Vì vậy, xây dựng ý thức pháp luật của Thẩm phán trong sạch, vững mạnh, có đủ bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức nghề nghiệp và năng lực công tác đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp ở nướ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: GS TS HOÀNG THỊ KIM QUẾ
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Trần Thị Thanh Bình
Trang 3MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ Ý THỨC PHÁP LUẬT CỦA THẨM PHÁN 9
1.1 Nhận thức cơ bản về Thẩm phán 9
1.1.1 Khái niệm Thẩm phán 9
1.1.2 Đặc điểm của Thẩm phán 9
1.1.3 Vị trí, vai trò của Thẩm phán 12
1.1.4 Điều kiện, tiêu chuẩn của Thẩm phán 16
1.1.5 Phân loại Thẩm phán 26
1.2 Ý thức pháp luật và ý thức pháp luật của Thẩm phán 28
1.2.1 Khái niệm cơ bản về ý thức pháp luật 28
1.2.2 Cơ cấu của ý thức pháp luật 32
1.2.3 Ý thức pháp luật của Thẩm phán 36
1.2.4 Các yếu tố tác động đến ý thức pháp luật của Thẩm phán 39
Chương 2: THỰC TRẠNG Ý THỨC PHÁP LUẬT CỦA THẨM PHÁN Ở NƯỚC TA TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 48
2.1 Thực trạng về số lượng, chất lượng của Thẩm phán và tình hình xét xử trong thời gian qua 48
2.2 Công tác quy hoạch, tuyển dụng và bổ nhiệm Thẩm phán 54
2.3 Công tác đào tạo, bồi dưỡng Thẩm phán 69
2.4 Cơ chế kiểm tra giám sát Thẩm phán 80
Trang 42.5 Chế độ chính sách đối với Thẩm phán hiện nay 83
2.6 Ý thức pháp luật của Thẩm phán trong bối cảnh cải cách tư pháp giai đoạn hiện nay 87
2.6.1 Mục tiêu của Đảng và Nhà nước về cải cách tư pháp trong giai đoạn hiện nay 87
2.6.2 Một số nhiệm vụ trọng tâm của ngành Toà án trong xây dựng ý thức pháp luật của Thẩm phán đáp ứng yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp 92
Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG Ý THỨC PHÁP LUẬT CỦA THẨM PHÁN TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 95
3.1 Quan điểm về xây dựng ý thức pháp luật của Thẩm phán trong bối cảnh cải cách tư pháp hiện nay 95
3.2 Một số giải pháp xây dựng ý thức pháp luật của Thẩm phán trong bối cảnh cải cách tư pháp hiện nay 99
3.2.1 Đổi mới cơ chế tuyển dụng, bổ nhiệm Thẩm phán 100
3.2.2 Xây dựng chiến lược đào tạo, bồi dưỡng Thẩm phán 102
3.2.3 Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát 105
3.2.4 Quan tâm đến các chế độ chính sách đãi ngộ đối với Thẩm phán, đồng thời tạo môi trường thuận lợi cho các Thẩm phán làm việc 106
KẾT LUẬN 111
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 114
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ASEAN: Hiệp hội các nước Đông Nam á
CNH-HĐH: Công nghiệp hóa- hiện đại hóa
PLTP&HTND: Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân
TANDTC: Toà án nhân dân tối cao
TTLT-TANDTC-BQP-
BNV-UBTWMTTQVN: Thông tư liên tịch – Tòa án nhân dân Tối cao
– Bộ nội vụ - Ủy ban Trung ương mặt trận tổ quốc Việt Nam
UBTVQH: Ủy ban thường vụ Quốc hội
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ý thức pháp luật và xây dựng ý thức pháp luật, văn hoá pháp lý, hình thành lối sống, làm việc theo pháp luật là một yêu cầu quan trọng đặt ra đối với mọi người dân nói chung và Thẩm phán nói riêng trong bối cảnh cải cách công tác tư pháp ở nước ta hiện nay Ngoài các tiêu chí như hệ thống pháp luật phải đầy đủ, pháp luật phải nhân đạo, vì con người… thì yêu cầu xây dựng ý thức pháp luật đối với mọi tầng lớp nhân dân nói chung và Thẩm phán nói riêng là một nội dung quan trọng Điều này không chỉ góp phần khắc phục những tiêu cực của xã hội do ý thức pháp luật kém gây ra,
mà còn góp phần quan trọng trong việc xây dựng một xã hội trật tự, ổn định và phát triển
Đất nước ta đã trải nhiều thời kì bị xâm lược, từ ngàn năm Bắc thuộc tới các cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ Trong quá trình cai trị, các nước đã đưa pháp luật phản động vào nước ta nhằm phục vụ mục đích cai trị và nô dịch; do vậy, hình thành nên ý thức chống đối hoặc thờ ơ với pháp luật trong nhân dân nói chung và một số bộ phận làm công tác pháp luật nói riêng, ý thức hệ ấy còn tồn tại trong một bộ phận không nhỏ nhân dân hiện nay và là rào cản trong quá trình đưa các chủ trương, chính sách pháp luật vào cuộc sống Hơn thế, trình độ dân trí nước ta còn thấp nên để hiểu pháp luật và thi hành pháp luật là những thách thức lớn
Sau gần 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn và rất quan trọng về kinh tế-xã hội,
an ninh chính trị được giữ vững, đời sống nhân dân từng bước được cải thiện
và phát triển; bộ máy nhà nước hoạt động ngày càng hiệu quả hơn, đóng góp tích cực vào công cuộc đổi mới của đất nước Nhờ có sự đổi mới về kinh tế và
Trang 7quyết tâm thực hiện công cuộc cải cách hành chính mà Việt Nam đang là nước có nền kinh tế tăng trưởng nhanh trong khu vực và trên thế giới; cơ sở vật chất được tăng cường, đời sống chính trị - xã hội ổn định, quan hệ quốc tế được mở rộng Tuy nhiên, khi nền kinh tế chuyển mạnh sang cơ chế thị trường cùng với các yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế thì ngày càng có nhiều vụ việc phức tạp, các loại án hình sự ngày càng tinh vi, mức độ nguy hiểm cho xã hội ngày lớn, các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh tế, thương mại, lao động ngày càng gia tăng về cả số lượng và sự phức tạp, đặc biệt khi nó xuất hiện yếu tố nước ngoài ngày càng nhiều, giá trị lợi ích vật chất trong các vụ án ngày càng lớn Do đó, để đưa ra được phán quyết thấu tình đạt lý, phù hợp với thông lệ, tập quán pháp luật quốc tế đòi hỏi Thẩm phán phải tâm huyết với nghề, không ngừng học tập nâng cao trình độ, chuyên môn, nghiệp vụ xét xử của mình
Nghề Thẩm phán là nghề xét xử, mục đích là đưa lại sự công bằng cho
xã hội, đảm bảo sự ổn định, phát triển và mang ý nghĩa xã hội to lớn Chính vì thế người Thẩm phán được Visanhsky, một trong những người xây dựng ngành Tư pháp Nga sau cách mạng tháng Mười khẳng định “Thẩm phán người thầy của cuộc sống” Gần 100 năm nay, điều Ông nói vẫn đúng, lời nói
đó vượt qua mọi ranh giới quốc gia và khoảng cách về thời gian
Thẩm phán với nghề nghiệp xét xử đã và đang thực sự là biểu tượng cho khát vọng của nhân loại về một sự công bằng cho đới sống xã hội Vinh quang của nghề Thẩm phán trước hết phải nói đến là nghề nghiệp mang tính
xã hội cao, bởi lẽ công việc của Thẩm phán luôn liên quan đến nhiều cá nhân,
tổ chức trong xã hội Nghề nghiệp xét xử của Thẩm phán liên quan đến số phận, danh dự, uy tín tài sản, thậm chí nó quyết định cả tính mạng của con người Toà án, cụ thể hơn là Thẩm phán là người đại diện cho quyền lực nhà
Trang 8nước để đưa ra các phán quyết và khi các phán quyết đó có hiệu lực pháp luật thì tất cả mọi cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội, các cá nhân liên quan đều phải tuân thủ chấp hành
Trong những năm qua được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và lãnh đạo ngành Toà án, Thẩm phán nước ta không ngừng được nâng cao cả về số lượng và chất lượng, kết quả xét xử của họ đã góp phần quan trọng vào việc bảo vệ pháp luật xã hội chủ nghĩa ở nước ta Tuy nhiên, so với yêu cầu của công cuộc đổi mới toàn diện của đất nước, đặc biệt là đứng trước các yêu cầu, thách thức trong bối cảnh cải cách công tác tư pháp hiện nay thì Thẩm phán của chúng ta còn nhiều hạn chế, bất cập, tình trạng “thiếu” về số lượng và
“yếu” về chất lượng vẫn còn xảy ra ở nhiều nơi, nhiều lúc Một bộ phận không nhỏ Thẩm phán suy thoái về tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, yếu kém về năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ đã làm sai lệch vụ án, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước Vì vậy, xây dựng
ý thức pháp luật của Thẩm phán trong sạch, vững mạnh, có đủ bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức nghề nghiệp và năng lực công tác đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay là rất quan trọng, đòi hỏi Đảng, Nhà nước và ngành Toà án phải tăng cường chỉ đạo và thực hiện quyết liệt hơn nữa nhiệm
vụ quan trọng này để thực hiện nhiệm vụ xây dựng nhà nước Việt Nam pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Từ thực tiễn đó, tác giả mạnh dạn chọn đề tài nghiên cứu cho luận văn
thạc sĩ của mình là “Xây dựng ý thức pháp luật của Thẩm phán trong bối
cảnh cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay”, với mong muốn thông qua việc
phân tích, đánh giá thực trạng ý thức pháp luật của Thẩm phán ở nước ta hiện nay để góp phần phát hiện những bất cập, hạn chế của công tác xây dựng ý thức pháp luật của Thẩm phán ở nước ta, tìm ra những nguyên nhân của sự
Trang 9bất cập, hạn chế đó Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm xây dựng ý thức pháp luật của Thẩm phán trong bối cảnh cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu
Để đáp ứng yêu cầu sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước, tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế, thì việc xây dựng ý thức pháp luật của Thẩm phán phải biết tuân thủ pháp luật, có phẩm chất đạo đức và đủ năng lực chuyên môn nghiệp vụ cao, đáp ứng được yêu cầu phát triển của đất nước trong thời kỳ đổi mới là rất cần thiết Đây là lĩnh vực được Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm Trong thời gian qua ở nước ta đã có một số công trình nghiên cứu quan trọng liên quan đến lĩnh vực này như: Sổ tay Thẩm phán; Các phẩm chất cơ bản của Thẩm phán của tác giả Đặng Thị Thanh Nga (Tạp chí Luật học số 5/2002); Kỹ năng giao tiếp của Thẩm phán khi giải quyết vụ án dân sự; ThS Bùi Thị Kim Chi (Tạp chí Luật học số 2/2005); Một số suy nghĩ về những việc Thẩm phán không được làm quy định tại Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Toà án nhân dân năm 2002, Nguyễn Thị Hồng Tươi (Tạp chí Toà án nhân dân số 1/2003); Một số vấn đề về mô hình nhân cách Thẩm phán, ThS, Bùi Thị Kim Chi (Tạp chí Dân chủ và pháp luật số 3/2005); Những phẩm chất, nhân cách của Thẩm phán trong giai đoạn hiện nay, ThS Đặng Thanh Nga (Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2003); Suy nghĩ về những điều Thẩm phán phải làm, Thẩm phán được làm, chính sách chế độ đối với Thẩm phán, Nguyễn Hồng Tươi (Tạp chí Dân chủ và pháp luật số 5/2002)
Nhìn chung, các bài viết trên của các tác giả được thể hiện ở nhiều cấp
độ nghiên cứu khác nhau, góc độ tiếp cận khác nhau, nhưng chủ yếu dưới dạng các bài nghiên cứu trên các tạp chí chưa có đề cập một cách có hệ thống
về xây dựng ý thức pháp luật của Thẩm phán để đáp ứng yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp
Trang 103 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về ý thức pháp luật của Thẩm phán
và xây dựng ý thức pháp pháp luật của Thẩm phán đáp ứng yêu bối cảnh cải cách tư pháp
Đánh giá đúng đắn, khách quan, toàn diện một số quy định của Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm toà án nhân dân năm 2002 và các quy định của pháp luật thực định về tiêu chuẩn, điều kiện tuyển chọn và bổ nhiệm Thẩm phán
Đánh giá thực trạng công tác xây dựng ý thức pháp luật của Thẩm phán
ở nước ta hiện nay để làm sáng tỏ hơn cơ sở lý luận và thực tiễn về ý thức pháp luật và xây dựng ý thức pháp luật của Thẩm phán, những yêu cầu, đòi hỏi đối với Thẩm phán; chỉ ra được những bất cập, hạn chế của công tác xây dựng ý thức pháp luật của Thẩm phán; làm rõ hơn những yếu tố tích cực, tiêu cực ảnh hưởng đến chất lượng của Thẩm phán cũng như việc tuyển chọn, đào tạo và bổ nhiệm Thẩm phán ở nước ta hiện nay
Trang 11chức nói chung để nghiên cứu và tiếp cận các nội dung xây dựng ý thức pháp luật của Thẩm phán nói riêng Tác giả tập trung nghiên cứu những nội dung
cơ bản, trọng tâm sau:
Khái niệm, vị trí vai trò quan trọng của Thẩm phán ở Việt Nam và một
số nước trên thế giới;
Phân tích, đánh giá thực trạng ý thức pháp luật của Thẩm phán và công tác xây dựng ý thức pháp luật của Thẩm phán ở nước ta hiện nay, qua
đó chỉ ra những bất cập, hạn chế về chất lượng, số lượng của Thẩm phán cũng như những bất cập trong công tác tuyển chọn bổ nhiệm Thẩm phán ở
nước ta hiện nay;
Những yêu cầu, đòi hỏi trong công tác xây dựng ý thức pháp luật của Thẩm phán trong bối cảnh cải cách tư pháp ở nước ta Từ đó đề xuất được một số giải pháp quan trọng để xây dựng và phát triển Thẩm phán đáp ứng yêu cầu xây dựng một nhà nước Việt Nam pháp quyền xã hội chủ nghĩa
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về công tác xây dựng ý thức pháp luật của Thẩm phán ở nước ta trong bối cảnh cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay
Nội dung quan điểm chỉ đạo công cuộc cải cách tư pháp hiện nay và công tác xây dựng ý thức pháp luật của Thẩm phán, cán bộ tư pháp trong Nghị quyết 08/NQ-TW ngày 02/01/2002, Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005
về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Nội dung các văn bản quy phạm pháp luật về Thẩm phán, điều kiện, tiêu chuẩn tuyển chọn và bổ nhiệm Thẩm phán các văn bản chính sách của Nhà nước
về xây dựng ý thức pháp luật của Thẩm phán trong giai đoạn hiện nay
Trang 125.2 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử và phép biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật
Các phương pháp cụ thể được sử dụng đó là phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, so sánh, phương pháp xã hội học, phương pháp lý
luận kết hợp với thực tiễn
6 Ý nghĩa và những điểm mới của đề tài
Đề tài “Xây dựng ý thức pháp luật của Thẩm phán trong bối cảnh cải
cách tư pháp ở nước ta hiện nay” được nghiên cứu để đạt được kết quả sau:
Đây là luận văn được nghiên cứu ở bậc cao học có tính hệ thống, toàn diện về xây dựng ý thức pháp luật của Thẩm phán trong bối cảnh cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay
Đề tài có tính hệ thống hoá một cách toàn diện những quy định của pháp luật nước ta về thẩm phán từ năm 1945 đến nay
Xác định được hiệu quả sự điều chỉnh của các quy định pháp luật về tiêu chuẩn, điều kiện tuyển chọn và bổ nhiệm Thẩm phán, qua đó chỉ ra các điểm hạn chế của pháp luật thực định về nội dung này, giúp các nhà lập pháp hoàn thiện hơn những quy định của pháp luật hiện hành, đồng thời giúp cho ngành Toà án thấy được vị trí, vai trò quan trọng của công tác xây dựng chiến lược đào tạo Thẩm phán cũng như đội ngũ “nguồn” để tuyển chọn, bổ nhiệm Thẩm phán
Mặt khác, thông quan việc so sánh, tìm hiểu các quy định của pháp luật một số nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới như Hàn Quốc, Pháp, Malaixia về điều kiện, tiêu chuẩn tuyển chọn và bổ nhiệm Thẩm phán cũng như kinh nghiệm xây dựng ý thức pháp luật của Thẩm phán, “nguồn” để tuyển chọn bổ nhiệm Thẩm phán của họ Từ đó, luận văn đề xuất một số giải
Trang 13pháp quan trọng nhằm nâng cao chất lượng trong công tác xây dựng ý thức pháp luật của Thẩm phán trong bối cảnh cải cách tư pháp hiện nay Đặc biệt
là các quy định liên quan đến trách nhiệm của ngành Toà án trong việc xây dựng kế hoạch chiến lược đào tạo Thẩm phán và “nguồn” để bổ nhiệm Thẩm phán đáp ứng được những yêu cầu nhiệm vụ của công tác cải cách tư pháp nhằm xây dựng nhà nước Việt Nam pháp quyền xã hội chủ nghĩa
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu của luận văn gồm 3 chương, 6 mục:
Chương 1: Cơ sở lý luận về ý thức pháp luật của Thẩm phán
Chương 2: Thưc trạng ý thức pháp luật của Thẩm phán ở nước ta trong
giai đoạn hiện nay
Chương 3: Quan điểm và một số giải pháp xây dựng ý thức pháp luật
của Thẩm phán trong giai đoạn hiện nay
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ Ý THỨC PHÁP LUẬT CỦA THẨM PHÁN
1.1 Nhận thức cơ bản về Thẩm phán
1.1.1 Khái niệm Thẩm phán
Điều 1 PLTP&HTTAND năm 2002 quy định: “Thẩm phán là người được
bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử những vụ án và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền của Toà án” [28, tr.1]
Như vậy, Thẩm phán là những công chức nhà nước được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử những vụ án hình sự, dân
sự, hôn nhân và gia đình, kinh tế, thương mại, hành chính, lao động và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền của Toà án
Thẩm phán là những người thay mặt cho Nhà nước sử dụng quyền lực nhà nước để đưa ra các phán quyết nhằm giải quyết sự tranh chấp giữa các bên hoặc phán quyết việc áp dụng các biện pháp chế tài để xử lý các hành vi vi phạm pháp luật trong các vụ án thuộc thẩm quyền, đảm bảo sự tôn trọng và thực thi pháp luật trong đời sống xã hội, đảm bảo bất kỳ hành vi vi phạm pháp luật nào cũng bị xử lý: “không để lọt tội phạm” và “không xử oan người vô tội”
Hiện nay, theo quy định của nhiều nước trên thế giới trong đó có Việt Nam thì nhiệm kỳ của một Thẩm phán thường được quy định trong một khoảng thời gian nhất định Ở Việt Nam nhiệm kỳ của Thẩm phán là 5 năm, Hàn Quốc nhiệm kỳ của Thẩm phán là 10 năm Tuy nhiên, cũng có nhiều nước nhiệm kỳ của Thẩm phán là không thời hạn họ chỉ bị miễn nhiệm khi vi phạm các quy định của pháp luật ví dụ ở Úc Thẩm phán toà án liên bang được
bổ nhiệm cho tới khi họ 70 tuổi (đến khi nghỉ hưu)
1.1.2 Đặc điểm của Thẩm phán
Hoạt động xét xử là một hoạt động nghề nghiệp đặc thù so với các nghề
Trang 15nghiệp khác ở chỗ hoạt động xét xử của Thẩm phán đòi hỏi một trình độ chuyên môn cao trong các lĩnh vực pháp luật, chính trị và xã hội Hầu hết họ phải có kiến thức uyên thâm trên mọi lĩnh vực bởi lẽ họ là người đại diện cho nền công lý, cho lẽ phải cho công bằng của toàn xã hội Do vậy, Thẩm phán
có những đặc điểm sau:
Thứ nhất: Tính đặc thù trong áp dụng pháp luật
Tính đặc thù trong áp dụng pháp luật thể hiện ở chỗ, Thẩm phán với vai trò là người đưa ra phán quyết dựa trên những chứng cứ khách quan, thực tế, không định kiến với mục đích duy nhất là bảo vệ công lý Tất cả mọi tư vấn tranh luận tại phiên toà phải đảm bảo sự bình đẳng cho các bên trong vụ án Mọi hành vi ép buộc làm ảnh hưởng tới sự khách quan đối với phán quyết của Thẩm phán đều trái với mục đích áp dụng pháp luật Đặc thù này khẳng định Thẩm phán phải là người hết sức vô tư, tôn trọng bằng chứng, xem xét đứng đắn các bằng chứng thực tế mà mỗi bên đương sự đưa ra trong quá trình giải quyết vụ án của mình
Thứ hai: Hoạt động xét xử chính là một cuộc đấu tranh tìm ra sự thực khách quan, hoạt động này chịu sự giám sát nghiêm ngặt của các cơ quan, tổ chức và cá nhân
Trong quá trình xử lý vụ án, Thẩm phán phải sử dụng năng lực và toàn
bộ kiến thức cần thiết nhằm giải quyết đúng đắn vụ án trên cơ sở bằng chứng thực tế Đây là cả một quá trình tố tụng phức tạp đòi hỏi ngay từ đầu người Thẩm phán phải thực sự toàn tâm toàn lực Họ phải rất khéo léo và nhạy bén tại phiên toà, giai đoạn tố tụng cuối cùng rất quan trọng
Để không bị cám dỗ trên con đường tìm kiếm lẽ phải, cuộc đấu tranh tinh thần của người Thẩm phán đòi hỏi họ phải luôn kiên quyết, vững vàng ý chí
Mục tiêu cuối cùng mà người Thẩm phán phải đạt được và cũng là mục đích mà toàn bộ nhân dân hướng tới sau một vụ án đó là một phán quyết thấu
Trang 16tình đạt lý, đảm bảo tính đúng đắn của bản án, không bỏ lọt kẻ phạm tội Phán quyết đó còn mang tính giáo dục ý thức pháp luật trong toàn bộ dân chúng Chính vì thế hoạt động xét xử của Thẩm phán được toàn xã hội giám sát Nguyên tắc Toà án xét xử công khai, khi xét xử có sự tham gia của Hội thẩm nhân dân chính là sự giám sát ở bên trong phiên toà Khi xét xử Hội thẩm nhân dân ngang quyền với Thẩm phán, cùng Thẩm phán đưa ra quyết định đúng pháp luật
Thứ ba: Hoạt động này đòi hỏi một con người toàn diện, bản lĩnh vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng, vô tư khách quan
Đây không những là đặc thù nghề nghiệp Thẩm phán mà còn là các tiêu chuẩn mà pháp luật đặt ra đối với người Thẩm phán hiện nay Chỉ có thể có kiến thức rộng rãi trên nhiều lĩnh vực, luôn đấu tranh cho công bằng vô tư, một tâm hồn trong sáng và một bản lĩnh vững vàng thì nghề Thẩm phán và người Thẩm phán mới tạo dựng được sự tin tưởng và tôn kính Bởi lẽ cần thiết có một chuẩn mực lý tưởng được xã hội thừa nhận, nắm giữ cán cân công lý để điều chỉnh xã hội đi đúng hướng của nó Người Thẩm phán phải bênh vực cho người bị hại, không thiên vị hay dao động ý chí trước bất kỳ sự việc nào Tất cả những yêu cầu trên sẽ góp phần tạo dựng nên hình ảnh một nghề biểu tượng cho sự khát khao công lý
Thứ tư: Hoạt động xét xử của Thẩm phán tuân theo một trình tự tố tụng chặt chẽ do pháp luật quy định
Phán quyết của Thẩm phán có liên quan trực tiếp tới quyền lợi và nghĩa
vụ của cá nhân, tổ chức có liên quan Để bảo đảm phán quyết đó thấu tình đạt
lý thì hoạt động xét xử phải tuân theo một trình tự tố tụng chặt chẽ là điều dễ hiểu Việc quy định như vậy tránh sự tuỳ tiện lạm quyền, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức Vi phạm các quy định của pháp luật tố tụng, bản án dù có hiệu lực pháp luật cũng sẽ được Toà án cấp trên xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm
Trang 171.1.3 Vị trí, vai trò của Thẩm phán
“Thẩm phán, người thầy cuộc sống” đó là câu nói nổi tiếng của
Visanhski, một trong những người xây ngành Tư pháp Nga sau cách mạng Tháng Mười Gần 100 năm nay, điều Ông nói vẫn đúng, lời nói đó vượt qua mọi ranh giới quốc gia và khoảng cách về thời gian
Theo quan điểm của Visanhski, giữa người với người có bao nhiêu mối quan hệ thì có bấy nhiêu điều luật, do vậy hiểu luật hoàn toàn khác với thuộc luật Vì thế, một Thẩm phán với tư duy tốt, với sự cần mẫn tìm hiểu, nghiên cứu nghiền ngẫm luật pháp, sự việc và con người, luôn luôn suy luận về con người và các mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với
tổ chức, tập thể và giữa con người trong cộng đồng xã hội; đắm mình vào việc tìm ra phải trái, đúng sai, tốt xấu trong đời sống xã hội đó chính là sự tu dưỡng thường xuyên để ngày càng hoàn thiện mình, và như vậy họ luôn phải tâm niệm ngành Toà án là ngành tổng hợp thì người Thẩm phán mới hiểu sâu sắc về luật và việc áp dụng luật mới đúng đắn và chặt chẽ Trong quá trình xét
xử Thẩm phán vừa có trách nhiệm tìm hiểu vụ việc, từng con người với những mối quan hệ liên quan đến vụ án để đưa ra phán quyết, bản án thực hiện trách nhiệm và quyền xét xử của mình nhưng đồng thời họ cần phải làm sao cho phán quyết, bản án của mình được mọi người “tâm phục, khẩu phục”
để không những mang tính phòng ngừa riêng mà nó còn có tác dụng phòng ngừa chung, giáo dục mọi người ý thức trách nhiệm sống tôn trọng và tuân thủ theo pháp luật
Người Thẩm phán nếu ý thức được trách nhiệm, quyền hạn của mình
và có lòng yêu nghề nghiệp, lao tâm, khổ tứ, trải nghiệm nhiều trong thực tế xét xử, không ngừng tu dưỡng phẩm chất đạo đức nghề nghiệp để nhận ra vị trí, vai trò của mình trong xã hội, được xã hội tôn vinh khi đó họ đang dần tiến đến cái bục “Người thầy cuộc sống”
Trang 18Xã hội ngày càng phát triển, các mối quan hệ xã hội ngày càng nhiều
và diễn ra ngày càng phức tạp thì khi xảy ra tranh chấp hay có sự vi phạm pháp luật càng đòi hỏi ngành tư pháp phải nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động của mình Với quan niệm “án tại hồ sơ” vụ án, đặc biệt là vụ án hình sự được đưa ra xét xử là kết quả công tác của các ngành điều tra, tuy tố, do đó một trong các khâu này mà yếu, hạn chế hoặc làm sai lệch vụ án thì việc xét
xử gần như thất bại Chính vì thế trong pháp luật tố tụng hiện nay, tranh tụng
và kết quả tranh tụng tại toà án đang là vấn đề được xã hội hết sức quan tâm
và đòi hỏi ngành tư pháp đặc biệt là các Thẩm phán phải thực hiện tốt hơn nữa các quy định về thủ tục tranh tụng và sử dụng kết quả tranh tụng tại toà Điều này đang đặt ra cho các cơ quan tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng và hơn hết là Thẩm phán, chủ toạ phiên toà phải làm gì, sẽ tổ chức tranh tụng tại toà như thế nào; việc xem xét chứng cứ, bằng chứng, luận cứ để lý giải chứng minh cho các tình tiết của vụ án để làm sáng tỏ vụ án mà các bên tham gia tranh tụng đưa ra sẽ được Thẩm phán xử lý như thế nào là vấn đề hết sức quan trọng để trên cơ sở đó đưa ra phán quyết cuối cùng của Toà án để giải quyết vụ án
Trong một vụ án, việc xét xử thành công hay thất bại phụ thuộc vào rất nhiều giai đoạn của quá tình tố tụng, nhưng quan trọng nhất là hai giai đoạn: Một là, việc dựng lại toàn bộ sự việc trên cơ sở các chứng cứ trong hồ sơ được đưa ra xem xét, tranh luận công khai tại phiên toà được người tham gia
tố tụng thừa nhận, được nhân dân tán thành, ủng hộ như thế là thành công Hai là, tìm đúng điều luật để áp dụng nhằm giải quyết vụ án, xác định được sự thật, đúng, sai, những tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ, động cơ của các hành
vi trong vụ án là gì, yếu tố lỗi chủ quan của các bên trong vụ án như thế nào,
từ đó Thẩm phán, hội đồng xét xử đưa ra phán quyết để mọi người “tâm phục, khẩu phục” đó là thành công Do vậy, việc xét xử trước “Công đường”, tổ
Trang 19chức tranh tụng và sử dụng kết quả tranh tụng như thế nào phụ thuộc rất nhiều vào trình độ, ý thức pháp luật, áp dụng pháp luật, khả năng, vai trò của người Thẩm phán, bởi lẽ họ phải biết điều khiển dẫn dắt việc tranh tụng để tranh tụng diễn ra một cách có trật tự, đi đúng trọng tâm những vấn đề mấu chốt, những điểm còn mâu thuẫn cần làm rõ của vụ án Thông qua kết quả tranh tụng, Thẩm phán đánh giá khách quan toàn diện và bản chất của vụ án, các chứng cứ, các lý lẽ, lập luận của các bên, trên cơ sở đó căn cứ vào các quy định của pháp luật để đưa ra các phán quyết đúng đắn
Bởi thế vai trò của người Thẩm phán không chỉ dừng lại ở việc đưa vụ
án ra xét xử đúng thời gian luật định, đảm bảo cho các bên tham gia tố tụng được đưa ra chứng cứ, tài liệu và những luận cứ khoa học, pháp lý để bảo vệ
lẽ phải, bảo vệ chân lý, sự thật của vụ án mà xét xử tại toà án còn là môi trường thực tế hữu hiệu nhất để giáo dục cá nhân, tổ chức sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật Đối với xã hội ta hiện nay, khi chúng ta đang cố gắng xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN thì đây càng là vấn đề quan trọng và cần thiết vì trình độ pháp luật, ý thức của người dân chưa cao, họ chỉ lấy kết quả phán quyết của Toà và chuẩn mực đạo đức xã hội để so sánh để làm mẫu mực cho mọi hành động của mình
Với nhiệm vụ thực hiện cải cách công tác tư pháp hiện nay thì việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật tố tụng theo pháp luật tố tụng tiên tiến trên thế giới đặc biệt là các quy định về tính “độc lập” và tố tụng tranh tụng tại Toà án đang được Đảng, Nhà nước và Ngành tư pháp hết sức quan tâm coi đây là nhiệm vụ có một vị trí, vai trò hết sức quan trọng trong công tác xét xử
Nghị quyết 49-NQ/TW đã khẳng định: “Nâng cao chất lượng hoạt động của
các cơ quan tư pháp, chất lượng tranh tụng tại tất cả các phiên toà xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp” [4, tr.2] Do đó, Thẩm phán hơn
lúc nào hết phải phát huy tối đa vị trí, vai trò của mình trong kết quả hoạt
Trang 20động của cơ quan tư pháp Trong xét xử Thẩm phán phải quyết định với đầu
óc không thiên vị đồng thời phải triệt để tuân thủ những nguyên tắc pháp lý
đã được pháp luật thiết lập, thẩm phán phải đưa ra các phán quyết độc lập và phải cho biết rõ lý do của quyết định đó
Như vậy, với việc đề cao tố tụng tranh tụng thì tính “độc lập chỉ tuân theo pháp luật” và “niềm tin nội tâm” của Thẩm phán ngày càng có vị trí, vai trò quan trọng Nói cách khác, trong quá trình xét xử các phán quyết của Thẩm phán phải không bị ảnh hưởng bởi bất kỳ áp lực nào, ngoại trừ trí tuệ,
và lương tâm để đánh giá trung thực, khách quan các bằng chứng, các tình tiết của vụ án và việc áp dụng các quy định pháp luật để xét xử vụ án Do đó,
trong xét xử và đặc biệt là việc tranh tụng tại Toà thì vai trò, tính “độc lập chỉ
tuân theo pháp luật” [4] của Thẩm phán càng phải được phát huy hơn bao giờ
hết, khi đó Thẩm phán như là một trọng tài không thiên vị, một người phán xử trung lập, Thẩm phán nghe và tạo điều kiện cho các bên cơ hội thích hợp để trình bày chứng cứ, luận điểm để chứng minh làm sáng tỏ các tình tiết của vụ
án tại phiên toà, trên cơ sở đó Thẩm phán đưa ra các phán quyết cuối cùng một cách công tâm nhất
Kinh nghiệm các nước cho thấy để Thẩm phán thực hiện, phát huy tính
“độc lập” không lệ thuộc vào bất kỳ cơ quan, tổ chức nào thì bao giờ cũng được pháp luật quy định rất rõ chức năng, trách nhiệm và quyền hạn của Thẩm phán, cơ chế, điều kiện đảm bảo cho việc thực hiện tính độc lập chỉ tuân theo pháp luật của Thẩm phán, ví dụ:
Ở Hàn Quốc, để đảm bảo cho các Thẩm phán không lệ thuộc vào bất cứ
cơ quan nào khác của Nhà nước, các Thẩm phán được pháp luật quy định: quyền bất khả bãi miễn Thẩm phán, quyền tài phán, không Thẩm phán nào có thể bị sa thải khỏi cơ quan trừ khi bị buộc tội hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự Các Thẩm phán không bị đình chỉ công tác, hạ bậc lương hoặc bị kỷ
Trang 21luật nếu chưa có Quyết định kỷ luật của Hội đồng kỷ luật tư pháp được thành lập tại Toà án tối cao
Ở Malayxia, các Thẩm phán đảm nhiệm công việc cho tới 65 tuổi, nếu như không bị sa thải do những hành vi sai trái Lương của Thẩm phán được quy định bằng văn bản riêng do Nhà vua ban hành sau khi tham khảo ý kiến của Chánh án Toà án tối cao Chỉ có Thẩm phán mới có quyền tài phán Với tính chất độc lập của mình, cơ qua tư pháp không phải chịu một sự kiểm sát nào của cơ quan hành pháp, trừ cơ sở vật chất, nhân viên do Bộ Tư pháp quản
lý Song cơ quan hành pháp không thể can thiệp vào chuyên môn của Toà án Trong quá trình xét xử các Thẩm phán không nhận bất kỳ chỉ thị, mệnh lệnh
cơ quan, tổ chức nào
1.1.4 Điều kiện, tiêu chuẩn của Thẩm phán
Như trên đã phân tích, Thẩm phán có vị trí, vai trò rất quan trọng, ảnh hưởng lớn đến kết quả cuối cùng trong hoạt động của các cơ quan tư pháp nói chung cũng như Toà án nói riêng Thẩm phán là nhân tố trung tâm trong hoạt động của ngành Toà án Chính vì thế để xây dựng được ý thức pháp luật của Thẩm phán đáp ứng được yêu cầu của “người đại diện công lý” pháp luật các nước trên thế giới thường có sự đòi hỏi rất cao (đặc biệt là các nước có nền kinh tế và hệ thống pháp luật phát triển) đối với một người được tuyển chọn và
bổ nhiệm làm Thẩm phán Nói cách khác để trở thành Thẩm phán họ phải đáp ứng được tất cả các điều kiện, tiêu chuẩn cần và đủ rất khắt khe của chức danh Thẩm phán
Pháp luật Việt Nam trong những năm gần đây rất chú trọng việc xây dựng, quy định các điều kiện, tiêu chuẩn để tuyển chọn và bổ nhiệm Thẩm phán với tinh thần ngày càng có sự đòi hỏi cao hơn cả về chuyên môn, nghiệp
vụ xét xử và phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp đối với người được tuyển chọn và bổ nhiệm Thẩm phán nhằm xây dựng ý thức pháp luật của
Trang 22Thẩm phán trong sạch, vững mạnh, đảm bảo về trình độ chuyên môn, nghiệp
vụ thực hiện tốt nhiệm vụ được giao để đáp ứng yêu cải cách công tác tư pháp đối với ngành Toà án hiện nay
Theo pháp luật hiện hành thì Thẩm phán phải đạt được các tiêu chuẩn quy định tại Điều 5 của PLTP&HTTAND (năm 2002) cụ thể là:
Công dân Việt Nam, trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có phẩm chất đạo đức tốt, liêm khiết và trung thực, có tinh thần kiên quyết bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, có trình độ cử nhân luật và được đào tạo về nghiệp vụ xét xử, có thời gian công tác thực tiễn, có năng lực làm công tác xét xử theo quy định của Pháp lệnh này, có sức khoẻ bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao thì có thể được tuyển chọn và
bổ nhiệm làm Thẩm phán [28, tr.2]
Để cụ thể hoá các tiêu chuẩn của người được bổ nhiệm Thẩm phán giúp cho công tác xây dựng Thẩm phán đủ về số lượng và đáp ứng được yêu cầu trong giai đoạn phát triển mới, từng bước chuẩn hoá trình độ chuyên môn, nghiệp vụ đối với Thẩm phán, TANDTC, Bộ Quốc phòng, Bộ Nội vụ, Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã ban hành Thông tư liên tịch số 01/2003/TTLT-TANDTC-BQP-BNV-UBTWMTTQVN ngày 01/4/2003 để hướng dẫn thi hành một số quy định của PLTP&HTTAND trong đó quy định rất rõ ràng điều kiện, tiêu chuẩn cụ thể đối với người được bổ nhiệm làm Thẩm phán:
Thứ nhất, “Thẩm phán phải là công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, , có tinh thần kiên quyết bảo vệ pháp chế ” [28, tr.2] Chúng ta biết rằng: “Tổ quốc” là vấn đề
thiêng liêng của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc và mỗi nhà nước, nó là tên gọi khác chứa đựng tâm khảm, tinh thần của con người của dân tộc về quốc gia
về nhà nước của mình Chính vì thế, lòng trung thành với Tổ quốc luôn là vấn
Trang 23đề quan trọng của mối quan hệ giữa nhà nước và công dân, nó đòi hỏi mỗi công dân phải biết tôn trọng, yêu quý quốc tịch mà họ đang mang; tự nguyện, dám hi sinh tính mạng và tài sản của mình để bảo vệ Tổ quốc Lòng trung thành với Tổ quốc đòi hỏi người Thẩm phán trước hết họ phải là công dân không có bất kỳ hành vi nào gây nguy hại cho độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, nền quốc phòng toàn dân, chế độ XHCN mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang xây dựng, đồng thời với chức trách, quyền hạn của mình họ phải là những người đi tiên phong trong việc phòng, chống các hành
vi xâm hại đến Tổ quốc
Mặt khác chúng ta cũng biết, Hiến pháp là văn bản pháp luật gốc, quan trọng nhất để bảo đảm về mặt pháp lý sự tồn tại vững chắc của nhà nước cùng với hệ thống chính trị - xã hội và hệ thống pháp luật của mình Do đó, Thẩm phán người có quyền và trách nhiệm nhân danh, sử dụng quyền lực nhà nước
để xét xử các hành vi vi phạm pháp luật và giải quyết các tranh chấp trong đời sống xã hội thì hơn khi nào hết họ phải có lòng trung thành tuyệt đối với Hiến pháp Bởi lẽ nếu có lòng trung thành với Hiến pháp thì họ mới tôn trọng và tìm cách để bảo vệ nó, đưa nó vào thực tiễn của đời sống chính trị - xã hội, đảm bảo sức sống của nó nhằm duy trì sự ổn định và phát triển của Nhà nước
và xã hội trong một khuôn khổ nhất định
Trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp ở đây còn được hiểu là Thẩm phán ngoài việc phải tôn trọng và nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp và pháp luật, thì họ còn phải là người tuyệt đối trung thành với Đảng, nghiêm chỉnh chấp hành mọi chủ trương chính sách của Đảng, của Nhà nước; luôn luôn nêu cao tinh thần phê bình và tự phê bình, kiên quyết đấu tranh chống lại những người, những hành vi làm phương hại đến Đảng đến Tổ quốc và nhân dân
Thứ hai, Thẩm phán phải là người có phẩm chất đạo đức tốt, liêm khiết và
trung thực Đây tưởng chừng như một tiêu chuẩn rất “bình thường” đối với đội
Trang 24ngũ cán bộ, công chức nói chung và cán bộ tư pháp, đặc biệt là Thẩm phán nói riêng, nhưng nó đang là vấn đề “nóng” hiện nay, khi một bộ phận không nhỏ các Thẩm phán phán không giữ vững được lập trường tư tưởng chính trị, có biểu hiện suy thoái về phẩm chất đạo đức nghề nghiệp trở thành những người có hành
vi vi phạm pháp luật như nhận tiền hối lộ, “chạy án”, đang làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, đặc biệt là lòng tin vào những người bảo vệ pháp luật, những người giữ cán cân công lý Do đó, vấn đề đạo đức công
vụ, đạo đức nghề nghiệp đang được xã hội hết sức quan tâm trong những năm gần đây, đòi hỏi Đảng, Nhà nước và ngành Toà án phải chú trọng, quan tâm hơn nữa việc nâng cao các yêu cầu, tiêu chuẩn đạo đức công vụ cho đội ngũ cán bộ, công chức của mình nói chung và Thẩm phán nói riêng
Cùng với sự chuyển đổi của nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, sự đòi hỏi phải hội nhập sâu hơn nữa vào đời sống kinh tế, chính trị thế giới Trong những năm qua, do ảnh hưởng của những mặt trái trong nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường như: sự chạy đua theo lợi ích cá nhân, đặt lợi ích cá nhân lên trên hết nó đang làm “sói mòn” phẩm chất đạo đức của một bộ phận không nhỏ những cán bộ, Thẩm phán không đủ bản lĩnh, không giữ vững được phẩm chất đạo đức cách mạng trong sáng Chính vì thế, trong chiến lược cải cách công tác tư pháp hiện nay quan điểm của Đảng, Nhà nước ta chỉ rõ phải nâng cao tiêu chuẩn phẩm chất chính trị đối với những người làm công tác tư pháp nói chung và Thẩm phán nói riêng
Phẩm chất chính trị của người Thẩm phán là nền tảng của tinh thần, thái độ, trách nhiệm đối với công việc, nó giúp cho Thẩm phán trở thành người chí công, liêm khiết, trung thực trong khi thực hành công vụ Chính vì thế trước yêu cầu của cải cách tư pháp, nâng cao chất lượng xét xử của toà án thì việc nâng cao tiêu chuẩn phẩm chất chính trị của Thẩm phán là cần thiết
Một vấn đề xã hội đang đòi hỏi đối với Thẩm phán hiện nay là Thẩm
Trang 25phán phải là người có cuộc sống lành mạnh, trong sáng, biết tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân; kiên quyết đấu tranh với mọi biểu hiện quan liêu, hạch dịch, cửa quyền Thẩm phán không những là người đại diện cho những chuẩn mực về đạo đức trong cuộc sống mà họ còn là người chuẩn mực đại diện cho sự tôn trọng và tuân thủ pháp luật, lấy các chuẩn mực trong đạo đức và chuẩn mực pháp luật để thay trời hành đạo Do đó, họ phải là người chưa bao giờ bị kết án
Tại hội nghị học tập của cán bộ ngành tư pháp năm 1950 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra những chuẩn mực về năng lực chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp của ngành tư pháp là:
Các bạn là những người phụ trách thi hành pháp luật Lẽ dĩ nhiên các bạn cần phải nêu cao gương Phụng công, thủ pháp, chí công vô tư cho nhân dân noi theo và trong tư tưởng Hồ Chí Minh
về đạo đức cách mạng người cán bộ nói chung, Người thường nhắc nhở, bất kỳ ai, ở địa vị nào, làm công tác gì, gặp hoàn cảnh nào, đều phải có tinh thần trách nhiệm Theo Bác, người có tinh có tinh thần trách nhiệm là khi Đảng, Chính phủ hoặc cấp trên giao cho việc gì, bất kỳ to hay nhỏ, khó hay dễ, thì họ cũng phải đem cả tinh thần và lực lượng ra làm cho đến nơi, đến chốn, vượt mọi khó khăn, làm cho thành công Trái lại làm một cách cẩu thả, làm cho có chuyện,
dễ làm khó bỏ, đánh trống bỏ dùi, gặp sao làm vậy là không có tinh thần trách nhiệm [13, tr.147]
Việc tu dưỡng, rèn luyện bền bỉ và có ý thức trau dồi đạo đức cách mạng là việc làm cần thiết và là nguyên tắc quan trọng bậc nhất đối với cán
bộ, đảng viên nói chung, Thẩm phán nói riêng Hồ Chí Minh đã viết: “Đạo
đức cách mạng không phải trên trời sa xuống Nó do đấu tranh, rèn luyện bền
bỉ hàng ngày mà phát triển và củng cố Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong” [13, tr.293]
Trang 26Thứ ba, Thẩm phán phải là người “có trình độ cử nhân luật”, nghĩa là họ
phải có bằng tốt nghiệp đại học về chuyên ngành luật do các trường đại học trong nước cấp theo quy định; nếu tốt nghiệp đại học về chuyên ngành luật ở nước ngoài, thì văn bằng đó phải được công nhận ở Việt Nam bởi một cơ quan nhà nước có thẩm quyền Đây là một tiêu chuẩn mới đối với các Thẩm phán, tiêu chuẩn này đòi hỏi người Thẩm phán phải đạt được chuẩn về trình độ chuyên môn Tuy nhiên, trên thực tế (tính đến tháng 3 năm 2008) trong cả nước vẫn “còn 5% số Thẩm phán chưa có bằng cử nhân luật” Đây là điều đáng lo ngại đối với ngành Toà án, vì tiêu chuẩn “có trình độ cử nhân luật” đã được quy định trong PLTP&HTTAND (năm 2002), một khoảng thời gian khá dài để ngành Toà án chuẩn hoá trình độ đội ngũ Thẩm phán của mình nhưng điều này vẫn chưa được giải quyết một cách triệt để làm ảnh hưởng không nhỏ đến hình ảnh và chất lượng xét xử của Thẩm phán Mặt khác, việc quy định chuẩn về trình độ cử nhân luật đối với Thẩm phán chưa phải là đòi hỏi cao so với công cuộc thực hiện việc chuẩn hoá giáo viên lên đến hàng triệu người trong ngành giáo dục mặc dù sự so sánh này vẫn còn nhiều khập khiễng trong khi đó Điều
14 PLTP&HTTAND quy định: “Thẩm phán có trách nhiệm học tập, nghiên
cứu để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ Toà án” [28]
Thứ tư, Thẩm phán phải là người đã được đào tạo về nghiệp vụ xét xử,
tức là họ phải được cấp chứng chỉ về đào tạo nghiệp vụ xét xử do cơ quan có chức năng đào tạo các chức danh tư pháp cấp (hiện nay, đơn vị duy nhất có chức năng này là Học viện Tư pháp thuộc Bộ tư pháp), nếu là chứng chỉ do cơ
sở nước ngoài cấp thì phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam công nhận Chứng chỉ nghiệp vụ xét xử được xem như một chứng nhận việc hành nghề xét xử đối với mỗi Thẩm phán, nó là căn cứ pháp lý quan trọng
để chứng nhận rằng một người có trình độ cử nhân luật có trình độ chuyên môn pháp lý và có khả năng hành nghề xét xử - trình độ về nghiệp vụ tác nghiệp khi
Trang 27thực hiện trách nhiệm và quyền xét xử của Thẩm phán, mặt khác nó thể hiện ngày càng rõ hơn tính chuyên nghiệp trong nghề xét xử
Tuy nhiên, hiện nay tiêu chuẩn này chưa mang tính chất là sự đòi hòi tuyệt đối cho những người đã có thời gian làm Thẩm phán, nghĩa là những người đã từng được bổ nhiệm làm Thẩm phán rồi thì pháp luật đương nhiên thừa nhận về mặt thực tế tiêu chuẩn hành nghề của họ, xem xét họ đạt được chuẩn về “chứng chỉ nghề” như những người lần đầu được bổ nhiệm Thẩm phán thì phải có chứng chỉ nghiệp vụ xét xử Việc quy định này là vấn đề mở nhằm đảm bảo về mặt thực tiễn để chuẩn hoá Thẩm phán trong giai đoạn hiện nay Theo quan điểm của chúng tôi, ngành toà án phải nhanh chóng xoá bỏ tình trạng ngoại lệ này, để góp phần đảm bảo nâng cao chất lượng xét xử của Toà
án, vì hiện nay tỷ lệ án bị huỷ, bị sửa nhiều là do một số Thẩm phán không nắm chắc nghiệp vụ xét xử đã vi phạm thủ tục tố tụng Hơn nữa việc tham gia các khoá học nghiệp vụ xét xử dần dần được lồng ghép và các chương trình đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên sẽ đảm bảo cho các Thẩm phán được củng cố, nâng cao hơn về nghiệp vụ xét xử của mình
Thứ năm, Thẩm phán ngoài việc phải có đủ các điều kiện tiêu chuẩn
khác thì đồng thời họ phải thoả mãn được tiêu chuẩn về khoảng thời gian công tác pháp luật nhất định trước khi được bổ nhiệm làm Thẩm phán Số năm công tác pháp luật để được tuyển chọn và bổ nhiệm Thẩm phán tương ứng với từng loại Thẩm phán Toà án các cấp khác nhau là khác nhau, cụ thể là:
+ Đối với Thẩm phán toà án nhân dân cấp huyện, Thẩm phán toà án quân sự khu vực (Thẩm phán sơ cấp) thì thời gian làm công tác pháp luật tối thiểu là từ bốn năm trở lên;
+ Đối với Thẩm phán Toà án nhân dân cấp tỉnh, Thẩm phán toà án quân
sự cấp quân khu (Thẩm phán trung cấp) thì thời gian làm công tác pháp luật tối thiểu là từ mười năm trở lên, nếu đã là Thẩm phán cấp huyện thì thời gian ít nhất là năm năm;
Trang 28+ Đối với Thẩm phán toà án nhân dân Tối cao, Thẩm phán Toà án quân
sự trung ương (Thẩm phán cao cấp) thì thời gian làm công tác pháp luật tối thiểu là từ mười lăm năm trở lên, nếu đã là Thẩm phán cấp tỉnh thì thời gian ít nhất là năm năm;
Trừ trường hợp đặc biệt sau: Trong trường hợp cần thiết, người trong ngành TAND hoặc người do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền điều động đến công tác tại ngành TAND tuy chưa có đủ thời gian làm Thẩm phán TAND cấp dưới hoặc chưa có đủ thời gian làm công tác pháp luật nhưng có đủ các điều kiện khác theo quy định tại Điều 20 hoặc Điều 21 hoặc Điều 22 PLTP&HTTAND thì vẫn có thể được bổ nhiệm làm Thẩm phán
Việc pháp luật quy định tiêu chuẩn về thời gian công tác pháp luật đối với từng loại Thẩm phán là điều hết sức cần thiết, bởi lẽ mỗi cấp Toà án khác nhau thì chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền sẽ khác nhau, chính vì thế Thẩm phán ở Toà án cấp nào thì họ phải có một khoảng thời gian cần thiết để nắm bắt được chức năng, nhiệm vụ mới của mình Điều kiện về thời gian sẽ đảm bảo cho Thẩm phán đủ điều kiện, cơ hội để tích luỹ về kinh nghiệm cũng như
về trình độ chuyên môn để đáp ứng được thẩm quyền xét xử mới của Toà án
mà họ phải thực hiện trách nhiệm, quyền xét xử
Tuy nhiên, quy định về thời gian “công tác pháp luật” được pháp luật hiện hành quy định khá mở rộng, cụ thể là: theo quy định tại Thông tư số 01/2003/TTLT-TANDTC-BQP-BNV-UBTWMTTQVN thì đó là thời gian kể
từ khi được xếp vào một trong các ngạch công chức nhất định như: Thư ký Toà án, Thẩm tra viên, Chấp hành viên, Chuyên viên hoặc Nghiên cứu viên pháp lý, Điều tra viên, Kiểm sát viên, Công chứng viên, Thanh tra viên, Cán
bộ bảo vệ an ninh trong quân đội, Cán bộ pháp chế, Giảng viên về chuyên ngành luật Ngoài ra đối với những người làm Luật sư, Luật gia người được bầu cử làm Hội thẩm TAND thì thời gian tham gia các công việc này cũng được coi là thời gian công tác pháp luật
Trang 29Theo quan điểm của chúng tôi, những quy định này mang nhiều tính giải pháp tình thế, để khắc phục tình trạng thiếu số lượng người được tuyển chọn, bổ nhiệm làm Thẩm phán hiện nay và nó cũng chỉ phù hợp với những người được tuyển chọn, bổ nhiệm Thẩm phán ở các Toà án hành chính Trong tương lai, pháp luật cần thắt chặt hơn nữa điều kiện, tiêu chuẩn này vì thời gian làm công tác pháp luật đối với một người trước khi được hành nghề Thẩm phán đặc biệt là Thẩm phán tư pháp phải là khoảng thời gian mà
họ làm những công việc có quan hệ chặt chẽ đối với ngành Toà án, Kiểm sát, Điều tra, có như vậy họ mới có điều kiện thường xuyên nhất tiếp xúc với pháp luật và thực tiễn xét xử, chất lượng công việc của họ đang làm có ảnh hưởng và liên quan hữu cơ với công tác xét xử, do đó họ thường xuyên theo dõi, xem xét kết quả xét xử của các Thẩm phán và đó là điều kiện tốt nhất để chứng tỏ khả năng xét xử của mình
Một điều chúng ta cũng cần phải lưu ý trong tiêu chuẩn thời gian công tác pháp luật là đối với tất cả những người được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Thẩm phán ở các toà án quân sự thì họ phải đang là sĩ quan quân đội tại ngũ
Thứ sáu, người được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Thẩm phán phải là
người có năng lực công tác xét xử có nghĩa là họ có khả năng hoàn thành tốt công tác xét xử những vụ án và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền của Toà án cấp tương ứng mà họ có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Thẩm phán Tuy nhiên, để đánh giá khả năng này các quy định của pháp luật hiện nay cũng chưa lượng hoá hết được các tiêu chí để đánh giá về năng lực công tác xét xử đặc biệt đối với những người có thời gian công tác pháp luật nhưng không phải đang làm trong ngành Toà án, Kiểm sát, Điều tra Theo quy định hiện hành thì việc xác định năng lực này chỉ dựa trên nhận xét, đánh giá của cơ quan đơn vị quản lý công chức hoặc người đó có những bài viết, công trình nghiên cứu chuyên sâu về pháp luật có giá trị được công bố hoặc được áp
Trang 30dụng vào thực tiễn Những quy định này chỉ mang tính định tính chứ chưa có tính định lượng cụ thể Theo chúng tôi pháp luật cần phải quy định rõ hơn nữa
là họ có bao nhiêu bài viết, công trình nghiên cứu chuyên sâu về pháp luật có giá trị được công bố, và việc công bố đó phải ở trên những phương tiện nào, diễn đàn nào; công trình nghiên cứu như thế nào, nếu là công trình nghiên cứu khoa học thì công trình đó phải là công trình cấp nào có như vậy chúng ta mới đánh giá đúng năng lực công tác xét xử của người được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Thẩm phán, đặc biệt là Thẩm phán ở Toà tư pháp
Thứ bảy, Có sức khoẻ hoàn thành nhiệm vụ được giao có nghĩa là họ
phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, ngoài thể lực cần thiết, còn phải thoả mãn yếu tố ngoại hình như không có dị tật, dị hình ảnh hưởng trực tiếp đến tư thế hoặc việc thực hiện nhiệm vụ của người Thẩm phán Quy định này nhằm đảm bảo cho Thẩm phán phải là người có sức khoẻ tốt cả về thể chất và tinh thần, đảm bảo cho hình ảnh của người đại diện công lý, sử dụng quyền lực Nhà nước để thực thi công vụ, do đó họ cần phải có một ngoại hình, thể chất
đủ tốt để đảm bảo khi thực thi công vụ
Thứ tám, người được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Thẩm phán phải là
người không thuộc các trường hợp sau: đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đang xem xét xử lý kỷ luật, nhưng chưa có quyết định cuối cùng của người hoặc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền
Tóm lại, để một người được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Thẩm phán thì họ phải đồng thời có đủ tám nhóm tiêu chuẩn và điều kiện trên Tám nhóm tiêu chuẩn này có quan hệ hữu cơ, biện chứng với nhau để đảm bảo cho Thẩm phán hội tụ được những phẩm chất cần thiết nhất để thực hiện vai trò đại diện công lý thực thi quyền xét xử của Tòa án Tuy nhiên, để đáp ứng điều kiện xây dựng đội ngũ Thẩm phán còn thiếu trong giai đoạn hiện nay, pháp luật cần có
Trang 31những quy định mang tính định tính rõ ràng, cụ thể hơn nữa đối với những người không phải đang công tác trong ngành Toà án, Kiểm sát, Điều tra trước khi tuyển chọn họ để đào tạo, bồi dưỡng và bổ nhiệm làm Thẩm phán
1.1.5 Phân loại Thẩm phán
Pháp luật tổ chức Toà án của các nước trên thế giới rất chú trọng việc phân loại Thẩm phán Điều này xuất phát từ tính chất công việc của các Thẩm phán làm nhiệm vụ ở các loại toà án khác nhau hay các cấp xét xử khác nhau trong cùng một hệ thống Toà án Việc phân loại này đảm bảo cho việc xác định tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ của Thẩm phán, cũng như vị trí, vai trò, chức trách của các Thẩm phán
Theo pháp luật về Thẩm phán Việt Nam thì Thẩm phán được phân loại theo các căn cứ sau:
- Xuất phát từ tính chất công việc của Thẩm phán tại các cấp toà án khác nhau là khác nhau ta có thể phân Thẩm phán thành các loại sau:
+ Thẩm phán TAND cấp huyện (Thẩm phán sơ cấp, trung cấp)
+ Thẩm phán TAND cấp tỉnh (Thẩm phán sơ cấp, trung cấp)
+ Thẩm phán TANDTC
- Xuất phát từ bản chất của các loại vụ án, tranh chấp mà Toà án phải xét xử và giải quyết hoặc từ loại hình Toà án tư pháp hay Toà án hành chính, Thẩm phán có thể phân thành:
+ Thẩm phán hành chính: là những Thẩm phán làm việc tại Toà án hành chính chuyên xét xử các khiêu kiện của nhân dân hoặc tổ chức đối với các quyết định hành chính (quyết định cá biệt cụ thể); những hành vi hành chính (hành động hoặc không hành động) trái pháp luật trong quá trình thực hiện công vụ của nhân viên nhà nước; sự chậm trễ trong việc thực hiện các nghĩa vụ hành chính mà pháp luật quy định cho các cơ quan hành chính nhà nước gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân công dân, tập
Trang 32thể cơ quan nhà nước khác; việc không thực hiện nghĩa vụ hành chính mà pháp luật quy định cho các cơ quan hành chính nhà nước phải thực hiện
Trong thời gian tới với quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước nếu thành lập Toà án khu vực chỉ xét xử ở 2 cấp thì chúng ta cũng cần phải có những Thẩm phán đáp ứng được các điều kiện đặc thù của loại hình Toà án này
+ Thẩm phán tư pháp: là những Thẩm phán chuyên xét xử những vụ án về hình sự; dân sự; những tranh chấp về lao động và người sử dụng lao động thuộc lĩnh vực điều chỉnh của luật lao động; những tranh chấp về kinh tế, thương mại giữa các cá nhân, tổ chức; những việc về quan hệ hôn nhân và gia đình
+ Thẩm phán Toà án quân sự các cấp: trước hết họ phải là những sĩ quan đang tại ngũ được bổ nhiệm Thẩm phán để chuyên xét xử các vụ án và giải quyết các công việc thuộc thẩm quyền của Toà án quân sự các cấp
Theo Điều 2 PLTP&HTTAND năm 2002, được sửa đổi, bổ sung năm
2011 thì Thẩm phán Toà án nhân dân ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam gồm có:
a) Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
b) Thẩm phán trung cấp;
c) Thẩm phán sơ cấp;
d) Thẩm phán Tòa án quân sự bao gồm Thẩm phán Tòa án quân sự trung ương đồng thời là Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, Thẩm phán trung cấp, Thẩm phán sơ cấp
Theo Luật tổ chức Toà án của Cộng hoà Pháp thì Thẩm phán được phân thành các loại sau:
+ Thẩm phán hạng 2;
+ Thẩm phán hạng 1;
+ Thẩm phán ngoại hạng, là những Thẩm phán xét xử tại các toà phá
án, họ được bổ nhiệm bằng Nghị định của Tổng thống theo các điều kiện được quy định trong Hiến pháp
Trang 33+ Thẩm phán cao cấp là những Thẩm phán mà năng lực và hoạt động của họ chứng tỏ rằng họ có thể đảm nhận được các chức năng tư pháp tại Toà phá án, họ là những Thẩm phán đảm nhận công việc đặc biệt bên cạnh Toà phá án Họ được bổ nhiệm trong một khoảng thời gian là 5 năm không gia hạn, theo các hình thức tương ứng được quy định về việc bổ nhiệm các Thẩm phán xét xử của Toà phá án Chức trách của Thẩm phán này có thể chấm dứt theo đề nghị của họ hoặc trong trường hợp họ phải chịu một hình phạt theo quy định của pháp luật Đặc biệt khi Thẩm phán được đảm nhận các công việc đặc biệt được biệt phái khỏi ngành tư pháp với tư cách là công chức nhà nước Trong thời gian đảm nhận nhiệm vụ này, họ không được đề bạt bất cứ chức vụ gì ở cơ quan mới này
Cũng theo quy định Luật Tổ chức toà án Cộng hoà Pháp họ còn có các quy định về Thẩm phán tập sự trong 2 năm Sau đó Thẩm phán tập sự phải thông báo cho Bộ trưởng Bộ Tư pháp vị trí họ mong muốn được bổ nhiệm (Tổng thống bổ nhiệm) Nếu họ không thông báo nguyện vọng của mình thì
họ sẽ được bổ nhiệm vào một vị trí nhất định, nếu họ không đồng ý với đề xuất đó, thì bị coi đã từ nhiệm
1.2 Ý thức pháp luật và ý thức pháp luật của Thẩm phán
1.2.1 Khái niệm cơ bản về ý thức pháp luật
Ý thức pháp luật là một hình thái của ý thức xã hội trong xã hội có giai cấp, nó là một trong những vấn đề cơ bản, đa dạng, phức tạp của đời sống pháp luật Đời sống pháp luật đó là nhu cầu cần phải điều chỉnh những hành
vi có tính lặp đi, lặp lại thường xuyên, phổ biến của con người trong đời sống
xã hội nhằm bảo vệ lợi ích của giai cấp nắm quyền lực và duy trì sự ổn định của cộng đồng Nhu cầu cần điều chỉnh đó được con người phản ảnh một cách tích cực và sáng tạo hình thành ý thức pháp luật
Đời sống pháp luật trước hết là nhu cầu điều chỉnh hành vi xử sự của
Trang 34con người bằng các quy tắc, nhằm tạo lập một trật tự xã hội nhất định Nhu cầu này trong xã hội có giai cấp được các giai cấp thống trị nhận thức và hình thành ý thức pháp luật của giai cấp mình
Do đó đời sống pháp luật là một hiện thực khách quan, một bộ phận của tồn tại xã hội, còn ý thức pháp luật là cái phản ảnh đời sống pháp luật đó
ý thức pháp luật hiểu theo nghĩa hẹp, theo nghĩa thông thường là ý thức chấp hành những quy định pháp luật của con người Vì thế khi đánh giá ý thức pháp luật của một tập thể, cá nhân nào đó người ta thường so sánh giữa hành
vi chấp hành của những đối tượng đó với yêu cầu của những quy định trong văn bản pháp luật để đánh giá ý thức pháp luật cao hay thấp, tốt hay kém của
họ Quan niệm này đồng nhất ý thức pháp luật với một hình thức biểu hiện cụ thể của nó, như vậy sẽ quá hẹp, thiếu toàn diện, chưa thể hiện rõ được bản chất, vai trò năng động, sáng tạo của ý thức pháp luật
Trong lý luận khoa học, ý thức pháp luật được hiểu theo nghĩa rộng Tuy nhiên do mục đích và phương diện nghiên cứu khác nhau mà cho đến nay cũng xuất hiện nhiều quan niệm khác nhau về ý thức pháp luật Quan niệm
thứ nhất cho rằng: "ý thức pháp luật là một hình thái ý thức xã hội, biểu thị
mối quan hệ của con người đối với pháp luật" [27, tr.147] Đây là quan niệm
mang tính khái quát cao, nhưng lại quá chung chưa phản ánh kết cấu nội dung của ý thức pháp luật Quan niệm thứ hai: Thường nhấn mạnh mặt này hay mặt khác của ý thức pháp luật Có quan niệm tập trung nhấn mạnh cơ cấu của ý thức pháp luật như:
Ý thức pháp luật là tổng hợp những tư tưởng, quan điểm pháp luật và tâm lý pháp luật Hay nói cụ thể hơn, là tổng hợp những nhận thức, những hiểu biết quan điểm pháp lý, những tình cảm pháp luật, cùng với sự tôn trọng và thói quen chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật [25, tr.235]
Trang 35Xét về mặt bản chất giai cấp, có quan niệm cho rằng:
Ý thức pháp luật XHCN là tổng hòa những quan điểm quan niệm, tình cảm về mặt pháp luật thể hiện thái độ của giai cấp công nhân và của nhân dân lao động do giai cấp công nhân lãnh đạo, đối với pháp luật, đối với những yêu cầu khác của pháp luật, đối với các quyền và nghĩa vụ của công dân [6, tr.196]
Một số ý kiến khác lại thu hẹp cơ cấu của ý thức pháp luật, chỉ nhấn mạnh mặt tri thức pháp luật như:
Ý thức pháp luật là tổng thể những học thuyết, tư tưởng, quan điểm và quan niệm thịnh hành trong xã hội, thể hiện mối quan hệ thông qua sự hiểu biết của con người đối với pháp luật hiện hành, pháp luật đã qua và pháp luật cần phải có, thể hiện sự đánh giá về tính hợp pháp hay không hợp pháp trong hành vi xử sự của con người cũng như trong hoạt động của các cơ quan nhà nước và tổ chức xã hội [27, tr.229]
Có quan niệm chỉ tập trung nhấn mạnh ý thức của chủ thể pháp luật:
"ý thức pháp luật là trình độ hiểu biết của các tầng lớp nhân dân về pháp luật ý thức pháp luật còn là thái độ đối với pháp luật, ý thức tôn trọng hay coi thường pháp luật, đó là thái độ đối với hành vi vi phạm pháp luật
và phạm tội" [27, tr.609]
Quan niệm thứ ba: Đề cập tới ý thức pháp luật một cách đầy
đủ, toàn diện hơn Nó không những chỉ ra được tính chất, cơ cấu và nội dung của ý thức pháp luật mà còn đề cập đến cả nguồn gốc, mối liên hệ phổ biến, tất yếu của ý thức pháp luật đối với đời sống xã hội Theo quan niệm này: ý thức pháp luật là một hình thái ý thức
xã hội, là tổng thể những quan điểm, khái niệm, học thuyết pháp lý, tình cảm của con người (cá nhân, giai cấp, tầng lớp) thể hiện thái độ
Trang 36của họ đối với pháp luật hiện hành, trật tự pháp luật, sự đánh giá về tính công bằng hay không công bằng, đúng đắn hay không đúng đắn của pháp luật hiện hành, pháp luật đã qua và pháp luật trong tương lai, và hành vi hợp pháp, hành vi không hợp pháp của cá nhân, các cơ quan nhà nước, tổ chức [29, tr.290]
Trên cơ sở nghiên cứu các ý kiến nêu trên, chúng tôi quan niệm:
Ý thức pháp luật là một hình thái ý thức xã hội, mang tính giai cấp sâu sắc phản ánh một cách tích cực, sáng tạo và trực tiếp đời sống pháp luật, hình thành những khái niệm, quan điểm, tư tưởng, tình cảm của con người (cá nhân, giai cấp, tầng lớp) đối với pháp luật, thể hiện sự hiểu biết, thái độ của
họ đối với pháp luật hiện hành, pháp luật trong quá khứ và pháp luật trong tương lai, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể pháp luật, tính hợp pháp hay không hợp pháp trong hành vi xử sự của cá nhân, các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị xã hội
Quan niệm trên đã chỉ rõ nguồn gốc trực tiếp của ý thức pháp luật là đời sống pháp luật, đồng thời cũng nêu lên tính chất, cơ cấu và nội dung của ý thức pháp luật, qua đó thấy được vai trò to lớn của ý thức pháp luật trong đời sống xã hội, để có thái độ xử sự đúng đắn như nó đang tồn tại Là một hình thái ý thức xã hội, ý thức pháp luật tuân thủ quy luật chung của sự hình thành ý thức xã hội phản ánh đời sống pháp luật, mà trước hết là nhu cầu pháp lý đặt ra của đời sống
xã hội, thông qua chuẩn mực pháp luật để điều chỉnh hành vi con người, nhằm thiết lập trật tự kỷ cương xã hội theo ý chí của giai cấp cầm quyền
Ý thức pháp luật có mối quan hệ tác động qua lại với các hình thái ý thức xã hội khác, nhất là đối với ý thức chính trị, và ý thức đạo đức
Ý thức chính trị phản ánh mối quan hệ giữa các tập đoàn người trong
xã hội đối với quyền lực nhà nước Còn ý thức pháp luật phản ánh mối quan
hệ của còn người đối với các quy tắc được chấp nhận trong xã hội nhất định
Trang 37ý thức pháp luật chịu sự tác động trực tiếp của ý thức chính trị bởi vì bản chất pháp luật là ý chí của giai cấp cầm quyền được thể hiện thành "luật lệ" mà mỗi chế độ xã hội có giai cấp, chỉ có một hệ thống pháp luật duy nhất thể hiện
ý chí của giai cấp cầm quyền
Ý thức đạo đức phản ánh mối quan hệ giữa các cá nhân và những quan điểm theo đó con người đánh giá chính "cái tôi" của mình, nghĩa vụ công bằng mang tính nội tâm và tự nguyện Còn ý thức pháp luật nghĩa vụ và công bằng dân chủ được Nhà nước quy định, do đó mang tính cưỡng chế
Nếu ý thức chính trị có tác động chi phối ý thức pháp luật nhất là hệ tư tưởng chính trị thì ngược lại ý thức pháp luật là sự phản ánh những yêu cầu chính trị dưới góc độ pháp luật Bên cạnh đó, ý thức pháp luật và ý thức đạo đức đều cùng hướng vào việc điều chỉnh hành vi con người, nên chúng chịu ảnh hưởng và hỗ trợ nhau rất lớn
Như vậy ý thức pháp luật, ý thức chính trị và ý thức đạo đức có mối quan hệ hữu cơ, tác động qua lại lẫn nhau, mặc dù khác nhau nhưng chúng cùng phản ánh và chịu sự quy định của tồn tại xã hội, nhất là sự quy định của chế độ kinh tế
1.2.2 Cơ cấu của ý thức pháp luật
Kết cấu của ý thức pháp luật là cách thức tổ chức bên trong của ý thức pháp luật, trong đó, giữa các nhân tố cấu thành của ý thức pháp luật vừa thống nhất với nhau vừa tác động ảnh hưởng lẫn nhau và với các hiện tượng khác trong đời sống xã hội
Ý thức pháp luật là hiện tượng xã hội phức tạp, theo các lát cắt khác nhau, có thể chia ý thức pháp luật thành những yếu tố cấu thành khác nhau Mỗi cách phân chia đều có ý nghĩa nhất định trong việc tìm hiểu bản chất, đặc điểm và vai trò của ý thức pháp luật Xuất phát từ mục đích và nhiệm vụ của luận văn chúng tôi theo cách tiếp cận kết cấu ý thức pháp luật gồm hai bộ phận: Hệ tư tưởng pháp luật và tâm lý pháp luật
Trang 38Một là: Hệ tư tưởng pháp luật
Hệ tư tưởng pháp luật là tổng hợp các quan điểm, ý niệm, tư tưởng, của con người về đời sống pháp luật hợp thành hệ thống thống nhất, phản ánh một cách sâu sắc đời sống pháp luật trên lập trường của một giai cấp nhất định
Hệ tư tưởng pháp luật phản ánh hiện thực một cách không trực tiếp, trực diện mà phản ánh một cách gián tiếp dưới dạng các khái niệm, phạm trù, quan điểm, tư tưởng… Hệ tư tưởng pháp luật là sự nhận thức ở trình độ lý luận, có tính hệ thống về các vấn đề có tính bản chất của pháp luật và các hiện tượng pháp luật
Nội dung của hệ tư tưởng pháp luật chủ yếu là những tri thức về vai trò, chức năng, bản chất giai cấp của pháp luật, về mối quan hệ giữa pháp luật với dân chủ, bình đẳng, công bằng tự do của con người, mối quan hệ giữa quyền
và nghĩa vụ pháp chế trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước về sáng tạo pháp luật và thực hiện pháp luật
Hệ tư tưởng pháp luật chính thống của một quốc gia bao giờ cũng là hệ
tư tưởng của giai cấp thống trị (trong xã hội tư bản chủ nghĩa, giai cấp thống trị
là giai cấp tư sản, trong xã hội XHCN giai cấp thống trị là giai cấp công nhân
và nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Khi giai cấp thống trị là lực lượng tiến bộ của xã hội, có lợi ích phù hợp với lợi ích căn bản của đông đảo các lực lượng khác trong xã hội thì tính khoa học, tính dân chủ và tính xã hội của hệ tư tưởng pháp luật sẽ thể hiện nổi bật, rõ nét Ngược lại, nó
sẽ trở thành hệ tư tưởng pháp luật lạc hậu, thậm chí phản động Song, dù có tiến bộ hay lạc hậu thì trong quá trình tồn tại và phát triển, các hệ tư tưởng này luôn có ý thức chuyển hóa mạnh mẽ thành ý thức pháp luật của toàn xã hội
Ở nước ta hiện nay tư tưởng pháp luật của chủ nghĩa Mác - Lênin và
Hồ Chí Minh được cụ thể hóa trong đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước ta Một trong những đặc điểm cơ bản nhất của sự hình thành ý thức pháp
Trang 39luật ở Việt Nam là quá trình tự giác dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam Đây chính là nhân tố quyết định của bản chất giai cấp công nhân và tính nhân dân của ý thức pháp luật Muốn nâng cao được ý thức pháp luật chúng ta cần dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vai trò, bản chất của pháp luật làm cho các quan điểm đó trở thành hệ tư tưởng pháp luật chi phối đời sống pháp luật toàn xã hội ở Việt Nam hiện nay Bên cạnh đó Nhà nước phải kịp thời thể chế hóa đường lối chính trị của Đảng thành pháp luật để đưa đường lối của Đảng đến toàn xã hội
Để đảm bảo phát huy quyền làm chủ của nhân dân trên mọi lĩnh vực, trước hết pháp luật phải thể hiện ý chí, nguyện vọng của nhân dân, đồng thời
là công cụ hữu hiệu đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân, đảm bảo cho nhân dân thực sự tham gia vào quá trình xây dựng pháp luật, giám sát các cơ quan nhà nước trong việc thực thi pháp luật Thực tiễn cách mạng Việt Nam chỉ ra rằng những tư tưởng trên có vai trò hết sức to lớn trong công tác xây dựng pháp luật, xây dựng nền pháp quyền XHCN cũng như công tác phổ biến giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức pháp luật XHCN
Hai là: Tâm lý pháp luật
Tâm lý pháp luật được hình thành một cách tự phát dưới tâm trạng, cảm xúc, thái độ, tình cảm đối với pháp luật và các hiện tượng pháp lý khác Nó là nấc thang đầu tiên của nhận thức con người về vấn đề liên quan đến pháp luật, là kết quả của nhận thức trực tiếp, mang nhiều yếu tố chủ quan, cảm tính
Tâm lý pháp luật là trình độ nhận thức trực giác cảm tính dưới sự tác động mạnh mẽ của các yếu tố nhu cầu, lợi ích của cá nhân, nhóm người, hay cộng đồng xã hội nó mang nhiều tính chất chủ quan, tự phát Trong hoạt động
Trang 40giao tiếp hàng ngày thường xuất hiện những trạng thái tâm lý pháp luật trong con người bao gồm: Tình cảm, tâm trạng, truyền thống, thói quen, niềm tin, thành kiến Tâm lý pháp luật tồn tại phổ biến trong mọi cá nhân, nó là yếu tố ảnh hưởng lớn đến sự hình thành ý thức pháp luật nước ta hiện nay
Trình độ nhận thức cảm tính trong tâm lý pháp luật thể hiện ở thái độ của nhân dân đối với pháp luật hiện hành và việc chấp hành các quy định của pháp luật Thái độ này có thể biểu hiện khi chưa có hiểu biết pháp luật và có thể khi đã có kiến thức pháp luật thông thường nhưng về thái độ lại xem thường pháp luật Chính vì thế, quá trình hình thành ý thức pháp luật, trước tiên cần cho mọi người hiểu biết pháp luật và xây dựng thái độ tôn trọng pháp luật Trình độ hiểu biết pháp luật, văn hóa pháp lý luôn là cơ sở cho sự nhận thức để hình thành ý thức pháp luật và củng cố thái độ, niềm tin đối với pháp luật
Trong những trạng thái của tâm lý pháp luật thì tình cảm pháp luật, pháp luật là yếu tố năng động Nếu chủ thể nhận thức được giá trị của pháp luật và cơ chế điều chỉnh của pháp luật phù hợp với nguyện vọng, lợi ích nhu cầu của mình thì nảy sinh tình cảm pháp luật tích cực Ngược lại, sẽ xuất hiện tình cảm tiêu cực Tình cảm pháp luật này ảnh hưởng rất lớn tới thái độ tích cực hoặc tiêu cực của con người đối với pháp luật
Truyền thống, thói quen, niềm tin pháp luật là nhân tố tương đối ổn định trong tâm lý pháp luật Nó được hình thành trong một thời gian dài và trải qua thử thách, giúp cho con người hoạt động một cách tự tin và kiên định
Vì vậy nó là yếu tố quan trọng trong việc hình thành ý thức pháp luật Trong mọi lĩnh vực cũng phải cân nhắc cẩn thận việc tiếp thu, kế thừa truyền thống thói quen, bởi vì truyền thống thói quen có cả mặt tích cực và mặt tiêu cực Chẳng hạn, do điều kiện lịch sử, đất nước ta nhìn chung chưa có thói quen sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật, do vậy trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền chúng ta phải khắc phục hạn chế này