Tư tưởng khoan dung của Chủ tịch Hồ Chí Minh là sự kết tinh những giá trị tinh thần của phương Đông và phương Tây, của truyền thống và hiện đại; hơn nữa được Người nâng lên thành mẫu mực
Trang 11
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tư tưởng khoan dung từ trước đến nay dù ở phương Đông hay phương Tây đã từng là chất keo gắn kết, tạo sự giao lưu hòa hợp giữa các quốc gia, dân tộc; giữa các vùng, miền trên thế giới, vượt qua mọi sự ngăn cách bởi không gian, thời gian hay các vấn đề về truyền thống, phong tục, tập quán, quan điểm chính trị, tư tưởng … Tuy nhiên, tình hình thế giới hiện nay diễn biến rất phức tạp, những tư tưởng kì thị, chia rẽ nảy sinh, phong trào li khai được các thế lực phản động khuyến khích phát triển Theo Ehsan Naraghi, cố vấn của UNESCO, thì đó là một “cuộc chiến tranh huỷ hoại ghê gớm nhất trong lịch sử – một cuộc chiến được châm ngòi bởi một hệ tư tưởng loại biệt và cố chấp” [123, tr 8] Việc Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (United Nations Educational, Scientific and Cultural Organization gọi tắt là UNESCO) được thành lập vào năm 1946 nhằm xây dựng một nền văn hóa hoà bình lâu dài qua giáo dục, khoa học và văn hoá đã phần nào phản ánh sự lo lắng này Vấn đề đặt ra là làm thế nào phổ biến và giáo dục tinh thần khoan dung, làm cho nó trở thành một trong các nguyên tắc cơ bản của quan hệ quốc tế và là một trong những nhân tố góp phần xây dựng một thế giới hòa bình, vì “hoà bình và sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc tuyệt nhiên không phải là kết quả tất yếu của tiến bộ trong các lĩnh vực hoạt động khác nhau của con người Không một xã hội nào là miễn dịch đối với những cám dỗ của tư tưởng loại biệt và cố chấp, nếu không luôn luôn tỏ ra quyết tâm và cảnh giác Ngay cả những xã hội đã từng cởi mở với các dân tộc khác vào một số thời điểm trong lịch sử” [123, tr 8] Không phải ngẫu nhiên mà Liên hiệp quốc lấy năm 1995 là Năm quốc tế về
Trang 22
khoan dung nhằm kêu gọi các quốc gia trên thế giới nỗ lực đề ra những chiến lược phát triển, và phổ biến rộng rãi nền văn hóa thấm đượm tinh thần hòa bình dựa trên cơ sở tôn trọng tự do, dân chủ, công bằng, đoàn kết và khoan dung Trong bối cảnh thế giới nêu cao tư tưởng khoan dung, việc tổng kết và đánh giá những giá trị khoan dung của thế giới và của Việt Nam sẽ góp phần làm sáng tỏ vấn đề này
Trong suốt lịch sử dựng nước và giữ nước, người Việt Nam không ngừng đấu tranh để bảo tồn, giữ gìn những giá trị tinh thần truyền thống tốt đẹp của dân tộc trước những âm mưu thâm độc củøa kẻ thù, nhằm đồng hóa dân tộc ta và bắt dân tộc ta theo những giá trị của dân tộc khác; song cũng sẵn sàng rộng lượng, tha thứ đối với những người mắc lỗi lầm nhưng biết nhận ra sai lầm, biết ăn năn hối lỗi, cải tà quy chính, trở về với dân tộc; đồng thời đón nhận, tiếp thu cái hay, cái đẹp từ bốn phương, cải biến chúng thành những giá trị của chính mình Trong giai đoạn hiện nay, sự nghiệp đổi mới đất nước được đánh dấu bằng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1986, đã mở ra một thời kỳ mới trong lịch sử phát triển của đất nước, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại, đó là thời kỳ mở cửa, quan hệ hòa bình, hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới, nhằm đưa nước ta thoát khỏi nghèo nàn và lạc hậu Cùng với sự mở cửa về kinh tế là sự giao lưu, hợp tác về nhiều mặt giữa dân tộc ta và các dân tộc khác trên thế giới Thực tế lịch sử phát triển các nước trên thế giới đã cho thấy rằng, có những nước phát triển cao về kinh tế nhưng đang phải gánh chịu một thời kỳ xuống cấp về giá trị do không có một triết lý đúng đắn về phát triển, không xác định được những chuẩn mực sống phù hợp, coi nhẹ tinh thần cộng đồng, đạo lý, tình người … để cho chủ nghĩa cá nhân và
Trang 33
xu hướng tiêu thụ, hưởng lạc chi phối, để cho đồng tiền khuynh đảo các quan hệ xã hội, các tệ nạn xã hội có xu hướng gia tăng làm băng hoại các giá trị đạo đức
Ở Việt Nam, những quan niệm và nếp sống khoan dung từ lâu đời đã là một phần cơ bản làm nên truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc ta Trong sự biểu hiện đa dạng và phong phú đó thì Chủ tịch Hồ Chí Minh là biểu trưng cho nét đẹp của tính cách Việt Nam, Người là tấm gương tiêu biểu cho sự kết hợp ý chí cách mạng với tấm lòng khoan dung, nhân ái Tư tưởng khoan dung của Chủ tịch Hồ Chí Minh là sự kết tinh những giá trị tinh thần của phương Đông và phương Tây, của truyền thống và hiện đại; hơn nữa được Người nâng lên thành mẫu mực của khoan dung trong thời đại mới, lấy chủ nghĩa nhân văn cộng sản làm nền tảng, hướng tới mục tiêu cao nhất là giải phóng con người, đem lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho con người và trả lại cho con người các quyền vốn có Tư tưởng khoan dung Hồ Chí Minh được thể hiện không những qua từng lời nói, cử chỉ của Người, mà còn thể hiện qua cách đối xử của Người với nhân dân Việt Nam cũng như với nhân dân các nước khác Mọi hành động của Người đều toát lên tấm lòng khoan dung, nhân ái, độ lượng, thể hiện một tâm hồn cao thượng, một tình yêu bao la đối với tất thảy mọi người, một phong cách của một nhà văn hóa và một nhà tư tưởng lớn Chính vì vậy mà năm 1990, nhân dịp kỷ niệm một trăm năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, UNESCO đã quyết định tổ chức kỷ niệm Người với tính cách một vị anh hùng giải phóng dân tộc và nhà văn hóa lớn của Việt Nam Trong Nghị quyết của UNESCO về tổ chức kỷ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ những đóng góp của Người đối với sự phát triển của văn minh nhân
Trang 44
loại Nghị quyết có đoạn: “Xét thấy Chủ tịch Hồ Chí Minh là một biểu tượng kiệt xuất về quyết tâm của một dân tộc, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội Xét thấy sự đóng góp quan trọng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong các lĩnh vực văn hoá, giáo dục và nghệ thuật … những tư tưởng của Người thể hiện những khát vọng của các dân tộc trong việc khẳng định bản sắc văn hóa của mình và thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau” [122, tr 51] Ngày nay khi sự tồn vong của nhân loại đang phải chịu nhiều thử thách hết sức lớn lao, nhiều vấn đề toàn cầu mới nảy sinh, đòi hỏi sự quan tâm của tất cả các nước để cùng nhau giải quyết, và do vậy khoan dung trở nên nhu cầu bức bách hơn Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu tư tưởng khoan dung Hồ Chí Minh tỏ ra cần thiết, nhất là khi đất nước ta thực hiện đường lối đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát huy nội lực, đồng thời chủ trương mở cửa, giao lưu và hợp tác với tất cả các nước; tích cực và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Tư tưởng khoan dung đã được các nhà nghiên cứu phân tích như một thành tố của sự giao lưu, hợp tác, hiểu biết lẫn nhau giữa các cá nhân, các cộng đồng và các dân tộc, từ đó đã tạo nên tinh thần đối thoại giữa các khu vực trên thế giới Trong lịch sử, tư tưởng này đã được phân tích đan xen trong các công trình tìm hiểu lịch sử triết học từ cổ đại đến hiện đại Bên cạnh đó có một số tác phẩm tìm hiểu tinh hoa văn hóa tư tưởng nhân loại dưới góc độ khoan dung văn hóa, tôn giáo, nhất là vào thời kỳ Phục hưng và cận đại Trong một số tác phẩm như “Di sản Cổ đại trong văn hóa Phục
Trang 55
hưng” (Viện hàn lâm khoa học Liên Xô, 1984), “Những giao điểm của lịch sử” (A C Alepxeep, Nhà xuất bản Mátxcơva 1976), “Phương Đông và phương Tây” (N Konrat, Nxb Giáo dục năm 1996), “Triết học Đông – Tây” (Viện thông tin Khoa học Xã hội, 1996) … đều dành phần đáng kể đánh giá khoan dung văn hóa nói chung, trong đó triết học là một phần của nó
Trong tạp chí “Người đưa tin” của UNESCO, số ra tháng 6 năm 1992 có bài “Ca ngợi đức khoan dung” của Ehsan Naraghi, trên cơ sở phân tích chỉ ra hậu quả của sự không khoan dung, tác giả đã đi tới một kết luận chính xác rằng: “Hòa bình và sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc tuyệt nhiên không phải là kết quả tất yếu của tiến bộ trong các lĩnh vực hoạt động khác nhau của con người” [123, tr 8] mà chỉ có thể là kết quả của thái độ ứng xử khoan dung và sự thực hành khoan dung rộng rãi trong xã hội Cũng trong số này còn có bài “Chống lại thái độ khoan dung” của Edgard Pisani, tác giả đã phân tích vai trò của khoan dung trong xã hội, nhất là xã hội hiện nay, khi các quan hệ kinh tế thị trường thâm nhập ngày càng sâu vào các quan hệ xã hội, tác giả cũng chỉ ra những hậu quả của sự bất khoan dung đối với loài người, và khẳng định vai trò tích cực của việc chống lại thái độ không khoan dung là làm cho con người trở nên khoan dung hơn Số ra tháng 12 năm
1994 có bài “Từ dã man đến khoan dung” của Kanan Makiya đã phân tích lịch sử hình thành và phát triển của tư tưởng khoan dung Số ra tháng 3 năm
1996 có bài “Gốc rễ của chủ nghĩa chủng tộc” của Bahgat Elnadi và Adel Rifaat, từ việc phân tích cội nguồn phát sinh những tư tưởng đề cao thái quá một dân tộc này và coi thường các dân tộc khác, các tác giả đã cho rằng chủ nghĩa chủng tộc là một trong những nguyên nhân cơ bản nảy sinh những tư tưởng bất khoan dung và kêu gọi hãy loại bỏ tư tưởng này khỏi đời sống xã
Trang 66
hội, cũng như trong quan hệ giữa người với người và quan hệ giữa các dân tộc Cũng trong số này có bài “Chủ nghĩa chủng tộc và chống chủ nghĩa chủng tộc” của Etienne Balibar, trên cơ sở thừa nhận quyền bình đẳng của con người, quyền bình đẳng giữa các chủng tộc, các dân tộc và coi đó là quyền cơ bản của con người, tác giả đã phân tích những cơ sở nảy sinh tư tưởng bất khoan dung và khẳng định tư tưởng này là một trong những nguyên nhân cơ bản đẩy nhân loại đi tới vực thẳm của sự huỷ diệt
Ở Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, tư tưởng khoan dung nói riêng đã có nhiều công trình đề cập đến Ở đây chúng tôi chỉ nêu ra một số công trình điển hình được công bố từ năm 1990, nhân kỷ niệm một trăm năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh Trước hết, tại Hội thảo quốc tế về Chủ tịch Hồ Chí Minh (Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội 1990), các nhà khoa học đã nhất trí đánh giá Người là anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa lớn, bậc thiên sứ của văn hóa khoan dung Tạp chí “Người đưa tin” của UNESCO, số ra tháng 5 năm 1990, đăng toàn văn Nghị quyết của Tổ chức này về tổ chức kỷ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh với tư cách là vị anh hùng giải phóng dân tộc và nhà văn hóa lớn của Việt Nam, và đã giành nguyên phần phụ trương nói về Hồ Chí Minh, cũng như những lời phát biểu của các nhân vật có uy tín trên thế giới tại cuộc hội thảo và lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Người Đặc biệt là từ năm 1995 đến nay, khi Liên hiệp quốc quyết định lấy năm 1995 là năm quốc tế về khoan dung, đã có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu về khoan dung
Từ cách tiếp cận của triết học văn hóa, Giáo sư, Tiến sĩ Huỳnh Khái Vinh và Tiến sĩ Nguyễn Thanh Tuấn trong tác phẩm “Bàn về khoan dung
Trang 77
trong văn hóa” (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội 1997), xuất phát từ việc phân tích lịch sử tư tưởng khoan dung, chỉ ra những cơ sở và đặc điểm của khoan dung phương Tây và khoan dung phương Đông, các tác giả đã dành hẳn một mục lớn của chương 4 để phân tích tư tưởng và đạo đức khoan dung Việt Nam - Hồ Chí Minh và toàn bộ chương 5 để phân tích khoan dung Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Trong tác phẩm này, các tác giả đã chỉ
ra sự khác biệt giữa thích nghi với khoan dung và đã chính xác khi cho rằng:
“Thích nghi chỉ là nấc thang thứ nhất, là một mặt của khoan dung” [131, tr 77], nhưng các ông lại coi thỏa hiệp là cấp độ thấp của khoan dung [131, tr 131]
Hay như trong tác phẩm “Tư tưởng Hồ Chí Minh về chính sách con người và về chính sách xã hội” do Lê Sỹ Thắng chủ biên với sự tham gia của Hoàng Tùng, Nguyễn Trọng Chuẩn, Bùi Đình Thanh (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội 1996), khoan dung được xem như một trong mười hai nội dung lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh về con người Trong tác phẩm
“Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam” (Võ Nguyên Giáp, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1997), đã phân tích khá chi tiết các cơ sở của sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh, tác giả đã đánh giá chính xác vai trò của chủ nghĩa Mác – Lênin trong việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh khi khẳng định chủ nghĩa Mác – Lênin là nhân tố quyết định tạo sự thay đổi về chất đối với sự hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh, và tác giả đã khái quát tư tưởng của Người thành chín nội dung cơ bản, trong đó đã khẳng định: “Người là hiện thân của chủ nghĩa nhân văn, nhân đạo cộng sản, là tấm gương mẫu mực về đạo đức mới và là nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam và thế giới” [32, tr 74]
Trang 8sĩ Đinh Xuân Lý đồng chủ biên (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội năm 2003); “Vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong sự nghiệp đổi mới” của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Đình Phong (Nhà xuất bản Lao động, Hà Nội, 2007); “Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh” của Nguyễn Duy Niên (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008) …
Trong số các tác phẩm của các tác giả ngoài nước viết về Hồ Chí Minh có thể chú ý đến “Đồng chí Hồ Chí Minh” (Ép-ghê-nhi Cô-bô-lép, do Nguyễn Minh Châu và Mai Lý Quảng dịch theo bản in lần thứ 2 của Nhà
Trang 99
xuất bản Cận vệ Thanh niên – Mátxcơva 1983, Nhà xuất bản Thanh niên, 2000) thông qua sự mô tả một cách chi tiết cuộc đời hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã làm nổi bật hình ảnh của một nhà cách mạng chân chính, một nhà văn hoá và một nhân cách lớn Trên trang báo điện tử của mình (htttp://www.unesco.org), UNESCO đã công bố nội dung các cuộc hội thảo quốc tế về khoan dung được tổ chức ở các khu vực khác nhau trên thế giới như “Hội thảo về khoan dung ở châu Mỹ Latinh và vùng Caribê” (Con-ference on Tolerance in Latin America and The Caribbean) được tổ chức ở Rio de Janeiro, Brazil, từ 12 đến 16 tháng 9 năm 1994 đã xác định: khoan dung không tự nó sinh ra mà đòi hỏi sự nuôi dưỡng, và tất nhiên không phải là kết quả của sự nhượng bộ thái quá Nó phải là sản phẩm của sự tiếp xúc hoàn hảo và sự tôn trọng rộng rãi các quyền con người qua các thế hệ, khoan dung được coi như là dấu hiệu đạo đức có giá trị pháp lý mang tính toàn cầu mà việc thực hiện nó là trách nhiệm không thể chối bỏ của các Nhà nước
Tại “Hội thảo quốc tế về dân chủ và khoan dung” (International Conference on Democracy and Tolerance) được tổ chức ở Soul, Cộng hòa Triều Tiên, từ ngày 17 đến ngày 29 tháng 9 năm 1994 đã nhận định: khoan dung là một trong những nhân tố cơ bản cần thiết để duy trì hòa bình, ngăn chặn các cuộc xung đột vũ trang; đồng thời cũng xác định mối quan hệ giữa khoan dung với dân chủ, luật pháp và các quyền con người, và nhấn mạnh rằng khoan dung chỉ được thực hiện tốt nhất trong một xã hội dân chủ thực sự; luật pháp là cơ sở pháp lý đảm bảo cho việc thực hiện khoan dung không
bị lợi dụng Qua đó kêu gọi mọi cá nhân, quốc gia hãy cố gắng thực hiện
Trang 10“Hội thảo về giáo dục khoan dung ở khu vực Trung Đông” ence on Teaching of Tolerance in the Miditerranean Area) được tổ chức ở Carthage, Tunisia, từ ngày 21 đến ngày 22 tháng 4 năm 1995 đã khẳng định rằng khoan dung không phải là nhân tố có sẵn, bẩm sinh trong mỗi con người mà đức tính khoan dung có được do giáo dục và rèn luyện trong cuộc sống hàng ngày Cho nên, hệ thống giáo dục có nhiệm vụ và trách nhiệm thực hiện vấn đề này Tại cuộc hội thảo các đại biểu đã nhận thấy rằng khoan dung là cần thiết đối với xã hội hiện nay và việc giáo dục khoan dung phải được coi là vấn đề hết sức cấp bách
Trang 11(Confer-11
Trong “Những khuyến nghị của cuộc Hội thảo khu vực châu Á - Thái Bình Dương về khoan dung” (Recommendations of the Asia and Pacific Regional Meeting on Tolerance) được tổ chức ở New Delhi, Ấn Độ, từ ngày
1 đến ngày 4 tháng 5 năm 1995 đã đưa ra nhận định rằng sự tiến bộ của khoa học và công nghệ đang làm gia tăng nhanh chóng sự hòa nhập của các nền văn hoá Để có sự hoà nhập quốc tế, điều cần thiết là các cá nhân, cộng đồng và các dân tộc thừa nhận và tôn trọng sự đa dạng văn hoá của nhân loại Mọi hoạt động nên tập trung thúc đẩy sự hoà hợp này Thế giới chỉ có thể tồn tại hoà bình khi các nền văn hoá tác động, ảnh hưởng lẫn nhau trên
cơ sở tôn trọng các thông lệ quốc tế
Tại “Hội thảo về khoan dung, hoà hợp và hiểu biết lẫn nhau” ference on Tolerance, Mutual Understanding and Accord) được tổ chức từ ngày 16 đến ngày 25 tháng 6 năm 1995 tại Mátxcơva, Liên bang Nga, đã xem xét các khía cạnh liên quan tới khoan dung như hệ thống quản lý hành chính và bộ máy Nhà nước, sự phát triển xã hội, chính sách giáo dục, thông tin và văn hóa, và cuối cùng Hội nghị đã nhận định viễn cảnh quốc tế về khoan dung tất yếu sẽ trở nên phổ biến hơn khi chuyển từ chế độ độc tài sang chế độ dân chủ, bởi thái độ khoan dung của cái cũ đối với cái mới và ngược lại
(Con-Trong “Hội thảo chuyên đề khoan dung Istanbul” (Istanbul sium on Tolerance) được tổ chức từ ngày 4 đến ngày 6 tháng 10 năm 1995 ở Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ, đã xác định đây là cuộc hội thảo cuối cùng về khoan dung trong năm 1995 Tại cuộc hội thảo này, các đại biểu đã đưa ra bản tuyên bố về các tiêu chí của khoan dung và kế hoạch tiếp theo nhằm thực hiện năm quốc tế về khoan dung (Declaration of Principles on Tolerance
Trang 12Sympo-12
and the follow - up plan to the United Nations Year for Tolerance), sau đó hội nghị đã đưa ra bản khuyến nghị gồm mười bốn điểm nhằm thúc đẩy việc thực hiện rộng rãi khoan dung trên toàn thế giới, thúc đẩy sự hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau giữa các quốc gia, dân tộc với mục đích thay thế văn hoá chiến tranh bằng văn hoá hoà bình
Việc tổ chức các cuộc hội thảo ở các khu vực khác nhau trên thế giới của UNESCO đã chứng minh sự cần thiết phải tuyên truyền và thực hiện khoan dung trong xã hội ngày nay Từ các cuộc hội thảo về khoan dung ở các khu vực khác nhau, UNESCO đã đề ra những yêu cầu, chương trình hành động vì khoan dung và làm thế nào đấu tranh chống lại sự bất khoan dung, với các bài viết như: Plan of Action to follow up the United Nations Year for Tolerance (1995); bài The six Flags of Tolerance đã phân tích các khía cạnh của khoan dung; A Global Quest for Tolerance đã phân tích khoan dung như là một trong những vấn đề quan trọng trong thời đại hiện nay, nó đòi hỏi phải trở thành tiêu chuẩn trong quan hệ quốc tế; hay Ten Ideas For Observing the International Day for Tolerance; How Can Intolerance Be Countered? … Trên mạng internet có website (http://www iep.utm.edu/t/tolerati.htm) đăng các bài viết bàn về các vấn đề liên quan tới khoan dung như: Toleration đã phân tích về mặt thuật ngữ, lịch sử phát triển và các khía cạnh về đạo đức, chính trị của khoan dung; Tolerance: Philosophy and Practice đã chỉ ra rằng khoan dung không chỉ dừng lại ở lời nói, tư tưởng và những điều giáo huấn, mà phải được thể hiện bằng hành động trong cuộc sống hằng ngày, trong cách đối xử giữa người với người; Tolerance: Between Forbearance and Acceptance đã chỉ ra sự khác biệt cơ bản giữa khoan dung và sự chịu đựng, giữa thừa nhận và chấp nhận, khoan
Trang 1313
dung đòi hỏi sự rộng lượng và phải có cách nhìn nhận, đánh giá trong sự phong phú đa dạng; Tolerance vs Indifference lại chỉ ra sự khác biệt giữa khoan dung và sự thờ ơ, lãnh đạm, khoan dung đòi hỏi chúng ta phải kiềm chế và kiểm soát cảm xúc của mình, hoàn toàn nên tránh việc phán xét và đánh giá người khác A Letter Concerning Tolerance do Jonh Locke viết năm 1689 khi cho rằng khoan dung là đức tính cơ bản của con người, ông đã đề nghị Giáo hội Thiên chúa giáo hãy đối xử khoan dung với các tôn giáo khác Hay như A Treatise on Toleration của Voltaire (1763) trên địa chỉ http://www.wsu.edu:8080/ wldciv/ world_civ_reader/ world_civ_reader đã kêu gọi mọi người hãy thực hiện khoan dung trong cuộc sống hàng ngày, trong cách đối xử với nhau trên tinh thần đồng loại Có thể còn kể đến tác phẩm “Từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa Mác” (Daniel Hemery, Nguyễn Trọng Cổn lược dịch, Nhà xuất bản Lao động, Hà Nội 2001) … Đó là nguồn tài liệu vô cùng quý giá, giúp khá nhiều cho người viết trong quá trình thực hiện luận án về tư tưởng khoan dung Hồ Chí Minh
3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Mục đích của luận án
Trên cơ sở phân tích làm rõ khái niệm khoan dung, vạch ra những cở sở hình thành và nội dung cơ bản của tư tưởng khoan dung Hồ Chí Minh, luận án rút ra ý nghĩa lịch sử của tư tưởng này đối với công cuộc xây dựng và phát triển đất nước trong sự nghiệp đổi mới hiện nay
3.2 Nhiệm vụ của luận án
Để đạt được mục đích trên, luận án đặt ra và thực hiện các nhiệm vụ:
- Từ việc chỉ ra nội hàm của khái niệm khoan dung, luận án phân tích
cơ sở hình thành tư tưởng khoan dung Hồ Chí Minh như là kết quả của sự kết
Trang 143.3 Phạm vi nghiên cứu của luận án
Trong khuôn khổ của luận án này, người viết xem xét những cơ sở hình thành, nội dung cơ bản của tư tưởng khoan dung Hồ Chí Minh và ý nghĩa lịch sử tư tưởng này trong công cuộc xây dựng, bảo vệ đất nước Việt Nam hiện nay Luận án thuộc phạm vi của lịch sử triết học, thông qua sự phân tích tư tưởng khoan dung – nhân tố cốt lõi tạo nên chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1 Cơ sở lý luận của luận án
Cơ sở lý luận của luận án là hệ thống quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, đặc biệt là quan điểm duy vật lịch sử, cũng như dựa trên tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam khi phân tích và đánh giá các hiện tượng xã hội
4.2 Phương pháp nghiên cứu của luận án
Để đạt được mục đích và hoàn thành nhiệm vụ của luận án, tác giả đã dựa trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử xuất phát từ những điều kiện kinh tế – xã hội nhất định để xem xét và đánh giá các vấn đề về tư tưởng, tinh thần Trong quá trình xem xét, tác giả còn kết hợp với các phương pháp phân tích
Trang 1515
và tổng hợp, phương pháp so sánh, đối chiếu cùng với phương pháp lô gích và phương pháp lịch sử
5 Cái mới của luận án
Thứ nhất, phân tích làm sâu sắc thêm tư tưởng khoan dung Hồ Chí Minh và xem xét nó như là hạt nhân tạo nên chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh Thứ hai, trên cơ sở đánh giá vai trò của tư tưởng khoan dung Hồ Chí Minh, tác giả rút ra ý nghĩa và những bài học lịch sử đối với sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay
6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận án
6.1 Ý nghĩa khoa học của luận án
Việc nghiên cứu tư tưởng khoan dung Hồ Chí Minh góp phần làm sáng tỏ thêm một trong những nội dung trong di sản tinh thần của Người, một thành tố quan trọng của chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh, cũng như sự kế thừa và sự vận dụng sáng tạo tư tưởng khoan dung Hồ Chí Minh của Đảng Cộng sản Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới hiện nay
6.2 Giá trị thực tiễn của luận án
Nghiên cứu tư tưởng khoan dung Hồ Chí Minh nhằm vận dụng vào công cuộc xây dựng đất nước trong tình hình mới, đặc biệt là sự nghiệp đổi mới hiện nay dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục 152 tài liệu tham khảo, luận án được kết cấu thành 3 chương, 6 tiết
Trang 1616 Chương 1 KHÁI NIỆM “KHOAN DUNG” VÀ CƠ SỞ HÌNH THÀNH
TƯ TƯỞNG KHOAN DUNG HỒ CHÍ MINH 1.1 KHÁI NIỆM “KHOAN DUNG”
Thuật ngữ “khoan dung” xuất hiện tương đối sớm trong lịch sử tư tưởng nhân loại Ngay từ khi xuất hiện, nghĩa của “khoan dung” được thống nhất
ở các ngôn ngữ khác nhau: ở phương Tây từ “khoan dung” có nguồn gốc chung từ tiếng Latinh (Tolerantia) với nghĩa là sự chấp nhận, sự dung nạp, và sự tha thứ Trong ngôn ngữ Hy Lạp cổ, thuật ngữ “khoan dung” là từ ghép được hình thành từ Phoretos với nghĩa là sự chịu đựng và Anektikos có nghĩa là sự tha thứ; cho nên khoan dung được hiểu với nghĩa là sự chịu đựng, sự tha thứ Sau đó, thuật ngữ “khoan dung” với nghĩa tương tự được phổ biến sang các thứ tiếng khác thuộc hệ ngữ Latinh, chẳng hạn tiếng Anh là Tolerance, tiếng Pháp là Tolérance, tiếng Đức là Toleránz
Ở phương Đông, mộät cách ngẫu nhiên, tư tưởng phát triển tương đồng với phương Tây Mặc dù tư duy phương Đông không mang nặng tính duy lý như ở phương Tây, nhưng về mặt thuật ngữ, khái niệm “khoan dung” cũng được được đề cập tương đối sớm Trong Kinh thư do Khổng Tử san định đã giải thích nghĩa của khoan dung: khoan dung thuộc Bộ Miên, trong đó
“khoan” là rộng rãi, là khoan thứ cho, rộng lượng; “dung” là dung mạo, dáng dấp khoan dung, bao dung [120, tr 462 – 463] Do vậy, khoan dung được hiểu không chỉ ở dáng dấp, phong thái bên ngoài, mà chủ yếu là suy nghĩ bên trong của con người, đó là lòng khoan thứ và sự rộng lượng Nội dung của thuật ngữ này còn được thể hiện cụ thể trong học thuyết “Nhân”
Trang 1717
của Khổng Tử (người sáng lập trường phái Nho gia) và các học thuyết triết học khác như tư tưởng “Giải thoát” của Phật Thích Ca (Phật giáo), “Kiêm ái” của Mặc Tử (Mặc gia), “Vô vi” của Lão Tử (Đạo gia) … “Nhân” của Nho gia hay “Kiêm ái” của Mặc gia đều là lòng thương yêu người, làm lợi cho mọi người và trừ hại cho mọi người Tư tưởng “Giải thoát” của Phật giáo nhằm giúp con người thoát khỏi bể khổ trầm luân của cuộc sống “Vô vi” của Lão Tử là đưa con người trở về cuộc sống tự nhiên, hoà mình vào trong tự nhiên, con người sống và đối xử với nhau theo bản tính tự nhiên, sống ung dung tự tại … Trong Hán – Việt từ điển của Đào Duy Anh, “khoan dung” được sử dụng đồng nghĩa với “bao dung”, trong đó “khoan” là rộng rãi, dung được nhiều, độ lượng rộng; và “dung” là tiếp nhận, bao chứa, bao bọc [1, tr 909] Đại từ điển tiếng Việt cũng nhất trí với cách giải thích này
Do vậy, “khoan dung” được hiểu là rộng lòng bao dung, là khoan hồng, lượng thứ, vị tha
Do chỗ vấn đề khoan dung được đặt ra khi xuất hiện một cái gì đó cần được khoan dung, nên bản thân khoan dung cũng không dừng lại ở ý nghĩa nguyên thủy của nó Trong lĩnh vực tôn giáo, lĩnh vực mà theo nhiều nhà nghiên cứu, ý tưởng về khoan dung được đặt ra khá sớm, thì sự khoan dung thoạt tiên hướng vào tính chất sai phạm của hình thức sinh hoạt tôn giáo mới với thuyết giáo có tính chất bài bác và đôi khi đi ngược tôn giáo truyền thống, song cần được tha thứ Ở đây khoan dung xuất phát từ hai phía: cái mới mong được thừa nhận và được đối xử rộng lượng, còn lực lượng xã hội đại diện cho cái đang phổ biến với tính cách chuẩn mực cần tỏ thái độ chấp nhận đối với một hiện tượng cá biệt Đó là thái độ ứng xử tích cực, không bài xích nhau, chấp nhận sự cùng tồn tại của các hình thức tư tưởng và sinh
Trang 1818
hoạt tôn giáo khác nhau Sự chấp nhận, hay nói như Bernnard Williams, sự
“căng thẳng tích cực” này đã trở thành yếu tố hòa giải các quan hệ xã hội, đảm bảo về lâu dài sự cộng sinh, sự chung sống hòa bình giữa các cộng đồng khác nhau về chính kiến, quan điểm, niềm tin [121, tr 10] Tuy nhiên, nếu vấn đề vừa được nêu không được quan tâm và điều chỉnh thường xuyên trước các diễn biến tiếp theo của hoạt động con người thì sự xung đột có thể xảy ra do tính đảo ngược của quan hệ, khi cái cá biệt, cái cần được khoan dung trở thành cái phổ biến Sự đổi ngôi này hóa ra lại làm nảy sinh tính chất cực đoan mới trong ứng xử Quan điểm được coi là cá biệt trước kia, khi đã được hiện thực hóa, được thừa nhận là một bộ phận trong cái tổng thể, đã tự xem mình là cột mốc dẫn đường cho sự vận động chung của xã hội, là chân lý duy nhất, tự cho mình vai trò “quan tòa” trong việc đánh giá tính đúng sai của ý thức con người, từ ý thức đạo đức đến ý thức chính trị, pháp quyền, triết học, khoa học … Sự độc chiếm tư tưởng đồng nghĩa với sự chấm dứt “căng thẳng tích cực”, thay bằng thái độ phủ nhận và thủ tiêu đối với những cái “ngoại lai”, những cái được coi là “không chính thống” Có thể lấy lịch sử Kitô giáo làm ví dụ Ra đời vào thời kỳ khủng hoảng của chế độ chiếm hữu nô lệ, Kitô giáo, vốn xuất hiện tại vùng Cận Đông, nhanh chóng phổ biến trên khắp đất nước La Mã bằng tư tưởng hòa giải và rộng lượng của mình [42, tr 1851-1853] Sức thu hút của Kitô giáo trong điều kiện khủng hoảng niềm tin đã làm thay đổi thái độ của chính các nhà cai trị lúc bấy giờ Vào đầu thế kỷ thứ IV, từ vị trí một hiện tượng cá biệt, Kitô giáo được thừa nhận là tôn giáo hợp pháp, đã tạo điều kiện cho nó phát triển và sau cùng được tuyên bố là tôn giáo của nhà nước đang dần đi vào quỹ đạo phong kiến Chính lúc này sự mỉa mai của lịch sử bộc lộ ra: khoan
Trang 1919
dung với ý nghĩa khoan thứ và rộng lượng bị đặt thành vấn đề, bởi lẽ nó nuôi dưỡng óc hoài nghi đối với chân lý sẵn có và những giá trị đạo đức được xây dựng trên nền tảng Kinh thánh Trong bối cảnh ấy, những khám phá khoa học hay những sáng tạo văn hóa trái với “tư duy chuẩn” của Kitô giáo đều bị nghiêm cấm và trừng phạt Có quá nhiều máu đổ trong sự thay thế tất yếu hình thức sinh hoạt tôn giáo đa thần bằng hình thức sinh hoạt tôn giáo nhất thần
Nêu ra ví dụ trên để thấy rằng khoan dung và bất khoan dung về mặt lịch sử không còn giới hạn trong hệ thống ứng xử đạo đức hay tôn giáo, mà đã được triển khai sang các lĩnh vực khác của đời sống, sang ý thức chính trị, xã hội, văn hóa và mang ý nghĩa thế giới quan, nhân sinh quan ngày càng rõ nét
Trái với thế giới tinh thần phương Tây luôn bị đặt trong trạng thái lưỡng cực và đầy bi kịch, ở một số nước phương Đông mà nền văn hóa của nó có truyền thống lâu đời như Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam thì yếu tố cộng sinh, tức sự cùng tồn tại và chấp nhận nhau, thâm nhập lẫn nhau và phát triển giữa người với người, giữa thuyết giáo này với thuyết giáo khác, và tương tự như thế đối với tín ngưỡng tôn giáo, đóng vai trò là yếu tố bền vững cho sự tồn tại của một dân tộc, quốc gia Sự khoan dung ở một mức độ nào đó còn là sự kìm chế, tránh tạo ra những xung đột có tính bi kịch về mặt tôn giáo Suốt lịch sử hàng ngàn năm ở Trung Quốc và Việt Nam hầu như không xảy ra chiến tranh tôn giáo theo kiểu phương Tây, và do đó cuộc đấu tranh vì khoan dung tôn giáo cũng bớt phần gay gắt Lẽ cố nhiên, sự khoan dung hay bất khoan dung phụ thuộc vào những điều kiện lịch sử cụ thể, xung đột tôn giáo là sự thể hiện những xung đột xã hội, ở khía cạnh này nó
Trang 2020
vượt ra khỏi phạm vi của các quan hệ tôn giáo đơn thuần Với cách đặt vấn đề ấy, chúng ta hãy trở lại tìm hiểu xem thực chất của sự thống trị tôn giáo và cuộc đấu tranh vì khoan dung tôn giáo ở Tây Âu vào thời kỳ Phục hưng và cận đại như thế nào Bản thân lịch sử đầy bi kịch của tôn giáo phản ánh lịch sử đầy bi kịch của xã hội, mà chính những bi kịch lại tạo điều kiện cho sự ra đời của cái mới Mặc dù chúng ta không hoàn toàn nhất trí với cách đặt vấn đề về một phương Đông đã an bài và một phương Tây đang phát triển của Hegel, song quan điểm cho rằng một xã hội êm ả rất có thể là một xã hội ngưng đọng, trì trệ, còn một xã hội mà ở đó luôn diễn ra sự phủ định lẫn nhau của các yếu tố cấu thành đã hàm chứa hạt nhân của sự phát triển bên trong [136, tr 8 – 23]
Ở Tây Âu vào thời Phục hưng, do sự khởi sắc của đời sống kinh tế - xã hội, sự hình thành và phát triển phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa và sự đơn giản hóa từng bước quan hệ xã hội, đã tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc đấu tranh vì khoan dung tôn giáo dưới những hình thức khác nhau Suy nghĩ về tôn giáo thống nhất của các dân tộc, nơi đan xen hình ảnh Christ, Moise, Mohamet, Zarathustra, các vị thần và các triết gia Hy Lạp, La Mã (Pico Della Mirandola), ý tưởng viết lại Kinh thánh hay đòi hỏi về quyền tự do lựa chọn tín ngưỡng (J Locke, F M Voltaire của thời cận đại) vượt xa nội dung tôn giáo thần bí, mở đường cho sự đề cao phẩm giá con người, tiềm năng vô tận của lý trí, tính đa dạng và tính tích cực tự do của sáng tạo văn hóa “Khoan dung” thể hiện ra như một triết lý sống, và với thời gian, được xác định như một nguyên tắc quan trọng không chỉ trong quan hệ giữa con người với con người, giữa dân tộc với dân tộc, mà còn là quan hệ giữa con người với tự nhiên
Trang 2121
Như vậy, từ ý nghĩa ban đầu của khoan dung tôn giáo, mà thực chất chỉ đơn giản là tha thứ và chấp nhận sự cùng tồn tại, sự đồng quyền của các hình thức tôn giáo, dần dần khoan dung đã gắn liền với các mục tiêu xã hội Các lực lượng tiến bộ kêu gọi sự khoan dung như cách thức đòi hỏi tự do tư tưởng trong điều kiện thế lực thần quyền còn mạnh Cho nên cuộc đấu tranh
vì khoan dung diễn ra trước hết nhằm chống lại sự áp đặt tư tưởng, quan niệm, niềm tin từ một lực lượng xã hội tự xưng mình là chuẩn mực đối với các lực lượng xã hội còn lại, và xét theo nghĩa đó, đấu tranh vì khoan dung đòi hỏi trách nhiệm của con người trong việc bảo vệ các giá trị tinh thần của mình trước nguy cơ bị xâm thực và biến dạng
Trong “Luận về khoan dung”, nhà văn, nhà triết học khai sáng Pháp thế kỷ XVIII, F M Voltaire cho rằng cần phải xem khoan dung như một phần
cơ bản trong cuộc sống nhân loại, và rằng thế giới mới không thể chấp nhận tính bản vị, máy móc, chủ nghĩa sô vanh, định kiến dân tộc, sự co mình vào một bản sắc kín mít theo cái kiểu “mọi người ở yên vị nhà mình” Ngược lại, phải bước ra khỏi cái hang chật hẹp ấy, chúng ta sẽ tiếp nhận sự ấm áp của ánh mặt trời, sự ấm áp của lòng trắc ẩn và tình hữu ái [7, tr 201 – 204] Như thế là F M Voltaire đã gợi mở cách tiếp cận của triết học văn hóa về khoan dung, hiểu khoan dung như khoan dung văn hóa, được xác lập trên nền tảng của chủ nghĩa nhân văn Ở đây, khoan dung không còn giới hạn ở phạm trù đạo đức học hay của tôn giáo, cũng không chỉ được xét theo nghĩa văn hóa học qua những biểu hiện khác nhau của các yếu tố văn hóa, mà đã trở thành phạm trù triết học, thể hiện ý nghĩa sâu xa của sáng tạo văn hóa và là nhân tố của sự vận động lịch sử [91, tr 215 – 227] Lẽ cố nhiên, khoan dung được thể hiện trong các hoạt động mang tính văn hóa tích cực,
Trang 2222
song vấn đề là ở chỗ cần tìm hiểu ý nghĩa phổ quát từ những biểu hiện cụ thể đó Vì thế chúng tôi nhất trí với nhận định của Giáo sư, Tiến sĩ Huỳnh Khái Vinh và Tiến sĩ Nguyễn Anh Tuấn trong “Bàn về khoan dung trong văn hóa” là “trong tư tưởng khoan dung đã hàm chứa biện chứng cái bộ phận và cái toàn thể, cái nội sinh và cái ngoại lai, cái tự tại và cái hội nhập, cái đơn nhất và cái phổ biến … Khoan dung không dừng lại ở tha thứ hay khoan hòa mà đã là một phạm trù phản ánh những mối liên hệ có tính lịch sử xã hội giữa người với người, giữa các cộng đồng và các dân tộc” [131, tr 10 – 11] Thực ra hiểu khoan dung từ góc độ của triết học văn hóa không đơn giản, và hơn nữa nếu không xem xét nó trong tiến trình vận động của lịch sử thì không hiểu được vì sao thuật ngữ này được đặc biệt chú trọng trong thời điểm hiện nay Bên cạnh đó có một vấn đề đặt ra là có nên xem khoan dung tôn giáo đồng nhất với khoan dung văn hóa không? Theo chúng tôi, về nội hàm cần phân biệt khoan dung tôn giáo và khoan dung văn hóa, song xét về ý nghĩa tích cực thì có thể nói rằng chính khoan dung tôn giáo đã hàm chứa một phần khoan dung văn hóa, hay ít ra là góp phần mở rộng không gian cho sáng tạo văn hóa; mặt khác, các nhà nghiên cứu về tôn giáo cũng như văn hóa đều đề cập đến ý nghĩa văn hóa trong các hình thức sinh hoạt tôn giáo, và thực tế ngày nay các hình thức sinh hoạt tôn giáo tích cực không tách rời với các hình thức sinh hoạt văn hóa
Với cách tiếp cận vừa nêu, có thể thấy rằng khoan dung có cơ sở triết học sâu sắc cả ở phương Đông lẫn phương Tây Ở phương Đông, chúng ta có thể nhận thấy yếu tố khoan dung trong tư tưởng của Nho gia, Mặc gia, Lão gia và Phật giáo Đối với Nho gia, có thể nói yếu tố khoan dung được phản ánh tập trung trong phạm trù “Nhân” “Nhân” của Nho gia không phải
Trang 2323
để chỉ con người mà là đức nhân, thể hiện trong mối quan hệ với người khác, đó là quan hệ hữu ái giữa người với người, đòi hỏi con người cần có sự tha thứ và thương yêu những người khác, thương người như thể thương thân, muốn cho mình lập nghiệp thì trước hết phải giúp người lập nghiệp, điều gì không muốn xảy ra với mình cũng không muốn xảy ra với người Mở rộng phạm trù “nhân” trong lĩnh vực chính trị – xã hội, Nho gia chủ trương dùng
“đức trị” Xuất phát từ lòng thương yêu con người, Nho gia cho rằng dùng hình chỉ làm cho người ta sợ mà làm theo, còn dùng đức để thu phục nhân tâm, làm cho người ta tự giác làm theo, đó mới là gốc bền của thiên hạ … Tuy nhiên, tình thương yêu con người trong triết lý của Nho gia vẫn còn phân biệt sang hèn, quý tiện “Kiêm ái” của Mặc gia với nội dung còn rộng mở hơn về tình thương yêu giữa con người với con người, đó là tình yêu thương mà không có sự phân biệt giai tầng và quan hệ dòng tộc, thân hay
sơ Đạo gia với tư tưởng “Vô vi”, hòa mình vào tự nhiên, tôn trọng tính tự nhiên chất phác, đó là một thái độ ứng xử rộng mở, khoan hòa với muôn vật, muôn người Phật giáo với tư tưởng giải thoát nhằm giải thoát chúng sinh khỏi kiếp trầm luân khổ ải Triết lý nhân sinh của Phật giáo đã xem xét con người và cuộc sống của con người ở các góc độ khác nhau, song đều hướng tới sự giải thoát, đều khuyên con người tu tâm dưỡng tính, khuyên con người bỏ điều ác, làm điều thiện, thực hiện “Từ, Bi, Hỷ, Xả”, cứu khổ cứu nạn, cứu giúp người với sự vô tư tự nhiên, không hy vọng sự trả công hay đền đáp, bất sát sinh, bất dâm dục, bất đạo tặc, bất vọng ngữ, bất ẩm tửu … theo chúng tôi đây là những tư tưởng khoan dung tiêu biểu của triết học phương Đông để lại cho hậu thế
Trang 2424
Ở phương Tây, theo nhiều nhà nghiên cứu thì tư tưởng khoan dung đã được đề cập khá rõ nét trong thời kỳ suy tàn của chế độ chiếm hữu nô lệ Ở làn ranh giữa hai thời đại, sự xuất hiện của Kitô giáo ban đầu kêu gọi sự rộng lượng chấp nhận của các lực lượng thống trị lúc bấy giờ đối với các hình thức sinh hoạt tinh thần khác Tuy nhiên đến thời kỳ trung cổ, khi Kitô giáo trở thành độc tôn thì nó đã tiến hành đàn áp các tư tưởng khoa học và bài xích tư tưởng của các tôn giáo khác Với quan niệm con người là trung tâm vũ trụ, các nhà triết học Phục hưng đã đấu tranh để mở rộng không gian cho tự do tín ngưỡng Thời cận đại, tư tưởng khoan dung đã được nêu ra và luận giải trong các tác phẩm của J Locke, Ch L Montesquieu, F M Voltaire, J J Rousseau Trong một bức thư được viết vào năm 1689 có tựa đề A Letter Concerning Toleration , J Locke đã đề cập tới sự tự do tư tưởng, tự do lựa chọn niềm tin cũng như tự do bày tỏ chính kiến của con người như là bản chất tự nhiên của con người và Giáo hội (Kitô giáo) nên tôn trọng các quyền đó Trong tác phẩm Bàn về khế ước xã hội, J J Rousseau đã có sự phân biệt giữa tôn giáo khoan dung và tôn giáo bất khoan dung, đồng thời ông cho rằng tôn giáo khoan dung mang ý nghĩa tôn giáo tích cực vì nó góp phần giáo hóa con người, hướng con người đến các giá trị nhân văn cao cả Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin, với nhiều lý do khác nhau nên không trực tiếp bàn đến khái niệm khoan dung Trong bối cảnh đấu tranh cách mạng phức tạp thế kỷ XIX, C Mác và Ph Ăngghen phải đấu tranh không khoan nhượng chống chủ nghĩa cải lương, cơ hội với chủ trương thỏa hiệp, hòa đồng giai cấp, phủ nhận đấu tranh giai cấp và cách mạng xã hội … Cho nên, đối với hai ông lập trường cách mạng phải rõ ràng, không khoan nhượng với kẻ thù; nhưng điều đó không có nghĩa là các ông
Trang 2525
đã bỏ qua vấn đề khoan dung, mà ở đây nguyên tắc khoan dung đã gắn với chủ nghĩa nhân văn cộng sản, đó là đấu tranh chống lại áp bức, bất công, giải phóng con người, hướng tới xây dựng “vương quốc tự do” cho con người, điều này được thể hiện trong Bản thảo kinh tế - triết học (1844), Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (1848) và nhiều tác phẩm khác Đó còn là biểu hiện sự đồng cảm của C.Mác và Ph.Ănghen với người lao động, với những người bị áp bức, bị bóc lột, từ đó đòi hỏi hình thức giải phóng con người khỏi những sự bất công trong cuộc sống hiện thực Do vậy, phải hiểu khoan dung trong điều kiện lịch sử nhất định và trong điều kiện lịch sử nào việc thực hiện khoan dung có thể bị kẻ thù lợi dụng
Đến V.I Lênin, tính lịch sử cụ thể của khoan dung được thể hiện khá rõ Trong điều kiện của cuộc đấu tranh cách mạng lúc đó không có khái niệm thỏa hiệp, xem thù như bạn, mà cần phải thể hiện tính kiên định cách mạng Nhưng khi chuyển sang thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô, điều kiện lịch sử thay đổi đòi hỏi tư tưởng con người phải thay đổi theo cho phù hợp, theo Lênin: “Đã đến lúc toàn bộ quan niệm của chúng ta về chủ nghĩa xã hội phải thay đổi” [50, tr 428], cần phải tranh thủ tối đa các lực lượng và các thành phần xã hội, ai không chống lại ta tức là đứng về phía chúng ta, tạm gạt sang bên những bất đồng, những chính kiến khác nhau, tranh thủ những lực lượng không gây bất lợi cho chủ nghĩa xã hội … Chính sách kinh tế mới (New Economical Policy, gọi tắt là NEP) là sự thể hiện sinh động tư tưởng đó Lênin còn nói rõ là cần phải học chủ nghĩa tư bản trong cách làm ăn kinh tế, tranh thủ tầng lớp trí thức không cộng sản Ở đây, rõ ràng khoan dung vẫn được dựa trên cơ sở của những nguyên tắc nhất định, đó là khoan dung nhưng vẫn không xa rời định hướng xã hội chủ nghĩa,
Trang 2626
khoan dung phải thể hiện lập trường giai cấp, lập trường cách mạng Khoan dung không những mang tính lịch sử, mà còn là sự giải quyết mâu thuẫn phù hợp với diễn biến cách mạng, là sự giải quyết mâu thuẫn về lợi ích con người nhằm hướng tới lợi ích chung
Tóm lại, chính chủ nghĩa Mác - Lênin với tinh thần nhân văn sâu sắc của nó đã làm cho nguyên tắc khoan dung gắn liền với cuộc đấu tranh vì những giá trị cao quý của con người, và theo chúng tôi đây cũng là nội dung cốt lõi của tư tưởng khoan dung Hồ Chí Minh Người đã kế thừa tinh thần nhân văn cộng sản để hình thành hệ thống tư tưởng của mình và vận dụng nó một cách linh hoạt, sáng tạo trong điều kiện của Việt Nam
Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, khi các nước ngày càng gắn bó, phụ thuộc vào nhau thì khoan dung là một trong những thuật ngữ thường xuyên được nhắc đến trong quan hệ giữa các khu vực và các dân tộc Khoan dung thường được đề cập đến trong văn bản của các tổ chức quốc tế với ý nghĩa thế giới quan và nhân sinh quan sâu sắc, được coi như một trong các nguyên tắc của quan hệ quốc tế Văn kiện cơ bản của UNESCO [125, tr 34] đã chỉ rõ một số điểm cơ bản về khoan dung như sau:
Một là, khoan dung là sự tôn trọng, chấp nhận và đánh giá cao sự phong phú đa dạng của các nền văn hóa trên thế giới của chúng ta, của những phương thức biểu hiện và những cách thể hiện phẩm chất của con người Nó được khuyến khích bằng tri thức, sự cởi mở, giao tiếp và tự do tư tưởng, suy nghĩ và niềm tin Khoan dung là hòa hợp trong sự khác biệt Nó không chỉ là một nghĩa vụ đạo đức, mà còn là yêu cầu chính trị và pháp luật Khoan dung là một đức tính khiến cho hòa bình có thể thực hiện được trên trái đất và góp phần thay thế văn hóa chiến tranh bằng văn hóa hòa bình
Trang 2727
Hai là, khoan dung không phải là nhượng bộ, hạ cố hay chiều lòng mà trước hết là một thái độ ứng xử tích cực xuất phát từ việc thừa nhận các quyền phổ quát của con người, và thừa nhận sự tự do của ngưới khác Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, cũng không thể dùng để bào chữa cho sự vi phạm các giá trị cơ bản này Khoan dung được thực hành bởi những cá nhân, cộng đồng và các quốc gia
Ba là, khoan dung là đề cao trách nhiệm ủng hộ các quyền con người, sự đa dạng của thế giới (kể cả đa dạng văn hóa), dân chủ và Nhà nước pháp quyền Nó bao hàm việc bác bỏ chủ nghĩa giáo điều và chuyên chế, và khẳng định những chuẩn mực được đề ra trong những công cụ quốc tế về quyền con người
Bốn là, khoan dung phải phù hợp với việc tôn trọng các quyền con người, thực hành khoan dung không có nghĩa là khoan dung đối với bất công xã hội hoặc từ bỏ hay làm suy yếu niềm tin của mình Nó có nghĩa là mỗi người được tự do lựa chọn niềm tin của mình và chấp nhận những người khác cũng có quyền tự do như vậy Nó có nghĩa là, chấp nhận rằng con người đương nhiên khác nhau về ngoại hình, hoàn cảnh, ngôn ngữ, tập tính và các giá trị đều có quyền sống trong hòa bình và tồn tại đúng như bản chất của mình Nó cũng có nghĩa là không ai được áp đặt ý kiến của mình lên người khác (xem phụ lục 1)
Để làm rõ hơn khái niệm khoan dung, theo chúng tôi cần chú ý thêm một số điểm sau Trước hết, khoan dung xa lạ với sự phó mặc và dửng dưng, bởi lẽ phó mặc và dửng dưng chỉ biểu hiện sự tách biệt, cô lập chứ không phải sự tồn tại theo nghĩa cùng tồn tại, cộng sinh, đối thoại và hòa giải những sự khác biệt, vì sự trao đổi, hòa giải là phương thức có thể tháo ngòi
Trang 28“nhân quyền” phương Tây, đa nguyên, đa đảng, thực hiện “diễn biến hòa bình” đối với các dân tộc tiến bộ, các nước xã hội chủ nghĩa, trong đó có Việt Nam, đó chỉ là sự lợi dụng vấn đề này để phục vụ cho những mục đích chính trị Hơn nữa, trong bản thân khoan dung đã hàm chứa sự lọc bỏ biện chứng, sự tự điều chỉnh và thích ứng của các giá trị đối với hoạt động thực tiễn của con người, bởi lẽ chính môi trường giao lưu và tiếp nhận cuối cùng sẽ đóng vai trò thẩm định mức độ cần thiết và tác dụng của chúng, dù chúng được tạo ra trong quá trình tồn tại lâu dài của cộng đồng hay mới du nhập từ nước ngoài
Một yếu tố nữa không thể bỏ qua là động cơ của khoan dung, xuất phát từ tính chất linh hoạt và uyển chuyển trong cách hiểu về nó Yếu tố này tỏ
Trang 2929
ra đặc biệt quan trọng trong bối cảnh phức tạp của đời sống xã hội, nhất là trong các thời kỳ chuyển tiếp, khi mà cái mới và cái cũ đan xen nhau, thậm chí cái cũ lấn át cái mới Trong trường hợp này sự can thiệp và định hướng kịp thời của các thiết chế xã hội sẽ đảm bảo cho tinh thần khoan dung phát triển cùng chiều với tiến trình lịch sử, loại trừ tính nước đôi và tính không minh bạch trong quá trình thực hiện khoan dung Không ít trường hợp các thế lực đế quốc sử dụng chiêu bài khoan dung vì mục đích chính trị có lợi cho chúng, chẳng hạn xung quanh vấn đề nhân quyền, dân chủ hay vấn đề tự do ngôn luận, tự do tôn giáo gần đây đã được các thế lực phản động lợi dụng để can thiệp vào công việc nội bộ của các nước Thế nhưng cũng chính những lực lượng ấy lại sẵn sàng thực hiện chính sách thù địch đối với các dân tộc không chấp nhận mô hình phát triển của chúng, không đi vào quỹ đạo mà chúng có thể chi phối hay có lợi cho chúng Như vậy, khi nói tới động cơ của khoan dung, cần nhấn mạnh lợi ích của một tập đoàn, một giai cấp, chứ không khoan dung chung chung, không dựa trên điều kiện của tồn tại xã hội Nói cách khác, nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò quyết định của tồn tại xã hội đối với ý thức xã hội thể hiện khá rõ trong quan điểm về khoan dung Trong thời đại chúng ta, tính chế định xã hội không mất
đi mà càng thể hiện rõ trong cơn sóng trào của toàn cầu hóa
Tóm lại, “khoan dung” là một vấn đề không đơn giản Mặc dù vậy, chúng tôi xin được thâu tóm một số điểm quan trọng như sau:
Thứ nhất, theo nghĩa trực tiếp thì khoan dung được hiểu là rộng lòng bao dung, là lượng thứ, là vị tha, là khoan hồng, tha thứ cho những người mắc lỗi lầm
Trang 3030
Thứ hai, nội hàm của khái niệm “khoan dung” ngày càng được mở rộng, và với thời gian nó gắn liền với cuộc đấu tranh vì sự tôn trọng quyền con người, trong đó có quyền bày tỏ chính kiến, quan niệm, niềm tin của cá nhân, sự cùng tồn tại và đối thoại giữa các lực lượng xã hội, chống lại sự phân biệt đối xử trong quan hệ xã hội Vì lẽ đó khoan dung là sự thể hiện một phần cơ bản của tư tưởng nhân văn
Thứ ba, khoan dung thể hiện đa dạng ở các lĩnh vực khác nhau trong nhận thức và sinh hoạt xã hội Trong lĩnh vực đạo đức, vấn đề này gắn với thái độ rộng lượng, nhân ái, tôn trọng nhau giữa người với người, đồng thời tha thứ các hành vi ứng xử sai trái, cảm hóa, giáo dục con người vươn tới sự hoàn thiện đạo đức Trong lĩnh vực tôn giáo, khoan dung biểu thị sự tôn trọng và chấp nhận tự do tín ngưỡng, tự do lựa chọn niềm tin, chống chủ nghĩa thần quyền Trong lĩnh vực văn hóa, các nhà nghiên cứu đã xét đoán khoan dung từ góc độ giao lưu và đối thoại, hợp tác giữa các nền văn hóa khác nhau, trên cơ sở tôn trọng nét đặc thù của từng nền văn hóa Ở đây nhấn mạnh mối quan hệ biện chứng giữa cái riêng và cái chung, cái nội sinh và cái ngoại lai, thông qua đó đề cao tính kế thừa, tính thống nhất trong đa dạng của sự hình thành và phát triển các giá trị văn hóa của loài người Khoan dung còn thể hiện ở đường lối chính trị, ở các chính sách xã hội, nhằm tập hợp và đoàn kết các lực lượng khác nhau với mục đích nhất định Trong trường hợp này, cần tính đến không chỉ đặc điểm của sinh hoạt cộng đồng, mà cả bản chất của chế độ chính trị
Thứ tư, trong xã hội có giai cấp, khoan dung cũng mang tính giai cấp Mỗi giai cấp có những điều kiện kinh tế, điều kiện sinh hoạt và lợi ích khác nhau, nên nhìn nhận và thực hiện khoan dung cũng khác nhau Ở đây cần
Trang 3131
phân biệt nguyên tắc khoan dung từ thế giới quan mác xít, từ chủ nghĩa nhân văn mác xít, với khoan dung vô nguyên tắc, phi giai cấp Chủ nghĩa Mác – Lênin luôn khẳng định tính đảng phái trong tư tưởng, trong sinh hoạt tinh thần nói chung Tự do tư tưởng bao giờ cũng trong những khuôn khổ nhất định, không phải là sư tự do quá trớn, vô chính phủ
Như vậy, khoan dung hiểu một cách chung nhất, là một khái niệm triết học – đạo đức để chỉ sự khoan thứ, độ lượng và vị tha rộng rãi; tôn trọng sự đa dạng trong tính cách, quan điểm và các quyền phổ quát của con người
1.2. CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG KHOAN DUNG HỒ CHÍ MINH
Tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng khoan dung của Người nói riêng là sản phẩm của sự kết hợp các giá trị truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc với tinh hoa văn hóa nhân loại Có thể khái quát thành hai cơ sở chính là cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn
Có thể khẳng định rằng cơ sở lý luận đầu tiên của tư tưởng khoan dung Hồ Chí Minh là truyền thống văn hóa tốt đẹp, truyền thống khoan dung, nhân ái của dân tộc Trước khi ra nước ngoài tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã mang trong mình chất Á Đông, chất Việt Nam – cái chất mà ngay từ thuở ấu thơ, Nguyễn Sinh Cung sau này là Hồ Chí Minh đã tiếp thu được từ truyền thống nhân văn của gia đình, quê hương và dân tộc Truyền thống ấy được thể hiện qua các câu hát, lời ru thấm đượm tình thương yêu con người Khi lên năm tuổi, Người theo cha vào Huế, trong thời gian đầu, gia đình của Người phải tá túc ở nhà những người quen Đến năm 1901, tức là khi Người mới mười một tuổi thì thân mẫu là bà Hoàng Thị Loan lâm bệnh qua đời, bà đã được những người láng giềâng tốt bụng giúp lo việc mai táng,
Trang 3232
trong hoàn cảnh ông Nguyễn Sinh Sắc đang còn là một hàn sĩ vắng nhà Hằng ngày, Người phải bế em là Nguyễn Sinh Xin mới đầy một tuổi đi bú nhờ trong xóm Những nỗi đau đớn, tang tóc vất vả từ thuở thiếu thời chắc chắn đã tạo trong lòng Người những ấn tượng rất sâu sắc: từ nỗi bùi ngùi nhớ thương người mẹ mới mất, tiếng khóc đòi ăn của người em khát sữa ngày ngày, tới sự đùm bọc thương yêu và giúp đỡ của bà con chòm xóm … đã dần hình thành trong tư tưởng của Người về nỗi đau và tình thương yêu con người, nhất là những người cùng cảnh ngộ Có thể coi đây là ngọn nguồn của lòng thương yêu tôn quý con người, ngọn nguồn của những xúc cảm về nỗi đau của con người và là nguồn gốc sâu xa của tinh thần khoan dung, nhân ái trong tư tưởng Hồ Chí Minh Chính từ thực tiễn cuộc sống đã giúp Người hiểu được ý nghĩa sâu xa của những chữ “Tình gia tộc”, “Nghĩa đồng bào” Tình cảm sâu nặng với gia đình, quê hương trong tư tưởng của Người ngày càng phát triển và mở rộng thành tình yêu Tổ quốc và rộng hơn nữa là tình yêu con người, tình yêu nhân loại Sự khoan dung, nhân đạo đã làm cho Hồ Chí Minh trở nên gần gũi và thân thiết với nhân dân lao động các nước, điều này đã lý giải tại sao Hồ Chí Minh luôn có những người bạn thân thiết, chân tình ở khắp nơi trên thế giới
Hơn nữa, xuất thân từ một gia đình có truyền thống hiếu học, với tư chất thông minh, Người đã sớm tiếp thu tinh thần nhân văn của Nho giáo qua các người thầy vốn là những nhà Nho yêu nước Tuy nhiên, Nho giáo thẩm thấu vào Hồ Chí Minh không phải là những giáo điều “tam cương”, “ngũ thường” nhằm bảo vệ tôn ti trật tự phong kiến, mà là thứ Nho giáo đã được Việt Nam hóa, đó là tinh thần “nhân nghĩa”, đạo “tu thân”, lễ nghĩa, ôn hòa, nhân ái … cùng với tinh thần đấu tranh bất khuất của các phong trào chống Pháp nổ ra
Trang 3333
lúc bấy giờ, tấm gương của các sĩ phu yêu nước đóng vai trò như cơ sở cho việc hình thành trong Người lòng yêu nước và tư tưởng khoan dung, nhân ái Xuất phát từ điều kiện lịch sử của Việt Nam, một đất nước luôn phải chống thiên tai, địch họa mà khoan dung từ rất sớm đã trở thành một trong những đức tính tốt đẹp trong truyền thống của dân tộc ta trong quá trình dựng nước và giữ nước Khoan dung đã trở thành quy tắc ứng xử của dân tộc
ta trong quan hệ với chính mình và với các dân tộc khác Ở buổi đầu lịch sử, đạo nghĩa khoan dung đã được thể hiện rõ nét trong triết lý dân gian cũng như trong hệ thống ứng xử của người Việt Do hoàn cảnh và điều kiện địa lý nước ta nằm ở vùng Đông Nam châu Á với khí hậu nhiệt đới gió mùa, nắng lắm mưa nhiều đã tạo nên nét độc đáo của nền văn minh nông nghiệp trồng lúa nước, và xã hội được tổ chức theo kiểu làng xã với tính hợp quần cao Cũng do là vùng sông nước nên đã bắt buộc cư dân phải hiệp đoàn rộng rãi và lâu dài với nhau để có thể chống lại sự khắc nghiệt của thiên nhiên và sự xâm lăng của các thế lực bên ngoài, từ đó làm cho đạo nghĩa khoan dung sớm trở thành một trong những giá trị văn hóa tinh thần của truyền thống dân tộc Việt Nam Truyền thống này được biểu hiện trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội
Trong các sinh hoạt cộng đồng, vì sự sinh tồn của dân tộc, trong đấu tranh chống xâm lược cũng như trong lao động sản xuất, lúc thuận lợi cũng như lúc khó khăn, bĩ cực … khoan dung của người Việt Nam luôn luôn được thực hiện với phương châm: “Thương người như thể thương thân”, “lá lành đùm lá rách” hay “bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn” Với tấm lòng rộng mở, người Việt Nam sẵn sàng giúp đỡ đùm bọc lẫn nhau, cố kết và chia sẻ với nhau, “một miếng khi đói bằng gói
Trang 3434
khi no”, v.v Điều đặc biệt là truyền thống này được nâng lên thành triết lý nhân sinh của dân tộc, đó là đoàn kết tạo nên sức mạnh: “Một cây làm chẳng lên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao” [117, tr 95]
Việt Nam là một quốc gia với nhiềâu tín ngưỡng và tôn giáo khác nhau, bao gồm tín ngưỡng bản địa (thờ cúng tổ tiên, ông bà) và tôn giáo được du nhập từ bên ngoài (Phật giáo, Thiên Chúa giáo … ) Sự chấp nhận cùng chung sống, cùng tồn tại của các giai tầng, các tôn giáo khác nhau trong xã hội là sự thể hiện của tinh thần khoan dung Trong gia đình, đạo nghĩa của người Việt Nam là “anh em như nước một dòng, như cây một cội như sông một nguồn”, hay “anh em như thể tay chân”, và khi có người gặp hoạn nạn thì sẵn sàng “sẩy cha còn chú, sẩy mẹ bú dì”, hay như “chị ngã em nâng”… Ngay cả những người mắc sai lầm, bị lầm đường lạc lối cũng được cộng đồng tha thứ, mở rộng vòng tay đón nhận trở về khi họ đã nhận ra lỗi lầm của mình và thực sự biết ăn năn hối cải, với quan niệm “đánh kẻ chạy đi chứ không đánh người chạy lại” Nói như vậy không có nghĩa là tất cả đều được hưởng sự khoan dung độ lượng, mà khoan dung của người Việt Nam cũng có những nguyên tắc nhất định, người ta chỉ “lành với Bụt chẳng lành với Ma”, đối với những kẻ không biết nhận ra con đường chính, con đường ngay thẳng thì dứt khoát phải chịu những hình phạt thích đáng
Khoan dung còn được thể hiện trong thái độ đối xử với kẻ thù và truyền thống ngoại giao giữ hòa khí, sống trọng tình nghĩa, tránh đối đầu, tránh chiến tranh, muốn giữ hiếu hòa Nếu có xảy ra chiến tranh cũng chỉ là bất đắc dĩ để giành lại cuộc sống bình yên Ngay từ xưa, vì muốn hiếu hòa mà
An Dương Vương đã mắc mưu khi gả con gái của mình là Mỵ Châu cho Trọng Thủy, con trai một tướng giặc Đến đời nhà Lý (năm 1077), sau khi
Trang 3535
đánh cho giặc Tống đại bại trên phòng tuyến sông Cầu, Lý Thường Kiệt đã chủ động điều đình để mở lối thoát cho địch trong danh dự Với triết lý “lấy đại nghĩa để thắng hung tàn” làm cốt lõi, sau khi đánh tan mười vạn quân Minh ở ải Chi Lăng (năm 1427), Lê Lợi đã chấp nhận cho Vương Thông giảng hoà và rút quân về nước Hơn nữa, để giữ hiếu hòa và tránh chiến tranh có thể lại xảy ra, sau khi chấp nhận cho giặc giảng hòa, các vua chúa phong kiến Việt Nam liền phái sứ giả mang các lễ vật sang cống nạp, nhận phong tước, phong hầu của triều đình phong kiến Trung Hoa tỏ ý thần phục theo thể chế của một nước chư hầu
Đối xử với tù binh chiến tranh cũng là lĩnh vực thể hiện tinh thần khoan dung của dân tộc Việt Nam Trong lịch sử phát triển của dân tộc Việt Nam, các thế hệ người Việt Nam luôn phải đấu tranh chống lại các thế lực ngoại xâm nhằm bảo vệ nền độc lập tự do và chủ quyền quốc gia Trong và sau các cuộc chiến tranh, tù binh trở thành vấn đề nhân đạo Qua các giai đoạn lịch sử, từ các cuộc chiến tranh thời phong kiến, đến cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ gần đây, tù binh không những không bị đánh đập, đối xử tệ bạc mà còn được chăm sóc nuôi dưỡng tử tế W A Robinson, viên phi công Mỹ bị bắt ở Hương Khê (Hà Tĩnh) ngày 20 tháng 9 năm 1965, nhân vật trong bức ảnh nổi tiếng “O du kích nhỏ …”, khi trở lại Việt Nam năm 1995 đã xúc động nhớ lại rằng thời đó một gia đình với bà cụ già đã nhường chiếc phản duy nhất cho anh nằm, còn dân làng thì đã nhịn ăn để nấu cháo cho anh ăn Chính sự đối xử đầy tính nhân văn đó đã gây ấn tượng tốt đẹp về đất nước và con người Việt Nam nơi các tù binh, sự lan tỏa của nó đã tạo nên những phong trào phản đối, đòi chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam
Trang 3636
Trong thời gian Hồ Chí Minh sống cùng cha là Nguyễn Sinh Sắc và học trường Tiểu học Đông Ba, rồi học trường Quốc học Huế, Người được học một số kiến thức về tự nhiên và xã hội, bước đầu tiếp xúc với nền văn minh phương Tây đã gợi cho Người một hướng đi mới Rút kinh nghiệm thất bại của các phong trào yêu nước đầu thế kỷ, Người đã nhận ra rằng: muốn cứu nước, giải phóng dân tộc phải tìm ra một con đường cách mạng mới, đây chính là lý do thúc dục Người ra đi tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc Từ đây, Hồ Chí Minh mới có điều kiện tiếp xúc và sau đó là tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, kết hợp với các giá trị truyền thống dân tộc để hình thành tư tưởng của mình
Trước khi Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước, Người đã bị dằn vặt bởi câu hỏi là tại sao người Pháp ở Việt Nam vốn là những người nhân danh khai hóa lại đối xử mất nhân tính với đồng loại như thế? và từ sự giằng xé ấy, Người nêu ý định “muốn đi ra ngoài, xem nước Pháp và các nước khác Sau khi xem xét họ làm như thế nào tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta” [113, tr 14] Mục đích của Hồ Chí Minh là muốn tìm con đường phù hợp nhằm giải phóng dân tộc Việt Nam thoát khỏi ách thuộc địa nô lệ Mục tiêu này một lần nữa được khẳng định trong Thư gửi các bạn cùng hoạt động ở Pháp, Người viết: “Đối với tôi, câu trả lời đã rõ ràng: trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do độc lập” [59, tr 192] Trong thời gian lưu lại ở nước Mỹ (khoảng cuối năm 1912 đến cuối năm 1913), Người đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập (1776) của nước Mỹ trong đó đề cập đến “quyền bình đẳng”,
“quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc” của con người … và từ thực tiễn của nước Mỹ, Người đã nhận ra nghịch lý: đằng sau những lời lẽ
Trang 3737
hoa mỹ về tự do, bình đẳng là sự bất bình đẳng và nghèo đói của hàng triệu người lao động Sau đó Người quay trở lại Paris, thủ đô nước Pháp Trong thời gian này, Người đã nghiên cứu các tác phẩm của các nhà tư tưởng nổi tiếng thời kỳ Phục hưng, thời kỳ khai sáng như Montesquieu, Voltaire, Rousseau Đây là những người được coi là chuẩn bị về mặt tư tưởng cho cuộc đại cách mạng tư sản Pháp 1789 Qua nghiên cứu, Người đã tiếp thu những tư tưởng mới mẻ của Đại cách mạng tư sản Pháp về tự do, bình đẳng, bác ái; tư tưởng giải phóng con người khỏi thần quyền và sự thống trị của các quan hệ phong kiến và đặc biệt là bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền (1791) của nước Pháp Nhờ tiếp xúc với người Pháp ở bên Pháp và nền văn hóa Pháp, Hồ Chí Minh đã bắt đầu nhận diện được những điều mà trước đây Người còn mơ hồ
Trước hết, Người phân biệt người Pháp ở Pháp và người Pháp ở Việt Nam, tức là phân biệt giữa công dân Pháp và thực dân Pháp, phân biệt rõ giữa bạn và thù Hồ Chí Minh đã phê phán sự xuyên tạc của thực dân Pháp đối với tư tưởng “Tự do - Bình đẳng - Bác ái” do các nhà tư tưởng khai sáng Pháp đưa ra, thực chất đó là những kẻ nhân danh tư tưởng ấy đi nô dịch và áp bức các dân tộc khác
Do xác định rõ đâu là bạn và đâu là thù, Người khẳng định: "Chúng tôi không ghét thù gì dân tộc Pháp Trái lại chúng tôi kính phục cái dân tộc lớn lao ấy đã là kẻ đầu tiên truyền bá lý tưởng rộng rãi về tự do, bình đẳng, bác ái, và đã cống hiến rất nhiều cho văn hóa, cho khoa học và cho văn minh" [62, tr 65] Sự phân biệt rõ ràng người Pháp công dân và thực dân Pháp đã giúp cho Hồ Chí Minh có cách xử lý khác nhau đối với hai “nửa” này của nước Pháp Người khẳng định rằng dân tộc Việt Nam không thù ghét gì dân
Trang 3838
tộc Pháp mà chỉ căm ghét bọn thực dân Pháp, kẻ đã chà đạp lên quyền làm người của dân tộc Việt Nam mà thôi, nên đối tượng của cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam là bọn đế quốc thực dân Pháp, trong Thư gửi những người Pháp ở Đông Dương Người viết: “Sự chiến đấu của chúng tôi không nhằm đánh vào nước Pháp, cũng không nhằm đánh vào những người Pháp lương thiện, mà chỉ chống lại sự thống trị tàn bạo ở Đông Dương của chủ nghĩa thực dân Pháp” [62, tr 65] Còn về cuộc chiến tranh của nhân dân Việt Nam đang tiến hành lúc bấy giờ, tính chất chính nghĩa của nó đã được Người thể hiện một cách cụ thể trong Thư gửi Chính phủ và nhân dân Pháp nhân dịp đầu năm mới: “Chúng tôi không thù hằn gì dân tộc Pháp Chúng tôi bắt buộc phải chiến đấu, chống bọn thực dân phản động đang mưu mô xé cắt Tổ quốc chúng tôi, đưa chúng tôi vào vòng nô lệ và gieo rắc sự chia rẽ giữa nhân dân hai dân tộc Pháp và Việt Nhưng chúng tôi không chiến đấu chống nước Pháp mới và quốc dân Pháp, chúng tôi còn muốn hợp tác thân ái” [63,
tr 3] Chính trong quá trình tìm đường cứu nước, Người đã nhận thấy khoảng cách rộng lớn giữa lý tưởng và hiện thực, giữa lý tưởng nhân văn của các nhà khai sáng Pháp với sự thực hiện những lý tưởng đó trên thực tế
Trong khi khẳng định sự kế thừa trong sự phát triển lịch sử bằng việc xem Đại cách mạng tư sản Pháp là một mốc lớn trong sự phát triển của lịch sử nhân loại, “nhờ cuộc Đại cách mạng đó mà tư tưởng dân chủ truyền bá khắp châu Âu” [69, tr 464], Người lại tỏ thái độ mỉa mai đối với những kẻ nhân danh tư tưởng khai sáng Pháp để xâm lược và nô dịch các dân tộc khác trong loạt các bài viết như: Nền văn minh thượng đỉnh, Động vật học, Lời than vãn của bà Trưng Trắc, Phụ nữ An Nam và sự thống trị của thực dân Pháp … Trong bài Công lý, Hồ Chí Minh đã tố cáo sự thống trị dã man của
Trang 3939
thực dân Pháp đối với Việt Nam Người viết: “Ở Đông Dương có hai thứ công lý Một thứ cho người Pháp, một thứ cho người bản xứ Người Pháp thì được xử như ở Pháp Người An Nam thì không có Hội đồng bồi thẩm, cũng không có luật sư người An Nam … Nếu có vụ kiện cáo giữa người An Nam với người Pháp thì lúc nào người Pháp cũng có lý cả, mặc dù tên này ăn cướp hay giết người” [59, tr 420]
Đặc biệt là trong tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp viết vào năm
1925, chương VIII nói về Công lý, Hồ Chí Minh viết với giọng mỉa mai chua xót: “Công lý được tượng trưng qua hình ảnh một nữ thần tay cầm cân và tay cầm kiếm Nhưng Đông Dương lại quá xa nước Pháp, muôn trùng cách trở, nên khi nữ thần tới xứ này thì cán cân đã mất thăng bằng, đĩa cân đã chảy lỏng ra và biến thành những tẩu thuốc phiện hoặc những chai rượu ty, nên người đàn bà tội nghiệp chỉ còn lại độc cái kiếm để chém giết Bà chém giết đến cả người vô tội, và nhất là người vô tội” [60, tr 91] Phải chăng đó là công lý của bọn thực dân cướp nước!
Chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh được làm sâu sắc thêm chính là nhờ biết đưa vào đó những nội dung mới trong quá trình tiếp thu tưởng nhân văn của phương Tây Tuy nhiên, Người không dừng lại ở tư tưởng nhân văn trừu tượng mà Người đã tìm đến với chủ nghĩa Mác – Lênin và cho rằng chỉ có chủ nghĩa Mác – Lênin mới là thứ chủ nghĩa nhân văn thực sự và phù hợp với thời đại Dưới ánh sáng của Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin, và tấm gương Cách mạng tháng Mười Nga vĩ đại, Người đã tìm ra con đường giải phóng cho dân tộc Việt Nam và cho tất cả các dân tộc thuộc địa Người đã rút ra kết luận:
Trang 40Về mặt lịch sử, Phật giáo được du nhập vào Việt Nam rất sớm, từ những năm đầu công nguyên Trước khi Phật giáo vào Việt Nam thì người Việt Nam đã có tín ngưỡng bản địa, thể hiện qua những tập tục như thờ phụng tổ tiên, lệ cúng bái thổ công, cầu khấn thành hoàng … Tuy nhiên những tín ngưỡng bản địa thô sơ đó không thỏa mãn nhu cầu phát triển nhận thức của con người Càng phát triển, con người Việt Nam càng muốn hiểu biết ý nghĩa cuộc sống của mình, họ muốn biết sự sinh thành, muốn biết quan hệ nhân quả trong cuộc đời … Phật giáo với lý thuyết về “Tứ diệu đế” (Khổ đế, Tập đế, Diệt đế, Đạo đế), cứu khổ, cứu nạn, từ bi hỷ xả, v.v đã đáp ứng phần nào yêu cầu đó, cho nên Phật giáo đã dần thay thế tín ngưỡng cổ truyền Như vậy, người Việt đã tìm đến Phật giáo không phải vì triết lý cao siêu của tôn giáo này, mà là để bổ sung cho mình về phương diện nhân sinh quan, điều mà ở tín ngưỡng cổ truyền còn thiếu [94, tr 100]