Tài liệu có nhiều bài làm văn được làm trong quá trình ôn luyện văn nâng cao, các bài văn được xây dựng theo đúng dàn bài chung của văn phân tích, ý tứ câu văn rõ ràng, mạch lạc, có nhiều dẫn chứng phù hợp, thể hiện một cách nhìn đa dạng, nhiều chiều về tác phẩm, phong cách tác giả và các nhận định của các tác gia khác về tác giả. Tài liệu thích hợp cho các học sinh đang học trung học phổ thông và ôn thi Đại học Cao đẳng.
Trang 1MỘT SỐ ĐỀ LÀM VĂN NÂNG CAO TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN LỚP 11
ĐỀ 1: Bàn về thơ Xuân Diệu cho rằng thơ là hiện thực, thơ là cuộc đời, thơ còn là thơ nữa, em hãy phân tích và làm sáng tỏ ý kiến trên qua bài thơ Vội Vàng của Xuân Diệu.
Đối với người yêu thơ Xuân Diệu, thi sĩ họ Ngô là nhà thơ của lòng đam
mê nồng cháy, của tình yêu cuồng si đối với cuộc đời, một con người muốn được giaocảm, giao hoà hết mình cùng tạo vật Đối với ông, “thơ là hiện thực, là cuộc đời, thơ còn
là thơ nữa” Và “Vội vàng” tuy không là bài thơ hay nhất nhưng kết tinh nhiều nhấtnhững tư tưởng nghệ thuật của ông
Trong thơ ca trung đại, nổi bật là tính phi ngã, cái tôi trữ tình luôn phải ẩnnáu sau những hình tượng thiên nhiên Trong khi đó, Xuân Diệu lại bộc lộ ý thức cá nhân
ấy một cách thẳng thắn và táo bạo:
“Tôi muốn tắt nắng đi,
Cho màu đừng nhạt mất
Tôi muốn gió lại,
Cho hương đừng bay đi.”…
Nói Xuân Diệu là nhà thơ mới nhất trong các nhà Thơ mới, quả danh phong khôngsai Khổ thơ năm chữ duy nhất trong cả bài như làm nên nhịp thở gấp gáp về sự hối hảmuốn tận hưởng hương sắc của cuộc đời, của tuổi tẻ và của tình yêu Từ những thamvọng muốn “tắt nắng”, “buộc gió” thể hiện tình yêu đời, yêu cuộc sống, yêu thiên nhiêncủa ông mạnh mẽ đến nhường nào, cuồng nhiệt đến táo bạo Ước muốn níu giữ thời gian,chặn lối tuần hoàn, đảo ngược quy luật tự nhiên, phải chăng ông muốn đoạt quyền củatạo hóa Những ham muốn cứ ngỡ quá đáng, vô lí lại làm nên nét riêng, nét lãng mạntrong thơ của ông khi muốn sống thật, sống chân thành, sống cho riêng mình Nếu nhưtrong tư tưởng các thi sĩ ngày trước, nơi đẹp đẽ, hạnh phúc nhất, đạt đến điểm cao hưởngthụ là chốn bồng lai tiên cảnh, thì đối với Xuân Diệu, thiên đàng chính là cuộc sống nàyđây, là tất cả những hương sắc tươi trẻ, mới mẻ, non tơ và căng mọng nhựa sống của đấttrời màu xuân
“Của ong bướm này đây tuần tháng mật
Này đây hoa của đồng nội xanh rì
Trang 2Này đây lá của cành tơ phơ phất
Của yến anh này đây khúc tình si
Và này đây ánh sáng chợp hàng mi
Mỗi buổi sớm thần Vui hằng gõ cửa
Tháng giêng ngon như một cặp môi gần.”
Một loạt bốn từ “này đây” gợi lên sự điểm trỏ về những gì thiên nhiên đang sởhữu, tất cả những tinh túy của đất trời “tuần tháng mật”, “đồng nội xanh rì”, “cành tơ”,
“yến anh…khúc tình si” Thiên nhiên mùa xuân hiện lên trong bộ cánh lộng lẫy, trànngập tình yêu, sự giao hòa của tạo vật, muôn loài Có người từng nói rằng: “Xuân Diệusay đắm với tình yêu và hăng hái với mùa xuân, thả mình bơi trong ánh nắng, rung độngvới bướm chim, chất đầy trong tim mây trời thanh sắc” Quả thật, chốn bồng lai tiên cảnh
hư ảo sao sánh bằng mây cỏ, chim muôn, hoa lá hữu hình lúc tươi mới mơn mởn nơi trầnthế, nhân gian
“Và này đây” khát khao giao cảm dường như đến tham lam Đối với Xuân Diệu,thiên nhiên không còn là chuẩn mực của cái đẹp như trong thơ trung đại nữa, thiên nhiênchỉ đẹp khi mang dáng dấp con người độ tuổi thanh xuân, đặc biệt là hình hài cô thiếu nữkhi tràn ngập sự tươi mới, trẻ trung và căng tràn nhựa sống Cách so sánh giữa ánh sángvới hàng mi của một đôi mắt đẹp tưởng chừng không cân xứng nhưng lại tạo nên nét độcđáo, cụ thể hóa cái trừu tượng thành một thứ hữu hình có thể sờ, có thể ngắm và có thểđặt lên ấy một nụ hôn Một ngày mới chưa bao giờ tuyệt vời đến như vậy khi có một vịthần ghé thăm, mỗi ngày trôi qua sẽ chẳng là gì khi cuộc sống con người trôi qua màkhông có niềm vui Một triết lí nhân sinh được tác giả nhẹ nhàng gửi trọn vào trái timnhững con người trần tục Và một tháng được xem là đẹp nhất trong mười hai tháng củamột năm lại được cụ thể hóa thật táo bạo bằng “một cặp môi gần” với động từ “ngon”.Thiên nhiên được ví như một cô thiếu nữ tuổi độ trăng tròn tràn đầy xuân sắc với nétcuống hút mãnh liệt, không gian hữu tình như gợi mở hấp dẫn kì lạ, sự rung động nhụcthể trước những vẻ đẹp quá tưởng, tuyệt vời
Thi pháp hiện đại đã chắp cho những cảm giác mới mẻ của Xuân Diệu, giúp chonhà thơ diễn tả được trọn vẹn trạng thái hồn nhiên, mơ hồ trước cái sắc xuân của cảnhvật, muôn loài bằng tất cả những giác quan từ nhiều góc độ để có thể cảm nhận hết sựquyến rũ, đắm say hồn người của vẻ đẹp ấy Đó không phải “thơ là hiện thực” sao Thiênđàng phải đâu xa xôi, mà chính ngay thế giới hữu hình, cuộc sống ta đang hòa theo từngnhịp thở hằng ngày Đang đắm mình trong hương trời mùa xuân ngọt ngào, mê mẩn trong
vẻ đẹp mơn mởn, say sưa trong khúc nhạc tình si, tâm hồn nhà thơ trỗi lên nỗi âu lo trước
Trang 3cái mong manh của xuân sắc sẽ phai tàn, sự đan xen hai luồng cảm xúc trái ngược là điềuthường gặp trong thơ tình Xuân Diệu
“Tôi sung sướng Nhưng vội vàng một nửa.”
Thường thì con người đến tuổi trung niên mới phải tiếc nuối thời thanh xuân củamình, nhưng lúc bấy gìơ, Xuân Diệu vẫn đang độ trẻ trung, sao ông lại phải “vội vàng”,
“Vì sao vậy?” Bởi với Xuân Diệu thì:
“Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua
Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già
Và xuân hết nghĩa là tôi cũng mất
Lòng tôi rộng nhưng lượng trời cứ chật
Không cho dài thời trẻ của nhân gian
Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hòan,
Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại
Còn trời đất, nhưng chẳng còn tôi mãi,
Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời;
Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi,
Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt
Con gió xinh thì thào trong lá biếc,
Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi?
Chim rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thi,
Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa?
Chẳng bao giờ, ôi! Chẳng bao giờ nữa.”
Lại một nét độc đáo trong thơ Xuân Diệu, sự so sánh dường như không tươngxứng, xuân “đương tới”= “đương qua”, “còn non” = “sẽ già” nhưng lại bổ khuyết chonhau, tạo nên một đẳng thức đặc biệt
Trang 4Biết rằng mùa xuân sẽ tuần hoàn, nhưng “tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại”, tác giảbâng khuâng, tiếc nuối Mối tương giao giữa cảnh vật và con người dường như quá màunhiệm,
“Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu
Người buồn cảnh có vui đâu bao gìơ.”
Thế nên trời đất cũng nhuốm màu buồn bã với những tính từ “chia phôi”, “thanthầm tiễn biệt”, “đứt”, ‘hờn”, “phai tàn” Đây chẳng phải “thơ là cuộc đời” sao, là thực tế,
sự thật buộc phải chấp nhận
Con người hiện đại với suy nghĩ thời gian là một dòng chảy ào ạt, hối hả, mỗi phútgiây trôi qua là mất đi vĩnh viễn, không bao giờ có thể níu lại được Vì thế, cách giảiquyết tốt nhất là hãy tăng tốc độ nhịp sống của mình lên, Xuân Diệu đã đưa ra mộtphương hướng xem ra quá hợp thời, đầy hiện đại, hoàn toàn ngược lại với triết lí sốngnhàn, sống chậm của thời trước
“Đi đâu mà vội mà vàng
Mà vấp phải đá, mà quàng phải dây.”
Đối với Xuân Diệu chỉ có thể sống nhanh, sống gấp mới có thể tận hưởng hết tuổitrẻ, tình yêu và cuộc sống mà không phải hối tiếc một thời đã qua:
“Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm,"
Ta muốn ôm
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn;
Ta muốn riết mây đưa và gió lượn,
Ta muốn say cánh bướm với tình yêu,
Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều
Và non nước, và cây, và cỏ rạng,
Cho chuếnh choáng mùi hương, cho đã đầy ánh sáng,
Cho no nê thanh sắc của thời tươi;
- Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!”
Trang 5Ba chữ “ta muốn ôm” mô phỏng hình ảnh nhân vật trữ tình đang dang rộng vòngtay để ôm tất cả sự sống lúc xuân thì - sự sống giữa thời tươi vào lòng Đó là chân dungcái tôi trữ tình tham lam muốn “ôm”, muốn “riết”, muốn “say”, muốn “thâu” tất cả cảnhsắc thời tươi cho đến tận “chuếnh choáng”, “đã đầy”, “no nê” Đây quả là một khát khao
vô cùng lớn lao, tuyệt đỉnh, tiêu biểu cho thơ Xuân Diệu
Điệp từ, điệp ngữ được sử dụng với tần số dày đặc trong cả đoạn thơ tiêu biểu chonhịp điệu dồn dập, đầy nhiệt huyết, đắm say và cảm xúc trào dâng mãnh liệt Tạo thànhmột dòng cảm xúc dào dạt, cuồn cuộn, dữ dội và không gì ngăn được Câu cuối cùng kếtthúc bài thơ: “Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi!” Khát khao ấy đã lên đến đỉnhđiểm, sự tham lam ấy đã lên đến tột cùng, sự chuyển đổi cảm giác, biến thứ vô hình thànhmột thứ trái ngọt có thể sờ, cảm nhận và “cắn” được Sự cụ thể hóa mùa xuân đã làm nênnét thú vị và độc đáo cho bài thơ
Thơ Xuân Diệu thật mới mẻ, phóng khoáng, mang những luồn suy nghĩ thật táobạo với những cảm nhận thật tinh vi độ không thể hơn được nữa Chính Xuân Diệu đãlàm nên nét riêng cho thơ của mình Và cũng từ ông ta nhận ra rằng “thơ chỉ là thơ” thôi,không gì có thể so sánh, có thể đo lường hay định nghĩa
Xuân Diệu là nhà thơ đã có những đóng góp vô cùng to lớn trong nền vănhọc nước nhà kể cả hai thời kì trước và sau Cách mạng tháng Tám Ông đã làm mới làngthơ Việt Nam bằng những cảm nhận thật mới mẻ, tinh vi, bằng những cách tân nghệ thuậtđầy táo bạo, và bằng cái tôi trữ tình vừa lạ lại vừa quen Và cũng không quên rút chomình những nhận xét xác đáng về thơ từ những luồng cảm hứng của ông: “Thơ là hiệnthực, thơ là cuộc đời, thơ còn là thơ nữa.”
ĐỀ 2: Lê Quý Đôn “Thơ phát khởi từ trong lòng người ta”, còn Ngô Thì Nhậm thì nhấn mạnh: “Hãy xúc động hồn thơ cho ngọn bút có thần” Từ những ý kiến ấy em hãy nêu lên vai trò của tình cảm trong thơ.
Bài làm
Từ thuở lịch sử con người bắt đầu viết những nét bút đầu tiên, thơ ca đãcũng hình thành, trước tiên là sự xuất hiện của âm nhạc, rồi đến các tác phẩm văn thơkhai khởi Đến ngày nay nền văn học đã phát triển đến trình độ tinh vi, chức năng tái hiệnlại hiện thực khách quan, sao chép, miêu tả những sự việc bên ngoài, đánh dấu các sựkiện xã hội không còn giữ vai trò độc tôn nữa, mà thay vào đó là không gian vô hạn đểlưu trữ cảm xúc, tải đạo lí và giáo dục con người Trong đó, thơ được xem là một thể loạivăn học phổ biến và tiêu biểu cho chức năng trữ tình của thơ ca Với tư tưởng tiến bộ,nhà bác học Lê Quý Đôn cho rằng: “Thơ phát khởi từ trong lòng người ta” còn Ngô Thì
Trang 6Nhậm thì nhấn mạnh: “Hãy xúc động hồn thơ cho ngọn bút có thần” là những nhận địnhsống động về tầm quan trọng của tình cảm trong thơ.
Cảm xúc đóng một vai trò tất yếu trong cuộc sống của mỗi con người, tìnhcảm dù là yêu hay ghét, buồn hay vui, đau khổ hay hạnh phúc, chúng cũng đều rất đặcbiệt, duy nhất và không thể thay thế Và lại càng đóng một vai trò đặc biệt quan trọnghơn nữa trong thơ, bởi thơ thuộc loại hình văn học trữ tình chứa đựng những tình cảm,cảm xúc nên yếu tố cơ bản của thơ ca là tình cảm “Thơ là thỏa thuận giữa niềm vui, nỗiđau và băn khoăn, với một dấu gạch ngang của từ điển”(Kahlil Gibran ) Không nhữngthế thơ còn là một tấm gương phản chiếu hiện thực cuộc sống thông qua cái nhìn chủquan của tác giả và nhân vật trữ tình trong thơ không phải là nhân vật hoạt động như cácthể loại tự sự mà chủ thể là tâm tư, trạng thái tình cảm của nhân vật:
“Từ ấy trong tôi bừng nắng hạMặt trời chân lí chói qua tim”
(Tố Hữu – Từ ấy)Bởi thơ là một dòng chảy dào dạt của tâm hồn: “Thơ tràn ra tự phát khi cảm xúcdâng cao Nó bắt nguồn từ sự hồi tưởng trong yên tĩnh, cảm xúc dự tính sẽ đến nhờ mộtphản ứng Từ đó, sự yên tĩnh dần biến mất và một cảm xúc đồng điệu với sự chiêmnghiệm ra đời.”(William Wordsworth) Nên chỉ khi nào cảm hứng thật sự mạnh mẽ thìmới có thơ: “Thơ phát khởi từ trong lòng người ta” Thật sự rung động trước vẻ đẹp củathiên nhiên, Xuân Diệu mới có thể thốt lên những vần thơ xuất thần đến vậy: “ThángGiêng ngon như một cặp môi gần”, cũng như lòng Nguyễn Bính phải ngập tràn nỗi nhớmong, thổn thức thì “Tương tư” mới có thể ra đời:
“Ngày qua ngày lại qua ngày,
Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng.”
Thơ không chỉ là sự độc quyền của tình cảm, đó là sự kết hợp hài hòa giữa cảmxúc và nhận thức, tư tưởng của nhà thơ Từ đó bộc lộ những quan điểm, thái độ trước conngười và cuộc đời thông qua hình tượng được xây dựng bằng cảm xúc trữ tình của ngườinghệ sĩ làm nên tác phẩm văn chương nghệ thuật muốn bày tỏ:
“Nó lại chúc nhau cái sự sangĐứa thời mua tước, đứa mua quanPhen này ông quyết đi buôn lọng
Trang 7Vừa bán vừa rao cũng đắt hàng”
(Tú Xương – Chúc nhau ngày tết)Qua những vần thơ dí dỏm, lời thơ hài hước, vui nhộn nhưng ẩn sau là thái độ phê phánmạnh mẽ thói đời giả dối, vạch trần những tâm lý xáo rỗng của con người Tú Xươngbằng sự tài hoa trong cách sử dụng các biện pháp nghệ thuật cùng việc chọn lọc từ ngữngắn gọn, hàm súc nhưng có tác dụng lên án mạnh mẽ những thói hư tật xấu của thời đại
Từ đó, có thể nhận ra rằng, tình cảm trong thơ không những thể hiện cảm giác tâm hồncủa nhà thơ mà còn giữ vai trò quan trọng trong việc đánh thức thiên lương của conngười khi dựng nên một tấm gương phản chiếu những góc khuất tối tăm của cuộc sống
Muốn có được những vần thơ hay tâm hồn nhà thơ phải đủ rộng để có thể chứa hếtkhoảng không của cảm xúc, phải thực sự yêu thương, trân trọng và gắn bó với cuộc sống,phải có những rung cảm tinh tế trước thế giới xung quanh dù là những hiện thực tưởngchừng tầm thường, vô nghĩa Chỉ cần một chén trôi nước cùng đủ tâm hồn Hồ XuânHương dâng lên niềm khát khao mãnh liệt về hạnh phúc lứa đôi và nỗi chán chườngtrước nghịch cảnh số phận
“Thân em vừa trắng lại vừa tròn
Ba chìm bảy nổi với nước non
Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn
Mà em vẫn giữ tấm lòng son”
(Bánh trôi nước)Không những mang giá trị điển hình cho số phận người phụ nữ, mà qua đó còn thể hiệntấm lòng thủy chung, bền chặt, vẹn nguyên của người phụ nữ, luôn mạnh mẽ dù trongmọi hoàn cảnh Điều đó làm nên giá trị nhân đạo cho tác phẩm, đồng thời khẳng định cáithiện trong thơ, gốc thiện làm cho thơ có tính giáo dục, cảm hóa con người, một chứcnăng quan trong của thơ: “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”(Nguyễn Du)
Tình cảm làm nên cái hồn cho thơ, nếu không có xúc cảm chân thành thìnhững nét bút cũng chỉ là những vần thơ vô tri, không giá trị: “Hãy xúc động hồn thơ chongọn bút có thần” Thơ là một cái gì đó vừa thiêng liêng vừa giản đơn, vừa to lớn lại bình
dị, gần gũi Thiêng liêng, to lớn bởi nó mang trách nhiệm cao cả là chở đạo, khơi dậythiên lương con người, mục đích cao cả, vĩ đại Giản đơn, gần gũi bởi nó kết tinh từnhững ngôn từ thân quen, mộc mạc cùng những biện pháp nghệ thuật phổ biến Nên:
“Thơ là những gì làm bạn khóc, cười, đau khổ, câm lặng, làm cho các móng chân của bạn
Trang 8lấp lánh, làm bạn muốn làm mọi điều hoặc chỉ ngồi yên một chỗ, khiến bạn thấy rằngmình cô độc trong thế giới, rằng hạnh phúc, khổ đau của riêng mình đã được mãi mãi sẻchia”(Dylan Thomas )
ĐỀ 3: Cái tôi cá nhân độc đáo, sâu sắc, một tình yêu cuộc sống mãnh liệt đã được xuân diệu thể hiện bằng những vần thơ cách tân độc đáo.
Bài làmĐầu thập niên 1930, văn hoáViệt Nam diễn ra một cuộc vận động đổimới thơ ca mạnh mẽ với sự xuất hiện một làn sóng thơ mới với cá tính sáng tác độc đáo.Cuộc cách tân này đi vào lịch sử văn học với tên gọi Phong trào Thơ mới Một trongnhững nhà thơ có đóng góp to lớn trong công cuộc cách mạng hóa nền thơ ca nước nhà:Xuân Diệu – một cái tôi cá nhân độc đáo, sâu sắc, một tình yêu cuộc sống mãnh liệt thểhiện bằng những vần thơ cách tân đầy táo bạo, mới mẻ Là nhà thơ tiêu biểu và “mới nhấttrong những nhà Thơ mới”, Xuân Diệu ý thức rất sâu sắc về cái tôi cá nhân, cái tôi ấy thểhiện qua nhiều phương diện, đôi khi ẩn náu thầm kín sau bức màn thế tục cũng có thểmồn một sáng tỏ bằng những vần thơ bộc bạch trực tiếp Dù ở trạng thái nào, thì cái tôi
ấy cũng được thể hiện vô cũng mạnh mẽ và độc đáo, làm nên nét riêng cho Thơ mới nóichung và thơ ông nói riêng
Cái tôi Xuân Diệu được thể hiện qua mối quan hệ gắn bó với đời Theoquan niệm của Xuân Diệu, đời được hiểu theo nghĩa trần thế nhất: là hoa, là lá, là trời đất,
…là những gì hiện diện trên chính mặt đất này, ngay chính trong tầm tay của ta, vì thếông phải sống hết mình với nó:
“Sống toàn tim, toàn trí, sống toàn hồn”
(Thanh niên)Đối với nhà thơ, được sống mãi với đời là niềm hạnh phúc tuyệt vời nhất và vănchương là cách tốt nhất để giao cảm với đời, để được sống mãi trên thế gian này đến vĩnhviễn mai sau:
“Hãy để cho tôi được giã từ
Vẫy chào cõi thực để vào hư
Trong hơi thở chót dâng trời đất
Cũng vẫn si tình đến ngất ngư”
Trang 9(Không đề)Đây là những vần thơ cuối cùng của ông trước khi vĩnh biệt cõi thiên đàng trần thế
để đến chốn thần tiên hư ảo Đối với ông, không có gì quý hơn mùa xuân, tình yêu vàtuổi trẻ Vì thế, ông dành cho chúng muôn vàn những tình cảm nồng nhiệt và cháy bỏngnhất, dù đến những giây phút cuối cùng của cuộc đời
Xuân Diệu được xem là ông Hoàng thơ tình khi cảm nhận và diễn tả những biếnthái tinh vi của cảm xúc tình yêu thật tinh tế Với ông, tình yêu là thứ tình cảm đòi hỏi vôbiên và tuyệt đứt, nghĩa là cao độ:
“Làm sao sống được mà ông yêu
Không nhớ, không thương một kẻ nào
Hãy đốt lòng ta trăm thứ lửa
Cho bừng tia mắt đọ tia sao”
(Tuổi nhỏ)Tình yêu ấy không nhỏ bé, ít ỏi, nó phải dữ dội, mãnh liệt, cuồn cuộn như cơnsóng, ào ào như bão tố, mưa sa và không gì ngăn nổi Đối với Xuân Diệu, tình yêu là sựgiao cảm đắm say, cuồng nhiệt từ linh hồn đến thể xác:
“Yêu như thế vần còn chưa đủ
Phải nói yêu đến trăm bận nghìn lần”
(Phải nói)Trong thơ ca xưa, thiên nhiên được xem là chuẩn mực của cái đẹp với những vívon trở thành ước lệ phổ biến: “làn thu thủy, nét xuân sơn”(Nguyễn Du – Truyện Kiều),mặt hoa, mài ngài,…Nhưng với Xuân Diệu mọi thứ đều đảo ngược Với ong, thiên nhiênchỉ đẹp khi mang dáng dấp con người, nhất là người phụ nữ đang độ xuân thì, trẻ trung vàtươi mát: “Lá liễu dài như một nét mi”, “Trăng vú mộng của muôn đời thi sĩ”, “ThángGiêng ngon như một cặp môi gần”, “Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi” Đây lànhững cách tân nghệ thuật mới mẻ, sáng tạo, độc đáo và táo bạo
Với những quan niệm nghệ thuật như thế đã tạo nên cho thế giới nghệ thuật củaXuân Diệu những hình tượng đầy sức sống và cảm xúc, những lí lẽ sống mới mẻ đến vôthường:
“Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối
Trang 10Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm”
(Giục giã)Nhà thơ muốn khẳng đinh cái tôi chói lọi và vô song Ẩn sau đó là nỗi sợ hãi phảihòa tan cái tôi cá nhân của mình trong biển người vô danh “mờ nhân ảnh”, thúc giụcniềm say mê hết cỡ, tình yêu tha thiết đến vô cùng và cống hiến đến hết mình, hưởng thụđến trọn vẹn
Nhưng đáp lại sự nhiệt tình giao cảm lại là cái ngoái đầu thờ ơ đến vô tình, nhữngphản ứng trái chiều khiến Xuân Diệu có đôi lúc như lạc lỏng, chơi vơi giữa cuộc đời quáđỗi nhộn nhịp:
“Người si muôn kiếp như hoa núi
“Ta là Một, là Riêng, là thứ Nhất
Không có ai bè bạn nổi cùng ta”
(Hi Mã Lạp Sơn)
Ta hiểu ra vì sao trong thế giới nghệ thuật của Xuân Diệu, mùa xuân và bình minh
đi liền với những chiều thu tàn và những đêm trăng lạnh, sự nồng nàn đi liền với cảmgiác bơ vơ, sự ham hố, vồ vập, tham lam đến tận cùng song hành cùng nhu cầu thoát li tất
Trang 11Những nét mới trong sáng tác của Xuân Diệu ít nhiều chịu ảnh hưởng của chủnghĩa trực giác phương Tây Theo quan niệm của chủ nghĩa này, thế giới là vô thể vì vậycác nhà thơ phải cảm nhận và diễn tả những thứ tưởng chừng như vô hình ấy bằng giácquan đặc biệt của thi sĩ: trực giác Vì vậy, các nhà thơ phải mài thật sắc những giác quancủa mình để có thể cảm nhận và biểu diễn hết tất cả, kể cả thứ gọi là vô hình như lòngngười:
“Sống toàn thân và thức nhọn giác quan”
(Thanh niên)
“Tôi biết lắm, trời ơi, tôi biết lắm!
Hỡi lòng dạ sâu xa như vực thẳm!”
(Dối trá)Ngỡ ngàng nhận ra một mối tình hoa bướm, nhân vật trữ tình tái tê, đau xót cả tâmcan hụt hẫng khi trông rõ lòng dạ người ta, tiếng than khóc nghe nao lòng não ruột
Thành công của Xuân Diệu không hoàn toàn học tập từ những thành tựu phongphú của thơ ca hiện đại phương Tây, mà đó là sự vận dụng những cách tân từ chủ nghĩatượng trưng cùng với nhiều sáng tạo cá nhân độc đáo Đó là cách lựa chọn hình ảnh mới
mẻ, từ ngữ giản dị nhưng giàu sức gợi và đầy tính tạo hình:
“Phất phơ hồn của bông hường Trong hơi phiêu bạt còn vương má hồng”
(Chiều)Hình ảnh như mơ hồ, hư ảo, nhưng lại gợi cảm xúc vấn vương, cái đẹp huyền ảo,kiêu sa, khơi dậy nỗi rung động vọng lên từ cõi lòng
Kết tinh giữa truyền thống tinh hoa dân tộc cùng tư tưởng cách tân mới mẻ từphương Tây hòa quyện ở một tâm hồn nghệ sĩ khát khao giao cảm với đời đã giúp XuânDiệu khám phá được nhiều biến thái tinh vi của nhiên nhiên cũng như nội tâm con người
và thể hiện trong những vần thơ “ít lời, nhiều ý, súc tích như đọng lại bao nhiêu tinhhoa”(Thế Lữ)
“Vô tâm – nhưng giữa bài thơ dịu
Anh với em như một cặp vần”
(Thơ Duyên)
Trang 12Xuân Diệu là một nhà thơ mới, với cái tôi cá nhân độc đáo, sâu sắc cùngmột tình yêu cuộc sống mãnh mẽ đến cuồng nhiệt, khát khao giao cảm không muốn chỉvới một người, mà là với hàng triệu tri âm, tri kỉ, ở mọi nơi, mọi thời, thuộc mọi loạingừơi khác nhau trên thế gian này Một tâm hồn to lớn như vậy thì ông không thể giamhãm mình chỉ trong thơ, mà còn nhiều thể văn khác nữa Và ở thể loại nào ông cũng gặthái được nhiều thành công nhất định, in sâu hình ảnh Xuân Diệu – một hồn thơ bao la,cảm hứng dào dạt, sôi nổi trong tình yêu và đắm say với đời./
ĐỀ 4: phân tích “Tràng Giang” – Huy Cận
Huy Cận là một trong những gương mặt tiêu biểu của phong trào Thơ mớiViệt Nam những năm 30 của thế kỉ XX Thơ Huy Cận hàm súc, giàu chất suy tưởng vàtriết lí nhân sinh sâu sắc Cảm nhận được nỗi buồn cô đơn trước vũ trụ rộng lớn, nỗi sầunhân thế, niềm khao khát hòa nhập với cuộc đời và tình cảm đối với quê hương đất nước,Huy Cận viết “Tràng Giang” Tác phẩm được xem là đặc sắc và làm lên dấu ấn cho thơHuy Cận
Nhan đề bài thơ là một từ Hán Việt, điều đó cũng có nghĩa là nó mang sắcthái trang trọng, cổ kính và khái quát, vô cùng thích hợp đề tài lí luận những vấn đề mangtính triết lí của tác phẩm, đưa tác phẩm nâng lên một tầm cao nghệ thuật ngay từ nhữngnét bút đầu tiên “Tràng giang” còn là một từ ghép điệp âm bởi được cấu tạo từ nguyên
âm dài nhất trong các nguyên âm Điều đó cho phép từ ngữ gợi không gian bao la, rộnglớn đến mênh mông, không bến bờ bởi ấn tượng về thanh âm đặc sắc Không những thế,
đề từ của bài thơ cũng đã phần nào dự báo cho người đọc về không gian bao trùm toàntác phẩm, không gian mang một âm điệu buồn: “Bâng khuâng trời rộng nhớ sônh dài”
Chỉ bấy nhiêu thôi, cánh cửa tâm hồn của nhà thơ đã được chiếc chìa khóa mangtên bức tranh sông nước bao la mở toang một cách nhẹ nhàng Điều ấy rất dễ hiểu, bởiHuy Cận là một nhà thơ của cảm hứng không gian Và trước không gian mênh mông ấy,nhà thơ đã thả hết những nỗi buồn chất chứa, những nỗi khắc khoải đè nặng cuốn theonhững đợt “sóng”:
“Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp
Con thuyền xuôi mái nước song song
Thuyền về nước lại sầu trăm ngả
Củi một cành khô lạc mấy dòng”
“Sóng” trên dòng trường giang không phải là sóng xô dào dạt, sóng vỗ miên man haysóng cuộn dữ dội, mà đấy là “sóng gợn”, một hình ảnh tĩnh hoàn toàn phù hợp và không