Người bản địa Tương đương với khái niệm người dân tộc thiểu số tại Việt Nam và cập tới một nhóm người riêng biệt, dễ bị tổn thương, có đặc điểm xã hội và văn hóa riêng, mang trong mình
Trang 1DỰ ÁN QUẢN LÝ NGUỒN NƯỚC VÀ NGẬP LỤT VĨNH PHÚC
KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN
DÂN TỘC THIỂU SỐ
(EMDP)
Hạng mục Cải tạo, Nạo vét 03 sông Bình Xuyên; Xây dựng
Cống Điều tiết Cầu Tôn, Cầu Sắt
Đơn vị chuẩn bị dự án:
Ban quản lý ODA – Sở Kế hoạch và Đầu tư Vĩnh Phúc
Địa chỉ: Số 38-40, đường Nguyễn Trãi, p Đống Đa, Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc
Điện thoại/Fax: 02113.860.858
Tháng 11 năm 2015
Trang 2MỤC LỤC
TỪ VIẾT TẮT 3
ĐỊNH NGHĨA 4
TÓM TẮT 6
I Giới thiệu 9
1.1 Bối cảnh dự án 9
1.2 Mục tiêu của kế hoạch phát triển dân tộc thiểu số (EMDP) 11
II Khung Pháp lý và Chính sách về Người Dân tộc Thiểu số 11
2.1 Các chính sách về Dân tộc thiểu số của Chính phủ Việt Nam 11
2.2 Chính sách về Dân tộc Bản địa của Ngân hàng Thế giới (OP 4.10) 14
III Thông tin Kinh tế Xã hội của Người DTTS trong Khu vực Tiểu Dự án 15
3.1 Tổng quan về cộng đồng DTTS trong khu vực dự án và khu vực liền kề 15
3 2 Đặc điểm nhóm dân tộc Sán Dìu trong phạm vi ảnh hưởng của Tiểu Dự án 16
IV Tác động Tiềm ẩn 18
4.1 Tác động tích cực 18
4.2 Tác động tiêu cực 19
4.3 Các biện pháp giảm thiểu 19
V Tham vấn Cộng đồng DTTS 21
5.1 Mục tiêu của tham vấn cộng đồng 21
5.2 Phương pháp tham vấn cộng đồng 21
5.3 Kết quả tham vấn 22
5.4 Tham vấn với cộng đồng DTTS trong quá trình thực hiện dự án 23
VI Các Hoạt động Phát triển Đề xuất cho Người DTTS 24
VII Công bố và Phổ biến Thông tin 26
VIII Tổ chức thực hiện 26
IX Cơ chế giải quyết khiếu nại 27
X Giám sát và Đánh giá 29
XI Kế hoạch Thực hiện và Ngân sách 30
11.1 Kế hoạch thực hiện 30
11.2 Ngân sách 31
PHỤ LỤC 1: PHÂN BỐ DÂN SỐ VÀ DÂN TỘC TRONG KHU VỰC DỰ ÁN VÀ KHU VỰC LÂN CẬN 33
PHỤ LỤC 2 – DANH SÁCH THAM DỰ THAM VẤN 34
Trang 3EMDP Kế hoạch Phát triển dân tộc thiểu số
EMPF Khung chính sách dân tộc thiểu số
Ủy ban nhân dân tỉnh
Trang 4ĐỊNH NGHĨA
Tác động dự án là các tác động tích cực và tiêu cực của tất cả các hoạt
động của các hợp phần dự án đến người DTTS Các tác động tiêu cực thường là hậu quả tức thì của việc thu hồi một mảnh đất hoặc hạn chế việc sử dụng các khu vực được chỉ định hợp pháp hoặc khu vực được bảo tồn Những người bị ảnh hưởng trực tiếp bởi việc thu hồi đất có thể mất nhà, đất trồng trọt/ chăn nuôi, tài sản, hoạt động kinh doanh, hoặc các phương tiện sinh kế khác Nói một cách khác, họ có thể mất quyền
sở hữu, quyền cư trú, hoặc các quyền sử dụng do thu hồi đất hay hạn chế tiếp cận
Người bị ảnh hưởng tức là những cá nhân, tổ chức hay cơ sở kinh doanh bị
ảnh hưởng trực tiếp về mặt xã hội và kinh tế bởi việc thu hồi đất và các tài sản khác một cách bắt buộc do
dự án mà Ngân hàng Thế giới tài trợ gây ra, dẫn đến (i) di dời hoặc mất chỗ ở; (ii) mất tài sản hoặc sự tiếp cận tài sản; hoặc (iii) mất các nguồn thu nhập hay những phương tiện sinh kế, cho dù người bị ảnh hưởng có phải di chuyển tới nơi khác hay không (những người có sinh kế bị ảnh hưởng tạm thời hoặc vĩnh viễn) Ngoài ra, người bị ảnh hưởng là người bị hạn chế một cách bắt buộc sự tiếp cận các khu vực hợp pháp và các khu vực được bảo vệ gây tác động bất lợi đến sinh kế
Người bản địa Tương đương với khái niệm người dân tộc thiểu số tại
Việt Nam và cập tới một nhóm người riêng biệt, dễ bị tổn thương, có đặc điểm xã hội và văn hóa riêng, mang trong mình những đặc tính sau đây, ở nhiều cấp
độ khác nhau: (i) tự xác định như là thành viên của một nhóm văn hóa bản địa riêng biệt và đặc tính này được công nhận bởi các nhóm văn hóa khác; (ii) sống thành nhóm gắn với những điểm cư trú riêng biệt về mặt địa lý hoặc trên những vùng đất do ông bà, tổ tiên
để lại trong khu vực dự án và sống gắn bó với các nguồn tài nguyên thiên nhiên tại các khu vực cư trú và lãnh thổ đó; (iii) các thể chế về văn hóa, xã hội, kinh
tế, và chính trị theo tập tục riêng biệt so với những thể chế tương tự của xã hội và nền văn hóa thống lĩnh, và (iv) một ngôn ngữ bản địa riêng, thường khác với
Trang 5ngôn ngữ chính thống của quốc gia hoặc vùng
Các nhóm dễ bị tổn
thương
Được xác định lànhững người do đặc điểm giới tính, dân tộc, tuổi tác, khuyết tật về thể chất hoặc tinh thần, bất lợi về kinh tế hoặc địa vị xã hội, bị ảnh hưởng nặng nề hơn về tái định cư so với cộng đồng dân cư khác và những người bị giới hạn do khả năng của họ yêu cầu được hỗ trợ để phát triển lợi ích của họ từ dự
án, bao gồm: (i) phụ nữ làm chủ hộ có khẩu ăn theo (không có chồng, mất chồng, chồng không còn khả năng lao động), (ii) người khuyết tật (không còn khả năng lao động), người già không nơi nương tựa, (iii)
hộ nghèo (iv) người không có đất đai; và (v) người dân tộc thiểu số
nghĩa là quá trình ra quyết định phù hợp với văn hóa
để có kết quả tham vấn ý nghĩa, tin cậy và người tham gia được thông báo về việc chuẩn bị và thực hiện dự
án Như vậy sẽ không tạo ra sự bất bình từ các cá nhân hoặc nhóm người
Gắn kết theo tập thể tức là nói về sự có mặt ở đó và gắn bó về kinh tế với
mảnh đất và vùng lãnh thổ mà họ có và được truyền lại từ nhiều đời, hoặc họ sử dụng hay chiếm hữu theo phong tục, tập quán của nhiều thế hệ của nhóm người DTTS đang đề cập tới, bao gồm cả các khu vực có ý nghĩa đặc biệt, ví dụ như các khu vực tâm linh, linh thiêng “Gắn kết theo tập thể” còn hàm chỉ tới sự gắn kết của các nhóm người DTTS hay di chuyển/ di cư/ đối với vùng đất mà họ sử dụng theo mùa hay theo chu kì
do Nhà nước ban hành
Trang 6TÓM TẮT
Kết quả đánh giá tác động xã hội (SA) của dự án cho thấy, khu vực dự án sẽ đi 7 huyện/thành phố của tỉnh Vĩnh Phúc, bao gồm: Bình Xuyên, Vĩnh Tường, Yên Lạc, Tam Đảo, Tam Dương, thị xã Phúc Yên và thành phố Vĩnh Yên Báo cáo SA cũng chỉ ra rằng, trong khu vực thực hiện dự án, có sự hiện diện của người dân tộc thiểu số Kết quả sàng lọc của tư vấn lập
Kế hoạch Phát triển dân tộc thiểu số cho thấy, dự án không thu hồi đất của người DTTS trong khu vực Bên cạnh những tác động tích cực, trong quá trình thi công dự án, dự kiến sẽ có một
số ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống người dân Nhằm hạn chế những yếu tố ảnh hưởng, tác động tiêu cực và tăng cường các hoạt động nhằm mang lại lợi ích của dự án tới nhóm DTTS trong khu vực và những khu vực liền kề, một Kế hoạch phát triển dân tộc thiểu số cho dự án được xây dựng
Tiểu dự án cải tạo và nạo vét ba sông Bình Xuyên, bao gồm các sông Cầu Bòn, sông Tranh,
và sông Bá Hanh, được thực hiện nhằm mục đích: (i) Nâng cao khả năng tiêu thoát lũ cho vùng dự án, giảm diện tích ngập úng, cải tạo môi trường sinh thái của dòng sông;giảm tình trạng ngập úng đối với các khu công nghiệp trong vùng như KCN Bình Xuyên; KCN Bá Thiện I; KCN Bá Thiện II; (ii) Xây dựng điều tiết Cầu Tôn trên sông Cầu Bòn nhằm ngăn lũ
từ vùng Tam Đảo chảy về sông Phan vào vùng lõi đô thị Vĩnh Yên; và (iii) Xây dựng điều tiết Cầu Sắt trên sông Cà Lồ nhằm ngăn lũ vật ngược từ Sông Cầu theo sông Cà Lồ chảy vào sông Phan gây ngập úng cục bộ cho vùng thị xã Phúc Yên, huyện Yên Lạc và thành phố Vĩnh Yên Tổng diện tích đất thu hồi vĩnh viễn cho Tiểu Dự án là 666.449,2 m2
Kế hoạch Phát triển Dân tộc Thiểu số Kết quả sàng lọc trong khu vực Tiểu Dự án khẳng
định sự hiện diện của cộng đồng dân tộc thiểu số (DTTS) theo các đặc điểm được xác định trong Chính sách OP 4.12 và theo các quy định của Chính phủ Người DTTS trong khu vực Tiểu dự án sinh sống tại 7 xã chủ yếu thuộc các nhóm Sán Dìu, Tày và Mường Trong đó, người Sán Dìu chiểm tới 99,5% tổng số người DTTS và chiếm 35% tổng dân số trong khu vực Trong thời gian thực hiện Dự án, ước tính có khoảng 20 hộ DTTS có thể sẽ bị ảnh hưởng do các tác động tạm thời
Tác động tích cực và tiêu cực
Tác động tích cực Hoạt động cải tạo và nạo vét ba sông Bình Xuyên, bao gồm các sông Cầu
Bòn, sông Tranh, và sông Bá Hanh sẽ cải thiện khả năng tiêu thoát lũ trong khu vực dự án, giảm diện tích ngập úng, cải tạo môi trường sinh thái của dòng sông Tất cả những lợi ích này cũng sẽ được chia sẻ bởi cộng đồng DTTS
Tác động tiêu cực Đánh giá tác động xã hội của Tiểu dự án đã khẳng định đất đai và tài sản
của người DTTS sẽ không bị thu hồi vĩnh viễn cho việc thực hiện Tiểu Dự án Tuy nhiên, các tác động thu hồi đất tạm thời cũng như ảnh hưởng tới các hoạt động đánh bắt cá có thể sẽ ảnh hưởng tới người DTTS
Trang 7Kế hoạch Phát triển DTTS này được chuẩn bị nhằm đảm bảo rằng các lợi ích của dự án sẽ dẫn tới gia tăng năng suất nông nghiệp Do đó, Kế hoạch Phát triển DTTS nhằm đảm bảo rằng người DTTS sẽ được cung cấp các đào tạo cần thiết (ví dụ đào tạo nghề, an toàn giao thông) và là mục tiêu của các hoạt động thông tin và truyền thông của Dự án như nâng cao nhận thức của người dân về các tệ nạn xã hội tiềm tàng trong quá trình xây dựng
Các biện pháp giảm thiểunhằm hướng dẫn người DTTS bị ảnh hưởng chọn các giống cây
trồng có thời gian sinh trưởng phù hợp với tiến độ thi công; nâng cao nhận thức cộng đồng về
an toàn giao thông và phòng tránh tệ nạn xã hội trong giai đoạn thi công; đảm bảo nhà thầu
có các biện pháp vận chuyển vật liệu và khôi phục các công trình hạ tầng bị ảnh hưởng trở lại hiện trạng ban đầu
Khung pháp lý của kế hoạch DTTS Khung pháp lý và chính sách cho việc lập và thực hiện
kế hoạch DTTS được xác định bằng các luật, nghị định và sắc lệnh có liên quan của Chính phủ Việt Nam (GOV) cho cộng đồng các DTTS và phù hợp với hướng dẫn của chính sách
dân tộc bản địa OP 4.10 của Ngân hàng Thế giới
Vấn đề giới Kết quả đánh giá xã hội cho thấy đối với khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội,
không có biểu hiện của sự bất bình đẳng giữa nam giới và nữ giới trong khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế, giáo dục cũng như các tổ chức văn hóa và xã hội Tuy nhiên, theo truyền thống, các thành viên nữ trong gia đình không có quyền thừa kế đất đai, do đó phụ nữ bị từ chối khả năng tiếp cận với tài sản quan trọng này
Tham vấn cộng đồng và phổ biến thông tin Việc tham vấn đối các nhóm DTTS trong vùng
dự án đã được thực hiện vào tháng 9 và10 năm 2015 để đánh giá tác động đến sinh kế và xác định các hoạt động/biện pháp giảm thiểu để đáp ứng nhu cầu của của cộng đồng Kết quả của hoạt động tham vấn cộng đồng được phản ánh trong EMDP này Quá trình tham vấn và công
bố thông tin sẽ được tiến hành trong suốt quá trình thực hiện dự án Các hoạt động tham vấn cũng thông tin cho cộng đồng DTTS về các lợi ích do Dự án mang lại cũng như các tác động tiêu cực ảnh hưởng tới người dân trong khu vực Các cộng đồng DTTS trong khu vực Tiểu
Dự án đã khẳng định sự ủng hộ đối với việc thực hiện Tiểu Dự án
Tổ chức thực hiện Ủy ban Nhân dân (UBND) Tỉnh Vĩnh Phúc, đại diện của Chính phủ, là
Chủ dự án UBND Tỉnh Vĩnh Phúc chịu trách nhiệm chung cho toàn bộ dự án Ban Quản lý
Dự án ODA Vĩnh Phúc (VP-ODA PMU) được thành lập nhằm điều phối việc thực hiện Dự
án Ban Quản lý ODA-VP sẽ chịu trách nhiệm thực hiện Kế hoạch Phát triển DTTS được chuẩn bị cho Tiểu Dự án và đảm bảo rằng tất cả các bên liên quan của Dự án nắm được mục đích của Khung Chính sách DTTS, và cách thức Kế hoạch Phát triển DTTS cho từng Tiểu
Dự án được chuẩn bị và chấp thuận trước khi thực hiện
Cơ chế giải quyết khiếu kiện.Cơ chế giải quyết khiếu nại cho những người DTTS sẽ được
thực thiện theo cơ chế giải quyết khiếu nại áp dụng chung cho toàn bộ dự án Tuy nhiên, nếu
Trang 8các lãnh đạo địa phương có thể cung cấp hỗ trợ hoặc hướng dẫn giải quyết xung đột, các thủ tục truyền thống cho những trường hợp này sẽ được xem xét cân nhắc
Giám sát và đánh giá.Việc thực hiện Kế hoạch Phát triển Dân tộc thiểu số sẽ được PMU
giám sát và hướng dẫn thường xuyên Báo cáo giám sát độc lập định kỳ 6 tháng cho việc thực hiện EMDP sẽ được đệ trình trực tiếp lên Ngân hàng Thế giới (WB)
Các hoạt động đề xuất nhằm đảm bảo quyền lợi của người DTTS từ dự án đầu tư dự kiến sẽ
thúc đẩy các hoạt động nông nghiệp và kinh doanh, các khóa đào tạo sẽ được thiết kế (i) để người DTTS có thể tiếp cận và nội dung khóa đào tạo phải phù hợp về mặt văn hóa đối với cộng đồng DTTS; và (ii) hỗ trợ phụ nữ tham gia để đạt ít nhất 30% số người tham gia
Ngân sách thực hiện EMDP được thực hiện như một chương trình độc lập Các chi phí cơ
bản của EMDP được ước tính là 834.785.000 VNĐ tương đương 37.267 USD (tỉ giá qui đổi
22.400 VND = 1 USD) Các chi phí bồi thường và hỗ trợ do những ảnh hưởng tạm thời về
sinh kếđã bao gồm trong chi phí của Dự án
Trang 9I Giới thiệu
1.1 Bối cảnh dự án
Vĩnh Phúc là một tỉnh liền kề với Hà Nội, nằm nằm trong vị trí ba vùng phát triển trọng điểm của Việt Nam: Vùng Đồng Bằng sông Hồng, Vùng Thủ đô Hà Nội và Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ Vĩnh Phúc có dân số khoảng 1 triệu người (số liệu năm 2013), trong đó có 22,4% dân số sống ở các khu đô thị và 77,6% sống tại các vùng nông thôn GDP đầu người đạt 52 triệu đồng vào năm 2012, cao hơn mức GDP cả nước là 36 triệu đồng Tỷ lệ đói nghèo của tỉnh năm 2012 là 7,3% (Tổng cục Thống kê, Điều tra dựa trên thu nhập), thấp hơn so với
tỷ lệ của các nước là 11,1%
Hiện nay, tỉnh Vĩnh Phúc đang đối mặt với một loạt các thách thức, bao gồm tình trạng úng ngập thường xuyên, ô nhiễm nước trong vùng, thiếu hạ tầng kỹ thuật và năng lực thể chế còn hạn chế, đã cản trở Vĩnh Phúc trong việc duy trì tăng trưởng cao hơn Do cao độ địa hình của Vĩnh Phúc trong đồng bằng sông Hồng là thấp, 2/3 tỉnh có nguy cơ bị lũ lụt Đặc biệt, các khu vực nằm trong lưu vực sông Phan, bao gồm thành phố Vĩnh Yên và hầu hết các doanh nghiệp FDI nằm trong các khu vưc này, có nguy cơ cao bị lũ lụtvà lũ lụt thường xuyên đã gây
ra những ảnh hưởng nghiêm trọng về nông nghiệp tại các vùng nông thôn, thành phố Vĩnh Yên và các khu công nghiệp, các nhà máy, với những tổn thất đáng kể về sản xuất nông nghiệp và công nghiệp - ảnh hưởng đến đời sống – và làm hư hỏng hạ tầng kỹ thuật tại cả khu vực nông thôn và thành thị Những ước tính ban đầu do thiệt hại từ lũ lụt trong giai đoạn
2006 - 2013 là khoảng 150 triệu đô la Mỹ, bao gồm những tổn thất về sản xuất nông nghiệp khoảng 30% tổng giá trị thu hoạch Lũ lụt cũng làm gián đoạn giao thông tại thành phố Vĩnh Yên và nhiều khu công nghiệp khác.Chi phí liên quan đến sức khỏe, y tế cũng cần được xem xét
Ô nhiễm chất lượng nước tăng nhanh đã được quan sát thấy tại lưu vực sông Phan, bao gồm các sông, hồ quanh thành phố Vĩnh Yên Ô nhiễm nước không chỉ tác động đến sức khỏe cộng đồng tại địa phương mà còn ảnh hưởng đến quy hoạch trung và dài hạn của Vĩnh Phúc
để phát triển lĩnh vực dịch vụ và du lịch như là một phần của thủ đô Hà Nội
UBND tỉnh cần giải quyết tất cả những thách thức có liên quan tới nguồn nước.Chính quyền tỉnh đã xác định phải giải quyết những thách thức về lũ lụt và ô nhiễm nguồn nước để phát triển lâu dài và bền vững, đặc biệt (i) cải thiện sản lượng nông nghiệp trong toàn lưu vực; (ii) đảm bảo an toàn cho khu vực nông thôn, thành phố Vĩnh Yên và các khu phát triển kinh tế;
và (iii) cải thiện môi trường đầu tư để thu hút FDI Chính phủ và các Đối tác phát triển (DP) đang làm việc với Vĩnh Phúc để giải quyết những thách thức liên quan đến nguồn nước Chính phủ đã hỗ trợ vốn cho một số công trình như công trình nạo vét sông Phan và đầm Vạc tại thành phố Vĩnh Yên, xây dựng một số trạm bơm nhỏ để lưu chuyển nước từ các cánh đồng ra sông Phan và mô hình thí điểm kiểm soát ô nhiễm nước tại một số làng trong lưu vực sông Phan JICA đã xây dựng một nhà máy xử lý nước thải (NMXLNT) công suất 5.000m3/ng và 34km tuyến ống cấp 1 và 2 tại thành phố Vĩnh Yên và có kế hoạch mở rộng
Trang 10nhà máy giai đoạn hai lên 8.000 m3/ng và các tuyến cống liên quan ADB đã có kế hoạch giúp Vĩnh Phúc thông qua Dự án Thành phố Xanh, bao gồm xây dựng tuyến ống cấp 3 và đấu nối từ hộ gia đình với dự án NMXLNT do JICA tài trợ và cải tạo 150ha các hồ tại thành phố Vĩnh Yên, bao gồm nạo vét và kè hồ Tuy nhiên, vẫn có lỗ hổng lớn cần phải giải quyết
về vấn đề lũ lụt của tỉnh và sự ô nhiễm nước tại lưu vực sông Phan Chính quyền tỉnh đã tiếp xúc với Ngân hàng Thế giới để đề nghị hỗ trợ lấp đầy những khoảng trống đó Dự án sẽ có tên là Dự án Quản lý nguồn nước và Ngập lụt tỉnh Vĩnh Phúc (VPFRWMP)
Mục tiêu của Dự án
Dự án đề xuất nhằm cung cấp môi trường nước bền vững để phát triển kinh tế và xã hội trong dài hạn của tỉnh Vĩnh Phúc Cụ thể, dự án sẽ tập trung vào việc đảm bảo kiểm soát lũ lụt tại lưu vực trung tâm của tỉnh và ngăn chặn sự xuống cấp nhanh chóng của chất lượng nguồn nước mặt Mục tiêu phát triển của dự án sẽ đạt được thông qua (i) hỗ trợ các giải pháp về kiểm soát lũ lụt và cải tạo sông; (ii) cải thiện việc thu gom và xử lý nước thải tại các thị trấn
và các thôn/xóm/cụm dân cư thuộc khu vực nông thôn; (iii) thiết lập hệ thống quan trắc nguồn nước, chất lượng nước, cảnh báo lũ lụt và ứng phó khẩn cấp; và (iv) phát triển thể chế, đào tạo nâng cao năng lực quản lý cho cán bộ cho các sở ban ngành địa phương và những học viên liên quan trong ngành nước nhằm quản lý lưu vực sông và lĩnh vực về nước theo mô hình lồng ghép
Các Hợp phần của Dự án
Các hợp phần của Dự án Quản lý nguồn nước và Ngập lụt tỉnh Vĩnh Phúc (VPFWMP) bao
gồm 3 hợp phần:
Hợp phần 1 bao gồm việc hỗ trợ các giải pháp kết cấu lũ tại lưu vực B1, B2 và B3 cũng như
tại lưu vực C; và cải thiện công trình liên quan đến quản lý nước tại sông Phan và 3 sông khác tại lưu vực B và C
Hợp phần 2 bao gồm hỗ trợ hệ thống thu gom và xử lý nước thải tại các thị trấn và các
thôn/xóm/cụm dân cư thuộc khu vực nông thôn dọc theo sông Phan
Hợp phần 3 bao gồm (i) dịch vụ tư vấn và các hoạt động hỗ trợ thực hiện dự án; (ii) thiết lập
hệ thống quan trắc nguồn nước, cảnh báo lũ lụt và ứng phó khẩn cấp; và (iii) phát triển thể chế, nâng cao năng lực quản lý cho cán bộ các sở ban ngành địa phương và những học viên liên quan trong ngành nước nhằm quản lý lưu vực sông và lĩnh vực ngành nước theo mô hình thống nhất
Hạng mục Cải tạo, nạo vét 03 sông Bình Xuyên, Cải tạo cống điều tiết Cầu Tôn, Cầu Sắt sẽ mang đến những tác động tổng thể mang tính tích cực đối với nền kinh tế xã hội trong trung
và dài hạn của khu vực dự án và của tỉnh Vĩnh Phúc Tiểu dự án được thực hiện để tham gia vào việc tiêu thoát lũ cho tỉnh Vĩnh Phúc Trong đó việc (i) Cải tạo, nạo vét 03 sông Bình Xuyên gồm sông Cầu Bòn, Sông Tranh và sông Bá Hanh nhằm nâng cao khả năng tiêu thoát
Trang 11lũ cho vùng dự án, giảm diện tích ngập úng, cải tạo môi trường sinh thái của dòng sông;giảm tình trạng ngập úng đối với các khu công nghiệp trong vùng như KCN Bình Xuyên; KCN Bá Thiện I; KCN Bá Thiện II; (ii) Xây dựng điều tiết Cầu Tôn trên sông Cầu Bòn nhằm ngăn lũ
từ vùng Tam Đảo chảy về sông Phan vào vùng lõi đô thị Vĩnh Yên; và (iii) Xây dựng điều tiết Cầu Sắt trên sông Cà Lồ nhằm ngăn lũ vật ngược từ Sông Cầu theo sông Cà Lồ chảy vào sông Phan gây ngập úng cục bộ cho vùng thị xã Phúc Yên, huyện Yên Lạc và thành phố Vĩnh Yên Tổng diện tích đất thu hồi vĩnh viễn cho dự án là 666.449,2 m2
Kết quả sàng lọc cho thấy, có sự hiện diện của cộng đồng DTTS trong khu vực dự án cũng như những khu vực lân cận nhưng hoạt động thu hồi đất để xây dựng dự án không gây tác động bất lợi đến các hộ DTTS cũng như cộng đồng DTTS nơi đây
1.2 Mục tiêu của kế hoạch phát triển dân tộc thiểu số (EMDP)
Kế hoạch được chuẩn bị dựa trên Tiêu chuẩn OP 4.10 liên quan đến chính sách Dân tộc Bản địa Kế hoạch được chuẩn bị dựa trên cơ sở đánh giá tác động xã hội đã dươc thực hiện cho
dự án (tháng 10/2015)
Mục tiêu của Kế hoạch Phát triển DTTS EMDP nhằm:
a) xác định các tác động tiềm tàng của Tiểu Dự án đối với cộng đồng DTTS cũng như các biện pháp phòng tránh/ giảm thiểu;
b) đảm bảo người DTTS trong khu vực dự án nhận được lợi ích kinh tế - xã hội thích hợp với văn hóa của họ về giới tính và đa thế hệ thông qua các hoạt động đào tạo và cải thiện sinh kế Các hoat động phát triển được trình bày trong các phần dưới đây được đề xuất trên cơ sở tham vấn với người DTTS và kết quả của hoạt động đánh giá xã hội của Dự án
II Khung Pháp lý và Chính sáchvề Người Dân tộc Thiểu số
2.1 Các chính sách về Dân tộc thiểu số của Chính phủ Việt Nam
Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (năm 2013) ghi nhận quyền bình đẳng giữa các dân tộc ở Việt Nam Điều 5, Hiến pháp 2013 quy định:
1 Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam
2 Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc
3 Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hoá tốt đẹp của mình
4 Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước
Trang 12Kế hoạch Phát triển Kinh tế Xã hội và Chiến lược Phát triển Kinh tế Xã hội kêu gọi sự quan tâm cụ thể tới các nhóm dân tộc thiểu số Các chương trình lớn xác định mục tiêu là các dân tộc thiểu số bao gồm chương trình 135 (hạ tầng cơ sở cho vùng nghèo, vùng sâu vùng xa) và chương trình 134 (xóa nhà tạm) Một chính sách về giáo dục và chăm sóc sức khỏe cho người dân tộc thiểu số cũng được xây dựng Khung pháp lý đã được cập nhật vào năm 2014 (Tham khảo Bảng 1)
Chính phủ Việt Nam đã xây dựng một loạt các chính sách nhằm phát triển, nâng cao điều kiện kinh tế - văn hóa – xã hội của người dân tộc thiểu số tại các khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa Sau các chương trình 124 và chương trình 125 giai đoạn 1, giai đoạn 2, Chính phủ
đã đưa ra chương trình 135 giai đoạn 3 để tạo cơ hội đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội ở các xã, thôn bản đặc biệt khó khăn vùng dân tộc, miền núi Bên cạnh việc các chương trình phát triển chung cho các cộng đồng DTTS, Chính phủ giao cho Ủy ban Dân tộc chủ trì hướng dẫn các tỉnh xây dựng dự án Hỗ trợ phát triển các dân tộc có dân số dưới 1000 người như các nhóm: Si La, Pu Péo, Rơ Măm, Brâu, Ơ đu Chính phủ cũng ban hành Chương trình
hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo, nơi tập trung nhiều đồng bào DTTS đang sinh sống
Nghị định số 84/2012/NĐ-CP do Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 12/10/2012 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ủy ban dân tộc (CEMA) Nghị định quy định Ủy ban Dân tộc là cơ quan ngang Bộ của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác dân tộc trong phạm vi cả nước; quản lý nhà nước các dịch vụ công thuộc phạm vi quản lý của Ủy ban Dân tộc theo quy định của pháp luật Cùng với Nghị định 05/2011/NĐ-CP ngày 14/1/2011 về công tác Dân tộc, Nghị định 84/2012/NĐ-CP được ban hành là cơ sở pháp lý để Ủy ban Dân tộc tiếp tục cụ thể hóa đường lối, chính sách của Đảng
về công tác dân tộc trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, nhằm đảm bảo và thúc đẩy sự bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển, giữ gìn bản sắc văn hoá của các dân tộc trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam
Các tài liệu của Chính phủ về vấn đề dân chủ cơ sở và sự tham gia của người dân cũng liên quan trực tiếp tới Khung phát triển DTTS này Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11, ban hành ngày 20/4/2007 (thay thế Nghị định 79/2003/NĐ-CP ban hành ngày 7/7/2003) về thực hiện dân chủ tại cấp xã, phường, và thị trấn/ thị xã cung cấp cơ sở cho sự tham gia của cộng đồng vào việc chuẩn bị các kế hoạch phát triển và sự giám sát của cộng đồng tại Việt Nam Quyết định số 80/2005/QĐ-TTg do Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 18/4/2005 quy định việc giám sát đầu tư của cộng đồng Chương trình phổ biến giáo dục pháp luật của Ủy Ban Dân tộc từ năm 2013 đến năm 2016 hằm nâng cao chất lượng hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức tự giác, tôn trọng, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động của hệ thống cơ quan làm công tác Dân tộc và đồng bào dân tộc thiểu số.Khuôn khổ pháp lý đã được cập nhật vào năm 2014, tất cả tài liệu pháp lý liên quan tới DTTS được trình bày trong Bảng 1 dưới đây
Trang 13Bảng 1 Văn bản pháp luật liên quan đến Dân tộc thiểu số
2013 Thông tư liên tịch số 05/2013-TTLT-UBDT-NNPTNT-KHĐT-TC-XD
ngày 18/11/2013 hướng dẫn Chương trình 135 về hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng, phát triển sản xuất cho xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu, thôn,bản đặc biệt khó khăn
2012 Quyết định 54/2012-QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 4/12/2012
về Ban hành chính sách cho vay vốn phát triển đối với hộ dân tộc thiểu
số đặc biệt khó khăn giai đoạn 2012-2015
2012 Nghị định số 84/2012/NĐ-CP ngày 12/10/2012 của Chính phủ về chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ủy ban dân tộc
2012 Thông tư liên tịch số 01/2012/TTLT-BTP-UBDT ngày 17/1/1012 của
Bộ Tư pháp và Ủy ban dân tộc về việc hướng dẫn trợ giúp pháp lý đối với người dân tộc thiểu số
2010 Nghị định số 82/2010/ND-CP ngày 20/7/2010 của chính phủ về dạy và
học tiếng dân tộc ở các trường học
2009 Quyết định số 102/2009/QĐ-TTG ngày 07/08/2009 của Thủ tướng
Chính phủ về chính sách hỗ trợ trực tiếp cho người dân thuộc hộ nghèo
ở vùng khó khăn
2008 Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP của chính phủ ngày 27/12/2008 về
chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo nhất
2007 Thông tư 06 ngày 20/9/2007 của Ủy ban dân tộc hướng dẫn về việc hỗ
trợ các dịch vụ, cải thiện sinh kế của người dân, hỗ trợ kỹ thuật để nâng cao kiến thức về luật theo quyết định 112/2007/QD-TTg
2007 Quyết định số 05/2007/QD-UBDT ngày 06/9/2007 của Ủy ban dân tộc
chấp thuận ba vùng dân tộc thiểu số và khu vực miền núi dựa trên tình trạng phát triển
2007 Quyết định số 01/2007/QD-UBDT ngày 31/5/2007 của Ủy ban dân tộc
Trang 14về việc công nhận các xã, huyện ở các khu vực miền núi
2007 Quyết định số 06/2007/QD-UBDT ngày 12/1/2007 của Ủy ban dân tộc
về chiến lược truyền thông cho chương trình 135-giai đoạn 2
2.2 Chính sách về Dân tộc Bản địa của Ngân hàng Thế giới (OP 4.10)
Mục tiêu chính sách OP 4.10 của Ngân hàng Thế giới hướng tới việc hạn chế những yếu tố ảnh hưởng, tác động tiêu cực tới người dân bản địa và tăng cường các hoạt động nhằm mang lại lợi ích và lưu giữ những giá trị văn hoá truyền thống của họ WB yêu cầu người dân bản địa (ở đây được hiểu là DTTS) được cung cấp đầy đủ thông tin và tự do tham gia và dự án phải được phần lớn người dân tộc thiểu số bị ảnh hưởng bởi dự án ủng hộ Dự án được thiết
kế để đảm bảo rằng người dân tộc thiểu số không phải chịu những tác động tiêu cực của quá trình phát triển, và đảm bảo rằng họ sẽ được thụ hưởng những lợi ích kinh tế, xã hội và những lợi ích này phù hợp với văn hóa của họ
Chính sách định nghĩa dân tộc thiểu số có thể được xác địnhtheo mức độ khác nhau của các đặc điểm sau:
(a) Tự gắn bó chặt chẽ như các thành viên của nhóm văn hóa bản địa khác biệt và được thừa nhận về đặc điểm này bởi những người khác;
(b) Sống gắn bó tập trung tại môi trường khác biệt về địa lý hoặc vùng lãnh thổ do tổ tiên
để lại trong khu vực có dự án và gần với thiên nhiên tại môi trường sống và lãnh thổ đó;
(c) Thể chế văn hóa, kinh tế, xã hội hoặc chính trị mang tính phong tục khác biệt so với những đặc điểm đó của văn hóa, xã hội chiếm đa số; và
(d) Ngôn ngữ bản địa thường khác so với ngôn ngữ chính thống của vùng hoặc nước đó
OP 4.10 yêu cầu bên vay thực thiện các cuộc tham vấn với người DTTS bị ảnh hưởngtheo hình thức tham vấn trước, người dân được cung cấp đầy đủ thông tin và tự do tham gia đồng thời thiết lập sự ủng hộ rộng lớn từ phía cộng đồng đối với dự án cũng như các mục tiêu của
Trang 15Trong bối cảnh của Tiểu Dự án, các nhóm DTTS trong khu vực dự án có khả năng nhận được những lợi ích lâu dài thông qua cải thiện tình trạng ngập úng nhưng họ có thể bị những ảnh hưởng bất lợi đến đời sống văn hóa xã hội của cộng đồng DTTS tại khu vực dự án và khu vực liền kề trong quá trình thi công dự án
III Thông tin Kinh tế Xã hội của Người DTTS trong Khu vực Tiểu Dự
(i) Cải tạo, nạo vét sông Cầu Bòn;
(ii) Cải tạo nạo vét sông Tranh, xây dựng đập Bá Cầu, trên sông Tranh;
(iii) Cải tạo, nạo vét sông Bá Hanh; kè một số đoạn trên sông;
(iv) Cải tạo, nạo vét đoạn sông Nối từ sông cầu Bòn sang sông Tranh, kè 1 số đoạn
trên sông;
(v) Xây dựng điều tiết cầu Tôn trên sông Cầu Bòn; và
(vi) Xây dựng điều tiết cầu Sắt trên sông Cà Lồ
Theo kết quả sàng lọc ban đầu, việc thực hiện dự án sẽ không làm ảnh hưởng trực tiếp đến đất đai và tài sản của các hộ DTTS trong khu vực Tuy nhiên, hoạt động thu công và thực hiện các hạng mục của tiểu dự án như trên sẽ gây ra các tác động trong khu vực ảnh hưởng của tiểu dự án và các khu vực liền kề Kết quả tham vấn cộng đồng cho thấy việc triển khai Tiểu Dự án có thể (i) ảnh hưởng đất tạm thời trong quá trình thi công; (ii) ảnh hưởng các hoạt động đánh bắt cá trên sông nếu các hoạt động thi công được thực hiện trong mùa mưa; và (iii)
có thể ảnh hưởng tiêu cực tới đời sống văn hóa và xã hội của cộng đồng DTTS sinh sống liền
kề khu vực Tiểu dự án
Phần dưới đây sẽ trình bày: (i) những nét tổng quan về cộng đồng DTTS trong khu vực dự án
và khu vực liền kề, và (ii) những đặc điểm văn hóa xã hội của các nhóm DTTS nằm trong
khu vực trênđã được tiến hành tham vấn
3.1 Tổng quan về cộng đồng DTTS trongkhu vực dự án và khu vực liền kề
Kết quả sàng lọc DTTS cho thấy, dự án sẽ tác động đến các nhóm dân tộc DTTS sinh sống tại những khu vực sau:
- Khu vực Tiểu dự án: trong khu vực Tiểu dự án, 2 xã BAH có sự hiện diện của người DTTS bao gồm xã Cao Minh và xã Thiện Kế thuộc địa bàn huyện Bình Xuyên và Phúc Yên
Trang 16- Khu vực thượng lưu của dự án và khu vực liền kề: dự án sẽ có tác động đến 5 xã nằm trong khu vực thượng lưu của hệ thống 3 sông Bình Xuyên và khu vực giáp ranh được xác định bao gồm:Hồ Sơn, Hợp Châu, Minh Quang, Trung Mỹ, Ngọc Thanh thuộc địa bàn huyện Tam Đảo và Thị xã Phúc Yên
Tổng số dân tộc thiểu số sinh sống trên phạm vi 7 xã trên chiếm tỉ lệ 35% tổng dân số trong khu vực với các nhóm DTTS chính là người Sán Dìu và người Tày, Mường Trong đó tỉ lệ người Sán Dìu chiếm 99,5% so với tỉ lệ người DTTS trong khu vực (Tham khảo Phụ lục 1)
3 2 Đặc điểm nhóm dân tộc Sán Dìu trong phạm vi ảnh hưởng của Tiểu Dự
Chăn nuôi
Cùng với trồng trọt, hoạt động chăn nuôi là một ngành quan trọng góp phần mang lại nguồn thu nhập cho nhiều hộ gia đình Trong truyền thống, sản phẩm chăn nuôi được sử dụng để góp phần bổ sung nguồn thực phẩm cho hộ gia đình và sử dụng trong các dịp tang ma, cưới xin, giỗ chạp Hiện nay, một số hộ đã mở rộng hoạt động hoạt động chăn nuôi không chỉ nhằm mục đích phục vụ nhu cầu lương thực của gia đình mà sản phẩm của chăn nuôi đã trở thành hàng hóa mang lại nguồn thu nhập của hộ Một số hộ người Sán Dìu đã phát triển mô hình trang trại nuôi lợn, gà, vịt, dê và nuôi ong lấy mật, nhất là khu vực quanh Tam Đảo
Kinh tế vườn đồi và trồng rừng
Tại một số khu vực người Sán Dìu sinh sống có diện tích đất lâm nghiệp, một số hộ người Sán Dìu đã đầu tư mô hình phát triển kinh tế đồi, rừng như trồng cây lâm nghiệp, trồng rừng kết hợp với chăn nuôi và trồng cây ăn quả mang lại hiệu quả cao Từ đó, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân, gắn việc phát triển kinh tế với công tác bảo vệ rừng
Lao động làm thuê
Trang 17Đây là hoạt động kinh tế mới phát triển tại khu vực nghiên cứu nhưng được xem như một nguồn thu nhập đáng kể trong kinh tế hộ gia đình Đối với nam giới, công việc làm thuê thường là phụ xây, công việc này thu hút nam giới ở độ tuổi từ 18-40 tuổi và họ thường liên kết với nhau thành từng nhóm Địa bàn đi làm thuê của nam giới người Sán Dìu khá rộng, có người đi làm thợ xây tại các tỉnh/thành phố khác trong cả nước Đối với nữ giới, nhất là tầng lớp thanh niên, công việc làm thuê thường là bán hàng thuê có các cửa hàng ở trung tâm huyện, thành phố trong tỉnh và các tỉnh lân cận Một số nữ giới, bao gồm cả những phụ nữ trung niên, thường đi làm công nhân tại các công ty lớn trên địa bàn tỉnh và các tỉnh khác Người Sán Dìu đang ngày càng tham gia vào các hoạt động buôn bán dịch vụ tại địa phương như các cửa hàng buôn bán giống, phân bón và phục vụ xay xát, mở nhà nghỉ, cửa hàng quần
áo, quán cà phê, nhà hàng, và các dịch vụ vận tải Các loại hình dịch vụ phong phú không chỉ cho thấy tính năng động kinh tế của các hộ gia đình mà còn phán ánh sự phát triển đa dạng văn hóa trong khu vực sinh sống của người Sán Dìu
Đặc trưng văn hóa
Người Sán Dìu thường cư trú thành các thôn tại và sinh sống chủ yếu tại khu vực chân núi thấp hoặc trên những vùng đồi gò bằng phẳng, chỉ một số ít sống trên vùng núi cao Theo truyền thống, nhà ở của người Sán Dìu là nhà trệt, dựng bằng tre, gỗ, lợp rơm rạ, cỏ tranh Hiện nay, hầu hết ngôi nhà là nhà gạch mái ngói hoặc xi măng từ 1-3 tầng
Đối với trang phục truyền thống của người Sán Dìu, trong cộng đồng, một số người già, đặc biệt là nữ giới vẫn còn giữ được y phục cổ truyển tuy nhiên đã dần mai một đối với thế hệ trẻ
Ví dụ, trang phục truyền thống hiện nay chỉ được sử dụng để biểu diễn văn nghệ Trong truyền thống, dòng họ đóng vai trò quan trọng trong cộng đồng người Sán Dìu Mỗi dòng họ người Sán Dìu đều có tên đệm để phân thứ bậc và thế hệ, họ rất quý trọng người cùng họ Hiện nay, loại hình gia đình của người Sán Dìu trên địa bàn khu vực Tiểu dự án là gia đình nhỏ có từ 2 đến 3 thế hệ cùng sinh sống Trong truyền thống cũng như hiện tại, trong gia đình người Sán Dìu, nam giới đóng vai trò quan trọng trong việc ra quyết định và chỉ có con trai mới được quyền thừa kế tài sản.Nguyên tắc trong hôn nhân của người Sán Dìu là ngoại hôn dòng họ và chế độ hôn nhân một vợ một chồng
Người Sán Dìu ảnh hưởng của Đạo giáo khá sâu sắc với những hình thái như: làm lễ cấp sắc, làm thầy cúng Người Sán Dìu tin vào nhiều thần, nhiều ma có tập quán thờ cúng tổ tiên, thần thánh ma quỷ Bàn thờ tổ tiên được đặt ở giữa nhà chính, kê sát vào tường, trên bàn thờ đặt một chiếc ngai, được làm bằng gỗ mít, có mùi thơm và được sơn son thiếp vàng, hai tay ngai hình rồng, trên chính giữa ngai là một bát hương làm bằng sứ để cắm hương khi cúng lễ do ảnh hưởng sâu sắc của Đạo giáo Tín ngưỡng tôn giáo nhằm giải quyết những vấn đề bức xúc của cuộc sống
Hiện nay, người Sán Dìu vẫn bảo tồn và phát triển hình thức văn hóa dân gian đặc thù của
dân tộc mình là hát đối đáp nam nữ (Soọng cô) Trẻ em người Sán Dìu từ 12- 13 tuổi là
Trang 18theo các anh chị đi tập hát, đến khoảng 14-15 tuổi đã hát thành thạo các bài hát soọng cô
Hiện nay, hầu hết các thôn đều thành lập từ 1 đến vài ba câu lạc bộ hát Soọng cô
Vấn đề giới
Kết quả của đánh giá xã hội cho thấy, hiện nay không có biểu hiện của sự bất bình đẳng trong các lĩnh vực như sở hữu đất đai, tài sản, khả năng tiếp cận các nguồn lực trong xã hội giữa nam và nữ Đối với việc tiếp cận các dịch vụ công, không có sự phân biệt, cản trở nào đối với nam giới và nữ giới trong việc tiếp cận các cơ sở y tế, cơ sở văn hóa xã hội Trẻ em nam và trẻ em nữ đều có cơ hội đến trường như nhau.Tuy nhiên, trong phạm vi gia đình, vai trò của nam giới được đề cao do ảnh hưởng của chế độ phụ hệ Nam giới giữ vai trò quan trọng trong việc ra quyết định trong gia đình và nam giới được quyền thừa kế tài sản
IV Tác động Tiềm ẩn
4.1 Tác động tích cực
Việc xây dựng dự án sẽ mang đến những tác động tổng thể mang tính tích cực đối với nền kinh tế xã hội trong trung và dài hạn của khu vực dự án và của tỉnh Vĩnh Phúc Đây là dự án xây dựng cơ sở hạ tầng và cải thiện hệ thống tiêu thoát nước và chất lượng nước sẽ làm giảm giảm tần suất và mức độ của lũ lụt trong khu vực, cải thiện hệ thống cơ sở hạ tầng, vv sẽ tạo
ra lợi ích tích cực cho môi trường, y tế công cộng và sự phát triển kinh tế xã hội Cải thiện hệ thống Kiểm soát các nước trên lĩnh vực tiêu, chủ động thoát nước bị ô nhiễm có thể tạo thuận lợi cho việc phát triển kinh tế, dịch vụ và du lịch của địa phương Dự án cũng sẽ góp phần tạo
cơ hội việc làm cho người dân địa phương trong quá trình xây dựng Dự án góp phần cải thiện mạng lưới giao thông, hạn chế lũ lụt, bảo vệ nhà ở của người dân từ thiệt hại do ngập lụt, tạo điều kiện tích cực cho du lịch và vận tải hàng hóa
Tại khu vực thực hiện tiểu dự án Cải tạo, nạo vét 03 sông Bình Xuyên, Cải tạo cống điều tiết Cầu Tôn, Cầu Sắt, việc triển khai dự án sẽ đem lại những lợi ích sau cho cộng đồng các dân tộc sinh sống trong khu vực (bao gồm cả người Kinh và người DTTS):
- Tham gia tiêu úng cho lưu vực thuộc khu tiêu Bình Xuyên Nạo vét các sông Cầu Bòn; sông Tranh, sông Bá Hanh nhằm giải quyết tình trạng ách tắc luồng tiêu và đảm bảo tiêu thoát nhanh trong mùa mưa lũ nhằm phục vụ phát triển sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, ổn định dân sinh kinh tế
- Đảm bảo tiêu cho cuối vụ chiêm và đầu vụ mùa, tăng thêm diện tích đất vụ chiêm bị
bỏ trắng
- Trữ nước trên toàn bộ lưu vực vào vụ đông để tạo nguồn cho các trạm bơm ven sông lấy nước phục vụ tưới cho diện tích đất canh tác nông nghiệp bị hạn dọc theo sông và trong khu vực dự án, cụ thể là tạo nguồn tưới chủ động diện tích đất canh tác vụ chiêm bị hạn