PHẦN MỞ ĐẦU 1.Sự cần thiết của đề tàiCho đến nay, tại Việt Nam cũng như các nước khác trên thế giới, lạmphát vẫn luôn là mối đe dọa thường xuyên đối với sự phát triển của nền kinh tế.Lạm
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU 1.Sự cần thiết của đề tài
Cho đến nay, tại Việt Nam cũng như các nước khác trên thế giới, lạmphát vẫn luôn là mối đe dọa thường xuyên đối với sự phát triển của nền kinh tế.Lạm phát làm sói mòn niềm tin của dân chúng vào các chính sách của chínhphủ, tăng khoảng cách giữa những người giàu và người nghèo trong xã hội,lạm phát ảnh hưởng đến việc phân bổ nguồn lực quốc gia, ảnh hưởng đến tăngtrưởng kinh tế và ổn định vĩ mô và an sinh xã hội Vì vậy mọi nền kinh tế luôntìm cách để hạn chế lạm phát, cũng là để hạn chế các ảnh hưởng tiêu cực do nómang lại Do lạm phát có nguyên nhân sâu xa là sự tăng cao của cung tiền đốivới nền kinh tế, nên các biện pháp mang tính dài hạn đều tập trung vào việc xâydựng cơ cấu kinh tế hợp lý, thực thi chính sách tiền tệ hiệu quả và chính sách tàikhóa bền vững.Việc sử dụng chính sách tiền tệ sao cho hợp lý cũng như việckết hợp nhuần nhuyễn giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa để có thểđem lại hiệu quả tối ưu trong việc hạn chế lạm phát là mối quan tâm của hầuhết các nền kinh tế
Tại Việt Nam, lạm phát một số năm gần đây có những biến động vôcùng phức tạp
2 Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu những vấn đề cơ bản, cốt lõi và bản chất của CSTT trênphương diện lý thuyết, cũng như những vấn đề cơ bản về lạm phát để từ đó thấy
rõ được tác động của CSTT tới kiểm soát lạm phát
- Nghiên cứu thực trạng điều hành CSTT của Việt Nam trong thời gianqua trong việc kiềm soát lạm phát và nguyên nhân lạm phát của Việt Nam, trên
cơ sở đó đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc sử dụng CSTTtrong kiểm soát lạm phát
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Đề tài tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận về chính sách tiền tệ, lạm phát.Bên cạnh đó là phân tích mối quan hệ của chính sách tài khóa và chính sách tiền
tệ để thấy được những nhân tố ảnh hưởng và tác động của hai chính sách này
Trang 2đối với nền kinh tế Việt Nam trong việc kiểm soát lạm phát từ năm 2005 6/2011.
-4.ý nghĩa khoa học và thực tiễn đề tài
Mặc dù vấn đề CSTT và lạm phát đã được nhiều tác giả nghiên cứu, song vớithực tế của Việt Nam khi mà lạm phát vẫn tiếp tục có xu hướng tăng cao thì việc hệthống hóa những vấn đề lý luận về CSTT và lạm phát, trên cơ sở đó soi dọi vào thực
tế Việt Nam, tìm ra những nguyên nhân căn bản của lạm phát và đề xuất những giảipháp về CSTT để kiểm soát lạm phát có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cao
5 Phương pháp nghiên cứu:
Ngoài phương pháp triết học duy vật biện chứng và lịch sử thường được sử dụngtrong nghiên cứu khoa học nói chung, trong phân tích định tính đề tài tập trung vàocác khía cạnh các nhân tố tác động trong điều kiện lịch sử cụ thể, trên cơ sở các lýthuyết kinh tế vĩ mô, tiền tệ và ngân hàng, sử dụng phương pháp nghiên cứu truyềnthống của khoa học kinh tế chính trị, phương pháp logic, phương pháp phân tích hệthống, phương pháp phân tích đối chiếu, phương pháp so sách, kết hợp lý luận vàthực tiễn
6 kết cấu của đề tài:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, Đề tài gồm 3 chương:
ChươngI: Lý luận về chính sách tiền tệ và kinh nghiệm sử dụng chính sách tiền tệnhằm kiểm soát lạm phát
Chương II : Thực trạng lạm phát và việc sử dụng chính sách tiền tệ nhằm kiểm soátlạm phát tại Việt Nam
Chương III Một số đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả của chính sách tiền tệ trong việckiểm soát lạm phát
Trang 3Phần hai : Nội dung
Chương I: Lý luận về chính sách tiền tệ và lạm phát
1.1- Một số vấn đề cơ bản về chính sách tiền tệ và lạm phát
1.1.1. Chính sách tiền tệ
1.1.1.1. Khái niệm và bản chất CSTT
Trong kinh tế học vĩ mô, CSTT được coi là một công cụ quản lý kinh tế
vĩ mô do NHTW thực hiện Bằng cách NHTW tác động đến cung ứng tiền(money supply) làm thay đổi cung ứng tiền để tác động đến lãi suất, từ đó ảnhhưởng đến chi tiêu của các khu vực nền kinh tế, cuối cùng CSTT có tác độngquan trọng đến GDP thực, GDP tiềm năng và lạm phát Như vậy có thể kháiquát quá trình hoạt động của CSTT, như là một quá trình được khởi đầu từnhững hành động của NHTW làm thay đổi cung tiền của toàn bộ nền kinh tế( hành động này chứa đựng ý muốn chủ quan của con người), và kết quả cuốicùng của hành động đó là tác động đến GDP ( thực và tiềm năng) và lạm phát.Thực tế cũng cho chúng ta thấy khi muốn tăng trưởng kinh tế chống suy thoái,NHTW có thể tăng cung tiền nhằm hạ lãi suất để thúc đẩy hoạt động kinh tế.Ngược lại, khi muốn hạn chế tăng trưởng kinh tế, giảm lạm phát NHTW đã tácđộng giảm cung tiền làm tăng lãi suất, giảm đầu tư
Hành động của NHTW không thể là một hành động tuỳ tiện, do vậy,CSTT phải là cách thức hay tổng thể các biện pháp, công cụ của NHTW nhằmgóp phần đạt được các mục tiêu của chính sách kinh tế, thông qua việc chiphối, điều tiết quá trình cung ứng tiền và tín dụng, tức là thông qua chi phốidòng chu chuyển tiền và khối lượng tiền
Vậy cung ứng tiền ở đây bao gồm những thành phần gì?
Khái niệm tiền tệ theo quan điểm của các nhà kinh tế học hiện đại, tiền
tệ đó là bất cứ cái gì được chấp nhận chung trong thanh toán để nhận hàng hoá
Trang 4hoặc dịch vụ hoặc trong việc trả nợ Theo khái niệm đó, tiền tệ đề cập ở đâyđược hiểu theo nghĩa rộng, không phải chỉ là “tiền mặt” đơn thuần, mà là “cung ứng tiền” Cấu thành của cung ứng tiền được NHTW các nước đúc kếtqua quá trình tiến hoá của tiền tệ, đến nay gồm:
- Tiền hẹp ( M1- còn gọi là tiền giao dịch, tiền có thể thanh toán ngay),gồm: tiền mặt trong lưu thông + tiền gửi không kỳ hạn của các NHTM
- Tiền rộng( M2- còn gọi là tiền “tài sản”), gồm: M1+ tiền gửi có kỳhạn gửi tại các NHTM + tiền gửi ngoại tệ ( không và có kỳ hạn) + số
dư tài khoản các chứng từ có giá do ngân hàng phát hành
- ở một số nước thị trường tài chính phát triển cơ cấu tiền rộng cònphức tạp hơn, có thể phân thành M3, M4 v.v
Tiền tệ theo nghĩa rộng( cung ứng tiền) như trên có ảnh hưởng lờn đốivới đời sống kinh tế, xã hội Các nhà kinh tế học như Mác và sau Mác nhưFriedman, Keynes, Fisher đã cho ta thấy tiền tệ gắn liền với những thay đổitrong các biến số kinh tế (sản lượng, việc làm, giá cả) Những thay đổi trongcác biến số đó ảnh hướng toàn bộ đến đời sống kinh tế, xã hội Chính vì vậyvấn đề quản lý tiền tệ đã được đặt ra Ngân hàng trung ương (NHTW) đượchình thành từ những cuộc hoảng loạn tiền tệ và ngân hàng xảy ra trong nhữngnăm đầu của thế kỷ 19, từ đó đến nay các quốc gia đều có NHTW với tư cách
là cơ quan quản lý tiền tệ cuả quốc gia - cơ quan duy nhất phát hành tiền, làngân hàng của các NH và gánh vác nhiệm vụ quan trọng là xây dựng và thựcthi CSTT nhắm đảm bảo sự ổn định hệ thống tiền tệ, hệ thống NH
Có thể nói CSTT là một trong những vấn đề hấp dẫn nhất, quan trọngnhất và gây nhiều tranh cãi nhất trong kinh tế học vĩ mô vì tính chất đa dạng của
nó Tuy điều hành CSTT rất khác nhau giữa các thời kỳ, các giai đoạn phát triểnkinh tế, khác nhau giữa các nước, song việc xây dựng và thực thi CSTT củaNHTW đều tuân theo một qui trình của khuôn khổ nhất định - khuôn khổCSTT Khuôn khổ này thường xuyên được xem xét, điều chỉnh cho phù hợp với
sự biến động không ngừng của môi trường kinh tế, tài chính
Qui trình hoạt động của CSTT có thể tóm tắt như sau:
Công cụ CSTT MT hoạt động MT trung gian mục tiêu CC
Trang 5Qui trình này thực hiện thông qua một cơ chế truyền dẫn tiền tệ.
1.1.1.2. Các mục tiêu của CSTT
Sẽ có câu hỏi đặt ra rằng, tại sao lại là “hệ thống mục tiêu CSTT?” Về mặt lý thuyếtcũng như thực tế đã chỉ ra rằng để đạt được cái đích cuối cùng của CSTT, NHTWtrong quá trình điều hành CSTT phải theo đuổi những mục đích trực tiếp và giántiếp khác Cái đích này có sự liên kết lẫn nhau và liên kết với cái đích cuối cùng củaCSTT, từ đó hình thành hệ thống mục tiêu của CSTT Lựa chọn các mục tiêu CSTTđược coi là vấn đề quan trọng nhất và khó khăn nhất trong xây dựng và thực thiCSTT, nó quyết định tính hiệu quả hay không hiệu quả của CSTT, bởi vì mục tiêuCSTT quyết định cả một chiến lược CSTT
- Mục tiêu cuối cùng của CSTT
Mục tiêu cuối cùng của CSTT phải là mục tiêu trung dài hạn, vì tính tác động trễcủa tiền tệ đến sản lượng và lạm phát Vì CSTT là một công cụ quản lý kinh tế vĩ
mô, nên mục tiêu CSTT theo đuổi không ngoài mục tiêu của kinh tế vĩ mô Lýthuyết về kinh tế học vĩ mô đã xác định mục tiêu kinh tế vĩ mô là mức sản lượngcao và tăng trưởng nhanh, mức công ăn việc làm hữu hiệu với mức thất nghiệp tựnguyện thấp nhất, ổn định giá cả Trên thực tế NHTW các nước điều hành CSTTthực chất đều theo đuổi mục tiêu trên Tuy nhiên, CSTT không phải là duy nhất đểnền kinh tế đạt được sự ổn định kinh tế vĩ mô với mức tăng trưởng bền vững, công
ăn việc làm cao và lạm phát thấp, mà để đạt được điều đó phải đồng thời thực hiệnnhiều chính sách khác trong sự phối hợp đồng bọ với nhau, như chính sách tài khóa,chính sách thu nhập, chính sách đối ngoại Do vậy, mục tiêu cuối cùng của CSTTđược NHTW các nước đặt ra một cách cụ thể hơn , đôi khi là gián tiếp để đạt đượcmục tiêu của kinh tế vĩ mô Đối với các nước đã phát triển, mục tiêu cuối cùng củaCSTT thường đặt ra là ổn định giá cả ở mức thấp Song đối với các nước đang pháttriển, những nước trong quá trình chuyển đổi mục tiêu cuối cùng của CSTT mangtính đa mục tiêu, tùy theo mức độ phát triển của thị trường mà theo đuổi các mụctiêu khác nhau Chẳng hạn những nước tiếp cận nguồn vốn quốc tế kém, qua đó mà
Trang 6khả năng mất cân đối đối ngoại lớn thì mục tiêu CSTT, ngoài việc kiểm soát lạmphát, còn theo đuổi cân bằng cán cân thanh toán.
Có thể khái quát hóa mục tiêu cuối cùng của CSTT là ổn định hệ thống tiền tệ, hỗtrợ sự phát triển kinh tế bền vững, ổn định giá cả hay là để kiểm cùng được lượnghóa cụ thể phù hợp với diễn biến kinh tế và diễn biến tiền tệ
Việc công bố công khai chỉ tiêu này là cam kết của NHTW nhằm ổn định giá trị tiền
tệ về mặt dài hạn Điều này có nghĩa là NHTW sẽ không tập trung điều chỉnh sự biếnđộng giá cả về mặt ngán hạn Do những biện pháp về cstt tác động đến NKT có tínhchất trung và dài hạn, hơn nữa khó có thể dự đoán chính xác kết quả sẽ xảy ra vàothời điểm nào trong tương lai, vì vậy sẽ là không khả thi đối với nhtw trong việc theođuổi để kiểm soát giá cả trong ngắn hạn
ổn định giá cả có tầm quan trọng đặc biệt để định hướng phát triển kinh tế của quốcgia vì nó làm tăng khả năng dự đoán những biến động của môi trường kinh tế vĩ mô.Mức lạm phát thấp và ổn định tạo nên môi trường đầu tư ổn định, thúc đẩy nhu cầuđầu tư và đảm bảo sự phân bổ nguồn lực xã hội một cách hiệu quả Đây là lợi ích cótầm quan trọng sống còn đối với sự thịnh vượng kinh tế của xã hội
Lạm phát cao hay thiểu phát liên tục là rất tốn kém cho xã hội, thậm chí ngay cảtrong trường hợp nền kinh tế phát triển khả quan nhất, sự biến động liên tục của các
tỷ lệ lạm phát dự tính làm méo mó, sai lệch thông tin và do đó làm cho các quyếtđịnh kinh tế trở nên không đáng tin cậy và không có hiệu quả Nguy hiểm hơn, sựbất ổn định giá cả làm dẫn đến sự phân phối lại không dân chủ các nguồn lực kinh tếtrong xã hội giữa các nhóm dân cư
Tăng trưởng kinh tế
Chính sách tiền tệ phải đảm bảo sự tăng lên của GDP thực tế Đó là tỷ lệ tăng trưởng
có được sau khi trừ đi tỷ lệ tăng giá cùng thời kỳ Sự tăng trưởng phải được biểu hiểu
Trang 7cả về khối lượng và chất lượng Chất lượng tăng trưởng được biểu hiện ở một cơ cấukinh tế cân đối và khả năng cạnh tranh quốc tế của hàng hóa trong nước tăng lên.Một NKT phồn thịnh với tốc độ tăng trưởng ổn định là mục tiêu của bất kỳ CSKT vĩ
mô nào Đó là nền tảng cho mọi sự ổn định, vì một NKT tăng trưởng sẽ đảm bảo cácchính sách xã hội được thỏa mãn, là căn cứ để ổn định tiền tệ trong nước, cải thiệntình trạng cán cân thanh toán quốc tế và khẳng định vị trí của NKT trên thị trườngquốc tế
Đảm bảo công ăn việc làm
CSTT phải quan tâm tới khả năng tạo công ăn việc làm, giảm áp lực xã hội của thấtnghiệp Công ăn việc làm đầy đủ có ý nghĩa quan trọng bởi ba lý do: (i) Chỉ số thấtnghiệp là một trong những chỉ tiêu phản ánh sự thịnh vượng xã hội vì nó phản ánhkhả năng sử dụng có hiệu quả nguồn lực xã hội (ii) Thất nghiệp gây nên tình trạngstress cho mỗi cá nhân và gia đình của họ và là mầm mống của các tệ nạn xã hội.(iii) Các khoản trợ cấp thất nghiệp tăng lên có thể làm thay đổi cơ cấu chi tiêu ngânsách và làm căng thẳng tình trạng Ngân sách
Đảm bảo công ăn việc làm đầy đủ không có nghĩa là tỷ lệ thất nghiệp bằng 0 Mỗiquốc gia cần xác định được tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên một cách chính xác để đạtđược mục tiêu này Tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên được cấu thành từ tỷ lệ thất nghiệptạm thời và tỷ lệ thất nghiệp cơ cấu Bên cạnh đó, cố gắng giảm tỷ lệ thất nghiệp tựnhiên cũng được coi là mục tiêu của CSTT
- Mục tiêu trung gian
Khác với mục tiêu cuối cùng, mục tiêu trung gian là cái đích tương đối, bản thânchúng không phải là cái đích cuối cùng của CSTT, nhưng để đạt được mục tiêu cuốicùng thì thực thi CSTT trước hết phải đạt được mục tiêu trung gian ảnh hưởng củaCSTT chỉ xuất hiện sau một khoảng thời gian nhất định từ 6 tháng đến 2 năm Sẽ làquá muộn và không hiệu quả nếu NHTW đợi các dấu hiệu về giá cả, tỷ giá, thấtnghiệp để điều chỉnh các công cụ Để khắc ohucj hạn chế này, NHTW của tất cảcác nước thường xác định các chỉ tiêu cần đạt được trước khi đạt được mục tiêucuối cùng Các chỉ tiêu này trở thành mục tiêu trung gian và mục tiêu hoạt động
Trang 8Vậy mục tiêu trung gian là gì? Đó là những biến số tiền tệ mà có thể đo lườngđược, NHTW có thể kiểm soát được và phải có tác dụng dự báo được mục tiêu cuốicùng Điều đó có nghĩa rằng biến số tiền tệ đó có mối liên kết với mục tiêu hoạtđộng và có thể tác động đến mục tiêu cuối cùng của CSTT.
Theo cách qui định như vậy, mục tiêu trung gian có ý nghĩa quan trọng trongđiều hành CSTT, NHTW sẽ đạt được mục tiêu cuối cùng của CSTT thông qua cáchành động, hay các quyết sách của mình tác động đến mục tiêu hoạt động từ đó làmthay đổi mục tiêu trung gian theo định hướng gắn lion những dự báo của mục tiêutrung gian đến mục tiêu cuối cùng của CSTT
Từ thực tế điều hành các nhà kinh tế học đã tổng quát hóa mục tiêu trung gianthường được lựa chọn là các biến số về tổng tiền( M1, M2 hoặc tín dụng nền kinhtế), lãi suất, tỷ giá ( những biến số này nằm giữa các công cụ CSTT với mục tiêuhoạt động) Việc lựa chọn biến số nào làm mục tiêu trung gian gắn liền với nhữngdiến biến kinh tế, tiền tệ và mức độ phát triển của thị trường tài chính, gắn liền vớimục tiêu, diễn biến kinh tế, tiền tệ và mức độ phát triển của thị trường tài chính,gắn liền với mục tiêu và giải pháp đảm bảo sự ổn định vĩ mô
Như vậy để lựa chọn được mục tiêu trung gian thích hợp, đòi hỏi phải có sự phântích kỹ lưỡng các diễn biến kinh tế hiện tại và dự báo trong tương lai, và xác định rõđịnh hướng phát triển kinh tế trong ngắn hạn cũng như dài hạn.học thuyết tiền tệ Mục tiêu trung gian được chia thành 3 loại sau:
* Mục tiêu trung gian là tổng tiền: khuôn khổ ý thuyết cho việc đặt ra mục tiêu
trung gian là tổng tiền là phương trình học thuyết tiền tệ ( Y V
P
M
) với những bướcthực hiện sau: (i) đặt mục tiêu cuối cùng cho mức lạm phát trong thời kỳ nhất định;(ii) ước tính mức tăng tiềm năng của sản lượng thực tế, (iii) dự báo xu hướng tăngvòng quay tiền tệ trong tương lai Như vậy sẽ giúp chúng ta đặt mục tiêu trung giancho mức tăng mức tăng tiền dưới mức mục tiêu
Trong những thập kỷ 70, nhiều nước công nghiệp chủ yếu đã chấp nhận mục tiêutăng trưởng tiền làm mục tiêu trung gian, họ đặt ra mức tăng được phép của M1hoặc M2, hoặc tăng trưởng D (tín dụng nền kinh tế) Thời gian các nước này chấp
Trang 9nhận mục tiêu tổng tiền là thời gian chiến tranh và sự sụp đổ của hệ thống BrettonWood Sự chấp nhận mục tiêu tổng tiền tệ đã làm tổng tiền tệ đóng vai trò như mộtcột chỉ đường đối với CSTT, giúp NHTW thực thi các công cụ chính sách phù hợpvới chính sách chống lạm phát, làm tín hiệu cho dân chúng về ý định của NHTW vềkhía cạnh lạm phát và cung cấp cơ sở cho dân chúng hiểu về hành động chính sáchcủa NHTW, mục đích nữa là giúp kỷ luật tài khóa, mà đăc biệt liên quan đến thâmhụt ngân sách đối với việc mở rộng tiền tệ.
Tuy nhiên, việc sử dụng mục tiêu trung gian là tổng tiền cũng có những khó khănnhất định khi mối quan hệ giữa tổng tiền và mục tiêu cuối cùng của CSTT có sự bất
ổn định, vòng quay tiền tệ biến động không theo một chiều hướng sẽ khó khăn choviệc dự báo, đặc biệt đối với những nước đang trong quá trình tự do hóa tài chính và
ổn định hóa kinh tế vĩ mô (chuyển từ môi trường khinh tế lạm phát cao sang môitrường lạm phát thấp) là rất khó khăn, vì tự do hóa tài chính thường dẫn đến một sựtăng lên lâu dài về cầu tiền theo nghĩa rộng, bởi vậy vòng quay tiền tệ
M
nghiadanh
ra sự biến động thường xuyên trong lãi suất và sản lượng thực tế trong ngắn hạn.Thêm vào đó, sản lượng tiềm năng phụ thuộc vào khối lượng và năng suất của cácnhân tố sản xuất, những nhân tố này cũng rất khó để tính toán và dự báo, đặc biệtđối với những nước nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi cơ cấu mạnh mẽhay như nước chuyển đổi từ cơ chế kế hoach hóa tập trung sang cơ chế thị trường.Đối với những nước này, mức chênh lệch giữa sản lượng thực tế và sản lượng tiềmnăng rất khó tính toán, bởi vì nền kinh tế ngầm giữa các nước này khá lớn.Đây làvấn đề đặt ra cho các nhà lập chính sách, khi mà các nhân tố khó có thể dự báo, thìcần có những linh hoạt trong việc đặt mục tiêu CSTT cho phù hợp, có thể sự phùhợp đó ơhair chịu sự kém minh bạch trong chính sách Ví dụ mục tiêu đặt ra là mộtkhoảng tăng trưởng tiền tệ hơn là đưa ra một mức cố định
Trang 10* Mục tiêu trung gian là tỷ giá: được thực hiện trong điều kiện là nền kinh tế mở.Với mục tiêu này, chính sách tiền tệ của nước chọn mục tiêu trung gian là tỷ giá phụthuộc vào chính sách tiền tệ của nước neo tỷ giá(như ở Việt nam, VND bị neo bởiđồng Đô la mỹ) Khác với mục tiêu trung gian là tổng tiền, mục tiêu tỷ giá tránhđược những biến động khó lường về cầu tiền tệ Với một cơ chế tỷ giá cố định,những thay đổi về cầu tiền tệ ăn khớp với những thay đổi trong cung tiền tệ từ nướcngoài (thông qua luồng vốn) Thực hiện mục tiêu trung gian là tỷ giá có thuân lợi làrất minh bạch đối với dân chúng và nếu nước neo tỷ giá có mức lạm phát thấp, thì
về cơ bản mức lạm phát của nước bị neo tỷ giá cũng được duy trì ở mức thấp vì quamột thời gian giá cả trong nước sát với giá cả của nước neo tỷ giá Tuy nhiên, đặtmục tiêu trung gian là tỷ giá cũng có những bất lợi so với việc đặt mục tiêu là tổngtiền, trong trường hợp có những thay đổi ngược chiều của thị trường đới với nềnkinh tế, như điều kiện thương mại xấu đI, năng suất sản xuất thấp đI, hoặc mất thịtrường xuất khẩu, khi đó cố định tỷ giá, tức liên quan đến việc cố định một giá cảtương đối, thì không thể ngăn chặn những cú sốc thực đối với nền kinh tế, do bị chiphối sức ép phá giá, sản lượng thực tế sẽ giảm (ít nhất là trong ngắn hạn) nếu tiềnlương và giá cả trong nước hoàn toàn không linh hoạt Mục tiêu tỷ giá được sử dụngnổi lên nhất là để giảm lạm phát ở Châu Âu trong bối cảnh áp dụng cơ chế tỷ giácủa hệ thống tiền tệ châu âu Những nước hoạt động thương mại chủ yếu cũng sửdụng mục tiêu trung gian một cách thành công Một số nước tuy lạm phát có chiềuhướng đi xuống, nhưng chiến lược chính sách đã không vững chắc, chẳng hạn nhưnhững nước có thị trường tài chính chịu tác động nhiều bởi một số nước có lịch sửlạm phát cao, hoặc mất cân đối ngân sách lớn, đã phải duy trì lãi suất cao để hỗ trợ
tỷ giá hối đoái của họ
* Mục tiêu trung gian là lãi suất thị trường: lãi suất là giá cả của quyền sử dụng vốn
và chi phí cơ hội của nhu cầu tiêu dùng, sự thay đổi của lãi suất có ảnh hưởng quantrọng đến nhu cầu tiêu dùng và đầu tư Lựa chọn lãi suất là mục tiêu trung gian đồngnghĩa với sự hạn chế tác đọng của sự biến động mức cầu tiền đến tổng cầu của nềnkinh tế Khi NHTW lựa chọn mục tiêu trung gian là lãi suất thị trường thì không thểđồng thời chọn tổng tiền là mục tiêu trung gian Do vậy, khi đó NHTW phải chấp
Trang 11thuận sự dao động tăng hoặc giảm tổng tiền để duy trì mức lãi suất theo mục tiêu.
Và điều đó có thể dẫn đến những tác động của CSTT đến lạm phát
Tóm lại mục tiêu trung gian là tổng tiền, hoặc tỷ giá hối đoái hoặc lãi suất thị trường
đã được áp dụng trong nhiều thập kỷ qua, qua đó cho thấy mỗi một mục tiêu đượclựa chọn gắn liền với những diễn biến kinh tế và thị trường tài chính trong từng giaiđoạn phát triển, gắn liền với mục tiêu và giải pháp đảm bảo sự ổn định vĩ mô Nhưvậy, để lựa chọn được mục tiêu trung gian thích hợp, đòi hỏi sự phân tích kỹ lưỡng
về các diễn biến kinh tế, tiền tệ hiện tại và dự báo trong tương lai, và xác định rõđịnh hướng phát triển kinh tế trong ngắn hạn cũng như dài hạn
- Mục tiêu hoạt động
Mục tiêu hoạt động có vai trò quan trọng đối với việc điều hành CSTT Đây là điểmkhởi đầu trong cơ chế truyền dẫn tiền tệ, là biến số chủ yếu để NHTW thực thiCSTT Ngoài ra mục tiêu hoạt động còn ảnh hưởng trực tiếp đến việc sử dụng công
cụ CSTT và đến những thay đổi trên bảng cân đối tiền tệ của NHTW
Mục tiêu hoạt động là những mục đích sách lược mà NHTW nhằm đạt tới trongngắn han, đó là những biến tiền tệ mà NHTW có thể tác động hay kiểm soát mộtcách trực tiếp bằng các công cụ CSTT nhằm thay đổi mục tiêu trung gian, qua đótác động đến mục tiêu cuối cùng của CSTT Theo Miskin, tiêu chuẩn để lựa chọnmục tiêu hoạt động, đó là những chỉ tiêu tiền tệ có thể dự báo dược mục tiêu trunggian và chịu tác động trực tiếp của công cụ CSTT
Với cách hiểu mục tiêu hoạt động như vậy và trên cơ sở tổng kết thực tiễn, mục tiêuhoạt động được chia thành 2 loại là mục tiêu hoạt động giá cả hay lãI suất ngắn han
và mục tiêu hoạt động là khối lượng, cụ thể như sau:
(i) Mục tiêu hoạt động là giá cả tiền tệ: nghĩa là NHTW kiểm soát lãi suất ngắn hạn
trên thị trường liên ngân hàng NHTW thông qua các công cụ CSTT có thể kiểmsoát trực tiếp lãi suất này Việc quy định lãi suất trần và lãi suất sàn của NHTW trênthị trường liên ngân hàng nhằm tạo ra hành lang dao động cho lãi suất ngắn hạn trênthị trường theo mức mong muốn của NHTW, thông qua sự tác động của công cụCSTT như nghiệp vụ thị trường mở…Trong trường hợp việc chỉ đạo CSTT hầu hết
Trang 12thông qua sự can thiệp của NHTW trên thị trường ngoại hối hơn là việc điều chỉnhlãi suất thì tỷ giá được xem như làm mục tiêu hoạt động.
(i) Mục tiêu hoạt động là khối lượng tiền tệ: tức là kiểm soát tiền cơ bản(MB), hoặc
các thàno phần cấu thành nên nó, ví dụ như dự trữ quốc tế ròng, dự trữ của các nhtmhoặc tài sản có ròng trong nước trên bảng cân đối của NHTW Thông qua các công
cụ CSTT NHTW có thể kiểm soát trực tiếp tiền cơ bản, một hành động bơm tiềnhoặc rút tiền của NHTW sẽ làm cho MB tăng hoặc giảm Để kiểm soát khối lượngtiền tệ NHTW phảI đặt mức tăng cụ thể của MB trong một thời gian nhất định
Sự khác nhau giữa mục tiêu giá cả và mục tiêu khối lượng: Kiểm soát giá cả hoặckiểm soát khối lượng đều được coi là mục tiêu hoạt động của NHTW, nhưng giữachúng có sự khác nhau cơ bản, và điều kiện áp dụng chúng cũng khác nhau Điểmkhác nhau cơ bản đó là: Trong trường hợp NHTW chọn mục tiêu giá cả, thì nhữngthay đổi trong bảng cân đối của NHTW là những biến nội sinh(biến được giảithích), Trong trường hợp này những thay đổi tạm thời của cung và cầu tiền cơ bảncũng chỉ nhằm cho lãi suất ngắn hạn trên thị trường không xa rời lãi suất mục tiêu.Ngược lại trong trường hợp NHTW chọn mục tiêu khối lượng, thì những thay đổitrên bảng cân đối của NHTW là những biến ngoại sinh(biến giảI thích) NHTWkhông điều tiết thay đổi của cầu tiền cơ bản và bỏ qua những tác động của lãI suất
mà chỉ quan tâm đến tiền cơ bản có phù hợp với mục tiêu hay không
Từ những điểm khác nhau cơ bản đó dẫn đến điều kiện áp dụng chúng cũngkhác nhau Đối với mục tiêu giá cả tiền tệ, việc kiểm soát lãi suất sẽ có hiệu quảtrong điều kiện thị trường tiền tệ phát triển- thị trường liên ngân hàng thanh khoảncao và hiệu quả, hệ thống nhtm tồn tại sự cạnh tranh, NHTW phải có sự tín nhiệmvới thành viên thị trường Sở dĩ phải có điều kiện như vậy là do lãi suất chỉ có tínhnhạy cảm cao trong môi trường như vậy, khi đó bất cứ sự thay đổi nhỏ trong cungtiền của NHTW sẽ tác động đến sự biến động của lãi suất Đối với mục tiêu là khốilượng điều kiện áp dụng các phần ngược lại, tức có thể áp dụng trong điều kiện thịtrường tiền tệ chưa phát triển, kém hiệu quả, khả năng cạnh tranh giữa các NH làthấp, nhất là trong điều kiện tiên quyết là giữa hệ số tạo tiền và hàm cầu tiền phải có
sự liên hệ chặt chẽ với nhau, và gắn với nó là mục tiêu trung gian là tổng tiền (tổngphương tiện thanh toán hoặc tổng tín dụng nền kinh tế) Sở dĩ mục tiêu khối lượng
Trang 13có hiệu quả trong điều kiện như vậy là do, khi đó chỉ có sự thay đổi khối lượng tiềnmới tạo ra sức đẩy tiền tệ trong cơ chế chuyển dẫn tiền tệ trong môI trường thịtrường tiền tệ kém phát triển.
Sự khác nhau cơ bản giữa mục tiêu giá cả tiền tệ và mục tiêu khối lượng nhưthế sẽ dẫn đến sự khó khăn trong lựa chọn mục tiêu khi mối quan hệ giữa hệ số tạotiền và cầu tiền tệ bất ổn định và mối quan hệ giữa lãI suất ngắn hạn với lạm phát làchưa rõ ràng
Mặc dù đã có những điều kiện tương đối rõ cho việc áp dụng các mục tiêu hoạtđộng nêu trên, việc lựa chọn mục tiêu nào còn phụ thuộc vào mục tiêu trung gianđược lựa chọn, nghĩa là phụ thuộc vào cơ chế truyền dẫn tiền tệ hiện hành
1.1.1.3 Các công cụ của chính sách tiền tệ
Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn sử dụng các công cụ CSTT trong điều hànhCSTT của các NHTW trên thế giới, IMF đã tổng kết và phân chia các công cụCSTT thành 2 loại chủ yều: Là công cụ tiền tệ trực tiếp và công cụ tiền tệ giántiếp
- Các công cụ tiền tệ trực tiếp: các công cụ tiền tệ được gọi là công cụtiiền tệ trực tiếp là cách thức mà NHTW trực tiếp sử dụng để giới hạn mục tiêugiá cả ( hoặc mục tiêu khối lượng) thông qua các qui định, và thường nhằm vàocác chỉ tiêu trên bảng cân đối của ngân hàng thương mại, được gọi là công cụtiền tệ trực tiếp Các công cụ này, thường được áp dụng trong điều kiện thịtrường tiền tệ chưa phát triển, khả năng sử dụng các điều kiện thị trường đểđiều tiết tiền tệ của NHTW còn hạn chế, như kiểm soát trực tiếp lãi suất củanền kinh tế thông qua việc qui định tỷ lãi suất ( cho vay hoặc tiền gửi) cụ thể ,hoặc biên độ dao động, hoặc qui định trần trên, sàn dưới cho các NHTM chovay, hoặc huy động vốn đối với nền kinh tế; Công cụ hạn mức tín dụng; quiđịnh mức tăng trưởng tín dụng cho từng NHTM, căn cứ vào qui mô hoạt độngcủa từng ngân hàng Công cụ này thường được áp dụng khi cơ chế truyền dẫntiền tệ là không chắc chắn, hạn chế tiền dự trữ ( MB) không dẫn đến việc hạnchế tăng trưởng tín dụng và trong tình hình lạm phát tăng nhanh ; tín dụng chỉđịnh: Là việc chỉ định nguồn vốn tín dụng của NHTW cho khu vực cụ thể của
Trang 14nền kinh tế thông qua các NHTM, khoản tín dụng này không cần thế chấp tạiNHTW.
- Công cụ tiền tệ gián tiếp: Công cụ tiền tệ gián tiếp là cách tác độngthông qua thị trường dưới những điều kiện về cung cầu vốn, và hầu hết cáccông cụ này nhằm vào bảng cân đối tiền tệ của NHTW.Các công cụ tiền tệ giántiếp không ngừng phát triển cùng với sự phát triển của thị trường tiền tệ, hệthống thanh toán Nếu như trước đây các công cụ tiền tệ gián tiếp chủ yếu được
sử dụng là dự trữ bắt buộc ( qui định một tỷ lệ nhất định so với tiền huy độngcủa các NHTM phải gửi tại NHTW), công cụ tái cấp vốn (Lombar vàrediscount window), và nghiệp vụ thị trường mở với hoạt động đơn giản làmua-bán chứng khoán giữa NHTW với các NHTM hoặc các nhà môi giới khác,dưới hình thức mua bán hẳn hoặc mua bán có kỳ hạn (repo) Đến nay, công cụ
dự dữ bắt buộc ít được sử dụng hơn ở những nước phát triển,mà nó chủ yếuđược sử dụng ở những nước đang phát triển và những nước chuyển đổi Còncông cụ tái cấp vốn và nghiệp vụ thị trường mở đã được phát triển với nội dungrất da dạng, chẳng hạn như công cụ tái cấp vốn được mở rộng thêm nghiệp vụthấu chi cung cấp nguồn vốn qua đêm cho các NHTM do thiếu hụt khả năngthanh toán khi tham gia hệ thống thanh toán của NHTW và nghiệp vụ gửi tiền,NHTW thực hiện nghiệp vụ này để thu hút vốn khả dụng thừa của các NHTMnhằm ngăn chặn lãi suất thị trường hạ xuống mức quá thấp Tỷ lệ lãi suất choloại tiền gửi này là tỷ lệ thấp hơn lãi suất thị trường liên ngân hàng Nghiệp vụtiền gửi thường được kết hợp với nghiệp vụ lombar hoặc cho vay qua đêm tạo
ra một hành lang dao động cho lãi suất thị trường liên ngân hàng
Đối với nghiệp vụ thị trường mở (OMO, ngày nay đã trở thành công cụCSTT chủ yếu ở những nước phát triển Từ nghiệp vụ thị trường mở truyềnthống ( mua bán hẳn chứng khoán chính phủ) cho đến nay nghiệp vụ nàynghiệp vụ này đã phát triển dưới nhiều hình thức, như nghiệp vụ mua – bán có
kỳ hạn giấy tờ có giá (Repo); nghiệp vụ mua – bán có kỳ hạn ngoại tệ (gọi lànghiệp vụ Swap); bán tín phiếu của NHTW trên thị trường sơ cấp
Nghiệp vụ tái cấp vốn và nghiệp vụ thị trường mở nêu trên, có thể nói lànhững công cụ tiền tệ gián tiếp chủ yếu được áp dụng trong điều hành CSTT
Trang 15của NHTW các nước Bên cạnh đó còn một số công cụ khác được áp dụngtrong những điều kiện nhất định và chỉ có một vài nước áp dụng, như nghiệp vụtiền gửi của khu vực công – là sự phân bổ lại tiền gửi chính phủ giữa NHTWvới các NHTM để bù đắp sự thiếu hụt ngắn hạn vốn khả dụng của các NHTM.
Sử dụng công cụ này đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa NHTW và kho bạc( Canada, malaysia, Germany áp dụng đến cuối năm 1993)v.v
Như vậy có thể nói, để điều hành CSTT NHTW đã sử dụng rất nhiều cáccông cụ tiền tệ, mỗi công cụ đều có những vai trò nhất định trong việc tác độngđến cung, cầu vốn trên thị trường Tùy theo các điều kiện của thị trường tiền tệ,mức độ phát triển của thị trường tiền tệ, mục tiêu và khuôn khổ CSTT củaNHTW mà mỗi công cụ khi áp dụng có thể mang lại những hiệu quả tối đa
Tuy nhiên, đa số các nhà kinh tế, đi đầu là Milton Friedman đều cho rằng lạm phátkhông chỉ đơn thuần là sự tăng lên của mức giá chung như Samuelson khẳng định
mà nó phải là sự gia tăng liên tục kéo dài của mức giá chung Có nghĩa là nếu mứcgiá chung chỉ tăng trong tháng này và ngay lập tức giảm trong những tháng kế tiếpthì đó không phải là lạm phát, chỉ khi mức giá chung gia tăng liên tục trong nhiềutháng, nhiều năm thì mới gọi là lạm phát
Trong vài năm gần đây, một khái niệm mới được nhiều người nhắc đến là “lạm lạmphát cơ bản” Khái niệm này xuất phát từ thực tiễn rằng lạm phát CPI đôi khi biếnđộng rất thất thường nên nếu CSTT phản ứng với những biến động này có thể đemlại những hậu quả không tốt cho nền kinh tế Lạm phát cơ bản là lạm phát thể hiện
Trang 16sự thay đổi giá cả mang tính dài hạn, loại bỏ những biến động tạm thời , điều đó sẽgiúp cho CSTT phản ứng chính xác hơn với các biến động giá cả Do đó, thước đolạm phát cơ bản được tính bằng lạm phát CPI loại trừ các yếu tố biến động tạm thời
mà thông thường là năng lượng, lương thực Lạm phát cơ bản tăng chính là chỉ báolạm phát dự kiến sẽ còn tăng trong dài hạn và khi đó CSTT cần phải hành động đểkiềm chế lạm phát
Đo lường lạm phát
1.1.2.2 Nguyên nhân của lạm phát
1.1.2.2.1 Lạm phát cầu kéo( có hình minh họa)
Đây là nguyên nhân do tổng cầu (AD) - tổng chi tiêu của xã hội tăng lên- vượt quámức cung ứng hàng hóa của xã hội dẫ đến áp lực làm tăng giá cả Nói cách khác, bất
kỳ lý do nào làm tổng cầu tăng lên đều dẫn đến lạm phát về mặt ngắn hạn Có thểgiải thích điều này thông qua mô hình đơn giản AS - AD Khi tổng cầu AD0 tăng lênđến AD1, mức giá cả chung tăng từ P0 đến P1, nền kinh tế có lạm phát
Trang 17Tổng cầu phản ánh nhu cầu có khả năng thanh toán về hàng hóa dịch vụ của xã hội.
Nó bao gồm nhu cầu hàng hóa, dịch vụ của các hộ gia đình, nhu cầu hàng hóa đầu tưcủa các doanh nghiệp, nhu cầu hàng hóa dịch vụ của Chính phủ và nhu cầu hàng hóaxuất khẩu ròng của thị trường nước ngoài Khi nhu cầu có khả năng thanh toán củacác chủ thể này tăng lên, tiền chi tiêu nhiều hơn, giá cả tăng lên Các lý do cụ thể là:
Chi tiêu chính phủ tăng lên: Khi chi tiêu chính phủ tăng lên, tổng cầu có thểtăng lên trực tiếp thông qua các khoản đầu tư vào các lĩnh vực thuộc phạm viChính phủ quản lý hoặc có thể gián tiếp thông qua các khoản chi phúc lợi xãhội, trợ cấp thất nghiệp tăng lên và kết quả là giá cả hàng hóa tăng lên Trongtrường hợp nhu cầu chi tiêu vượt quá khả năng thu ngân sách và được bù đắpbằng vốn phát hành hoặc vay ngân hàng thương mại rất dễ dẫn đến trườnghợp lạm phát cao và kéo dài
Chi tiêu dùng của các hộ gia đình tăng lên có thể do mức thu nhập thực tếtăng lên, do lãi suất giảm xuống, do điều kiện vay tiêu ding thuận lợi…đều cótác dụng đẩy tổng cầu lên và gây áp lực đối với lạm phát
Nhu cầu đầu tư của các doanh nghiệp tăng lên xuất phát từ dự đoán về triểnvọng phát triển kinh tế, về khả năng mở rộng thị trường, do lãi suất đầu tưgiảm, do điều kiện vay vốn đầu tư dễ dàng hơn…về mặt ngắn hạn nó làm chomức giá cả tăng lên
Các yếu tố liên quan đến nhu cầu của nước ngoài như tỷ giá, giá cả hàng hóanước ngoài so với hàng hóa cùng loại được sản xuất trong nước và thu nhậpbình quân của thị trường nước ngoài có những ảnh hưởng quan trọng đến nhucầu hàng hóa xuất khẩu và do đó ảnh hưởng đến tổng cầu cũng như mức giá
cả nội địa
Như vậy, sự tăng lên của nhu cầu trong nước và nước ngoài sẽ làm tăng nhu cầu
có khả năng thanh toán của xã hội dẫn đến áp lực làm tăng giá cả
Việc thực hiện CSTT mở rộng quá mức bằng việc tăng mạnh MS, giảm lãi suất
có tác dụng tăng các thành phần của tổng cầu cũng sẽ dẫn đến lạm phát
CSTK nới lỏng để tăng tổng cầu song việc sử dụng vốn kém hiệu quả, lãng phícũng làm cho tổng cầu vượt quá tổng cung và dẫn đến lạm phát
Trang 181.1.2.2.1 Lạm phát chi phí đẩy.
Đặc điểm quan trọng của loại lạm phát chi phí đẩy là áp lực làm tăng giá cả xuấtphát từ sự tăng lên của chi phí sản xuất vượt quá mức tăng của năng suất laođộng và làm giảm mức cung ứng hàng hóa của xã hội Chi phí sản xuất có thểtăng lên do:
- Mức tiền lương vượt quá mức gia tăng của năng suất lao động Tiền lươngtăng lên có thể do thị trường lao động trở nên khan hiếm, do yêu cầu đòi tănglương của công đoàn hoặc do mức lạm phát dự tính tăng lên
- Sự tăng lên của mức lợi nhuận ròng của người sản xuất đẩy giá cả hàng hóalên
- Do giá nội địa của hàng nhập khẩu tăng lên, có thể do áp lực lạm phát củanươc xuất khẩu, hoặc do giá trị nội tệ giảm so với ngoại tệ hoặc do ảnh hưởngcủa khủng hoảng…Nếu các loại hàng hóa dịch vụ nhập khẩu này được sử dụngcho nhu cầu tiêu dùng thì nó sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới giá cả nội địa, nếu nóđược sử dụng như đầu vào của quá trình sản xuất thì sẽ làm tăng giá thành sảnxuất và do đó tăng giá
- Do sự tăng lên của thuế và các khoản nghĩa vụ với NSNN ảnh hưởng đếnmức sinh lời của hoạt động đầu tư, giá cả tăng lên là tất yếu nhằm duy trì mứcsinh lời thực tế
Các yếu tố trên hoặc là tác động trực tiếp vào mức lương thực tế của ngườilàm công hoặc tác động vào các chi phí ngoài lương và làm tăng chi phí sản xuất,đẩy mức giá bình quân lên P2 trong khi giảm mức sản xuất của xã hội xuống Y1(hìnha) Tuy nhiên các lý do này chỉ dẫn đến lạm phát về mặt ngắn hạn do cơ chế tự điềuchỉnh của thị trường Nếu tổng cầu không thay đổi, mức sản xuất sẽ quay về mức sảnlượng tiềm năng và giá cả quay về vị trí ban đầu của nó (hình b)
Trang 191.1.2.2.3 Lạm phát tiền tệ
Loại lạm phát này xảy ra khi tốc độ tăng trưởng cung tiền vượt quá tốc độ
tăng trưởng thực sự của nền kinh tế Đơn giản hơn là tiền trong lưu thông tăng nhanh
hơn số lượng hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra trong nền kinh tế Loại lạm phát
này thường xảy ra tại các nước đang phát triển khi các nước này theo đuổi cơ chế áp
chế tài chính hoặc trong trường hợp quốc gia đang theo đuổi CSTT mở rộng Trong
đó áp chế tài chính là tình trạng ngân hàng trung ương tài trợ cho thâm hụt NSCP
bằng cách in tiền, quá nhiều tiền trong lưu thông vượt quá tốc độ tăng trưởng thực sẽ
dẫn đến lạm phát CSTT mở rộng sẽ kích thích tổng cầu hàng hóa dịch vụ trong nền
kinh tế, khi tốc độ tăng trưởng tổng cầu cao hơn tốc độ tăng trưởng tổng cung thì
cũng dẫn đến lạm phát
1.1.3 Các giải pháp để kiểm soát lạm phát
1.1.3.1 Giá của chính sách chống lạm phát
Những tác động của lạm phát đối với việc phân phối lại thu nhập, sản lượng, sự phân
bổ nguồn lực và hiệu quả kinh tế thường xảy ra đối với loại lạm phát cao và không
dự đoán trước được Mặc dù những ảnh hưởng của loại lạm phát này là hiển nhiên,
các nhà làm chính sách vẫn phải đặt câu hỏi: nên làm cho nên fkinh tế thích ứng với
lạm phát hay cố gắng thủ tiêu lạm phát bằng các biện pháp cứng rắn Câu trả lời thực
Trang 20sự không dễ dàng, nó tùy thuộc vào thực trạng của nền kinh tế, mức độ lạm phát và
sự nhạy cảm của các biến số kinh tế vĩ mô đối với sự thay đổi của 1% lạm phát
Đường cong Philips ngắn hạn:
Đường cong Philips mang tên nhà kinh tế học người New Zealand, A.W.Philips,phản ánh mối quan hệ nghịch biến giữa lạm phát và thất nghiệp với một mức lạmphát dự tính và tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên cho trước Với mức lạm phát dự tính là10% và tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên là 6%, đường cong Philips ngắn hạn đi qua điểm(a) Sự tăng lên của tổng cầu về mặt ngắn hạn làm giảm tỷ lệ thất nghiệp đồng thờităng tỷ lệ lạm phát, điểm cân bằng mới của nền kinh tế được thể hiện tại điểm (b)trên đường cong Philips Sự cắt giảm tổng chi tiêu sẽ đưa đến những chuyển độngngược lại của lạm phát và thất nghiệ, điểm cân bằng dịch chuyển xuống điểm (c).Đường cong Philips ngắn hạn chỉ ra giá phải trả cho 1% giảm tỷ lệ lạm phát: sự giảmsút công ăn việc làm
Các giải pháp giảm tỷ lệ lạm phát
Trang 21Về mặt dài hạn, việc kiềm chế lạm phát, giữ cho tiền tệ ổn định sẽ tạo điều kiện tăngsản lượng thực tế và giảm thất nghiệp Vì thế, duy trì sự ổn định tiền tệ là mục tiêudài hạn của bất kỳ nền kinh tế nào, nhưng trong tong thời kỳ việc lựa chọn các giảipháp kiềm chế lạm phát cũng như liều lượng tác động của nó phải phù hợp với yêucầu tăng trưởng và các áp lực xã hội và nền kinh tế mà nó phải gánh chịu Chính phủcác nước có thể chọn chiến lược giảm lạm phát từ từ ít gây biến động cho nền kinh tế(Hình a) hoặc chiến lược giảm tỷ lệ lạm phát nhanh chóng tạo nên sự giảm mạnh vềsản lượng trong quá trình điều chỉnh (Hình b)
Việc đưa ra các giải pháp chống lạm phát thường xuất phát từ sự phân tíchđúng nguyên nhân gây ra lạm phát, bao gồm nguyên nhân sâu xa và nguyên nhântrực tiếp Nguyên nhân trực tiếp của bất kỳ cuộc lạm phát nào cũng xuất phát từ các
lý do đẩy tổng cầu tăng quá mức hoặc tổng cung giảm do chi phí tăng lên Tuy nhiênnguồn gốc tạo ra các lý do làm dịch chuyển đường tổng cầu và đường tổng cung lạirất khác nhau ở các cuộc lạm phát khác nhau Để giải quyết nguyên nhân sâu xa nàycần phải có thời gian và đi kèm với các cuộc cải cách lớn Thông thường để tác độngvào các nguyên nhân trực tiếp của lạm phát và kiềm chế lạm phát ở tỷ lệ mongmuốn, Chính phủ các nước sử dụng một hệ thống các giải pháp nhằm làm giảm sựgia tăng của tổng cầu hoặc khắc phục các nguyên nhân làm gia tăng chi phí
Lạm phát
Thất nghiệp
SPC1
SPC0
Trang 22- Nhóm giải pháp tác động vào tổng cầu
Các giải pháp này nhằm hạn chế sự gia tăng qua mức của tổng cầu Trước hết
là thực hiện một chính sách tiền tệ khan hiếm Nguyên nhân cơ bản của lạm phát cầukéo là sự gia tăng của tiền cung ứng, sự hạn chế cung ứng tiền sẽ có hiệu quả ngayđến sự giảm sút của nhu cầu có khả năng thanh toán của xã hội Một chính sách tiền
tệ khan hiếm được bắt đầu bằng việc kiểm soát và hạn chế cung ứng tiền trung ương,
từ đó mà hạn chế khả năng mở rộng tín dụng của hệ thống ngân hàng thương mại.Lãi suất ngân hàng và lãi suất thị trường tăng lên sau đó sẽ làm hạn chế nhu cầu tiêudùng và đầu tư, giảm áp lực đối với hàng hóa và dịch vụ cung ứng Cùng với việckiểm soát gắt gao chất lượng tín dụng cung ứng nhằm hạn chế khối lượng tín dụng,đồng thời đảm bảo hiệu quả của kênh cung ứng tiền cũng như chất lượng tiền tệ
Kiểm soát chi tiêu NSNN từ trung ương tới địa phương nhằm đảm bảo tiếtkiệm và hiệu quả trong chi tiêu ngân sách, cắt giảm các khoản đầu tư không có tínhkhả thi và các khoản chi phúc lợi vượt qua khả năng của NKT, cải tiến bộ máy quản
lý Nhà nước vốn cồng kềnh, không hiệu quả gây lãng phí NSNN Khai thác cácnguồn thu, đặc biệt là thu thuế nhằm giảm mức bội chi, cổ phần hóa các DNNN…Vàcuối cùng là hạn chế phát hành tiền để bù đắp thiếu hụt NS
Thực hiện chính sách khuyến khích tiết kiệm giảm tiêu dùng Lái suất danhnghĩa được đưa lên cao hơn tỷ lệ lạm phát để hấp dẫn người gửi tiền Biện pháp nàythường được sử dụng trong trường hợp lạm phát cao và có tác động tức thời Tuynhiên trong thời gian áp dụng chính sách lãi suất cao, cần có sự điều chỉnh linh hoạtcho phù hợp với mức độ biến động của lạm phát và hạn chế hậu quả tiềm năng chocác tổ chức nhận tiền gửi
Trong điều kiện NKT mở, sự can thiệp vào tỷ gia nhằm điều chỉnh tỷ giá dầndần theo mức độ lạm phát cũng được sử dụng như một giải pháp nhằm giảm cầu dotác động vào nhu cầu xuất khẩu Mặt khác, sự điều chỉnh tỷ giá từ từ sẽ làm cho giánội địa của hàng nhập trở nên rẻ hơn giảm bớt áp lực tăng mặt bằng giá trong nước.Đối với những nước phụ thuộc vào hàng nhập khẩu điều này đặc biệt có ý nghĩa.Tuy nhiên hành động can thiệp này có thể làm cạn kiệt nguồn dự trữ quốc tế Chính
Trang 23vì thế việc sử dụng giải pháp này cũng cần cân nhắc đến khả năng dự trữ ngoại hốicũng như khả năng phục hồi nguồn dự trữ của quốc gia.
- Nhóm giải pháp tác động vào cung
Giải pháp quan trọng nhất là tác động vào mối quan hệ giữa mứctăng tiền lương và mức tăng của năng suất lao động xã hội Thực chất là thiết lậpmột cơ chế để đảm bảo mức chi trả tiền lương phù hợp với hiệu quả kinh doanh củatừng doanh nghiệp cũng như toàn bộ NKT Sự thành công của cơ chế này sẽ hạn chếnhững đòi hỏi tăng tiền lương (chi phí chủ yếu trong giá thành sản phẩm) bất hợp lýdẫn đến vòng luẩn quẩn tăng lương- tiền- giá- tăng lương…Việc thiết lập cơ chế tiềnlương trong khuôn khổ hiệu quả kinh doanh được thực hiện bằng các phương phápkhác nhau, có thể nhà nước tham gia ấn định các mức thu nhập một cách đơnphương, có thể trên cơ sở thỏa thuận giữa Nhà nước, giới chủ và tổ chức công đoàn
để xây dựng một hệ thống các mức thu nhập, hoặc thỏa thuận tiền lương được thựchiện ngay tại cơ sở kinh doanh giữa giới chủ và đại diện công đoàn Chính sách kiểmsoát giá cả phải được tiến hành đồng thời với cơ chế tiền lương thực tế, tránh rơi vàovòng xoáy lạm phát lương-giá-tiền…
- Nhóm giải pháp nhằm mở rộng khả năng cung ứng hàng hóa
Giải pháp tình thế và tác động tức thời đến cân đối tiền hàng là nhập khẩuhàng hóa, nhất là các hàng hóa đang khan hiếm góp phần làm giảm áp lực đối với giá
cả Tuy nhiên giải pháp này chứa đựng những nguy cơ tiềm năng,: làm cạn kiệtnguồn dự trữ quốc tế, tạo thói quen dùng hàng ngoại và dặc biệt làm suy giảm sứcsản xuất trong nước
Tăng khả năng sản xuất hàng hóa trong nước được coi là giải pháp chiến lược
cơ bản nhất tạo cơ sở ổn định tiền tệ một cách vững chắc Thực chất đây là giải phápnhằm tăng mức sản lượng tiềm năng của xã hội Đây là chiến lược dài hạn, tập trungvào việc khai thác triệt để năng lực sản xuất của xã hội, nâng cao trình độ của lựclượng lao động, đổi mới thiết bị, hiện đại hóa dây truyền sản xuất và quan trọng nhất
là đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, khuyến khích cạnh tranh và hiệu quả
1.2 Kinh nghiệm sử dụng CSTT nhằm kiểm soát lạm phát của một số nước trên thế giới.
Trang 241.2.1 Trung Quốc
Tại Trung Quốc đến tháng 2/2008 đã lên tới 8,3%, tăng so với mức 7,1%trong tháng 1/2008., cao nhất trong 11 năm qua, trong khi mục tiêu được đề re trongnăm 2008 là kiềm chế giá tiêu ding dưới 4,8% NguyÊn nhân chính là giá lươngthực, thực phẩm tăng tới 23,3% so với mức 18,2% đến hết tháng 1/2008
Để chống lạm phát, chính phủ chủ trương ưu tiên thực hiện chính sách tàichính ổn định, minh bạch và siết chặt chính sách tiền tệ trong năm 2008, hạn chếcung ứng tiền Chính phủ cũng ưu tiên các lĩnh vực liên quan trực tiếp đến đời sốngnhân dân, cho phép đồng nhân dân tệ biến động linh hoạt hơn Thực ra Ngân hàngNhân dân Trung Quốc(Trung Ương) đã thực thi chính sách tiền tệ thắt chặt ngay từnăm 2007 với các biện pháp nới lỏng quy định giao dịch ngoại tệ, tăng tỷ lệ dự trữbắt buộc tới 10 lần và thực hiện 6 lần tăng lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay củacác ngân hàng thương mại, với mức tăng không lớn, để thị trường tiền tệ không bịsốc cũng như không gây khó khăn cho hoạt động ngân hàng
Tháng 5/2007 Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc nới rộng biên độ giao dịchcủa đồng nhân dân tệ so với Đôla Mỹ Theo đó, biên độ giao dịch mua bán USDđược phép dao động trong khoảng 0,5% so với tỷ giá chính thức công bố hàng ngày
Từ ngày 15/8/2007 Chính phủ Trung Quốc cũng quyết định giảm mạnh thuếthu nhập đối với lãi tiết kiệm từ 20% xuống còn 5% Tháng 9/2007, Ngân hàng Nhândân Trung Quốc quyết định tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc từ 12% lên 12,5%, từ tháng10/2007 tiếp tục tăng lên 13%
Quyết định này nhằm kiểm soát lưu thông tiền tệ và kiềm chế tốc độ cho vayquá mạnh của các ngân hàng thương mại vào bất động sản Tháng 11/2007NHNDTQ tiếp tục quyết định tăng thêm 0,5% tỷ lệ dữ trữ bắt buộc, lên 13,5%, từtháng 12/2007 lần thứ 10 kể từ đầu năm 2007, tăng lên 14%
Kèm theo các biện pháp nói trên, chính phủ Trung Quốc cũng phát hành tín phiếuđối với các ngân hàng thương mại nhằm thu hút tiền từ lưu thông về
1.2.2 Hàn Quốc
Mức độ lạm phát hàng hóa của Hàn Quốc năm 2007 là 2,5%, phá kỷ lục kể từ
5 năm trở lại đây Vào đầu năm 2008, Chính phủ Hàn Quốc đã thực hiện chính sách
ổn định giá cả hàng hóa thời gian ngắn, trong đó có các biện pháp sau:
Trang 25- Thành lập tổ công tác về chính sách liên ngành đối với sự ổn định giá
cả với sự tham gia của 14 cơ quant rung ương như Bộ Tài chính kinh tế, Bộ tàinguyên, Bộ Giáo dục, Bộ Nông lâm, Cơ quan y tế thực phẩm… ủy ban trao đổithương mại bình đẳng Nhiệm vụ là theo dõi, kiểm soát những sản phẩm tăng giá quánhanh, thành lập nhóm điều tra hiện trường để điều tra, theo dõi về việc sản xuất, lưuthông hàng hóa liên quan đến dân sinh Chính quyền địa phương cũng thành lập cơquan chỉ đạo và ủy ban đối sách về giá cả để theo dõi xu hướng lên xuống của giá cả
và đề ra chính sách tương ứng
- Tăng cường điều tiết nền kinh tế vĩ mô Theo đó, chính phủ và cơ
quan tài chính sẽ điều chỉnh phù hợp chính sách tiền tệ: tăng lãi suất 2 lần
- Chính sách tài khóa: miễn giảm một số dòng thuế tiêu thụ và nhập
khẩu, tiến hành hỗ trợ trên 1 tỷ USD cho nông dân vay vốn ưu đãi nhằm tăng mứccung lương thực thực phẩm, giảm 50% mức phí giao thông vận tải trên các tuyếnđường cao tốc trong một số giờ Miễn giảm thuế, tăng cường trợ cấp cho những giađình có thu nhập thấp, mở rộng phạm vi hỗ trợ cho tầng lớp dân cư có thu nhập thấpthông qua các quỹ hỗ trợ tài chính cho giáo dục, hỗ trợ phúc lợi, miễn giảm thuế.Đồng thời khuyến khích các doanh nghiệp tạo thêm cơ hội việc làm cho nhữngngười nghèo trong xã hội, sử dụng ngân sách chính phủ giúp giảm bớt áp lực của cácdoanh nghiệp vừa và nhỏ
- Biện pháp khác: Ngăn chặn và xử lý nghiêm những hành vi bán phá
giá không chính đáng, trọng điểm là những hành động lũng đoạn giá cả, tăng cườnggiám sát các hành vi tăng giá cao các sản phẩm hàng hóa như dầu mỏ, lương thực,phòng ngừa những giao dịch không minh bạch thông qua lợi dụng thị trường và địa
vị chính trị
1.2.3 Ân Độ
Trong báo cáo đánh giá kinh tế của chính phủ ấn độ vừa qua, Bộ tài chính chorằng:” Lạm phát vẫn còn cao trong năm tài chính nhưng đang giảm dần Chỉ số lạmphát bán buôn(WPI- gồm 435 mặt hàng) đã tăng từ tháng 9/2009 và vẫn tiếp tục ởmức cao, sau khi lên đỉnh điểm là 11% trong tháng 4/2010 Tính theo chỉ số tích tụtrong năm tài chín hiện hành thì lạm phát tăng 4,3% trong tháng 10/2010 so với5.9% cùng kỳ năm 2009, chứng tỏ sức ép lạm phát trong nửa năm tài chính hiện
Trang 26hành đã giảm 1,17% Tuy nhiên giá lương thực cao một phần do nạn hạn hán của ấn
Độ năm ngoái và giá thế giới cũng tăng lên đã đẩy lạm phát lên Nguyên nhân lạmphát WPI tăng cao là do giá lương thực cùng lạm phát thấp năm trước Trong khi đó,chỉ số lạm phát giá tiêu ding (CPI) vẫn cao do tỷ trọng các mặt hàng lương thực,thực phẩm chiếm đại đa số trong nhóm, nhưng nhìn chung ít biến động hơn trước
Thế nhưng tháng 11/2010 tỷ lệ lạm phát WPI là 7,48%so với 5,58% trongtháng 10 trong khi đó giá lương thực tăng đột biến lên 12,13% Chính phủ ấn độ tintưởng rằng tốc độ tăng trưởng GDP sẽ đạt mức 8,5-8,75% trong cả năm tài chính2010- 2011 và giá lạm phát bán buôn có thêt dừng ở mức trong tầm kiểm soát là6,5% và dự kiến chỉ số lạm phát trong năm tài chính 2011-12 sẽ giảm Như vậy là ấn
độ là một trong những nước thành công trong việc kiểm soát tình hình lạm phát,không để phi mã
ấn độ luôn ý thức được rằng lạm phát cao là mối lo ngại vì nó ảnh hưởng đếntốc độ và chất lượng của tăng trưởng kinh tế bền vững và rộng khắp Trong thời gianqua, chính phủ ấn độ đã áp dụng một loạt các biện pháp tổng thể khá hiệu quả đểkiểm soát giá cả về ngắn hạn, trung hạn và dài hạn
- Các biện pháp ngắn và trung hạn gồm: Cấm xuất khẩu và buôn bán
có kỳ hạn một số lương thực, ngũ cốc áp thuế 0% đối với một số mặt hàng thiết yếu
và cho phép khu vực doanh nhân nhập khẩu các loại đậu và đường, phân phối cácloại đậu nhập khẩu và đàu ăn …Ngân hàng dự trữ trung ương đã tháo dần ngòi lạmphát sau khi chỉ số lạm phát lên đến 2 con số trong 5 tháng lion, tính đến tháng 7năm 2010 và bắt đầu giảm dần Chỉ số lạm phát các mặt hàng chế tạo phi lương thực,nhạy cảm nhất đối với các biện pháp tài chính, cũng có biểu hiện thuyên giảm Tuynhiên giá lương thực thực phẩm vẫn cao một cách không thể chấp nhận được
- Các biện pháp tài chính và tiền tệ: Rút từng bước và rút hết( vào
tháng 3 năm 2011) các biện pháp giải cứu nền kinh tế (bơm 40 tỷ USD) trong cuộckhủng hoảng vừa qua chỉ bơm thêm 10 tỷ USD từ nay đến hết quý 4 NHTW đãnâng tỷ lệ lãi suất liên ngân hàng lên 6,25% và nâng tỷ lệ dự trữ tiền mặt của mỗingân hàng lên 5,25% Đây là lần thứ 6 trong năm NHTW nâng lãi suất và dự trữ bắtbược nhằm kiểm soát lạm phát Những biện pháp này có hiệu lực ngay lập tức NH
đã cấp tín dụng dễ dàng cho người mua nhà, công bố dự thảo quy định về việc cấp
Trang 27phép mở NH mới để lấy ý kiến phản hồi, đưa ra văn bản về thỏa thuận tỷ lệ lãi suất
để các ngân hàng trao đổi thống nhất, và sẵn sàng hành động nếu luồng vốn đầu tưgián tiếp biến động có tình trạng bốc hơi hoặc trì trệ, nới lỏng tín dụng cho giớithương nhân buôn bán, phân phát lương thực
- Biện pháp dài hạn như tiếp tục dựa vào các biện pháp chính sách tài
chính, tiền tệ một cách linh hoạt để điều tiết thị trường sắn sàng sử dụng mọi biệnpháp phòng ngừa triệt để tận gốc các nguy cơ gia tăng lạm phát, duy trì chế độ dự trữtiền mặt bắt buộc trong mỗi ngân hàng để bảo đảm tính thanh khoản và kiểm soátlưu thông tiền tệ trên thị trường
1.2.4 Nga
Năm 2007, tỷ lệ lạm phát bình quân ở Nga là 8,7%, trong đó lạm phát tháng12/2007 đã lên đến 11,9% Để kiểm soát giá cả, đặc biệt là giá lương thực tăng vọt,ngay từ năm 2007, chính phủ Nga đã đưa ra hàng loạt biện pháp như: thắt chặt CSTTthông qua tăng lãi suất, kiểm soát việc lưu thông lượng tiền lớn quá lớn; CSTK tăngthuế XK lúa, hạt mạch từ 0-10-30%; giảm thuế nhập khẩu các mặt hàng như thịt hộp,rau quả, dầu ăn từ 15% xuống 5%, đồng thời xóa bỏ những hạn chế việc nhập khẩuthịt hộp đến từ Trung Quốc, Mỹ, và Brazil; Các giải pháp khác như tung ra thịtrường 1,5 triệu tấn lương thực, trực tiếp can thiệp về giá cả, thông qua việc chínhphủ thỏa hiệp giá cả hàng hóa với các hãng sản xuất, kinh doanh hàng hóa lớn trongnước đồng thời hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp liên quan; tấn công các hành vi
vi phạm việc nâng giá, tăng lương hưu cơ bản và tuyên bố vào nửa cuối năm 2008tiếp tục tăng lương để giải quyết khó khăn trong sinh hoạt của người hưu trí
1.2.5 Thái Lan
Lạm phát bình quân năm 2007 đạt 2,2%, mặc dù thấp hơn năm 2006 (4,7%)nhưng có xu hướng tăng trở lại trong nửa cuối năm 2007, đến tháng 12/2007 đã đạt3,2% Mặc dù chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa được giữ ổn định từ nửa cuốinăm 2007 và trong những tháng đầu năm 2008 nhằm hạn chế tác động tiêu cực đếnnền kinh tế vốn đang phải đối mặt với các khó khăn về mặt chính trị, nhưng chínhphủ Thái Lan đã thực hiện những biện pháp nhằm góp phần ổn định giá cả như: đưa
4 mặt hàng lương thực, rượu, sữa, bình ắc quy vào danh sách những mặt hàng bắt
Trang 28buộc chịu sự quản lý về sản xuất, kinh doanh, bất cứ hành vi tăng giá những mặthàng này đều phải được sự cho phép của Bộ Thương mại, thực hiện kế hoạch Lá cờxanh yêu cầu các hãng cung ứng hàng hóa phải đưa ra thị trường các loại thực phẩm
và đồ đi kèm với sự tiện lợi về dịch vụ giao hàng và giá rẻ hơn những cửa hàngthông thường, tấn công các hành vi vi phạm giá bán của hàng hóa và bất cứ ai đầu cơtích trữ, căn cứ vào luật pháp để phạt tiền rất cao, nếu nghiêm trọng có thể phải chịutrách nhiệm hình sự
Chương II- Thực trạng lạm phát và việc sử dụng chính sách tiền tệ nhằm kiểm soát lạm phát tại Việt Nam
2.1 Thực trạng lạm phát tại Việt Nam( từ năm 2005 đến nay)
Một số chỉ số kinh tế giai đoạn 2005-2010
Tháng 3
Tháng 4
Tháng 5
Tháng 6
Tháng 7
Tháng 8
Tháng 9
Tháng 10
Tháng 11
Tháng 12
Chart Title
Trang 29Giai đoạn 2005-2006
Theo số công bố của Tổng cục thống kê, tính đến hết tháng 12-2005, chỉ sốgiá tiêu dùng của cả nước đã lên tới 8,4%, vượt xa so với mức 6,5% theo nghị quyếtcủa Quốc hội đề ra từ đầu năm, thấp hơn so với mức 9,5% của năm 2004
Phân tích các nhóm hàng và nguyên nhân của diễn biến tăng giá, có thể thấynhư sau:
- Tăng giá cao nhất trong cả năm 2005 là nhóm mặt hàng lương thực,
thực phẩm Tính chung trong cả 12 tháng đầu năm 2005, nhóm lương thực, thựcphẩm tăng 10,8%, thấp hơn so với mức tăng kỷ lục 15,6% của cả năm 2004, trong đóriêng nhóm hàng thực phẩm đã tăng tới 12% và nhóm mặt hàng lương thực tăng7,8%
Nguyên nhân do giá xuất khẩu gạo của Việt Nam tăng, giá thu mua một sốmặt hàng lương thực làm thức ăn gia súc tăng, làm tăng giá các mặt hàng lương thựctrong nước.Diện tích đất đai sản xuất lương thực có xu hướng giảm do chuyển đổi cơcấu cây trồng, do đất đai canh tác được chuyển sang đất đô thị, đất khu công nghiệp,đất làm đường giao thông và các mục đích khác Mặt khác giá thành sản xuất cácmặt hàng lương thực cũng tăng lên Đặc biệt là giá thóc gạo xuất khẩu ở khu vựcđồng bằng sông Cửu Long, mưa lũ tại các tỉnh miền Trung trong các tháng 10,11 vàtháng 12-2005 Bởi vậy đã làm cho giá lương thực trong năm 2005 tăng tới 7,8%.Tuy nhiên vẫn thấp hơn mức tăng 14,3% của mặt hàng lương thực trong năm 2004
Trong khi đó giá cả mặt hàng thực phẩm tính chung trong năm 2005 tăng12% thấp hơn so với cả năm 2004 đã tăng kỷ lục, tới 17.1% Nguyên nhân là do tácđộng của dịch cúm gia cầm …cũng như tình trạng đóng băng tiêu thụ các sản phẩm
ở nhiều địa phương Do đó nhu cầu tiêu thụ thực phẩm được dồn sang các mặt hàngkhác làm cho giá bán lẻ nhóm mặt hàng này tăng lên Trước tình hình diễn biến củadịch cúm gia cầm đến cuối tháng 11-2005 đã lan rộng đến 17 tỉnh thành phố trong cảnước, cũng như tình trạng tiêu thụ các sản phẩm gia cầm ở nhiều địa phương bị đóngbăng, làm cho giá thực phẩm trong tháng 12-2005 tiếp tục tăng giá Cùng với tác
Trang 30động của lũ lụt ở khu vực miền Trung, do nhu cầu tiêu thụ vào dịp cuối năm nên chỉ
số giá-CPI trong tháng 12-2005 vẫn tiếp tục tăng tới 1,7%
- Mức tăng lớn thứ hai trong năm 2005 là nhóm mặt hàng nhà ở và vậtliệu xây dựng Trong năm 2005 nhóm này đã tăng 9,8% Nguyên nhân của tình trạng
đó là do giá sắt thép trên thị trường thế giới và giá bán lẻ thị trường trong nước tăngcao, đồng thời nhu cầu xi măng và cá mặt hàng vật liệu xây dựng khác trong nướccũng tăng, tác động lên giá bán lẻ
- Mức tăng đứng hàng thứ ba trong cả năm 2005 là nhóm phương tiện
đi lại và bưu điện, Tính chung trong 12 tháng nhóm này tăng 9,1% Nguyên nhânchủ yếu là do giá bán lẻ xăng dầu trong nước tăng cao Cũng trong 11 tháng đầu năm
2005, giá bán lẻ các mặt hàng xăng dầu thị trường trong nước được điều chỉnh tăngtới 3 lần, với tổng mức tăng bình quân từ 45,6% đến 55% Nguyên nhân là do giádầu thô trên thế giới tăng cao lên đến mức đỉnh điểm trong hàng chục năm qua Đếnngày 22-11-2005 giá bản lẻ xăng dầu được điều chỉnh giảm 500đ/lít, nhưng khôngtác động giảm cước phí giao thông vận tải và đi lại
- Thứ tư là nhóm đồ dùng và dịch vụ khác trong năm 2005 tăng 6,0%
Tiếp đến là nhóm mặt hàng giáo dục, may mặc, mũ nón, giày dép tăng 5.0%; dượcphẩm y tế tăng 4,9%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 4,8% Riêng nhóm văn hóathể thao giải trí có mức tăng thấp nhất là 2,7%
- Vàng và đô la Mỹ không tính trong chỉ số giá tiêu dùng CPI nhưng
riêng giá vàng tăng tới 11,3%
- Về tiền tệ: Trong năm 2005 NHNN đã 3 lần tăng các loại lãi suất chủ đạo, 2 lần tăng lãi suất cơ bản đồng Việt Nam và giữ mức cao tỷ lệ dự trữ bắt buộc,thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt Thực tế các chỉ tiêu: Khối lượng tiền cung ứng
ra lưu thông, dư nợ cho vay…của hệ thống NH thấp hơn cùng kỳ và cả năm 2004.Tổng phương tiện thanh toán đến hết tháng 11-2005 tăng 16,4% so với 31-12-2004,
dự báo cả năm sẽ chỉ tăng khoảng 18% Bản thân các NHTM cũng kiểm saot chặtchẽ cho vay Thậm chí nhiều NHTM nhà nước còn khống chế chỉ tiêu tăng trưởng
dư nợ của các chi nhánh NHTM trực thuộc Các NHTM còn đẩy mạnh huy động vốntrong nền kinh tế, đồng thời đầu tư khoảng trên 22000 tỷ đồng vào tín phiếu kho bạc
Trang 31Nhà nước thông qua đấu thầu do NHNN tổ chức, mua công trái giáo dục, trái phiếuchính phủ, trái phiếu doanh nghiệp và trái phiếu đô thị của Hà Nội… Do đó một lầnnữa có thể khẳng định, tiền tệ không phải là nguyên nhân gây nên chỉ số CPI tăngcao trong năm 2005.
- Về chính sách tài chính, dự kiến thu Ngân sách cả năm 2005 sẽ đạt
210.400 tỷ đồng, vượt 15% so với kế hoạch và tăng 16% số thực hiện năm 2004.Trong đó số chi ngân sách cả năm 2005 dự tính chỉ tăng 12,5% so với dự toán Bộichi vẫn nằm trong mức do Quốc hội cho phép Vốn Ngân sách đầu tư phát triển chocác dự án giải ngân không đạt kế hoạch Điều đó cho thấy tiền ngoài lưu thông đượcthu hút về qua kênh ngân sách đạt kết quả rất tích cực Các khoản chi ra được thựchiện chặt chẽ Tất nhiên là không tránh khỏi tình trạng tham ô, lãng phí, tiêu cực,tham nhũng,… qua kênh chi tiêu Ngân sách, qua các dự án đầu tư xây dựng cơ bản.Mặc dù vậy, cũng không thể đổ lỗi cho thực hiện CSTK gây nên tình trạng tăng chỉ
số CPI năm 2005
Diễn biến chỉ số tăng giá và tâm lý lạm phát trong năm 2005 chủ yếu do thịtrường thế giới, tiếp đến do thiên tai và dịch bệnh Về mặt khoa học và thực tiễnkhông thể đổ lỗi cho vấn đề tiền tệ và hoạt động ngân hàng, hay do thực hiện chínhsách tài chính gây nên tình trạng tăng giá nói trên
Năm 2006, mức tăng chỉ số giá tiêu dùng giảm xuống còn 6,6% so với mức8,4% của năm 2005, lạm phát bình quân giảm xuống còn 7,4% so với mức 8,3% củanăm 2005
Trang 32Tháng 2
Tháng 3
Tháng 4
Tháng 5
Tháng 6
Tháng 7
Tháng 8
Tháng 9
Tháng 10
Tháng 11
Tháng 12
từ nguồn cung tiền tệ quá lớn
Theo các chuyên gia về thị trường giá cả Việt Nam, năm 2007, tốc đọ pháttriển kinh tế chưa đạt đến mức 8,5% như kỳ vọng, trong khi đó, chỉ số giá đã vượtquá xa mục tiêu kiềm chế Mặc dù tốc độ tăng giá chưa đến mức là một thảm họa đốivới một nền kinh tế đang phát triển nhanh như Việt Nam, song lại là một tín hiệukhông tốt cho đời sống người dân và nền kinh tế Trong năm 2007, yếu tố cơ bản gâynên lạm phát là tiền nhiều Riêng kiều hối lên đến 5 tỷ USD thậm chí có thể lên đến7,5 tỷ USD Trong khi nhà nước lại chủ động tăng dự trữ ngoại hối lên từ 13-20 tuầnnhập khẩu Hàng trăm ngàn tỷ đồng tung ra trong thời gian ngắn để hút USD đã gây
ra tác động lớn đến tăng giá hàng hóa, dịch vụ Trước đây, chỉ vài chục ngàn tỷ đồngtung ra đã làm khuynh đảo thị trường, năm 2007 tung ra đến hàng trăm tỷ đồng là rấtlớn đối với thị trường trong nước và tác động đến tăng lạm phát Bên cạnh đó, đã có
ít nhất 15 tỷ USD đã đổ vào Việt Nam trong năm 2007 từ các nguồn: dịch vụ (dulịch) 4,6 tỷ USD, vốn FDI giải ngân 2,2 tỷ USD, vốn vay ODA 1,8 tỷ USD, cổ phiếu
và trái phiếu 2,5 tỷ USD…và đây là nguyên nhân chính gây nên tình trạng lạm phát
ở Việt Nam và là mức lạm phát cùng kỳ cao nhất trong các nước mới nổi ở ĐôngNam á Mặc dù có nhiều nước tiếp nhận số lượng ngoại tệ rất lớn nhưng vẫn cơ bảngiữ được tỷ lệ lạm phát ở mức tương đối thấp Vấn đề của Việt Nam là do chính sách
Trang 33quản lý tài chính, tiền tệ chưa hợp lý Dường như Việt Nam có tất cả các dấu hiệucủa một nước tiếp nhận nhiều tiền mà không hấp thụ tốt, sự bùng nổ về xây dựng, tàisản, dự trữ ngoại tệ tăng, định giá cao tỷ lệ hối đoái, lạm phát gia tăng,…và điều nàylàm trầm trọng thêm tình trạng lạm phát.
Bên cạnh đó, từ nửa cuối năm 2007 giá cả các loại hàng hóa trên thế giới đãtăng nhanh tỷ lệ nghịch với sự mất giá danh nghĩa của đồng USD đẩy mặt bằng giánguyên nhiên vật liệu đầu vào, đặc biệt là dầu thô, lên cao gấp 2 đến 3 lần so vớinăm 2003 Giá dầu lửa đã tăng từ 53,4 USD/thùng tháng 1/2007 lên 89,4USD/thùngtháng 12/2007 Tốc độ tăng giá năng lượng và đặc biệt là giá lương thực trong giaiđoạn này là nguyên nhân dẫn tới tình trạng lạm phát trên diện rộng ở tất cả các nướctrên thế giới
Dấu hiệu lạm phát cao đã bắt đầu xuất hiện từ tháng 6 năm 2007 khi chỉ sốgiá CPI tháng 6 vọt lên xấp xỉ 1%- trái hẳn với thông lệ giá cả hơn 1 thập kỷ qua
Năm 2008
Năm 2008 đã đi vào lịch sử phát triển kinh tế Việt Nam như một năm đầybiến động , sóng gió đối với nền kinh tế Việt Nam Nửa đầu năm 2008 lạm phát tiếptục leo thang và vượt ra mọi qui luật đã hình thành từ hàng chục năm nay buộc ViệtNam phải điều chỉnh chính sách từ ưu tiên tăng trưởng sang ưu tiên kiềm chế lạmphát Chỉ sau 6 tháng, tổng cục thống kê đã công bố chỉ số CPI đã lên đến tới 26,8%
so với tháng 7 năm 2007 và 18,44% so với cuối năm 2007, riêng giá nhóm hànglương thực tăng tương ứng tới 74,3% và gần 60%- phá vỡ mọi dự tính về kiểm soátlạm phát ổn định kinh tế vĩ mô và còn nghiêm trọng hơn khi Việt Nam cơ bản vẫn lànước nông nghiệp với nông dân vẫn chiếm trên 60% dân số và lực lượng lao động
Sự phụ thuộc của nền kinh tế nói chung, của giá cả thị trường nói riêng vào nhữngbiến động trong khu vực sản xuất lương thực thực phẩm của nước ta còn rất lớn mặc
dù tỷ trọng khu vực nông nghiệp đã giảm chỉ còn xấp xỉ 20% GDP Giá cả tăngmạnh không chỉ trong dịp tết mà còn cả trong các tháng sau tết, trái hẳn với quy luậtvận động của giá cả trong những năm gần đây Sau hơn 1 thập kỷ, lạm phát đangquay trở lại đe dọa những thành quả kinh tế- xã hội Đỉnh điểm lạm phát lên đến3,91% vào tháng 5 năm 2008- trùng với thời điểm giá gạo trên thị trường quốc tếtăng vọt tới trên 1000USD/tấn và khủng hoảng lương thực trở thành mối đe dọa toàn
Trang 34cầu Ngay tại một cường quốc xuất khẩu gạo hàng đầu như Việt Nam mà tin đồnthiếu gạo đã đẩy đông đảo người tiêu dùng lo lắng về tình trạng thiếu gạo còn cơquan chức năng yêu cầu ngừng xuất khẩu gạo.
Bên cạnh đó, tốc độ tăng trưởng kinh tế cũng bắt đầu suy giảm mặc dù tỷ lệđầu tư tiếp tục ở mức cao, GDP nửa đầu năm chỉ tăng 6,5% so với cùng kỳ nămtrước, thấp hơn nhiều so với mức tăng cùng kỳ một số năm gần đây Lạm phát trongnăm 2008 cao như vậy do nhiều nguyên nhân khách quan, trong đó hai nguyên nhân
cơ bản là:
+ Các biện pháp kích cầu đầu tư (tập trung tăng đầu tư trực tiếp từNSNN và có nguồn gốc NSNN) nhằm vượt qua khủng hoảng tài chính khu vực1997-1998 khởi nguồn từ đầu những năm 2000 và nỗ lực đẩy tốc độ tăng trưởngkinh tế lên cao đã làm cho hiệu quả đầu tư giảm sút nghiêm trọng, ICOR tăng lênđến trên 5 vào năm 2007, thậm chí có thể xấp xỉ 7 vào năm 2008, đi đôi với mở rộngtín dụng ngân hàng quá mức và có phần quá dễ dãi tương tự như cho vay dưới chuẩncủa Mỹ từ nửa cuối năm 2007 (tổng tín dụng năm 2007 mở rộng tới 154% so vớinăm trước, hơn nữa một phần không nhỏ lại đổ vào tạo ra bong bóng chứng khoán
và bất động sản Bên cạnh đó, bộc phát tiêu dùng quá mức và thâm hụt NSNN triềnmiên làm tăng thêm lạm phát
+ Lạm phát mang tính toàn cầu trong nửa đầu năm 2008 với giá cả nhiềuhàng hóa chiến lược tăng vọt, điển hình như giá gạo lên tới 1000USD/tấn vào tháng5-2008, khủng hoảng lương thực toàn cầu đã báo động đỏ hay giá dầu thô lên đỉnh147USD/thùng vào tháng 7-2008, giá sắt thép, phân bón, thức ăn chăn nuôi…cũngliên tục lập kỷ lục mới và tất yếu tác động tức thì tới giá cả của một nền kinh tế có độ
mở lớn như Việt Nam với tổng kim ngạch xuất khẩu tới trên 150%GDP Bên cạnh
đó do những hạn chế trong dự báo thị trường nên Việt Nam lại phải chịu đựng thêmnhững thua thiệt không đáng có trước biến động trên thị trường quốc tế, chẳng hạnnhư việc dừng xuất khẩu gạo trong khi giá gạo xuất khẩu tăng cao, sau đó lại phải hỗtrợ để xuất khẩu gạo trong khi giá gạo đã xuống thấp, ồ ạt mua phôi thép giá cao dẫnđến tồn đọng khối lượng lớn trong khi giá thép trên thị trường quốc tế đã giảm rấtmạnh,hay như liên tục giảm giá xăng dầu một cách nhỏ giọt tới 9 lần trong vòng hơn
4 tháng nhưng cũng không theo kịp sự mất giá tới 2/3 của giá dầu thô quốc tế
Trang 35Tháng 2
Tháng 3
Tháng 4
Tháng 5
Tháng 6
Tháng 7
Tháng 8
Tháng 9
Tháng 10
Tháng 11
Tháng 12
Nhìn lại diễn biến CPI trong 12 tháng của năm 2009, Tổng cục thống kê chorằng tính quy luật diễn biến giá tiêu dùng hàng tháng đã diễn ra (quy luật này thườngxác lập trong những năm nền kinh tế phát triển ổn định)
Cụ thể, giá hàng hóa, dịch vụ thường tăng cao trong hai tháng đầu năm do ảnhhưởng của Tết nguyên đán, sau đó giảm trong tháng 3 rồi tăng nhẹ từ tháng 4 đếntháng 10, hai tháng cuối năm giá tăng khá cao do áp lực tăng chi tiêu dùng và đầu tư
xã hội Tuy nhiên, việc CPI tháng 12/2009 tăng mạnh, trước thời điểm Tết nguyênđán tới 2 tháng là diễn biến sớm so với nhiều năm trước, Nguyên nhân có thể do kỳvọng về một quy mô thị trường tiêu thụ lớn dịp Tết nguyên đán, đang khiến nhiềunguồn hàng tiêu dùng thiết yếu bị găm lại để chờ thời Trong tháng này, động lựcmạnh mẽ nhất thuc đẩy CPI tăng mạnh đến từ mặt hàng lương thực, với mức tăng6,88% Nhóm hàng thực phẩm và ăn uống ngoài gia đình, nhóm hàng ăn và dịch vụ
ăn uống đi đầu trong các nguyên nhân tác động đến CPI tháng 12-2009 Nhóm giaothông tăng cao nhất do nguyên nhân chủ yếu đến từ đợt tăng giá xăng dầu cuối
Trang 36Tháng 11-2009
Những hàng hóa, dịch vụ có chu kỳ tăng cuối năm cũng đang rục rịch tănggiá Chỉ số giá nhóm nhà ở, vật liệu xây dựng cũng tăng mạnh tới 1,4% do giá sắtthép, vật liệu xây dựng tiếp tục xu hướng tăng và thị trường bước vào mùa hoànthiện công trình xây dựng Tương tự là nhóm đồ uống, thuốc là tăng tới 0,97%;nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,81%; các nhóm còn lại tăng không nhiềutrong tháng 12-2009 Trong 11 nhóm hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng thiết yếu, duy nhấtchỉ số giá tháng 12-2009 nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,11% so với tháng trước
đó Trong một tháng, giá vàng đã tăng 10,49%; chỉ số giá USD tăng 3,19% So vớimột năm trước, các con số tương ứng là 64,32% và 10,7% Bình quân cả năm 2009
so với năm 2008 tương ứng tăng 19,16% và 9,17% Năm 2009 khép lại với mức tăngCPI trong vòng kiểm soát, nhưng gạo và xăng dầu, hai mặt hàng có vai trò lớn việctính CPI vẫn luôn là yếu tố bất định trong năm qua
Nhìn về phía trước, cung hàng hóa và dịch vụ đang vào chu kỳ tăng, trong khi
đó, giá thế giới đang phục hồi cùng với độ trễ chính sách tài chính, tiền tệ là nhữngnhân tố tác động đến CPI, khiến diễn biến chỉ số giá không dễ xác định
CPI tháng 12-2009 đã đạt mức tăng cao nhất so với các tháng trong năm nay.Trước đó, kỷ lục thuộc về tháng 2 với mức tăng 1,17% Xu thế tăng chỉ số giáxác lập từ tháng trước, nay đã được khẳng định (tháng 11 chỉ tăng 0,55%;
Trang 37tháng 10/2009 tăng nhẹ 0,37% ) Một số nhận định cho rằng, CPI dường nhưđang bước vào giai đoạn tăng tốc nước rút cuối năm âm lịch Bên cạnh đó việcgiá cả hàng hóa thế giới tiếp tục tăng ở mức cao cùng với việc điều chỉnh tỷ giáUSD/VND đã tác động tới nhiều loại hàng hóa nhập khẩu, hoặc phụ thuộcnguyên liệu nhập khẩu.
Trong khi đó, tác động của tăng giá xăng dầu cuối tháng 11 cũng làm tăng giácước vận tải, vận chuyển và các hàng hóa khác, lãi suất cơ bản tăng từ 7 lên 8%
áp dụng từ 1-12 cũng tác động tới lãi suất huy động và cho vay của các ngânhàng thương mại, ảnh hưởng tới chi phí vốn của doanh nghiệp
Ngoài ra giá gạo, đường, thịt tươi sống, thủy sản, hàng may mặc, vật liệu xâydựng…vẫn trong xu hướng tăng, cũng là nguyên nhân đẩy chỉ số giá tăng ởnhiều tỉnh, thành phố trên cả nước
Năm 2010
Tuy nhiên sang năm 2010, chỉ số CPI lại có sự gia tăng bất ngờ và đạt 11,75% tăngcao so với năm 2009, thể hiện ở cả ba chỉ tiêu: lạm phát CPI tăng 11,75% so với6,52% của năm 2009, lạm phát lương thực thực phẩm tăng 16,18% so với 5,78% củanăm 2009, lạm phát bình quân tăng 9,19% so với 6,88% của năm 2009 do chịu tácđộng của cả sức ép nên cung (giá cả hàng hóa thiết yếu, đặc biệt là lương thực thựcphẩm), bên cầu (đầu tư, tiêu dùng) và nhân tố tiền tệ Trong 11 nhóm hàng của rổhàng hóa CPI, 9 nhóm hàng có mức tăng cao hơn năm 2009, trừ nhóm hàng Giaothông (3,75%) và Bưu chính viễn thông(-5,9%); trong đó các nhóm hàng có mứctăng mạnh nhất là Hàng ăn và dịch vụ ăn uống (tăng 16,18% và chiếm tỷ trọng56,3%); tiếp đó là Giáo dục (tăng 19,38% và chiếm tỷ trọng 8,52%); Nhà ở vật liệuxây dựng ( tăng 19,38% và chiếm tỷ trọng 12,8%); Hàng hóa và dịch vụ khác ( tăng11,83% và chiếm tỷ trọng 3,18%); Đồ uống, thuốc lá (tăng 9,57% và chiếm tỷ trọng3,54%), các nhóm hàng còn lại dao động từ 3,75% đến 8,38%
2011
Tuy nhiờn, xem xột nguyờn nhõn của lạm phát 7 tháng đầu năm 2011 khônghẳn tương đồng với cỏc nguyờn nhõn gõy ra lạm phát năm 2008 mà có một số
Trang 38nguyờn nhõn nổi lờn cần cú biện pháp để hạn chế tốc độ tăng giỏ, cụ thể là cỏcnguyờn nhõn:
+ Căn nguyên của lạm phát năm năm 2011 vẫn là những căn nguyên củanăm 2008, mặc dù trong hơn 2 năm qua chính phủ đó thực hiện nhiều giải pháp
để tỏi cấu trỳc nền kinh tế, nõng cao chất lượng đầu tư, thắt chặt CSTT, tàikhúa, song tỡnh hỡnh chưa được cải thiện nhiều Năm 2009 Chính phủ thựchiện cỏc biện phỏp chống suy giảm kinh tế, đưa tổng đầu tư xó hội từ mức 41%năm 2008 lên trên 42% GDP và các biện phỏp nới lỏng tiền tệ khác, như chovay hỗ trợ lói suất, giảm thuế cũng có tác động nhất định đến lạm phát 7tháng đầu năm 2011
+ Phõn tớch về nguyờn nhõn do giỏ cả thế giới tăng cao, như lỳa mỳtăng 70,5%, phân bón tăng 63,9%, xăng dầu cỏc loại tăng 58,5%, cao su các loạităng 54,2%, sợi cỏc loại tăng 51,8%, Mức tăng này so với năm 2008 là thấphơn Riờng việc tăng giá xăng dầu nhập khẩu 7 tháng đầu năm 2011 thấp hơn
2008, nhưng mức độ tác động đến CPI lớn hơn do năm 2011 Chính phủ khụng
bự lỗ giá xăng dầu Chỉ số CPI của nhúm giao thụng vận tải 7 tháng 2011 tăng21,7% (7 tháng đầu năm 2008 khoảng 14%)
Xột ảnh hưởng của sự gia tăng giá lương thực thực thế giới đến giálương thực thực phẩm của Việt Nam, một cõu hỏi được đặt ra là, tại sao cácnước lõn cận cú một số điểm tương đồng với kinh tế Việt Nam như Thái Lan,
Ấn Độ, Trung Quốc giỏ thực phẩm cũng tăng cao nhưng ở mức thấp hơn so vớiViệt Nam? (xem bảng 1) Mặc dự Việt Nam là nước xuất siêu lương thực, thựcphẩm, nhưng mức giá tăng cao hơn 2-3 lần các nước lõn cận Điều này chothấy ảnh hưởng của giỏ thế giới chỉ tác động phần nhỏ đến giỏ cả Việt Nam
2.1.2 Các nguyên nhân, yếu tố cơ bản của lạm phát Việt Nam từ năm 2005 đến 2011Nguyên nhân gây ra lạm phát thời kỳ này chủ yếu là do cầu kéo, chi phí đẩy và cácyếu tố khác như luồng vốn nước ngoài vào Việt nam tăng mạnh, đặc biệt sau khiViệt Nam gia nhập WTO, hiệu quả sử dụng vốn chưa cao, do ếu tố tâm lý…
Nguyên nhân do cầu kéo
Do chi tiêu dùng của các hộ gia đình tăng, từ một số năm gần đây, qua nhiều lần tănglương đồng loạt trong khối cán bộ công chức Nhà nước hưởng lương từ Ngân sách,lĩnh vực kinh tế cổ phần, tư nhân, tác dụng làm tăng quỹ mua của xã hội
Mức điều chỉnh tăng lương tối thiểu 2007-2010
Trang 39DN FDI 710-870 800-1000 920-1200 1000-1340
Do áp lực tăng trưởng kinh tế tăng cao: Để đạt được tốc độ tăng trưởng bình quânnhững năm vừa qua đạt 7,5%-8%, phấn đấu đạt trên 8%/năm, NSNN đã thực hiệnnới lỏng tiền tệ, tăng cung tiền kích thích đầu tư
Chi tiêu của Chính phủ: Chính phủ liên tục chi tiêu vượt quá thu ngân sách dẫn đếntình trạng bội chi thường xuyên Các lý do chủ yếu làm tổng chi tiêu của cá chủ thểkinh tế tăng nhanh trong thời gian vừa qua
- Do thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng trong nhiều năm làm tổng phươngtiện thanh toán tăng cao, gây áp lực trực tiếp đến lạm phát
- Tốc độ tăng trưởng tín dụng quá nóng cũng với chất lượng tín dụng hạn chếcủa hệ thống ngân hàng trong những năm gần đây là nguyên nhân quan trọng tiếptheo gây lạm phát do cầu kéo
- Do tỷ lệ bội chi ngân sách cao ở mức 5%/GDP được giữ liên tục trong nhiềunăm trong khi quy mô nền kinh tế ngyaf càng lớn cùng với sự yếu kém trong kiểmsoát chi tiêu đã dẫn tới tình trạng chi đầu tư từ khu vực nhà nước lớn nhưng hiệu quảthấp Tình trạng thất thoát, lãng phí đang diễn ra trong tất cả các giai đoạn của dự ánđầu tư của Chính phủ
- Hiệu quả đầu tư ngày càng giảm, biểu hiện qua xu hướng tăng lên của hệ sốICOR làm giảm chất lượng tăng trưởng và sức cạnh tranh của nền kinh tế
- Sự bùng nổ trên thị trường tài sản làm gia tăng giá trị tài sản của một bộ phậndân cư, dẫn đến nhu cầu tiêu dùng tăng cao
Nguyên nhân do Chi phí đẩy
- Yếu tố thuộc tiền lương: Các doanh nghiệp Việt Nam thuộc lĩnh vực Nhànước, cổ phần, tư nhân đều chịu sự tác động gián tiếp bởi bốn đợt tăng lương liêntiếp của Nhà nước đã gây áp lực tăng tiền lương trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh
- Các yếu tố ngoài lương: Do cơ cấu hàng xuất nhập khẩu, trong đó hàng nhậpkhẩu của Việt Nam, phần lớn là những mặt hàng nguyên vật liệu cho sản xuất nhưxăng dầu, hóa chất, phân bón, nhựa…Những mặt hàng này có tốc độ tăng giá caotrên thế giới Trên thực tế, những đợt bùng phát tăng giá của thế giới đều ảnh hưởngmạnh đến hệ thống giá của Việt Nam Tác động của việc tăng tỷ giá kể từ năm 2008-
Trang 402010 cũng khiến giá hàng hóa nhập khẩu tính bằng VND gia tăng, làm tăng chi phísản xuất của doanh nghiệp.
- Biến động lãi suất: Vài năm trở lại đây, hệ thống các ngân hàng có nhiềucuộc đua tăng lãi suất, trong đó phải kể đến cuộc đua tăng lãi suất vào đầu tháng6/2008 khi quyết định tăng lãi suất cơ bản từ 12% lên 14% của Ngân hàng Nhà nước
có hiệu lực từ ngày 11/6/2008 Lãi suất đầu vào tăng buộc các ngân hàng phải tănglãi suất cho vay Khi lĩa đầu vào tăng, nhiều doanh nghiệp đã không điều chỉnh kếhoạch sản xuất, làm chi ohis vốn tăng lên, đẩy giá bán sản phẩm của các doanhnghiệp bị đội lên
- Các cú sốc cung trong nước như dịch bệnh, thiên tai khiến giá lương thực,thực phẩm leo thang Hạn hán, rét đậm kéo dài ở các tỉnh phía bắc và nhất là dịchcúm gia cầm xảy ra diện rộng đã hạn chế trên diện rộng đã hạn chế nguồn cung ứngnông sản,thịt gia cầm khiến giá cá mặt hàng này đã tăng cao, làm giá của nhóm hànglương thực thực phẩm tăng nhanh
Do cung tiền tăng cao
Mở cửa thị trường tài chính tạo cơ hội tăng vốn cho đầu tư phát triển, nhưng cũnglàm tăng khối lượng tiền trong nền kinh tế, đẩy tín dụng của hệ thống ngân hàng lêncao và áp lực VND lên giá Đây là tình trạng phổ biến ở hầu hết các quốc gia khi mởcửa thị trường tài chính Để ổn định tỷ giá, tăng dự trữ ngoại tệ NHNN đã cung tiềnđồng để mua ngoại tệ, đồng thời hút tiền về thông qua các công cụ CSTT, nhưng dotình trang đô la hóa vẫn còn ở Việt Nam nên tổng phương tiện thanh toán và tín dụngvẫn tăng cao, gây áp lực lạm phát
3- Ăn uống ngoài gia đ0.00 0.00 0.00 2.62 0.73 0.92
II Đồ uống và thuốc lá0.22 0.24 0.31 0.60 0.34 0.39
III May mặc, mũ nón,
giày dép
0.38 0.42 0.48 0.93 0.44 0.61