1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự thay đổi địa giới hành chính và dân cư ở huyện nông cống tỉnh thanh hóa từ năm 1945 đến năm 2014

165 542 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 165
Dung lượng 5,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài gópphần vào việc nghiên cứu một cách có hệ thống toàn diện những thay đổi vềđịa giới hành chính, dân cư của huyện Nông Cống Thanh Hóa nhằm gópphần lấp một khoảng trống trong nghiê

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN THỊ ĐIỆP

SỰ THAY ĐỔI ĐỊA GIỚI HÀNH CHÍNH VÀ DÂN CƯ

Ở HUYỆN NÔNG CỐNG TỈNH THANH HÓA

TỪ NĂM 1945 ĐẾN NĂM 2014

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ

NGHỆ AN - 2015

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN THỊ ĐIỆP

SỰ THAY ĐỔI ĐỊA GIỚI HÀNH CHÍNH VÀ DÂN CƯ

Ở HUYỆN NÔNG CỐNG TỈNH THANH HÓA

TỪ NĂM 1945 ĐẾN NĂM 2014

Chuyên ngành: LỊCH SỬ VIỆT NAM

Mã số: 60.22.03.13

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ

Cán bộ hướng dẫn khoa học:

PGS.TS TRẦN VĂN THỨC

NGHỆ AN - 2015

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành được luận văn này, trước tiên tôi xin được bày tỏ lòng

biết ơn chân thành và sâu sắc của mình đối với PGS.TS Trần Văn Thức

người thầy đã định hướng đề tài, tận tình hướng dẫn và có nhiều gợi mở để tôihoàn thành được luận văn

Qua đây, cho phép tôi gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy côgiáo đã trực tiếp giảng dạy và giúp đỡ tôi trong học tập; đã nhiệt tình góp

ý và đưa ra những lời khuyên quý giá để tôi kịp thời sửa chữa, bổ sung,hoàn thành luận văn

Tôi cũng chân thành cảm ơn tới các cán bộ, công nhân viên thuộc các

cơ quan, đơn vị đã giúp đỡ tôi về mặt tư liệu để tôi hoàn thành luận văn này

Bên cạnh nguồn động viên, giúp đỡ trên, tôi còn nhận được sự quantâm, tạo điều kiện giúp đỡ của các đồng nghiệp trong trường nơi tôi đangcông tác, sự động viên, khích lệ của gia đình, bạn bè và những người thân,luôn bên tôi trong quá trình thực hiện luận văn cũng như suốt quá trình họctập Tôi trân trọng cảm ơn những tình cảm tốt đẹp đó

Quá trình thực hiện luận văn tuy đã cố gắng hết sức, song không thểtránh khỏi những thiếu sót, tôi mong nhận được sự góp ý kiến quý báu củathầy cô và các bạn để luận văn được hoàn thiện hơn

Xin chân thành cảm ơn!

Vinh, tháng 10 năm 2015

Tác giả

Nguyễn Thị Điệp

Trang 4

DANH MỤC VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

UBMTTQ : Uỷ ban mặt trận Tổ quốc

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và nhiệm vụ khoa học của đề tài 5

4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 6

5 Đóng góp của đề tài 7

6 Bố cục của luận văn 8

NỘI DUNG 9

Chương 1 SỰ THAY ĐỔI ĐỊA GIỚI HÀNH CHÍNH VÀ DÂN CƯ Ở HUYỆN NÔNG CỐNG TỪ NĂM 1945 ĐẾN NĂM 1954 9

1.1 Khái quát về tên gọi, địa giới hành chính và dân cư huyện Nông Cống trước 1945 9

1.1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, truyền thống lịch sử và văn hóa 9

1.1.2 Vài nét về tên gọi và địa giới hành chính huyện Nông Cống trước năm 1945 24

1.1.3 Tình hình dân cư huyện Nông Cống trước năm 1945 34

1.2 Sự thay đổi địa giới hành chính và dân cư huyện Nông Cống từ năm 1945 đến năm 1954 40

1.2.1 Bối cảnh lịch sử 40

1.2.2 Sự thay đổi địa giới hành chính huyện Nông Cống từ năm 1945 đến năm 1954 46

1.2.3 Sự thay đổi dân cư ở huyện Nông Cống từ năm 1945 đến năm 1954 52

Chương 2 SỰ THAY ĐỔI ĐỊA GIỚI HÀNH CHÍNH VÀ DÂN CƯ Ở HUYỆN NÔNG CỐNG TỪ NĂM 1954 ĐẾN NĂM 2014 55

2.1 Bối cảnh lịch sử 55

Trang 6

2.2 Sự thay đổi địa giới hành chính ở huyện Nông Cống từ năm 1954 đến

năm 2014 59

2.3 Sự thay đổi dân cư huyện Nông Cống từ năm 1954 đến năm 2014 76 Chương 3 TÁC ĐỘNG CỦA SỰ THAY ĐỔI ĐỊA GIỚI HÀNH CHÍNH VÀ DÂN CƯ ĐẾN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở HUYỆN NÔNG CỐNG 92

3.1 Tác động đến tình hình chính trị- xã hội 92

3.2 Tác động đến sự phát triển kinh tế 96

3.3 Tác động đến tình hình văn hóa- giáo dục - y tế 103

3.4 Tác động đến tình hình an ninh - quốc phòng 113

KẾT LUẬN 117

TÀI LIỆU THAM KHẢO 124 PHỤ LỤC

Trang 7

Trong tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc Việt Nam, địa giới hànhchính và dân cư được hình thành, phát triển, hoàn chỉnh như ngày nay gắnliền với quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc Tuy nhiên theo dòngchảy cuả lịch sử dân tộc, địa giới hành chính, tên gọi của các địa phương,vùng miền trên lãnh thổ Việt Nam, bên cạnh sự ổn định còn có sự thay đổi,thậm chí biến mất theo từng giai đoạn, thời kì lịch sử theo chương trình cảicách hành chính và quy hoạch địa giới hành chính của nhà nước hiện nay.

Sự thay đổi hành chính, kéo theo sự thay đổi, phát triển của vấn đề dân

cư là một điều tất yếu của cả quốc gia dân tộc trong quá trình tồn tại và pháttriển Chính vì vậy việc tìm hiểu, nghiên cứu về địa giới hành chính và dân cưcủa một địa phương, vùng miền hay cụ thể một huyện, một tỉnh… là đề tài có

ý nghĩa khoa học, góp phần tích cực vào việc nghiên cứu lịch sử của các địaphương, vùng miền nói riêng và của lịch sử dân tộc nói chung

Sự ổn định hoặc thay đổi địa giới hành chính và dân cư đều có sự tácđộng, ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hộicủa các địa phương, vùng miền

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay, địa giới hành chính vàdân cư huyện Nông Cống liên tục có những biến động bởi nhiều nguyên nhânchủ quan và khách quan Nhưng việc nghiên cứu về những thay đổi tên gọi,địa giới hành chính cũng như về dân cư trên địa bàn huyện lại chưa đượcquan tâm đúng mức Đề tài hy vọng sẽ giải quyết được yêu cầu đó trong

Trang 8

nghiên cứu lịch sử huyện Nông Cống và góp phần vào việc nghiên cứu thayđổi địa giới hành chính và dân cư trên phạm vi cả nước.

1.2 Về mặt thực tiễn

Nông Cống là vùng đồng bằng và bán sơn địa nằm ở phía tây nam củatỉnh Thanh Hóa Đây là một vùng châu thổ giàu tiềm năng phát triển kinh tế -văn hóa - xã hội Từ ngàn xưa nơi đây đã là một vùng đất nông nghiệp trùphú, là vùng trọng điểm lúa của Thanh Hóa, cho đến nay Nông Cống vẫn làvùng đất “cơm gạo” nên tiềm năng lớn nhất ở nơi đây vẫn là nông nghiệp.Khí hậu, thủy văn tuy có khó khăn nhưng đất đai, sông núi, ruộng đồng NôngCống phong phú, đa dạng Bên cạnh thế mạnh về sản xuất lúa gạo, NôngCống còn chứa đựng nhiều tiềm năng lớn cho việc phát triển kinh tế lâmnghiêp, nuôi trồng thủy sản, công nghiệp khai khoáng và tiềm năng du lịchvui chơi văn hóa

Trong dòng chảy dân cư Nông Cống từ lâu là một tụ điểm tập hợp quarất nhiều đời trong trường kỳ lịch sử của dân tộc Qua mỗi thời dòng ngườidồn về Nông Cống nhiều ít triền miên liên tục của nhiều địa phương, xa làmiền Bắc miền Trung, gần là các huyện trong tỉnh Thanh Hóa Mặt khác hòamình theo dòng chảy của lịch sử dân tộc từ năm 1945 đến năm 2014, huyệnNông Cống trải qua nhiều thay đổi, phạm vi không gian địa lý của huyệncũng có nhiều sự thay đổi Đặc biệt trải qua hai cuộc kháng chiến thần thánhcủa dân tộc chống lại thực dân Pháp, đế quốc Mĩ xâm lược và trong côngcuộc đổi mới hiện nay Những biến động và thay đổi đó của lịch sử huyện nhàgắn liền với lịch sử dân tộc nói chung và tỉnh Thanh Hóa nói riêng Đề tài gópphần vào việc nghiên cứu một cách có hệ thống toàn diện những thay đổi vềđịa giới hành chính, dân cư của huyện Nông Cống (Thanh Hóa) nhằm gópphần lấp một khoảng trống trong nghiên cứu lịch sử địa phương lâu nay, đểgiúp cho người đọc có cái nhìn cận cảnh và toàn diện hơn về lịch sử địaphương

Trang 9

Sự thay đổi địa giới hành chính của huyện Nông Cống trong thời gianqua kéo theo sự thay đổi về dân cư và ảnh hưởng của nó đến những vấn đềquản lý đất đai, phân bố lại vị trí các vùng dân cư, sự phát triển kinh tế - chínhtrị - xã hội, bố trí lại cán bộ quản lý, hệ thống cơ sở hạ tầng Đề tài không chỉdừng lại ở việc nghiên cứu những thay đổi về địa giới hành chính, dân cư màphạm vi nội dung của đề tài còn được mở rộng sâu hơn nhằm tạo bức tranhtoàn cảnh bước đường phát triển của huyện nhà trong những năm khói lửachiến tranh và trong công cuộc đổi mới hiện nay cũng như đóng góp củaĐảng bộ và nhân dân huyện Nông Cống đối với sự phát triển của tỉnh ThanhHóa và của đất nước.

Ngoài những nét riêng trong quá trình phát triển của huyện Nông Cống

từ 1945 đến năm 2014 thì huyện Nông Cống còn mang những nét chunggiống các huyện, thị ở nước ta trong quá trình hình thành và phát triển từ nửasau thế kỷ XX đến nay.Vì vậy nghiên cứu về những thay đổi về địa giới hànhchính, dân cư huyện Nông Cống là góp phần vào việc nghiên cứu về hệ thốnghuyện, thị ở nước ta Là người con sinh ra và lớn lên trên vùng đất NôngCống, thông qua việc nghiên cứu đề tài này, tôi muốn giúp phần nhỏ bé củamình vào việc xây dựng, phát triển quê hương

Với những lý do trên chúng tôi quyết định chọn đề tài: “Sự thay đổi

địa giới hành chính và dân cư ở huyện Nông Cống tỉnh Thanh Hóa từ năm

1945 đến năm 2014” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình.

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về việc tìm hiểu, nghiêncứu lịch sử địa phương, trong những năm qua các cấp ủy Đảng và chínhquyền, các học giả trong và ngoài nước đã và đang tích cực tìm hiểu, nghiêncứu lịch sử địa phương từ cấp xã, huyện, tỉnh… các ấn phẩm như lịch sử làng,lịch sử huyện, lịch sử tỉnh, lịch sử đảng bộ xã, lịch sử đảng bộ huyện, lịch sửđảng bộ tỉnh, địa chí văn hóa huyện, địa chí văn hóa tỉnh… lần lượt được ra

Trang 10

mắt bạn đọc Tuy nhiên việc tìm hiểu và nghiên cứu về địa giới hành chính vàdân cư ở các địa phương trong đó có huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa chưađược quan tâm, đầu tư đúng mức Cho đến nay vẫn chưa có một công trình,

ấn phẩm nào nghiên cứu về đề tài “Sự thay đổi địa giới hành chính và dân cư

ở huyện Nông Cống (Thanh Hóa) từ năm 1945 đến năm 2014” một cách đầy

đủ và hệ thống, giúp người đọc thấy được quá trình thay đổi về tên gọi vàlãnh thổ huyện, sự biến đổi và chuyển động của địa giới hành chính và dân cư

ở huyện Nông Cống từ năm 1945 đến năm 2014

Mặc dù vậy cũng đã có những công trình, ấn phẩm nghiên cứu vềhuyện Nông Cống, ở những góc độ và nội dung khác nhau đã đề cập đến một

số khía cạnh của đề tài này

Trong công trình “Địa chí Thanh Hóa, tập 1: Lịch sử và địa lý” củaTỉnh ủy - Hội đồng nhân dân - UBND tỉnh Thanh Hóa, NXB Khoa học xãhội, Hà Nội năm 2004, các tác giả đã khái quát ngắn gọn về lịch sử hình thành

và tên gọi cũng như đơn vị hành chính, dân cư của huyện Nông Cống, giúpngười đọc tra cứu nhanh về huyện Nông Cống trong tổng thể các huyện củatỉnh Thanh Hóa

Đặc biệt trong công trình: “Địa chí văn hóa huyện Nông Cống”, Nxbkhoa học xã hội Hà Nội, năm 1998 do nhà nghiên cứu Lê Huy Trâm làm chủbiên đã nghiên cứu hết sức công phu, viết tương đối đầy đủ về địa lí, địa mạo,thổ nhưỡng, khí hậu, đồi núi, sông ngoài, con người, truyền thống lịch sử,phong tục tập quán, các tổ chức đơn vị hành chính của huyện Nông Cống.Trong đó có phần làng xã và một số phong tục tập quán nếp sống và xây dựngxóm làng ở Nông Cống qua đó đề cập đến nguồn gốc làng xã và các đơn vịhành chính cấp xã từ năm 1945 đến nay Mặt khác ở phần phụ lục, ở phụ lụcmột tác giả đưa ra bảng tổng hợp tình hình ruộng đất, tình hình dân cư các xã

và ở phụ lục bốn là hương ước làng - xã cũ Nông Cống và phụ lục năm là địadanh cổ - các dòng họ: Đình Chùa Nghè Miếu của từng làng Qua đó giúp cho

Trang 11

việc tổng hợp tên gọi các làng xã trước và sau cách mạng Tháng Tám(1945) ởNông Cống, cùng với sự thay đổi tên gọi qua các thời kỳ.

Ngoài ra ở một số tài liệu như “Truyền thống cách mạng của Đảng bộ

và nhân dân huyện Nông Cống, (1930- 1990)”, “Những sự kiện lịch sử đảng

bộ huyện Nông Cống (1930 - 1954), Nxb Thanh Hóa, “Báo cáo biến độngdiện tích đất theo mục đích sử dụng năm 2013 so với năm 2000 và năm2009”, “Báo cáo tỷ lệ tăng dân số hàng năm giai đoạn 2000 - 2013” củaUBND huyện Nông Cống, “Niên giám thống kê Nông Cống từ năm 1999 đếnnăm 2014” của cục thống kê Thanh Hóa… ít nhiều đã đề cập đến sự thay đổiđịa giới hành chính và dân cư của huyện Nông Cống Mặc dù còn sơ lượcsong đó là nguồn tài liệu quan trọng để tôi so sánh, đối chiếu và đi sâu vào nộidung đề tài đề cập đến

Nhìn chung có thể nói các công trình, các bài viết trên đều đã làm sáng

tỏ một số vấn đề lịch sử của huyện nói chung và vấn đề địa giới hành chính vàdân cư của huyện nói riêng Tuy nhiên, nếu xét một cách toàn diện kháchquan thì cho đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách cụ thể,chi tiết và chuyên sâu về địa giới hành chính và dân cư ở huyện Nông Cống

từ năm 1945 đến năm 2014 Thực tế đó là vấn đề trăn trở và là động lực thôithúc tôi đi sâu nghiên cứu về địa giới hành chính và dân cư huyện Nông Cống

từ năm 1945 đến năm 2014 nhằm góp phần vào việc nhìn nhận sâu sắc, baoquát hơn về lịch sử hình thành và phát triển của huyện Nông Cống

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và nhiệm vụ khoa học của đề tài

3.1 Đối tượng

Trong luận văn này chúng tôi tìm hiểu, nghiên cứu về sự thay đổi địagiới hành chính và dân cư ở huyện Nông Cống từ năm 1945 đến năm 2014,cũng như những tác động của nó đến sự phát triển kinh tế, chính trị, xã hội,văn hóa, giáo dục, y tế và an ninh quốc phòng ở huyện Nông Cống

Trang 12

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là những thay đổi địa giới hành chính vàdân cư của huyện Nông Cống (Thanh Hóa) Những ảnh hưởng và tác độngcủa nó đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện Nông Cống từ năm

1945 đến năm 2014

3.3 Nhiệm vụ khoa học

Đề tài tập trung vào giải quyết những nhiệm vụkhoa học sau: Tìm hiểumột cách khái quát, hệ thống tương đối chính xác sự thay đổi địa giới hànhchính và dân cư ở huyện Nông Cống từ năm 1945 đến năm 2014 Bước đầuđánh giá sự ảnh hưởng, tác động của sự thay đổi địa giới hành chính và dân

cư đến sự phát triển kinh tế, chính tri - xã hội, văn hóa, giáo dục, y tế và anninh quốc phòng ở huyện Nông Cống từ năm 1945 đến năm 2014

4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

4.1 Nguồn tư liệu

Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi đã nghiên cứu và tham khảo các tàiliệu sau:

4.1.1 Tài liệu gốc

- Gồm các Nghị định của Chính phủ, của tỉnh Thanh Hóa về việc điềuchỉnh, mở rộng, chia tách các xã, thị trấn ở huyện Nông Cống từ năm 1945đến năm 2014

- Bản đồ hành chính của huyện Nông Cống, các huyện tiếp giáp vớihuyện Nông Cống, của tỉnh Thanh Hóa

- Các đề án xây dựng, quy hoạch huyện Nông Cống

- Số liệu niên giám thống kê về dân số, sự phát triển, thay đổi dân cư ởhuyện Nông Cống từ năm 1945 đến năm 2014… Các tài liệu này là cơ sởpháp lý để khẳng định về địa giới hành chính, sự ra đời và thay đổi của cácđơn vị hành chính cũng như dân cư của huyện Nông Cống từ năm 1945 đếnnăm 2014

Trang 13

4.1.2 Tài liệu nghiên cứu

Tôi tham khảo các tài liệu nghiên cứu lịch sử, chính trị, văn hóa như:

“Địa chí Nông Cống” của tác giả Hoàng Anh Nhân và Lê Huy Trâm biênsoạn, “Lịch sử Đảng bộ huyện Nông Cống” (1946 - 2005) của ban chấp hànhĐảng bộ và Ủy ban nhân dân huyện Nông Cống, “Lịch sử lực lượng vũ trangnhân dân huyện Nông Cống” (1945 - 2007) của Đảng ủy - Ban chỉ huy quân

sự huyện Nông Cống “Thanh Hóa thế và lực mới trong thế kỷ XXI”…

4.1.3 Tài liệu khác

Để bổ sung và làm phong phú tài liệu cho đề tài, tôi đã sử dụng cả tàiliệu báo chí, các bài viết trên các tạp chí nghiên cứu lịch sử, các báo cáo tổngkết hàng năm của xã, huyện về tình hình kinh tế- xã hội, văn hóa, giáo dục, y

tế, an ninh quốc phòng… một số luận văn thạc sỹ, tiến sỹ chuyên ngành lịch

sử Việt Nam được bảo vệ thành công tại Trường Đại học Vinh… có liên quanđến đề tài, bên cạnh đó tác giả còn sử dụng nguồn tài liệu điền dã, trực tiếpquan sát, chụp hình ảnh, tìm hiểu thực tế về địa giới hành chính và dân cư ởhuyện Nông Cống

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết những vấn đề do đề tài đặt ra, chúng tôi sử dụng chủ yếuhai phương pháp mang tính chuyên ngành: phương pháp lịch sử và phươngpháp logic Bên cạnh đó chúng tôi còn sử dụng phương pháp so sánh, thống

kê, đối chiếu, xử lí tài liệu, phân tích tổng hợp mối quan hệ giữa lịch sử dântộc và lịch sử địa phương Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng phương pháp liênngành, sử dụng sử liệu học, phương pháp điền dã, thực địa…

Trang 14

- Luận văn bước đầu đánh giá những tác động của vấn đế địa giới hànhchính và dân cư đến quá trình phát triển kinh tế- chính trị- xã hội, từ đó tìm ranhững giải pháp chiến lược cho sự pháp triển kinh tế, chính tri, xã hội ởhuyện Nông Cống trong công cuộc xây dựng quê hương đất nước.

- Luận văn trở thành nguồn tài liệu, góp phần nghiên cứu và giảng dạylịch sử địa phương

6 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dungchính của luận văn gồm có 3 chương:

Chương 1: Sự thay đổi địa giới hành chính và dân cư ở huyện Nông

Cống từ năm 1945 đến năm 1954

Chương 2: Sự thay đổi địa giới hành chính và dân cư ở huyện Nông

Cống từ năm 1954 đến năm 2014

Chương 3: Tác động của sự thay đổi địa giới hành chính và dân cư đến

kinh tế - xã hội ở huyện Nông Cống.

Trang 15

NỘI DUNG Chương 1

SỰ THAY ĐỔI ĐỊA GIỚI HÀNH CHÍNH VÀ DÂN CƯ

Ở HUYỆN NÔNG CỐNG TỪ NĂM 1945 ĐẾN NĂM 1954

1.1 Khái quát về tên gọi, địa giới hành chính và dân cư huyện Nông Cống trước 1945

1.1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, truyền thống lịch sử và văn hóa

Nông Cống là một vùng đồng bằng và bán sơn điạ nằm ở phía tây namtỉnh Thanh Hóa Từ Thành phố Thanh Hóa đi theo quốc lộ 45 về phía Tây-Nam dài 28km là huyện lỵ Nông Cống - trung tâm kinh tế - chính trị - vănhóa của cả huyện thuộc vùng châu thổ đầy tiềm năng và truyền thống cáchmạng Phía Bắc giáp huyện Đông sơn và Triệu Sơn với chiều dài đường biên

là 31,2 km, phía Nam và Tây - Tây Nam giáp huyện Như Thanh với chiều dàiđường biên là 7,1 km, phía Nam và Đông Nam giáp huyện Tĩnh Gia, phíaĐông giáp huyện Quãng Xương có chiều dài đường biên là 54,2 km Xét theo

vĩ độ và kinh độ trên mặt địa cầu thì “Nông Cống Điểm cực Bắc ở 105,7 kinh

độ đông; 21,48 vĩ độ bắc Điểm cực Nam ở 105,68 kinh độ đông; 21,54 vĩ độbắc Điểm cực Tây ở 106,63 kinh độ Đông; 21,70 vĩ độ bắc Điểm cực Đông

ở 105, 68 kinh độ đông; 21,70 vĩ độ bắc Huyện Nông Cống có chiều dài Nam là 28,5 km; có chiều rộng Đông- Tây nơi hẹp nhất là 7,2 km (ở xã CôngBình) nơi rộng nhất là 17,1 km (từ xã Trường Giang sang phía tây là xã VạnThắng) [48; 21] Diện tích tự nhiên của toàn huyện hiện nay là 28.710ha, dân

Bắc-số là 182.289 người [5; 11] Nông Cống trừ phần núi Nưa xuôi về phía Nam

là vùng bán sơn địa đất đỏ giàu khoáng sản và thích hợp với cây công nghiệp,phần lớn đất đai Nông Cống thích hợp với cây lúa, là vùng trọng điểm lúa củaThanh Hóa như từ xưa đã khẳng định “Nghệ Yên Thành, Thanh Nông Cống”

Trang 16

Địa hình: Nông Cống là một huyện đồng bằng Song nằm ven vùng đồi

núi phía nam của dải đồi núi trung du sông Chu nên có một vùng đồi núi thấplượn sóng đã tạo cho Nông Cống một dải bán sơn địa (nằm ở phía Tây Bắchuyện, có diện tích khoảng 7.500ha) Dải đồi núi trung lưu sông Chu chiếmphần phía Nam các huyện Lang Chánh, Ngọc Lặc và toàn bộ huyện ThườngXuân kéo tới Thọ Xuân hạ thấp dần về phía Đông Nam Triệu Sơn kéo xuốngmiền Tây Bắc Nông Cống Đó là núi Nưa có đỉnh cao tới 583m gắn liền vớitruyền thuyết “Tu Nưa gánh núi dọn đồng”, “Tu Nưa đấu với Tu Vồm” Mộtông Nưa khổng lồ về sức khỏe và ý chí biểu tượng cho sức mạnh của conngười Nông Cống thuở “khai thiên lập địa” tạo dựng xóm làng Tại vùng này

có hàng chục khe, ngòi từ núi Nưa và dãy đồi đất đỏ chia cắt địa hình phíaTây Nông Cống Do đó, con đường xuyên suốt Bắc - Nam phải xây nhiều cầucống Với địa hình đổi núi độ dốc vừa phải, lại lắm khe suối nên mỗi khi mưa

to nước từ núi Nưa trút xuống các khe, suối và song Yên, nhưng lại thoátnước chậm nên đã gây ra nạn úng lụt ảnh hưởng tới đời sống và sản xuất

Vùng đồng bằng châu thổ Nông Cống khá rộng lớn, có diện tích21.210ha, chiếm 74% diện tích tự nhiên toàn huyện, nổi lên núi đá vôi nhỏ,

gò đồi thấp xen kẽ những vùng thấp, lầy thụt là đặc điểm riêng biệt của vùngđồng bằng châu thổ Nông Cống Do quy luật bồi tụ tự nhiên của sông Lãng,sông Hoàng và sông Yên đã chia vùng đồng bằng châu thổ Nông Cống thànhcác tiểu vùng Đó là vùng thềm đồng bằng (nơi tiếp giáp đồi núi với đồngsâu), vùng ven sông Lãng, sông Hoàng, sông Yên và vùng địa hình thấp,trũng Sự đa dạng của địa hình Nông Cống (đồi núi, đồng bằng và nhữngvùng trũng lầy…) đã tạo ra vùng châu thổ giàu tiềm năng và những khó khăncách trở

Đồi núi: Tuy là huyện đồng bằng nhưng Nông Cống có nhiều đồi núi

được phân chia thành 4 cụm Cụm đồi núi phía Bắc nổi bật là dãy HoàngNghiêu Sơn, dãy núi này được chia thành 2 phần gồm dãy Hoàng Sơn thuộc

Trang 17

địa phận xã Hoàng Sơn, Nông Cống; dãy Nghiêu Sơn nằm trên địa phận xãĐồng Thắng, Triệu Sơn (thuộc Nông Cống cũ) có dòng sông Hoàng Gianglàm gianh giới tự nhiên Dãy Hoàng Nghiêu cao 276m khu vực này không chỉ

là danh sơn, thắng cảnh mà còn có một vị trí chiến lược hiểm yếu Thế kỉ XVHoàng Nghiêu Sơn đã được Nguyễn Trích xây dựng thành lũy chống giặcMinh và sau này trở thành công thần nhà Lê Thời Cần Vương, Bang Vănlãnh đạo nghĩa quân lập căn cứ Hoàng Nghiêu chống Pháp Trong 2 cuộckháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, nơi đây trở thành nơi cất giữ vũ khícủa quân đội Cùng nằm trong cụm đồi phía bắc huyện còn có núi Tiêu Sơn(Tân Phúc), núi Trãi (Hoàng Giang), có nhiều hang động, núi sỏi (Tân Phúc)

là di tích khảo cổ học thuộc thời kì cuối của nền văn hóa Đông Sơn Theosách Đại Nam Nhất Thống Chí thì núi Nưa tức núi Na Sơn (thuộc huyệnNông Cống ngày nay) nằm trên địa phận 3 huyện: Triệu Sơn, Nông Cống,Như Thanh Vùng núi Nưa phía Đông và Đông Nam thuộc xã Tân Thọ, TânKhang, Trung Thành, Tế Thắng, Tế Lợi, đỉnh cao nhất là 350m gắn liền vớitruyền thuyết ông khổng lồ Tu Nưa khai phá đồng bằng Nông Cống và về nữtướng Triệu Thị Trinh cưỡi voi phất cờ đánh giặc… núi Nưa còn nhiềukhoáng sản quý đang được khai thác

Nằm trong hệ thống đồi núi giữa còn có núi Mưng thuộc xã TrungThành là một dải đồi đất đỏ rộng chừng 10ha, có độ cao so với mực nước biển

là 30m Núi Mưng gắn liền với truyền thuyết thánh Ngũ Vị hy sinh trong cuộcchiến đấu chống quân xâm lược nhà Đường (vào thế kỉ VII)

Cụm núi phía Nam Nông Cống gắn với đồi và cồn cát gồm 18 ngọn núigồm các xã Vạn Hòa, Vạn Thắng, Vạn Thiện, Thăng Long, Công Liêm, CôngChính, Công Bình, Tượng Sơn… thuận lợi cho việc trồng mía, cà phê, chè, vàcây ăn quả

Trang 18

Cụm núi phía Đông gồm 15 ngọn núi, đồi thuộc các xã Minh Thọ,Minh Nghĩa, Trường Minh, Thăng Bình, Tượng Lĩnh, Tượng Sơn, TrườngTrung.

Sông ngòi: Các cụm đồi núi đã tạo cho địa hình Nông Cống hình thành

nhiều sông, suối Sông ngòi Nông Cống thuộc hệ thống sông Yên - một trong

4 hệ thống sông lớn của Thanh Hóa, gồm có 4 nhánh: sông Hoàng, sông ThịLong, sông Nhơm, sông Chuối

Sông Hoàng nằm ở phía Bắc huyện, độ dài 81km, có lưu vực 336kmbắt nguồn từ huyện Thọ Xuân gồm 2 nhánh, một nhánh chảy qua Thiệu Hóa,nhánh 2 chảy qua Triệu Sơn về Nông Cống làm gianh giới tự nhiên giữaNông Cống và Đông Sơn, Nông Cống với Quãng Xương Sông Hoàng uốnlượn quanh co lại chịu ảnh hưởng trực tiếp của triều cường, long sông hẹp,nước chảy chậm nên thường gây nạn úng lụt về mùa mưa

Phía Nam huyện là sông Thị Long bắt nguồn từ Nghĩa Đàn Nghệ Anchảy vào Nông Cống tại địa phận xã Công Bình rồi qua các xã Tượng Sơn,Tượng Lĩnh, Tượng Văn, Trường Giang và nhập vào sông Yên ở ngã ba Tuần(giáp giới 3 huyện Nông Cống, Quãng Xương, Tĩnh Gia, cách biển 6km).Sông thị Long phần lớn chảy qua vùng đồng bằng, nằm trong khu vực cólượng mưa lớn, mùa mưa nước sông chảy nhanh, đoạn chảy vào địa phậnNông Cống độ dốc giảm lại ảnh hưởng của triều cường nên vào mùa mưasông Thị Long thường gây ra úng lụt, vào mùa khô thường gây mặn, ảnhhưởng xấu đến sản xuất nông nghiệp và đời sống nhân dân

Sông Nhơm nằm giữa vùng bắc huyện, khởi nguồn từ huyện Như xuân,chảy ven chân núi Nưa (thuộc huyện Triệu Sơn) vào các xã Tân Thọ, TânKhang, Trung Thành, Trung ý, Tế Tân, Tế Nông đến ngã ba Vua Bà thì gặpsông Yên, sông Nhơm có chiều dài 66,9km, đoạn chảy qua Nông Cống dài 12

km Do sông nằm ngay cạnh chân núi Nưa, một khu vực có lượng mưa lớncủa tỉnh Thanh Hóa, nên khi mưa trút xuống dữ dội, lại chịu ảnh hưởng trực

Trang 19

tiếp của triều cường sông Yên khiến nước sông Nhơm ngày càng tăng nhanh,tốc độ chảy chậm thường gây úng lụt cho các xã phía bắc huyện.

Sông Chuối bắt nguồn từ huyện Như Xuân chảy qua Như Thanh vàoNông Cống qua các xã Vạn Thắng, Vạn Hòa, Vạn Thiện, Minh Thọ, MinhNghĩa, Trường Trung gặp sông Yên tại Ngã ba Con Sơ Bốn con sông kể trên

đã góp phần tạo nên vùng đồng bằng châu thổ tiềm năng sản xuất nôngnghiệp, đồng thời cũng gây ra nạn úng lụt vào mùa mưa

Giao thông: Hệ thống giao thông gồm có: quốc lộ 45 xuyên Nam - Bắc

Nông Cống nối thành phố Thanh Hóa - Chuối - Yên Cát (Như Xuân); thànhphố Thanh Hóa theo quốc lộ 15B đi Nghĩa Đàn (Nghệ An) cùng hệ thốngđường liên huyện Nông Cống - Quán Giắt (Triệu Sơn), Nông Cống - BếnSung (Như Xuân)… hiện nay đường liên xã, liên thôn đang được mở rộng.Đường sắt xuyên Việt qua Nông Cống dài 44 km từ thành phố Thanh Hóa đến

ga Yên Thái, Minh Khôi, Thị Long

Khí hậu: Nông Cống thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, lại nằm ở

khu vực “Nam Thanh- Bắc Nghệ” nên thời tiết thay đổi thất thường Tuy vậyvẫn thể hiện rõ hai mùa trong năm Đó là mùa khô từ tháng 10 năm trước đếntháng 2 dương lịch năm sau, khí hậu hanh khô, giá rét Nhiệt độ có khi giảmxuống 50C-60C Từ tháng 2 đến tháng 6 dương lịch gió Lào nóng bức, nhiệt

độ có ngày tăng lên 400C

Khoáng Sản: Với cấu tạo tự nhiên phong phú, đa dạng Nông Cống

không chỉ là vùng châu thổ giàu tiềm năng nông nghiệp mà còn là vùng đất cónhiều khoáng sản quý với trữ lượng đáng kể

Từ thời Pháp thuộc đã phát hiện nhiều loại khoáng sản quý và tổ chứckhai thác Mỏ Crommit sa khoáng Cổ Định là mỏ khoáng sản lớn được pháthiện từ năm 1932

Quặng sa khoáng Crôm tìm thấy trên địa bàn Nông Cống từ Tinh Mễ(xã Tân Khang) đến Bãi áng (xã Tế Lợi) Vùng Tinh Mễ xác định diện tích

Trang 20

779.000 km2, trữ lượng khoáng thạch khoảng 160,680 tấn Vùng Bãi áng xácđịnh lượng khoáng thạch khoảng 27.025.000 tấn, lượng kim thuộc khoảng966.870 tấn Theo một số tài liệu cho biết mỏ quạng Crôm Cổ Định vào loạilớn nhất Đông Nam Á Crôm Nông Cống hàm chứa nhiều kim loại quý hiếm:Niken, Cooban và Amiang sản xuất vật liệu cách điện, cách nhiệt.

Ở Nông Cống còn có quặng Manhêzit là nguyên liệu quan trọng sảnxuất gạch chịu nhiệt ở Bãi áng Sét trắng dùng để sản xuất sứ cao cấp ở làngCát, Thái Hòa (xã Minh Thọ) Sét Bentonit dùng trong xây dựng tìm thấy ở

Vũ Yên, mỏ lân ở núi sỏi (Định Kim), Cát kết núi sỏi (xã Thăng Bình) là loại

đá chịu lửa đạt tới 1.6500C, than Kim Thái Thượng (Tượng Sơn) có nhiệtnăng từ 3800 đến 42000C Nguyên vật liệu phong phú: cát, sỏi, đá Đá nhiềuloại: đá trắng, đá xanh, đá hoa cương, đá canxit là đồ trang sức, đá Thạch Anhlàm mặt đồng hồ [48;12]

Bên cạnh nguồn khoáng sản phong phú thì Nông Cống là nơi có nhiềutài nguyên rừng với khu rừng quốc gia Bến En (một phầnthuộc Nông Cống,một phần thuộc Như Thanh) trong khu rừng này có rất nhiều loài động vậtquý hiếm như: Voi, Rùa, Hổ, Báo, Gấu, Trăn… Với những tài nguyên rừngnhư vậy có thể nói Nông Cống là một vùng đất vàng của đất nước [48; 17]

Với tiềm năng khoáng sản trên mặt đất và trong lòng đất như thế với sựphân bố rộng trữ lượng lớn có nơi còn nguyên vẹn chưa được khai thác đây làmột tiềm năng lớn cho sự phát triển công nghiệp của huyện Nông Cống vàtỉnh Thanh Hóa”

Đất đai, sông ngòi, đồi núi, thời tiết khí hậu, tài nguyên khoáng sản ởNông Cống đã tạo nên một vùng quê giàu tiềm năng về kinh tế, nông nghiệp,công nghiệp, du lịch, dịch vụ Cư dân Nông Cống trong quá trình lịch sử đãkhông ngừng cải tạo tự nhiên, khai thác tiềm năng thiên nhiên từng bước làmbiến đổi bộ mặt kinh tế - xã hội Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, mảnh đất

và con người Nông Cống luôn gắn bó máu thịt cùng với vùng đất xứ Thanh

Trang 21

và dân tộc Việt Nam Không những thế đây được xem là vùng một trongnhững vùng đất “Địa linh nhân kiệt” với truyền thống lịch sử văn hóa lâu đời.Bao trùm và nổi bật hơn cả đó là truyền thống yêu nước và truyền thống hiếuhọc của nhân dân Nông Cống.

Từ buổi bình minh lịch sử dựng nước của dân tộc, Nông Cống đã gópsức cùng với nhóm cư dân núi sỏi, các “kẻ” và các “làng cổ” đã làm cho cuộcsống ở vùng Nông Cống trong đất nước Văn Lang trở nên sinh động, phongphú, góp phần làm nên truyền thống và bản sắc dân tộc Lịch sử Việt Namcòn là lịch sử giữ nước rất oanh liệt Từ thời Bắc thuộc trở đi, nhân dân ViệtNam bất khuất chống Hán hóa, chống giặc ngoại xâm từ phương Bắc, phươngTây đến xâm chiếm nước ta, đặt ách nô lệ lên dân tộc ta Và chính trong lịch

sử chống ngoại xâm ấy Nông Cống đã trở thành địa phương nổi tiếng được cảnước ca ngợi về việc đóng góp sức người, sức của cho tuyền tuyến Mặt khác,Nông Cống còn là địa bàn thủ hiểm, là một bộ phận quan trọng, là một cứđiểm chiến lược trong hệ thống căn cứ của hậu phương thanh hóa rộng lớncủa nhiều cuộc chống ngoại xâm và có lúc trở thành căn cứ địa từ đây tấncông kẻ thù xâm lược của các cuộc chiến tranh ái quốc vĩ đại

Trong suốt thời kỳ ngàn năm Bắc thuộc, nhân dân Nông Cống khôngngừng vươn lên cùng với cả nước kiên trì đấu tranh chống hành động xâmlược và âm mưu đồng hóa của kẻ thù Phương Bắc, tạo nên một sắc thái riêngbiệt cho quê hương của mình Năm 40, Trưng Trắc, Trưng Nhị giương caongọn cờ khởi nghĩa đánh đuổi quân xâm lược Nam Hán giành lại chủ quyềnđộc lập cho dân tộc Trong hàng chục tướng lĩnh Hai Bà Trưng người ThanhHóa có danh tướng Đào Kỳ quê hương Nông Cống đã cùng với vợ là PhươngDung chỉ huy nghĩa quân anh dũng chiến đấu chống giặc ngoại xâm lập nhiềucông tích Khi hai bà Trưng bị vây hãm ở kinh đô, hai vợ chồng Đào Kỳ đãđem quân từ Lạng Sơn về ứng cứu Đào Kỳ tử trận, Phương Dung đã tử tiếttrọn tình thủy chung Kinh Đô bị tàn sát quân Hai Bà Trưng đã rút về Thanh

Trang 22

Hoá, về căn cứ Ngàn Nưa (Nông Cống) tiếp tục chiến đấu Nhân dân NôngCống đã cung cấp lương thực bảo vệ nghĩa quân và tham gia chiến đấu đếntrận cuối cùng.

Năm 156, nối tiếp truyền thống Hai Bà Trưng, Chu Đạt từ quê hươngNông Cống đã dấy binh khởi nghĩa tiếp tục đánh đuổi quân Nam Hán Nghĩaquân Chu Đạt đã bất ngờ đánh chiếm huyện lỵ Cư Phong (Cửu Chân) giếtchết thái thú Cửu Chân Nghê Thức, làm chủ thành trì trong 3 tháng Quângiặc đã tập trung lực lượng của các đại quân về chiến thuyền vây thành CửuChân Cuối cùng nghĩa quân phá vòng vây vào Hàm Hoan (Nghệ Tĩnh) NhàHán đã cử đại tướng Hạ Phương đem quân đuổi theo Chu Đạt Trong trậnquyết chiến ở gianh giới hai huyện Cư Phong và Vô Biên, Chu Đạt đã hy sinhanh dũng

Năm 248, Triệu Thị Trinh người con gái Yên Định căm thù giặc đãchiêu mộ nghĩa quân, lấy núi Nưa làm căn cứ dựng cờ khởi nghĩa đánh đuổi

giặc Ngô xâm lược với khí thế “Tôi muốn cỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng

dữ, chém Cá kình ở biển Đông, đánh đuổi giặc Ngô, giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ không chịu khom lưng làm tỳ thiếp cho người” Khí tiết đó đã làm

lay động và thôi thúc hàng triệu người con xứ Thanh tập hợp dưới ngọn cờkhởi nghĩa của bà, đuổi giặc Ngô xâm lược Nông Cống được chọn làm địabàn chiến lược của nghĩa quân Bà Triệu Ngày nay còn lưu những dấu tíchchứng minh cho một thời oanh liệt của nhân dân Nông Cống Đó là đồng BắtVoi(xã Trung Thành), đồi Chiềng Trống, Cột Nanh (cột cờ - xã Tế Lợi) Cây

Đa Bàu Huyết nơi Bà Triệu làm lễ tế cờ (xã Trung Thành), Núi Én (xã VạnThiện) là nơi tập trung nghĩa quân, Bãi Sỏi xã Tân Phúc nơi đóng quân của

Bà Triệu Nghĩa quân đã san bằng huyện lỵ, thành ấp ở 3 quận: Cửu Chân,Cửu Đức, Nhật Nam (Thanh Hóa, Nghệ Tĩnh, Quãng Bình ngày nay) lật đổách thống trị của giặc Ngô, song do lực lượng chênh lệch, cuộc khởi nghĩathất bại Bà Triệu đã thủ tiết, song khí phách lẫm liệt, anh hùng của bà vẫn

Trang 23

sang mãi, hồn thiêng của Bà vẫn gắn mãi với “Ngàn Nưa”, là “Bà tiên củanúi Nưa”:

Ai về Nông Cống tỉnh Thanh Dừng chân nhớ Triệu Thị Trinh anh hùng.

Như vậy từ Hai Bà Trưng (40-43), Bà Triệu (248), phất cờ khởi nghĩađến chiến thắng của Ngô Quyền (938), góp sức khôi phục nền tự chủ, giànhđộc lập dân tộc, chấm dứt thời kỳ Bắc Thuộc, Nông Cống luôn góp sứcngười, sức của vì sự nghiệp giải phóng đất nước, vì vinh dự giống nòi

Từ thời Lý - Trần trở đi, nền độc lập của Đại Việt trải qua biết baohưng vong, suy thịnh Cùng chung nhịp thở với tổ quốc Việt Nam, nhân dânNông Cống gắn bó với vận mệnh dân tộc, góp phần trí tuệ và tâm hồn tìnhcảm của mình xây dựng cho cuộc sống dân tộc ngày càng tiến lên phía trước

Và cũng trong quá trình vận động lịch sử ấy, Nông Cống cũng hòa mình trongniềm sung sướng khi tổ quốc chiến thắng cũng như đắm mình trong nỗi đau

mà các triều đại phong kiến bảo thủ, suy thoái đem lại “Có tên từ thời Trầntrở về trước” huyện Nông Cống xưa đã có nhiều nhân vật tài năng góp trí tuệ

và công sức của mình xây dựng nền độc lập, tự chủ đất nước Chỉ riêng mộtlàng Cổ Định (Kẻ Nưa) và một làng Phu Huệ (Cổ Đôi) đã làm cho thiên hạphải trầm trồ

Võng lọng Cổ Định, Cổ Đôi Lắm thịt nhiều xôi, Đống Cao, Đống Cải

Ở thời Lý, họ Doãn ở Cổ Định đã có nhiều nhân vật trong họ tham giatriều chính Đời Lý Thái Tổ, cụ Doãn Tử Tư được đi sứ Tống, có công hoạchđịnh biên giới được ban tước vị quận công Đời Lý Nhân Tông, có cụ DoãnAnh Khải được vua Lý cử sang Tống sau khi Lý Thường Kiệt chiến thắngquân Tống xâm lược Ông đã sắp đặt hòa hiếu hai nước sau khi chiến tranhkết thúc

Trang 24

Đời Trần Minh Tông, cụ Doãn Băng Hài (1272 - 1332) đậu tiến sĩ giữchức Hàn lâm hiệu úy, Thượng thư bộ hình tước Thiếu Bảo Cụ đã làm chánh

xứ sang nhà Nguyên về tranh chấp biên giới Trung - Việt, giữ được quốc thể

và quan hệ hai nước Vua Trần Hiến Tông ban cho chức thiếu phó, tướcHương hầu và 100 mẫu ruộng tại Doãn Xá (Đông Sơn) Thời Trần Anh Tông,

cụ Doãn Định (1312- 1363) đã làm giám sát ngự sử Các nhân vật họ Doãntiếp theo như Doãn Hoằng, Doãn Quyết, Doãn Năng… đều là những ngườilàm vẻ vang cho quê hương Nông Cống Đời Trần Anh Tông, Cổ Định còn có

cụ Lê Thân, có công soạn hình luật cho triều Trần ban tước Luật quận công[48; 160]

Đầu thế kỷ XV, nhà Hồ thay nhà Trần Trong suốt gần mười năm nắmquyền, nhà Hồ phải đối mặt với cuộc xâm lược của giặc Minh Trong cuộcchiến này, cha con Hồ Quý Ly đã thất bại Một lần nữa, nước ta lại rơi vào taybọn thống trị phong kiến Phương Bắc, giặc Minh tập trung lực lượng đàn ápcác cuộc khởi nghĩa của nhân dân ta giành độc lập Nguyễn Chích quê VạnLộc (Đông Ninh- Đông Sơn) chiêu mộ nghĩa binh chiếm giữ 2 núi Hoàng vàNghiêu làm căn cứ Sách “Đại Nam Nhất Thống Chí” chép “Thành trì củaNguyễn Chích ở bên núi Hoàng Nghiêu thuộc địa phận xã Châu Tứ, huyệnNông Cống, gần con sông nhỏ, lại ở bên sông là động Nghiêu Sơn thuộc địaphận xã Xích Lộ huyện Đông Sơn, hai địa điểm này đều là thành cũ, hai bên

tả hữu đều là núi làm thành, chỗ nào núi đứt đoạn thì đắp đất làm lũy, trong

đó có vài trăm mẫu đất trống” Ông đã được nhân dân Nông Cống giúp đỡxây thành, đắp lũy, tích lũy lương thực, tập luyện nghĩa quân đẩy lùi nhiềucuộc tiến công của giặc Minh Năm 1420, Nguyễn Chích đã đem toàn bộnghĩa quân gia nhập quân của Lê Lợi, cùng Lê Lợi tiến hành cuộc khởi nghĩađánh đuổi giặc Minh, giành độc lập tự chủ cho dân tộc

Trong cuộc kháng chiến chống quân Minh do Lê Lợi lãnh đạo, nhiềungười con ưu tú quê hương Nông Cống đã tìm đến tụ nghĩa và đã trở thành

Trang 25

những công thần của nhà Lê như: Đỗ Bí (Giáp Mai), Trịnh Đồ (Cổ Mộc), HàMộng, Lương Khê, Hà Đô, Trương Lôi, Doãn Nổ (Cổ Định)… có công lớnnên được ban quốc tính (họ Lê của Vua) và hàng ngàn trai tráng tham gianghĩa quân Nếu như trước kia ở (thời Lý Trần) các dòng họ Doãn, họ Lê… ở

Cổ Định đã làm bừng sáng nửa trên của huyện Nông Cống thì vào triều Lê

Sơ, các vị khai quốc thần Đinh Liệt Lê Hiểm, Vũ Uy, Đỗ Bí… đã làm chonửa dưới huyện Nông Cống trở nên tươi đẹp, phồn vinh, nổi tiếng cả nước

Từ thời Lê Trung Hưng trở đi, chế độ phong kiến suy thoái, giai cấpthống trị xâu xé lẫn nhau, đất nước lâm vào cảnh chiến tranh chia cắt liênmien, cho đến đầu thế kỷ XIX nhà Nguyễn mới thống nhất được đất nước.Trong khoảng 400 năm ấy Nông Cống cũng chìm nổi, đau thương cùng đấtnước Phong trào học nho ở Nông Cống phát triển, làm nên đất học nổi tiếng

cả tỉnh, cả nước là Cổ Định và Cổ Đôi Từ thời Lê Hiến Tông (1502) đến thời

Lê Hy Tông (1676), hơn 100 năm, vùng Cổ Đôi trở vào đã có 20 vị đại khoa(đậu tiến sĩ) [48; 161] Huyện Nông Cống nổi lên những nhân vật xuất sắc,tham gia triều chính hoặc biên soạn sách vở như Lê Thời Hiến, Lê Bật Tứ, LêTrạc Tú, Nguyễn Hiệu, Nguyễn Hoàn, Nguyễn Thu, Lê Nghĩa Trạch, LêNhân Triệt, Lê Sĩ Cẩn, Đỗ Phi Tán, Phạm Trác, Đỗ Tấn Đạt, Đỗ Tế Mỹ, LêĐình Túc… Đất học Nông Cống “võng lọng Cổ Định, Cổ Đôi” là như thế,cùng tham gia với đất nước trong lý tưởng “trung quân Ái quốc” mà lúc này

sự lựa chọn “trung với vua nào?” trở thành sự đánh giá nhân cách nhân vật cótầm cỡ tham gia việc nước Một điều rất dễ nhận thấy, hàng trăm nhân vật nổilên cùng đất nước trăn trở đau thương từ thời Lê Trung Hưng trở đi, ở NôngCống chưa một ai bị sử sách chê bai, phê phán

Cuộc chiến Nam - Bắc triều chưa kết thúc thì Trịnh - Nguyễn lại phântranh khiến cho đất nước bị chia cắt, dân chúng lầm than, nông dân liên tiếpnổi dậy khởi nghĩa Nông Cống trở thành chiến trường các danh tướng LêTrịnh đem quân bố phòng ở Nông Cống để đảm bảo hậu phương “lúa gạo”

Trang 26

nuôi sống Nam Triều đóng ở Yên Trường (Thọ Xuân) và danh tướng nhàMạc là Mạc Kính Điển đã giong thuyền hiến dọc sông Yên từ cửa Ghép tiếnsâu vào vùng Nông Cống, phá kho hậu cần Lê Trịnh Ngày nay, trên đất làngNhiễn (xã Tân Khang) còn dấu tích Thành Trịnh và trên đất làng Thái Hòa(xã Tân Ninh) còn dấu vết thành Mạc nói lên sự đối đầu kịch liệt của Trịnh -Mạc trên đất Nông Cống suốt một thế kỷ ròng rã khiến nhân dân Nông Cốngsống trong cảnh loạn lạc không yên Những ngày nghĩa quân Tây Sơn đemquân ra Bắc diệt họ Trịnh, lấy đất Bắc Hà, đại phá quân Thanh, Nông Cốngkhông ít người đứng dưới cờ vua Quang Trung Vương triều Tây Sơn đượcthiết lập, chấm dứt tình trạng vua Lê - Chúa Trịnh, Đàng Trong - Đàng Ngoài,nhưng tiếc rằng hoàng đế Quang Trung đột ngột qua đời để lại bao tiếc nuốicho lịch sử dân tộc.

Năm 1802, nhà Nguyễn lên thay nhà Tây Sơn, lịch sử dân tộc bướcsang một trang mới Dưới triều Nguyễn, huyện Nông Cống đã có những đónggóp nhiều công sức và trí tuệ của mình ra phục vụ cho sự nghiệp phát triểnđất nước Có được đất nước thống nhất nhưng nhà Nguyễn không biết pháthuy những thành quả đó để phát triển đất nước Ngược lại, với đường lối xâydựng và phát triển không phù hợp, Việt Nam dưới thời Nguyễn đã ngày càngkhủng hoảng, suy yếu Đây là điều kiện thuận lợi để thực dân phương Tâynhòm ngó và xâm lược Như vậy thời đại phong kiến Việt Nam mở ra từ đầuthế kỷ X và coi như kết thúc ở đầu thế kỷ XX Gần một thiên niên kỷ, đấtnước có lúc hưng thịnh, có lúc suy vong Quá trình lịch sử đấu tranh gian nan

có lúc chính tà lẫn lộn, dân tộc ta tìm con đường đi lên cho cuộc sống “độclập, tự do, ấm no, hạnh phúc” làm nên truyền thống bất khuất “chìm trongmáu lửa lại vùng đứng lên” Nông Cống là một vùng của Tổ quốc Việt Namcũng hòa trong truyền thống anh hùng bất khuất đó, xứng đáng là “đất thủhiểm”, là “hậu phương vững vàng” cho cả tỉnh, cả nước Và khi đối mặt với

kẻ thù phong kiến đế quốc, Nông Cống cùng hòa tiếng súng chiến đấu của

Trang 27

mình trong phong trào yêu nước chống pháp một cách thật xứng đáng, thật vẻvang.

Năm 1858, thực dân Pháp bắn đại bác vào bán đảo Sơn Trà (ĐàNẵng) mở đầu cho cuộc chiến tranh xâm lược nước ta Nhà Nguyễn đãtừng bước đầu hàng và cuối cùng ký với Pháp hiệp ước Patơnốt (6/6/1884),đưa nước ta từ một nước phong kiến độc lập, có chủ quyền chính thức làthuộc địa của Pháp

Phong trào Cần Vương nổ ra (1858 - 1895) Hưởng ứng chiếu CầnVương của vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết (ngày 13 tháng 7 năm 1885),các sỹ phu yêu nước đã tập hợp nhân dân các vùng ở Thanh Hóa xây dựngcăn cứ địa chống Pháp Ở Nông Cống phong trào Cần Vương chống Phápphát triển sớm, sâu rộng, quyết liệt Từ năm 1885 - 1886, tri huyện ở NôngCống là Tôn Thất Hàm, Bang Tá, Đỗ Tuấn Dẫy, huấn đạo Nguyễn Văn Quỳ

đã bỏ huyện đường tổ chức phong trào Cần Vương chống Pháp Cũng trongthời gian này Tú Phương (Nguyễn Ngọc Phương) quê ở Hương Trì - tổng VănTrường - phủ Tĩnh Gia (nay là xã Trường Sơn huyện Nông Cống) cùng vớiTôn Thất Hàm vào căn cứ Sơn Phòng - Quãng Trị gặp vua Hàm Nghi và TônThất Thuyết để nhận chiếu Cần Vương Sau khi trở về hai ông đã nhanhchóng phát động phong trào Cần Vương Với cương vị là tham biện phủ TĩnhGia, Tú Phương đã chỉ đạo xây dựng căn cứ Ôn Lâm - Kỳ Thượng để hợp lựcvới phong trào Cần Vương trong tỉnh Từ căn cứ Ôn Lâm - Kỳ Thượng nghĩaquân tiến đánh đồn, huyện lỵ Nông Cống - Quãng Xương… thực dân Pháptập trung lực lượng đánh căn cứ Ba Đình, căn cứ Ba Đình thất thủ, căn cứ ÔnLâm - Kỳ Thượng bị uy hiếp và thất thủ, phong trào Cần Vương ở NôngCống bị giặc Pháp và tay sai chống phá quyết liệt Những người trước ngãxuống, những người sau đứng lên, nhân dân Nông Cống đã tập hợp lực lượngdưới ngọn cờ của Tống Duy Tân, Cao Điển tham gia diệt Vân Đồn ở phía Bắc

Trang 28

núi Nưa(tháng 10/1889), đột nhập vào huyện Nông Cống(tháng 5/1890) tiêudiệt nhiều tên giặc Những ngày Cần Vương trên đất Nông Cống hào hùng,sôi nổi chứng tỏ tinh thần yêu nước bất khuất của người dân Nông Cống nốitiếp truyền thống của các anh hùng liệt sĩ quê hương chống xâm lăng từ thời

Bà Trưng, Bà Triệu song những trang sử Cần Vương cũng là những trang sửnặng đau thương mất mát hy sinh của nhân dân Nông Cống cuối thế kỷ XIX

Phong trào Cần Vương thất bại phong trào giải phóng dân tộc của nhândân ta lại rơi vào ngõ cụt Vào những năm đầu thế kỷ XX, một luồng gió tưtưởng mới đã thổi vào đất Nông Cống “tân thư, tân văn” đã đến tay các sỹphu yêu nước Những câu thơ sấm dậy của Phan Bội Châu lan tới là lời hiệutriệu thôi thúc mọi tầng lớp nhân dân đứng lên khôi phục lại đất nước Họ tìmcách tuyên truyền giác ngộ tư tưởng duy tân

Trong xu hướng tiến tới những tư tưởng cách mạng mới, trên conđường đi tìm ngọn cờ giải phóng dân tộc, Võ Danh Thùy (người xã TếThắng) đã tổ chức “Hội đọc sách báo cách mạng” để tuyên truyền chủ nghĩaMác - Lênin theo con đường cách mạng của người cộng sản Nguyễn Ái Quốc

mà ông đã được giác ngộ, để tuyên truyền giác ngộ cách mạng cho quầnchúng Đầu năm 1927, Võ Danh Thùy tham gia tổ chức “Hội Việt Nam thanhniên tỉnh Thanh Hóa” Võ Danh Thùy được xem là người con đầu tiên củaNông Cống đi theo con đường cứu nước do Nguyễn Ái Quốc lựa chọn

Tháng 7 năm 1930 chi bộ Đảng Cộng Sản ở Tỉnh Thanh Hóa đượcthành lập để lãnh đạo nhân dân tổ chức đấu tranh Cùng với nhân dân cảnước, cả tỉnh, những năm trước và trong chiến tranh thế giới thứ hai nhân dânNông Cống đã có những hình thức đấu tranh phong phú chống áp bức, bóclột, chống chiến tranh đế quốc, bảo vệ cách mạng, chuẩn bị đấu tranh giànhđộc lập dân tộc

Trang 29

Tháng 9/1943, đồng chí Trịnh Huy Tự được tỉnh ủy cử về Nông Cốngchuyển tổ chức “Thanh Hóa ái quốc hội” thành Mặt trân Việt Minh và thànhlập ban cán sự Việt Minh huyện Nông Cống, xây dựng lực lượng chuẩn bịcho khởi nghĩa giành chính quyền.

Ngày 19 tháng 8 năm 1945, ủy ban khởi nghĩa huyện đã huy động lựclượng tại đồn điền Yên Mỹ đã xóa bỏ hoàn toàn hệ thống quản lý đồn điền,làm chủ đồn điền Phát huy thắng lợi ở đồn điền Yên Mỹ, đúng 8h tối ngày 20tháng 8 năm 1945, lực lượng cách mạng đã chớp thời cơ giương cao băng cờ,biểu ngữ, trang bị giáo mác, súng trường tiến về bao vây huyện lỵ, trại lính.Đến sáng ngày 21tháng 8 năm 1945, nhân dân Nông Cống đã giành đượcchính quyền ở phủ đường Từ đây cùng với nhân dân cả nước, nhân dân NôngCống bước sang một trang sử mới

Bên cạnh truyền thống yêu nước, Nông Cống còn là địa phương giàutruyền thống văn hóa, miền đất học, nhân dân có truyền thống hiếu học, thi cử

đỗ đạt Thời phong kiến toàn huyện có 20 vị thi đỗ đại khoa (đậu tiến sĩ),trong đó có Cổ Định, Cổ Đôi là điểm sáng nhân dân ca ngợi:

“Văn chương Cổ Định, Cổ Đôi Ông Nghè, Ông Cống Cổ Định, Cổ Đôi”

Các bậc đại khoa đã nêu danh thiên cổ như: Nguyễn Đốc, Lê KhắcNhượng, Lê Đình Vệ (Tế Thắng); Nguyễn Duy Thốc (Tế Lợi); Đỗ Phi Tám,

Đỗ Tế Mỹ, Lê Nghĩa Trạch, Lê Thất Dục, Lê Văn Hy, Lê Chí Đạo, Đỗ CôngLiêm, Lê Sỹ Cẩn, Lê Chí Tuân (Cổ Đôi - nay là Văn Đôi, Hoàng Giang);Phạm Trác (Tế Tân); Lê Văn Hiếu, Lê Dực (Hoàng Sơn); Lê Đình Túc(Trung Ý), Lê Đăng Cử (Trường Giang)

Dưới thời Lê Sơ, Nông Cống có 3 vị đại khoa, thời Lê Trung Hưnggồm 16 vị đại khoa, đến thời Nguyễn vào năm Minh Mệnh thứ 5 (1807)trường công học Nông Cống được xây dựng ở Tử Nê, phía nam huyện lỵ

Trang 30

Thời kỳ này Nông Cống có 13 người đỗ đạt ở các kỳ thi, trong đó có mộtngười đỗ đại khoa.

Ngoài các vị đỗ đại khoa, còn có một đội ngũ sĩ tử đông đảo thi đậu cửnhân, tú tài và đội ngũ khóa sinh ở khắp các làng quê là lực lượng trí thức đãnêu cao việc học và phát triển giáo dục ở mọi thời đại Sự học hành thi cử đãđem đến cho Nông Cống đội ngũ trí thức và nhân tài đóng góp cho sự nghiệpxây dựng bảo vệ quê hương, đất nước cường thịnh

1.1.2 Vài nét về tên gọi và địa giới hành chính huyện Nông Cống trước năm 1945

Dưới thời các Vua Hùng trong quốc hiệu Văn Lang, Thanh Hóa thuộc

Bộ Cửu Chân Địa giới Bộ Cửu Chân lúc này cụ thể ra sao, không có sách vởnào ghi chép Cũng như các nơi trong Bộ Cửu Chân, miền đất Nông Cốngchưa được xác định tên gọi Có thể lúc này một số “kẻ” cổ xưa đã hình thànhnhư: Kẻ Sỏi, Kẻ Nưa, Kẻ Xém, Kẻ Nháng, Kẻ Tre, Kẻ Đá,…

Thời thuộc Hán, năm 111 trước công nguyên, chia quận Cửu Chân làm

7 huyện: đất Nông Cống thuộc huyện Cư Phong

Thời Tam Quốc, đổi tên huyện Cư Phong thành Di Phong Tên DiPhong tồn tại từ thời Tam Quốc - Lưỡng Tấn - Nam Bắc Triều Đất NôngCống thuộc huyện Di Phong Ở Nông Cống hiện nay vẫn còn một số tên lànggọi theo ngôn ngữ Việt cổ như: Ố, Vìn Mối, Vặng, Nhơm (tên sông), Vạy (tênsông), Mưng, Múng… có thể là những “địa danh hành chính sơ khai” củanhững thế kỷ đầu công nguyên ở đất Nông Cống xưa

Sang thời Tùy - Đường (từ năm 501 đến 938) việc quản lý hành chính ởquận Giao Chỉ về Cửu Chân Chân chặt chẽ hơn, cụ thể hơn Nhà Tùy (581-617) đặt Thanh Hóa là Quận Cửu Chân và chia làm 7 huyện: Huyện CửuChân; Huyện Di Phong; Huyện Tư Phố; Huyện Long An; Huyện Quân An;Huyện An Thuận; Huyện Nhật Nam Đất Nông Cống lúc này thuộc huyện

Trang 31

Cửu Chân là một huyện lớn bao gồm cả đất huyện Đông Sơn, Triệu Sơn,Nông Cống, Như Xuân và một phần Thường Xuân (tức hai huyện Đông Sơn

và Nông Cống cũ) Nhà Đường diệt nhà Tùy, cai trị đất nước ta, đặt đô hộphủ, quản lý nước ta trong chế độ hành chính “quận, huyện” khá chặt chẽ vớimục đích là đàn áp và vơ vét sản vật cung phụng thiên triều Đất Nông Cốngvẫn nằm trong huyện Cửu Chân như nhà Tùy

Thời Đinh, Lê, Lý Nông Cống vẫn là phần đất thuộc huyện Cửu Chânnhư cũ Đến đời Trần trở đi, Nông Cống mới được tách ra và tên “huyệnNông Cống” mới trở thành tên gọi hành chính Sách “Đại Việt Sử Ký ToànThư” chép về năm Quý Hợi (1323) đời Trần Minh Tông có ghi: “Lê Duyngười xã Cổ Định huyện Nông Cống Như thế tên xã Cổ Định và huyện NôngCống đã có từ thời Trần, tồn tại đến ngày nay Sách “Đại Nam Nhất ThốngChí” cũng chép: Nông Cống đã có tên từ đời Trần trở về trước” Thanh Hóathời Trần cũng được đổi thành Trấn Thanh Đô đời nhà Trần gồm 7 huyện và

3 châu, trong đó Châu Cửu Chân bao gồm có 4 huyện là: huyện Cổ Chiến,huyện Duyên Giác, huyện Kết Thuế và huyện Nông Cống

Thời Lê - Nguyễn vẫn là huyện Nông Cống với miền đất rộng baogồm cả huyện Như Thanh, Như Xuân, huyện Triệu Sơn và cả huyện NôngCống bây giờ, cùng một phần Thường Xuân (là Tổng Như Lăng) Trên đạithể tổ chức hành chính ở địa phương gồm 4 cấp: tỉnh, phủ, huyện, châu vàlàng xã được chia làm hai thời kỳ: thời kỳ từ 1802 đến trước năm 1831-

1832 khi Minh Mạng cải cách hành chính và thời kỳ sau cải cách hànhchính đến cuối thế kỉ XIX

Thời Gia Long (1802 - 1820) đến trước năm 1831 - 1832 Về tên gọingay từ đầu khi mới cầm quyền vương triều Nguyễn, vua Gia Long vẫn duytrì tên gọi cũ trấn và dinh, sau đó vào các năm 1808, 1827 mới lần lượt gọi tênchung và đến năm 1830 thống nhất gọi là trấn trên phạm vi cả nước Tỉnh

Trang 32

Thanh Hóa lúc này gọi là trấn Thanh Hoa Còn cấp phủ, huyện, châu trên đạithể là tổ chức chính chính quyền cấp thứ 3, dưới cấp trấn, dinh và quản lý cấp

cơ sở Ở thời kỳ này huyện Nông Cống nằm trong Châu Cửu Chân Phủ TĩnhGia Theo sách các tổng trấn xã danh bị lãm - các địa phương từ Nghệ An trở

ra (biên soạn trong thời gian từ 1810 - 1813) thì Nông Cống gồm có 9 tổng,

66 xã, sách, 187 thôn, 2 phường Các tổng gồm: tổng Đô Xá, tổng Cổ Định,tổng Cao xá, tổng Vạn Đồn, tổng La Miệt, tổng Đồng Xá, tổng Lai Triều,tổng Như Lăng, tổng Lãng Lăng và hai phường thủy cơ bến sông là phườngNgã Ba Mộc và phường Ngã Ba Xuyết

Theo Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ XIX huyện Nông Cống có 9

tổng, 215 thôn, sở, sách, phường, tộc, cụ thể như sau:

Tổng Đô Xá: có 10 xã, thôn; xã Bất Căng, xã Bồ Hà, xã Cẩm Xá, xã

Đô Xá, xã Mai Xá, xã Quang Chỉ, xã Thiết Cương, xã Sơn Hà, xã Thiều Xá,

xã Tiên Mộc

Tổng Cổ Định: có 38 xã, thôn, tộc, sở; Cổ Định, Tuy Định thôn

Thượng xã Trạm Lộ, thôn Tự, thôn Đô, thôn Yên Định, thôn Lễ Động xã YênĐịnh, tộc Lễ Động, thôn An Cảo xã Tử Nê, thôn Côn Mưng, thôn Ngọc Uyên,thôn Thổ Sơn, thôn Ố, thôn Hà Liên, thôn Tào Lâm, thôn Đông xã Thanh Hà,thôn Thượng xã Đống Bằng, thôn Lương Mộng, thôn Tự, thôn Đống Cải,thôn Đống Bằng Duyên, thôn Hương Khê, thôn Hòa An, thôn Cầu xã ĐộiTrượng, thôn Vinh, thôn Hoa Doãn, thôn Nhiễn, thôn Nhân Mỹ, thôn Lai,thôn Thái Bình, thôn Vĩnh Trà xã Hà Mi, thôn Đô Trinh, thôn Quần Hậu, thônQuang Trung, thôn Vân Cổn, thôn Vĩnh Khê, Sở Tinh Mễ xã Đình Hương,thôn Nhân Mỹ, thôn Thanh Y

Tổng Cao Xá: có 54 xã, thôn; Cao Xá, thôn Tiền xã Trường Quang,

thôn Thượng, thôn Nga, thôn Sài, thôn Ngọ Vực xã Nhân Võng, Giáp KhảLôi Đông, Giáp Khả Lôi Đoài, thôn Bái Đao, thôn Thổ Ngõa, thôn Yên

Trang 33

Thái, thôn Yên Bình, thôn Tháp Nguyễn, thôn Bái Trung, thôn Thổ Vị xãThổ Giá, thôn Mai, thôn An Thượng, thôn Sơn, thôn Cung Hoàng, thônThịnh Lạc xã Nghĩa Trai, thôn An Cách, thôn Hà Khẩu, thôn An Cảo, thônCôn Cương, thôn Tiên Lược xã Sơn Trai, thôn Tiền Hậu, thôn Hương, thônLương, thôn Xa Loan, thôn Tiên xã Cổ Đôi, thôn Cao Hậu, thôn An Nội,thôn Tháp Bến, thôn Tháp Tụng, thôn Bái Thượng xã Trang Liệt, thôn BãiĐông, thôn Đạt Đông, thôn Nhân Nhượng, thôn Đạt Thượng, thôn ThanhLiêm xã Châu Xuyết, thôn Hồi Cù, thônYên Mỗ, thôn Thượng, thôn Thị,thôn Sở, thôn Tống Công, thôn Thái Bình, thôn Nham Cát, thôn Cầu Mao,thôn Hoàng Độ, thôn Hòa Phấn, thôn Tráng Nung, thôn Quyết xã Sơn Trai,thôn Bái xã Nhân Võng.

Tổng Vạn Đồn: có 42 xã, thôn, sở; thôn Đồn xã Vạn Đồn, thôn Na,

thôn Thị, thôn Phú Bản, thôn Chòm, thôn Châu Côn, thôn An Nẫm, thôn LaiPhục, thôn Mật xã Mật Quang, thôn Thái, thôn Hậu Áng, thôn Đồng Môn,thôn Ngọ, thôn Hương, thôn Phú Thọ, thôn Triều Ban, thôn Đồng Trong, thônĐồng Trụ, thôn Du Hạ, thôn Cự Triền, thôn Ẩn Lâm, thôn Bái, thôn ThượngVặn, thôn Giải Trại, thôn Kim Đồng, thôn Đồng Ý, thôn An Bình, thôn Ốc

Sa, thôn Ốc Thổ, thôn Lộc Triền, Phường Xuyết Thị xã Vạn Đồn, thôn Luật

xã Bạch Hoa, thôn Tòng Sở Tinh Mễ, thôn Vạn xã Thượng Một, thôn Thí xãVạn Khê, thôn Du Thượng xã Vạn Thắng, thôn Ốc xã Ốc Thổ, thôn ĐồngNương xã Triều Ban, thôn Đông xã Thượng Du, thôn Phú Đa xã Bạch Hoa,thôn Xa Lý xã Ngọ Xá

Tổng La Miệt: có 19 xã, thôn; thôn Nhuệ xã La Miệt, thôn Vũ Ân xã

Lê Xá, thôn Lăng, thôn Ban xã Cự Lăng, thôn Xa Lý xã Quãng Lăng, thônĐông xã Bàn Khê, thôn Quần Ngọc xã Quãng Lăng, thôn Trường xã La Miệt,thôn Cự Thắng, thôn Sơn Hậu xã Quãng Lăng, thôn Châm Nho, thôn CựThắng, thôn Đa Minh xã Phú Chẩm, thôn Cẩm Bào, thôn Đông, thôn Ngọc

Trang 34

Chẩm, thôn Bái Thượng, thôn Hoàng Bôi, thôn Thiết Sơn, thôn An Chẩm,thôn Bái Hạ, Sở Tinh Mễ, thôn Hoàng Bát.

Tổng Đồng Xá: có 20 xã, thôn; Đồng Xá, thôn Quần Trúc, thôn Quần

Thanh, thôn Nhạ Lộc, thôn Thì Du, thôn Lộc Trạch, thôn Hoàng Xá, thôn LộcNham, thôn Niệm, thôn Trung, thôn Hoàng Sơn, thôn Phố, thôn Thượng, thônTrung, thôn Quần Nham xã Cam Lộ, thôn Ổn xã Đa Lộc, thôn Trường xãNiệm Thượng, thôn Mỹ xã Nga Mi, thôn Nha xã Nga Mi

Tổng Lai Triều: có 12 xã, thôn; Lai Triều (gồm 3 thôn Thục, Thị, và

Phụng Lộc), Cổ Mộc, thôn Cầu, thôn Mỹ Nhậm, Chu Tứ, Diễn Ngoại, DiễnNội, Di Kiên, thôn Sơn Dương xã Vĩnh Gia, thôn Trung xã cương Đôi, thônPhù xã Vĩnh Gia, thôn Hoàng xã Cổ Mộc

Tổng Như Lăng: có 8 thôn, sách; Sách Hữu Lễ, Sách Cư An, Sách

Bát Văn, Sách Hóa Quì, Sách Thu Vị, Sách Trị Nội, Sách Đỉnh Đức, thônThượng Pháp

Tổng Lãng Lăng: có 7 sách; Sách Mi Dã, Sách An Thái, Sách Trại

Sơn, Sách An Trung, Sách Đồn Cáo, Sách Lương Dụ, Sách Trinh Lăng Haiphường Thủy cơ bến sông: Phường Ngã Ba Mộc, Phường Ngã Ba Xuyết

Đến đời vua Minh Mạng công cuộc cải cách hành chính được tiến hànhtoàn diện từ trung ương đến địa phương Trong gần 20 năm cầm quyền, GiaLong đã cố gắng đến mức tối đa để thành lập bộ máy chính quyền, mặc dùcòn nhiều khiếm khuyết ở trung ương, còn ở địa phương hầu như chưa có gìthay đổi “dinh” thành “trấn” thiết lập Bắc Thành, Gia Định Thành, đã bướcđầu đặt nền móng cho công cuộc cải cách sau này, đặc biệt là dưới thời MinhMệnh, ông chủ yếu tập trung cải cách ở địa phương Ở cấp tỉnh từ tháng 10năm Minh Mệnh thứ 13 (1832) nhà vua bãi bỏ Bắc Thành, đổi trấn từ QuảngBình trở ra, thống nhất gọi là tỉnh, chia đặt lại gồm 18 phủ, huyện, châu TỉnhThanh Hóa lúc này có 5 phủ, 19 huyện, 3 châu Một năm sau đến lượt Gia

Trang 35

Định Thành bị xóa bỏ Từ Quảng Nam trở vào chia thành 12 tỉnh số phủ,huyện lúc đầu là 12 tỉnh Huyện Nông Cống lúc này thuộc phủ Tỉnh Gianguyên xưa là đất của quận Cửu Chân triều Trần về trước đã có tên huyện.Hồi Minh thuộc cho vào Châu Cửu Chân thuộc phủ Thanh Hóa Năm QuangThuận triều Lê đổi làm phủ Thanh Ninh Thanh Hóa thừa tuyên Sau đời Lêtrung Hưng đổi tên gọi phủ Tỉnh Gia, được ít lâu lại đổi theo tên này TriềuNguyễn vẫn giữ nguyên cũ

Năm Minh Mệnh thứ 2 (1821) có sửa đổi một số tên gọi một số địadanh hành chính sau: Thôn Loan đổi thành thôn Trường Loan; Thôn ThápBến đổi thành thôn Ngọc Tháp; Thôn Bãi Đông đổi thành thôn Đông Chu;Thôn Táo Nông đổi thành xã An Nông; Thôn Đồn Xã, Vạn Đồn, tổng VạnĐồn đổi thành thôn Tùng Thiện, xã Vạn Thiện, tổng Vạn Thiện; Thôn Chómđổi thành thôn Tập Cát; thôn Giai Bến đổi thành thôn Giai Trí; Thôn Đồng Ỷđổi thành thôn Đồng Kỳ; Thôn Đồng Nương xã Triều ban đổi thành thônĐồng Lương xã Thanh Ban; Thôn Triều Ban đổi thành thôn Thanh Ban; ThônĐồng Trong đổi thành thôn Thanh Điền; Thôn Quần Triều đổi thành thôn HòaTriều; Thôn Mang đổi thành thôn Hương Duẩn; Thôn Ngã Ba Xuyết đổithành thôn Ngọc Xuyết; Phường Ngã Ba Mộc đổi thành phường Huy Mặc

Trải qua các triều vua Nguyễn từ sau Minh Mạng (1840), địa lý hànhchính Nông Cống có nhiều thay đổi như năm Minh Mạng thứ 18 cắt TổngNhư Lăng cho Châu Thường Xuân Năm 19 lại chia 3 tổng Cổ Định, VạnThiện và Cao Xá ra làm 6 tổng Nguyên trước tất cả là 12 tổng

Năm Thành Thái thứ năm (năm 1893), cắt hai tổng Du Xuân và LãngLăng của huyện Nông Cống để đặt ra Châu Như Xuân - ngày nay là hai huyệnNhư Xuân và Như Thanh Hiện nay còn lãnh 10 tổng, 189 xã thôn Các tổngcủa Nông Cống thời kì này gồm 12 tổng là: tổng Cổ Định tổng Lai Triều,

Trang 36

tổng Đồng Xá, tổng Cao Xá, tổng Lân Du, tổng Yên Định, tổng Đô Xá, tổngLãng Lăng, tổng Vă Xá, tổng Lạc Thiện, tổng Vạn Thiện và 189 xã thôn.

Theo Đồng Khánh địa dư chí đến cuối thế kỷ XIX huyện Nông Cống

có 12 tổng gồm 221 xã, thôn, tộc, sở, trang, giáp, ấp:

Tổng Cổ Định: có 25 xã, thôn, tộc, sở; xã Cổ Định, xã Tử Nê (thôn

Côn Minh, thôn Yên Quả), xã Thanh Hà (thôn Đông, thôn Ti, thôn ĐôngBằng Thượng, thôn Đông Bằng Trị, thôn Lương Mông, thôn Đống Cải), xãĐội Trượng (thôn Nhiễn, thôn Lai, thôn Cầu, thôn Vinh, Tộc Thái Bằng, thônNhân Mỹ, thôn Bình Doãn), xã Tuy An (thôn Tuy An, thôn Thừa Bình), xãTrường Lộc (thôn Thổ Sơn, thôn Ngọc Uyên, thôn Trinh Khiết), xã ĐìnhHương (thôn Thanh Y, thôn Sở Tinh Mễ, thôn Cương Trung, thôn Nhân Mỹ)

Tổng Đồng Xá: có 21 xã, thôn, trang; xã Đồng Xá, xã Xuân Sơn, xã

Thanh Xá, xã Nha Lộc, xã Đa Lộc (thôn Hương Duẫn, thôn Vân Du), xãNiệm Thượng (thôn Trung, thôn Trường, thôn Niệm), xã Nga Mi (thôn Phố,thôn Nha, thôn Thượng, thôn Trung, thôn Mỹ), xã Cam Lộ (thôn Hòa Triêu,thôn Cầu Trúc, thôn Quần Thanh, thôn Quần Nham), xã Lộc Trạch, xã LộcNham, xã Trang Mỹ

Tổng Yên Định: có 20 xã, thôn, tộc, ấp; xã Yên Định (thôn Lễ Động,

thôn Yên Định, Tộc Lễ Động), xã Trạm Lộ (thôn Thượng, thôn Độ, thônChùa, thôn Hạ), xã Hà Liên, xã Hà Mi (thôn Miêu Nha, thôn Vĩnh Trù, thôn

Đô Trình, thôn Quần Hậu), xã Vân Cổn, xã Vĩnh Khê, xã Yên Hòa, xã ĐăngCốc, xã Tào Lâm, xã Hương Khê (ấp Liên Khê, ấp Dược Khê)

Tổng Đô Xá: có 11 xã, thôn; xã Đô Xá (thôn Đô Trang), xã Bồ Hà, xã

Bất Căng, xã Thiều Xá, xã Sơn Hà, xã Thiết Cương, xã Cẩm Xá, xã QuãngChỉ, xã Mai Xá, xã Tiên Mộc

Trang 37

Tổng Lai Triều: có 13 xã, thôn; xã Lai Triều, xã Mộc Cổ, xã Mỹ

Phong, xã Diễn Ngoại, xã Diễn Nội, xã Trị Nội, xã Di Kiên, xã Sơn Trang, xãThu Vi, xã Vĩnh Gia (thôn Phu, thôn Sơn Phú), xã Vĩnh Gia Cầu, xã Chu Tử

Tổng Lân Du: có 7 xã; xã Lân Du, xã Xuân Hòa, xã Mậu Lâm, xã An

Cư, xã Thuần Quang, xã Vĩnh Khang, xã Phượng Nghi

Tổng Lãng Lăng: có 5 xã; xã Mi Dã, xã Trại Sơn, xã Đôn Cáo, xã

Lương Dụ, xã Yên Thái

Tổng Văn Xá: có 28 xã, thôn, giáp; xã Châu Xuyết (thôn Sở, thôn

Chợ, thôn Tiền Lạc Bình, thôn Thanh Liêm, thôn An Mỗ, thôn Thượng,thôn Tống Công, thôn Nham Cát, thôn Hồi Cù), xã Nhân Võng (thôn BáiĐao, thôn An Thái, thôn Giáp Đoài, thôn Ngọ Vực, thôn Thanh Tháp, thônBái Trung, thôn Bình An, thôn Thổ Ngõa), xã Trang Liệt (thôn ĐạtThượng), xã Cổ Đôi (thôn Yên Nội, thôn Cao Hậu, thôn Tiên, thôn ThápTrung, thôn Ngọc Tháp)

Tổng Cao xá: có 23 xã, thôn; xã Cao Xá, xã Thổ Giá (thôn Yên

thượng, thôn Mai, thôn Thổ Vị), xã thổ Xá (thôn Sơn), xã Cung Điền, xã Tế

Độ, xã Hương Phấn (thôn Trường Thọ, thôn Hương Phấn), xã Trường Quang(thôn Sài, thôn Nga, thôn Tiền, thôn Thượng), xã Nghĩa Trai (thôn An Quả,thôn Thịnh Lạc, thôn Quan Hoạch, thôn An Cách, thôn Hà Khẩu), xã SơnTrai (thôn Tiền Hậu, thôn Ba Tiêu, thôn Sương, thôn Trường Loan, thôn TiênLược, thôn Hương), xã Côn Cư, xã An Nông

Tổng Lạc Thiện: có 20 xã, thôn, sở; xã Thượng Vấn (thôn Đông, thôn

Đoài), xã Thượng Du (thôn Đông, thôn Phú Thọ), xã Ốc Thổ (thôn Ngư, thônỐc), xã Ốc Sa, xã Bạch Liên (thôn Phú Đa, thôn Hương, thôn Luật, xã CựPhú, xã Giải Trãi, xã Ổn Lâm, xã Thanh Đồng, xã Yên Ổn, xã Lộc Tuy, xã

Tứ Ti Tinh Mễ (thôn Hậu Áng, thôn Đồng Môn, thôn Đồng Kỳ), Sở Ốc Thổ

Trang 38

Tổng Vạn Thiện: có 23 xã, thôn; xã Vạn Thiện (thôn Phú Bản, thôn

Tập Cát, thôn Tòng Thiện, thôn Chợ), xã Mật Quang (thôn Mật, thôn Mỹ), xãNgọ Xá (thôn Thái, thôn Ngọ, thôn Xa Lý), xã Chu Căn (thôn Miêu Nha), xãChu Côn (thôn Quần Bối), xã Vạn Khê (thôn Chợ), xã Vạn Thắng (thôn DuThượng, thôn Du Hạ), xã Thanh Ban (thôn Thanh Ban, thôn Thanh Điền, thônSơn Na, thôn Đa Căng, thôn Bái, thôn Đồng Lương), xã Lai Vực, xã ThọVực, thôn Đồng Trụ

Tổng La Miệt: có 22 xã, thôn; xã La Miết (thôn Bạch Bào, thôn

Trường, thôn Đoài), xã Lê Xá (thôn Đông), xã Ngọc Uyển, xã Thanh Bôi, xãPhú Trạch, xã Ngọc Trẫm, xã Bái Hạ, xã Bái Thượng, xã Cự Lăng (thônLăng, thôn Cự Thịnh, thôn Ban), xã Quãng Lăng (thôn Xa Lý, thôn CựThắng, thôn Sơn Hậu, thôn Quần Ngọc), xã Phú Cẩm (thôn Cự Thắng), xãChân Nho, xã Châu An, xã Thiết Sơn

Từ sau đời vua Đồng Khánh (1885 - 1888), công việc quản lý đất nước,bảo vệ lãnh thổ và dân cư của bộ máy nhà nước, trong đó cấp tỉnh, phủ,huyện, châu, các vua Thành Thái và Duy Tân đã tiếp tục có những cải cáchhành chính quan trọng, cấp tổng và xã thôn là đơn vị hành chính cơ sở đượcnhà nước đặc biệt quan tâm

Cho đến thời Duy Tân (1907- 1917) đến trước cách mạng Tháng Támnăm 1945, Nông Cống có 202 làng chia thành 10 tổng Việc chia thành 10tổng như sau: Cắt một số làng của tổng Cổ Định thành lập tổng Hữu Định; cắtmột số làng của tổng Cao Xá thành lập thêm tổng Cao Xá; cắt một số làng củatổng Vạn Đồn lập thêm tổng Lạc Thiện 10 tổng của Nông Cống lúc này là:Văn Xá, Cao Xá, La Miệt, Vạn Đồn và Lạc Thiện là các tổng phía nam củahuyện Nông Cống; Đô Xá, Cổ Định, Hữu Định, Lai Triều là các tỉnh phía bắchuyện Nông Cống Trong nhân dân, dùng chữ đầu của các tổng phía Nam vàphía Bắc đặt 2 vế đối nhau để dễ nhớ là:

Trang 39

Văn - Cao - La - Vạn - Lạc

Đô - Đồng - Cổ - Hữu - Lai

Bảng 1.1 Thống kê các tổng của Nông Cống năm 1908

dưới thời vua Duy Tân Số

TT Tên tổng

Số làng

Suất đinh

Ruộng (mẫu)

Đất

1 Tổng Đô Xá 11 401 1902 1051 Suất đinh: Nam từ 18 tuổi

trở lênRuộng: lúa, hoa màuMẫu, sào

1 mẫu =10 sào, 1 sào 15thước

1 thước khoảng 32m2

1 sào khoảng 500m2Đất: Gồm đất làm nhà ở vàvườn cây, ao cá

áp, các đơn vị hành chính 10 tổng và 202 làng của huyện Nông Cống có

sự thay đổi ít nhiều Đặc biệt, sự thiết lập đồn điền Ngọc Chẩm và đồnđiền Yên Mỹ cùng một số trại, ấp do các điền chủ lập ra cũng ảnh hưởngđến bản đồ địa lý hành chính huyện Nông Cống Tình trạng đó tồn tại chotới Cách mạng Tháng Tám

Về Huyện Lỵ: “Sách Đại Nam Nhất Thống Chí”, chép: “Lỵ sở huyệnNông Cống ở thôn Tống Công xã Châu Chuế” Thôn Tống Công nay thuộc xãTrung Chính nằm trong vùng Cầu Quan cùng với các thôn Bi Kiều, Sở Thôn

“Bia Cầu Quan” có ghi: vùng này từ xưa đã rất sầm uất, trên bến dưới thuyền,vào đầu thời Lê Trung Hưng, Trịnh Tùng đã tự bỏ tiền xây dựng cầu kiên cố,

Trang 40

đường xá thông thương tiện lợi Huyện lỵ Nông Cống ở Tống Công (tức CầuQuan) nổi tiếng khắp nơi.

Cầu Quan vui lắm ai ơi

Có hòn bia dựng, có đôi cung đường.

“Hòn bia dựng” tức bia Cầu Quan, còn “đôi cung đường” là nơi phủ lỵ,một bên là huyện lỵ, cạnh đó là “đồn Bang Tá” Có thể nói huyện lỵ NôngCống đóng ở Tống Công - Cầu Quan từ rất xưa

1.1.3 Tình hình dân cư huyện Nông Cống trước năm 1945

Thanh Hóa là một điểm quan trọng trong quá trình hình thành và tụđiểm dân cư của người Việt cổ Các địa danh mang dấu tích của người Việt cổcách ngày nay hàng vạn năm như núi Đọ (Thiệu Hóa) thuộc thời đại đồ đá cũ,hang Làng Tráng, Mái Đá Điều (Bá Thước) thuộc thời đại đồ đá cũ, HangCon Moong (Thạch Thành) thuộc thời đại đồ đá mới cho đến các địa điểmhậu kì đồ đá mới ở Đa Bút, Đa Lộc… từ đó cho thấy con đường hình thànhngười Việt cổ ở Thanh Hóa là dọc theo sông Mã tiến về suôi, ra đến tận biểnĐông vùng Hoàng Hóa, Hậu Lộc Cũng từ Hang Làng Tráng (Bá Thước)người Việt cổ tiến về phía Tây Nam để tỏa xuống vùng Lang Chánh, ThườngXuân (là một phần đơn vị hành chính của Nông Cống cũ), chiếm lĩnh vùngđồng bằng phía nam Thanh Hóa kết hợp với con đường phát triển của ngườiViệt cổ từ phía Trường Sơn (Nghệ An) tiến ra Bắc…

Căn cứ vào nguồn tài liệu khảo cổ học những năm gần đây đã phát hiện

và tìm thấy trên mãnh đất Nông Cống nhiều di chỉ và hiện vật của người xưanhư: Một số dụng cụ đồ đá (rìu đá, hòn đá, hộp đá); Đồ gốm dưới chân núiHoàng Sơn (vùng Nham Cát) đào được nhiều loại gốm thon, có hoa văn như

vò, mảnh nồi đất, mảnh sành… và có cả mảnh sứ Hiện vật được tập trungdưới dòng sông Hoàng, trên bãi đất, bờ sông; Đồ đồng phát hiện được 5 trốngđồng ở Yên Lai (Trường Giang), ở Hoàng Sơn, ở Tân Khang Đây là nhữngtrống đồng có niên đại sớm với hoa văn đặc sắc, những hình người hóa trang

Ngày đăng: 22/01/2016, 14:42

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.2. Thống kê, thôn, xóm, làng của 15 xã - Sự thay đổi địa giới hành chính và dân cư ở huyện nông cống tỉnh thanh hóa từ năm 1945 đến năm 2014
Bảng 1.2. Thống kê, thôn, xóm, làng của 15 xã (Trang 51)
Bảng 2.2. Thống kê diện tích đất theo đơn vị hành chính - Sự thay đổi địa giới hành chính và dân cư ở huyện nông cống tỉnh thanh hóa từ năm 1945 đến năm 2014
Bảng 2.2. Thống kê diện tích đất theo đơn vị hành chính (Trang 76)
Bảng 2.7. Tổng hợp diện tích, dân số, mật độ dân số huyện Nông Cống - Sự thay đổi địa giới hành chính và dân cư ở huyện nông cống tỉnh thanh hóa từ năm 1945 đến năm 2014
Bảng 2.7. Tổng hợp diện tích, dân số, mật độ dân số huyện Nông Cống (Trang 86)
Bảng 2.9. Lao động huyện Nông Cống làm việc trong các - Sự thay đổi địa giới hành chính và dân cư ở huyện nông cống tỉnh thanh hóa từ năm 1945 đến năm 2014
Bảng 2.9. Lao động huyện Nông Cống làm việc trong các (Trang 89)
Bảng 2.10 Thống kê dân cư ở huyện Nông Cống năm 2014 - Sự thay đổi địa giới hành chính và dân cư ở huyện nông cống tỉnh thanh hóa từ năm 1945 đến năm 2014
Bảng 2.10 Thống kê dân cư ở huyện Nông Cống năm 2014 (Trang 90)
Bảng 2.11. Thống kê tình hình dân cư ở huyện Nông Cống - Sự thay đổi địa giới hành chính và dân cư ở huyện nông cống tỉnh thanh hóa từ năm 1945 đến năm 2014
Bảng 2.11. Thống kê tình hình dân cư ở huyện Nông Cống (Trang 91)
Bảng 3.1. Bảng tổng hợp sản lượng lương thực bình quân của huyện - Sự thay đổi địa giới hành chính và dân cư ở huyện nông cống tỉnh thanh hóa từ năm 1945 đến năm 2014
Bảng 3.1. Bảng tổng hợp sản lượng lương thực bình quân của huyện (Trang 99)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w