1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NHỮNG VẤN ĐỀ QUAN TRỌNG TRONG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CỦA DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM

14 382 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 177,31 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì thiếu sự quan tâm tới các đặc điểm địa phương và hình thức dễ bị tổn thương khác nhau của cộng đồng các DTTS đã làm cho các chính sách lồng ghép không thực hiện thành công những

Trang 1

NHỮNG VẤN ĐỀ QUAN TRỌNG TRONG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

CỦA DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM

Bài tham luận bởi Nhóm công tác về dân tộc thiểu số (EMWG)

tại Hội nghị Quốc tế về “Phát triển bền vững và Giảm nghèo Dân tộc thiểu số ở

khu vực miền núi”

11-13 tháng 6 năm 2014 Đại học Thái Nguyên Thành phố Thái Nguyên, Việt Nam

Trang 2

Thành tựu của Việt Nam trong việc tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo trong hai thập kỷ qua rất đáng kể:

Tỷ lệ người nghèo chi tiêu giảm từ 58% vào đầu những năm 1990 xuống còn 14% vào năm 2008 và 20,7% vào năm 20121 Tuy nhiên, các nhóm dân tộc thiểu số (DTTS) chiếm tỷ lệ rất cao trong tổng số người nghèo và chịu nhiều thiếu thốn tại Việt Nam Mặc dù các nhóm DTTS chỉ chiếm gần 15 % tổng dân số cả nước, nhưng lại chiếm tới 47 % số người nghèo và chiếm 68% số những người nghèo cùng cực, theo thống kê năm 2010 – và khoảng cách giữa các nhóm DTTS và dân tộc Kinh tiếp tục gia tăng Nhiệm

vụ giảm nghèo và tăng trưởng toàn diện sẽ không thực hiện được nếu vấn đề nghèo đói của các DTTS không được quan tâm đúng mực hay duy trì bền vững2 Nhóm công tác về dân tộc thiểu số (EMWG) là một mạng lưới các cơ quan phát triển và chuyên gia nghiên cứu làm việc về vấn đề của DTTS tại Việt Nam Dựa trên kinh nghiệm thực hiện chương trình của các thành viên nhóm, bài tham luận này đưa ra sáu (06) vấn đề mà nhóm EMWG xác định là cực kỳ quan trọng cho sự phát triển bền vững của DTTS ở Việt Nam:

1 Nếu sử dụng chuẩn nghèo thu nhập của Chính phủ Việt Nam cho giai đoạn 2011-2015, tỷ lệ nghèo giảm từ 14,2 % trong năm 2010 xuống còn 9,6% trong năm 2012

2 Khởi đầu tốt, Nhưng chưa hoàn thành: Thành tựu đáng kể của Việt Nam trong giảm nghèo và những thách thức mới", báo cáo của Ngân hàng Thế giới năm 2012, trang 68

Trang 3

1 Thiếu tính đại diện và sự tham gia của người DTTS trong việc xây dựng chính sách:

Những chiến lược phát triển lồng ghép, kế hoạch và chính sách tập trung vào cơ cấu phát triển và có xu hướng tập trung vào những khu vực xung quanh vùng đồng bằng Các chiến lược và chính sách này thường bỏ qua sự đa dạng, các loại nhu cầu khác nhau và tính dễ bị tổn thương trong các nhóm DTTS Kiến thức bản địa và tình hình địa phương của cộng đồng dân tộc ít khi được phản ánh hay xem xét Chính vì thiếu sự quan tâm tới các đặc điểm địa phương và hình thức dễ bị tổn thương khác nhau của cộng đồng các DTTS đã làm cho các chính sách lồng ghép không thực hiện thành công những vấn đề phát triển của DTTS, không cung cấp cơ hội tăng thu nhập một cách phù hợp, hay huy động sức mạnh cộng đồng trong phát triển

Những chính sách dành cho các nhóm DTTS thường có rất ít sự tham gia của người DTTS trong việc xác định nhu cầu; thiết kế chương trình, ra quyết định, quản lý, thực hiện và giám sát Thông thường, nhóm

DTTS chỉ được coi là "nhóm đối tượng/nhóm thụ hưởng" của các chương trình và chính sách khác nhau, chứ không phải là những chủ thể tích cực có khả năng đóng góp Do rào cản ngôn ngữ và những trở ngại

xã hội khác, phụ nữ DTTS phải đối mặt với khá nhiều thách thức khi đại diện hay tham gia vào các quy trình ra quyết định3 chính thức hoặc không chính thức trong gia đình, cộng đồng và cấp quốc gia

Khuyến nghị:

Cấp độ xây dựng chính sách:

o Xem lại quá trình lập kế hoạch SEDP ở cấp quốc gia và các địa phương trong nước, đảm bảo các yếu

tố nhạy cảm về DTTS được đưa ra và xem xét trên tất cả các khía cạnh kinh tế xã hội, thể hiện quyền con người và bình đẳng giới; quá trình lập kế hoạch SEDP có sự tham gia cùng với việc cung cấp các gói hỗ trợ (block grant) dưới hình thức "quỹ phát triển cộng đồng - Quỹ CDF" ở cấp xã / thôn, đang được nhiều tỉnh thực hiện, cần phải hài hòa hóa và được thể chế hóa ở cấp quốc gia

o Thảo luận chuyên sâu trong Ban chỉ đạo Quốc gia về Giảm nghèo nhằm đưa ra được những hành động cần thiết để “lồng ghéo các vấn đề DTTS trong kế hoạch cấp quốc gia và cấp ngành” Một khi

có văn bản hướng dẫn của Chính phủ, cơ chế này sẽ được phát triển hoặc sửa đổi để điều chỉnh việc xây dựng và thực hiện chính sách

o Giới thiệu và áp dụng các phương pháp tiếp cận nhân học/văn hóa vốn dựa trên quyền và nhạy

cảm hơn với kiến thức, truyền thống và văn hóa của người DTTS trong xây dựng và đánh giá các chính sách phát triển kinh tế xã hội

o Áp dụng "phương pháp tiếp cận lấy làng trung tâm" trong đó, các đặc điểm cụ thể của từng thôn và từng nhóm dân tộc nên được nghiên cứu một cách có hệ thống trước khi xây dựng / thiết kế bất kỳ

dự án/ chương trình giảm nghèo nào tại các vùng DTTS

3 IWGIA, Tiếng nói của phụ nữ bản địa từ Châu Á Thái Bình Dương, 15/6/2012

Trang 4

Cấp độ thực hiện chính sách :

o Xác định các biện pháp và cơ chế trao quyền cho cộng đồng để thay đổi những chuẩn mực xã hội đang tồn tại và gây ra bất bình đẳng giới, đảm bảo nâng cao tính đa dạng và hỗ trợ hợp lý cho người DTTS để tăng cường việc cung cấp dịch vụ trong quá trình xây dựng và thực hiện kế hoạch SEDP cấp trung ương/địa phương và kế hoạch ngành; thực hiện triệt để Nghị định 88 của Chính phủ về dân chủ cơ sở để tăng cường sự tham gia của người DTTS trong các quá trình tham vấn và lập kế hoạch;

o Xây dựng và thúc đẩy thực hiện các MDGs một cách toàn diện cho nhóm DTTS và cộng đồng có

xét đến góc độ khoảng cách giới và các biện pháp đặc biệt để giải quyết các nhóm dễ bị tổn thương nhất, tránh để các nhóm này bị tụt hậu trong quá trình phát triển chung Kế hoạch này phải có mục tiêu và thời gian cụ thể, các hành động thiết thực và nguồn lực cho các nhóm DTTS và cộng đồng để đạt được mục tiêu MDGs vào năm 2015

o Củng cố hệ thống giám sát và đánh giá và tiến hành nghiên cứu nhiều hơn để xem xét những tác động xã hội có thể có của các chính sách phát triển DTTS; chú ý đến bất bình đẳng giới và sự khác

biệt trong các nhóm DTTS

o Tìm kiếm các yếu tố tiên phong trong giảm nghèo, xác định các phương thức phổ biến cách thực

hành tốt nhất để xác định các hành động chính sách/giải pháp cụ thể, nhằm nhân rộng những thực

hành tích cực trong cộng đồng DTTS bằng phương pháp tiếp cận "Phát triển cộng đồng dựa vào nội lực”

2 Chính sách thiếu đồng bộ và sự điều phối

Hiện có hơn 30 chính sách và chương trình giảm nghèo với hơn 120 hợp phần; chỉ tính những chương trình, chính sách cho người/cộng đồng DTTS và khu vực miền núi Có 187 Nghị quyết, Nghị định và các quy định khác nhau của Chính phủ về hỗ trợ giảm nghèo cho người DTTS4 Tuy nhiên, môi trường chính sách lại bị phân tán, chồng chéo và nguồn lực mỏng5 Sự thiếu đồng bộ và những khoảng trống trong phân

bổ nguồn lực đã làm giảm sự minh bạch trong cả mục tiêu và thành tích

Xét trên phương diện sắp xếp tổ chức, Ủy ban Dân tộc có nhiệm vụ đưa ra chính sách và tham vấn cho các Bộ của Chính phủ Việt Nam, các cơ quan và chính quyền địa phương về những chính sách phát triển nhóm DTTS Tuy nhiên, do năng lực tổ chức hạn chế6 và cơ chế hỗ trợ còn yếu, việc lồng ghép và vận

44 Trong số này, 45 hợp phần (HP) về hỗ trợ sản xuất, giao thông, cho vay tín dụng và tái định cư, 14 HP về hỗ trợ dạy nghề và đào tạo cán bộ địa phương; 7 HP về hỗ trợ về giáo dục và đào tạo, 13 HP về hỗ trợ y tế, và 9 HP về hỗ trợ văn hóa

55 Ví dụ, ngân sách Nghị quyết 30a kêu gọi 3.000 tỷ đồng cho mỗi huyện trong số 61 huyện nghèo nhất nhưng phân

bổ thực tế trong năm 2009 chỉ có 25 tỷ đồng và 20 tỷ vào năm 2010 Ngoài ra, rất ít đối tác phát triển (DP) tham gia

và số lượng này đang giảm (ví dụ một nhóm 7 DPs cấp ngân sách và hỗ trợ kỹ thuật cho Chương trình 135, giai đoạn 2, hiện chỉ có 2 trong giai đoạn 3) Các chính sách cho người DTTS, Uỷ ban Dân tộc và UNDP 2012

66Ví dụ, Ủy ban Dân tộc hiện nay thiếu khả năng lồng ghép giới

Trang 5

động cho người DTTS - bao gồm việc đại diện cho tiếng nói của người dân tộc thiểu số về các vấn đề phát triển DTTS trong SEDP và những chính sách phát triển khác - là rất khó khăn Số lượng lớn các chính sách và chương trình giảm nghèo DTTS được nhiều Bộ/cơ quan khác nhau ban hành và thực hiện, tạo ra tình trạng không thể cùng phối hợp để điều phối

Năng lực yếu không chỉ được nhận thấy trong kỹ năng điều phối, mà còn thể hiện trong các hệ thống cung cấp dịch vụ xã hội ở những nơi không đủ số lượng giáo viên, bác sĩ/y tá và cán bộ khuyến nông là

người DTTS đã hạn chế việc cung cấp dịch vụ phù hợp với người DTTS Ví dụ, phụ nữ người DTTS thường không quan tâm đến dịch vụ chăm sóc sức khỏe do nơi ở xa trung tâm y tế, chất lượng chăm sóc sức khỏe kém, không có khả năng thanh toán và họ mong muốn có những nhân viên y tế là nữ7 Do đó, việc thực hiện chính sách sẽ có hiệu quả hơn nếu xem xét những phương pháp tiếp cận toàn diện cho người DTTS ở cả cấp quốc gia và cấp tỉnh8

Trong khi các chính sách của Chính phủ là không đủ toàn diện, thiếu những kế hoạch được phân cấp hiệu quả ở địa phương với các mục tiêu cụ thể và phân bổ nguồn lực, điều đó cản trở những yêu cầu và

việc áp dụng các nguồn lực một cách rõ ràng cho sự phát triển của DTTS Nhiều chính sách về nhóm DTTS giao cho cấp tỉnh không cung cấp đủ nguồn lực để đạt được các mục tiêu của chương trình, cũng

do khả năng tài chính hạn hẹp cùng với việc sử dụng các nguồn lực thiếu hiệu quả

Khuyến nghị

o Tăng cường phối hợp liên ngành, với nhiệm vụ thiết lập rõ ràng hơn cho các cơ quan chủ trì, bao gồm cả hỗ trợ cho việc xây dựng và thực hiện Kế hoạch hành động cho Chiến lược quốc gia vì sự phát triển của DTTS do Ủy ban Dân tộc thực hiện

o Nâng cao vai trò và năng lực của hệ thống Ủy ban Dân tộc và Quốc hội / Hội đồng Dân tộc

trong việc thông báo các chiến lược và chính sách của quốc gia về các vấn đề phát triển DTTS và tác động tiêu cực có thể xảy ra để kịp thời điều chỉnh chính sách thực hiện và hỗ trợ CEMA nên đại diện cho tiếng nói của các nhóm DTTS trong những chính sách ảnh hưởng trực tiếp/gián tiếp đến cộng đồng DTTS

o Hỗ trợ việc rà soát các chính sách dành cho người DTTS để giảm sự thiếu đồng bộ, tăng cường sự gắn kết, tính toàn diện cho các nhóm dễ bị tổn thương nhất trong cộng đồng DTTS và tính hiệu quả của các chính sách phát triển xã hội và giảm nghèo hiện có và Chương trình mục tiêu quốc gia

(CTMTQG) về người DTTS, bao gồm việc xem xét lại các khuyến nghị trong báo cáo rà soát chính sách DTTS do Ủy ban Dân tộc thực hiện với sự hỗ trợ của UNDP năm 2011, cũng như cập nhật việc

rà soát và đánh giá chính sách

7 Nicola Jones, Double Jeopardy: Làm thế nào các chuẩn mực xã hội về giới và giao thoa giữa các dân tộc trong việc định hình cuộc sống của những trẻ vị thành niên H'mong tại Việt Nam, tháng 8 năm 2013

8135P/NTPSPR rà soát/ đánh giá; Tình hình phát triển nguồn nhân lực cho các vùng DTTS, Ủy ban Dân tộc và UNDP, tháng 12 năm 2010, Giảm nghèo DTTS, CEMA-UNDP2010, vv

Trang 6

o Đảm bảo các nguồn lực được tập trung và ưu tiên dàng cho các khu vực DTTS nghèo nhất cũng như cho các nhóm dễ bị tổn thương nhất như phụ nữ, người cao tuổi hoặc những người sống ở vùng sâu vùng xa, theo cam kết của Chính phủ nhằm đạt được các mục tiêu giảm nghèo có thể đo lường được

o Phát triển năng lực tổ chức và phân bổ ngân sách để thực hiện theo phương pháp dựa trên kết quả, tính nhạy cảm về giới, và giám sát có sự tham gia; và đảm bảo trách nhiệm giải trình trong các chính sách cho người DTTS

3 Phân biệt đối xử và sự kỳ thị

Trong số các vấn đề khác nhau, sự bất bình đẳng đối với phụ nữ DTTS là đáng lưu ý Họ đã phải gồng mình lo việc nương rẫy, sản xuất nông nghiệp và chăm sóc gia đình nhưng lại bị hạn chế tiếp cận các dịch

vụ cũng như các hoạt động xã hội của cộng đồng9 Điểm chung của sự kỳ thị về giới và thiếu thốn kinh tế cho thấy, phụ nữ của các hộ gia đình nghèo là đại diện cho một nhóm người bị xã hội quên lãng, phải đối mặt với sự phân biệt lớn hơn trong việc đáp ứng nhu cầu cơ bản của họ hơn đàn ông của các hộ gia đình nghèo và họ có nhiều khả năng rơi vào tình trạng nghèo hơn trong những bối cảnh khủng hoảng10 Tuy vậy, nhiều dự án phát triển cơ sở hạ tầng đã không tính đến các ảnh hưởng xấu của nó tới người dân địa phương/DTTS như sinh kế, môi trường sống, nền văn hóa và truyền thống của họ; trong các cuộc tham vấn sau 2015 ở Việt Nam, các nhóm DTTS được tham vấn cảm thấy như bị "bỏ lại sau" trong tiến trình phát triển, họ ngày càng bị ảnh hưởng do kết quả của sự phát triển kinh tế nhanh chóng (nhưng không bền vững) và là kết quả của những tác động về cú sốc kinh tế và biến đổi khí hậu, và "suy giảm" sức mạnh của sự gắn kết cộng đồng, giá trị văn hóa và truyền thống của họ11

Nhận thức của công chúng về người DTTS thường mang tính định kiến và góp phần vào sự bất bình

đẳng về cơ hội12 Sự phổ biến những định kiến giới và khuôn mẫu đang đè nặng lên người phụ nữ DTTS

Ví dụ, hầu hết các cô gái H’mong bị hạn chế tham gia vào tiến trình ra quyết định ở tất cả các cấp độ, kể

cả những quyết định đó ảnh hưởng đến cuộc sống của họ, đây được coi như là hệ thống phân cấp về giới

đã hạn chế lựa chọn của họ trong việc hình thành và bày tỏ quan điểm13 Thái độ của xã hội và thể chế đã lần nữa nhấn mạnh nhận thức tiêu cực về người DTTS và làm chậm lại sự tiến bộ của họ Sự kỳ thị hiện

có, kết hợp với việc thiếu một khung pháp lý toàn diện để đảm bảo không có sự phân biệt, đã tạo ra sự chênh lệch kinh tế và bất bình đẳng, cản trở việc sử dụng hiệu quả các dịch vụ công, và ngăn cản việc giới thiệu và áp dụng các phương pháp tiếp cận mới/tốt hơn để làm việc với những cộng đồng này14

9Chương trình phát triển sau năm 2015 cho Việt Nam, Báo cáo Quốc gia năm 2012

10Kabeer, N., (2006) "Loại trừ xã hội và các MDG: Thách thức của 'Bất bình đẳng lâu dài' trong khu vực Châu Á

11 Chương trình phát triển sau năm 2015 cho Việt Nam, Báo cáo Quốc gia, 2012

12 Hình ảnh người DTTS trên báo in, iSEE

13Công bằng giới: Lắng nghe nguyện vọng và ưu tiên của trẻ em gái H’mong Việt Nam, báo cáo ngắn HG, 18 tháng 6

14 Phân tích xã hội: Dân tộc và Phát triển, Ngân hàng Thế giới, 2009

Trang 7

Khuyến nghị:

o Tổ chức đối thoại chính sách ở nhiều quy mô khác nhau và với các bên liên quan, đặc biệt là các cuộc đối thoại với các nhóm dễ bị tổn thương nhất bao gồm cả phụ nữ DTTS để tìm kiếm giải pháp thiết thực nhằm tăng cường tiếng nói và sự tham gia của họ trong xây dựng, thực hiện và giám sát các chính sách;

o Trao quyền và xây dựng năng lực có sự tham gia cho người DTTS để họ có thể tham gia hiệu quả và thể hiện vai trò lãnh đạo trong quá trình ra quyết định

o Huy động kinh nghiệm và mạng lưới các tổ chức NGOs/ CSOs/CBOs trong việc xây dựng năng

lực cho người DTTS trong những dự án dựa cộng đồng để thúc đẩy sự tham gia của người DTTS

o Tiến hành nghiên cứu nhận thức về lãnh đạo nữ; nâng cao nhận thức để thay đổi cách nghĩ của cộng đồng và các giải pháp để thay đổi các chuẩn mực giới truyền thống, nhằm tạo ra một môi trường thuận lợi cho sự tham gia và lãnh đạo của phụ nữ DTTS

o Thực hiện đầy đủ, hợp lý hoặc sửa đổi chỉ tiêu phụ nữ tham gia15 vào tham chính, tại các xã/huyện và cấp quốc gia; thuê phụ nữ người DTTS để phục vụ trong các cơ quan; và bất kỳ biện pháp nào để trao quyền và nâng cao tiếng nói của họ với mục đích để lãnh đạo nữ DTTS tham gia trong tuyên truyền vận động và huy động cộng đồng tham gia vào cải cách pháp luật và các luật tục16

4 Giáo dục

Phát triển nguồn nhân lực là một vấn đề cốt lõi trong giảm nghèo, thu hẹp bất bình đẳng và phát triển bền vững cho khu vực DTTS Theo kinh nghiệm của chúng tôi, việc tập trung giáo dục mầm non và tiểu học đóng vai trò thiết yếu và hiệu quả nhất cho phát triển nguồn nhân lực Khi trẻ em được tiếp xúc với rủi ro

ở độ tuổi sớm, sẽ có những tác động lâu dài trên con đường học hành và phát triển toàn diện sau này Điều này thường dẫn đến sự bất bình đẳng và có tác động về các cơ hội cho những thế hệ kế tiếp

Chúng ta đã thấy được những cải thiện đáng kể trong giáo dục cho người DTTS trong những năm gần đây Tuy nhiên, một cuộc khảo sát của Ngân hàng Thế giới trong năm 2010 cho thấy trong khoảng 30%

hộ gia đình DTTS có ít nhất một con đã bỏ học trước khi học xong một lớp, so với tỷ lệ 16% đối với dân tộc Kinh Năm 2006, tỷ lệ nhập học ở cấp giáo dục tiểu học của người DTTS là 89%, trong khi đó tỷ lệ của người Kinh là gần 98% Tỷ lệ trẻ em gái DTTS có tỷ lệ nhập học và học ở mức thấp nhất trong các nhóm, tỷ lệ học sinh bỏ học và lưu ban cao nhất, tỷ lệ hoàn thành tiểu học thấp nhất và tỷ lệ chuyển cấp từ tiểu học đến trung học cơ sở thấp nhất Những lý do chính cho tình trạng này bao gồm:

15 Chỉ tiêu nên tránh xu hướng hiện tại để kết hợp tất cả các yêu cầu trong một cá nhân (ví dụ như người phụ nữ trẻ trong DTTS), thay vì tuân thủ trên tinh thần đa dạng của các đại diện

16Các cơ quan LHQ, Phá vỡ sự im lặng về bạo lực đối với trẻ em gái bản địa-một lời kêu gọi hành động, tháng 5 năm 2013

Trang 8

Rào cản ngôn ngữ vẫn còn là một trở ngại chính để đạt được chất lượng giáo dục

Hơn 90% trẻ em DTTS nói tiếng dân tộc ở nhà, và nhiều trẻ trong số đó có thể có ít hoặc không có cơ hội tiếp xúc với tiếng Việt trước khi học tiểu học, nhưng tất cả các tài liệu đọc và học đều bằng tiếng Việt Kết quả là, trẻ em DTTS thường không nói trôi chảy và hiểu tiếng Việt

Giáo viên thường có năng lực và nhận thức hạn chế về phát triển trẻ em và phương pháp giảng dạy

Trong khi trẻ em DTTS chỉ nên học tiếng Việt như ngôn ngữ thứ hai, giáo viên lại chỉ được trang bị các phương pháp giảng dạy truyền thống và các thầy cô cho rằng trẻ em DTTS cũng như trẻ em người Kinh, đều có thể hiểu những gì thày cô nói Đa số các giáo viên đến từ nhóm người Kinh, những người không nói được ngôn ngữ của trẻ em DTTS cũng không hiểu văn hóa của các em Do đó, họ không giúp cho trẻ hiểu bài một cách cặn kẽ

Tài liệu giảng dạy/học tập và sự hiểu biết về các nền văn hóa DTTS không phù hợp: Chương trình

giảng dạy và sách giáo khoa rất hiếm khi phù hợp với hoàn cảnh địa phương, dẫn đến kết quả học tập kém Chưa có cơ chế trong cộng đồng hoặc trong hệ thống giáo dục để thúc đẩy giáo viên hay cộng đồng tham gia phát triển hay điều chỉnh chương trình, tài liệu thích hợp cho việc dạy và học

Nhận thức của trẻ em, cha mẹ và cộng đồng về quyền trẻ em còn thấp: Mặc dù sự tham gia của trẻ đã

được xã hội công nhận là một quyền trẻ em quan trọng tại Việt Nam, nhưng lại hiếm khi phát huy được hoàn toàn ý nghĩa đó Trẻ em DTTS không thường xuyên được tư vấn về các vấn đề liên quan đến chúng,

và khả năng của chúng tham gia vào quá trình phát triển rộng hơn, do đó, bị hạn chế Trẻ em DTTS thậm chí còn dễ bị tổn thương hơn bởi trình độ học vấn của trẻ, khác biệt văn hóa và ngôn ngữ với trẻ em dân tộc Kinh

Thiếu cơ chế trách nhiệm giải trình: Tham khảo quan điểm của quần chúng và của trẻ em về quy hoạch

và quản lý trường học cũng như giám sát trẻ em học tập không phải là phổ biến ở Việt Nam mà mọi người thường nghĩ rằng giáo dục là công việc của "chuyên gia kỹ thuật" Hội phụ huynh tồn tại trên lý thuyết nhưng chủ yếu hoạt động với chức năng như "kênh truyền" cho chỉ đạo và thủ tục của chính phủ Chưa có

cơ chế tại chỗ để thúc đẩy sự hợp tác giữa các quan chức cộng đồng và các nhà chức trách giáo dục để đảm bảo sự phù hợp với bối cảnh người DTTS trong quản lý trường học cũng như chất lượng giảng dạy

Cơ sở hạ tầng nghèo nàn, thiếu các phương tiện giảng dạy và học tập: Ở hầu hết các vùng sâu vùng

xa nơi mà các nhóm DTTS cư trú, cơ sở hạ tầng cho việc dạy và học đang ở trong tình trạng thiếu thốn hoặc sửa chữa, không đủ số phòng học và các cơ sở nội trú Trong nhiều trường hợp, trẻ em dân tộc phải học trong các lớp học tạm bằng gỗ Thiếu thốn nhà vệ sinh và nước sạch khiến cho các em dễ bị viêm phổi

Khuyến nghị:

o Để vượt qua những rào cản trên, các tổ chức phi chính phủ quốc tế đã thúc đẩy những thực hành mang tính sáng kiến và đã cho thấy những cải thiện rõ ràng Việc can thiệp thông thường tập trung vào ba chiến lược: Xây dựng năng lực cho giáo viên, Tăng cường sự tham gia của trẻ em và Thúc

Trang 9

đẩy sự tham gia của cha mẹ Đó là kinh nghiệm của chúng tôi khi tập trung vào những năm đầu phát triển của trẻ, những cải tiến quan trọng có thể được thực hiện trong quá trình phát triển nguồn nhân lực cho người DTTS Chính phủ nên tiếp tục đầu tư vào trường mẫu giáo và trường tiểu học, tập trung cao vào chất lượng giáo dục Quan trọng nhất, các sáng kiến này phải thừa nhận và bảo tồn di sản văn hóa độc đáo của các DTTS

o Thay đổi trong chương trình truyền thông và vận động: không chỉ tập trung vào việc tham gia như quyền tham gia, mà còn tập trung vào những người ra quyết định phải chịu trách nhiệm với những quyết định của mình Điều này sẽ góp phần tăng cường các khái niệm về công dân tích cực trong quản lý trường học

o Quy hoạch trường học cần được phát triển theo cách hướng có sự tham gia của trẻ em với các giải pháp thích hợp để khuyến khích sự tham gia của học sinh nữ, phụ huynh và cộng đồng và được tích hợp vào quá trình SEDP địa phương

o Nên có sự quan tâm đúng mức để thúc đẩy học sinh nữ tích cực tham gia Sự thúc đẩy công dân tích cực sẽ đạt được thành quả song song với những nỗ lực tăng cường bình đẳng giới

5 Sinh kế

Nhiều cộng đồng DTTS phụ thuộc vào và sẽ tiếp tục phụ thuộc vào nông nghiệp tự cung tự cấp như là kế sinh nhai Chúng ta cần chính sách phù hợp để thừa nhận và hỗ trợ hình thức nông nghiệp này Dịch vụ hỗ trợ của chính phủ thường không thành công, ví dụ, dịch vụ khuyến nông theo nhu cầu, tiếp cận tín dụng, thừa nhận và hỗ trợ cho hình thức hợp tác xã mới do nông dân làm trung tâm và các nhóm sản xuất Chương trình mục tiêu mới (NTP) - Phát triển nông thôn mới (NRD) cũng phải công nhận và hỗ trợ làm nông nghiệp quy mô nhỏ

Tuy nhiên, thường là các chương trình của chính phủ thúc đẩy mô hình nông nghiệp và kỹ thuật không liên quan/hoặc không thích hợp cho các khu vực vùng cao; trong khi các khoản đầu tư có hiệu quả thường

có lợi cho nông dân khá giả An ninh lương thực cho cộng đồng DTTS chủ yếu phụ thuộc vào nông nghiệp quy mô nhỏ, hội nhập của họ vào mạng lưới thương mại nông nghiệp quy mô nhỏ, các thị trường cây công nghiệp và cơ hội lao động phi nông nghiệp An ninh lương thực vẫn còn bấp bênh trong nhiều vùng sâu vùng xa, việc thúc đẩy các loại cây trồng có giá trị cao và độc canh cần phải được xem xét một cách kỹ lưỡng

Việc mở rộng các lựa chọn sinh kế không chỉ là trung tâm của bất kỳ chiến lược phát triển nông thôn nào

- cả nông nghiệp và phi nông nghiệp, mà còn thông qua việc di dân Hỗ trợ tiếp cận và phát triển các chuỗi giá trị vì người nghèo có tiềm năng lớn Cộng đồng DTTS đã tận dụng cơ hội kinh tế như vậy Tuy nhiên, năng lực của chính quyền địa phương cần được tăng cường để phát triển những cơ hội này Những yêu cầu cần chú ý đến cả những thay đổi về thể chất và thể chế

Một số ý tưởng đáng quý đã được đề xuất làm thế nào để phát triển kinh tế nông thôn rộng lớn hơn, ví dụ

Trang 10

như khái niệm ‘một làng một sản phẩm’ Tuy nhiên, việc thực hiện các phương pháp như vậy cần phải được thực hiện toàn diện và giải quyết các rào cản đang ngăn chặn người DTTS tận dụng những cơ hội như vậy Điều này bao gồm sự tiếp cận các gói tín dụng, các rào cản ngôn ngữ cũng như những chuẩn mực văn hóa Số người di cư DTTS đang gia tăng; họ đòi hỏi hỗ trợ trong việc hội nhập xã hội VIệc tiếp cận với những thông tin tốt hơn là cực kì quan trọng Khu vực tư nhân có thể đóng một vai trò vô cùng lớn Chính sách cộng đồng và hàng hóa vẫn đóng vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển nông thôn, đặc biệt là trong việc hỗ trợ vùng sâu vùng xa và những vùng còn khó khăn

Khuyến nghị với NTP-NRD

o Phạm vi và tham vọng của NTP-NRD là rất lớn Điều quan trọng là phân biệt rõ các yếu tố khác nhau dưới NTP, bao gồm cả ngân sách và liên kết của họ với các chương trình giảm nghèo khác Phát triển nông thôn mang nhiều ý nghĩa hơn so với việc cung cấp các cơ sở hạ tầng Trong thực tế

"phần mềm" như các thông tin, kiến thức, thái độ trao quyền và hiệp hội (nếu không hơn) là rất quan trọng

o Điều này có ý nghĩa quan trọng trong quá trình lập kế hoạch và dự toán ngân sách - cả ở thời điểm đầu tư và duy trì thực hiện Vì lý do này, NTP-NRD phải được thể hiện rõ trong quá trình lập kế hoạch SEDP địa phương Cho đến nay, các chương trình của chính phủ đã đầu tư rất nhiều vào các

dự án cơ sở hạ tầng ví dụ như chương trình 135-II Trong khi những chương trình như vậy đã được cải thiện điều kiện và khả năng tiếp cận của địa phương nhưng tỷ lệ mất cân bằng đã hạn chế rất nhiều lợi ích trực tiếp dành cho những người nghèo nhất và những người ở hoàn cảnh đặc biệt Đầu

tư cơ sở hạ tầng tập trung chủ yếu ở các trung tâm huyện và các vùng liên kết giữa các trung tâm xã

và huyện Kết quả là, người dân ở những vùng xa vẫn tiếp tục gặp khó khăn khi tiếp cận tài sản công Vẫn còn nhiều thiếu hụt ở địa phương vùng sâu vùng xa Tuy nhiên, nhiều phương thức thực hiện khác nhau được đòi hỏi ở những cộng đồng có nhiều khả năng sở hữu đầu tư công hơn

o Ngoài các thí điểm hiện tại, điều quan trọng là phải hiểu được vốn ngân sách gì có sẵn cho các xã Điều quan trọng không để bỏ qua là các xã xa nhất và nghèo nhất, nơi những ngưới DTTS đang sinh

sống Sự tham gia của cộng đồng và người dân trong việc lập kế hoạch và thực hiện sẽ rất quan trọng Nâng cao nhận thức và hiểu biết về các chương trình cần phải được thúc đẩy ở cấp địa

phương theo những cách có thể tiếp cận đến các cộng đồng DTTS

o Quan trọng nhất là NTP-NRD mới phải được xây dựng trên những cơ sở thực tiễn tốt và những cải tiến trong chương trình giảm nghèo khác Ví dụ, chương trình 135-II đã phát triển những thực tiễn tốt

liên quan đến việc cộng đồng tham gia xây dựng các công trình hạ tầng và các xã tự làm chủ các dự

án đầu tư Các Ban giám sát cộng đồng đã chứng tỏ khả năng cải thiện chất lượng, hiệu quả chi phí

và bảo trì Khi đi kèm với quá trình nâng cao năng lực thích hợp, cơ chế gói tài trợ cho các xã có thể tạo ra cơ hội và quyền tự chủ cho các xã trong việc quyết định phương án đầu tư phát triển của họ

Ngày đăng: 28/03/2016, 05:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w