pháp luật
Thực hiện pháp luật là một quá trình hoạt động có mục đích nhằm làm cho các quy định của pháp luật đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật
Có nhiều yếu tố khác nhau tác động đến quá trình thực hiện pháp luật, song ý thức pháp luật là nhân tố rất quan trọng Sự tuân thủ và tôn trọng pháp luật phụ thuộc nhiều vào trình độ nhận thức pháp luật và các trạng thái tâm lý pháp luật của con người Ý thức pháp luật của các chủ thể càng được nâng cao thì sự tuân thủ pháp luật, sử dụng pháp luật, chấp hành pháp luật của họ càng đúng đắn Ngược lại, nếu ý thức pháp luật thấp thì việc tổ chức thực hiện pháp luật sẽ kém hiệu quả Chính vì vậy, việc bồi dưỡng kiến thức pháp luật trong cán bộ và nhân dân, nâng cao trình độ nhận thức pháp luật và ý thức pháp luật của họ có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc thực hiện pháp luật
Nhận thức rõ tầm quan trọng của vấn đề này, tại Hội nghị đại biểu toàn
quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII, Đảng ta đã xác định: “Tăng cường giáo dục ý
thức pháp luật, nâng cao hiểu biết và ý thức tôn trọng pháp luật, sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật, bảo đảm cho pháp luật được thi hành một cách nghiêm minh, thống nhất và công bằng”
- Sự thực hiện pháp luật cũng tùy thuộc vào trình độ nhận thức và trạng thái tâm lý pháp luật của con người
+ Các quy phạm pháp luật điều chỉnh hành vi của các chủ thể thông qua
sự tác động vào ý thức của họ
Trang 2719
+ Đối với các cá nhân, hành động nhận thức các yêu cầu của quy phạm pháp luật từ đó xác lập động cơ, mục đích, lựa chọn phản ánh xử sự xảy ra trước khi họ thực hiện hành vi pháp luật
+ Ý thức pháp luật của các chủ thể càng cao thì sự tuân thủ pháp luật,
sử dụng pháp luật, chấp hành pháp luật của họ càng đúng đắn
- Ý thức pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng trong hoạt động áp dụng pháp luật
+ Để giải quyết tốt vụ việc cá biệt, cụ thể, đòi hỏi cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhà chức trách phải thu thập nhanh chóng, phân tích chính xác các tình tiết của vụ việc, xác định rõ đặc trưng pháp lý của nó Lựa chọn quy phạm pháp luật thích ứng để giải quyết vụ việc, làm sáng tỏ nội dung tư tưởng quy phạm pháp luật được lựa chọn, ra quyết định áp dụng pháp luật hợp pháp
Tóm lại, ý thức pháp luật có vai trò hết sức quan trọng trong đời sống
xã hội nói chung và đời sống pháp luật nói riêng Ý thức pháp luật là tiền đề
Trang 2820
tư tưởng trực tiếp và tham gia vào tất cả các quá trình xây dựng pháp luật, thực hiện pháp luật và áp dụng pháp luật Chỉ dựa trên cơ sở một ý thức pháp luật đầy đủ, đúng đắn và tích cực thì mới giúp cho quá trình xây dựng pháp luật, thực hiện pháp luật và áp dụng pháp luật được thực hiện tốt Ý thức pháp luật tạo ra nhu cầu cần nắm vững pháp luật, tạo điều kiện cho các tầng lớp nhân dân nắm lấy pháp luật làm công cụ bảo vệ xã hội, bảo vệ chế độ và bảo
vệ cho các lợi ích hợp pháp của chính mình Chính vì vậy, công tác phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật và nâng cao ý thức pháp luật trong các tầng lớp xã hội, từ những người cán bộ cho tới từng người dân, luôn được Đảng ta chú trọng và đề cao Trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX,
Đảng ta đã một lần nữa nhấn mạnh: “Phát huy dân chủ đi đôi với giữ vững kỷ
luật, kỷ cương, tăng cường pháp chế, quản lý”
1.2 KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA NÔNG DÂN VIỆT NAM
1.2.1 Khái niệm nông dân
Theo Từ điển tiếng Việt, nông dân được hiểu là “người lao động sống
xã hội khác có địa vị cao hơn [5; tr30]
Như vậy có thể thấy, nông dân là một bộ phận dân cư lao động gắn liền với sản xuất nông nghiệp, có thu nhập chính từ lao động nông nghiệp Xét về bản chất xã hội và địa vị của giai cấp nông dân thì nông dân vừa là giai cấp những người lao động, vừa là giai cấp những người sở hữu
Các văn kiện của Đảng ta tuy không nói đến khái niệm nông dân nhưng qua các quan điểm về nông dân gắn với nông nghiệp, nông thôn có thể khái quát quan điểm của Đảng ta về nông dân như sau: “Nông dân là khái niệm chỉ
Trang 2921
về thân phận hay nghề nghiệp của một nhón dân cư trong xã hội, phân biệt với công nhân, trí thức Nông dân theo khái niệm này thường có hai tiêu chí phân biệt: một là, nghề nghiệp chính là trồng trọt và chăn nuôi; hai là, sinh sống ở nông thôn (phân biệt với thành thị) [ 3; tr112]
Tóm lại, nông dân ở nước ta hiểu là những người sống bằng nghề nông nghiệp, sống ở nông thôn, thu nhập chủ yếu bằng nghề trồng trọt và chăn nuôi, sản phẩm của họ là lương thực, thực phẩm và tư liệu sản xuất chủ yếu của họ là ruộng đất
- Khái niệm giai cấp nông dân:
+ Theo Bách khoa toàn thư: Giai cấp nông dân là bao gồm những tập
đoàn người sản xuất nhỏ hoặc làm thuê cho địa chủ và cho phú nông trong nông nghiệp dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân về ruộng đất
+ Vậy giai cấp nông dân là những người sống lâu đời ở nông thôn
(làng, bản, ấp) lấy sản xuất nông nghiê ̣p làm nguồn sống chính dưới hình thức tư hữu nhỏ Nông dân là lực lượng cách mạng trong cuộc cách mạng dân tộc dân chủ và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta
Có thể thấy giai cấp nông dân ở nước t a là lực lượng quan trọng, là lực lượng cơ bản cùng giai cấp công nhân hợp thành đội quân chủ lực của cách mạng xã hội chủ nghĩa Đưa nông dân đi theo con đường cách mạng xã hội chủ nghĩa là tạo ra một lực lượng chủ yếu trong cuộc cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta
1.2.2 Đặc điểm của nông dân Việt Nam
Ở nước ta, nông dân chiếm hơn 70% số dân cả nước - họ là một bộ phận của dân cư, là lực lượng đông đảo trong quần chúng nhân dân lao động,
là động lực cách mạng xã hội chủ nghĩa và chính họ là người trực tiếp sản xuất ra của cải nuôi sống xã hội
Nông dân Việt Nam có những đặc điểm sau:
Trang 3022
- Về nghề nghiệp: Hầu hết nông dân đều là lao động nông nghiệp, trồng
trọt chăn nuôi là chủ yếu, số còn lại là những người làm dịch vụ cung cấp tiêu thụ sản phẩm, buôn bán nhỏ Chính vì vậy phần lớn trong số họ ít có điều kiện tiếp xúc rộng rãi với kiến thức ngoài xã hội, đây cũng là nguyên nhân dẫn đến sự hạn chế trong nhận thức kiến thức pháp luật của nông dân
- Về văn hóa: So với mặt bằng chung thì đối tượng nông dân thường có
trình độ văn hóa thấp hơn, lại không đồng đều, trong đó trình độ bậc tiểu học và trung học là phổ biến Chính vì trình độ văn hóa không cao, không đồng đều đó
đã khiến cho nông dân gặp rất nhiều khó khăn trong việc tiếp thu những kiến thức khoa học kỹ thuật, cũng như kiến thức về pháp luật
- Đặc điểm về tâm lý , tình cảm: Đối tượng là nông dân trong đời sống,
lao động sản xuất thường coi trọng yếu tố kinh nghiệm vì thế bên cạnh những yếu tố tích cực cũng bộc lộ những nhược điểm như tâm lý tự ty, an phận, ngại
va chạm bên cạnh đó đối tượng này cũng rất dễ tin, dễ bị lợi dụng, điều này thấy rõ qua các vụ việc khiếu kiện đông người Tuy nhiên tâm lý, tình cảm của đối tượng này cũng rất dễ bị thay đổi, vì vậy giáo dục pháp luật, nâng cao
ý thức pháp luật là việc trang bị cho họ những kiến thức hiểu biết về pháp luật
để họ nhận thức được trách nhiệm, thực hiện nghĩa vụ, bảo vệ quyền lợi công dân của mình, từ đó giúp họ có thêm hiểu biết và thể hiện chính kiến của mình trước các sự việc hiện tượng xảy ra trong cuộc sống, lao động sản xuất
1.3 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VỀ Ý THỨC PHÁP LUẬT CỦA NÔNG DÂN VIỆT NAM
1.3.1 Khái niệm ý thức pháp luật của nông dân Việt Nam
Từ khái niệm về ý thức pháp luật nêu trên, trong điều kiện hiện nay khi đất nước nước ta đang tiến hành công cuộc đổi mới đất nước, thực hiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhâp quốc tế, phấn đấu đến năm
2020 đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp phát triển, trong đó lĩnh
Trang 31Từ khái niệm về ý thức pháp luật nêu trên có thể hiểu ý thức pháp luật của nông dân như sau:
Ý thức pháp luật của nông dân là một hình thái của ý thức xã hội, mang tính giai cấp sâu sắc phản ánh một cách tích cực, sáng tạo và trực tiếp đời sống pháp luật, hình thành những khái niệm, quan điểm, tư tưởng, tình cảm của giai cấp nông dân đối với pháp luật, thể hiện sự hiểu biết, thái độ của họ đối với pháp luật hiện hành, pháp luật trong quá khứ và pháp luật trong tương lai, quyền và nghĩa vụ của họ, tính hợp pháp hay không hợp pháp trong hành vi xử sự của nông dân Việt Nam
1.3.2 Đặc điểm ý thức pháp luật của nông dân Việt Nam
Ý thức pháp luật của người nông dân cũng là một dạng của ý thức pháp luật, phản ánh đời sống xã hội của người nông dân, vì vậy chúng ta thấy ý thức pháp luật của người nông dân Việt Nam có những đặc điểm sau:
Một là: Thói quen lệ làng, phong tục truyền thống vẫn được người nông dân đề cao và coi trọng hơn pháp luật nhà nước
Có thể nói, trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, hình ảnh người nông dân đã đi vào truyền thuyết dân gian, trong phong tục tập quán, sinh hoạt văn hóa của nhân dân ta từ xưa đến nay Cùng với sự hình thành nền văn hóa làng xã, tâm lý cộng đồng dân cư nông nghiệp, tuân thủ những tục lệ truyền thống của người nông dân thể hiện như
là tâm điểm duy trì các mối quan hệ xã hội của họ
Trang 3224
Một mặt, phương thức sản xuất nhỏ, kinh tế tiểu nông gắn liền với chế
độ phong kiến gia trưởng tồn tại hàng nghìn năm trên đất nước ta đã sản sinh
ra tâm lý tiểu nông, sản xuất nhỏ ở nông dân, trong một môi trường sản xuất kinh tế tự cung tự cấp là chủ yếu, làng xã thôn bản trở thành một quần thể khép kín, biệt lập với môi trường xã hội Đó là cơ sở duy trì phong tục tập quán truyền thống chế ngự quan hệ xã hội của người nông dân Việt Nam Cho nên biểu hiện đầu tiên và cũng là đặc điểm nổi bật nhất tồn tại trong suốt lịch
sử phát triển của ý thức pháp luật Việt Nam cho đến tận ngày nay là ý thức
“phép vua thua lệ làng” được hiểu là những tục lệ, tập quán, những quy định của làng xã luôn được coi trọng và đặt cao hơn phép nước
Vậy thói quen lệ làng, tục lệ truyền thống… đã chế ngự ý thức pháp luật của người nông dân Việt Nam, được thể hiện ở điểm nào?
Đó là, nông dân có thói quen giải quyết công việc, các mối quan hệ xã hội theo tình cảm thuần túy, theo kinh nghiệm thế hệ đi trước, quan niệm
“sống lâu lên lão làng”, “chín bỏ làm mười”, “dĩ hòa vi quý”, “trăm cái lý không bằng tý cái tình”… cách ứng xử, lối xử sự, phân định hay hòa giải giữa các cá nhân, gia đình, họ tộc đều trong khuôn khổ “lệ làng”, những quy định
mà không cần đến sự can thiệp của luật pháp nhà nước Điều đó đã làm hạn chế, cản trở rất nhiều sự tác động của luật nước vào các đơn vị “tự trị” làng Cũng vì vậy, người nông dân vẫn có thói quen coi trọng lệ làng hơn phép
Trang 33Hai là: Quan niệm pháp luật là những hình phạt dẫn đến thái độ né tránh pháp luật, tâm lý đối phó với pháp luật
Về mặt khách quan, do xuất phát từ điều kiện lịch sử của đất nước: sau khi ra đời trong một thời gian ngắn, đất nước Việt Nam đã bị phong kiến phương Bắc xâm lược và đô hộ trong suốt mười thế kỷ Cùng với sự thống trị của Nhà nước là sự áp đặt của luật pháp phong kiến lên dân tộc Việt Nam, chế
độ phong kiến đã tước đoạt mọi quyền dân chủ của người dân, thực chất là đối lập với dân chủ Vì vậy, để giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, đấu tranh chống lại áp bức nô dịch của ngoại xâm, đồng thời đấu tranh chống lại các đạo luật hà khắc của Nhà nước phong kiến trở thành nhu cầu tự nhiên của người dân Việt Nam nói chung và người nông dân nói riêng Hệ quả của việc phản ứng, bất tuân thủ pháp luật của chính quyền đô hộ phong kiến, tâm lý sợ hãi dẫn đến né tránh, đối phó với luật pháp nhà nước phong kiến đã trở thành tiềm thức truyền từ đời này qua đời khác trong người nông dân
Dưới chế độ dân chủ, người nông dân được hưởng các quyền dân chủ, được Hiến pháp và pháp luật XHCN bảo đảm Ngày nay, các hình phạt hà khắc của chế độ phong kiến đã được xóa bỏ, song tâm lý coi pháp luật là sự trừng trị của Nhà nước quan niệm pháp luật là những hình phạt, tâm lý đối phó với pháp luật vẫn còn tiềm ẩn trong người nông dân
Về mặt chủ quan, do ảnh hưởng của nền kinh tế tiểu nông, với điều kiện sản xuất nhỏ, do tính biệt lập khép kín của cộng đồng làng xã còn đọng lại từ thời công xã nông thôn đã bị chế độ phong kiến, thực dân lợi dụng để
Trang 3426
thông qua tổ chức làng xã nắm nông dân nhằm bóc lột, ức hiếp họ bằng các loại thuế khác, phu phen tạp dịch nặng nề… nên đã tạo ra một tầng lớp cường hào ác bá trong chế độ đối lập với nông dân, gây ám ảnh trong tâm thức, tâm
lý của nông dân
Ngày nay, trong chế độ dân chủ, chính quyền các cấp đều do dân cử ra, quyền và nghĩa vụ của người nông dân được bảo đảm bằng pháp luật Chính quyền xã, thôn đại diện cho nông dân hoạt động theo quy định của pháp luật
và chịu sự giám sát của nhân dân; đại đa số cán bộ xã, thôn có tinh thần tận tụy, trách nhiệm trước dân; tuy nhiên vẫn còn một số vi phạm quyền dân chủ của nhân dân, thái độ cửa quyền, bè cánh, hách dịch, nhũng nhiễu nhân dân, thậm chí một số còn vi phạm pháp luật đã trực tiếp tác động đến tâm lý, ý thức của nông dân Cho nên, khi có những công việc liên quan đến văn bản pháp lý, kể cả việc thuộc quyền lợi của mình nhưng trong tâm lý nông dân vẫn ngại tiếp xúc làm việc với chính quyền, vì vậy khi chính quyền yêu cầu
họ phải thực hiện một chế độ, trách nhiệm hay thủ tục cần thiết thì họ quan niệm đó là sự “bắt buộc” chứ chưa coi đó là nghĩa vụ Thái độ né tránh trách nhiệm, tâm lý đối phó với pháp luật trong thực tế cho đến nay vần còn tồn tại, tiềm ẩn trong ý thức ở người nông dân Điều này, đặt ra cho người làm công tác giáo dục pháp luật phải có những cách thức thích hợp với đối tượng nông dân ở nông thôn nước ta hiện nay
Ba là: Thiếu hiểu biết pháp luật, ít quan tâm tới pháp luật, chậm đổi mới về ý thức pháp luật so với các tầng lớp dân cư khác
Trước Cách mạng Tháng Tám 1945, nước ta chưa giành được độc lập, dưới chế độ thuộc địa nửa phong kiến, người dân Việt Nam mà đặc biệt là người nông dân Việt Nam chịu hai tầng áp bức bóc lột của thực dân phong kiến, sưu cao thuế nặng cực khổ trăm đường Trong đó, trên 90% dân số mù chữ, dân trí hết sức thấp kém, đại đa số nông dân không hiểu biết gì về pháp
Trang 3527
luật Chế độ thực dân phong kiến đã duy trì chính sách ngu dân để dễ bề cai trị nông dân, còn luật pháp chế độ cũ về thực chất nó càng trở nên đối lập với người nông dân
Cách mạng Tháng Tám 1945 đã làm đổi đời nông dân Việt Nam, chỉ sau một thời gian ngắn, cho đến ngày 6-1-1946 cuộc bầu cử Quốc Hội đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa với hơn 80% cử tri đi bỏ phiếu, trong đó phần đông trước đó còn mù chữ, sau đã biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ Bản Hiến pháp Việt Nam (1946) cũng đã khẳng định nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước Hiến pháp và pháp luật, người nông dân có quyền bính như công nhân, viên chức, trí thức…
Cho đến nay, 70 năm dưới chế độ dân chủ, đời sống vật chất tinh thần, điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của nông dân đã có nhiều thay đổi, tuy nhiên về thực chất mặt bằng dân trí, trình độ văn hóa, hiểu biết pháp luật, văn hóa pháp luật của người nông dân vẫn còn thấp, thái độ ít quan tâm tới pháp luật, nhận thức các vấn đề pháp luật còn chậm đổi mới so với công nhân, trí thức Một mặt, do môi trường, điều kiện lao động sản xuất, đời sống văn hóa
tụ cư trong mô hình làng xã nông thôn, người nông dân ít có điều kiện giao tiếp, giao lưu với môi trường bên ngoài xã hội Mặt khác, do ảnh hưởng của
cơ chế bao cấp, chính quyền cơ sở làng xã quản lý bằng chỉ thị, nghị quyết, thói quen quản lý điều hành theo lối hành chính mệnh lệnh, thậm chí áp đặt một chiều từ trên xuống nên người nông dân ít quan tâm đến pháp luật
Về chủ quan, do bản thân nghề nghiệp quy định tâm lý người nông dân khác với công nhân trí thức, những vấn đề liên quan đến người công nhân, trí thức có khi nó lan tỏa phạm vi toàn quốc, ảnh hưởng tác động cả dư luận xã hội, trên hệ thống thông tin, trên báo chí… Còn đối với nông dân phạm vi quan hệ xã hội hẹp, ít khi ra khỏi làng xã, bên cạnh đó người nông dân do kiến thức văn hóa thấp, thường mang tính nôn nóng tiểu tư sản, ý thức tiểu
Trang 3628
nông, tư tưởng tư hữu chỉ khư khư giữ những lợi ích vụn vặt của bản thân, gia đình, họ tộc của mình nên việc mở mang hiểu biết văn hóa, kiến thức pháp luật ở họ là rất hạn chế Biểu hiện ít quan tâm đến pháp luật, thiếu ý thức chấp hành pháp luật, nhận thức pháp luật chậm đổi mới Cho đến nay vẫn còn tồn tại ở người nông dân, điều đó thể hiện qua phong cách, lối sống, cung cách sinh hoạt, ngôn ngữ, tác phong chậm chạp, đơn giản, ngại va chạm, thiếu chủ kiến trong buổi họp, trong giải quyết công việc, bàn bạc tập thể… không chỉ thấy ở người già cả mà cả những người trẻ tuổi Đây là một trong biểu hiện rất
dễ thấy ở người nông dân, cần phải được khắc phục
Tóm lại, đời sống pháp luật của người nông dân trong điều kiện lao động của nền sản xuất nông nghiệp, tập quán sản xuất nhỏ, tâm lý cộng đồng làng xã, tục lệ truyền thống… chi phối, thói quen ý thức “phép vua thua lệ làng”, ít quan tâm, thiếu hiểu biết về pháp luật, chậm đổi mới về tư duy, ý thức chấp hành pháp luật của người nông dân Việt Nam cho đến nay là còn hạn chế, thấp kém, điều đó đồng nghĩa với việc làm rõ quyền và nghĩa vụ của người nông dân vẫn còn chưa được thực hiện đầy đủ, kém hiệu quả, phương châm: “Sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật” vẫn còn hình thức ở nông dân
1.4 XÂY DỰNG Ý THỨC PHÁP LUẬT CỦA NÔNG DÂN
1.4.1 Khái niệm, ý nghĩa xây dựng ý thức pháp luật của nông dân
1.4.1.1 Khái niệm xây dựng ý thức pháp luật của nông dân
Sự hình thành phát triển ý thức con người là sản phẩm của cả một quá trình ảnh hưởng, tác động đồng thời của các điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan Các điều kiện khách quan như chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa, môi trường có ảnh hưởng mạnh mẽ đến ý thức của con người, đến việc hình thành và phát triển nhân cách con người Sự thay đổi điều kiện khách quan có thể kéo theo sự thay đổi ý thức con người Tuy nhiên sự tác động của nhân tố
Trang 3729
chủ quan có ảnh hưởng rất lớn, nếu đặt trong hoàn cảnh cụ thể, nó có tính chất quyết định đến sự hình thành và phát triển ý thức con người Đó là những hoạt động có chủ động, có định hướng, có tổ chức, có mục đích do con người thức hiện, khi con người được cung cấp những tri thức khoa học, tri thức về cuộc sống trong họ sẽ dần dần hình thành lòng tin, tình cảm từ đó họ sẽ nhận thức đúng đắn và điều chỉnh hành vi của mình một cách phù hợp với đòi hỏi của xã hội Điều này càng thấy rõ hơn trong điều kiện hiện nay khi đất nước ta đang tiến hành công cuộc đổi mới một cách toàn diện và sâu sắc, nền kinh tế thị trường đã đem lại những biến đổi tích cực trong đời sống xã hội, thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, phát huy tính độc lập, tự chủ, sức sáng tạo của con người, từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân
Tuy nhiên bên cạnh những mặt tích cực nêu trên, nền kinh tế thị trường cũng bộc lộ những mặt trái của nó như lối sống thực dụng chạy theo đồng tiền, chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa cơ hội, cạnh tranh không lành mạnh sẽ dẫn con người dễ bị rơi vào vòng xoáy của các tệ nạn tham nhũng, bè cánh và nhiều tệ nạn khác, đó là những tiêu cực đã tác động không nhỏ đến nhận thức, tình cảm, lối sống và hành vi của con người
Như vậy qua sự phản ánh của đời sống thực tiễn xã hội, có thể thấy những điều kiện khách quan tác động mạnh mẽ đến ý thức của con người theo
cả chiều hướng tích cực và tiêu cực mà phần lớn là những tác động không định hướng Nếu con người được giáo dục, tức là được tác động có chủ định,
có mục đích rõ ràng và có định hướng cụ thể thì sẽ vượt qua được những tác động của điều kiện khách quan, từ đó ở họ hình thành niềm tin và hành vi đúng đắn, phù hợp với đòi hỏi của xã hội Các Mác đã viết: “Con người vốn
là sản phẩm của hoàn cảnh và giáo dục Và do đó con người thay đổi vốn là sản phẩm của hoàn cảnh và giáo dục thay đổi” [9, tr.20]
Từ sự phân tích trên, có thể hiểu khái niệm xây dựng ý thức pháp luật
Trang 3830
của nông dân như sau:
Xây dựng ý thức pháp luật của nông dân là hoạt động có tổ chức, có định hướng và mục đích nhằm hình thành ở nông dân sự hiểu biết pháp luật, thái độ, lối sống tôn trọng và tuân thủ pháp luật, ý thức về quyền con người, tôn trọng, bảo vệ quyền con người, trách nhiệm với cộng đồng xã hội
1.4.1.2 Ý nghĩa xây dựng ý thức pháp luật của nông dân
Xây dựng ý thức pháp luật có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc xây dựng, thực hiện và áp dụng pháp luật Ý thức pháp luật là tiền đề tư tưởng trực tiếp để xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật; là nhân tố thúc đẩy việc thực hiện pháp luật và là cơ sở bảo đảm cho việc áp dụng đúng đắn các quy phạm pháp luật Ý nghĩa của xây dựng ý thức pháp luật của nông dân thể hiện ở những điểm chủ yếu sau đây:
Trong đời sống xã hội, pháp luật chỉ có thể được mọi người thực hiện nghiêm chỉnh, tự giác khi họ tin tưởng vào những quy định của pháp luật Thông qua việc giáo dục tình cảm công bằng, biết xác định những tiêu chuẩn, đánh giá tính công bằng của pháp luật, biết đối xử với người khác và với chính mình bằng các tiêu chuẩn công bằng thể hiện qua các quy phạm pháp luật, thông qua việc giáo dục tình cảm, trách nhiệm, ý thức tuân thủ pháp luật
ở mọi nơi, mọi lúc, phê phán, lên án những biểu hiện coi thường pháp luật, các hành vi vi phạm pháp luật, đồng thời ủng hộ và tích cực tham gia bảo vệ
sự nghiêm minh của pháp luật từ đó giúp cho mọi người có lòng tin vững chắc vào sự cần thiết phải tuân theo pháp luật, khi đã có lòng tin vào pháp luật con người sẽ có những hành vi hợp pháp
Việc xây dựng ý thức pháp luật cho nông dân còn có ý nghĩa trong việc hình thành động cơ, hành vi và thói quen xử sự theo pháp luật
Động cơ và hành vi hợp pháp của con người được hình thành bởi nhiều yếu tố tác động, trong đó giáo dục pháp luật là yếu tố có ý nghĩa đặc biệt quan
Trang 3931
trọng Thông qua giáo dục pháp luật con người mới có tri thức pháp luật, có lòng tin và tình cảm vào pháp luật trên cơ sở đó hình thành ở họ thói quen thực hiện hành vi hợp pháp, tự giác, tích cực Khi đó ý thức pháp luật của công dân ngày càng được nâng cao, pháp chế xã hội chủ nghĩa được tăng cường
Xây dựng ý thức pháp luật cho nông dân góp phần nâng cao khả năng hiểu biết và sử dụng pháp luật, tự bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của họ
Xây dựng ý thức pháp luật cho nông dân còn góp phần quan trọng xóa
bỏ những hủ tục lạc hậu, phát huy truyền thống văn hóa tốt đẹp của địa phương, phát huy truyền thống tốt đẹp của của giai cấp nông dân Việt Nam trong xây dựng và bảo vệ tổ quốc
Trong thực tế, hiện nay ở nhiều địa phương vẫn còn tồn tại nhiều hủ tục lạc hậu mà một bộ phận nhân dân vẫn còn thói quen hiện hữu, đặc biệt trong nông dân khi lao động sản xuất vẫn còn dựa nhiều vào kinh nghiệm xưa cũ cùng với nó là sự tồn tại của các hủ tục lạc hậu Thời gian qua, mặc dù Đảng, Nhà nước, các cơ quan đoàn thể đã có nhiều biện pháp tuyên truyền nhằm xóa
bỏ nó, nhưng đối với những vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc, do trình độ dân trí không đồng đều, lại ít có điều kiện tiếp cận với các nguồn thông tin nên việc cập nhật kiến thức mới bị hạn chế, do đó vẫn còn tồn tại nhiều hủ tục lạc hậu trong đời sống như nạn tảo hôn, thách cưới, cấm hoặc ép kết hôn, mê tín dị đoan, và nhiều hủ tục khác mà người dân thường gọi “phép Vua thua lệ làng”
Từ thực tế nêu trên, nếu đối tượng này được nâng cao nhận thức sẽ dẫn tới những thay đổi trong việc thực hiện hành vi một cách tự giác và qua đó các hủ tục lạc hậu, những thói quen cũ lỗi thời sẽ dần bị loại bỏ khỏi đời sống xã hội
1.4.2 Vai trò xây dựng ý thức pháp luật của nông dân
Giai cấp nông dân chiếm lực lượng đông đảo trong xã hội, ý thức pháp luật là nhân tố góp phần nâng cao trình độ dân trí, đáp ứng yêu cầu của Nhà nước pháp quyền đòi hỏi mọi người dân sống và làm việc theo Hiến pháp và
Trang 40cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội Pháp luật chỉ có thể trở thành công cụ có tác dụng điều chỉnh những hành vi đúng đắn khi sự cần thiết của nó đối với xã hội được ghi nhận, chấp nhận, khi mà nghĩa vụ chấp hành các quy định của pháp luật thực sự trở thành nhu cầu chấp hành một cách tự nguyện và có ý thức của bản thân mỗi người
Xây dựng ý thức pháp luật cho nông dân tác động đến ý thức của họ, từ chỗ
họ không để ý, rồi biết, hiểu, sau đó là chấp hành và thực hiện pháp luật Làm cho
họ từ chỗ không quan tâm, hoặc không biết đến sự tồn tại của pháp luật đến chỗ
họ bắt đầu quan tâm, rồi tiếp cận, tìm hiểu về pháp luật và hành động theo pháp luật, từ đó họ không chỉ được nâng cao sự hiểu biết về pháp luật mà còn định hướng được hành vi của mình theo đúng yêu cầu quy định của pháp luật Sự hiểu biết pháp luật của nhân dân là yếu tố đầu tiên để hình thành ý thức pháp luật, pháp luật phải trải qua nhiều hình thức khác nhau mới đến được với người dân và trở thành sự hiểu biết về pháp luật, ý thức pháp luật
1.4.2.2 Xây dựng ý thức pháp luật góp phần hình thành niềm tin của nông dân đối với pháp luật
Pháp luật thực hiện một cách nghiêm chỉnh không chỉ phụ thuộc vào sự cưỡng chế hay sự đe dọa trừng phạt mà còn phụ thuộc vào sự giáo dục, vào sự nhận thức về vị trí và vai trò của pháp luật trong đời sống xã hội Thông qua việc giáo dục pháp luật , người dân được nâng cao nhận thức về vai trò và sự