Việt Nam là một quốc gia hiện có gần 80% dân số là nông dân vẫn sống chủ yếu bằng nghề nông nghiệp truyền thống, mang tính chất tự cấp, tự túc. Từ hiện trạng ấy tiến thẳng lên CNXH, bỏ qua chế độ TBCN, do đó, cũng có nghĩa là bỏ qua dân chủ tư sản, hiển nhiên đặt ra cho chúng ta nhiều khó khăn. Đối với những nước đã qua dân chủ tư sản, việc sống và làm việc theo pháp luật, đã trở thành tập quán, thói quen của người dân. Trái lại, ở nước ta, do chưa trải qua dân chủ tư sản, từ điểm xuất phát thấp về kinh tế xã hội, nhất là ở nông thôn, người nông dân với truyền thống phép vua thua lệ làng và những quan hệ dòng họ, xóm ngõ, nên chưa có thói quen sống và làm việc theo pháp luật.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một quốc gia hiện có gần 80% dân số là nông dân vẫnsống chủ yếu bằng nghề nông nghiệp truyền thống, mang tính chất tự cấp,
tự túc Từ hiện trạng ấy tiến thẳng lên CNXH, bỏ qua chế độ TBCN, do đó,cũng có nghĩa là bỏ qua dân chủ tư sản, hiển nhiên đặt ra cho chúng tanhiều khó khăn Đối với những nước đã qua dân chủ tư sản, việc sống vàlàm việc theo pháp luật, đã trở thành tập quán, thói quen của người dân.Trái lại, ở nước ta, do chưa trải qua dân chủ tư sản, từ điểm xuất phát thấp
về kinh tế xã hội, nhất là ở nông thôn, người nông dân với truyền thống
"phép vua thua lệ làng" và những quan hệ dòng họ, xóm ngõ, nên chưa cóthói quen sống và làm việc theo pháp luật
Tiến trình cách mạng XHCN, xây dựng CNXH, thực hiện côngcuộc đổi mới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,văn minh là quá trình đưa nông dân lên CNXH Bởi vậy, cùng với việcchăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho nông dân "chúng ta phải thayđổi triệt để những nếp sống thói quen, ý nghĩ và thành kiến có gốc rễ sâu xahàng ngàn năm" [84, tr 493] để xây dựng và nâng cao ý thức và năng lựcthực hành pháp luật cho họ Đây là một tất yếu khách quan và cũng là mộtyêu cầu cấp bách
Lệ làng vốn được xem là công cụ quản lý xã hội trong các làng xãtruyền thống Bên cạnh giá trị tích cực trong việc điều chỉnh mối quan hệ
xã hội trên quy mô nhỏ hẹp của làng xã, nhìn chung, lệ làng còn có nhiềuyếu tố ảnh hưởng tiêu cực tới việc hình thành YTPL ở người nông dân Đó
là những cản trở đáng kể cho việc thiết định trong thực tế nguyên tắc sống
và làm việc theo pháp luật, một chuẩn mực của xã hội dân chủ văn minh,hiện đại Do vậy, xây dựng YTPL cho nông dân, một mặt phải đẩy mạnh sự
Trang 2nghiệp xây dựng cơ sở vật chất của CNXH, tiếp tục xây dựng và hoàn thiệnnhà nước pháp quyền, mặt khác, cần phải phát huy những mặt tích cực, hạnchế mặt tiêu cực của lệ làng truyền thống Đại hội Đại biểu toàn quốc lầnthứ VIII Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: "Quan tâm giữ gìn vànâng cao bản sắc văn hóa dân tộc, kế thừa và phát huy truyền thống đạođức, tập quán tốt đẹp và lòng tự hào dân tộc" [24, tr 111], cũng là để đưanông dân lên CNXH, từng bước hình thành YTPL cho họ, nhằm xây dựngthành công CNXH ở nước ta.
Để giải quyết những vấn đề trên, đề tài "Lệ làng truyền thống với
việc hình thành ý thức pháp luật cho nông dân Việt Nam thời kỳ đổi mới"
là một đóng góp nhỏ vào sự nỗ lực chung đó
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Truyền thống, đất nước và con người Việt Nam được hình thành vàbảo lưu từ trong các làng xã cổ truyền Làng xã, vì thế, đã thu hút nhiều nhàkhoa học thuộc nhiều lĩnh vực của khoa học xã hội và nhân văn trong vàngoài nước quan tâm nghiên cứu
- Khảo sát một cách khá toàn diện xã hội nông thôn truyền thống có một
số công trình tiêu biểu: "Xã thôn Việt Nam" của GS Nguyễn Hồng Phong [102]; hai tập sách về "Nông thôn Việt Nam trong lịch sử" [125], [126], và hai tập
về "Nông dân và nông thôn Việt Nam thời cận đại" [127], [128] - những tập
sách trên đã tập trung các bài viết của các nhà sử học, dân tộc học
- Từ góc độ truyền thống và con người có "Giá trị tinh thần truyền thống dân tộc Việt Nam" của GS Trần Văn Giàu [33]; Đề tài KX-07-02
là công trình của nhiều nhà khoa học, được thể hiện ở hai tập sách do
GS Phan Huy Lê và PGS.TS Vũ Minh Giang chủ biên [48], [49]
- Từ góc độ tâm lý xã hội, phong tục tập quán, có tác phẩm "Tâm lý cộng đồng và di sản" của Đỗ Long và Trần Hiệp [61]; "Việt Nam phong tục" của Phan Kế Bính [6]
Trang 3- Từ góc độ di sản "luật pháp" làng xã có "Chúng ta kế thừa di sản nào" của GS Văn Tạo [108], các công trình của TS Bùi Xuân Đính "Lệ làng phép nước" [30], "Hương ước và quản lý làng xã" [29]; Lê Đức Tiết
"Về lệ làng Hương ước" [111] Nhà Việt Nam học Hàn Quốc, GS In Sun
Yu với "Luật và xã hội Việt Nam thế kỷ XVII - XVIII" [130] Các bài viết trong "Hội thảo vai trò của Hương ước trong việc xây dựng nông thôn mới
và quản lý nhà nước đối với hương ước" do Bộ Tư pháp và UBND tỉnh Hải
Hưng tổ chức ngày 26-27/12/1995
- Nhiều bài viết về dân chủ, con người của PGS.TS Hoàng Chí Bảo,GS.TS Nguyễn Trọng Chuẩn, PGS.TS Dương Xuân Ngọc, PGS.TS TrầnQuang Nhiếp đã được đăng trên các tạp chí: Cộng sản, Triết học, Nhànước và Pháp luật, Thông tin lý luận, Nghiên cứu lý luận
Số lượng lớn công trình về nông thôn, làng xã, dân chủ và pháp luậtphản ánh sự quan tâm của các nhà khoa học, của xã hội đối với vấn đề mà
đề tài hướng tới Những thành tựu đạt được là tiền đề quan trọng gợi mởcho việc tiếp tục nghiên cứu về nông thôn và người nông dân ở các góc độkhác nhau
Tuy vậy, việc nghiên cứu ảnh hưởng của lệ làng - di sản của làng xãtruyền thống - đến việc hình thành YTPL cho người nông dân vẫn chưa cómột công trình nào mang tính chuyên khảo từ góc độ triết học - xã hội Sựthiếu vắng những công trình về lĩnh vực này càng khẳng định tính cấp báchcủa đề tài
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận án
Mục đích của luận án:
Trên cơ sở làm rõ quan hệ lệ làng và luật nước trong xã hội ViệtNam cổ truyền và ảnh hưởng của lệ làng truyền thống với việc hình thànhYTPL của người nông dân, luận án nêu ra một số giải pháp nhằm phát huy những nhân tố tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của lệ làng truyền thống
Trang 4trong quá trình xây dựng, nâng cao YTPL cho nông dân nước ta thời kỳ đổi mới.
Nhiệm vụ của luận án:
- Làm rõ quá trình hình thành và mối quan hệ giữa lệ làng và luậtnước trong quá trình lịch sử
- Làm rõ nét đặc thù của lệ làng trong thời kỳ đổi mới và ảnh hưởngcủa nó đối với việc hình thành YTPL cho nông dân nước ta hiện nay
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu để phát huy nhân tố tích cực,hạn chế mặt tiêu cực của lệ làng truyền thống trong quá trình xây dựng,nâng cao YTPL cho nông dân nước ta thời kỳ đổi mới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Nghiên cứu quan hệ của người
nông dân với lệ làng: ý thức sống và làm việc theo lệ làng của người nôngdân trong xã hội Việt Nam cổ truyền Quan hệ của người nông dân với luậtnước trong thời kỳ đổi mới, ý thức sống và làm việc theo pháp luật để từ đóđịnh hướng việc giáo dục YTPL cho người nông dân hiện nay
- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài giới hạn ở việc nghiên cứu nông dân
vùng đồng bằng Bắc Bộ, nơi làng xã truyền thống hình thành sớm, có kếtcấu xã hội bền chặt và cũng là nơi chịu ảnh hưởng sâu đậm của lệ làng
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
- Luận án dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh và những quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam đốivới nông dân, nông nghiệp và nông thôn trong các giai đoạn cách mạngnước ta
- Luận án sử dụng phương pháp duy vật lịch sử của triết học mácxít,
có chú ý đến những đặc thù của phương pháp CNXHKH, gắn lý luận vớithực tiễn chính trị xã hội Việt Nam để luận giải những vấn đề đặt ra Ngoài
Trang 5ra, luận án cũng sử dụng các phương pháp như lịch sử - lôgic; phân tíchtổng hợp, thống kê, điều tra xã hội học, so sánh, văn bản học
6 Những đóng góp mới về mặt khoa học của luận án
- Luận án khái quát từ góc độ chính trị - xã hội mối quan hệ giữa lệlàng truyền thống với luật nước trong lịch sử; Những nét đặc thù của lệlàng trong thời kỳ đổi mới; làm rõ nội hàm khái niệm YTPL của ngườinông dân Việt Nam và ảnh hưởng của lệ làng đối với quá trình hình thành
và nâng cao YTPL cho người nông dân
- Luận án nêu lên một số giải pháp góp phần xây dựng, nâng caoYTPL cho nông dân phù hợp với dân chủ hóa xã hội và xây dựng nhà nướcpháp quyền XHCN
7 Ý nghĩa thực tiễn của luận án
Kết quả nghiên cứu của luận án ở mức độ nhất định có thể sử dụnglàm tài liệu tham khảo, góp thêm cơ sở cho việc hoạch định chính sách củaĐảng và Nhà nước để phát huy nguồn lực lao động ở nông thôn vào sựnghiệp đổi mới đất nước
8 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụlục, luận án gồm 3 chương, 10 tiết
Trang 6Chương 1
LỆ LÀNG MỐI QUAN HỆ GIỮA LỆ LÀNG VÀ LUẬT NƯỚC
TRONG XÃ HỘI VIỆT NAM TRUYỀN THỐNG
1.1 LỆ LÀNG TRONG LÀNG XÃ CỔ TRUYỀN
1.1.1 Làng xã Việt Nam trong quá trình lịch sử
Tìm hiểu xã hội nông thôn Việt Nam, người ta thường bắt gặp các
từ làng, xã và thôn trong các văn bản giấy tờ và ngôn ngữ của người nông
dân Làng là một từ nôm, dùng để chỉ đơn vị tụ cư truyền thống của người
nông dân Việt Làng là cộng đồng dân cư, cộng đồng "lãnh thổ", cơ cấu tổ
chức, tâm lý, phong tục tập quán tín ngưỡng và "thổ ngữ" riêng Còn xã là
từ Hán - Việt chỉ đơn vị hành chính cơ sở của nhà nước phong kiến ở vùngnông thôn Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, trên vùng đồng bằng
và trung du Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, phần nhiều mỗi làng là một xã Do
vậy, người nông dân thường ghép hai từ này làm một: làng xã
Thôn cũng là một từ Hán - Việt, thường được dùng trong văn bản
giấy tờ hành chính, trong văn tế Một xã mà gồm nhiều làng thì các lànghọp thành xã ấy được gọi là thôn
Còn trong ngôn ngữ của người nông dân, mỗi người khi nói về quêhương, nơi mình sinh sống vẫn thường nói làng này, làng kia hơn là xã này,
thôn nọ Từ làng in đậm dấu ấn trong ý nghĩ tình cảm, ngôn ngữ thường
ngày của người nông dân hơn là xã, thôn
Làng xã Việt Nam thuộc loại hình công xã nông thôn kiểu Á châu
mà đặc trưng cơ bản nhất là lúc ban đầu, toàn bộ ruộng đất thuộc quyền sởhữu và quản lý của công xã Công xã có thể giành một phần ruộng đất càycấy chung để cung cấp sản phẩm cho những hoạt động cộng đồng, cònphần lớn ruộng đất được phân chia cho các gia đình thành viên sử dụng
Trang 7Mỗi làng "là sự kết hợp của các tiểu gia đình trong một khu vựcnhất định" [102, tr 12] Quan hệ láng giềng, sự gắn bó trên cùng một địabàn cư trú, sinh sống gần gũi, liên kết với nhau là đặc điểm chung của công
xã nông thôn Ph.Ăngghen đã từng nhận xét về đặc trưng của hình thái kinh
tế - xã hội này: "Lịch sử thời cổ của tất cả, hoặc hầu hết các dân tộc là: việcphân chia dân cư dựa trên các quan hệ thân thuộc, và chế độ sở hữu chung
về ruộng đất" [73, tr 469]
Cả hai đặc trưng trên đều tồn tại rõ rệt trong lịch sử hình thành của
các làng Việt Quan hệ thân thuộc được thể hiện trong những gia đình một
họ "định cư thành từng làng" Cho đến tận ngày nay những tên làng Đào Xá,
Lê Xá, Nguyễn Xá vẫn tồn tại mặc cho có sự hỗn cư của nhiều họ, nhưngquan hệ "dây mơ rễ má" vẫn còn tồn tại do quá trình chung sống và hônphối tạo nên Chính quan hệ mang tính huyết thống đó đã chi phối nhiềumặt trong sinh hoạt làng xã, tạo thành sợi dây ràng buộc quan hệ ứng xửcủa những người nông dân
Làng cũng là nơi cư trú của cư dân nông nghiệp, sản xuất lúa nước
gắn liền với thủ công nghiệp Ruộng đất công (đất) và thủy lợi (nước) đãliên kết cư dân thành làng xóm, tự nó đã mang tính chất "siêu ổn định".Tính chất này đã hóa thân thành tinh thần công xã, truyền thống đoàn kếtxóm làng trong cuộc đấu tranh chống lại ách nô dịch, đồng hóa của ngoạixâm Lịch sử Việt Nam đã chứng minh rằng người Việt có lúc mất nướcnhưng chưa bao giờ mất làng
Làng Việt tồn tại trên cơ sở sự kết hợp trực tiếp giữa nông nghiệp
và thủ công nghiệp Những di tích khảo cổ học thời kỳ đồ đồng: Đồng Đậu,
Gò Mun ở Vĩnh Lạc và Phong Châu Vĩnh Phú đã thấy sự tập hợp cư dânnhư những làng cổ Với truyền thuyết Thánh Gióng - người con trai làngGióng, người anh hùng phá giặc Ân - thì các làng của người Việt đã địnhhình trước thời Bắc thuộc
Trang 8Theo các nhà sử học cho đến thế kỷ XVIII trên đất nước ta đã cóđến gần 2 vạn làng được hình thành từ ba nguồn:
- Từ công xã nguyên thủy, loại làng này không phải là ít vì sự pháttriển của xã hội Việt Nam không tạo ra một giai đoạn phá vỡ hoàn toàn cáccông xã nguyên thủy, để rồi đến một lúc khác thành lập lại trên cơ sở một
xã hội mới
- Các làng xã khác hình thành trong xã hội có giai cấp theo nhiềucon đường: do một họ, nhiều họ, một điền trang của quan lại phong kiến(làng Mộ Trạch, làng Minh Luân, An Nội ) hoặc có nguồn gốc từ đồn điềncủa nhà nước (Quán La, Nhật Tảo )
- Làng do nhà nước chủ trì khai hoang lập nên [125, tr 66-67]
Do điều kiện tự nhiên đất đai màu mỡ, dân số chưa đông, ngườiViệt có thể khai khẩn bất cứ chỗ nào thuận tiện xung quanh đủ ruộng cấylúa và nơi cư trú là thành làng Cư trú thành làng là một đặc trưng kinh tế,chính trị, văn hóa của người Việt Là một đơn vị quần cư, mỗi làng đượcxác định bởi một không gian bằng những đường ranh giới giữa làng này vớilàng khác, giữa đất làng với đất không phải của làng Đất đai của làng tạonên bởi những ranh giới do các thế hệ người làng lập nên Nó vừa là củachung, của làng vừa là của riêng mỗi gia đình Ruộng đất đó dân làng càycấy nuôi sống mình và đóng góp một phần cho nhà nước Ngoài phần đấtcanh tác, mỗi làng thường giành một phần làm nơi cư trú thuận lợi cho hoạtđộng kinh tế, văn hóa, xã hội, giao thông và được gọi là làng Nơi cư trú
ấy của cộng đồng làng thường được bao bọc bởi lũy tre, trong đó được chiathành xóm ngõ Trong cái không gian bé nhỏ đó, có đường làng ngõ xóm
để mọi người dùng chung, có giếng làng để mọi người lấy nước sinh hoạt,
có đình làng vừa là nơi thờ thành hoàng, vừa là nơi hội họp Không giankinh tế - xã hội, văn hóa thiêng liêng ấy là yếu tố gắn kết mọi người chungmột làng
Trang 9Qua hàng ngàn năm, do điều kiện đặc thù của lịch sử quy định, làngViệt Nam tồn tại như những đơn vị độc lập tương đối Tính độc lập và khépkín được xác định bởi những lũy tre xanh bao bọc như những tường thànhngăn cách và bằng cả một hệ thống thiết chế, tập tục của từng làng Về mặtkinh tế, đó là những thể thức phân chia và sử dụng công điền, công thổ, sửdụng nguồn nước của làng Về mặt chính trị - xã hội mỗi làng đều cónhững quy ước quy định các vị trí đẳng cấp xã hội, cả quyền lợi và nghĩa
vụ, là sự tồn tại và thực hiện chức năng xã hội của các hội, các phườngđược thiết lập trong làng Về mặt văn hóa, đó là các hình thức hội hè, tậptục, lễ cưới, lễ tang, lễ khao vọng và gắn với văn hóa tôn giáo, là tín ngưỡngthành hoàng với "Lệnh làng nào làng ấy đánh, thánh làng nào làng ấy thờ"
Sự khác nhau giữa các làng đã hình thành nên cái mà các nhà nghiên cứuvăn hóa gọi là cái "Ta làng" - cơ sở của tính biệt lập khép kín của mỗi làng
Bên cạnh những khác biệt trên, làng Việt nào cũng có đủ tất cả:ruộng công, ruộng tư, đình chùa, hội hè, đình đám, có phường hội, có chínhquyền quản lý và đó cũng là điểm giống nhau của tất cả các làng
Làng là đơn vị kinh tế tự túc, tự cấp, có thể thỏa mãn những nhu cầutối thiểu của con người: hầu hết các làng đều có một vài hộ làm nghề rèn,dăm ba hộ làm thợ mộc, thợ nề, một số hộ buôn bán tạp hóa ở chợ làng,một vài ông đồ dạy học, ông lang bốc thuốc "Làng có nông, làng cũng có
sĩ, công, thương" [125, tr 12] Sự giống nhau đó đảm bảo cho các làng cótính độc lập, tương đối ít phụ thuộc vào nhau Như C.Mác từng nhận xét:
Cái cơ cấu sản xuất đơn giản của các cộng đồng tự cung
tự cấp ấy, - những cộng đồng không ngừng được tái sản xuất radưới cùng một hình thức ấy và nếu ngẫu nhiên bị phá hủy thìcũng lại xuất hiện trên địa điểm cũ với một tên cũ - cái cơ cấu ấycho chúng ta cái chìa khóa để hiểu được sự bí ẩn của tính chấtbất di bất dịch của những xã hội châu Á, nó trái ngược một cách
Trang 10lạ thường với hiện tượng các nhà nước châu Á không ngừng bịphá hủy rồi lại được lập lại, với những sự biến đổi không ngừngcủa các triều vua Kết cấu của các yếu tố kinh tế cơ bản của xãhội vẫn không bị những cơn dông tố của lĩnh vực chính trị đầymây ảnh hưởng tới [75, tr 520-521].
C Mác còn chú thích thêm:
Dưới hình thức đơn giản ấy những người dân các nước
đó đã sống từ thời thượng cổ đến nay Ranh giới giữa các làngmạc ít khi bị thay đổi Và mặc dù bản thân những làng mạc đóđôi khi bị thiệt hại, hay thậm chí còn bị tàn phá vì chiến tranh,nạn đói, bệnh dịch, nhưng cũng cái tên ấy, những ranh giới ấy,với những lợi ích ấy, thậm chí với cả gia tộc ấy vẫn cứ tiếp tụctồn tại hàng thế kỷ Sự sụp đổ hay sự phân biệt của các vươngquốc chẳng hề làm cho họ lo lắng; trong khi làng xóm vẫn cònnguyên vẹn, thì dù nó nằm dưới quyền lực của ai hay đượcchuyển cho một ông vua nào, điều đó đối với họ cũng khôngquan trọng lắm, nền kinh tế nội bộ của họ vẫn không thay đổi[75, tr 520]
Chính cái cơ cấu kinh tế - xã hội khép kín ấy, là cơ sở hình thành ýthức người nông dân làng xã Việt Nam, ý thức cộng đồng - cái cá nhân dườngnhư bị tan ra, bị hòa vào cộng đồng Lợi ích cá nhân nằm trong lợi ích cộngđồng, danh dự của người nông dân gắn với danh dự của làng xã - họ khôngchỉ sống cho mình mà sống cho làng xã Người nông dân chấp nhận nhữngquy tắc ứng xử, nếp sinh hoạt, quan hệ cộng đồng làng xã như một lẽ tự nhiên.Quan hệ làng xã ấy, vừa có mặt trì trệ bảo thủ của nó, nhưng chính nó lại lànơi thể hiện khá rõ quyền lợi và nghĩa vụ của người nông dân mà nhiều nhànghiên cứu gọi là "dân chủ làng xã" Quan hệ ấy cũng là những bức tường
Trang 11thành kiên cố vững chắc nhất bảo tồn văn hóa làng, cũng là bản sắc văn hóadân tộc đã chiến thắng mọi yếu tố tiêu cực của luồng văn hóa từ bên ngoài.
1.1.2 Sự hình thành "lệ làng" và những nội dung cơ bản của nó
Tập thể cư dân trong mỗi cộng đồng sinh sống lâu dài trong một địavực, có những mối liên hệ với nhau trong đời sống sản xuất và xã hội, trongcuộc đấu tranh thường nhật với thiên tai và địch họa, đều muốn xây dựngnhững mối quan hệ ổn định, hòa thuận, một lối sống có kỷ cương, trật tự.Nhu cầu ấy đòi hỏi phải có những quy ước, những thỏa thuận ràng buộcnghĩa vụ và trách nhiệm giữa các thành viên trong cộng đồng, giữa cá thểvới cộng đồng làng xã
Những quy ước lúc đầu mang tính chất đạo đức răn dạy, những điềunên và không nên làm, được truyền miệng từ đời này sang đời khác, từngười này sang người khác Về sau với sự phát triển của làng, số lượng dân
cư ngày một tăng, đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội và các dạngquan hệ của nó ngày càng phức tạp, thì những quy ước cũng phát triển nhưmột đòi hỏi tất yếu, để điều tiết các mối quan hệ trong làng, để đảm bảotính ổn định của nó Những quy ước (mặc dù lúc đầu chỉ là truyền miệng -bất thành văn) có tính bắt buộc chung, mọi người dân trong làng phải tuântheo Đó cũng là một trong những biểu hiện tiêu biểu tính tự quản của mỗicộng đồng dân cư mỗi làng
Chế độ phong kiến ra đời, làng được coi là đơn vị hành chính cơ sở,nhà nước chỉ quản lý tới làng, còn làng trực tiếp quản lý tới từng ngườinông dân Nhà nước không biết đến mỗi người cụ thể mà chỉ biết đến làngcủa họ Làng là khâu trung gian nối liền nhà nước và từng cá nhân cụ thể.Trong thực tế, làng tồn tại như một thực thể tương đối biệt lập; giữa làngnày với làng khác không có mối liên hệ ràng buộc mà có sự cách biệt về
Trang 12ranh giới lãnh thổ, sự khác nhau về phong tục tập quán sinh hoạt, về quan
hệ xã hội Cho nên, mỗi làng đều có quy ước riêng để các thành viên của
mình thực hiện được gọi là "lệ làng"
Theo Từ điển tiếng Việt:
Lệ: Lề lối, phép tắc đã đặt ra, lệ làng: tục lệ ở làng [46, tr 912]
Lệ có nguồn gốc Hán Việt : bao gồm : người chỉ những việc liênquan đến con người và : liệt nêu ra, bày đặt ra, sắp đặt ra
Lệ: là những sắp đặt, bày đặt ra mà người ta phải tuân theo
Lệ làng là toàn bộ những quy định, lề lối, phép tắc, những phong
tục tập quán được hình thành trong các hoạt động của dân làng trên các lĩnhvực chính trị, kinh tế, xã hội văn hóa tín ngưỡng của từng làng Lệ làng quyđịnh điều chỉnh hành vi, ứng xử của con người trong các hoạt động đó
Trước Cách mạng Tháng Tám, ở các làng xã người Việt đều cónhững lệ làng thành văn với những tên gọi riêng tùy theo cách ghi chép củangười soạn thảo: Hương ước, Hương biên, Khoán ước, Hương khoán,Hương lệ, Điều lệ v.v Nhưng dù gọi tên gì chăng nữa thì những văn bản
đó đều bao gồm những quy ước liên quan đến các lĩnh vực đời sống củatừng làng, từng cộng đồng dân cư, mà người ta quen gọi bằng tên phổ biến
nhất - Hương ước.
Quá trình phát triển của làng xã làm cho cư dân đông đúc dần, cácmối quan hệ và thiết chế xã hội lần lượt ra đời và tăng lên để quản lý cácmặt, các lĩnh vực của đời sống Đó là tiền đề để làm phong phú các quyước nhằm đáp ứng được yêu cầu điều chỉnh các mối quan hệ trong cộngđồng Các hình thức tổ chức, các mối quan hệ xã hội giữa các cá nhân, các
tổ chức trong làng cũng như quan hệ giữa làng xã với nhà nước phong kiếnngày càng phức tạp Những tục lệ tập quán trong làng cũng phức tạp thêmlên Để duy trì các mối quan hệ đó, giữ "thăng bằng" cho làng xã, những
Trang 13quy ước truyền miệng phải được điều chỉnh bổ sung cho phù hợp, mặt kháccũng không ai có thể nhớ nổi những quy ước ngày càng phức tạp đó Đểcho cộng đồng có thể thống nhất với nhau trong khi vận dụng những điều
về các quy tắc ứng xử, quyền lợi và nghĩa vụ của cá nhân đối với cộngđồng và ngược lại Do vậy, việc văn bản hóa những tục lệ, tập quán là sựđòi hỏi khách quan của quá trình phát triển các mối quan hệ cộng đồng
Hương ước ra đời vừa là kết quả, vừa là yêu cầu của quá trình phát triển nội tại của đời sống làng xã Nó kế tục và hoàn chỉnh những quy ước trước
đó của mỗi nhóm dân cư, của các hình thức cộng đồng người trong mỗilàng xã
Yêu cầu điều chỉnh các mối quan hệ xã hội trong từng làng mớichỉ là điều kiện cần cho sự xuất hiện lệ làng - hương ước Bất cứ cộngđồng người nào để có những bộ luật hay tập quán viết thành văn ngoàiviệc phải có một cơ cấu tổ chức xã hội hoàn chỉnh còn phải có nhữngđiều kiện khác Đó là văn tự (chữ viết) và cùng với nó là một tầng lớp tríthức có đủ trình độ để soạn thảo văn bản Mặt khác, đối với những nhómdân cư nhỏ của một quốc gia thì "bộ luật" của họ muốn ra đời và tồn tại cònphải chịu sự kiểm soát của bộ máy nhà nước bao trùm lên trên nó, nghĩa là,mỗi đơn vị tụ cư ấy phải trở thành đơn vị, trở thành một cấp hành chính củanhà nước
Như vậy, trải qua quá trình phát triển lịch sử, do yêu cầu quản lý xãhội các "bộ luật" hay các bản hương ước của các làng xã người Việt ra đờitrong những điều kiện:
- Chữ viết (chữ Hán) phải trở thành thứ văn tự phổ biến, được sửdụng trong giấy tờ sổ sách để giải quyết, ghi chép các công việc, các mốiquan hệ trong đời sống hàng ngày của làng xã Cùng với chữ viết còn cómột tầng lớp trí thức (nho sĩ) trực tiếp sử dụng thứ văn tự đó
Trang 14- Sự tác động của nhà nước phong kiến đối với làng xã để hướngcác làng xã đi vào quỹ đạo của nó Nhà nước phong kiến thông qua lệ làng
để buộc các làng xã, các đơn vị tụ cư của người nông dân ấy phải khuôntheo hình mẫu của nó Muốn làm được việc đó phải văn bản hóa các tục lệ,các quy ước của làng xã
Theo các nhà dân tộc học, từ cuối thời Trần trở đi trong mỗi làngViệt đã có những điều kiện để những bản lệ làng thành văn ra đời Nhữngđiều kiện đó là:
- Cơ cấu tổ chức hoàn chỉnh, các phong tục, tập quán, các tục lệngày càng phức tạp
- Nhà nước phong kiến ngày càng can thiệp vào làng xã, biến nóthành đơn vị hành chính cơ sở, tuy vậy mỗi làng còn giữ được tính "tự trị"thể hiện ở một số tập tục truyền thống
- Trong mỗi làng đã xuất hiện một tầng lớp nho sĩ có thể đại diệncho làng soạn thảo các sổ sách giấy tờ trong đó có bản lệ làng thành văn -Hương ước [30]
Khẳng định điều đó nhằm tìm ra một niên đại tương đối về sự xuấthiện của các văn bản lệ làng Số lượng các bản hương khoán ước có niênđại cụ thể hiện nay còn lại khá nhiều chỉ tính riêng hai thư viện: Việnnghiên cứu Hán Nôm và Viện Thông tin khoa học xã hội đã có tới 5.456bản [29, tr 16] đó là chưa kể số còn lại nằm rải rác ở các thư viện trungương, thư viện địa phương, trong các làng, và trong tay các nhà nghiên cứu.Những bản hương ước có niên đại sớm nhất còn lại đến ngày nay là bộQuỳnh Đôi sự tích cổ kim Hương biên gồm ba văn bản ra đời vào gần giữathế kỷ XVII Hương ước làng Mộ Trạch, huyện Đường An, phủ ThượngHồng (nay là huyện Cẩm Bình - Hải Dương) ra đời năm 1665 sau đóđược sửa chữa bổ sung tới 16 lần từ 30 điều ban đầu lên 82 điều ở bản cuối
Trang 15cùng [108, tr 107] Ngoài ra còn khá nhiều các bản hương ước có niên đại
từ nửa sau thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XX Điều đó chứng tỏ từ thế kỷXVII trở đi, lệ làng được "văn bản hóa" đã trở thành rất phổ biến trongsinh hoạt làng xã Song, chưa hẳn những văn bản lệ làng hiện nay còn lại
đã là những văn bản có niên đại sớm nhất mà có thể từ thời Lê Thánh Tông
đã xuất hiện và tồn tại của các văn bản lệ làng Bằng chứng là dưới triều
Lê Thánh Tông (1460 -1497) trong hàng loạt các đạo dụ được tập hợptrong "Hồng Đức Thiện chính thư" có một điều luật gồm 5 điều mà nộidung rõ ràng nhằm mục đích hạn chế các làng xã lập hương ước - khoánước [39, tr 54-55]
Đạo dụ của Lê Thánh Tông cũng chứng tỏ ngay cả khi có luật nước,
lệ làng vẫn còn tồn tại để điều chỉnh các mối quan hệ làng xã Sức sống củatruyền thống công xã cùng sự phong phú và phức tạp của đời sống làngmạc càng làm cho lệ làng - hương khoán ước cần được duy trì, tồn tại Lệlàng đã được nhà nước phong kiến - mặc dù có khi ngăn cản nó - chấpnhận, công nhận, lợi dụng nó, để phục vụ cho lợi ích của mình Tình hình
đó tạo điều kiện thuận lợi để từ thế kỷ XVII trở đi là thời kỳ phát triển nhấtcủa các hương - khoán ước: hầu hết các làng ở Bắc và Bắc Trung Bộ đềuthảo ra các bản lệ làng thành văn của mình và chúng được nhà nước phongkiến thừa nhận như những văn bản pháp lý
Từ khi xâm lược và đặt ách thống trị lên đất nước ta, để nắm chặtcác làng xã, củng cố chế độ thuộc địa, thực dân Pháp đưa ra cái gọi là "Cảilương hương chính" vào các năm 1921, 1927 và 1941 Theo đó, các bảnhương ước do thực dân Pháp buộc các làng soạn thảo theo mẫu thống nhất
đã thay thế các bản hương ước trước đây do từng làng soạn thảo
Những điều trình bày ở trên cho thấy, lệ làng ra đời, tồn tại như mộtyêu cầu khách quan để làng xã tự quản lý và cũng thông qua đó, cùng với
Trang 16luật của nhà nước trở thành công cụ để nhà nước quản lý các làng xã, quản
lý người nông dân đảm bảo sự ổn định để duy trì sự thống trị của nhà nước
Là những "bộ luật" của làng xã, tùy theo cách ghi chép của từnglàng mà lệ làng tồn tại dưới các tên khác nhau, hương khoán, điều ước,điều lệ, khoán lệ, tục lệ và tùy điều kiện cụ thể của từng làng mà mỗi bảnhương ước gồm nhiều hay ít các điều khoản Tỷ lệ các điều khoản của từngvấn đề và sự sắp xếp chúng cũng theo những trình tự khác nhau, tùy theođặc điểm của mỗi làng mà có những tập tục quy ước riêng Nhưng nhìnchung, các điều khoản trong hương ước khá đa dạng phong phú, phản ánhkhá sinh động các mặt hoạt động của đời sống sinh hoạt làng xã theo mộtkhuôn phép mà không một luật nước nào có thể bao quát hết được Nếuđem chắt lọc những khác biệt của từng làng ta thấy các bản hương ước đềuphản ánh những nội dung cơ bản dưới đây:
Nội dung thứ nhất, hương ước khẳng định ranh giới lãnh thổ của làng và cơ cấu tổ chức, quan hệ trong làng xã
Mỗi làng có một địa vực riêng, được hình thành do những dòng họhay tập đoàn người đầu tiên đến khai phá và mở rộng theo thời gian nhờcông sức của nhiều thế hệ Hương ước của một số làng đã ghi lại quá trìnhkhai hoang lập nên làng xóm Chủ quyền của làng, được khẳng định quađiều khoản của hương ước: ranh giới của làng giáp đâu ? Xác định bởi mốcgiới nào? Diện tích công tư điền thổ bao nhiêu? Hương ước cũng quy định,các thành viên trong làng có nghĩa vụ bảo vệ "lãnh thổ" của làng, chống lại
sự xâm phạm của người làng khác, cũng như phải tuân thủ nghiêm ngặt vềviệc sử dụng các bộ phận lãnh thổ của làng Chính cái giới hạn lãnh thổ củamỗi làng đã làm nên cái "ta làng" cái văn hóa làng Người nông dân ý thức
về quyền sở hữu "tập thể làng" cái ý thức "co cụm để đề kháng" để bảo vệlàng và rộng hơn là bảo vệ bản sắc dân tộc Do vậy, "làng và văn hóa làng
Trang 17từng là cái nôi, lá chắn, đã sáng tạo giữ gìn và che chở những giá trị tinh thầnchống lại các âm mưu đồng hóa về văn hóa của bên ngoài" [60, tr 46].
Mặc dù sắp xếp trước sau có thể có sự khác nhau, song một trongnhững mục mà các bản hương ước đều đề cập tới đó là mục chính trị, trong
đó nội dung chủ yếu liên quan đến thiết chế chính trị, cơ cấu tổ chức và các quan hệ xã hội trong làng
Quan hệ tổ chức - xã hội ở làng xã khá chặt chẽ, được thể hiện ởcác điều mục trong hương ước quy định bộ máy tổ chức, phân định trật tựđẳng cấp trong bộ máy, trong cư dân làng xã Lệ làng gồm những quy ước
đề cập tới các tổ chức trong làng, chức năng quyền hạn của các tổ chức vànhững thành viên của nó: Hội đồng kỳ mục, xóm ngõ, phường hội, phe,giáp, dòng họ
Hội đồng kỳ mục là bộ máy quản lý làng xã truyền thống, về danhnghĩa, đây là cơ quan có toàn quyền quyết định các công việc quan trọngtrong làng Phân bổ thuế khóa, sưu dịch, phân chia công điền, xây dựng tu
bổ đình chùa, tổ chức hội hè, đình đám v.v
Hội đồng lý dịch đại diện cho bộ máy nhà nước phong kiến ở làng,đứng đầu bộ máy này là lý trưởng, phó lý do dân làng bầu ra và phải đượcnhà nước phong kiến công nhận, vừa đại diện cho làng vừa đại diện chonhà nước Những con người của bộ máy lý dịch vừa là người "nhà nước"vừa là người "làng ta", "họ ta" Cái quan hệ theo "lý" của nhà nước vừa cócái "tình" của làng đã chi phối quan hệ xã hội ở nông thôn Đi kèm vớinhững điều khoản phân định trật tự xã hội, hương ước còn quy định chứcnăng, quyền hạn, quyền lợi và nghĩa vụ của các thang bậc xã hội trong sinhhoạt của làng Những quy định cụ thể tùy theo đặc điểm của từng làng,nhưng xu hướng chung là những người ở thang bậc cao thì thường đượctrọng vọng và được hưởng quyền lợi nhiều hơn Tất cả được quy định theomột trật tự nghiêm ngặt, vi phạm trật tự đó có nghĩa là xâm phạm tới lợi
Trang 18ích, tinh thần của người khác, sẽ bị làng bắt vạ, bị người làng tẩy chay vàkhông ít trường hợp đã dẫn tới kiện cáo Người nông dân cũng ý thức được
có thể nộp bằng tiền, cũng có thể bằng hiện vật tùy theo từng làng quyđịnh Việc ma chay cũng được quy định chặt chẽ, tỉ mỉ trong các bảnhương ước, như những điều luật của làng
Quan hệ xã hội của người dân trong làng được quy định bởinhững quy ước về việc cư xử giữa người với người trong làng xã Nhữngđiều khoản này chiếm một số lượng tương đối trong hương ước Nộidung chủ yếu trong những điều khoản đó đề cao tinh thần đoàn kết đùmbọc làng xóm, giữ gìn những quan hệ tốt đẹp, khuyến khích dân làng ăn
ở hòa thuận giúp đỡ nhau trong đời sống hàng ngày Chẳng hạn, Điều 71hương ước làng Quỳnh Đôi quy định: Mọi người phải đến giúp ngườikhác lợp nhà, đưa ma mà không cần lời mời, khi đưa ma thì tùy tang chủkính biếu mà không được đòi hỏi Điều 83 lại ghi: Ai gặp người già màkhông giúp sức mang vác thì bị phạt Hoặc ở Điều 97: Gặp hoạn nạn,người trong làng phải giúp đỡ lẫn nhau, nếu không khi trở về làng bịphạt 20 quan mới được ghi tên vào sổ làng (được công nhận lại là thànhviên của làng)
Trang 19Nhiều bản hương ước còn có những điều khoản quy định nhằm hạnchế hiện tượng kéo bè cánh, cậy quyền ỷ thế trong việc giải quyết các côngviệc của làng, như hương ước làng Dương Liễu (Hoài Đức - Hà Tây) làngQuỳnh Đôi (Quỳnh Lưu - Nghệ An) v.v
Hương ước làng Dương Liễu viết: Ai ức hiếp dân chúng, yêu sáchtrong kỳ thu thuế, bắt phu, kẻ đó bị phạt 10 quan tiền và bị xóa bỏ ngôi thứ
ở đình Hoặc ở làng Quỳnh Đôi: Khi đi thu thuế, ai đòi hỏi yêu sách thêmthì đến khi người ấy chết làng không đến đưa ma Những quan hệ xã hộitrong làng xã đã được "luật hóa" trong lệ làng
Dòng họ là một hình thức tập hợp người trong làng theo quan hệ huyết thống Mỗi làng có thể có nhiều họ Các họ cư trú đan xen vào nhau
ở tất cả các xóm trong làng, nhưng ở nhiều làng, có những dòng họ cư trútrong một xóm hay một khu vực nhất định Tình cảm dòng họ nhiều khi trởthành một phương thức điều chỉnh hành vi của mỗi cá nhân Người trong
họ hàng thường quan tâm và biểu lộ tình cảm thái độ đối với cách ứng xửcủa các thành viên của dòng họ mình Vì thế, người ta có thể tự điều chỉnhhành vi của mình, đừng làm điều gì tổn hại đến thanh danh gây tai tiếngcho cả họ Quan hệ dòng họ của người nông dân ở nông thôn tác động khásâu sắc đến phương thức hoạt động của từng cá nhân
Làng xã đòi hỏi mỗi thành viên của mình trước hết phải biết kínhyêu cha mẹ, thương mến họ hàng Quan hệ huyết thống thân tộc có thểđược coi là quan hệ ưu tiên hàng đầu trong mối liên hệ gắn bó giữa người
và người trong xã hội làng xã: "đi làng, bênh họ", "giọt máu đào hơn aonước lã" Quan hệ đó trở thành "nguyên tắc" ứng xử hướng dẫn hành vi chocon người: "Anh em như thể chân tay", "máu chảy, ruột mềm", "gà cùngmột mẹ chớ hoài đá nhau" Mỗi hành vi tốt xấu của con người trước hếtliên quan đến gia tộc "con dại, cái mang" Nếu lấy con người làm tâm điểm
Trang 20xã hội, làng xã là không gian bao quanh thì gia tộc họ hàng là vòng tròngiáp ranh tâm điểm.
Quan hệ làng - xóm - họ - tộc tác động đến ý thức, chi phối từnghành vi, phương thức ứng xử của người nông dân Trong quan hệ của họ khithì "bán anh em xa mua láng giềng gần", khi thì "một giọt máu đào, hơn aonước lã" Người nông dân suy nghĩ và hành động không chỉ vì mình mà vì
"làng mình", "xóm mình" và "họ mình" Những yếu tố đó trước đây giaicấp thống trị đã lợi dụng để duy trì trật tự quản lý xã hội ở nông thôn
Bên cạnh quan hệ dòng họ, quan hệ xóm ngõ cũng không kém phần
quan trọng Quan hệ xóm ngõ là hình thức cộng đồng người theo lĩnh vực cưtrú Tùy đặc điểm từng làng mà ranh giới các xóm được phân định bởi mốcgiới khác nhau, trong xóm có ngõ, trong ngõ bao gồm các gia đình quần cưtheo truyền thống "tắt lửa tối đèn có nhau"
Trong sự vận hành của đời sống làng xã, mỗi thành viên bao giờcũng hiện diện đồng thời với hai tư cách: người con của họ hàng và ngườidân của làng xã Quan hệ đó khi thì "cửu đại hơn ngoại nhân", khi thì "bánanh em xa mua láng giềng gần" Dân làng xã lại được "lệ làng" phân thànhnhững cấp bậc khác nhau: Có dân "chính cư", dân "ngụ cư" Chỉ có dânchính cư mới được coi là dân của làng Tùy theo đẳng cấp, phẩm hàm chứctước, tài sản, tuổi tác, dân chính cư lại bị phân thành những cấp bậc khácnhau sau khi đã làm "lễ khao vọng" Vị trí xã hội của mỗi người trong hệthống đẳng cấp cũng được xác định rõ trong lệ làng
Nhìn chung, tục lệ của làng xã cổ truyền phản ánh "cấu trúc xã hộichính trị" của làng và những "chuẩn mực" điều chỉnh quan hệ của các cánhân trong cộng đồng làng
Nội dung thứ hai của hương ước là những quy ước bảo vệ an ninh làng xã
Trang 21Ý thức bảo vệ đời sống cộng đồng được thể hiện ở việc giữ gìn trị
an thôn xóm và gắn liền với việc tổ chức vũ trang bảo vệ làng xã Đây làvấn đề sống còn và thường xuyên của từng làng được quy định tỉ mỉ trongcác bản hương ước
Có làng tổ chức an ninh còn được xây dựng chặt chẽ thành mộthương ước riêng (không chung với các quy định, các mặt của đời sống xãhội khác) như "Kiêu Trì tam phiên khoán" [44] Điều quan trọng không chỉthể hiện ở tổ chức và lực lượng phòng vệ mà là ý thức phòng vệ của toàndân được quy định ở các bản hương ước Tuy mỗi làng có những quy địnhriêng về tổ chức vũ trang canh phòng, tuần tra nhưng chúng ta có thể thấy ở
những bản hương ước có những nét chung.
Trước hết, làng xã coi trọng việc lập các điếm canh, điếm tuầnphòng để phòng "thủy, hỏa, đạo, tặc" bảo vệ tính mạng, tài sản chung của
cả làng Vì thế hết thảy các tráng đinh trong làng (thường từ 18 đến 49 tuổi)đều phải tham gia và được tổ chức thành các đội dân binh của các xóm ngõgọi là tuần phiên hay hàng phiên (nhưng cũng có làng chỉ lấy những ngườivào phiên từ 20 đến 40 tuổi) Hương ước làng Phú Xuyên (Ba Vì - Hà Tây)Điều 26 ghi: "Trong làng đặt ra các ngõ như ngõ Trên, ngõ Hương, ngõĐình, ngõ Đồng Phải cắt cử những tráng đinh trong ngõ từ 20 đến 40tuổi, ngõ lớn cử 12 người, ngõ nhỏ cử 8 người làm tuần phiên để tuần thútrong ngõ Nếu bất cẩn để nhà nào mất trộm vật gì đáng từ một đồng trở lênthì tuần phiên phải đền" [41]
Chế độ tuần tra, canh gác của các đội tuần phiên tùy thuộc vào tậptục của từng làng, nhằm bảo vệ an ninh trật tự, tài sản chung của cả làng cũngnhư mỗi thành viên của làng Họ có trách nhiệm bảo vệ "nội hương ấp, ngoạiđồng điền", nếu để mất mát căn cứ vào giá trị phải bồi thường cho người bịmất Chẳng hạn làng Lộc Du (Thường Tín, Hà Tây) quy định phiên tuần
Trang 22canh gác không cẩn thận để kẻ gian vào ăn trộm mỗi con trâu bị mất phảibồi thường 30 quan, bò 20 quan Làng Kiêu Trì quy định nếu ban đêm xảy
ra mất trộm tuần phải đền mỗi con trâu 10 quan, bò 6 quan ở ngoài đồngmất từ 3 lượm lúa trở lên thì đền 3 lượm, mất 1 sào trở lên thì đền 3 gánh Hương ước các làng còn quy tội nặng hơn cho những tuần phiên lợi dụngviệc canh gác, tuần phòng để ăn trộm Ở làng Dương Liễu (Hoài Đức - HàTây) nếu phiên lợi dụng canh gác đi ăn trộm súc vật, hoa quả thì phạt 2 quan,hoặc trong lúc tuần phòng cố ý thả kẻ trộm sẽ bị "luận tội" và phạt 3 quan
Ở làng Đồng Lư phiên tuần lợi dụng lúc làm nhiệm vụ để ăn trộm thì bịphạt gấp đôi kẻ trộm bình thường, nặng thì giải trình quan trên Phiên mởcổng làng cho kẻ gian vào làng phải đền những của cải bị mất phạt 10 quan(tiềnn năm 1829) nhẹ đánh 30 roi và đuổi về, nặng thì trình quan xét xử
Chế độ thù lao cho tuần phiên được trích từ quỹ công của làng,nhưng thường được trực tiếp thu từ hoa màu gọi là "sương túc" hay "lúabờ" Hương ước làng Phú Xuyên ghi cho lấy bờ các hoa màu 10 phần lấymột, ngoài bãi 20 phần lấy một Ở trong làng được thu theo ngõ xóm, mỗinóc nhà một hào, trâu hai hào, bò một hào, lợn 5 xu Ngoài ra còn đượchưởng một số quyền lợi khác mỗi khi làng có việc làng hay các gia đìnhthành viên của làng có tang lễ, cưới xin
Trách nhiệm bảo vệ an ninh làng xã không chỉ do các tuần phiênđảm nhiệm mà còn là của cả làng Hương ước làng Miêu Nha (Hải Phòng)ghi rõ: hễ trong làng bất thần nghe thấy tù và, trống đánh cáo cấp thì tất cảthượng hạ không cứ sang hèn giàu nghèo tuổi từ 18 đến 60 đều phải cầmlao, gậy chạy đến nơi tiếp cứu Tương tự ở làng Quỳnh Đôi quy định: aikhông đến thì bị phạt một con trâu để nghiêm phép làng, ở làng Mộ Trạch(Hải Dương) phạt một con lợn Ở làng La Nội và Ỷ La (Hoài Đức - HàTây) quy định: các tráng đinh không tham gia đuổi cướp bị phạt 1 quan tiền
Trang 23cổ Nhiều làng còn quy trách nhiệm liên đới cho tất cả các thành viên tronglàng đối với việc bảo vệ an ninh làng xã lúc bình thường cũng như khi cóđộng Ngoài ra, để quản lý chặt chẽ hơn hương ước còn quy định các giađình phải trình báo khi có khách lạ trú ngụ qua đêm nếu không trình báokhi phát hiện, chủ nhà sẽ bị phạt (Hương ước làng Kiêu Trì).
Chế độ khen thưởng đối với người có công trong việc bảo vệ anninh làng xã cũng được đề cập trong các bản hương ước Làng Yên Sở quyđịnh: ai bắt được một tên cướp được thưởng 100 quan tiền, ai giết đượcmột tên cướp được thưởng 60 quan, bắt một tên ăn cắp thưởng 15 quan.Trong việc tham gia chống trộm cướp hoặc cứu hỏa hoạn chẳng may bịthương hoặc chết được làng xã quan tâm Làng Mộ Trạch (Hải Dương): ai
bị thương cấp 50 quan, bị chết cấp 100 quan (tiền 1728) và cho người conđược miễn phu dịch cả đời Làng Phú Xuyên (Ba Vì - Hà Tây) "người đếncứu giúp hỏa hoạn mà bị bỏng hoặc què thì hội đồng trích tiền quỹ chi chouống thuốc, người tham gia bắt trộm cướp nếu bắt được trộm cướp đượcthưởng 10 đồng bạc, nếu ai bị cướp đánh lại bị thương được cho 10 đồngbạc uống thuốc, nếu bị chết được 30 đồng tống táng và xin cho con cháumột chức khán thủ Những biện pháp khen thưởng thích đáng đó một mặtphản ánh tính cộng đồng làng xã, mặt khác giúp cho các làng xã chủ độngtrong việc bảo vệ trật tự trị an của mình
Nội dung thứ ba của hương ước là những quy ước liên quan đến sản xuất và bảo vệ môi trường.
Như chúng ta đã biết, đối với một nền kinh tế tiểu nông, người nôngdân "kiếm tư liệu sinh hoạt cho mình bằng cách trao đổi với thiên nhiênnhiều hơn là giao tiếp với xã hội" [69, tr 264] Quy trình sản xuất diễn ramột thời gian dài, kết quả của nó phụ thuộc phần lớn vào thiên nhiên.Trong quá trình sản xuất người nông dân một mặt phải "trông trời, trôngđất, trông mây, trông mưa, trông nắng, trông ngày, trông đêm" cầu cho
Trang 24"mưa nắng phải thì" mặt khác vừa phải tìm cách đối phó với thiên nhiên đểtồn tại
Với một nền nông nghiệp trồng lúa nước, thủy lợi luôn đặt lên hàngđầu Không chỉ đối với nhà nước phải có hẳn một bộ "công trình côngcộng" [70, tr 172] mà thủy lợi đã trở thành một hoạt động cộng đồng mangtính phổ biến ở hầu hết các làng xã Việt Nam Đối với người nông dântrồng lúa nước thì nước là yếu tố thứ nhất rồi mới đến đất, công việc thủylợi phải được thực hiện thường xuyên Việc đắp đê, hộ đê, sửa chữa bồi đắpchỗ sạt lở, đào sông, đào kênh, khơi ngòi khơi lạch trở thành công việcmang tính truyền thống của các làng xã Hương ước nhiều làng quy địnhchặt chẽ việc sử dụng nước Chẳng hạn, trong "Vĩnh Lại khoán lệ" quyđịnh "Việc giữ nước hoặc mở nước với nhà nông rất là quan hệ Nếu ruộngnhà nào bị hạn, bị ngập người chủ ruộng làm đơn trình cho thôn, xã trưởngxem, nếu đúng sự thật chỉ sẽ cho làm, nếu người nào tự ý giữ nước lại hoặc
mở nước ra để đến nỗi có hại cho việc nhà nông thì sẽ bị phạt lợn và ruộngtrị giá một quan, 2 mạch tiền" hoặc hương ước làng Phú Xuyên (Ba Vì - HàTây): Phiên tuần phải trông nom việc giữ nước, khi nào nên tháo nước thờiphải hỏi ý kiến hội đồng, không được tự tiện làm ngay, người nào tháonước, chắn cá làm cho ruộng lúa mất nước phải bị phạt
Ngoài việc bảo vệ nguồn nước, hương ước các làng còn có nhữngđiều khoản quy định việc bảo vệ hoa màu: không được tự ý thả trâu bò, gàvịt ra đồng khi lúa đã cấy xong, không được lội vào ruộng lúa bắt cá tôm Với nền nông nghiệp phong kiến kỹ thuật canh tác lạc hậu, công cụ thô sơ,những công trình công cộng - đê điều và hệ thống thủy lợi cần có sự chăm
lo bảo vệ của cả cộng đồng Người nông dân phải biết và dám hy sinh cảlợi ích riêng, tài sản và sở hữu của chính mình để bảo vệ lợi ích cộng đồngmột khi lợi ích đó bị đe dọa Nếu cộng đồng cần thì mỗi người nông dânphải tự nguyện, tự giác hy sinh thời gian, sức lực, nhà cửa cây trái sắp đến
Trang 25ngày thu hoạch để bảo vệ lợi ích chung Cơ sở vật chất và tinh thần tựnguyện đó chính là mối liên hệ tất yếu giữa lợi ích cá nhân gia đình với lợiích cộng đồng làng xã "nước lụt thì lút cả làng" Nước dâng đê vỡ cả làngngập lụt thì nhà cửa ruộng vườn của mỗi người không thể không bị ngậplụt Cả làng mất mùa thì mỗi nhà không thể không mất mùa Thực tiễn củacông cuộc trị thủy - thủy lợi đã đặt lợi ích cá nhân, gia đình, dòng họ tronglợi ích cộng đồng làng xã Ở mặt này nó còn góp phần thúc đẩy sự pháttriển tinh thần, ý thức cộng đồng ra ngoài khuôn khổ làng xã nhỏ sang cộngđồng tập thể rộng lớn hơn.
Hương ước khuyến khích tất cả mọi người tận dụng đất đai, chămchỉ cày cấy Nếu gia đình nào để đất hoang hoặc để gia súc, gia cầm pháhoại mùa màng đều phải phạt nặng, nhẹ tùy mức độ vi phạm Với mục đíchbảo đảm và phát triển sản xuất, các bản hương ước khuyên mọi người khaikhẩn đất hoang, phục hóa giữ gìn bảo vệ nguồn nước, đồng thời trừng trịnhững ai cố tình vi phạm những quy định của làng
Lệ làng phản ánh ý thức cộng đồng trong việc bảo vệ môi trường sốngcủa làng Những công trình công cộng được chăm lo tu sửa Nhất là nhữngcông trình thể hiện bộ mặt của làng: đường làng, giếng nước, ngôi đình
Đường làng để cả làng đi lại, mọi người đều phải có ý thức giữ gìntôn tạo Hương ước của nhiều làng quy định không được tự ý thả trâu bò,lợn để phóng uế ra đường, không xẻ rãnh, tháo nước qua đường Hươngước quy định và khuyến khích phát triển giao thông: trai gái xây dựng giađình, những người đỗ đạt, khao danh vọng phải nộp gạch để lát đường đãgóp phần tạo nên bộ mặt làng xóm phong quang sạch đẹp
Nội dung thứ tư: Những quy ước về văn hóa giáo dục, tín ngưỡng
và phong tục tập quán của làng
Trang 26Mỗi làng Việt là một cơ cấu kinh tế khép kín mang tính "nửa tự trị".Nét khác biệt giữa các làng được đặc trưng bởi những nét văn hóa riêng,các tục hèm, lệ thờ thành hoàng: mỗi làng tôn một vị thần làm "thànhhoàng" được thờ ở đình, đình được xây dựng ở nơi tốt nhất về phong thủy.Thành hoàng có thể là thiên thần, cũng có thể là nhân thần, cũng có thể làngười có công với làng, với nước nhưng cũng có thể là người mà dân làngcho là linh thiêng luôn che chở cho làng [6] Thần thành hoàng là vị thầnbảo trợ cho cả cộng đồng làng Cuộc sống của cộng đồng và số phận mỗithành viên trong làng có yên ổn hay ly loạn, thịnh hay suy đều phụ thuộcvào sự "bảo trợ" ấy.
Việc mỗi làng có riêng một vị thần của mình được cả cộng đồng tônkính thờ phụng phản ánh một thực tế là mỗi cộng đồng làng có quyền lợikinh tế, chính trị và những truyền thống văn hóa, lịch sử riêng, làm nên cáiriêng của mỗi làng - cái "ta làng" Cái riêng của mỗi làng trong quan hệ vớilàng khác vốn lại là cái chung của mỗi thành viên trong làng mà người dânlàng xã có trách nhiệm gìn giữ bảo vệ Người dân trong mỗi làng tin rằng
dù chỉ một thành viên trong làng vi phạm những quy tắc cấm kỵ của thầnthành hoàng thì không những người đó bị thần phạt mà toàn thể cộng đồngcũng bị trừng phạt Điều đó đã ràng buộc, gắn bó số phận của mỗi cá nhânvào cộng đồng, làm cho toàn thể cộng đồng đoàn kết gắn bó với nhau, nhắcnhở nhau thực hiện những quy ước nhằm bảo vệ những nơi mà họ cho là tônnghiêm của cả làng - bảo vệ "đời sống tâm linh" của làng xã [15, tr 60]
Gắn với tín ngưỡng thờ thành hoàng là các hoạt động lễ hội Lễ hộicủa mỗi làng mang một sắc thái văn hóa khác nhau, nhưng cốt lõi của nó là
sự "tái hiện lịch sử" Thông qua lễ hội và các hoạt động văn hóa khác cácthành viên trong làng biểu lộ sự hòa đồng cộng cảm với nhau Vì vậy, tất cảtrách nhiệm và nghĩa vụ mà làng đặt ra nhằm tiến hành các hoạt động tínngưỡng (tế lễ, tu sửa đình chùa) hay lễ hội đều được người nông dân tuân
Trang 27thủ một cách nghiêm túc không chỉ bằng ý thức mà bằng cả những hànhđộng thực tế Từ ý thức cao về trách nhiệm, họ tự giác tham gia vào cáccông việc chung của làng mà không tính toán thiệt hơn Hững hờ hay vôtrách nhiệm đối với các công việc chung của làng sẽ bị mọi người lên án Ýthức về trách nhiệm và bổn phận trước cộng đồng đã hình thành và ăn sâuvào tiềm thức của người nông dân được chấp nhận một cách tự nhiên vàtruyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Bên cạnh các quy ước trong các hoạt động tín ngưỡng lễ hội, nhiềulàng còn có các quy ước ngăn cấm tệ cờ bạc quy định rõ mức phạt tùy theomức độ nặng nhẹ [89]
Trong lĩnh vực giáo dục, hầu hết các làng xã đều có những quy ướckhuyến khích việc học tập Giành ruộng "học đường" để làm phần biếu chongười đỗ đạt, lấy hoa lợi để trả lương cho thầy và làm phần thưởng cho họctrò giỏi Lệ làng có những quy ước đón rước những người đỗ đạt cao vềlàng "vinh quy bái tổ", những quy ước không chỉ buộc học trò mà cả dânlàng phải tôn vinh người thầy Mặc dù chỉ là "thầy giáo làng" nhưng cũngđược làng giành cho vị trí xứng đáng trong các sinh hoạt làng xã, chỗ ngồitrong chốn đình chung
Hương ước nhiều làng quy định những gia đình khá giả hoặc đủ ănnếu có con đến tuổi mà không cho đi học thì người cha nếu có "vị thứ sẽ bịhuyền vị thứ" (hương ước làng Phú Xuyên - Ba Vì - Hà Tây) và làng Phù
Xá Đoài (Đông Anh - Hà Nội) đề ra lệ: Con trai con gái 5-6 tuổi phải chovào trường học, bằng không chỉ nuông con để "nghịch giặc" chửi đánhnhau thì bố mẹ phải bị phạt [35]
Cùng với các quy ước đã được văn bản hóa còn có những quy ước
"bất thành văn" được truyền từ đời này sang đời khác được gọi là giáo dụcbình dân hay giáo dục truyền thống [127, tr 300-317] Hướng tới việc giáo
Trang 28dục nhân cách, duy trì bản sắc tốt đẹp nó hướng vào hai mối quan hệ thiêngliêng bền vững của người dân làng xã là quan hệ huyết thống và quan hệđịa vực Giáo dục truyền thống muốn rằng mỗi thành viên của làng phải làđứa con ngoan của gia đình họ tộc, là người tốt của làng xóm Giáo dụclàng xã giữ vai trò quan trọng, nếu không muốn nói là chủ yếu hình thànhnhững đức tính quý báu của con người Việt Nam: Yêu quê hương (làng xã)đất nước, tinh thần thương yêu đùm bọc lẫn nhau xung quanh mối quan hệ
họ hàng - làng nước
Điểm lại những nội dung trên cho thấy, lệ làng đề cập đến hầu hếtcác lĩnh vực của đời sống làng xã, các mặt hoạt động của con người Trongcác hoạt động đó, quan hệ của người nông dân làng xã truyền thống đượcquy về hai mối quan hệ cơ bản: người con của họ hàng và người dân củalàng xã Nếu như trong quan hệ họ hàng có các quy ước, các phép tắc đặt rađòi hỏi mỗi người phải có ý thức và nghĩa vụ thực hiện che chở đùm bọcnhau, trong quan hệ huyết thống, thì với xóm làng lại đòi hỏi mỗi thànhviên phải tuân thủ mọi quy ước nề nếp bảo vệ lợi ích tập thể của xóm làng
Để đảm bảo hiệu lực của lệ làng, làng xã dùng các biện pháp thưởng phạt theo "lệ" nhưng khá nghiêm ngặt nhất là "lệ" thành văn thể
hiện ở hương ước, khoán ước
Việc khen thưởng phổ biến các làng thường áp dụng là thưởng tiền
hay hiện vật, nhưng cũng có thể là tăng thêm ngôi vị, thứ bậc trong lànghoặc được giảm một số nghĩa vụ phải đóng góp tùy theo mức độ công trạng
mà người có công đã lập được đối với làng Ngoài việc khen thưởng, làng
xã còn có các khoản bồi thường cho những người bị thiệt hại trong khi làmnhiệm vụ, được trợ cấp thương tật hay tiền tuất
Trang 29Các hình thức xử phạt cũng rất đa dạng, từ việc tẩy chay "không
thèm ngồi", đến phạt tiền hoặc hiện vật, bị hạ vị ngôi thứ, thậm chí bị đuổikhỏi làng Đây là, một hình phạt cao nhất của làng xã đối với kẻ vi phạm
Ngoài việc trừng phạt, thực hiện một cách có tổ chức, làng xã còn
một tòa án vô hình nhưng hữu hiệu và công bằng đó là dư luận Dư luận
của làng xã không tha thứ một ai Qua gạn lọc, chỉnh lý của thời gian, dưluận đem lại cho người đương thời cũng như các thế hệ tiếp nối những tấmgương tốt đẹp và những hình mẫu xấu xa với những lời khen, chê xác đáng
mà người ta không thể đem tiền tài để mua chuộc, dùng quyền uy để áp đảo
dư luận Chính sức mạnh của dư luận xã hội làng xã đã góp phần khôngnhỏ vào điều chỉnh những hành vi ứng xử, khép mọi thành viên vào nhữngkhuôn khổ đạo đức truyền thống làng xã Những nội dung trên cho thấy lệlàng đề cập tới hầu hết các lĩnh vực của đời sống làng xã, nó vừa mang tínhđạo đức dăn dạy, khuyên bảo, vừa có tính chất luật làng, nó bao gồm tínhchất hành chính, tính chất hình sự, tính chất dân sự, và cơ chế đảm bảo choviệc thực hiện những quy định đó Chúng nhằm bảo vệ trật tự trị an, bảo vệđạo đức, phong hóa làng xã
Qua Hương ước, người dân trong làng xã được hưởng quyền lợi và
có nghĩa vụ đối với cộng đồng làng, họ tự giác chấp hành những quy định,những phép tắc mà làng đặt ra Trở thành "thói quen chấp hành" lệ làng ởngười nông dân làng xã
1.2 MỐI QUAN HỆ LỆ LÀNG - LUẬT NƯỚC TRONG XÃ HỘI VIỆT NAM TRUYỀN THỐNG
1.2.1 Nguồn gốc, bản chất của pháp luật
Pháp luật cũng như nhà nước là một hiện tượng lịch sử "là sản phẩmcủa một xã hội đã phát triển tới một giai đoạn nhất định" [74, tr 252] Đó
là khi xã hội xuất hiện chế độ tư hữu, có sự phân chia thành giai cấp và đấu
Trang 30tranh giai cấp với sự tồn tại của nhà nước và các quan hệ chính trị với
"những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa được" [53, tr 9] Như vậy,trong xã hội nguyên thủy chưa có nhà nước và vì vậy cũng chưa có phápluật, nhưng cũng cần phải có một trật tự nhất định để tồn tại và phát triển
Sự giao lưu trong sản xuất, phân phối, trao đổi sản phẩm và các hoạt độngtinh thần đòi hỏi mọi người phải tuân theo những chuẩn mực, những quy tắc
xử sự chung Quy tắc xử sự chung đó chính là các quy phạm xã hội baogồm: tập quán, các tín điều tôn giáo, các quy phạm đạo đức Các quy phạmnày mặc dù chưa phải là pháp luật nhưng nó phù hợp với lợi ích của cộngđồng được mọi thành viên trong cộng đồng thực hiện một cách tự nguyệntrong các hành vi ứng xử và trở thành thói quen chấp hành, trở thành ý thứccộng đồng
Khi chế độ tư hữu xuất hiện và xã hội có sự phân chia thành cácgiai cấp với những lợi ích đối lập nhau thì những chuẩn mực, những quytắc những tập quán thể hiện ý chí chung của cộng đồng trước đây khôngcòn phù hợp Trong điều kiện chế độ tư hữu, tầng lớp có địa vị xã hội và cócủa lợi dụng địa vị của mình tìm cách hướng mọi hành vi trong xã hội, giữlại những tập quán có lợi phù hợp với lợi ích riêng của họ nhằm mục đíchcủng cố và bảo vệ trật tự xã hội mong muốn Bằng sự thừa nhận của nhànước, một số các quy tắc, các tập quán tiếp tục trở thành những quy tắc xử
sự chung đó là các quy phạm pháp luật Đúng như nhận xét của các nhàsáng lập CNXHKH "Tập quán và truyền thống cuối cùng được thừa nhậnnhư pháp luật thành văn" hoặc "Quy tắc đó, thoạt tiên là thói quen, sauthành pháp luật" [72, tr 378]
Mặt khác, cùng với sự phát triển của xã hội, nhiều quan hệ mớicũng xuất hiện đa dạng và phức tạp đòi hỏi phải có những quy tắc xử sựmới để điều chỉnh Nhà nước với tính cách là tổ chức quyền lực của giaicấp thống trị đã tiến hành hoạt động xây dựng hệ thống các quy tắc mớinhằm điều chỉnh hành vi con người trong tất cả các lĩnh vực của đời sống
Trang 31xã hội- đó là những quy phạm pháp luật, là luật pháp "đứng bên trên nhữngtập quán đã trở thành luật lệ" [74, tr 166].
Như vậy, bằng sự thừa nhận hoặc ban hành của nhà nước, pháp luậttrở thành một hệ thống các quy tắc về hành vi của mọi tổ chức và cá nhântrong xã hội Những quy tắc đó phản ánh đời sống xã hội bằng ý chí củanhà nước, biểu hiện lợi ích của giai cấp thống trị và nhu cầu ổn định xã hội
Nó được đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế của quyền lực nhànước, trở thành công cụ đắc lực trong tay nhà nước để trở thành công cụthống trị giai cấp và bảo đảm trật tự và giữ "thăng bằng" xã hội
Cũng như nhà nước, pháp luật chỉ phát sinh, tồn tại và phát triểntrong xã hội có giai cấp Bản chất pháp luật thể hiện trước hết ở tính giaicấp của nó
Tính giai cấp của pháp luật biểu hiện thông qua nhà nước, tư tưởng
của giai cấp thống trị được thể chế hóa thành luật pháp Khi nghiên cứu xãhội tư bản, C Mác và Ph.Ăngghen đã nhận xét:
Chính những tư tưởng của các ông là sản phẩm củanhững quan hệ sản xuất và sở hữu tư sản, cũng như pháp quyềncủa các ông chỉ là ý chí của giai cấp các ông được đề lên thànhluật pháp, cái ý chí mà nội dung là do những điều kiện sinh hoạtvật chất của giai cấp các ông quyết định [66, tr 619]
Tính giai cấp của pháp luật còn thể hiện ở mục đích điều chỉnh cácquan hệ xã hội Trong xã hội có giai cấp, pháp luật tập trung điều chỉnhquan hệ giữa các giai cấp, tầng lớp xã hội, hướng các quan hệ xã hội pháttriển theo một trật tự phù hợp với ý chí của giai cấp thống trị Do đó, phápluật chính là công cụ để thực hiện sự thống trị giai cấp
Bên cạnh tính giai cấp, pháp luật còn mang tính xã hội Pháp luật do
nhà nước - đại diện chính thức cho toàn xã hội - ban hành Vì vậy, ở một
Trang 32chừng mực nào đó, pháp luật còn thể hiện ý chí và lợi ích của các giai cấp vàtầng lớp khác nhau trong xã hội Mặt khác với tính cách là những quy tắc xử
sự chung trong xã hội, pháp luật và thực trạng của hệ thống pháp luật còn làkết quả của quá trình "chọn lọc tự nhiên", bảo lưu, thừa kế những giá trị tốtđẹp của văn hóa và văn minh truyền thống Vì thế, người ta có thể tìm thấynhững quy định, những tư tưởng pháp lý giống nhau tồn tại ở những thời đạikhác nhau, những chế độ xã hội với những giai cấp thống trị khác nhau.Người ta chỉ có thể giải thích những hiện tượng đó bằng tính xã hội của phápluật
Như vậy, xét về bản chất pháp luật là một hiện tượng vừa mang tínhgiai cấp lại vừa thể hiện tính xã hội Hai thuộc tính này có mối quan hệ chặtchẽ với nhau trong một thể thống nhất Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử
do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị
và được bảo đảm thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước, là yếu
tố đảm bảo sự ổn định và trật tự xã hội
Là một hiện tượng xã hội, pháp luật không thể không có mối liên hệ với các hoạt động xã hội khác.
Thứ nhất là quan hệ giữa pháp luật và kinh tế Pháp luật là một yếu
tố của kiến trúc thượng tầng xã hội, được sinh ra và bị quy định bởi cơ sở
hạ tầng Trong mối quan hệ giữa pháp luật và kinh tế thì các tiền đề kinh tếkhông chỉ là nguyên nhân trực tiếp quyết định sự ra đời của pháp luật mà cònquyết định toàn bộ nội dung, tính chất và cả cơ chế để điều chỉnh pháp luật.Điều kiện kinh tế không chỉ quy định đời sống pháp luật mà còn quy định
cả YTPL của công dân Trong tác phẩm "Phê phán cương lĩnh Gôta", C Mácviết: "Quyền không bao giờ có thể ở một mức độ cao hơn chế độ kinh tế và
sự phát triển văn hóa của xã hội do chế độ kinh tế đó quyết định" [73, tr 36]
Sự phụ thuộc của pháp luật vào kinh tế biểu hiện: Cơ cấu kinh tế, hệ thốngkinh tế quyết định cơ cấu và hệ thống pháp luật; tính chất của các quan hệ
Trang 33kinh tế quyết định tính chất của các quan hệ pháp luật, mức độ và phươngpháp điều chỉnh của pháp luật; mỗi cơ chế kinh tế đều quyết định một hệthống các cơ quan pháp luật và thủ tục pháp lý tương ứng [123, tr 138-144].
Song pháp luật và YTPL cũng tác động trở lại đối với các hoạt độngkinh tế, thể hiện ở vai trò, ý thức công dân ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuấtkinh doanh Mặc dù ra đời từ các điều kiện và tiền đề kinh tế nhưng pháp luậtkhông phản ánh một cách thụ động các quan hệ kinh tế mà còn có tính độclập tương đối và tác động trở lại đối với kinh tế Sự tác động trở lại đối vớikinh tế có thể diễn ra theo các hướng khác nhau: Nếu pháp luật được xâydựng phù hợp với các mục tiêu kinh tế, phù hợp với quy luật kinh tế thì sẽtác động tích cực góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, làm hoàn thiện hơn cơchế kinh tế và hệ thống kinh tế; nếu pháp luật được xây dựng không phù hợpvới các mục tiêu và quy luật kinh tế xã hội thì nó sẽ kìm hãm sự phát triểncủa toàn bộ nền kinh tế hoặc một trong các yếu tố hợp thành của hệ thốngkinh tế
Thứ hai, quan hệ giữa pháp luật và chính trị Khác với quan hệ giữa
pháp luật và kinh tế, chính trị và pháp luật là hai hiện tượng thuộc thượngtầng kiến trúc có chung nguồn gốc và cơ sở tồn tại là chế độ kinh tế
C Mác đã viết:
Toàn bộ những quan hệ sản xuất ấy hợp thành cơ cấukinh tế của xã hội, tức là các cơ sở hiện thực trên đó dựng lên mộtkiến trúc thượng tầng pháp lý và chính trị và những hình thái ýthức xã hội nhất định tương ứng với cơ sở hiện thực đó" [71, tr 15].Trong mối quan hệ với chính trị, "một đạo luật là một biện phápchính trị, là chính trị" [52, tr 129], không phải chính trị quyết định phápluật hay ngược lại mà tính chất của quan hệ này là tác động qua lại ảnhhưởng và hỗ trợ lẫn nhau Mối quan hệ giữa pháp luật và chính trị thể hiện
Trang 34tập trung mối liên hệ giữa đường lối chính trị của đảng cầm quyền và phápluật của nhà nước Đường lối chính trị của đảng cầm quyền có ý nghĩa chỉđạo việc xây dựng, tuyên truyền giáo dục pháp luật Pháp luật là phươngtiện chủ yếu để chuyển hóa đường lối chính trị của đảng cầm quyền thành ýchí chung của xã hội, của nhà nước Tuy nhiên, khi thể hiện ý chí của giaicấp cầm quyền, pháp luật còn chịu ảnh hưởng nhất định của đường lốichính trị hoặc nó phải chú ý đến lợi ích của các giai cấp và tầng lớp kháctrong xã hội Bởi vì, trong xã hội có giai cấp, có nhà nước, không thể cómột ý chí và lợi ích chung nhất cho toàn xã hội Trong khi đó, lý tưởng củapháp luật là phải cố gắng pháp luật hóa những ý chí chung của xã hội kể cảnhững ý chí khác nhau của những lực lượng chính trị khác nhau Vì vậy,không được đồng nhất đường lối của đảng cầm quyền với pháp luật củanhà nước, ý thức chính trị với ý thức công dân Nhưng cũng phải thấy rằng,
ý thức chính trị đóng vai trò là cơ sở của YTPL, xử lý mối quan hệ chính trị
và pháp luật phải gắn giáo dục chính trị với giáo dục YTPL cho công dân
Thứ ba, quan hệ giữa pháp luật và đạo đức Pháp luật và đạo đức
đều là những quy phạm xã hội được sử dụng để điều chỉnh hành vi con ngườitrong các mối quan hệ xã hội Nhưng pháp luật và đạo đức có sự khác nhau
về phương thức tồn tại, về thuộc tính riêng và đối tượng điều chỉnh
Quy phạm đạo đức là những quy phạm mang tính chất đánh giá,như tốt - xấu, đáng khen - đáng chê Không mang tính chất quyền lựcchính trị Trong trường hợp vi phạm, hành vi đạo đức chỉ bị phê phán vềmặt xã hội bằng sức mạnh của dư luận chứ không xuất hiện sự cưỡng chếcủa nhà nước Trái lại, pháp luật không chỉ đánh giá, và chủ yếu khôngphải để đánh giá tính chất của hành vi, mà làm chuẩn mực lý tưởng và bắtbuộc cho hành vi, pháp luật được đảm bảo thực hiện bằng sự cưỡng chếnhà nước "Pháp luật là đạo đức mang tính pháp lý, là phương tiện quantrọng để nhà nước quản lý xã hội" [32, tr 27]
Trang 35Quan hệ giữa pháp luật và đạo đức là mối quan hệ bổ sung chonhau, hỗ trợ nhau trong quá trình điều chỉnh hành vi của con người Trong
cả hệ thống các quan hệ xã hội có nhiều nhóm quan hệ là đối tượng điềuchỉnh chung của cả pháp luật và đạo đức, khi đó việc xuất hiện sự tác độnglẫn nhau giữa chúng sẽ thường xuyên và cần thiết Tuy vậy, có nhiều quan
hệ xã hội chỉ là đối tượng điều chỉnh riêng của đạo đức hay pháp luật hoặcngược lại
Tóm lại, việc xem xét nguồn gốc, bản chất và các mối quan hệ của
pháp luật nhằm đặt nó trong quan hệ với lệ làng tạo thành cơ chế tác động
để hình thành YTPL cho người nông dân trong quá trình đi lên CNXH ởnước ta
1.2.2 Lệ làng - luật nước, sự thống nhất và khác biệt
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin: Pháp luật ra đời cùngvới sự xuất hiện của nhà nước Ở Việt Nam, nhà nước xuất hiện từ rất sớm
- nhà nước Văn Lang, Âu Lạc - nhưng còn rất sơ khai, xã hội còn "thuầnhậu", "chất phác" Vì vậy, pháp luật không tránh khỏi giản đơn Khi nhànước Âu Lạc bị phong kiến phương Bắc xâm lược (năm 179 trước côngnguyên) và đặt ách thống trị kéo dài suốt 10 thế kỷ, bên cạnh luật pháp củachính quyền đô hộ, luật Việt Nam vẫn tồn tại Chính sự thừa nhận của MãViện trong "Hậu Hán Thư": "Luật của người Việt, so sánh với Luật Hánhơn mười điều" [108, tr 77] đã chứng minh điều đó
Ngay sau khi thiết lập được nhà nước độc lập của mình, giai cấpphong kiến Việt Nam đã chú ý đến các hoạt động lập pháp Dưới triều
Lý Thái Tông (1028 - 1054) năm 1042 đã: "Ban sách Hình thư ban rađiều khoản, làm sách hình luật" [16, tr 219] Đây "là sự kiện, là dấu mốcquan trọng trong lịch sử pháp quyền Việt Nam" [118, tr 252]
Trang 36Trải qua các triều đại sau này pháp luật thành văn tiếp tục pháttriển Căn cứ vào những tài liệu lịch sử, cho đến nay chúng ta biết được cơbản có 4 bộ luật thành văn đã được soạn thảo dưới chế độ phong kiến: Hìnhthư thời lý, Hình thư thời Trần; Luật Hồng Đức (hay Quốc triều Hình luật)thời Lê và Luật Gia Long (hay Hoàng Việt luật lệ) dưới triều Nguyễn Tiếcrằng, hai bộ Hình thư triều Lý và Hình thư triều Trần đều bị thất lạc Người
ta biết đến sự tồn tại của hai bộ luật này qua nhận xét của sử gia Phan HuyChú trong sách Lịch Triều Hiến chương loại chí: "Hình của nhà Lý thì lỗi ởkhoan rộng, hình của nhà Trần thì lỗi ở nghiêm khắc" [9, tr 94]
Hiện nay, chỉ còn lại bộ luật Hồng Đức và bộ Luật Gia Long Hai
bộ luật còn lại này, theo các nhà nghiên cứu, đều ít nhiều ảnh hưởng, môphỏng theo các bộ luật của các triều đại phong kiến Trung Quốc Tuy nhiên,theo đánh giá của nhà Việt Nam học Hàn Quốc, giáo sư In Sun Yu thì bộluật Gia Long "được nhận biết như một bản sao chép nguyên văn bộ luật nhàThanh của Trung Quốc" [130, tr 12] còn về bộ Quốc triều hình luật "đượcxem là còn giữ lại được nhiều dáng vẻ của luật tục Việt Nam" [130, tr 19].Giới nghiên cứu trong nước cũng có đánh giá tương tự [113, tr 272] Vìvậy, chúng tôi lấy bộ Luật Hồng Đức là cơ sở để so sánh về mối quan hệgiữa lệ làng và luật pháp của nhà nước
Mặc cho sự xuất hiện, tính chất, phạm vi điều chỉnh các hành vi,quan hệ xã hội có khác nhau, song giữa lệ làng và pháp luật có quan hệchặt chẽ với nhau, đó là quan hệ giữa cái bộ phận với cái toàn thể, cái riêng
và cái chung Do vậy, lệ làng và luật nước vừa có sự thống nhất vừa mâuthuẫn Điều này, thể hiện ở những điểm giống nhau và khác nhau giữa lệ
làng và luật nước trong xã hội Việt Nam truyền thống
Những điểm giống nhau giữa lệ làng và luật nước:
Trang 37Thứ nhất: Giống nhau ở mục đích tồn tại: Cả lệ làng và luật pháp
nhà nước nhằm duy trì bảo đảm các hoạt động xã hội giữ "thăng bằng"trong một trật tự
Thứ hai: Với tính cách là công cụ quản lý, lệ làng và luật pháp nhà nước lấy hoạt động xã hội là cơ sở để phản ánh và điều chỉnh các mối quan
hệ xã hội Vì vậy cả lệ làng và luật pháp nhà nước đều có nội dung phongphú liên quan đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội Hoạt động kinh tế,quy định về việc sử dụng khai thác ruộng đất có hiệu quả; phát triển sảnxuất, bảo vệ thành quả lao động, nghiêm trị những hành vi làm phương hại,phá hoại sản xuất và đời sống của cá nhân và cộng đồng
Trên lĩnh vực chính trị xã hội, lệ làng và luật pháp nhà nước cónhững quy định về cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước, làng xã; các quy định
về hôn nhân gia đình; và quan hệ về hành vi ứng xử giữa người với người,
cá nhân và cộng đồng trong các quan hệ xã hội của con người
Trên lĩnh vực đời sống tinh thần: Văn hóa, giáo dục tín ngưỡng tôngiáo lệ làng và luật pháp nhà nước đều có những quy định về cơ cấu tổchức, nội dung và hình thức thực hiện Thông qua những quy định đó thấytoát lên những nét văn hóa Việt Nam ẩn sâu trong làng xã: hiếu học, trọngtri thức, trọng đạo đức lễ nghĩa, sống tình nghĩa thủy chung
Thứ ba: Các quy định của lệ làng và luật pháp nhà nước được đảm bảo hiệu lực thi hành nhờ chế độ thưởng phạt rõ ràng, nghiêm khắc đối với
mọi cá nhân và tổ chức Những hình thức thưởng phạt mà luật và lệ quyđịnh có biện pháp kinh tế (bắt bồi thường thiệt hại, phạt bằng tiền, bằng hiệnvật); có biện pháp chính trị (hạ quan chức, tước ngôi thứ); đến cả việc chà đạplên nhân phẩm sử dụng nhục hình, đánh đập nhằm buộc mọi cá nhân, tậpthể phải tuân thủ nghiêm những quy ước chung của xã hội Việc sử dụnghình phạt bằng nhục hình thể hiện rõ tính tàn bạo của luật - lệ phong kiến
Trang 38Sự giống nhau của những quy định thấy được ở lệ làng và luật phápnhà nước chứng tỏ:
Một là, những quy tắc, phong tục, tập quán hình thành từ các sinh
hoạt cộng đồng làng xã phù hợp với lợi ích của nhà nước phong kiến, đượcnhà nước thừa nhận đã trở thành những quy định của luật pháp nhà nướcnhư nhận xét của C Mác và Ph.Ăngghen [72, tr 378] Cũng như In Sun Yukhi nghiên cứu pháp luật thời Lê đã thấy có "những điều khoản được bắt rễ
từ phong tục cổ Việt Nam" [130, tr 93] Ông còn cho rằng đó là sự "khônngoan về mặt chính trị và pháp luật phải cố gắng duy trì sự phù hợp với đờisống hàng ngày của dân chúng" [130, tr 95]
Hai là, để thể hiện quyền lực của mình, nhà nước phong kiến can
thiệp vào đời sống làng xã, thông qua bộ máy chức dịch đưa hệ tư tưởngNho giáo và luật pháp nhà nước vào lệ làng - thể hiện ở Hương ước -hướng lệ làng phù hợp với lợi ích của nhà nước làm cho "Hương ướctrong cả nội dung và phương thức thực hiện là sự kết hợp khá nhuầnnhuyễn giữa yếu tố truyền thống làng mạc và quyền lực của nhà nướcquân chủ" [116, tr 106] Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, nhà cầmquyền Pháp đã có ý thức lợi dụng bộ máy và cơ chế cũ sẵn có Chúng vẫnduy trì Hương ước, nhưng đã đưa ra một khuôn mẫu đó để vận dụng vàođịa phương cụ thể đưa luật pháp của nhà nước bảo hộ vào trong lệ làng,
"lệ hàng hóa phép nước" Đảm bảo mặt thống nhất giữa luật pháp nhànước với lệ làng cùng tác động đến người nông dân làng xã buộc họ phảituân thủ nghiêm túc những quy định của luật và lệ Mặt khác nhờ có chế
độ thưởng phạt nghiêm minh cả lệ làng và luật pháp nhà nước đã tạo ra sựcưỡng chế để hướng người nông dân sống theo những quy tắc chung, hìnhthành ý thức, thói quen "sống trong khuôn phép", trong khuôn khổ củaluật và lệ
Trang 39Sự khác nhau giữa lệ làng và luật nước:
Lệ làng nếu chỉ có sự giống nhau với luật nước chắc hẳn chẳng
có lý do tồn tại khi luật pháp nhà nước đã ra đời Nhưng, thực tế chothấy, ngay cả khi nhà nước đã với tay xuống, can thiệp được vào đời sống
"tự trị" của làng xã bằng việc bổ nhiệm, công nhận bộ máy chính quyền cơ
sở thì luật pháp nhà nước vẫn không thể thay thế lệ làng Lệ làng vẫn tồntại song song với luật nước Đời sống làng xã vẫn cần có "Bộ luật riêng"của mình Sự tồn tại của cả "Luật" và "Lệ" mặc nhiên đã thể hiện sự khácnhau của nó
Trước hết, luật nước dưới thời phong kiến thể hiện quyền lực và ý
chí thống trị của nhà vua - người đứng đầu cơ quan nhà nước và giai cấpthống trị Luật do vua ban hành và là "phép vua" bắt buộc mọi người phảituân theo Còn lệ làng ra đời dựa trên tập tục, sự bàn bạc và đồng tình, tuykhông phải của toàn thể, nhưng ít ra cũng là của phần lớn cư dân nam giớitrong làng xã Tùy theo trình độ phong kiến hóa của từng làng xã mà lệ làngtrong các hương ước thể hiện ở những mức độ, sắc thái khác nhau, ý chí,nguyện vọng của cộng đồng hay của từng nhóm người nắm địa vị tronglàng xã Dẫu ở mức độ nào đi nữa thì chúng cũng vẫn là sản phẩm củanhững tập thể rộng rãi hay thu hẹp, kết quả của sự bàn bạc, nhân nhượnglẫn nhau, thỏa thuận để đi đến thống nhất Điều này thể hiện ít nhiều tínhchất "dân chủ làng xã", đối lập với tính chất áp đặt chuyên chế của "phépvua"
Thứ hai, làng xã là đơn vị tụ cư của người nông dân, là đơn vị cơ sở,
là một cấp hành chính của chế độ phong kiến (sau này là thực dân phongkiến) Dù làng xã có là hình ảnh thu nhỏ của xã hội, và xã hội xưa "soibóng" vào làng thì đời sống của một làng cũng không thể phong phú bằngđời sống của một nước Bởi vậy, nội dung văn bản của lệ làng thường đơngiản hơn so với luật pháp nhà nước Một bộ luật của nhà nước thường có
Trang 40hàng trăm điều khoản Chẳng hạn như Luật Hồng Đức với 13 chương 722điều liên quan tới hầu hết các lĩnh vực của đời sống đất nước, còn một bảnhương ước, chỉ gồm vài chục điều liên quan tới một số mặt của đời sốngmột làng
Mặt khác, mỗi lĩnh vực của đời sống xã hội lại được luật nước cụ thểhóa thành hàng chục, có khi hàng trăm điều khoản Ví dụ, chỉ riêng vấn đềhôn nhân gia đình, Luật Hồng Đức đã quy định thành 58 điều từ điều 284đến điều 341, ở chương Hộ hôn Vấn đề liên quan đến trộm cướp có 54 điều,
ở chương Đạo tặc (từ điều 411 đến điều 464) [104] trong khi đó, những vấn
đề tương tự chỉ được ghi thành một vài điều ngắn gọn trong các bản hươngước Tính chất phong phú và phức tạp của đời sống một nước, cũng đòi hỏiluật nước phải có những quy định đảm bảo cho cuộc sống ấy đi vào quĩđạo, giữ "thăng bằng" cho nó Những điều khoản mà người ta không thểtìm thấy trong bất kỳ một văn bản lệ làng nào Chẳng hạn, những quy địnhliên quan đến đấu tranh (kiện tụng), trá ngụy (xét xử tội theo giặc, phảnquốc), toán ngục (việc xét xử của ngành luật pháp) danh lệ (định chức danhtội phạm), vi chế (làm trái pháp luật) v.v Cũng có những vấn đề diễn ratrong đời sống hàng ngày nhưng lại không được, hay ít được ghi tronghương ước như vấn đề hương hỏa, điền sản trong khi đó Luật Hồng Đứcquy chế hóa thành 13 điều (hương hỏa) và 32 điều về điền sản
Thứ ba, xét về hình thức tồn tại "Luật" và "Lệ" đều có nguồn gốc
Hán đã được Việt hóa Luật: Luật do nhà nước ban hành và chỉ tồn tại trênvăn bản mang tính bắt buộc chung với mọi người Vì "Luật" của nhà nướcnên không phải luật nào, lúc nào cũng đến được với người nông dân, khôngphải lúc nào, ở đâu người ta cũng mang luật ra đọc và không phải lúc nào
"người thay mặt nhà nước" cũng bên cạnh người dân để giám sát việc thihành "Luật" Nhất là trong xã hội Việt Nam truyền thống, với tính chất
"nửa tự trị", "biệt lập", "khép kín" thì luật pháp nhà nước khó có thể tác