1. Lí do chọn đề tài Nước ta là một nước nông nghiệp, nông dân chiếm đại đa số trong dân tộc, nông dân là lực lượng sản xuất chính tạo ra của cải vật chất để nuôi sống toàn bộ xã hội. Đồng thời, nông dân Việt Nam vốn có truyền thống yêu nước cách mạng và có sức mạnh vĩ đại trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nhất là từ khi có Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, có đường lối cách mạng và đường lối nông vận đúng đắn, khoa học đã phát huy được sức mạnh của nông dân. Đặc biệt, cũng từ năm 1930 Đảng đã tổ chức một đoàn thể chính trị riêng của nông dân để tổ chức đấu tranh cho nông dân, từ đó phong trào của nông dân chuyển từ đấu tranh “tự phát” sang “tự giác” đạt được những thắng lợi rất to lớn. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Hội Nông dân vận động, tổ chức nông dân cách mạng đã thu được từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nông dân cùng với công nhân là lực lượng cơ bản, nòng cốt trong lực lượng cách mạng Việt Nam. Trong Mặt trận dân tộc thống nhất, nông dân liên minh với công nhân và trí thức cách mạng là cơ sở vững chắc của khối đoàn kết dân tộc giải quyết các nhiệm vụ cách mạng. Xuất phát từ vai trò, sức mạnh của giai cấp nông dân Việt Nam, Luận cương chính trị tháng 10 năm 1930 của Đảng ta đã khẳng định: “ …Trong cuộc cách mạng tư sản dân quyền , vô sản giai cấp và nông dân là hai lực lượng chính” “Dân cày là hạng người chiếm đại đa số ở Đông Dương (hơn 90%), họ là một động lực mạnh cho cách mạng tư sản dân quyền”, “ Vấn đề thổ địa là cái cốt của cách mạng tư sản dân quyền , vô sản giai cấp có đứng đầu và cùng với quần chúng dân cày mà tranh đấu để bênh vực quyền lợi hằng ngày cho dân cày và để thực hành thổ địa cách mạng cho triệt để thì mới có thể giành quyền lãnh đạo dân cày được”75, tr.19. Với cơ cấu chiếm hơn 70% dân số, nông dân nước ta hiện vẫn là lực lượng xã hội đông đảo nhất và có vai trò rất quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, cho phát triển kinh tế xã hội đất nước và xây dựng nông thôn mới. Việc nhận thức đúng đắn vai trò của nông dân nước ta hiện nay, một mặt, là cơ sở để tiếp tục động viên, khuyến khích nông dân tích cực tham gia các hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội; mặt khác, là căn cứ để có những giải pháp nhằm tiếp tục phát huy tốt vai trò sức mạnh đó, góp phần đưa cách mạng nước ta nhanh chóng đạt tới mục tiêu đã đề ra. Chính vì vậy, khi nghiên cứu lịch sử dân tộc Việt Nam chúng ta không thể không nghiên cứu nông dân và Hội Nông dân Việt Nam. Hội Nông dân tỉnh Thanh Hóa là một bộ phận của Hội Nông dân cả nước, bên cạnh những đặc điểm chung của Hội Nông dân cả nước, Hội Nông dân tỉnh Thanh Hóa mang những đặc điểm riêng. Giống như nông dân toàn quốc, nông dân và Hội Nông dân Thanh Hóa cũng có vị trí, vai trò quan trọng trong sự nghiệp cách mạng đối với cả nước và đối với địa phương. Chính vì thế, nghiên cứu về vấn đề Hội Nông dân tỉnh Thanh Hóa không những giúp chúng ta hiểu sâu sắc Hội Nông dân và phong trào nông dân Thanh Hóa mà còn hiểu sâu sắc hơn Hội Nông dân toàn quốc. Đồng thời, chúng ta có nhận thức đúng đắn về vai trò của tổ chức Hội Nông dân trong Mặt trận dân tộc thống nhất, hiểu rõ vai trò của giai cấp nông dân đối với phong trào giải phóng dân tộc. Từ năm 1986 đến nay đất nước ta đang trong công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập kinh tế thế giới, nền kinh tế xã hội nước ta nói chung và kinh tế nông nghiệp, nông thôn nói riêng đã và đang thu được những thành quả quan trọng. Tuy nhiên, chúng ta cũng đứng trước những khó khăn, thách thức to lớn hơn trước. Đặc biệt, trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội nước ta, nâng cao đời sống nhân dân, bảo vệ Tổ quốc hiện nay còn nhiều vướng mắc, khó khăn, tồn tại, đặc biệt là vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn đang có những vấn đề bất cập đặt ra đòi hỏi chúng ta phải giải quyết. Chính vì vậy, Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Việt Nam hiện nay đã rất quan tâm giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn, xây dựng nông thôn mới để thúc đẩy phát triển các ngành kinh tế xã hội của đất nước. Kết quả nghiên cứu của Luận văn còn đóng góp một số tư liệu mới sưu tập được phục vụ cho công tác giảng dạy, học tập, nghiên cứu, biên soạn lịch sử trong các nhà trường và công tác giáo dục truyền thống của Hội Nông dân, cho giai cấp nông dân, thế hệ trẻ, nhân dân Thanh Hoá và nhiều tỉnh khác. Chính vì vậy, việc nghiên cứu đề tài Hội Nông dân tỉnh Thanh Hóa giai đoạn từ năm 1986 đến năm 2014 có ý nghĩa khoa học, ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, thiết thực. Xuất phát từ những lý do đó, chúng tôi đã chọn vấn đề: “Hội Nông dân tỉnh Thanh Hoá 1986 2014” làm đề tài Luận văn Thạc sĩ khoa học lịch sử của mình.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Văn Am
Hà Nội - 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành, em xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Lịch sử - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã dìu dắt, dạy dỗ và truyền dạy những kiến thức khoa học cho chúng em trong những năm học qua
Đặc biệt, em xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS TS
Nguyễn Văn Am, người thầy đã cống hiến hết mình vì sự nghiệp giáo dục, tận tình
chỉ bảo, hướng dẫn, giúp đỡ và truyền đạt cho em những kinh nghiệm khoa học quý báu giúp em hoàn thành Luận văn đúng thời hạn
Đồng thời, em xin chân thành cảm ơn Chủ tịch Hội Nông dân tỉnh Thanh Hoá, Cán bộ Hội Nông dân Thanh Hoá đã nhiệt tình giúp đỡ em trong công tác điều tra, khảo sát, thống kê Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của Thư viện tỉnh Thanh Hoá, Phòng tư liệu khoa Lịch sử, Thư viện Trường Đại học Sư phạm
Hà Nội, Thư viện Quốc gia Hà Nội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để em thực hiện Luận văn
Cuối cùng em xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đình, người thân, bạn bè đã chia sẻ, động viên, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện để em hoàn thành Luận văn này
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 10 năm 2015
Học viên
Nguyễn Thị Tâm
Trang 4BẢNG DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Số thứ tự Chữ viết tắt Nghĩa của chữ viết tắt
5 CNH – HĐH Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
8 HNDVN Hội nông dân Việt Nam
10 KHHGĐ Kế hoạch hoá gia đình
12 TNHH Trách nhiệm hữu hạn
13 SXKDG Sản xuất kinh doanh giỏi
Trang 5MỤC LỤC
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Nước ta là một nước nông nghiệp, nông dân chiếm đại đa số trong dân tộc, nông dân là lực lượng sản xuất chính tạo ra của cải vật chất để nuôi sống toàn bộ xã hội Đồng thời, nông dân Việt Nam vốn có truyền thống yêu nước cách mạng và có sức mạnh vĩ đại trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Nhất là từ khi có Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, có đường lối cách mạng và đường lối nông vận đúng đắn, khoa học đã phát huy được sức mạnh của nông dân Đặc biệt, cũng từ năm 1930 Đảng đã tổ chức một đoàn thể chính trị riêng của nông dân để tổ chức
đấu tranh cho nông dân, từ đó phong trào của nông dân chuyển từ đấu tranh “tự
phát” sang “tự giác” đạt được những thắng lợi rất to lớn Dưới sự lãnh đạo của
Đảng, Hội Nông dân vận động, tổ chức nông dân cách mạng đã thu được từ thắng lợi này đến thắng lợi khác
Trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nông dân cùng với công nhân là lực lượng cơ bản, nòng cốt trong lực lượng cách mạng Việt Nam Trong Mặt trận dân tộc thống nhất, nông dân liên minh với công nhân và trí thức cách mạng là cơ sở vững chắc của khối đoàn kết dân tộc giải quyết các nhiệm vụ cách mạng Xuất phát từ vai trò, sức mạnh của giai cấp nông dân Việt Nam, Luận cương chính trị tháng 10 năm 1930 của Đảng
ta đã khẳng định: “ …Trong cuộc cách mạng tư sản dân quyền , vô sản giai cấp và
nông dân là hai lực lượng chính” “Dân cày là hạng người chiếm đại đa số ở Đông Dương (hơn 90%), họ là một động lực mạnh cho cách mạng tư sản dân quyền”, “ Vấn đề thổ địa là cái cốt của cách mạng tư sản dân quyền , vô sản giai cấp có đứng đầu và cùng với quần chúng dân cày mà tranh đấu để bênh vực quyền lợi hằng ngày cho dân cày và để thực hành thổ địa cách mạng cho triệt để thì mới có thể giành quyền lãnh đạo dân cày được”[75, tr.19].
Với cơ cấu chiếm hơn 70% dân số, nông dân nước ta hiện vẫn là lực lượng
xã hội đông đảo nhất và có vai trò rất quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, cho phát triển kinh tế - xã hội đất nước và xây
Trang 7dựng nông thôn mới Việc nhận thức đúng đắn vai trò của nông dân nước ta hiện nay, một mặt, là cơ sở để tiếp tục động viên, khuyến khích nông dân tích cực tham gia các hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội; mặt khác, là căn cứ để có những giải pháp nhằm tiếp tục phát huy tốt vai trò sức mạnh đó, góp phần đưa cách mạng nước ta nhanh chóng đạt tới mục tiêu đã đề ra Chính vì vậy, khi nghiên cứu lịch sử dân tộc Việt Nam chúng ta không thể không nghiên cứu nông dân và Hội Nông dân Việt Nam.
Hội Nông dân tỉnh Thanh Hóa là một bộ phận của Hội Nông dân cả nước, bên cạnh những đặc điểm chung của Hội Nông dân cả nước, Hội Nông dân tỉnh Thanh Hóa mang những đặc điểm riêng Giống như nông dân toàn quốc, nông dân
và Hội Nông dân Thanh Hóa cũng có vị trí, vai trò quan trọng trong sự nghiệp cách mạng đối với cả nước và đối với địa phương Chính vì thế, nghiên cứu về vấn đề Hội Nông dân tỉnh Thanh Hóa không những giúp chúng ta hiểu sâu sắc Hội Nông dân và phong trào nông dân Thanh Hóa mà còn hiểu sâu sắc hơn Hội Nông dân toàn quốc Đồng thời, chúng ta có nhận thức đúng đắn về vai trò của tổ chức Hội Nông dân trong Mặt trận dân tộc thống nhất, hiểu rõ vai trò của giai cấp nông dân đối với phong trào giải phóng dân tộc
Từ năm 1986 đến nay đất nước ta đang trong công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập kinh tế thế giới, nền kinh tế - xã hội nước ta nói chung và kinh tế nông nghiệp, nông thôn nói riêng đã và đang thu được những thành quả quan trọng Tuy nhiên, chúng ta cũng đứng trước những khó khăn, thách thức to lớn hơn trước Đặc biệt, trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội nước ta, nâng cao đời sống nhân dân, bảo vệ Tổ quốc hiện nay còn nhiều vướng mắc, khó khăn, tồn tại, đặc biệt là vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn đang có những vấn đề bất cập đặt ra đòi hỏi chúng ta phải giải quyết Chính vì vậy, Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Việt Nam hiện nay đã rất quan tâm giải quyết vấn
đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn, xây dựng nông thôn mới để thúc đẩy phát triển các ngành kinh tế - xã hội của đất nước
Kết quả nghiên cứu của Luận văn còn đóng góp một số tư liệu mới sưu tập được phục vụ cho công tác giảng dạy, học tập, nghiên cứu, biên soạn lịch sử trong các nhà trường và công tác giáo dục truyền thống của Hội Nông dân, cho giai cấp nông dân, thế hệ trẻ, nhân dân Thanh Hoá và nhiều tỉnh khác
Trang 8Chính vì vậy, việc nghiên cứu đề tài Hội Nông dân tỉnh Thanh Hóa giai đoạn
từ năm 1986 đến năm 2014 có ý nghĩa khoa học, ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, thiết
thực Xuất phát từ những lý do đó, chúng tôi đã chọn vấn đề: “Hội Nông dân tỉnh
Thanh Hoá 1986 - 2014” làm đề tài Luận văn Thạc sĩ khoa học lịch sử của mình.
2 Lịch sử nghiên cứu đề tài
Về đề tài Hội Nông dân tỉnh Thanh Hoá cũng đã được một số cơ quan nghiên cứu và nhà nghiên cứu quan tâm nghiên cứu Cho đến nay cũng đã có một
số công trình nghiên cứu đã được công bố như:
- “Lịch sử Đảng bộ Thanh Hoá”, tập I (1930 - 1954) của Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ
Thanh Hoá biên soạn (1991) Nội dung chính của cuốn sử đề cập đến vai trò lãnh đạo của Đảng bộ đối với công cuộc cách mạng của Đảng bộ và nhân dân tỉnh Thanh Hoá thời kì từ 1930 đến năm 1954 Tuy nhiên, trong một số trang của cuốn sử có đề cập đến hoạt động của Hội Nông dân và phong trào nông dân Thanh Hoá trong thời
kì vận động Cách mạng Tháng Tám (1930 - 1945) và kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 – 1954)
- Cuốn “Lịch sử Đảng bộ Thanh Hoá”, tập II (1954 – 1975) do Ban Chấp hành Đảng
bộ tỉnh Thanh Hoá tổ chức biên soạn cũng có một số trang phản ánh nhiều hoạt động của Hội Nông dân và phong trào nông dân tỉnh Thanh Hoá, trong đó có hoạt động xây dựng và bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa, kháng chiến chống Mỹ cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc 1954 – 1975
- Cuốn “Lịch sử Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá”, tập III (1975 – 2005) do Ban Chấp hành
Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá tổ chức biên soạn có một số trang đề cập đến hoạt động của Hội Nông dân và phong trào nông dân tỉnh Thanh Hoá trong thời kì đất nước thống nhất đi lên chủ nghĩa xã hội và bước đầu công cuộc đổi mới đất nước theo đường lối cách mạng của Đảng (1975 – 2005) như trang 23, 48, 63, 74, 75, 90, 102,
104 – 110, 121, 140 – 142, 189 – 190, 240, 366
- Cuốn “Lịch sử phong trào nông dân và Hội Nông dân tỉnh Thanh Hoá, 1930 –
1992”, do Ban Chấp hành Hội Nông dân tỉnh Thanh Hoá tổ chức biên soạn, tác giả
Trịnh Nhu chủ biên, xuất bản năm 1993, cuốn sách gồm 179 trang, trình bày lại quá
Trang 9trình xây dựng, phát triển của phong trào nông dân và Hội Nông dân tỉnh Thanh Hoá qua các thời kì cách mạng giải phóng dân tộc, giành độc lập, chính quyền 1930 – 1945 (chương II) Thời kì kháng chiến chống Pháp 1945 – 1954 (chương III) và thời kì xây dựng bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa, kháng chiến chống Mỹ cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc 1954 – 1975 (chương IV) Tiếp tục xây dựng cuộc sống theo định hướng xã hội chủ nghĩa 1975 – 1992 (chương V) Cuốn sách lịch sử đã nghiên cứu và phản ánh những truyền thống quý báu, vai trò
to lớn của giai cấp nông dân tỉnh Thanh Hoá, quá trình xây dựng, phát triển của Hội Nông dân và phong trào nông dân tỉnh Thanh Hoá trong công cuộc đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ quê hương đất nước (1930 – 1992)
Đã cung cấp cho chúng tôi những tư liệu lịch sử, những nhận định, đánh giá về Hội Nông dân, phong trào Hội Nông dân tỉnh Thanh Hoá qua các thời kì lịch sử Đặc biệt, trong chương V trang 137 – 168 đã cung cấp cho chúng tôi những tư liệu, sự kiện lịch sử về Hội Nông dân và phong trào nông dân tỉnh Thanh Hoá (1986 – 1992) - mười lăm năm đầu thời kì đổi mới giúp chúng tôi đối chiếu, so sánh với những kết quả nghiên cứu của mình trong Luận văn
- “Đổi mới nội dung và phương hướng hoạt động của Hội Nông dân tỉnh Thanh Hoá thời kì đổi mới”, Khoá luận tốt nghiệp Đại học – Học viện Báo chí tuyên truyền Hà
Nội, năm 2002 của Lương Thị Sinh Tác giả đã cung cấp cho chúng tôi về mặt lí luận, thực tiễn giúp chúng tôi nghiên cứu về những nội dung và phương hướng hoạt động của Hội Nông dân tỉnh Thanh Hoá thời kì đổi mới
- “Thực trạng và giải pháp nâng cao vai trò của Hội Nông dân tỉnh trong giai đoạn hiện nay”, Khoá luận tốt nghiệp Đại học – Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn,
năm 2000 của Bùi Xuân Thiên Đề tài Khoá luận không trực tiếp nghiên cứu Hội Nông dân tỉnh Thanh Hoá mà nghiên cứu thực trạng và giải pháp nhằm nâng cao vai trò Hội Nông dân ở các tỉnh trong cả nước Tuy vậy, đề tài Khoá luận giúp chúng tôi trong nghiên cứu thực trạng và giải pháp nâng cao vai trò của Hội Nông dân tỉnh Thanh Hoá trong giai đoạn hiện nay
Trang 10- Tác giả Lê Thị Hoa với đề tài “Hội Nông dân tỉnh Thanh Hoá trong hai mươi năm
đầu của công cuộc đổi mới (1986 – 2006)”, Luận văn Thạc sĩ khoa học Lịch sử Đại
học Sư phạm Hà Nội – 2007 Luận văn đã cung cấp cho chúng tôi những tư liệu, sự kiện lịch sử về Hội Nông dân tỉnh Thanh Hoá từ năm 1986 đến năm 2006 để chúng tôi đối chiếu và so sánh với những kết quả nghiên cứu của mình Đồng thời, chúng tôi tiếp tục đi sâu nghiên cứu về Hội Nông dân tỉnh Thanh Hoá từ năm 2006 đến năm 2014 để hoàn thành đề tài Luận văn của mình
- Cuốn “Lịch sử phong trào nông dân và Hội Nông dân Việt Nam 1930 – 1995” do
Hội Nông dân Việt Nam biên soạn, xuất bản năm 1998 Cuốn sử đã trình bày về quá trình ra đời, hoạt động, phát triển của Hội Nông dân Việt Nam, vai trò của Hội Nông dân Việt Nam và giai cấp nông dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam qua các giai đoạn cách mạng từ 1930 – 1945 Đồng thời, tác phẩm cũng đề cập đến Hội Nông dân và phong trào nông dân toàn quốc đã cung cấp một số tư liệu lịch sử giúp chúng tôi nghiên cứu Hội Nông dân và phong trào nông dân tỉnh Thanh Hoá trong các thời kì lịch sử như các trang 134, 197, 225, 239, 266,
277, 279, 303, 453, 455, 525, 536… đã giúp chúng tôi hiểu sâu sắc về lịch sử Hội Nông dân và phong trào nông dân Việt Nam, giúp chúng tôi có kiến thức, phương pháp để nghiên cứu, hoàn thành đề tài Luận văn của mình
Như vậy cho đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về Hội Nông dân tỉnh Thanh Hoá giai đoạn 1986 – 2014 Những công trình nghiên cứu trên đây là tài liệu tham khảo rất bổ ích vì đã cung cấp cho chúng tôi những nội dung, tư liệu lịch sử, những nhận xét, đánh giá về Hội Nông dân tỉnh Thanh Hoá để tôi đối chiếu, so sánh với kết quả nghiên cứu của mình
3 Đối tượng, phạm vi, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1 Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu về tổ chức và
hoạt động của Hội Nông dân tỉnh Thanh Hóa
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi Luận văn nghiên cứu của Hội Nông dân:
- Phạm vi không gian: Trên địa bàn toàn Tỉnh Thanh Hóa
Trang 11- Phạm vi thời gian: Giai đoạn 1986 - 2014
Tuy nhiên, để làm rõ được yêu cầu của đề tài, Luận văn đề cập đến sự hình thành, hoạt động của Nông Hội Nông dân Thanh Hoá trước năm 1986 và những vấn
đề liên quan về đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về công tác nông hội, Hội Nông dân
3.3.Nhiệm vụ của đề tài:
Trên cơ sở những tư liệu được sắp xếp, chỉnh lý Luận văn trình bày tổ chức, hoạt động và những thành tựu, tồn tại của Hội Nông dân tỉnh Thanh Hóa từ năm
1986 – 2014 Từ đó, bước đầu nêu lên một số nhận xét, đánh giá về đặc điểm, đóng góp của Hội Nông dân tỉnh Thanh Hóa trong sự nghiệp cách mạng của địa phương
và trong cả nước Đồng thời, qua đó cũng làm sáng tỏ vai trò của Đảng, Mặt trận Tổ quốc, chính quyền và các đoàn thể chính trị của quần chúng và vai trò đóng góp của nông dân, nhân dân Thanh Hoá đối với Hội Nông dân Thanh Hóa Bước đầu rút ra một số bài học kinh nghiệm để phục vụ cho công tác tổ chức, hoạt động của Hội Nông dân tỉnh Thanh Hóa trong giai đoạn hiện nay và về sau
4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu:
4.1 Nguồn tài liệu:
Để nghiên cứu đề tài, chúng tôi sử dụng kết hợp nhiều nguồn tài liệu khác nhau:
- Những văn kiện Đại hội Đảng, đường lối, chủ trương, pháp luật của Nhà nước về Hội Nông dân Nguồn tư liệu này cung cấp những quan điểm, phương hướng nghiên cứu đúng đắn để giải quyết các vấn đề của đề tài đặt ra
- Những tư liệu lưu trữ của Hội Nông dân tỉnh Thanh Hóa, Uỷ ban nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Thanh Hóa, Tuyên giáo tỉnh ủy Thanh Hóa, Sở văn hóa thông tin, Thư viện tỉnh Thanh Hóa Đây là nguồn tư liệu làm cơ sở để chúng tôi xây dựng Luận văn
- Những tài liệu tham khảo như sách, bài báo, bài nghiên cứu liên quan đến đề tài Hội Nông dân tỉnh Thanh Hóa trong thời gian 1986 – 2014 Đây là nguồn tài liệu tham khảo bổ ích, cung cấp những tư liệu lịch sử và những nhận xét, đánh giá Hội Nông dân
và nông dân Thanh Hóa để chúng tôi đối chiếu so sánh với kết quả nghiên cứu của mình
- Là đề tài lịch sử địa phương nên chúng tôi rất chú trọng công tác điền dã, khảo sát thực tế địa phương Thanh Hóa để tập hợp những tư liệu thực tế như: Hồi kí
Trang 12của những nhân chứng lịch sử, tranh ảnh, ca dao, bài hát, vở kịch, biểu đồ, bản đồ,
số liệu thống kê bổ sung cho nguồn tư liệu thành văn
4.2 Phương pháp nghiên cứu:
Trong quá trình nghiên cứu, hoàn thành đề tài, chúng tôi vận dụng phương pháp luận sử học Mácxít, phương pháp lịch sử và phương pháp logic (phương pháp lịch sử là chủ yếu) Đồng thời, còn sử dụng phương pháp phân tích, khái quát tổng hợp, so sánh, thống kê Coi trọng khâu làm tốt công tác sưu tầm, giám định tư liệu,
sử dụng kết quả nghiên cứu của các khoa học liên ngành
Đây là một đề tài lịch sử địa phương nên phải coi trọng công tác điền dã, thu thập, sử dụng tư liệu lịch sử địa phương
5 Đóng góp của Luận văn
- Luận văn lần đầu tiên trên cơ sở những tư liệu chọn lọc, sắp xếp, chỉnh lý, dựng lại một cách hệ thống, tương đối đầy đủ về tổ chức, hoạt động của Hội Nông dân tỉnh Thanh Hóa từ 1986 – 2014
- Trên cơ sở đó nêu những nhận xét về vai trò, đóng góp của Hội Nông dân tỉnh Thanh Hóa đối với sự nghiệp đổi mới, xây dựng phát triển đất nước, bảo vệ Tổ quốc và nâng cao đời sống của nhân dân tỉnh Thanh Hóa và cả nước
- Bước đầu rút ra một số bài học kinh nghiệm, kiến nghị, đóng góp thiết thực cho sự nghiệp xây dựng, phát triển, tổ chức và hoạt động của Hội Nông dân tỉnh Thanh Hóa trong giai đoạn cách mạng hiện nay và về sau
- Đóng góp một số tư liệu mới sưu tầm phục vụ cho công tác dạy, học nghiên cứu lịch sử trong các nhà trường và công tác giáo dục truyền thống của Hội Nông dân tỉnh cho giai cấp nông dân, thế hệ trẻ, nhân dân Thanh Hoá
6 Bố cục của Luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, Luận văn được xây dựng thành 3 chương:
Chương 1: Khái quát về tỉnh Thanh Hoá và Hội Nông dân tỉnh Thanh Hóa trước năm 1986
Chương 2: Tổ chức và hoạt động của Hội Nông dân tỉnh Thanh Hóa (1986 – 2014).Chương 3: Đặc điểm và vai trò của Hội Nông dân tỉnh Thanh Hóa đối với sự nghiệp cách mạng ở địa phương và cả nước (1986 – 2014)
Trang 13Chương 1:
KHÁI QUÁT VỀ TỈNH THANH HÓA VÀ HỘI NÔNG DÂN TỈNH
THANH HÓA TRƯỚC NĂM 1986
1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Thanh Hoá.
1.1.1 Điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa lý
Thanh hoá nằm ở vị trí trung chuyển giữa các tỉnh phía Bắc và các tỉnh phía Nam nước ta Thanh Hoá cách Thủ đô Hà Nội 153km về phía Bắc, về phía Nam cách Thành phố Vinh tỉnh Nghệ An 138 km, cách thành phố Hồ Chí Minh 1.560km Thanh Hoá Nằm ở vị trí từ 19,18o đến 20,40o vĩ độ Bắc; 104,22o đến 106,40o kinh
độ Đông Phía Bắc giáp tỉnh: Ninh Bình, Hoà Bình, Sơn La; Phía Nam giáp tỉnh Nghệ An; Phía Tây giáp tỉnh Hủa Phăn – Cộng hoà Dân chủ nhân dân Lào; Phía Đông giáp biển Đông với chiều dài đường bờ biển 102 km
Thanh Hoá có lãnh thổ rộng lớn: 11.168,3 km2 (chiếm 3,37% tổng diện tích
tự nhiên của cả nước) Trong đó có 70% đất đai là đồi và rừng núi [41, tr.7]
- Điều kiện tự nhiên
Địa hình Thanh Hoá khá phức tạp, bị chia cắt nhiều và nghiêng theo hướng
Tây Bắc - Đông Nam; đồi núi chiếm trên 3/4 diện tích tự nhiên của cả tỉnh Địa hình Thanh Hoá có thể chia thành 3 vùng rõ rệt: Vùng núi và trung du, vùng đồng bằng
và vùng ven biển
Điều kiện khí hậu, Thanh Hoá nằm ở vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa với 2
mùa rõ rệt: Mùa hạ nóng, ẩm mưa nhiều và chịu ảnh hưởng của gió Tây Nam khô,
nóng Mùa đông lạnh và ít mưa Thanh Hoá có nền nhiệt độ cao, nhiệt độ trung bình
năm khoảng 230C- 240C; Độ ẩm không khí biến đổi theo mùa nhưng sự chênh lệch
độ ẩm giữa các mùa là không lớn Độ ẩm trung bình các tháng hàng năm khoảng
85%; Lượng mưa ở Thanh Hóa là khá lớn, trung bình năm từ 1.456,6 - 1.762,6 mm,
nhưng phân bố rất không đều giữa hai mùa và lớn dần từ Bắc vào Nam và từ Tây sang Đông Thanh Hoá nằm trong vùng đồng bằng ven biển Bắc Bộ, hàng năm có
Trang 14ba mùa gió là: Gió Bắc, do không khí lạnh từ Bắc cực qua lãnh thổ Trung Quốc thổi
vào; Gió Tây Nam: Từ vịnh Belgan qua lãnh thổ Thái Lan, Lào thổi vào, gió rất
nóng nên gọi là gió Lào (hay gió phơn Tây Nam); Gió Đông Nam (còn gọi là gió
nồm): Thổi từ biển vào đem theo không khí mát mẻ.
Thanh Hóa là tỉnh có mạng lưới sông ngòi khá dầy, từ Bắc vào Nam có 4 hệ thống sông chính là sông Hoạt, sông Mã, sông Chu, sông Yên, sông Bạng, với tổng chiều dài 881km, tổng diện tích lưu vực là 39.756 km2, tổng lượng nước trung bình hàng năm 19,52 tỉ m3 Hệ thống sông ngòi dầy đặc, nguồn nước phong phú, phục vụ cho nhu cầu hàng ngày của người dân và tạo điều kiện thuận lợi phát triển ngành kinh tế của Tỉnh
Thanh Hoá có điều kiện tự nhiên thuận lợi, đặc biệt là khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm mưa nhiều có nhiều thuận lợi cho phát triển kinh tế Tuy nhiên, khí hậu và điều kiện tự nhiên thất thường, hằng năm thiên tai luôn xảy ra
đe doạ mùa màng, tài sản, tính mạng của nhân dân như bão, lũ lụt, khô hạn kéo dài, gió rét, gió nóng, dịch bệnh…
1.1.2 Các nguồn tài nguyên
Trước hết, chúng ta phải kể đến nguồn tài nguyên đất Theo kết quả điều tra thổ nhưỡng theo phương pháp của FAO- UNESCO, tỉnh Thanh Hoá có 8 nhóm đất chính với 20 loại đất khác nhau gồm có những nhóm đất chính sau: Nhóm đất phù
sa có diện tích 191.216 ha, chiếm 17,2% diện tích tự nhiên, phân bố chủ yếu ở các vùng đồng bằng, ven biển Đất có thành phần cơ giới thường là thịt nhẹ, ít chua, giàu chất dinh dưỡng nên có chất lượng tốt, thích hợp với nhiều loại cây trồng, nhất
là các loại cây ngắn ngày như lương thực, hoa màu và cây công nghiệp ngắn ngày khác Nhóm đất xám có diện tích 717.245 ha, chiếm 64,6% diện tích tự nhiên toàn tỉnh, phân bố chủ yếu ở vùng trung du miền núi, thuộc các huyện Quan Hoá, Bá Thước, Như Xuân, Thường Xuân, Cẩm Thuỷ, Ngọc Lặc, Thạch Thành, Lang Chánh Đất có tầng dầy, dễ thoát nước, thích hợp cho phát triển lâm nghiệp và các cây công nghiệp dài ngày, cây ăn quả như cao su, cà phê, chè, cam, chanh, dứa Nhóm đất đỏ có diện tích 37.829 ha, chiếm 3,4% diện tích tự nhiên, phân bố ở độ
Trang 15cao trên 700 mét tại các huyện: Quan Hoá, Lang Chánh, Thường Xuân Nhóm đất này có tầng dày, thành phần cơ giới từ nhẹ đến trung bình, ít chua nên thích hợp với nhiều loại cây trồng và khoanh nuôi tái sinh rừng.
Qua hàng ngàn năm lịch sử, các thế hệ nhân dân Thanh Hoá kế tiếp nhau đã lao động cần cù, dũng cảm, sáng tạo cải tạo thiên nhiên, hạn chế những thiệt hại do thiên tai gây ra, khai hoang lấn biển cải tạo đất đai mở rộng diện tích canh tác, địa bàn cư trú, xây dựng nên những làng bản, đồng ruộng, thành phố trù phú như ngày nay Quá trình lao động, đấu tranh, xây dựng và bảo vệ quê hương đất nước đã hun đúc cho nhân dân bản địa có truyền thống lao động, sáng tạo, yêu nước, bất khuất chống áp bức, bóc lột [41; tr.26]
Thứ hai là tài nguyên nước, nước mặt tỉnh Thanh Hoá tương đối phong phú
và đa dạng Ngoài 4 hệ thống sông chính cung cấp nước là sông Hoạt, sông Mã, sông Chu, sông Yên, sông Lạch Bạng còn có 264 suối nhỏ và 1.760 hồ chứa lớn nhỏ khác nhau, tạo ra một mạng lưới thủy văn dày đặc và phân bố khá đều trên địa bàn tỉnh Nước là nguồn tài nguyên cần thiết đối với đời sống của cư dân và sản xuất, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp
Thứ ba là tài nguyên rừng, với hơn 2/3 diện tích tự nhiên là đồi núi, tỉnh Thanh Hoá có tài nguyên rừng khá lớn, đóng vai trò hết sức quan trọng đối với việc phòng hộ đầu nguồn và phát triển kinh tế - xã hội Theo kết quả kiểm kê đất đai về
số liệu hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp năm 2010, diện tích đất có rừng toàn tỉnh
là 600.627,66 ha; tỷ lệ che phủ đạt 54%
Về tài nguyên biển, Thanh Hoá có bờ biển dài 102 km (từ cửa Càn - Nga Sơn đến Hà Nẫm - Tĩnh Gia); vùng lãnh hải rộng hơn 1,7 vạn km2 Vùng biển và ven biển Thanh Hoá có tài nguyên khá phong phú, đa dạng, trong đó nổi bật là tài nguyên thuỷ sản, tài nguyên du lịch biển và tiềm năng xây dựng cảng và dịch vụ hàng hải
Tài nguyên khoáng sản ở Thanh Hoá khá phong phú về chủng loại và đa dạng về cấp trữ lượng Hiện toàn tỉnh có tới 257 mỏ và điểm quặng, với 42 loại khoáng sản, trong đó có một số loại có ý nghĩa quốc tế và khu vực như Crôm, đá ốp lát, đô lô mít, chì kẽm, thiếc, vonfram, antimoan, đá quý Nhiều mỏ có trữ lượng lớn
Trang 16và phân bố tập trung, cho phép khai thác với quy mô công nghiệp như đá vôi, đất sét làm xi măng Đây là một lợi thế lớn của tỉnh trong việc phát triển công nghiệp khai khoáng, công nghiệp sản xuất xi măng, công nghiệp vật liệu xây dựng
Nhìn chung nguồn tài nguyên thiên nhiên tỉnh Thanh Hoá khá phong phú và
đa dạng đó là điều kiện thuận lợi để Thanh Hoá đẩy mạnh phát triển nền kinh tế đa dạng, trong đó có ngành kinh tế nông nghiệp
1.1.3. Điều kiện kinh tế - xã hội:
- Kinh tế
Trong quá khứ lịch sử cho đến nay nhìn chung nhân dân Thanh Hoá chủ yếu sống bằng nghề lúa nước, nguồn thu nhập chính là từ nông nghiệp, do đó nông dân
là lực lượng đông đảo, vấn đề nông nghiệp – nông thôn là vấn đề quan trọng Ngoài
ra công nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp cũng khá phát đạt Trong nhiều thế
kỉ, Thanh Hoá có nhiều trung tâm nổi tiếng với các nghề: Đúc đồng, làm dụng cụ bằng đá, nghề làm chiếu cói…
Từ năm 1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng cho đến năm 1986, vì những chính sách kinh tế theo cơ chế quan liêu bao cấp không còn phù hợp với giai đoạn cách mạng mới nên Việt Nam bị lâm vào khủng hoảng và giảm sút nghiêm trọng, tỉnh Thanh Hoá cũng không nằm ngoài tình trạng ấy: Sản xuất nông nghiệp phát triển chậm, năng suất lúa thấp nên việc thiếu lương thực liên tiếp xảy ra; sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, thủ công nghiệp chưa tương xứng với tiềm năng của tỉnh Công tác quản lý bị buông lỏng, chất lượng sản phẩm kém Tình hình đó đòi hỏi phải đổi mới toàn diện đất nước để thoát khỏi tình trạng khủng hoảng
Khi bước vào công cuộc đổi mới, từ sau năm 1986 Thanh Hoá đã dần khắc phục được khó khăn, nâng cao dần đời sống nhân dân với mức độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm là trên 7% Thanh Hoá đang cùng cả nước tiến hành CNH – HĐH đất nước Hiện nay Thanh Hoá đã hình thành bốn khu công nghiệp là Bỉm Sơn – Thạch Thành ở phía Bắc; Nghi Sơn ở phía Nam, khu công nghiệp Lam Sơn ở phía Tây và khu công nghiệp Lễ Môn ở phía Đông
Trang 17Tỉnh Thanh Hoá bước đầu đã xây dựng được hệ thống cơ sở hạ tầng có thể đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế nông nghiệp ở mức độ nhất định Điển hình như mạng lưới đường bộ khá dày với gần 8000km (không kể đường liên thôn, nội đồng) Phần lớn các xã của tất cả các huyện đều được phủ điện lưới quốc gia, hệ thống thuỷ lợi không ngừng được củng cố với nhiều công trình (Đập Bái Thượng,
hệ thống thuỷ lợi sông Chu, sông Mã, hệ thống tiêu sông Hoành, sông Lý, Trường Lê…) Chương trình kiên cố hoá kênh mương theo hình thức Nhà nước và nhân dân cùng làm đã thực hiện được hơn 600km… Đặc biệt công trình thuỷ điện, hồ chứa nước Cửa Đạt đang được xây dựng ở huyện Thường Xuân là một trong những công trình có quy mô lớn nhất miền Bắc Nhờ đó mà kinh tế nông nghiệp tỉnh Thanh Hoá có nhiều tiềm năng để phát triển [81, tr.121 – 128]
- Xã hội
Tỉnh Thanh Hoá vốn là một trong những “cái nôi” của lịch sử nhân loại nên
trên mảnh đất nơi đây có nhiều thành phần dân tộc định cư lâu đời, có bề dày truyền thống yêu nước, đoàn kết, bất khuất Thanh Hoá hiện là tỉnh có nhiều đơn vị hành chính nhất trong số 64 tỉnh thành phố của nước ta Bao gồm 1 thành phố, 3 thị xã,
23 huyện với 151 xã, 21 phường và 28 thị trấn
Thành phố Thanh Hoá là trung tâm kinh tế, hành chính, văn hoá của tỉnh Ba thị xã trực thuộc tỉnh là Thị xã Bỉm Sơn (ở phía bắc của tỉnh), Thị xã Sầm Sơn (nằm giáp biển và là một trong những trung tâm du lịch biển của Miền Trung) và Thị xã Ngọc Lặc là thị xã miền núi nằm ở phía tây của tỉnh, mới được nâng cấp lên thành thị xã năm 2004
Trong số 23 huyện của tỉnh có 8 huyện đồng bằng (Thọ Xuân, Đông Sơn, Nông Cống, Triệu Sơn, Yên Định, Thiệu Hoá, Hà Trung,Vĩnh Lộc); 5 huyện ven biển (Nghi Sơn, Hoàng Hoá, Hậu Lộc,Quảng Xương, Tĩnh Gia) và 10 huyện trung
du miền núi (Như Xuân, Như Thanh, Lang Chánh, Bá Thước, Thạch Thành, Cẩm Thuỷ, Thường Xuân, Quan Hoá, Quan Sơn, Mường Lát)
Trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa hiện có 7 dân tộc sinh sống, trong đó dân tộc Kinh chiếm tỷ lệ cao nhất, khoảng 84,75%, tiếp đến là dân tộc Mường chiếm 8,7%,
Trang 18dân tộc Thái chiếm 6%, còn lại là các dân tộc khác như H’Mông, Dao, Hoa chiếm một tỷ trọng nhỏ Các dân tộc ở Thanh Hóa có những nét văn hoá, kinh tế đặc trưng của vùng Bắc Trung Bộ Có nhiều lễ hội và phong tục truyền thống tốt đẹp đang được phục hồi và phát triển theo hướng tiến bộ.
Thanh Hoá là tỉnh có dân số đông, đứng thứ hai trong cả nước (sau Thành phố Hồ Chí Minh) Tính đến năm 2005, số dân của tỉnh Thanh Hoá là 3,676 triệu người Do đó đã tạo ra một lực lượng lao động đông đảo, có khoảng gần 2 triệu lao động, khoảng 90% ở nông thôn và phần lớn tham gia các hoạt động nông nghiệp
Thanh Hoá có cơ cấu dân số tương đối trẻ, sức khỏe tốt, trình độ văn hoá cao, thích ứng với sự ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật Đến nay, tỉnh đã hoàn thành phổ cập giáo dục Trung học cơ sở đúng độ tuổi; 473 trường đạt chuẩn quốc gia, trong đó 69 trường mầm non, 343 trường tiểu học, 56 trường Trung học cơ sở
và 5 trường Trung học phổ thông Đây là nguồn nhân lực chủ yếu sẽ được huy động vào công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh
Với đặc điểm dân cư trong tỉnh, Thanh Hoá không chỉ có tiềm năng của một thị trường rộng lớn, mà còn có nguồn nhân lực dồi dào để phát triển kinh tế, nhất là kinh tế nông nghiệp
1.2. Khái quát về sự hình thành và phát triển tổ chức Hội Nông dân tỉnh Thanh
Hóa trước thời kì đổi mới (1930 - 1986)
1.2.1 Hội Nông dân Thanh Hoá và hoạt động của Hội những năm 1930 – 1939
Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930) đã nêu lên những
vấn đề cơ bản đối với giai cấp nông dân là: "Đảng phải đoàn kết đại đa số nông
dân, phải dựa vào nông dân nghèo làm cách mạng thổ địa, đánh đổ bọn đại địa chủ
và phong kiến"; đồng thời Đảng nhấn mạnh "Nông dân là lực lượng to lớn của cách mạng", vì vậy phải tập hợp nông dân vào một tổ chức dưới sự lãnh đạo của Đảng,
đấu tranh giành độc lập tự do và thực hiện cách mạng ruộng đất Từ những quan điểm nêu trên, Hội nghị Trung ương Đảng tháng 10/1930 đã thảo luận và khẳng
định “Nông Hội đỏ” là hình thức tổ chức đầu tiên của phong trào nông dân Việt
Nam, là tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp nông dân Việt Nam Nông Hội đỏ
Trang 19(tên gọi đầu tiên của Hội Nông dân) được thành lập đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong lịch sử giai cấp nông dân Việt Nam.
Thanh Hoá là tỉnh sớm có phong trào nông dân Nông Hội đỏ ở Thanh Hoá được thành lập ngay trong năm 1930, với 200 hội viên ở một số làng thuộc các huyện Thọ Xuân, Thiệu Hoá, Đông Sơn Ngay từ ngày thành lập, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh, Nông Hội đỏ Thanh Hoá luôn là lực lượng nòng cốt trong các phong trào cách mạng của nông dân Tiêu biểu cho truyền thống yêu nước kiên cường, bất khuất của người Xứ Thanh là cuộc đấu tranh của nông dân Yên Trường đòi chia lại công điền, công thổ do bọn Thống lý chiếm đoạt; Nông dân làng Chí Tiến - Thọ Xuân chống lại Tri phủ bắt phu đắp đường vào ấp Quan Thành; 600 nông dân Yên Định đòi trả tự do cho tù chính trị; Cuộc mít tinh liên huyện của 3000 nông dân các huyện: Yên Định, Thiệu Hóa, Thọ Xuân, Vĩnh Lộc để ủng hộ Mặt trận Nhân dân tự do dân chủ và nhiều cuộc đấu tranh khác
Cao trào cách mạng Xô viết – Nghệ Tĩnh (1930 – 1931) nổ ra, tháng 4/1931, giai cấp nông dân Thanh Hoá đã hăng hái tham gia các cuộc phát truyền đơn, treo
cờ búa liềm, mít tinh ủng hộ Xô viết – Nghệ Tĩnh, phản đối sự đàn áp dã man của thực dân Pháp và bè lũ tay sai đối với đồng bào nông dân Nghệ Tĩnh
Từ giữa năm 1931, đế quốc Pháp và bè lũ tay sai tăng cường đàn áp phong trào cách mạng hòng tiêu diệt các chiến sĩ cộng sản và quần chúng nhân dân Vào thời gian này, nhiều cán bộ chủ chốt của Đảng bộ bị bắt, những cuộc đấu tranh của quần chúng bị đàn áp nhưng Nông hội đỏ vẫn được duy trì dưới hình thức tương trợ lẫn nhau trong lao động sản xuất và trong đời sống hàng ngày Cuối năm 1931, Tổ chức Nông hội đỏ ở các làng Yên Lộ, Long Linh, Cẩm Bào, Phúc Bồi, Căng Hạ, Bình Ngô, Xá Lê, Phong Cốc, Ngọc Trung, Mao Xá, Vực Thượng, Lê Nghĩa…vẫn tiếp tục hoạt động và phát triển làm nòng cốt để thành lập các tổ chức biến tướng của Nông hội đỏ như Hội đánh tranh, Hội lợp nhà… các cuộc đấu tranh của quần chúng chống bọn hào lý tham nhũng, chống nạn phù thu lạm bổ, chống những hủ tục ở nông thôn vẫn diễn ra thường xuyên và đã từng bước giành được thắng lợi Các tổ chức biến tướng đã tích cực hoạt động vận động quần chúng nông dân đấu
Trang 20tranh bằng nhiều hình thức phong phú Những hoạt động này góp phần vào việc từng bước nâng cao giác ngộ chính trị cho quần chúng nông dân.
Nhờ hoạt động tích cực, đến giữa năm 1932, các tổ chức Nông hội ở nhiều nơi trong tỉnh được củng cố Ở một số địa phương bắt đầu có các cuộc đấu tranh đòi cải lương hương tục của nông dân diễn ra
Từ năm 1935, tình hình thế giới và trong nước có những chuyển biến mới, có lợi cho phong trào cách mạng Ở trong tỉnh, phong trào đấu tranh của quần chúng
đã vượt qua được những khó khăn tạm thời và giành được nhiều thắng lợi Theo sự
chỉ đạo của cấp trên, Tỉnh uỷ đã đổi “Nông Hội đỏ” thành “Hội tương tế ái hữu”
Hội tương tế ái hữu tập hợp rộng rãi các tầng lớp nhân dân vào phong trào đấu tranh chung Hội tương tế ái hữu có nhiều hình thức hoạt động sáng tạo như việc tổ chức các lớp học chữ quốc ngữ, các tổ đọc sách báo… ở một số làng thuộc huyện Thiệu Hoá, Yên Định, Thọ Xuân… các lớp học chữ quốc ngữ, các tổ đọc sách báo thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia và thông qua hình thức hoạt động này để tuyên truyền đường lối cách mạng của Đảng, tập hợp và giác ngộ tinh thần cách mạng cho quần chúng [41, tr.31]
Tháng 7/1935, Hội nghị đại biểu Hội tương tế ái hữu liên huyện Yên Định – Thiệu Hoá đã chủ trương vận động nhân dân đấu tranh chống sưu cao, thuế nặng, chống bọn cường hào tham nhũng Những chủ trương trên được đông đảo quần chúng nông dân hưởng ứng
Tháng 3/1936, Hội nghị Tỉnh uỷ tại Yên Lộ (theo tinh thần chỉ đạo của Trung ương Đảng), đã diễn ra kịp thời đề ra những chủ trương công tác mới và đặc biệt chú
ý đến nhiệm vụ xây dựng các tổ chức quần chúng như Hội tương tế ái hữu Từ sau Hội nghị này, phong trào đấu tranh của quần chúng diễn ra ở nhiều nơi trong toàn tỉnh Hội tương tế ái hữu được xây dựng ở hầu hết các tỉnh miềm xuôi, phát triển lên huyện Thạch Thành và có nhiều hoạt động tích cực như mở lớp học chữ quốc ngữ, tổ chức cho đông đảo quần chúng, nhất là thanh niên đọc sách báo cách mạng, đấu tranh chống lại các hủ tục mê tín, dị đoan, đòi chia lại công điền, công thổ, nam nữ bình quyền… vào thời điểm này, cuộc vận động hưởng ứng Đông Dương Đại hội diễn ra
Trang 21sôi nổi, rộng rãi trong các tầng lớp nhân dân Nhiều uỷ ban hành động ở cơ sở được thành lập bao gồm đại biểu các tầng lớp, các giai cấp, trong đó công nhân và nông dân đóng nòng cốt Uỷ ban hành động đã tập hợp được hàng trăm bản kiến nghị với hàng ngàn chữ kí, điểm chỉ đòi chính phủ pháp phải thi hành cải cách ở Đông Dương, đòi quyền tự do dân chủ Cuộc đấu tranh công khai, hợp pháp của nông dân làng Phong Cốc phản đối hành động khát máu của tên thực dân Bécnaiđê bắn chết một hội viên Hội tương tế ái hữu đã giành được thắng lợi Công sứ Pháp phải nhượng bộ, bồi thường thiệt hại cho nạn nhân và trục xuất Bécnaiđê ra khỏi tỉnh.
Thắng lợi của cuộc đấu tranh này cổ vũ mạnh mẽ tình thần đấu tranh của quần chúng, mở rộng phong trào đấu tranh công khai, hợp pháp, nửa hợp pháp trong toàn tỉnh
Từ thực tế đấu tranh, Hội tương tế ái hữu đã có nhiều hình thức tổ chức mới như: Nông hội tương tế, Thanh niên tương tế, Phụ nữ tương tế, Phụ lão tương tế Các hội này tập hợp và huy động ngày càng đông đảo quần chúng vào phong trào
cách mạng Ở làng Long Linh (Thiệu Hoá), nông dân còn lập ra Hội “Kỳ Anh” để
thu hút những phụ lão có uy tín trong làng làm hậu thuẫn cho các cuộc đấu tranh hợp pháp ở nông thôn Nông dân làng Yên Lộ đã tổ chức các Hội hợp tác xã cày cấy và chăn nuôi, Hội hợp tác xã tiêu thụ hàng hoá…
Cuối năm 1937, các cuộc đấu tranh nổ ra rộng khắp trong toàn tỉnh Thanh Hoá, trở thành một cao trào cách mạng thực sự Mở đầu là cuộc mít tinh liên huyện tại làng Chiềng (làng Trịnh Xá - Yên Định) vào ngày 11/2/1938 để tuyên truyền về Mặt trận Dân chủ Đông Dương Cuộc mít tinh đã lôi kéo 3000 quần chúng thuộc các huyện Yên Định, Thiệu Hoá, Thọ Xuân, Vĩnh Lộc tham gia Cuộc mít tinh này
đã nêu cao khẩu hiệu: Ủng hộ Mặt trận Nhân dân Pháp, tự do dân chủ, tự do nghiệp đoàn, tự do lập hội, thả hết tù chính trị… cuộc mít tinh đã giành thắng lợi, cổ vũ mạnh mẽ phong trào cách mạng tiếp tục phát triển lên một bước mới
Tiêu biểu cho các cuộc đấu tranh của nông dân giai đoạn này là cuộc đấu tranh của nông dân Yên Định ngày 7/4/1938 đòi tri huyện Nguyễn Văn Tương phải trả nợ cho nông dân Tiếp đó là cuộc đấu tranh của nông dân đòi lý trưởng làng Long Linh (Thiệu Hoá) phải trả tiền công đắp đường cho dân Trước khí thế đấu tranh mạnh mẽ
Trang 22của nông dân, chính quyền phong kiến tay sai phải trả hàng nghìn đồng Đông Dương cho dân Các cuộc đấu tranh cướp ruộng đất, đòi chia lại công điền, công thổ diễn ra quyết liệt ở các huyện Vĩnh Lộc, Hoằng Hoá, Thạch Thành, Nông Cống Có những cuộc biểu tình của nông dân tập hợp tới 600 người hô vang các khẩu hiệu chống áp bức, bóc lột, chống sưu cao, thuế nặng… Trước sức mạnh của quần chúng nhân dân, chính quyền thực dân Pháp đã phải nhượng bộ một số quyền lợi cho nông dân.
Những cuộc đấu tranh của nông dân Thanh Hoá trong những năm đầu dưới sự lãnh đạo của Đảng và của tổ chức Hội Nông dân tỉnh, đã đi từ mục tiêu đòi quyền lợi
“cơm, áo” hàng ngày, đòi dân sinh dân chủ, tiến lên đấu tranh với mục tiêu chính trị là
chính, bằng nhiều hình thức phong phú, sáng tạo thu hút đông đảo nông dân và các tầng lớp khác trong xã hội Phong trào nông dân với tổ chức Nông hội ở Thanh Hoá trong giai đoạn đầu của cuộc vận động cách mạng giải phóng dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản đã chứng tỏ giai cấp nông dân vốn giàu lòng yêu nước, ý chí bất khuất chống xâm lược và cường quyền, tính thần đoàn kết tương trợ, sẵn sang đi theo Đảng cộng sản trên con đường đấu tranh giải phóng dân tộc và là đội quân chủ lực đông nhất, mạnh nhất của cách mạng Là một bộ phận trong đội ngũ cách mạng do Đảng tổ chức và lãnh đạo, những người nông dân đã nhanh chóng vượt qua sự hạn chế của mình, phát huy truyền thống yêu nước, tính tích cực cách mạng hoà nhập vào phong trào chung, góp phần tạo ra những bước ngoặt lịch sử
1.2.2 Hội Nông dân Thanh Hoá và hoạt động của Hội những năm 1939 – 1945
Năm 1939, chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, xô đẩy loài người vào thảm hoạ của cuộc tranh giành quyền lợi giữa các nước đế quốc Ở Đông Dương, thực dân Pháp đàn áp khốc liệt phong trào cách mạng, ra sức bắt người cướp của để dốc vào cuộc chiến tranh thế giới Phong trào cách mạng cả nước nói chung và tỉnh Thanh Hoá nói riêng gặp nhiều khó khăn Nhưng phong trào nông dân ở Thanh Hoá dưới sự lãnh đạo của tổ chức mình vẫn được giữ vững, tiếp tục đứng dạy tiêu diệt địch trên nhiều mặt trận với nhiều hình thức khác nhau
Hội nghị lần thứ 6 của Ban chấp hành Trung ương Đảng (11/1939) đã nhấn mạnh cách mạng giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng Việt Nam
Trang 23trong giai đoạn trước mắt Hội nghị chủ trương tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất
để đoàn kết lực lượng yêu nước, đề ra khẩu hiệu tịch thu ruộng đất của đế quốc và địa chủ phản bội quyền lợi dân tộc để chia cho dân cày, chống tô cao, chống cho vay nặng lãi Đồng thời, để tập hợp lực lượng đánh đổ chính quyền thực dân và tay sai, Hội nghị chủ trương thành lập Mặt trận Dân tộc thống nhất phản đế Đông Dương
Để phù hợp với tình hình mới đó, “Hội tương tế ái hữu” được đổi tên thành
“Hội nông dân phản đế”, nhằm tập hợp đông đảo quần chúng, đấu tranh cho nhiệm
vụ chung của cả nước là chống đế quốc và tay sai
Cuối năm 1940, phong trào phản đế cứu quốc ở Thanh Hoá phát triển mạnh, nhất là huyện Thiệu Hoá, Thọ Xuân, Yên Định Số hội viên phản đế lên tới 4000 người [41, tr.38]
Ở huyện Thọ Xuân, 83 làng trong tổng số 200 làng đã có tổ chức phản đế cứu quốc, với 1.547 hội viên Nhiều cuộc đấu tranh của quần chúng liên tiếp nổ
ra mà lực lượng đông đảo là nông dân đòi chia lại công điền, công thổ, xoá bỏ
lao dịch, phản đối “lạc quyên”, quốc trái, vạch trần bộ mặt của bọn hào lý tham
nhũng, sách nhiễu nhân dân Nhiều làng đã tổ chức ra các hội phản đế cứu quốc
và có nhiều hình thức gây quỹ để mua sắm vũ khí Làng Phúc Trình (huyện Yên Định) đã giành 2 mẫu ruộng công điền cho tự vệ cày cấy để gây quỹ mua sắm vũ khí [41, tr.38 – 39]
Thực hiện chủ trương của Tỉnh uỷ trong tình hình mới, giai cấp nông dân đã tham gia tích cực vào công cuộc xây dựng các căn cứ địa cách mạng, mở rộng phong trào cách mạng lên các huyện miền núi, tạo ra một địa bàn hoạt động cách mạng rộng lớn và lập ra các tiểu tổ du kích, tự vệ chiến đấu, song song với việc tích cực xây dựng lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang địa phương Vào thời điểm này, phong trào đấu tranh chống thuế mới của địch diễn ra dưới nhiều hình thức phong phú như đưa đơn kiến nghị nhà cầm quyền đòi hoãn và giảm thuế… ở một số nơi nông dân đã vận động cả lý trưởng ký tên đóng dấu vào đơn Nông dân ở một số làng như Phong Cốc, Xá Lê, Long Linh…kiên quyết không nộp thuế cho giặc
Trang 24Hội viên Hội phản đế cứu quốc ngày càng phát triển cả về số lượng và chất lượng, chỉ tính riêng huyện Thọ Xuân đã có 1.547 hội viên.
Trước sự chuyển biến của tình hình thế giới và trong nước, Hội nghị Trung ương lần thứ 8 của Đảng (họp từ ngày 10 đến ngày 19/5/1941) tại Pác Bó (Cao Bằng) do Hồ Chí Minh chủ trì đã quyết định dương cao hơn nữa ngọn cờ đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết hết thảy mọi lực lượng yêu nước để đánh Pháp – Nhật cứu nước Đồng thời, quyết định thành lập Mặt trận Việt Minh đoàn kết rộng rãi mọi thành phần dân tộc cứu nước, thành lập các đoàn thể cứu quốc của quần chúng như: Nông dân cứu quốc, Công nhân cứu quốc, Thanh niên cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc Hội nghị Trung ương 8, đã hoàn thành chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng của Đảng, góp phần quan trọng vào thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám (1945)
Hội nghị Tỉnh uỷ mở rộng tháng 6 năm 1941 đã quyết định đẩy mạnh công tác xây dựng lực lượng vũ trang, mở rộng và củng cố các căn cứ địa cách mạng, dấy lên cao trào cách mạng trong toàn tỉnh Chiến khu Ngọc Trạo thuộc huyện Thạch Thành được xây dựng trong thời gian này Nhân dân Ngọc Trạo cũng như nhân dân các địa phương khác trong toàn tỉnh đã gửi lương thực, thuộc men tiếp tế cho chiến khu
Đầu tháng 6/1941, Tỉnh uỷ triệu tập Đại hội đại biểu Mặt trận phản đế cứu quốc Chương trình Đại hội đề ra như sau: Đánh đổ đế quốc Pháp, Nhật và tay sai, giành độc lập, tự do cho Tổ quốc, thành lập chính quyền cách mạng nhân dân; Nam
nữ bình quyền; phổ thông đầu phiếu; tịch thu ruộng đất của thực dân, địa chủ Việt gian chia cho dân cày nghèo; thủ tiêu các thứ thuế vô lý; trợ cấp cho dân nghèo, người già và trẻ em; cưỡng bức giáo dục phổ thông; tự do ngôn luận, hội họp, đi lại Chương trình do Mặt trận đề ra đã có tác dụng thiết thực thúc đẩy phong trào cách mạng phát triển
Tháng 7/1942, Hội nghị đại biểu các cơ sở Đảng đã chủ trương thành lập Thanh Hoá ái quốc hội để tập hợp đoàn kết các tầng lớp yêu nước vào mặt trận cứu quốc giải phóng dân tộc Cuối năm 1942, Thanh Hoá ái quốc đã đổi thành Mặt trận Việt Minh Thanh Hoá, hoà nhập vào phong trào chung của cả nước
Trang 25Để đáp ứng yêu cầu chi dùng của cuộc chiến tranh Thái Bình Dương, phát xít Nhật, Pháp ra sức bóc lột nhân dân cả nước nói chung và nhân dân Thanh Hoá nói riêng Chính sách vơ vét, bóc lột, đàn áp của phát xít Nhật, Pháp đã làm cho đời sống của nhân dân Thanh Hoá nói riêng và đời sống của nhân dân cả nước nói chung vô cùng cực khổ, ý chí cách mạng của nông dân càng thêm nung nấu Phong trào đuổi giặc, cứu nước diễn ra sôi nổi từ các huyện đồng bằng đến các huyện miền núi Mặt trận Việt Minh và các đoàn thể cứu quốc ở các phủ, huyện, thị xã phát triển mạnh và sâu rộng trong tất cả các tầng lớp nhân dân Tỉnh uỷ lâm thời và Tỉnh bộ Việt Minh đã kịp thời đề ra những chủ trương chỉ đạo phong trào đấu tranh của
quần chúng như “chống thu lúa”, “chống bắt phu”, “chống nhổ lúa trồng đay”,
“chống chiến tranh phát xít”… Vào thời điểm này, đông đảo nhân dân tham gia
cuộc mít tinh, biểu tình chống sưu cao, thuế nặng, chống bắt phu, bắt lính, chống nhổ lúa trồng đay… Một trong những cuộc đấu tranh có tiếng vang lớn là cuộc đấu tranh của 2000 đồng bào huyện Hoàng Hoá tháng 11/1943 Sau đó là cuộc biểu tình chống thuế ở các huyện Thiệu Hoá, Thọ Xuân, Yên Định, Hậu Lộc, các cuộc đấu tranh của hàng ngàn nông dân các làng Thổ Phụ, Bình Ngô, Yên Lộ chống Nhật cướp đất trồng đay Những cuộc đấu tranh do Việt Minh tổ chức và lãnh đạo, đã lôi kéo cả một số chánh tổng, lý trưởng tham gia Trước sức mạnh của quần chúng, kẻ thù đã phải nhượng bộ và thực hiện một số yêu cầu của nông dân Kết quả đó đã tạo nên khí thế mới, đưa phong trào tiếp tục tiến lên
Phong trào phá kho thóc của giặc Nhật và bọn địa chủ cường hào gian ác chia cho dân nghèo được nông dân và quần chúng nhân dân hưởng ứng đông đảo Nhân dân
đã phá kho thóc ở trại Xếp Nghĩa (Thiệu Hoá), ở ấp Cần Xá (Nông Cống) của Nguyễn Hữu Ngọc, ở ba tổng Bút Sơn, Hành Vĩ, Bái Trạch của Lý Phết, Lý Tư và Cai Nguyên Những cuộc đấu tranh chống đói đã giành được thắng lợi, vừa giải quyết được một phần nạn đói, vừa phát động và tổ chức được đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia phong trào cách mạng và thực sự đã trở thành một cuộc vận động chính trị rộng lớn
Sau ngày Nhật đảo chính Pháp, độc chiếm Đông Dương (9/3/1945), Việt Minh ngày càng ảnh hưởng sâu rộng trong nông dân và quần chúng nhân dân,
Trang 26hướng dẫn và lãnh đạo quần chúng nhân dân xây dựng chiến khu, vũ trang toàn dân tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền.
Trong không khí sục sôi khởi nghĩa của cả nước, đêm 18 rạng ngày 19/8/1945, Uỷ ban khởi nghĩa tỉnh đã phát động lênh khởi nghĩa trong toàn tỉnh Lực lượng khởi nghĩa ở các huyện Yên Đinh, Vĩnh Lộc,Thạch Thành, Quảng Xương, Hậu Lộc, Hà Trung, Nga Sơn, Đông Sơn đã nhất tề nổi dạy giành chính quyền Nhân dân đã giành được chính quyền từ tay địch Trước sức mạnh của nông dân và mọi tầng lớp nhân dân, chính quyền tay sai bù nhìn từ phủ, huyện, tổng đến các làng xã đều phải đầu hàng, trao chính quyền cho nhân dân Sau đó, chính quyền
ở các huyện Thiệu Hoá, Thọ Xuân, Cẩm Thuỷ, Tĩnh Gia, Nông Cống, thị xã đều về tay nhân dân Đến ngày 21/8/1945, thị xã và các huyện đồng bằng (trừ phủ lỵ Đông Sơn) và hai huyện miền núi Thạch Thành, Cẩm Thuỷ đã được hoàn toàn giải phóng khỏi ách thống trị của Nhật và bè lũ tay sai, thành lập chính quyền dân chủ nhân dân Ngày 23/8/1945, Uỷ ban nhân dân cách mạng tỉnh đã ra mắt trước hàng vạn nhân dân lao động trong không khí của một ngày hội lớn, ngày hội của những người chiến thắng
Cuộc tổng khởi nghĩa Tháng 8/1945 ở Thanh Hoá giành được thắng lợi là kết quả của cả một quá trình vận động cách mạng do Đảng lãnh đạo Trong sự nghiệp cách mạng vĩ đại đó Nông hội đỏ và các hình thức tổ chức phát triển về sau của nó
đã góp phần quan trong vào việc động viên, tổ chức nông dân tham gia quân đội chính trị và quân đội vũ trang cách mạng đánh đổ chính quyền thực dân, phong kiến giành chính quyền về tay nhân dân là một trong những lực lượng cơ bản của cách mạng, giai cấp nông dân ở Thanh Hoá đã cùng với giai cấp công nhân và các tầng lớp nhân dân làm nên một lịch sử vĩ đại, đánh dấu bước tiến mới trong lịch sử phát triển của tỉnh nhà; Đồng thời, thắng lợi của cách mạng tháng Tám đã khẳng định vai trò to lớn của giai cấp nông dân trong tiến trính phát triển lịch sử và không thể thiếu vắng, trong mỗi thắng lợi của sự nghiệp cách mạng do Đảng cộng sản Việt Nam – đội tiên phong của giai cấp công nhân lãnh đạo
Trang 271.2.3 Hội Nông dân Thanh Hoá và hoạt động của Hội những năm 1945 – 1954
Cách mạng tháng Támthành công, đất nước chưa kịp hưởng niềm vui độc lập, lại phải bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược
với âm mưu muốn cướp nước ta một lần nữa Thực hiện lời kêu gọi “Kháng chiến
kiến quốc” của Chủ Tịch Hồ Chí Minh, nông dân tỉnh Thanh Hoá tiếp tục tham gia
đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng, xây dựng hậu phương, tiến hành kháng chiến và làm nghĩa vụ quốc tế (1945 – 1954)
Trải qua quá trình xây dựng, đấu tranh Nông hội cứu quốc, Thanh Hoá đã có 42.478 hội viên, là một lực lượng quan trọng trong giai đoạn mới của cách mạng Thực
hiện lời kêu gọi “Toàn quốc kháng chiến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Thà hi sinh tất
cả, chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”, Đảng bộ và nông dân,
nhân dân các dân tộc Thanh Hoá nhất tề đứng dạy cùng nhân dân cả nước tiến hành cuộc chiến tranh cách mạng, bảo vệ thành quả Cách mạng tháng Tám
Ngay sau khi bước vào kháng chiến, Đảng bộ và nhân dân Thanh Hoá rất vinh dự được Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm Người đã giao nhiệm vụ cho Đảng
bộ và nhân dân trong tỉnh xây dựng Thanh Hoá thành tỉnh kiểu mẫu, hậu phương
của cuộc kháng chiến “Phải làm sao cho mỗi mặt chính trị, kinh tế, quân sự phải
là kiểu mẫu Làm một người kiểu mẫu, một làng kiểu mẫu” [41, tr.52].
Thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng bộ lãnh đạo Nông hội cứu quốc tỉnh Thanh Hoá đã tổ chức, vận động nông dân, nhân dân các dân tộc
trong tỉnh đẩy mạnh thực hiện nhiệm vụ “kháng chiến, kiến quốc” Trên mặt trận
lao động sản xuất, đặc biệt là mặt trận nông nghiệp đã đạt được những thành tựu to lớn Năm 1947, Thanh Hoá sản xuất 26 vạn tấn thóc, 7.800 tấn ngô, 48.000 tấn khoai lang, 547 tấn bông Nhân dân trong tỉnh đã tự túc được lương thực Diện tích trồng cấy cũng ngày càng được mở rộng: Năm 1949, diện tích trồng lúa tăng them 10.000 mẫu, bông tăng them 6.149 mẫu, ngô tăng them 3.494 mẫu, khoai tăng thêm 9.428 mẫu, lạc tăng thêm 383 mẫu… cùng với đó là việc áp dụng các biện pháp kĩ thuật vào sản xuất nông nghiệp nên đã mang lại hiệu quả cao [41, tr 54]
Trang 28Trong ba năm (1948 – 1950), 8 vạn thanh niên nông dân Thanh Hoá đã gia nhập bộ đội chủ lực, góp phần đáng kể vào việc xây dựng lực lượng vũ trang toàn quốc Vừa chiến đấu, phục vụ chiến đấu, vừa xây dựng hậu phương về mọi mặt, nông dân các dân tộc trong tỉnh còn góp phần giúp đỡ cách mạng Lào xây dựng căn cứ kháng chiến Nhường cơm, xẻ áo giúp đỡ nhân dân các vùng bị địch tạm chiếm tản cư đến, Nhường nơi ở, ruộng đất, nông cụ, tạo mọi điều kiện thuận lợi để đồng bào tản cư sớm ổn định cuộc sống, góp phần tham gia vào công cuộc kháng chiến.
Đầu năm 1951, tỉnh đã huy động 24 vạn dân công vận chuyển 5.000 tấn lương thực phục vụ chiến dịch Trung Du, 8,5 vạn dân công phục vụ chiến dịch Quang Trung Cuối năm 1951 có 30 vạn dân công phục vụ chiến dịch Hoà Bình
Cùng với nhân dân cả nước, con em nông dân Thanh Hoá lên đường tòng quân giết giặc, đã đóng góp sức người, sức của phục vụ cho tiền tuyến, góp phần
làm nên chiến thắng lịch sử Điện Biên phủ “Lừng lẫy năm châu chấn động địa
cầu”, kết thúc gần một thế kỷ xâm lược cướp bóc của thực dân Pháp đối với nước
ta Riêng chiến dịch Điện Biên Phủ, hình ảnh 12 vạn nông dân Thanh Hóa đã tham gia vận chuyển trên 50% số lương thực, thực phẩm phục vụ cả chiến dịch trên những tuyến đường Tây Bắc hiểm trở thật cao đẹp Để khi kết thúc cuộc kháng
chiến chống Pháp, Bác Hồ đã khen ngợi đồng bào các dân tộc Thanh Hoá "Bây giờ
tiếng Việt Nam đến đâu, tiếng Điện Biên Phủ tới đó Tiếng Điện Biên Phủ tới đâu, đồng bào Thanh Hoá cũng có một phần vinh dự đến đó".
Trên chặng đường 9 năm của cuộc trường kì kháng chiến, những người nông dân Thanh Hoá – Đội quân đông đúc, chủ lực của cuộc kháng chiến đã cung cấp sức người, sức của cho hầu hết các chiến trường, góp phần to lớn vào thắng lợi của cuộc chiến tranh cách mạng Được rèn luyện trong thực tế đấu tranh cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng, Hội Nông dân Cứu quốc, nông dân Thanh Hoá – một bộ phận của giai cấp nông dân Việt Nam đã trưởng thành về ý thức cách mạng và ý chí đấu tranh, về tinh thần quốc tế trong sáng, về tổ chức, về tinh thần đoàn kết thống nhất ý chí và hành động với các tầng lớp trong xã hội vì thắng lợi của sự nghiệp đấu tranh
Trang 29chống thực dâ n Pháp, giành lại quyền độc lập, thống nhất của Tổ quốc Đó là vốn quý báu để tỉnh Thanh Hoá vững vàng bước vào giai đoạn cách mạng mới.
1.2.4 Hội Nông dân Thanh Hoá và hoạt động của Hội những năm 1954 – 1975
Thắng lợi vẻ vang của 9 năm kháng chiến chống bọn thực dân Pháp xâm lược, bọn can thiệp Mỹ và bè lũ tay sai bán nước đưa nước ta sang một giai đoạn cách mạng mới Miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, từng bước đi lên chủ nghĩa
xã hội, làm cơ sở vững chắc cho sự nghiệp đấu tranh thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ Đảng Lao động Việt Nam tỉnh Thanh Hoá, nông dân và Nông hội Thanh Hoá – lực lượng đông đảo nhất trong tỉnh, cùng giai cấp công nhân và các tầng lớp nhân dân khác quyết tâm xây dựng Thanh
Hoá thành “một tỉnh giàu đẹp và kiểu mẫu” theo lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí
Minh, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng chung của dân tộc
Trong những năm 1954 – 1957, sự kiện lịch sử nổi bật nhất của Thanh Hoá
là cải cách ruộng đất, hoàn thành nốt nhiệm vụ của cách mạng dân tộc dân chủ nhân
dân Trong cuộc cách mạng “long trời lở đất” này, nông dân Thanh Hoá xứng đáng
là lực lượng hùng hậu nhất trong các đợt vận động giảm tô và cải cách ruộng đất Nông hội ở các xã đóng vai trò nòng cốt trong các công việc tố cáo và vạch thành phần của giai cấp địa chủ, đánh đỏ bọn địa chủ cường hào gian ác, tịch thu, trưng thu và trưng mua ruộng đất và tài sản của địa chủ chia cho nông dân và dân nghèo ở nông thôn, giữ vững trật tự trị an trong xóm làng
Cuộc phát động quần chúng thực hiện cải cách ruộng đất ở miền biển, miền đồng bằng và miền trung du trong tỉnh tiến hành qua 5 đợt Sau nhiều năm đấu tranh lâu dài, giành thắng lợi từng bước và nhất là sau ba năm (1954 – 1956) phát động quần chúng thực hiện cải cách ruộng đất dưới sự lãnh đạo của Đảng, giai cấp nông dân Thanh Hoá đã thu được thắng lợi Ruộng đất đã về tay nông dân, ước mơ
hàng ngàn đời của người nông dân đã trở thành hiện thực, khẩu hiệu “người cày có
ruộng” do Đảng đề ra trong cương lĩnh chính trị năm 1930, đã được thực hiện Giai
cấp địa chủ bị đánh đổ hoàn toàn và bị xoá bỏ về mặt giai cấp Chế độ bóc lột
Trang 30phong kiến vĩnh viễn bị xoá bỏ ở nông thôn Thanh Hoá, lần đầu tiên người nông dân được làm chủ ruộng đồng, thôn xóm Đó thực sự là một cuộc đổi đời của họ.
Song song với việc cải cách ruộng đất, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nông hội
từ khi hoà bình lập lại, ở khắp tỉnh diễn ra phong trào cứu đói và phòng đói gắn liền với phong trào khôi phục và đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp Nông dân toàn tỉnh sôi nổi
thi đua với khẩu hiệu “không để một người chết đói, cấy hết diện tích vụ chiêm”, với tinh thần “cứu đói như cứu lửa” nông dân đã phát huy truyền thống “lá lành đùm là
rách”, cưu mang nhau qua cơn đói Chỉ trong tháng 1 năm 1955, nông dân giúp nhau
dưới hình thức hoặc cho không, hoặc cho mượn 41.490kg thóc, 540kg gạo, 29.180.000 đồng Tháng 4/1955, nông dân giúp nhau 62.000 công người, 51.100 công trâu bò, 530 tấn gạo và 77 tấn thóc giống Nông dân khắp nơi đẩy mạnh vỡ hoang, gieo trồng thêm diện tích, trồng nhiều rau màu Đến cuối tháng 11/1954, bà con đã trồng hơn 14.250 mẫu khoai lang, 7.160 mẫu ngô, 420 mẫu sắn [41, tr.72]
Thắng lợi của phong trào nông dân thi đua đẩy mạnh sản xuất để chống đói
và phòng đói, phục hồi sản xuất nông nghiệp trong những năm 1955 – 1957, đã xoá
bỏ về căn bản nạn đói, góp phần ổn định tình hình chính trị trong tỉnh, phát triển một bước đời sống văn hoá ở nông thôn
Trong những năm 1954 – 1956, những năm Đảng và Nhà nước ta tiến hành phát động quần chúng giảm tô và cải cách ruộng đất trên địa bàn Thanh Hoá, là những năm Nông hội ở Thanh Hoá phát triển mạnh nhất về số lượng hội viên Xã nào cũng có Nông hội với đội ngũ hội viên chiếm tỉ lệ 30% dân số Toàn tỉnh có tới hàng chục vận hội viên Nông hội xã với đa số thành viên Ban chấp hành của nó là bần cố nông, trở thành chỗ dựa chủ chốt của các đội công tác phát động quần chúng giảm tô và cải cách ruộng đất Vai trò của Nông hội thậm chí còn lấn át cả tổ chức Đảng và chính quyền ở
cơ sở trong cuộc đấu tranh chống giai cấp địa chủ Song do bị tư tưởng “tả khuynh”
chi phối, cho nên Nông hội lúc này chưa tượng trưng cho khối đoàn kết của toàn thể nông dân lao động và gây nên những bất bình của một bộ phận nông dân
Trong khi đó, Ban chấp hành Nông hội ở các tỉnh và huyện lại quá yếu kém Từ năm 1953, Nông hội tỉnh Thanh Hoá không có Bí thư Bí thư Nông hội
Trang 31tỉnh đã bị nông dân gọi về đấu tố và vạch thành phần là địa chủ gian ác Giữa năm 1953, Tỉnh uỷ phân công một đồng chí tỉnh uỷ viên phụ trách công việc Bí thư Nông hội, ít lâu sau thay bằng một đồng chí uỷ viên Ban thường vụ tỉnh uỷ, song đồng chí này thật sự không đảm đương trách nhiệm, mà chỉ có đôi ba lần đọc diễn văn ở các hội nghị.
Vì vậy, cấp tỉnh và cấp huyện hầu như không chỉ đạo cơ sở, nhất là về sản xuất nông nghiệp Đây là một trong những nguyên nhân gây nên tình trạng đói kém
ở Thanh Hoá trong những năm 1954 – 1955
Giữa năm 1956, khi Đảng phát hiện sai lầm của cải cách ruộng đất thì Nông hội ở cơ sở lâm vào tình trạng mất đoàn kết nghiêm trọng Vai trò Nông hội ở nông thôn giảm rõ rệt, có nơi Nông hội không còn hoạt động nữa Nông hội không còn là một tổ chức chính trị tập hợp được đông đảo nông dân Hội viên phần lớn lặng lẽ rút ra khỏi Nông hội Các cuộc họp toàn dân trong xóm bàn việc làng xóm, việc nước thay thế các cuộc họp tổ Nông hội Ở những xã có hợp tác xã nông nghiệp thì các đội sản xuất trở thành nơi bàn và giải quyết mọi công việc làm ăn và nghĩa vụ, quyền lợi công dân của nông dân xã viên
Vào đầu những năm 60 của thế kỉ XX, khi phong trào hợp tác hoá nông nghiệp phát triển sâu rộng trên toàn miền Bắc, hợp tác xã nông nghiệp được xem như 1 tổ chức chính trị, xã hội Hợp tác xã không chỉ chỉ huy, phụ trách sản xuất mà còn phụ trách cả mọi hoạt động sinh hoạt khác của xã viên hợp tác xã Điều này đã dẫn tới bệnh quan liêu của một số cán bộ lãnh đạo hợp tác xã; xem nhẹ quyền lợi của nông dân Ngay sau đó Nông hội, một tổ chức chính trị xã hội của giai cấp nông dân đã bị giải thể Thay vào đó là Ban Công tác nông thôn, rồi Ban Quản lí hợp tác
xã nông nghiệp, Ban Nông nghiệp….Các Ban này dù là một Ban của Đảng cũng không thể làm công việc như một đoàn thể của nông dân Chính từ đó trong nhiều năm liền giai cấp nông dân ở miền Bắc nước ta không có hội đoàn của mình
Nhằm khắc phục tình trạng trên, đến năm 1974, Đảng chủ trương thành lập Hội liên hiệp Nông dân tập thể, nhưng tổ chức này mới có ở cấp xã và hợp tác xã Hội liên hiệp Nông dân tập thể Việt Nam được thành lập có ý nghĩa chính trị to lớn
Trang 32Sau nhiều năm không có tổ chức Hội (ở miền Bắc), nay giai cấp nông dân cả nước
có tổ chức thống nhất từ Trung ương đến cơ sở Hội liên hiệp Nông dân tập thể Việt Nam là tổ chức quần chúng rộng rãi của nông dân lao động trong cả nước, Hội có nhiệm vụ tập hợp, đoàn kết nông dân để giáo dục, vận động nông dân thực hiện các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước ta, hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp ở miền Nam, đưa nông thôn nước ta tiến lên chủ nghĩa xã hội
Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, hoạt động của Hội liên hiệp Nông dân tập thể Việt Nam tỉnh Thanh Hoá đóng vai trò to lớn trong việc tổ chức nông dân xây dựng và bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước Hình ảnh người nông dân Thanh Hoá tay cày, tay súng đã cùng với quân dân trong tỉnh và các đơn vị bộ đội đóng trên địa bàn tổ chức chiến đấu, phục
vụ chiến đấu, giữ vững các nhịp cầu Hàm Rồng, đập tan chính sách leo thang của đế quốc Mỹ hòng cắt đứt huyết mạch giao thông quan trọng, ngăn chặn sự chi viện của hậu phương Miền Bắc cho chiến trường Miền Nam, hàng vạn nông dân tham gia bảo đảm giao thông thông suốt; chi viện hàng triệu tấn lương thực, thực phẩm tới đồng bào miền Nam ruột thịt và nuôi dưỡng hàng ngàn con em đồng bào Vĩnh Linh
- Quảng Bình đến địa phương sơ tán
1.2.5 Hội Nông dân Thanh Hoá và hoạt động của Hội những năm 1975 – 1986
Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 - 1975) thắng lợi đã thống nhất đất nước, mở ra một thời kỳ mới cho cách mạng Việt Nam thời kỳ đất nước thống nhất và tiến lên chủ nghĩa xã hội
Để đáp ứng yêu cầu của thời kỳ cách mạng mới, Nghị quyết hội nghị lần thứ
24 của Ban chấp hành Trung ương đã kịp thời đề ra nhiệm vụ chiến lược cho cách mạng cả nước là: thống nhất nước nhà, đưa cả nước tiến nhanh,tiến mạnh, tiến vững chắc lên Chủ nghĩa xã hội và hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa
Thực hiện chỉ thị số 209 của Ban bí thư Trung ương Đảng, xuất phát từ yêu cầu của phong trào nông dân trong giai đoạn mới, Tỉnh ủy chủ trương triệu tập Đại hội đại biểu nông dân lần thứ II toàn tỉnh nhằm đánh giá sự trưởng thành của giai cấp nông
Trang 33dân trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ và xây dựng Chủ nghĩa xã hội, chỉ ra ưu điểm, nhược điểm của giai cấp nông nhân và Hội nông dân tập thể Trên cơ sở đó, động viên và tổ chức nông dân lao động sản xuất hoàn thiện mọi nhiệm vụ kinh tế- xã hội của tỉnh; Xác định phương hướng, nhiệm vụ của phong trào nông dân và tổ chức Hội nông dân tập thể trong giai đoạn mới của cách mạng Đại hội đại biểu nông dân tập thể tỉnh Thanh Hóa lần thứ II kết thúc thắng lợi đã đánh dấu một giai đoạn phát triển mới của phong trào nông dân và Hội Nông dân tỉnh Thanh Hóa.
Đại hội Đảng bộ lần thứ IX (vòng 2) tháng 5 năm 1977 thành công tốt đẹp Phong trào của giai cấp công dân và nông dân tập thể tỉnh Thanh Hóa sôi động và đi vào chiều sâu Đại hội đã đề ra phương hướng và nhiệm vụ của sản xuất nông nghiệp tỉnh Thanh Hóa là tiếp tục tổ chức lại nền kinh tế từng vùng, từng ngành từ
cơ sở đến huyện, tỉnh…nhằm tổ chức, sử dụng và phát huy mọi tiềm năng đất đai, tài nguyên, thiết bị và lao động; Mở rộng và đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, lấy nông nghiệp làm trọng tâm
Thực hiện Nghị quyết của Đại hội Đảng bộ tỉnh lấn thứ IX, giai cấp nông dân tỉnh ta tiếp tục tham gia nhiều phong trào thi đua sôi nổi và rộng khắp, trong đó sôi nổi nhất vẫn là phong trào thi đua trên mặt trận thủy lợi, phong trào đồng khởi khai hoang mở rộng diện tích, phong trào phát triển trồng cây lương thực và hoa
màu, phong trào “Định công hóa” các hợp tác xã nông nghiệp.
Kết quả nhiều công trình thủy lợi được xây dựng và đi vào hoạt động như công trình sông Lý, công trình ở Lạch Bạch (Tĩnh Gia), công trình sông Mực…Phong trào
“Đồng khởi khai hoang” cũng đạt được kết quả cao, chỉ riêng năm 1977 đã khai thác
được 7.434 ha ruộng đất, đưa hơn 1.000 ha vào sản xuất vụ đông…
Từ ngày 22 đến 23 tháng 11 năm 1977, Hội đồng nông dân tập thể tỉnh đã họp
bất thường để quán triệt Nghị quyết của thường vụ Tỉnh ủy về chương trình “Định
công hóa” các hợp tác xã nông nghiệp trong tỉnh, Hội đồng đã kịp ra Nghị quyết phát
động phong trào thi đua “Học tập, đuổi kịp và vượt hợp tác xã Định Công” Thực
hiện Nghị quyết của hội đồng nhân dân tỉnh, giai cấp nông dân tỉnh Thanh Hóa đã
hăng hái tham gia phong trào “Định công hóa” các hợp tác xã nông nghiệp trong
tỉnh, làm thủy lợi, khai hoang, mở rộng diện tích…phong trào khai hoang, phục hóa,
Trang 34mở rộng diện tích được tiến hành khẩn trương với tốc độ nhanh Do đó, năm 1978, diện tích khai hoang đạt 28.926 ha, trong đó đã đưa 25.572 ha vào sản xuất Nhiều hợp tác xã được xây dựng, không ngừng áp dụng khoa học – kỹ thuật Tiêu biểu là các hợp tác xã Định Công (Thiệu Yên), Đông Hòa (Đông Sơn), Phú Lộc (Hậu Lộc),
Hà Châu (Hà Trung), Tiến Nông (Triệu Sơn), Hoằng Hợp (Hoằng Hóa)… Toàn tỉnh
đã đào đắp được 7,6 triệu m3 đất với 12 triệu ngày công…Nhờ đó, đời sống vật chất, tinh thần của nông dân từng bước được cải thiện
Trong những năm 1980 – 1981, sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn do thiên tai nặng nề Nhưng tháng 10 năm 1980 khi có hướng dẫn của Trung ương Đảng, Tỉnh ủy đã chính thức có chủ trương điều chỉnh hợp tác xã, đội sản xuất và tiến hành khoán sản phẩm cuối cùng đối với cây lúa Chính nhờ những chính sách khuyến khích sản xuất trên mà nông nghiệp năm 1981 đã giành được những thắng lợi quan trọng, sản lượng lương thực tăng 9%, chăn nuôi phát triển nhanh hơn trước Việc thực hiện Chỉ thị 100 của Ban bí thư về khoán sản phẩm trong nông nghiệp đến nhóm và người lao động đã thúc đẩy sản xuất phát triển 100% tổng số hợp tác xã thực hiện khoán màu và cây công nghiệp, 95% tổng số hợp tác xã miền xuôi và 15% tổng số hợp tác xã miền núi khoán vụ lúa chiêm xuân; 100% tổng số hợp tác xã miền xuôi và 75% tổng số hợp tác xã miền núi khoán vụ lúa mùa…Thắng lợi của nông nghiệp năm 1981 là do các cấp ủy Đảng và các cấp Chính quyền tổ chức, động viên hàng chục vạn nông dân tham gia các phong trào thi đua lao động sản xuất, nhưng quan trọng nhất là do sự tổ chức, động viên kịp thời của Hội nông dân tập thể để nông dân tích cực tham gia lao động sản xuất
Cùng với sự phát triển của phong trào nông dân, tổ chức Hội liên hiệp Nông dân tập thể tỉnh Thanh Hóa đã có những cố gắng trong việc củng cố tổ chức Hội và kịp thời đề ra những nội dung, hình thức hoạt động thiết thực, đóng góp phần quan trọng vào phong trào chung của tỉnh, vào việc củng cố và hoàn thiện quan hệ sản xuất mới, xây dựng nông thôn mới và người nông dân mới xã hội chủ nghĩa Tổ chức Hội cơ sở đã thông qua hoạt động của hợp tác xã nông nghiệp mà giáo dục hội viên nông dân nâng cao tri thức về xã hội chủ nghĩa, nâng cao nhận thức về đường
Trang 35lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; Động viên nông dân tham gia thi đua lao động sản xuất trên các mặt trận thủy lợi, khai hoang, xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật, vận động nông dân thực hiện các biện pháp kỹ thuật tiên tiến trong sản xuất nông nghiệp ở một số nơi Hội đã hướng dẫn cho nông dân phát triển kinh
tế gia đình đúng hướng, phát huy tinh thần đoàn kết, thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau trong sản xuất và đời sống Một số tổ chức Hội ở cơ sở của các huyện Đông Sơn, Hoằng Hóa, Nga Sơn, Cẩm Thủy…đã có hình thức hoạt động gây quỹ Hội để chi phí cho hoạt động của Hội và chăm lo đời sống cho hội viên Đặc biệt trong cơ chế khoán mới, Hội đã vận động và hướng dẫn nông dân tham gia nhận khoán, tổ chức thi đua vượt mức khoán…
Công tác xây dựng, củng cố tổ chức Hội tuy gặp nhiều khó khăn, song đã có những cố gắng nhất định Thực hiện các Chỉ thị 78 và 116, Thông tư 22 của Ban bí thư Trung ương Đảng, Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng bộ Tỉnh, Chỉ thị số
04 của Ban thường vụ Tỉnh ủy Đặc biệt là Nghị quyết số 58 ngày 15 tháng 6 năm
1983 của Tỉnh ủy về việc tách cơ quan thường trực Hội liên hiệp Nông dân tập thể khỏi Ban nông nghiệp Tỉnh ủy thành một tổ chức quần chúng, có bộ máy riêng, có
hệ thống tổ chức từ tỉnh đến cơ sở Đội ngũ cán bộ Hội từng bước được tăng cường,
tổ chức các cấp của Hội nhanh chóng được hình thành Lề lối làm việc và chương trình hoạt động của mỗi cấp dần được xác định và thực hiện thường xuyên Do đó đến cuối năm 1983, toàn tỉnh đã thu hút được 960.000 hội viên, kiện toàn 824 chi Hội với hàng ngàn cán bộ Hội Toàn bộ số huyện, thị xã trong tỉnh đã mở Đại hội Ban chấp hành Hội Ban chấp hành Hội liên hiệp Nông dân tập thể cũng được tăng cường nhằm đáp ứng yêu cầu của công tác Hội và phong trào nông dân trong tỉnh
Tuy nhiên, hoạt động của Hội và phong trào nông dân còn ít nhiều thiếu sót
và hạn chế: phong trào thi đua hành động cách mạng trong hội viên và nông dân phát triển chậm, chưa phát huy hết tiềm năng của nông dân Hội liên hiệp Nông dân tập thể chưa phát huy hết tiềm năng của tổ chức Hội, chưa nhận thức đầy đủ ý nghĩa
to lớn và tầm quan trọng của công tác vận động nông dân, hướng dẫn nông dân tham gia các phong trào cách mạng trong tỉnh Tổ chức Hội chưa được củng cố ở
Trang 36một số nơi, tổ chức Hội mang tính hình thức, hoạt động của Hội còn lúng túng Cán
bộ Hội phần lớn là kiêm nghiệm, chưa được đào tạo…Còn có những thiếu sót trên đây là do tổ chức Hội không ổn định, vị trí, chức năng, nhiệm vụ của Hội chưa được xác định rõ Các cấp bộ Đảng không quan tâm đúng mức đến tổ chức Hội Bản thân nông dân vẫn chưa nhận thức được lợi ích và trách nhiệm tham gia tổ chức Hội
Để khắc phục những thiếu sót, hạn chế nói trên và để xác định rõ phương hướng, nhiệm vụ, chương trình hoạt động của phong trào nông dân và Hội liên hiệp Nông dân tập thể tỉnh, Hội liên hiệp Nông dân tập thể tỉnh Thanh Hóa đã tổ chức Đại hội đại biểu toàn tỉnh lần thứ II Đại hội họp trong 02 ngày (16 và 17 tháng 12 năm 1983) gồm 318 đại biểu, thay mặt cho 96 vạn hội viên trong toàn tỉnh
Đại hội lần này đã đánh giá những thành tựu, đồng thời kiểm điểm những hạn chế, thiếu sót của phong trào nông dân và hoạt động của tổ chức Hội liên hiệp Nông dân tập thể các cấp từ tỉnh đến cơ sở, những nguyên nhân khách quan, chủ quan của những ưu điểm và khuyến điểm nói trên Đại hội phản ánh nguyện vọng của giai cấp nông dân và kiến nghị với Đảng và Nhà nước, với Tỉnh ủy và Chính quyền tỉnh nhiều vấn đề lớn của phong trào nông dân và tổ chức Hội nông dân
Đại hội giành nhiều thời gian để thảo luận phương hướng, chương trình hoạt động của Hội liên hiệp Nông dân tập thể là:
1. Tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng cho nông dân, tạo nên sự thống nhất
tư tưởng và hành động cách mạng Nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của Hội là tăng cường và thường xuyên giáo dục cho hội viên nâng cao giác ngộ xã hội chủ nghĩa cho nông dân
2. Đẩy mạnh phong trào thi đua xã hội chủ nghĩa, thực hiện thắng lợi những nhiệm vụ và mục tiêu chủ yếu về kinh tế - xã hội của tỉnh mà Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XI đã đề ra Hội phải phát động được phong trào cách mạng của nông dân, khai thác mọi tiềm năng đất đai, sức lao động trên mặt trận nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu
3. Hướng dẫn nông dân phát triển kinh tế gia đình đúng hướng, chăm lo phúc lợi tập thể, góp phần nâng cao đời sống Hội vận động nông dân nêu cao tinh thần đoàn kết, yêu thương giúp đỡ lẫn nhau trong sản xuất và đời sống Vận động nông
Trang 37dân tham gia xây dựng nông thôn mới, con người mới, thực hiện nếp sống văn minh, gia đình mới.
4. Tăng cường xây dựng, củng cố tổ chức Hội vững mạnh, tích cực tham gia xây dựng cơ sở Đảng và Chính quyền ở nông thôn Hội tăng cường xây dựng, củng
cố và tổ chức Hội vững mạnh trên cả 3 mặt: tư tưởng, tổ chức và hành động cách mạng; gắn công tác xây dựng Hội với xây dựng và củng cố hợp tác xã; đổi mới phương pháp vận động nông dân, đẩy mạnh việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ Hội [41, tr.131-132]
Đại hội đại biểu lần thứ III của Hội liên hiệp nông dân tỉnh Thanh Hóa đã đánh dấu bước phát triển mới, quan trọng của phong trào nông dân toàn tỉnh trong
sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa Đồng thời, cũng đánh dấu bước phát triển mới của tổ chức Hội liên hiệp Nông dân tập thể các cấp trong tỉnh cả về tư tưởng, tổ chức và hành động cách mạng Sự thành công của Đại hội cũng phản ánh sự nhận thức ngày càng rõ hơn của các cấp bộ Đảng và Chính quyền về sức mạnh của phong trào nông dân và vai trò quan trọng của Hội liên hiệp Nông dân tập thể trong sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa Từ đó mở ra thời kỳ phát triển mới cho phong trào nông dân
và Hội liên hiệp Nông dân tập thể tỉnh Thanh Hóa
Cơ chế “Khoán 100”, sau những năm đầu thực hiện được coi như “Chìa
khóa vàng”, tác động sâu sắc, toàn diện đến mọi mặt của đời sống kinh tế, xã hội ở
nông thôn thì sau 3 năm thực hiện đã bộc lộ những mặt hạn chế Trong quá trình thực hiện, nó lại nảy sinh những mâu thuẫn mới Với cơ chế khoán này, người nông dân chỉ thực hiện làm chủ được một phần diện tích đất canh tác và chỉ biết rõ mình được phân phối sản phẩm ở 3 khâu (gieo trồng, chăm sóc và thu hoạch), còn các khâu khác do tập thể và Nhà nước làm Trong khi đó, bộ máy quản lý các hợp tác xã vẫn cồng kềnh, kém hiệu lực Mức khoán cao và ngày càng có xu hướng gia tăng Nhiều nơi, nông dân chỉ nhận được từ 15% đến 20% sản lượng trong khoán, phần sản lượng vượt khoán thì khó bù đắp nổi khi chi phí sản xuất do mình bỏ ra Trong quá trình đó, phần đông nông dân mắc nợ Nhà nước và hợp tác xã, nhiều người
Trang 38không trả được Nạn “Khê đọng” sản phẩm diễn ra ở khắp nơi Một số nơi tiến
hành thu nợ một cách thô bạo, gây ra không khí nặng nề ở nông thôn Những chính sách sai lầm về giá cả (nông sản, vật tư) của Nhà nước và thời tiết không thuận lợi càng làm nghiêm trọng tình hình phát triển nông nghiệp Do đó, đời sống nông dân càng khó khăn hơn Hiện tượng nông dân kém phấn khởi, sản xuất cầm chừng, thậm chí trả lại ruộng diễn ra phổ biến ở nhiều nơi trong tỉnh
Đứng trước tình hình đó, Ban thương vụ Hội liên hiệp Nông dân tập thể tỉnh chủ động suy nghĩ, bàn bạc tập thể nhằm tìm ra hình thức mới động viên giai cấp nông dân toàn tỉnh khắc phục khó khăn, hăng hái thi đua lao động, sản xuất, góp phần đẩy mạnh phát triển nông nghiệp, cải thiện đời sống nông dân Trên cơ sở quán triệt tinh thần Nghị quyết 02 của Tỉnh ủy về phát động phong trào thi đua làm nhiệm vụ chiêm xuâ 1983-1984, đồng thời thực hiện Nghị quyết của Đại hội Hội liên hiệp Nông dân tập thể lần thứ III (tháng 12 năm 1983), Hội liên hiệp Nông dân
tập thể tỉnh đã phát động phong trào “Gia đình nông dân sản xuất giỏi”, bao gồm 4
nội dung đầy đủ với các chỉ tiêu thi đua, tiến hành đăng ký ngay trong vụ chiêm
xuân 1983-1984 Hội tiến hành in giấy chứng nhận “Gia đình nông dân sản xuất
giỏi”, lấy hợp tác xã Xuân Thành (Thọ Xuân) làm thí điểm (tháng 2 năm 1984)
trong vụ chiêm xuân này,toàn tỉnh có 13 vạn hộ đăng ký thi đua Kết quả cuối năm
1984 đã có 78.000 hộ đạt tiêu chuẩn “Hộ nông dân sản xuất giỏi”.
Cùng với việc thực hiện chỉ thị khoán 100 của Ban bí thư Trung ương Đảng
về khoán sản phẩm nông nghiệp, phong trào thi đua sản xuất giỏi trong các hộ nông dân đã thực sự tạo nên sinh khí mới ở nông thôn, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp tỉnh Thanh Hóa phát triển toàn diện Diện tích, năng suất, sản lượng đều tăng, mọi tiềm năng về lao động, đất đai, vốn và cơ sở vật chất- kỹ thuật hiện có được sử dụng ngày càng có hiệu quả
Phát huy thắng lợi trong phong trào thi đua, Ủy ban nhân dân tỉnh và Hội liên hiệp Nông dân tập thể tỉnh ra Quyết định số 105 (tháng 12 năm 1985) Quyết định này nêu rõ tiêu chuẩn thi đua, hình thức khen thưởng, kinh phí khen thưởng…Tháng 3 năm 1985, Ban thường vụ Tỉnh ủy lại ra Thông tư số 20 về việc tăng cường
sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác vận động nông dân tập thể trong tình hình
Trang 39mới Thông tư này đánh giá cao những đóng góp của giai cấp nông dân tỉnh, nêu ra những thiếu sót của Đảng bộ đối với phong trào nông dân và Hội liên hiệp Nông dân tập thể, đồng thời nhắc nhở các cấp ủy Đảng, các cấp Chính quyền, các ngành, các đoàn thể làm tốt hơn nữa công tác vận động nông dân, đặc biệt là đảy mạnh
phong trào thi đua “Ba tốt” do Đại hội tỉnh Đảng bộ lần thứ XI phát động, được cụ thể hóa bằng phong trào thi đua “Gia đình nông dân tập thể sản xuất giỏi” Tăng
cường, củng cố và xây dựng tổ chức Hội liên hiệp Nông dân tập thể vững mạnh ở các cấp
Ngay từ đầu năm 1985, phong trào đăng ký thi đua “Sản xuất giỏi” đã dấy
lên nhanh chóng, sôi nổi và rộng khắp Năm 1985 đã có 273.360 gia đình hội viên đăng ký thi đua, chiếm 61,6% tổng số hộ nhận khoán Tiêu biểu là huyện Vĩnh Lộc (95% tổng số hộ), Đông Sơn (80% tổng số hộ), Hoằng Hóa (80% tổng số hộ)…
Kết quả có 102.475 gia đình đạt tiêu chuẩn “Gia đình sản xuất giỏi”, bằng
42% tổng số hộ đã đăng ký
Cùng với phong trào sản xuất giỏi là phong trào bán lương thực, thực phẩm cho Nhà nước, gửi tiền tiết kiệm Tiêu biểu như huyện Nông Cống, huyện Đông Sơn, huyện Thiệu Hóa…Phong trào giúp đỡ lẫn nhau giữa các hộ nông dân trong sản xuất và đời sống đã trỏ thành truyền thống của nông dân trong tỉnh Tiêu biểu như huyện Thọ Xuân, huyện Triệu Sơn…
Thông qua các phong trào thi đua ở nông thôn, tổ chức Hội liên hiệp Nông dân tập thể từng bước được củng cố và phát triển, nội dung sinh hoạt của các cấp Hội phong phú và thiết thực hơn, cán bộ Hội nâng cao nhiệt tình và trình độ công tác…
Bước sang năm 1986, ngay từ đầu năm, Hội nông dân kết hợp với các cấp ủy Đảng, các cấp Chính quyền và các đoàn thể khác phát động và tổ chức hội viên học
tập và đăng ký thi đua, thực hiện khẩu hiệu: “Người người thi đua, nhà nhà thi đua
phấn đấu trở thành gia đình nông dân tập thể sản xuất giỏi” Hội đã tổ chức nhiều
hình thức phong phú, đưa ra nội dung và chỉ tiêu thi đua sát hợp và cụ thể hơn trước
để mỗi gia đình hội viên và đơn vị hội ở đồng bằng, miền núi hay miền biển đều có thể vận dụng và đăng ký thi đua được Các cấp ủy Đảng cũng quan tâm đến phong
Trang 40trào hơn các năm trước Tháng 7 năm 1986, ban thường vụ Tỉnh ủy ra Nghị quyết
về phát động phong trào thi đua lập thành tích chào mừng Đại hội Đảng bộ các cấp
và Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng Do đó, phong trào thi đua “Gia đình
nông dân tập thể sản xuất giỏi” được tiếp thêm sinh khí mới và có khí thế sôi động
hơn Nhờ vậy, ngày càng xuất hiện thêm nhiều gia đình nông dân và đơn vị tổ chức Hội đạt thành tích xuất sắc trên các mặt: Trồng trọt, chăn nuôi, nông – lâm kết hợp, đánh bắt hải sản, làm muối, làm lương thực, thực phẩm, gửi tiền tiết kiệm xây dựng quỹ Hội…Năm 1986 có 366.780 hộ đăng ký thi đua, đạt 71% tổng số hộ nông
nghiệp, trong đó có 168.800 hộ các xã đạt danh hiệu “Gia đình sản xuất giỏi” Tiêu
biểu là phong trào thi đua ở các huyện Đông Sơn, Sầm Sơn, Hoằng Hóa, Thọ Xuân…Tổ chức Hội nông dân ngày càng khẳng định vai trò to lớn trong công cuộc vận động, hướng dẫn nông dân đi theo Đảng, hăng hái thi đua lao động sản xuất, xây dựng cuộc sống mới, con người mới xã hội chủ nghĩa ở nông thôn Tổ chức Hội nông dân các cấp cũng từng bước được củng cố và phát triển
Tiểu kết:
Thanh Hoá là nơi có điều kiện tự nhiên tương đối thuận lợi cho nên ngay từ rất sớm đã có con người sinh sống Nơi đây được biết đến như một trong những cái nôi của loài người Mặt khác, chính những khó khăn về điều kiện tự nhiên như: khí hậu, đất đai… đã tạo ra sợi dây liên kết nhân dân Thanh Hoá trong một mặt trận chung Với gần 90% dân số trong tỉnh, lại có truyền thống đoàn kết, yêu nước và cách mạng, nông dân Thanh Hoá sớm thành lập được tổ chức riêng của mình Ra đời từ ngay trong năm 1930, trải qua các chặng đường đấu tranh cách mạng, Hội Nông dân tỉnh Thanh Hóa đã từng bước phát triển Mặc dù, có thời gian không còn tồn tại, nhưng tổ chức Hội Nông dân tỉnh dần dần được củng cố trở lại Hoạt động của Hội Nông dân đã tạo điều kiện thuận lợi cho tỉnh Thanh Hoá đạt được nhiều thành tựu to lớn trong sự nghiệp CNH – HĐH của tỉnh, nâng cao đời sống nông dân, nhân dân