Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin gắn với quá trình hoạt động thực tiễn sôi nổi, phong phú, tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc mang bản chất cách mạng và khoa học
Trang 1-o0o -
BÙI THỊ THU HIỀN
TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ HỒ CHÍ MINH VỚI SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2015
Trang 2BÙI THỊ THU HIỀN
TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ HỒ CHÍ MINH VỚI SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
CHUYÊN NGÀNH: CNDVBC&CNDVLS
Mã số: 62.22.80.05
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Thế Nghĩa và TS Hà Thiên Sơn Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về kết quả nghiên cứu của công trình khoa học này
Tp Hồ Chí Minh, tháng 3 năm 2015
Tác giả
BÙI THỊ THU HIỀN
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NHỮNG ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ VÀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ HỒ CHÍ MINH 14
1.1 ĐIỀU KIỆN HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ HỒ CHÍ MINH ··· 14
1.1.1 Bối cảnh quốc tế cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX với việc hình thành tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh 14
1.1.2 Tình hình kinh tế, chính trị - xã hội, Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX với việc hình thành tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh 18
1.1.3 Các phong trào yêu nước, chống thực dân Pháp xâm lược 23
1.2 TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ HỒ CHÍ MINH 29
1.2.1 Tư tưởng chính trị và giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam 29
1.2.2 Tư tưởng chính trị và tinh hoa văn hóa Đông – Tây 37
1.2.3 Tư tưởng chính trị Mác – Lênin 46
1.2.4 Phương pháp tư duy của Hồ Chí Minh 52
1.3 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ HỒ CHÍ MINH 56
1.3.1 Giai đoạn Hồ Chí Minh tìm tòi, lựa chọn, thể nghiệm con đường hoạt động chính trị (1911-1920) 58
1.3.2 Giai đoạn Hồ Chí Minh xúc tiến chuẩn bị các tiền đề để thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (1920-1930) 62
1.3.3 Giai đoạn Hồ Chí Minh tiếp tục chuẩn bị các tiền đề, thiết lập các tổ chức chính trị để giải phóng dân tộc (1930-1945) 65 1.3.4 Giai đoạn Hồ Chí Minh củng cố, hoàn thiện bộ máy Đảng, Nhà nước và tập hợp, đoàn kết các tổ chức chính trị - xã hội trong Mặt trận Tổ quốc
Trang 5(1945-Chương 2: NỘI DUNG VÀ ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ HỒ CHÍ MINH 74
2.1 NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ HỒ CHÍ MINH 75 2.1.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về thể chế chính trị và quyền lực chính trị 75 2.1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về hệ thống chính trị 88 2.1.3 Tư tưởng Hồ Chí Minh về mục tiêu chính trị và đường lối chính trị của cách mạng Việt Nam 123 2.2 NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ HỒ CHÍ MINH 131 2.2.1 Tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh mang tính khoa học, cách mạng,
triệt để 131 2.2.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh có sự thống nhất chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễn 134 2.2.3 Tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh có sự thống nhất giữa tính giai cấp, tính dân tộc và tính thời đại 139 2.2.4 Tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh mang tính nhân văn sâu sắc 143 KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 147
Chương 3: VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ HỒ CHÍ MINH
VÀO SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY 151
3.1 KHÁI QUÁT VỀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ VIỆT NAM 151 3.1.1 Khái niệm và đặc điểm hệ thống chính trị Việt Nam 151 3.1.2 Thực trạng hoạt động của hệ thống chính trị Việt Nam trong thời kỳ
đổi mới 158 3.2 NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ HỒ CHÍ MINH VÀO SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 169 3.2.1 Giải pháp xây dựng Đảng Cộng sản trong sạch, vững mạnh 172
3.2.2 Giải pháp xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa 178
Trang 6KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 214
KẾT LUẬN CHUNG 216 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 220
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hồ Chí Minh (1890-1969) là lãnh tụ vĩ đại của cách mạng Việt Nam, là nhà tư tưởng, nhà văn hóa lớn của dân tộc Việt Nam, người đã đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, trong đó có tư tưởng chính trị của Người, là kim chỉ nam hướng dẫn cách mạng Việt Nam thành công vang dội Đặc biệt, dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh, hệ thống chính trị dân chủ ở Việt Nam được hình thành, phát triển và từng bước được hoàn thiện cùng với tiến trình phát triển của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta từ đầu thế kỷ XX đến nay Đó là một hệ thống chính trị kiểu mới, mang bản chất giai cấp công nhân và đại biểu cho lợi ích của toàn dân tộc Trong hệ thống đó, Đảng Cộng sản Việt Nam là hạt nhân và giữ vai trò lãnh đạo; “Nhà nước ta là cột trụ của hệ thống chính trị, là công cụ thực hiện quyền lực của nhân dân” [37, tr 44], là người tổ chức, quản lý, điều hành xã hội, thực hiện rộng rãi quyền làm chủ của nhân dân “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân có vai trò rất quan trọng trong việc tập hợp, vận động, đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân; đại diện cho quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân; đưa các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, các chương trình kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh vào cuộc sống, góp phần xây dựng sự đồng thuận trong xã hội” [43, tr.124] Sự vững mạnh (hay suy yếu) của hệ thống chính trị có vai trò quyết định đến thắng lợi (hay thất bại) của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa
Thực tiễn cách mạng Việt Nam cho thấy, các thành tố trong hệ thống chính trị có vai trò to lớn đối với những thắng lợi vĩ đại của đất nước Đảng ta
là một Đảng cầm quyền, có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên cường và dày dạn trong đấu tranh cách mạng; một đảng có tầm trí tuệ cao nhờ nắm vững và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; giải quyết một cách đúng đắn và sáng tạo các nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam
Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố quyết định thắng lợi trong công
Trang 8cuộc chống giặc ngoại xâm, xây dựng Tổ quốc và đưa đất nước bước vào một thời kỳ phát triển mới, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế Trong những năm đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước đã có những bước trưởng thành vượt bậc trong việc thực hiện vai trò, chức năng, nhiệm vụ của mình đối với tổ chức, quản lý, điều hành các quá trình kinh tế - xã hội, đạt được nhiều thành tựu quan trọng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội; các tổ chức đoàn thể nhân dân không ngừng phát triển và ngày càng nâng cao vai trò làm chủ của mình trong mọi lĩnh vực… Thế nhưng, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, thực tế còn tồn tại nhiều vấn đề cả về lý luận và thực tiễn cần tập trung giải quyết, chẳng hạn, việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng còn lúng túng “chưa làm sáng tỏ được một số vấn đề về đảng cầm quyền, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta” [44, tr 172-173] Công tác cán bộ chậm đổi mới, thiếu cơ chế, chính sách cụ thể để thực sự phát huy dân chủ trong công tác cán bộ, phát hiện và sử dụng người tài; chậm đổi mới cơ chế, phương pháp và quy trình đánh giá, bổ nhiệm, miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ Bộ máy tổ chức các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị
- xã hội còn cồng kềnh, nhiều tầng nấc trung gian Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội trên một số nội dung chưa rõ, chậm đổi mới Xây dựng Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa chưa theo kịp yêu cầu phát triển kinh tế và quản lý đất nước Cải cách hành chính chưa đạt yêu cầu đề ra; thủ tục hành chính còn gây phiền
hà cho tổ chức và nhân dân Chủ trương, quan điểm của Đảng về đại đoàn kết toàn dân tộc, về quyền và lợi ích của các giai cấp, tầng lớp nhân dân chưa được thể chế hóa đầy đủ thành pháp luật; hoặc đã thể chế hóa nhưng chưa được thực hiện nghiêm túc Hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội còn mang tính hành chính, chưa sâu sát các tầng lớp nhân dân và cơ sở Đặc biệt là những khuyết tật trong đạo đức công mà sinh thời
Hồ Chí Minh đã phê phán như căn bệnh chủ nghĩa cá nhân, quan liêu, tham ô, lãng phí… đang làm tổn hại đến mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân, làm xói mòn lòng tin của nhân dân, làm phương hại lớn đến nền dân chủ
Trang 9nhân dân Nghị quyết Đại hội XI của Đảng nhấn mạnh: “Tình trạng suy thoái
về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu, những tiêu cực và tệ nạn xã hội chưa được ngăn chặn, đẩy lùi mà còn tiếp tục diễn biến phức tạp…” [44, tr.173] Trong tình hình ấy, việc nghiên cứu, làm rõ nội dung và đặc điểm của tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh, từ đó vận dụng đề xuất các giải pháp góp phần phát triển, hoàn thiện hệ thống chính trị của đất nước và làm cho nó vận hành đồng bộ, nhịp nhàng và có hiệu quả là hết sức cần thiết và cấp bách, nhất là trong bối cảnh Đảng và nhân dân ta đang đẩy mạnh việc xây
dựng và hoàn thiện hệ thống chính trị và coi đó là một nội dung trọng tâm của
quá trình đổi mới đất nước
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả chọn vấn đề “Tư tưởng chính trị
Hồ Chí Minh với sự nghiệp xây dựng hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay”
làm đề tài luận án tiến sĩ
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài
Tư tưởng Hồ Chí Minh, trong đó có Tư tưởng chính trị của Người là
một vấn đề lớn, chứa đựng rất nhiều nội dung sâu sắc, mang tính cách mạng, khoa học và nhân văn cao cả Chính vì vậy, vấn đề này đã và đang thu hút sự quan tâm của đông đảo các nhà khoa học trong nước và trên thế giới với nhiều công trình nghiên cứu, nhiều hội thảo, nhiều ý kiến trao đổi Khái quát lại, các công trình nghiên cứu về tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh được tập
trung theo các hướng: Những công trình nghiên cứu về quá trình hình thành,
phát triển và những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh; Nghiên cứu những vấn đề liên quan đến tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh; Nghiên cứu vận dụng tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh trong thời kỳ đổi mới
Hướng nghiên cứu thứ nhất, đó là các công trình nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh qua tiến trình lịch sử với nội dung tư tưởng cơ bản của
Người Liên quan đến chủ đề này có các công trình tiêu biểu: “Tư tưởng Hồ
Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam” (Võ Nguyên Giáp (Chủ biên),
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003); “Sự hình thành về cơ bản tư tưởng
Hồ Chí Minh” (Trần Văn Giàu, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997);
Trang 10“Những nhận thức cơ bản về tư tưởng Hồ Chí Minh” (Phạm Văn Đồng, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998); Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương
biên soạn công trình “Chủ tịch Hồ Chí Minh - Tiểu sử và sự nghiệp” (Nxb
Sự thật, Hà Nội, 1960); Tác giả Đinh Xuân Lâm có công trình: “Góp phần
tìm hiểu tư tưởng và cuộc đời Hồ Chí Minh” (Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 2005)… và nhiều công trình khác… Các công trình tiêu biểu kể trên đã làm rõ các mốc lớn có tính quyết định, mang ý nghĩa bước ngoặt lịch sử trên con đường hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh và đặc điểm của quá trình hình thành và phát triển của tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh, sản phẩm của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam truyền thống và tinh hoa văn hóa thế giới
Hướng nghiên cứu thứ hai là các công trình nghiên cứu trên nhiều góc
độ khác nhau về tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh Các công trình này đã khai
thác từng mặt, từng nội dung tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh, đồng thời nêu lên những giá trị và bài học lịch sử đối với dân tộc ta trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc trước đây cũng như trong công cuộc xây dựng và phát
triển đất nước hiện nay Tiêu biểu là các công trình: “Hồ Chí Minh với sự
nghiệp độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” (Vũ Đình Hòe - Bùi
Đình Phong (Đồng chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010); “Tư
tưởng Hồ Chí Minh về một số vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam” (Phạm
Hồng Chương, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003); “Tư tưởng Hồ Chí
Minh về xây dựng Đảng” (Nguyễn Quốc Bảo, Nxb Lao động, 1999); “Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước kiểu mới, sự hình thành và phát triển”
(Hoàng Văn Hảo, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995); “Đại cương lịch sử
các tư tưởng và học thuyết chính trị trên thế giới” (Nguyễn Thế Nghĩa, Nxb
Khoa học xã hội, Hà Nội, 1999); “Phương pháp nhân nghĩa Hồ Chí Minh” (Vũ Đình Hòe, Nxb Trẻ, TP.HCM, 2006); “55 xây dựng nhà nước của dân,
do dân, vì dân” (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001); “Hiến pháp năm
1946 và sự kế thừa phát triển trong các Hiến pháp Việt Nam” (Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 1998); “Di sản Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay” (Học
viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh - Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế kỷ niệm 120 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb Chính
Trang 11trị quốc gia, Hà Nội, 2010); “Xây dựng Đảng và rèn luyện đảng viên theo tư
tưởng Hồ Chí Minh” (Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2000); “Di chúc của chủ tịch Hồ Chí Minh” (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2012); “Nguyên tắc thống nhất giữa dân tộc, giai cấp và nhân loại trong tư tưởng Hồ Chí Minh”
(Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010); “Triết lý “Dĩ bất biến, ứng vạn
biến” trong tư tưởng Hồ Chí Minh” (Nguyễn Hùng Hậu, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 2012); “Pháp quyền nhân nghĩa Hồ Chí Minh” (Vũ Đình Hòe
(Nxb Trẻ, TP.HCM, 2006); và những công trình khác
Tác giả Vũ Đình Hòe - Bùi Đình Phong đồng chủ biên công trình: “Hồ
Chí Minh với sự nghiệp độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”
(Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010) Công trình tập trung làm rõ tư tưởng
Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc là cơ sở lý luận cho sự nghiệp đấu tranh giành độc lập tự do của dân tộc Việt Nam Quá trình hình thành hệ thống quan điểm của Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc bắt đầu hình thành từ khi Người ra nước ngoài tìm đường cứu nước Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin gắn với quá trình hoạt động thực tiễn sôi nổi, phong phú, tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc mang bản chất cách mạng và khoa học, soi sáng con đường đấu tranh giành độc lập dân tộc của nhân dân Việt Nam, từ cách mạng tháng Tám năm 1945 qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống hai đế quốc
to là Pháp và Mỹ, tiến tới giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước
Công trình “Tư tưởng Hồ Chí Minh về một số vấn đề cơ bản của cách
mạng Việt Nam” (Phạm Hồng Chương, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2003) đã trình bày nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường và mục tiêu cách mạng, về Đảng, về Mặt trận, về chính trị, về kinh tế, về ngoại giao, về quan hệ quốc tế… Trong đó, tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh thể hiện ở nội dung dân chủ và quyền lực của nhân dân, ở việc xây dựng nhà nước dân chủ, xây dựng hệ thống chính trị, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh và phát huy quyền làm chủ của nhân dân
Trong công trình “Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng” (Nguyễn
Quốc Bảo, Nxb Lao động, 1999), tác giả đã làm rõ sự vận dụng sáng tạo của
Trang 12Hồ Chí Minh và của Đảng ta về Đảng và xây dựng Đảng theo học thuyết Mác
- Lênin Đồng thời, công trình nêu bật được nội dung cơ bản trong tư tưởng
Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng cũng như việc Đảng ta xây dựng theo tư tưởng của Người với các nội dung: Đảng ra đời là kết quả của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước của nhân dân ta; Đảng ta đã nắm vững và không ngừng nâng cao bản chất cách mạng và khoa học của một Đảng Mác - Lênin; Đảng ta luôn xác định và không ngừng nâng cao tính chất giai cấp công nhân của Đảng; Đảng ta đã nêu lên 5 phương châm xây dựng Đảng và xác định cơ chế “Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”…
Công trình “Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước kiểu mới, sự hình
thành và phát triển” (Hoàng Văn Hảo, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
1995), tác giả đã khẳng định: một trong những sự nghiệp vĩ đại của Hồ Chí Minh là sáng lập ra nhà nước kiểu mới đầu tiên ở Đông Nam Á - Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời ngày 2/9/1945 Trong suốt giai đoạn lịch
sử từ khi thành lập cho đến khi Hồ Chủ tịch qua đời, Người đã để tâm sức chỉ đạo xây dựng hai bản Hiến pháp của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm
1946 và 1959; tổ chức xây dựng bộ máy nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng tiên phong của giai cấp công nhân Có thể nói, cùng với việc xây dựng bộ máy nhà nước, việc ban hành hệ thống pháp luật Việt Nam để quản lý mọi mặt hoạt động của Nhà nước và xã hội đều thấm nhuần sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước kiểu mới…
Tác giả Nguyễn Thế Nghĩa chủ biên công trình: “Đại cương lịch sử
các tư tưởng và học thuyết chính trị trên thế giới” (Nxb Khoa học xã hội, Hà
Nội, 1999) Công trình đã đề cập đến các nội dung trong tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh, bao gồm: Hồ Chí Minh đã kết hợp giữa chủ nghĩa yêu nước Việt Nam với chủ nghĩa quốc tế vô sản; kết hợp giữa đấu tranh giải phóng dân tộc với giải phóng giai cấp, giải phóng con người; Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; Hồ Chí Minh với việc xây dựng một nhà nước của dân, do dân, vì dân…
Trang 13“Triết lý “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong tư tưởng Hồ Chí Minh”
(Nguyễn Hùng Hậu, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2012) Trong công trình này, tác giả đã làm rõ phương châm “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” là một nội dung cơ bản của phương pháp biện chứng cách mạng được Hồ Chí Minh quán triệt trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình Cái “bất biến” lớn trong tư tưởng của Người là “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội” Đối với thực tiễn cách mạng, dù ở những thời điểm khác nhau, Hồ Chí Minh luôn hướng về mục tiêu đã được xác định và thực hiện mục tiêu ấy một cách linh hoạt, phù hợp với điều kiện
cụ thể của từng giai đoạn cách mạng…
Như vậy, trong các công trình tiêu biểu nói trên, các tác giả đã phân tích khá kỹ các phương diện khác nhau liên quan trực tiếp (hay gián tiếp) đến
tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu sâu và có hệ thống tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh với tư cách là học thuyết chính trị chỉ đạo nhất quán và xuyên suốt quá trình cách mạng Việt Nam
Hướng thứ ba là các công trình nghiên cứu vận dụng tư tưởng chính trị
Hồ Chí Minh trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế
Liên quan đến vấn đề vận dụng tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh trong
thời kỳ đổi mới, có các công trình tiêu biểu: “Hồ Chí Minh - một con người,
một dân tộc, một thời đại, một sự nghiệp” (Phạm Văn Đồng, Nxb Sự thật, Hà
Nội, 1990); “Di sản Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay” (Học viện Chính
trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh - Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế
kỷ niệm 120 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội, 2010); “Hồ Chí Minh và minh triết Hồ Chí Minh” (Bùi Đình Phong, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008); “Vận dụng và phát triển sáng tạo tư
tưởng Hồ Chí Minh trong sự nghiệp đổi mới” (Bùi Đình Phong, Nxb Lao
động, Hà Nội, 2007); “Vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí
Minh về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” (Mạch Quang Thắng, Nxb Lao động,
Hà Nội, 2010); “Vận dụng và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng
Đảng trong thời kỳ đổi mới” (Bùi Đình Phong - Phạm Ngọc Anh (Đồng chủ
Trang 14biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006); “Phát huy các nguồn lực của
dân, làm lợi cho dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh” (Phạm Ngọc Anh, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2012) “Di chúc của chủ tịch Hồ Chí Minh và
công cuộc đổi mới đất nước” (Nguyễn Thế Nghĩa - Nguyễn Thanh Bình
(Đồng chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000); “Tư tưởng Hồ Chí
Minh mãi mãi soi đường chúng ta đi” (Ngô Văn Thạo (Chủ biên), Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004); “Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh với việc
giáo dục đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay” (Hoàng Trang - Phạm Ngọc
Anh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008); “Giải phóng dân tộc và đổi mới
dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh” (Bùi Đình Phong, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 2004); “Hồ Chí Minh - Nhà dự báo thiên tài” (Trần Dương,
Nxb Thanh niên, Hà Nội, 2008); và những công trình khác
Khi bàn về sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào công cuộc đổi mới, vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Phạm Văn Đồng có
công trình “Hồ Chí Minh - một con người, một dân tộc, một thời đại, một sự
nghiệp” (Nxb Sự thật, Hà Nội, 1990), Phạm Văn Đồng đã khẳng định: “Chủ
nghĩa xã hội theo đặc điểm Việt Nam là sự kết thúc thắng lợi hành trình lịch
sử của dân tộc mà Hồ Chí Minh đã vạch ra từ đầu thế kỷ, là sự thực hiện trọn vẹn Di chúc của Người, là đỉnh cao của sự nghiệp ba giải phóng của Việt Nam, từ đó chân trời càng mở rộng cho đà tiến cao xa hơn nữa, trên con đường phát triển vô hạn của dân tộc, xã hội và con người” [48, tr 85]
Trong tác phẩm: “Di sản Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay” (Học
viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh - Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế kỷ niệm 120 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010), các tác giả đã làm rõ những cống hiến về lý luận
và thực tiễn của Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam và sự tiến bộ của nhân loại trong thời đại ngày nay ở những nội dung cơ bản: Hồ Chí Minh với sự nghiệp độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; Hồ Chí Minh với cuộc đấu tranh vì hòa bình và tiến bộ của nhân loại; và nhân cách Hồ Chí Minh Trong quá trình nghiên cứu di sản Hồ Chí Minh, công trình đã làm rõ giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ trong quá khứ, mà còn
Trang 15tỏa sáng trong hiện tại và tương lai, những di sản Hồ Chí Minh - qua giá trị tư tưởng và hành động của Người - vẫn còn nguyên vẹn, tiếp tục để lại một dấu son trong sự phát triển bền vững của dân tộc và nhân loại Hai mươi năm trước (vào năm 1990), vấn đề này đã được khẳng định trong Hội thảo quốc tế
về Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức tại Việt Nam nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Người
Tác giả Bùi Đình Phong có công trình “Vận dụng và phát triển sáng
tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong sự nghiệp đổi mới” (Nxb Lao động, Hà Nội,
2007) Trong công trình này, trên cơ sở phân tích sự phát triển trong nhận thức và tư duy lý luận của Đảng về tư tưởng Hồ Chí Minh, tác giả làm sáng tỏ
sự vận dụng sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam về đường lối độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, về xây dựng Đảng, Nhà nước và thực hiện đại đoàn kết dân tộc Đồng thời, Đảng đã vận dụng sáng tạo và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh trên các lĩnh vực của đời sống xã hội như kinh tế, quân sự, ngoại giao, văn hóa… Trong chương kết luận, tác giả đề ra nhiệm vụ tiếp tục khai thác, vận dụng sáng tạo, góp phần phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn mới
Tác giả Mạch Quang Thắng có công trình “Vận dụng và phát triển
sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” (Nxb Lao
động, Hà Nội, 2010) Trong công trình này, tác giả khái quát một cách có hệ thống những nội dung cơ bản, giá trị lý luận và thực tiễn của tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; tập trung làm rõ quan niệm của Người
về tính tất yếu khách quan, bản chất, đặc trưng, mục tiêu, động lực phát triển của chủ nghĩa xã hội; quan niệm về những đặc điểm, phương thức quá độ lên chủ nghĩa xã hội; nội dung, bước đi, biện pháp và các điều kiện bảo đảm thành công chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; từ đó khẳng định những sáng tạo của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội Đồng thời, công trình làm rõ quá trình Đảng Cộng sản Việt Nam nhận thức và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội vào điều kiện cụ thể của Việt Nam Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra những cơ sở lý luận – thực tiễn và kiến nghị vận dụng sáng tạo và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội vào điều kiện hiện nay, nhất
Trang 16là đóng góp luận cứ cho việc tổng kết, bổ sung phát triển Cương lĩnh xây
dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Cương lĩnh 1991)
Tác giả Bùi Đình Phong - Phạm Ngọc Anh đồng chủ biên công trình:
“Vận dụng và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng trong thời
kỳ đổi mới” (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006) Công trình đã khẳng
định, từ khi Đảng ta ra đời, tư tưởng Hồ Chí Minh đã tỏa sáng, soi đường cho cách mạng Việt Nam trên nhiều lĩnh vực, từ chính trị, quân sự, kinh tế đến văn hóa, ngoại giao, v.v… Nhờ vậy, Đảng đã lãnh đạo nhân dân Việt Nam vượt qua bao khó khăn thử thách, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác Trong những năm đổi mới, Đảng ta không những đã
có sự nhận thức đúng hơn và bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, mà còn vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trên nhiều vấn đề Để làm rõ vấn đề này, công trình đã phân tích, lý giải 10 vấn đề cơ bản trong việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh của Đảng ta trong công tác xây dựng Đảng: Sự phát triển tư duy lý luận của Đảng về tư tưởng Hồ Chí Minh; Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố quyết định thành công của sự nghiệp cách mạng; Giữ vững và tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Đảng; Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ; Nâng cao trình độ trí tuệ, bản lĩnh chính trị, phẩm chất và năng lực của cán bộ, đảng viên, chống chủ nghĩa cá nhân; Xây dựng khối đoàn kết thống nhất trong Đảng; chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ của Đảng; Xây dựng và phát triển tổ chức cơ sở Đảng; Đổi mới phương pháp lãnh đạo dân chủ của Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền; Tăng cường quan hệ quốc tế của Đảng
Tác giả Phạm Ngọc Anh có công trình “Phát huy các nguồn lực của
dân, làm lợi cho dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh” (Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội, 2012) Công trình đã làm rõ vai trò quyết định của nhân dân trong lịch sử, về những nhu cầu, lợi ích thiết thực của nhân dân, cũng như quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về các giải pháp liên quan đến nhận thức, chính sách, thiết chế, thể chế, giáo dục nhằm phát huy các nguồn lực của nhân dân trong xây dựng và chấn hưng dân tộc; thực trạng phát huy các nguồn lực
Trang 17của dân làm lợi cho dân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Trong các công trình trên, các tác giả chủ yếu phân tích ý nghĩa của tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh trong sự nghiệp đổi mới ở các khía cạnh giáo dục con người, xây dựng Nhà nước pháp quyền, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, xây dựng văn hóa mới và phát huy quyền làm chủ của nhân dân… Tuy nhiên, các tác giả chưa đi sâu phân tích và khái quát hóa những bài học có giá trị đối với sự nghiệp phát triển, hoàn thiện hệ thống chính trị, trong đó có việc xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân; chưa làm rõ cơ chế
“Đảng lãnh đạo - Nhà nước quản lý - nhân dân làm chủ” trong bối cảnh đổi mới và hội nhập quốc tế
Như vậy, việc nghiên cứu Tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh và Xây dựng
hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên
cứu dưới nhiều khía cạnh khác nhau, nhưng chưa có công trình mang tính hệ
thống và chuyên sâu, tập trung nghiên cứu làm rõ Tư tưởng chính trị Hồ Chí
Minh với sự nghiệp xây dựng hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay Tuy
nhiên, những công trình tiêu biểu kể trên là những tài liệu quý báu để tác giả tiếp thu, kế thừa trong luận án này
3 Mục đích, nhiệm vụ của luận án
Mục đích:
Mục đích của luận án là trên cơ sở làm rõ nội dung và đặc điểm cơ bản của tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh, đề xuất và luận chứng các giải pháp góp phần xây dựng hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay
Nhiệm vụ:
Để thực hiện mục đích trên, luận án phải thực hiện các nhiệm vụ sau:
Một là, phân tích và khái quát những điều kiện và tiền đề hình thành tư
tưởng chính trị Hồ Chí Minh
Hai là, phân tích những nội dung và đặc điểm cơ bản của tư tưởng
chính trị Hồ Chí Minh
Ba là, đề xuất các giải pháp nhằm vận dụng tư tưởng chính trị Hồ Chí
Minh vào sự nghiệp xây dựng hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay
Trang 184 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
Nội dung tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh sâu sắc, phong phú, sinh động được Đảng ta xác định là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hoạt động cách mạng Do đó, trong luận án này, tác giả chỉ tập trung vào việc làm rõ những nội dung cơ bản trong tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh trên các mặt: tư tưởng Hồ Chí Minh về thể chế chính trị và quyền lực chính trị; Tư tưởng Hồ Chí Minh về hệ thống chính trị; Tư tưởng Hồ Chí Minh về mục tiêu chính trị
và đường lối chính trị của cách mạng Việt Nam; từ đó vận dụng vào việc xây dựng hệ thống chính trị Việt Nam trong giai đoạn đổi mới và hội nhập quốc tế
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu và trình bày luận án, tác giả sử dụng các phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Đồng thời, sử dụng các phương pháp cụ thể như: hệ thống cấu trúc, lịch sử và lôgích, phân tích và tổng hợp, quy nạp và diễn dịch, khái quát hóa…
Về tài liệu, tác giả sử dụng bộ sách Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000 làm tư liệu gốc để nghiên cứu luận án Bên cạnh đó, tác giả lấy các Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng và Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam làm tài liệu chuẩn định hướng cho việc nghiên cứu luận án; đồng thời tham khảo các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học về tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh, về xây dựng hệ thống chính trị Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế
6 Cái mới của luận án
- Luận án phân tích những điều kiện, tiền đề, quá trình hình thành, phát
Trang 19triển tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh gắn liền với các sự kiện lịch sử xuyên suốt quá trình hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh
- Luận án phân tích và trình bày một cách có hệ thống tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh Trong đó làm nổi bật những nội dung cơ bản và đặc điểm đặc sắc có ý nghĩa thời đại trong tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh
- Trên cơ sở đó, luận án luận chứng những giải pháp vận dụng sáng tạo
tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh vào quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính trị Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu của luận án đã làm rõ những nội dung cơ bản của
tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh trên các mặt: tư tưởng về thể chế chính trị và quyền lực chính trị; tư tưởng về hệ thống chính trị; tư tưởng về mục tiêu chính trị và đường lối chính trị của cách mạng Việt Nam
Ý nghĩa thực tiễn
Những nội dung cơ bản của tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh là những bài học bổ ích góp phần vào sự nghiệp xây dựng hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay Kết quả nghiên cứu của luận án còn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho công tác giảng dạy và nghiên cứu về Lịch sử tư tưởng, về tư tưởng Hồ Chí Minh và xây dựng Đảng
8 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận án được kết cấu thành 3 chương, 7 tiết, 24 tiểu tiết
Trang 20Chương 1 NHỮNG ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ VÀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ HỒ CHÍ MINH
1.1 ĐIỀU KIỆN HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ HỒ CHÍ MINH
Tư tưởng chính trị là hệ thống những quan điểm phản ánh quan hệ chính trị, kinh tế giữa các tầng lớp, các giai cấp, các dân tộc, các quốc gia xung quanh vấn đề giành và giữ chính quyền, tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước Tư tưởng chính trị bao giờ cũng nảy sinh từ những điều kiện kinh
tế - xã hội nhất định, phản ánh và đáp ứng các nhu cầu, lợi ích của lực lượng
xã hội nhất định trong lịch sử Tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh là sự kết tinh
tư tưởng chính trị và giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam; tư tưởng chính trị và tinh hoa văn hóa nhân loại, là sản phẩm của dân tộc và thời đại
mà thực tiễn lịch sử cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX chính là mảnh đất ươm mầm cho sự hình thành tư tưởng chính trị của Người
1.1.1 Bối cảnh quốc tế cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX với việc hình thành tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh
Vào nửa cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản đã phát triển
từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn độc quyền và đế quốc chủ nghĩa trên phạm vi thế giới Lúc này, chủ nghĩa đế quốc là một hiện tượng quốc tế, một hệ thống thế giới, chúng vừa tranh giành, xâu xé thuộc địa, vừa liên kết với nhau để nô dịch người lao động và các dân tộc thuộc địa
Để mở rộng thị trường, khai thác sức lao động và tài nguyên thiên nhiên, xuất khẩu tư bản…, chủ nghĩa đế quốc đã tiến hành các cuộc chiến tranh xâm lược các quốc gia, các dân tộc nhỏ yếu, biến các quốc gia, các dân tộc đó thành thuộc địa và thực hiện đàn áp, bóc lột tàn bạo “nhằm mục đích cướp bóc các nước khác, bóp nghẹt các dân tộc nhược tiểu, thống trị thế giới
về mặt tài chính, chia và chia lại thuộc địa” [90, tr 18]
Đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, chỉ sáu nước đế quốc chi phối toàn bộ tình hình thế giới: “Sáu nước (Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha,
Mỹ, Hà Lan) với tổng số dân là 320 triệu người, với diện tích 11 triệu km2
Trang 21đang bóc lột hàng trăm dân tộc với một dân số 560 triệu người, với diện tích
35 triệu km2 Toàn bộ lãnh thổ của các thuộc địa rộng gấp 5 lần lãnh thổ của chính quốc, còn dân số của các nước chính quốc bằng 3/5 số dân các nước thuộc địa” [107, tr.277] Nhân dân các nước thuộc địa bị tước hết mọi giá trị văn hóa tinh thần, quyền lợi kinh tế và địa vị xã hội Đối với bọn đế quốc thực dân, “tính mạng của người thuộc địa, da vàng hay da đen cũng không đáng một xu” [167, tr.30]
Không chỉ đàn áp, bóc lột nhân dân ở các nước thuộc địa, bộ máy cai trị của chủ nghĩa đế quốc và tay sai còn không từ bất cứ bất cứ thủ đoạn nào
để vơ vét của cải, công sức của nhân dân chính quốc Bởi vậy, qua nhiều năm bôn ba ở nước ngoài, Hồ Chí Minh đã nhận rõ tính chất tiêu cực của chế độ chính trị tư sản, đó là “con đỉa hai vòi”, một vòi hút máu nhân dân thuộc địa, một vòi hút máu nhân dân chính quốc Người đã đi đến kết luận: chủ nghĩa tư sản, đế quốc ở đâu cũng tàn bạo, bất công; người lao động ở đâu cũng bị đọa đày, đau khổ, “dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột” [107, tr 266] Tuy nhiên, chính sự áp bức của chủ nghĩa đế quốc đã khoét sâu những mâu thuẫn của thời đại, thức tỉnh tinh thần đấu tranh của những con người cùng khổ trên toàn thế giới Cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc đã gắn phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và phong trào công nhân lại với nhau ngày một chặt chẽ Cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc sang thế kỷ XX không còn là hành động riêng rẽ của nước này chống lại sự xâm lược và thống trị của nước khác như trước kia, mà đã trở thành cuộc đấu tranh chung của các dân tộc thuộc địa chống chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân gắn liền với cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản quốc tế
Chủ nghĩa đế quốc và sự tranh chấp thuộc địa giữa chúng là nguyên nhân gây ra cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914-1918) Cuộc chiến tranh hao người tốn của ấy đã khơi sâu, làm gay gắt thêm mâu thuẫn giữa các nước tư bản chủ nghĩa, làm cho chủ nghĩa tư bản thế giới suy yếu, tạo điều kiện cho cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga giành thắng lợi, mở ra thời đại mới của lịch sử loài người - thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên
Trang 22chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới
“Cách mạng tháng Mười là thắng lợi đầu tiên của chủ nghĩa Mác và học thuyết Lênin ở một nước lớn là Liên Xô, rộng một phần sáu thế giới Đó
là thắng lợi vĩ đại nhất của giai cấp công nhân và đội tiên phong của họ là Đảng Bônsêvích lãnh đạo Cách mạng tháng Mười đã dùng bạo lực cách mạng đánh đổ giai cấp tư sản và giai cấp phong kiến địa chủ, lập nên chính quyền của những người lao động, xây dựng một xã hội hoàn toàn mới, một xã hội không có người bóc lột người” [118, tr 300-301], đưa chủ nghĩa xã hội từ chỗ là ước mơ cao đẹp của loài người trở thành hiện thực Mặc dù gặp nhiều khó khăn, song nhà nước Xô-Viết non trẻ đã chèo lái con thuyền cách mạng đứng vững trước thù trong, giặc ngoài, chống mọi tiêu cực, lạc hậu, thể hiện bản chất tốt đẹp, trong sạch của một chế độ chính trị thực sự là của dân, do dân và vì dân Những thắng lợi đó là nguồn cổ vũ lớn lao cho các dân tộc thuộc địa và triệu triệu con người cần lao vùng lên giải phóng mình và giải phóng toàn xã hội Sự kiện lịch sử này tác động khắp toàn cầu, nhất là đối với các nước thuộc địa và phụ thuộc, và đã ghi dấu ấn đậm nét trong tư duy chính trị Hồ Chí Minh
Chìm đắm trong đêm dài nô lệ, nhân dân các nước thuộc địa bị áp bức
đã thức tỉnh mạnh mẽ trước tiếng sấm vang rền của cách mạng tháng Mười
Họ đã tìm thấy ở cuộc cách mạng Nga một tấm gương đấu tranh, một con đường giải phóng thật sự cho dân tộc Vì vậy, dưới ảnh hưởng to lớn của Cách mạng tháng Mười và tấm gương đầy sức cổ vũ của nước Nga Xôviết, một làn sóng đấu tranh đã dấy lên sôi nổi ở các nước thuộc địa và phụ thuộc Phong trào giải phóng dân tộc đã bước sang một thời kỳ phát triển mới với khí thế đấu tranh mạnh mẽ hơn và ý thức giác ngộ sâu sắc hơn Nét nổi bật trong phong trào giải phóng của các dân tộc là vai trò của giai cấp công nhân ngày càng tăng lên, trở thành một lực lượng chính trị quan trọng và đông đảo quần chúng nhân dân, trước hết là công nhân và nông dân, ngày càng hướng về nước Nga Xôviết, nhanh chóng tiếp thu những tư tưởng cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin Hệ tư tưởng mới này đã tác động mạnh mẽ, làm thay đổi
tư duy của nhiều dân tộc, nhiều nhà tư tưởng, trong đó có nhà tư tưởng vĩ đại
Trang 23của cách mạng Việt Nam - Hồ Chí Minh, tạo nên sự biến chuyển sâu sắc trong tư duy chính trị của Người Người nhận thức sâu sắc: “Giống như mặt trời chói lọi, Cách mạng tháng Mười chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu, hàng triệu người bị áp bức bóc lột trên trái đất Trong lịch sử loài người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa như thế” [118, tr 300] Từ đó, Hồ Chí Minh đã quyết định đi theo con đường cách mạng tháng Mười Nga, con đường cách mạng vô sản để giải phóng dân tộc và đưa đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội
Sự thành công của Cách mạng tháng Mười Nga dẫn đến sự ra đời chế
độ xã hội chủ nghĩa, một chế độ xã hội mới, không còn nạn người bóc lột người, xóa bỏ áp bức bất công, con người được tự do bình đẳng… đã trở thành bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời hoạt động chính trị của Hồ Chí Minh
Như vậy, cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, hoàn cảnh lịch sử thế giới có rất nhiều yếu tố tác động mạnh mẽ đến việc hình thành tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh Chủ nghĩa tư bản phương Tây phát triển mạnh mẽ, chuyển từ chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh sang giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền và chủ nghĩa đế quốc Để phân chia lại thị trường và thuộc địa thế giới, chủ nghĩa đế quốc đã phát động cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất, tiến hành các cuộc xâm lược sang các dân tộc phương Đông, trong đó có Việt Nam Thực tiễn sinh động ấy đã đặt ra nhiệm vụ mới cho dân tộc Việt Nam là phải bằng con đường cách mạng nào để giành độc lập dân tộc, đem lại tự do cho nhân dân, phát triển đất nước theo kịp các nước khu vực Bên cạnh đó, phong trào cách mạng vô sản phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là Cách mạng tháng Mười Nga thắng lợi, chủ nghĩa xã hội đang trở thành hiện thực và là mong ước của hàng triệu con người trên trái đất Hệ tư tưởng của giai cấp công nhân ngày càng ảnh hưởng rộng khắp trên phạm vi thế giới Phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của các dân tộc ngày càng phát triển nhanh chóng Đây là những sự kiện lịch sử chính trị rất lớn, có ảnh hưởng trực tiếp đến sự hình thành tư tưởng chính trị của vị lãnh tụ thiên tài Hồ Chí Minh
Trang 24và tiến hành cuộc khai thác thuộc địa nhằm bóc lột về kinh tế, áp bức về chính trị và nô dịch về văn hóa
Từ năm 1897, thực dân Pháp tiến hành chương trình khai thác thuộc địa lần thứ nhất và sau Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918), chúng tiến hành chương trình khai thác thuộc địa lần thứ hai ở Đông Dương với số vốn đầu tư trên quy mô lớn, tốc độ nhanh
Về kinh tế, bên cạnh việc duy trì kinh tế nông nghiệp, thực dân Pháp
đẩy mạnh chính sách khai thác thuộc địa: Hình thành các đồn điền trồng lúa, cao su Khai thác vơ vét tài nguyên thiên nhiên (than đá, quặng, sắt, chì, cao su…), nông sản (lúa gạo, hạt tiêu…), thủy hải sản… Nhưng thực dân Pháp không du nhập một cách hoàn chỉnh phương thức tư bản chủ nghĩa vào nước
ta, mà vẫn duy trì quan hệ kinh tế phong kiến Chúng kết hợp hai phương thức bóc lột tư bản và phong kiến để thu lợi nhuận siêu ngạch dưới các hình thức
tô thuế nặng nề: “Chính sách thực dân ăn cướp, chẳng những đã tước đoạt mất ruộng đất, của cải, đã xóa bỏ hết mọi quyền lợi, mọi quyền tự do - kể cả quyền tự do thân thể của người dân bản xứ mà còn bắt họ phải nộp thuế về những mảnh đất cằn cỗi còn lại trong tay họ, nộp thuế về nghề nghiệp sinh sống của họ, nộp cả thuế không khí mà họ thở nữa” [107, tr 408] Chính vì vậy, nền kinh tế Việt Nam bị kìm hãm trong vòng lạc hậu và phụ thuộc nặng
nề vào kinh tế Pháp
Về chính trị, chúng đặt ách cai trị thực dân, thi hành chính sách chuyên
chế với bộ máy đàn áp nặng nề Mọi quyền hành của đất nước đều thâu tóm
Trang 25trong tay các viên quan cai trị người Pháp, từ toàn quyền Đông Dương, thống đốc Nam Kỳ, khâm sứ Trung Kỳ, thống sứ Bắc Kỳ, công sứ các tỉnh, đến các
bộ máy quân đội, cảnh sát, toà án, nhà tù ; biến vua quan Nam triều thành bù nhìn, tay sai Chúng bóp nghẹt tự do, dân chủ, thẳng tay đàn áp, khủng bố, dìm các cuộc đấu tranh của dân ta trong biển máu Chúng tiếp tục thi hành chính sách “chia để trị” rất thâm độc, chia nước ta làm ba kỳ, mỗi kỳ đặt một chế độ cai trị riêng và nhập ba kỳ đó với Lào và Campuchia để lập ra liên bang Đông Dương thuộc Pháp, xóa tên nước ta trên bản đồ thế giới Chúng gây chia rẽ và thù hận giữa Bắc, Trung, Nam, giữa các tôn giáo, các dân tộc, các địa phương, thậm chí là giữa các dòng họ; giữa dân tộc Việt Nam với các dân tộc trên bán đảo Đông Dương “Phác qua như thế, cũng đủ thấy đế quốc Pháp đã cắm vào đất An Nam chế độ đáng nguyền rủa của thời Trung cổ; người nông dân An Nam bị hành hình vừa bằng lưỡi lê của nền văn minh tư bản chủ nghĩa, vừa bằng cây thánh giá của giáo hội sa đọa làm ô danh Chúa” [108, tr 84]
Về văn hóa, chúng thi hành triệt để chính sách văn hóa nô dịch, gây
tâm lý tự ti, vong bản, khuyến khích các hoạt động mê tín dị đoan, đồi phong bại tục Chúng mở nhà thờ, các tụ điểm ma túy, mại dâm, cờ bạc… nhiều hơn trường học và bệnh viện Đặc biệt, “rượu cồn và thuốc phiện cùng báo chí phản động của bọn cầm quyền bổ sung cho cái công cuộc ngu dân của chính phủ Máy chém và nhà tù làm nốt phần còn lại” [107, tr 28] Mọi hoạt động yêu nước của nhân dân ta đều bị cấm đoán Chúng tìm mọi cách bưng bít và ngăn chặn ảnh hưởng của nền văn hóa tiến bộ trên thế giới vào Việt Nam và thi hành chính sách ngu dân để dễ bề thống trị: “Trường học lập ra không phải
để giáo dục cho thanh niên một nền học vấn tốt đẹp và chân thật, mở mang trí tuệ và phát triển tư tưởng của họ Mà trái lại càng làm cho họ đần độn thêm Ngoài mục đích giáo dục để đào tạo tùy phái, thông ngôn và viên chức nhỏ đủ số cần thiết cho bọn xâm lược, người ta đã gieo rắc một nền giáo dục đồi bại, xảo trá và nguy hiểm hơn cả sự dốt nát nữa Vì một nền giáo dục như vậy chỉ làm hư hỏng mất tính nết của người đi học, chỉ dậy cho họ một lòng
“trung thực” giả dối, chỉ dạy cho họ biết sùng bái kẻ mạnh hơn mình, dậy cho
Trang 26thanh niên yêu một tổ quốc không phải là tổ quốc mình Nền giáo dục ấy dậy cho thanh niên khinh rẻ nguồn gốc dòng giống mình” [107, tr.399]
Các cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp ảnh hưởng mạnh mẽ đến tình hình xã hội Việt Nam Sự phân hóa giai cấp diễn ra ngày càng sâu sắc hơn
Giai cấp địa chủ phong kiến đã tồn tại hơn ngàn năm Chủ nghĩa tư bản
thực dân được đưa vào Việt Nam và trở thành yếu tố bao trùm, song vẫn không xóa bỏ mà vẫn bảo tồn và duy trì giai cấp địa chủ để làm cơ sở cho chế
độ thuộc địa Tuy nhiên, do chính sách kinh tế và chính trị phản động của thực dân Pháp, giai cấp địa chủ càng bị phân hóa thành ba bộ phận khá rõ rệt: tiểu, trung và đại địa chủ Có một số địa chủ bị phá sản Vốn sinh ra và lớn lên trong một quốc gia dân tộc có truyền thống yêu nước chống ngoại xâm, lại
bị chính sách thống trị tàn bạo về chính trị, chèn ép về kinh tế, nên một bộ phận không nhỏ tiểu và trung địa chủ không chịu nỗi nhục mất nước, có mâu thuẫn với đế quốc về quyền lợi dân tộc nên đã tham gia đấu tranh chống thực dân và bọn phản động tay sai
Giai cấp nông dân chiếm khoảng 90% dân số Họ bị đế quốc, phong
kiến địa chủ và tư sản áp bức, bóc lột rất nặng nề Ruộng đất của nông dân đã
bị bọn tư bản thực dân chiếm đoạt Chính sách độc quyền kinh tế, mua rẻ bán đắt, tô cao, thuế nặng, chế độ cho vay nặng lãi của đế quốc và phong kiến
đã đẩy nông dân vào con đường bần cùng hóa không lối thoát Một số ít bán sức lao động, làm thuê trong các nhà máy, hầm mỏ, đồn điền hoặc bị bắt đi làm phu tại các thuộc địa khác của đế quốc Pháp Còn số đông vẫn phải gắn vào đồng ruộng và gánh chịu sự bóc lột vô cùng nặng nề ngay trên mảnh đất
mà trước đây là sở hữu của chính họ
Vì bị mất nước và mất ruộng đất nên nông dân có mâu thuẫn với đế quốc và phong kiến, đặc biệt sâu sắc nhất với đế quốc và bọn tay sai phản động Họ vừa có yêu cầu độc lập dân tộc, lại vừa có yêu cầu ruộng đất, song yêu cầu về độc lập dân tộc là bức thiết nhất Giai cấp nông dân có truyền thống đấu tranh kiên cường bất khuất là lực lượng to lớn nhất, một động lực cách mạng mạnh mẽ Giai cấp nông dân khi được tổ chức lại và có sự lãnh
Trang 27đạo của một đội tiên phong cách mạng, sẽ phát huy vai trò cực kỳ quan trọng của mình trong sự nghiệp đấu tranh vì độc lập tự do của dân tộc Việt Nam
Giai cấp tư sản hình thành trong quá trình khai thác thuộc địa của thực
dân Pháp Trước Chiến tranh thế giới thứ nhất, tư sản Việt Nam mới chỉ là một tầng lớp nhỏ bé Sau chiến tranh, tư sản Việt Nam đã hình thành giai cấp
rõ rệt Ra đời trong điều kiện bị tư bản Pháp chèn ép, cạnh tranh rất gay gắt, nên số lượng tư sản Việt Nam không nhiều, thế lực kinh tế nhỏ bé, thế lực chính trị yếu đuối Trong quá trình phát triển, giai cấp tư sản Việt Nam phân thành hai bộ phận:
Tư sản mại bản là những tư sản lớn, hợp tác kinh doanh với đế quốc,
bao thầu những công trình xây dựng của chúng ở nước ta Nhiều tư sản mại bản có đồn điền lớn hoặc có nhiều ruộng đất cho phát canh, thu tô Vì có quyền lợi kinh tế và chính trị gắn liền với đế quốc thực dân, nên tư sản mại bản là tầng lớp đối lập với dân tộc
Tư sản dân tộc là bộ phận đông nhất trong giai cấp tư sản, bao gồm
những tư sản loại vừa và nhỏ, thường hoạt động trong các ngành thương nghiệp, công nghiệp và cả tiểu thủ công nghiệp Họ muốn phát triển chủ nghĩa tư bản của dân tộc Việt Nam, nhưng do chính sách độc quyền và chèn
ép của tư bản Pháp nên không thể phát triển được Xét về mặt quan hệ với đế quốc Pháp, tư sản dân tộc phải chịu số phận mất nước, có mâu thuẫn về quyền lợi với bọn đế quốc thực dân và phong kiến, nên họ có tinh thần chống đế quốc và phong kiến Giai cấp tư sản dân tộc là một lực lượng cách mạng không thể thiếu trong phong trào cách mạng giải phóng dân tộc
Tầng lớp tiểu tư sản bao gồm nhiều bộ phận khác nhau: tiểu thương,
tiểu chủ, thợ thủ công, viên chức, trí thức, học sinh, sinh viên và những người làm nghề tự do Giữa những bộ phận đó có sự khác nhau về kinh tế và cách sinh hoạt, nhưng nhìn chung, địa vị kinh tế của họ rất bấp bênh, luôn luôn bị
đe dọa phá sản, thất nghiệp Họ có tinh thần yêu nước nồng nàn, lại bị đế quốc và phong kiến áp bức, bóc lột và khinh rẻ nên rất hăng hái cách mạng Đặc biệt là tầng lớp trí thức là tầng lớp rất nhạy cảm với thời cuộc, dễ tiếp xúc với những tư tưởng tiến bộ và canh tân đất nước, tha thiết bảo vệ những giá trị
Trang 28tinh thần truyền thống của dân tộc Khi phong trào quần chúng công nông đã thức tỉnh, họ bước vào trận chiến đấu giải phóng dân tộc ngày một đông đảo
và đóng một vai trò quan trọng trong phong trào đấu tranh của quần chúng, nhất là ở đô thị Tầng lớp tiểu tư sản là một lực lượng cách mạng quan trọng trong cuộc đấu tranh vì độc lập tự do của dân tộc
Giai cấp công nhân là sản phẩm trực tiếp của chính sách khai thác
thuộc địa của Pháp và nằm trong những mạch máu kinh tế quan trọng do chúng nắm giữ Lớp công nhân đầu tiên xuất hiện vào cuối thế kỷ XIX, khi thực dân Pháp xây dựng một số cơ sở công nghiệp và thành phố phục vụ cho chính sách khai thác thuộc địa ở nước ta Trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của đế quốc Pháp, giai cấp công nhân đã hình thành Đến cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai, giai cấp công nhân đã phát triển nhanh chóng về số lượng, từ 10 vạn (năm 1914) tăng lên hơn 22 vạn (năm 1929), trong đó có hơn 53.000 công nhân mỏ (60% là công nhân mỏ than), và 81.200 công nhân đồn điền
Giai cấp công nhân Việt Nam tuy còn non trẻ, số lượng chỉ chiếm khoảng 1% số dân, trình độ học vấn, kỹ thuật thấp, nhưng sống khá tập trung tại các thành phố, các trung tâm công nghiệp và các đồn điền
Giai cấp công nhân Việt Nam có những đặc điểm chung của giai cấp công nhân quốc tế, đồng thời còn có những điểm riêng của mình như: phải chịu ba tầng lớp áp bức bóc lột (đế quốc, phong kiến và tư sản bản xứ); phần lớn vừa mới từ nông dân bị bần cùng hóa mà ra, nên có mối quan hệ gần gũi nhiều mặt với nông dân Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời trước giai cấp tư sản dân tộc, nên nội bộ thuần nhất, không bị phân tán về lực lượng và sức mạnh Sinh ra và lớn lên ở một đất nước có nhiều truyền thống văn hóa tốt đẹp, nhất là truyền thống yêu nước chống ngoại xâm, sớm tiếp thu được tinh hoa văn hóa tiên tiến trong trào lưu tư tưởng của thời đại cách mạng vô sản để bồi dưỡng bản chất cách mạng của mình
Giai cấp công nhân Việt Nam là một lực lượng xã hội tiên tiến, đại diện cho phương thức sản xuất mới, tiến bộ, có ý thức tổ chức kỷ luật cao, có tinh thần cách mạng triệt để Họ là một động lực cách mạng mạnh mẽ và khi liên
Trang 29minh được với giai cấp nông dân và tiểu tư sản sẽ trở thành cơ sở vững chắc cho khối đại đoàn kết dân tộc trong cuộc đấu tranh vì độc lập tự do Khi được
tổ chức lại và hình thành được một đảng tiên phong cách mạng được vũ trang bằng một học thuyết cách mạng triệt để là chủ nghĩa Mác - Lênin thì giai cấp công nhân trở thành người lãnh đạo cuộc đấu tranh vì độc lập tự do của dân tộc
Như vậy, từ giữa thế kỷ XIX, Việt Nam từ một quốc gia phong kiến độc lập đã bị chủ nghĩa tư bản Pháp xâm lược, trở thành một nước thuộc địa nửa phong kiến Sự xâm nhập của chủ nghĩa tư bản Pháp đã làm nảy sinh trong xã hội Việt Nam hai giai cấp mới: giai cấp vô sản và giai cấp tư sản Dưới ách thống trị của thực dân Pháp, bị mất độc lập, tự do, nhân dân ta với truyền thống yêu nước không ngừng nổi lên chống lại chúng
1.1.3 Các phong trào yêu nước, chống thực dân Pháp xâm lược
Thực trạng mất nước và bị áp bức bóc lột đã đặt ra cho dân tộc ta nhiều vấn đề phải giải quyết như dân tộc ta phải đi theo con đường nào để bảo vệ độc lập dân tộc; giai cấp nào đủ sức lãnh đạo cuộc cách mạng giải phóng dân tộc; phong trào cách mạng phải đi theo ngọn cờ tư tưởng nào? Chính thể nào phù hợp với thời đại bấy giờ? Hàng loạt vấn đề mới của thực tiễn cách mạng Việt Nam đòi hỏi sự giải đáp của lý luận
Do đó, ngay từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, với truyền thống chống ngoại xâm đã có từ hàng nghìn năm, nhân dân Việt Nam liên tục đấu tranh chống ách thống trị của thực dân Pháp Lúc này ở nước ta đã xuất hiện những dòng tư tưởng mới và các cuộc vận động cách mạng lớn Các dòng tư tưởng, các cuộc vận động cách mạng đều có chung mục đích là đánh đuổi thực dân Pháp, giành độc lập dân tộc, nhưng lại khác nhau về con đường và phương pháp thực hiện Điều này có nguyên nhân từ ý thức hệ giai cấp và ảnh hưởng của bối cảnh thế giới
Với ý thức hệ phong kiến, các sĩ phu lãnh đạo phong trào Cần Vương (1858-1896) dưới chiếu cần vương của vua Hàm Nghi đã hăng hái phát động phong trào chống Pháp, chủ trương khôi phục lại nước Việt Nam cũ [180, tr.12] Các cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp của nhân dân do các sĩ phu lãnh đạo liên tục nổ ra Tiêu biểu là các cuộc khởi nghĩa: Khởi nghĩa Trương
Trang 30Định (1859 - 1864): Năm 1862, vua quan nhà Nguyễn hàng giặc, ra lệnh giải binh, nhưng Trương Định cương quyết kháng Pháp đến cùng, được nhân dân suy tôn là Bình Tây đại nguyên soái Năm 1861, Nguyễn Trung Trực nổi dậy
ở Tân An, chỉ huy nghĩa quân đốt cháy tàu Hy Vọng (Espérance) của giặc Pháp trên sông Vàm Cỏ Đông (12/1861), sau đó lập căn cứ kiên trì chống giặc khắp vùng Rạch Giá, Hà Tiên và đảo Phú Quốc; Năm 1886, Đinh Công Tráng cùng một số văn thân, thổ hào yêu nước như Phạm Bành, Nguyễn Khế,
Hà Văn Mao, Cầm Bá Thước lập chiến khu ở Ba Đình (Nga Sơn, Thanh
Hóa) tổ chức chống giặc, gây cho chúng nhiều thiệt hại; Năm 1885, Nguyễn
Thiện Thuật dựng cờ khởi nghĩa lập căn cứ kháng Pháp ở Bãi Sậy suốt mấy năm trời kiên trì đánh du kích tiêu hao, diêu diệt địch; Năm 1885, hưởng ứng
“Chiếu Cần Vương”, Phan Đình Phùng, mộ quân đánh Pháp, lập căn cứ ở vùng núi hai huyện Hương Sơn, Hương Khê (Hà Tĩnh), cầm cự với giặc trên mười năm; Hoàng Hoa Thám tham gia chống Pháp và trở thành lãnh tụ của nghĩa quân Yên Thế, bền bỉ chiến đấu suốt 25 năm, gây cho giặc Pháp nhiều tổn thất…
Như vậy, ngay từ khi thực dân Pháp bắt đầu xâm lược nước ta năm
1858 và dưới ách thống trị của chúng ngót một thế kỷ, nhân dân ta, dưới sự lãnh đạo của các sĩ phu yêu nước, không cam chịu nô lệ đã liên tiếp vùng dậy cầm vũ khí để giải phóng dân tộc Thế nhưng, tất cả các cuộc khởi nghĩa đó đều thất bại Điều đó cho thấy, ngọn cờ phong kiến đã không còn đủ khả năng huy động và tổ chức người dân chống giặc ngoại xâm như trước nữa “Rõ ràng là đối với kẻ thù mới tư bản chủ nghĩa phương Tây, không thể dùng vũ khí cũ đã được ông cha dùng một cách đắc lực để đối đầu với kẻ thù phong kiến xưa kia nữa” [60, tr 371-372] Hơn 80 năm thực dân Pháp xâm lược và thống trị nước ta, nhân dân ta đã liên tục vùng lên đấu tranh để tự giải phóng, song các cuộc khởi nghĩa đó đều bị thực dân Pháp đàn áp đẫm máu, vì thiếu một tầm nhìn chiến lược và đường lối chính trị đúng đắn, thế nhưng, nó thể hiện tinh thần yêu nước và ý thức chính trị của nhân dân trước vận mệnh của dân tộc
Đầu thế kỷ XX, cùng với những biến chuyển của tình hình trong nước
Trang 31và thế giới, đặc biệt là thành tựu của Nhật Bản trong cuộc Duy Tân đất nước
và chiến thắng quân Nga hoàng, chủ trương canh tân Trung Quốc của Khang Hữu Vi và Lương Khải Siêu, một làn gió tư tưởng mới - tư tưởng tư sản - thổi vào Việt Nam Lịch sử dân tộc Việt Nam đứng trước sự lựa chọn con đường cứu nước mới theo ngọn cờ tư sản mà đại diện tiêu biểu là Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh Ngay từ những ngày đầu đi tìm đường cứu nước, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh… đã tiếp cận với tư duy mới về một nền chính trị tiến
bộ hơn nền chính trị quân chủ phong kiến Khi tình hình chính trị - xã hội đã thay đổi, các ông đã chủ động tích cực đi tìm một mô hình chính trị hiện đại, đáp ứng yêu cầu phát triển của dân tộc và thời đại Các ông đã nhận thức sâu sắc về nền chính trị có vai trò rất to lớn, quyết định đến cuộc sống của nhân dân lao động: “Họa phúc của nhân dân gốc ở nền chính trị” [29, tr.428] Với nhận thức ấy, Phan Bội Châu đi đến chủ trương đánh Pháp, giành độc lập dân tộc, sau đó xây dựng nhà nước quân chủ chuyên chế ở Việt Nam theo kiểu quân chủ lập hiến Nhật Bản hoặc một chính quyền cộng hòa dân chủ theo kiểu Âu Tây [144, tr 198]; phương pháp của cụ Phan Bội Châu là “cầu cứu nghĩa đồng văn đồng chủng; chạy đông chạy tây, dĩ ngoại đột nội” [87, tr 40] Khác với Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh là người chống đối triều đình quyết liệt và đấu tranh cho một nền cộng hòa ở Việt Nam [23, tr 31]; phương pháp của cụ Phan Châu Trinh là “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh” [87, tr 40] Trong chủ trương cứu nước của hai cụ Phan, dù về mặt phương pháp tiến hành có khác nhau (một người thì chủ trương bất bạo động, còn một người lại chủ trương bạo động), nhưng điểm chung cơ bản giữa hai cụ là đều dựa chủ yếu vào sự giúp đỡ của nước ngoài Với cụ Phan Châu Trinh, chỗ dựa
là ngay chính quyền Pháp Với cụ Phan Bội Châu, lúc đầu là chính quyền Nhật, sau là chính quyền Trung Hoa dân quốc Đây cũng là điểm hạn chế căn bản trong chủ trương cứu nước của hai cụ Phan và cũng là nguyên nhân chủ yếu khiến chủ trương của các cụ thất bại Bởi lẽ, “Cụ Phan Châu Trinh chỉ yêu cầu người Pháp thực hiện cải lương…, chẳng khác gì đến xin giặc rủ lòng thương Còn cụ Phan Bội Châu hy vọng Nhật giúp đỡ để đuổi Pháp, điều đó rất nguy hiểm, chẳng khác gì “đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau” [167,
Trang 32tr.10] Hai cụ đều chưa thấy được rằng muốn cứu nước, phải dựa chủ yếu và trước hết vào lực lượng cách mạng ở trong nước, là “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta Dù sự giúp đỡ bên ngoài là quan trọng nhưng muốn người ta giúp cho thì trước hết mình phải tự giúp mình đã” [108, tr 293] Hai cụ cũng chưa thấy được vai trò và khả năng cách mạng của công nhân và nông dân (hai giai cấp đông đảo nhất trong xã hội, chịu hậu quả nặng nề nhất dưới chế
độ cai trị tàn bạo của thực dân Pháp), có những đặc tính cách mạng riêng mà các giai cấp khác không có được Rõ ràng, hệ tư tưởng và đường lối cách mạng theo khuynh hướng dân chủ tư sản mặc dù có những mặt tiến bộ, nhưng không phù hợp với điều kiện cách mạng Việt Nam và vì vậy đã không trở thành hiện thực
Sau thất bại của hai cụ Phan, con đường cứu nước theo ngọn cờ tư sản còn tiếp tục được lịch sử dân tộc khảo nghiệm thông qua vai trò của Việt Nam quốc dân đảng - một chính đảng của giai cấp tư sản Việt Nam Ra đời vào cuối những năm 20 của thế kỷ XX, Việt Nam quốc dân đảng chủ trương đánh Pháp, đồng thời kêu gọi “trăm họ hãy đoàn kết để xây dựng một nhà nước cộng hòa” (nhà nước cộng hòa tư sản) Tuy nhiên, do thiếu một đường lối chính trị rõ ràng và không xây dựng được một tổ chức chính trị chặt chẽ, nhất quán nên giai cấp tư sản dân tộc Việt Nam chỉ nêu được những yêu sách dân chủ, tự do ngôn luận, tự do kinh doanh, tự do đi lại… nhằm mở đường cho tư sản dân tộc phát triển mà chưa nhận thức được vấn đề dân chủ cơ bản ở một nước nông nghiệp lạc hậu như ở Việt Nam là “người cày có ruộng” Vì chưa
có ý thức giải quyết vấn đề nông dân, cho nên giai cấp tư sản không đại biểu cho phong trào yêu nước và không được giai cấp nông dân ủng hộ Do đó, các phong trào tư sản đều không tránh khỏi thất bại Mặt khác, chính sách thuộc địa của đế quốc Pháp là kìm hãm sự phát triển nền công nghiệp nước ta, chẳng những làm cho giai cấp tư sản dân tộc không thể lớn mạnh lên mà còn không đoàn kết thống nhất được lực lượng toàn quốc Vì vậy, tuy có khả năng chống đế quốc ở một mức độ nhất định, nhưng giai cấp tư sản dân tộc không thể lãnh đạo được cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ ở nước ta
Sự thất bại của các cuộc vận động cách mạng và của Việt Nam quốc
Trang 33dân đảng đầu thế kỷ XX đã chứng tỏ rằng: Hệ tư tưởng tư sản đã lỗi thời, nền chính trị tư sản, nhà nước tư sản không phải là mục tiêu của cách mạng Việt Nam lúc bấy giờ Hay nói cách khác, nền chính trị tư sản với mô hình nhà nước tư sản không phải là mô hình phù hợp ở Việt Nam, bởi lẽ nhà nước đó chỉ có thể mang lại quyền lợi và dân chủ cho một số ít người trong xã hội - đó
là giai cấp tư sản và tiểu tư sản Trong khi đó, yêu cầu cấp bách nhất, chủ yếu nhất của xã hội Việt Nam lúc bấy giờ lại là giải phóng kiếp người nô lệ và đem lại cuộc sống mới cho đại đa số nhân dân lao động
Sự thất bại của các cuộc đấu tranh và các đường lối chính trị cứu nước theo các con đường phong kiến và tư sản khiến cho vấn đề xác định một con đường cứu nước đúng càng trở nên bức thiết Chính trong bối cảnh “bế tắc” như vậy của sự nghiệp giải phóng dân tộc, lại tận mắt chứng kiến thời kỳ cả dân tộc đang rên xiết dưới ách đô hộ của thực dân Pháp, dân tộc Việt Nam
“không những bị áp bức và bóc lột một cách nhục nhã mà còn bị hành hạ và đầu độc một cách thê thảm” [107, tr 22], do đó Nguyễn Ái Quốc đã quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước và Người đã “xuất hiện đúng lúc, đúng yêu cầu của lịch sử” [56, tr 76]
Nguyễn Ái Quốc khâm phục gương cứu nước nhiệt huyết của các bậc tiền bối, nhưng bằng sự mẫn cảm chính trị đặc biệt, Người quyết định không
đi theo cách của các Cụ, mà chọn cho mình một con đường riêng Một định hướng ban đầu đúng chính là cơ sở cho những bước đi đúng trên con đường chính trị mà Người đã lựa chọn Sinh thời, trong một lần trò chuyện với nhà văn Mỹ Lui Xtơrông về việc đi ra nước ngoài tìm đường cứu nước, Người bộc bạch: “Nhân dân Việt Nam trong đó có ông cụ thân sinh ra tôi, lúc này thường tự hỏi nhau ai sẽ là người giúp mình thoát khỏi ách thống trị của Pháp Người này nghĩ là Anh, có người lại cho là Mỹ Tôi thấy phải đi ra nước ngoài xem cho rõ Sau khi xem xét họ làm ăn ra sao, tôi sẽ trở về giúp đồng bào tôi” [75, tr 41], và “Nguyễn Ái Quốc đã tìm ra một giải pháp cho quê hương” [60, tr 759-760]
Trên cơ sở lấy tự do, hạnh phúc cho đồng bào, độc lập cho Tổ quốc làm
lẽ sống và làm thước đo giá trị để khảo nghiệm các trào lưu tư tưởng chính trị
Trang 34trên thế giới, Hồ Chí Minh đã bôn ba khắp năm châu, bốn biển, khám phá, gạn lọc và thâu hái những tinh hoa văn hóa của nhân loại Điều cần nhấn mạnh là chặng đường mà Người đã đi là “chặng đường chiến thắng biết bao khó khăn với sự lựa chọn vững chắc, tránh được những sai lầm dẫn tới ngõ cụt” [94, tr 178] Người khâm phục các cuộc cách mạng Pháp, cách mạng
Mỹ, với những tư tưởng tốt đẹp vì con người, nhưng cũng phát hiện ra rằng
đó là “những cuộc cách mạng không đến nơi”, và những thành quả của cách mạng thì chỉ nhằm phục vụ lợi ích của những người giàu, của giai cấp tư sản, còn giai cấp công nhân và những người lao động khác vẫn phải sống trong cảnh nghèo khổ Điều quan trọng nữa là, giai cấp tư sản đã vứt bỏ những tư tưởng tốt đẹp của các cuộc cách mạng và quay sang áp bức những người lao động chính quốc và nô dịch, cướp đoạt người dân các nước Á, Phi, Mỹ Latinh Đó không phải là con đường Người lựa chọn và cũng không thể là con đường dân tộc sẽ đi Bên cạnh đó, trong phong trào công nhân thế giới cũng tồn tại những trào lưu tư tưởng của tầng lớp “công nhân quý tộc”, nhất là những tư tưởng cơ hội, xét lại chủ nghĩa Mác
Giữa nhiều trào lưu tư tưởng của thế giới khi đó, Nguyễn Ái Quốc đã phát hiện ra và tìm đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng tiên tiến nhất, cách mạng nhất và nhân văn nhất của thời đại, trong khi những người Việt Nam khác, dù cũng giàu lòng yêu nước và từng sống nhiều năm ở nước ngoài vẫn không nhìn ra được “Nếu như Phan Bội Châu đã hoạt động ở Trung Quốc hàng chục năm thì cụ Phan Châu Trinh cũng hoạt động trên đất Pháp tới
14 năm kể từ 1911 Nếu Phan Sào Nam từ chủ trương “bạo động” chuyển sang “ôn hòa” một cách lưỡng lự thì Phan Tây Hồ kiên trì đi theo con đường
“ỷ Pháp cầu tiến cho đến cuối đời” [46, tr 48] Với Nguyễn Ái Quốc, nhân tố
cơ bản tạo nên sự khác biệt này chính là trí tuệ mẫn tiệp, sự nhạy bén về chính trị, khả năng nhìn xa, thấy rộng của Người, một “tầm nhìn thời đại”, một “tầm nhìn xuyên lịch sử” [134, tr 57] Nhờ tầm trí tuệ đó, Nguyễn Ái Quốc đã tìm
ra con đường đúng cho toàn thể dân tộc Đó là con đường cách mạng vô sản
mà trong đó, dựa chủ yếu vào sức mạnh yêu nước và đoàn kết của đồng bào, đồng thời tích cực tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của bạn bè quốc tế, để đánh
Trang 35đuổi giặc ngoại xâm đi đến xây dựng một xã hội mới mang lại hạnh phúc, ấm
no thực sự cho mọi người dân, một xã hội không còn áp bức, bất công, thực hiện giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội
Như vậy, chính diễn biến lịch sử trong nước và thế giới cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là một trong những điều kiện làm xuất hiện tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh Tuy nhiên, tư tưởng chính trị của Người hoàn toàn không phải chỉ là sản phẩm của riêng của một giai đoạn lịch sử nhất định, mà xét trong toàn bộ quá trình phát triển tư tưởng của dân tộc và thế giới, thì tư tưởng đó nằm trong dòng chảy liên tục, không cô lập, không tách rời với những giá trị tư tưởng trước đó
1.2 TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ HỒ CHÍ MINH
Có thể nói rằng, trong khi phản ánh thực tiễn cách mạng Việt Nam và thế giới những năm cuối thế kỷ XIX và trong thế kỷ XX, tư tưởng chính trị
Hồ Chí Minh đã kế thừa, phát triển tư tưởng chính trị và giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam, tư tưởng chính trị và tinh hoa văn hóa phương Đông, phương Tây và chủ nghĩa Mác - Lênin trong thời đại mới Nói cách khác, tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh có nguồn gốc lý luận khoa học và có nguồn gốc thực tiễn cách mạng của Việt Nam và thế giới
1.2.1 Tư tưởng chính trị và giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam
Trên cơ sở hoạt động thực tiễn và bằng trí tuệ và nhãn quan chính trị sắc bén, những nhà tư tưởng lớn, những nhà chính trị tài ba, nhà quân sự lỗi lạc như Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Trãi, Quang Trung… đã đúc rút những vấn đề mang tính quy luật trong dựng nước và giữ nước, và chính những tư tưởng chính trị tiến bộ này đã ảnh hưởng lớn đến sự hình thành tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh, được Người tiếp thu, kế thừa
Trước hết, tư tưởng chính trị “lấy dân làm gốc” mà ông cha ta đã dày
công xây đắp là một tài sản tinh thần vô giá, thể hiện một quan niệm tiến bộ
mà ông cha ta đã ý thức được từ rất sớm Sức mạnh của nhân dân là cội nguồn sức mạnh đoàn kết dân tộc; một nhà nước được sự ủng hộ hết lòng của nhân
Trang 36dân thì không kẻ địch nào có thể đánh bại được Ngược lại, nhà nước nào không dựa vào sức mạnh của dân, xa rời quần chúng, không đảm bảo đời sống cho dân thì tất yếu dẫn đến suy yếu và diệt vong Thực tiễn lịch sử phát triển của dân tộc đã chứng minh và khẳng định điều đó
Thời Trần, tư tưởng chính trị bao trùm, chi phối đường lối chính trị và toàn bộ hoạt động chính trị thực tiễn của Trần Quốc Tuấn là tư tưởng chính trị
“khoan dân” được ông khái quát trong mệnh đề nổi tiếng: “khoan thư sức dân, lấy kế bền gốc sâu rễ, là thượng sách giữ nước” [62, tr 293] Trong thời bình, cần chuẩn bị để sẵn sàng ứng phó với khả năng chiến tranh, và “thượng sách”
là “khoan thư sức dân”, là lo liệu cho dân an cư lạc nghiệp, sống no ấm Có như vậy thì trong chiến tranh nhà nước mới có thể đứng vững như cây có rễ sâu, dựa vào sức dân để tổ chức cuộc chiến tranh cứu nước thắng lợi Tư tưởng “lấy dân làm gốc” ở thời Lý - Trần đã được phát huy cao độ trong cuộc chiến chống giặc Tống rồi đến quân Nguyên Mông và trong công cuộc xây dựng đất nước với chính sách “thân dân” - “vua tôi đồng lòng, anh em hòa thuận, nước nhà góp sức” Chính tư tưởng “thân dân” của Trần Quốc Tuấn là một trong những cơ sở để xây dựng nền chính trị nhân nghĩa - một nền chính trị tìm thấy sức mạnh ở dân, thấy được vai trò to lớn của nhân dân để phát huy sức mạnh của dân trong công cuộc dựng nước và giữ nước
Đến thời Lê sơ, tư tưởng chính trị “nhân nghĩa” của Nguyễn Trãi đã góp phần không nhỏ vào cuộc kháng chiến chống quân Minh và xây dựng vương triều Lê thịnh trị “Nhân nghĩa” của Nguyễn Trãi không chỉ là nguồn gốc sức mạnh của chính nghĩa mà còn trở thành đường lối chính trị cứu nước cứu dân Nguyễn Trãi gắn nhân nghĩa với “an dân”, “việc nghĩa cốt ở an
dân” Nhân nghĩa là chăm lo cho nhân dân, đòi hỏi người làm quan ăn lộc vua
phải có trách nhiệm với dân, phải gắn bó làm một với nhân dân, thương yêu dân, biết “lo trước vui sau” để cho những nơi “thôn cùng xóm vắng không có tiếng hờn giận oán sầu” Đường lối chính trị “khoan dân” - “nhân nghĩa” đã tạo nên thế trận lòng dân vững chắc cho những cuộc chiến tranh nhân dân xuyên suốt lịch sử của dân tộc Có thể nói, tư tưởng chính trị “lấy dân làm gốc” trong lịch sử tư tưởng dân tộc, mà đỉnh cao là tư tưởng nhân nghĩa đã ra
Trang 37đời trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm dựng nước và giữ nước của dân tộc Nó mang tính quy luật và có ý nghĩa phổ biến trong tất cả các thời kỳ lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Tư tưởng này được Hồ Chí Minh tiếp thu, kế thừa và phát triển trong suốt cuộc đời hoạt động chính trị của mình
Bên cạnh tư tưởng chính trị lấy dân làm gốc, trong lịch sử tư tưởng chính trị Việt Nam, tư tưởng tự tôn, tự lập, tự cường dân tộc và tinh thần bảo
vệ độc lập dân tộc cũng là giá trị nổi bật và cũng có thể xem đó là hai mặt của
cùng một vấn đề Muốn bảo vệ được dân tộc trước các thế lực ngoại xâm thì trong tổ chức và xây dựng đất nước phải lấy dân làm gốc; và ngược lại, bảo
vệ được dân tộc độc lập thì cái gốc “dân” mới được hưởng tự do, hạnh phúc Điều này được chính các thế lực phong kiến phương Bắc từ rất sớm đã áp đặt
âm mưu Hán hóa lên đất nước ta để rồi sớm nhận ra rằng: “Việt tộc chỉ chịu
sự thuyết phục vì chính nghĩa chứ không nhường vì bạo hành Lấy nhân nghĩa đạo đức mà chinh phục nhân tâm thì người phương Nam rất dễ cảm phục, chứ Việt tộc có tinh thần dân tộc rất cao” [61, tr 43] Trước sức ép của kẻ thù to lớn phương Bắc, nhân dân ta đã vừa sản xuất vừa đánh giặc, kiên trì bám trụ quê cha đất tổ Và kết quả là, nhân dân ta không chỉ đánh bại chế độ đô hộ và chính sách đồng hóa, bảo vệ được văn hóa dân tộc, mà còn giành được độc lập và toàn vẹn lãnh thổ Một dân tộc đất không rộng, người không đông, nhưng có thể đánh bại được một thế lực ngoại bang hùng mạnh như vậy, sức mạnh ấy chỉ có thể là sức mạnh của lòng yêu nước, là thành tựu kỳ diệu của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, mà không phải dân tộc nào cũng làm được [61,
tr 287]
Tổng kết cuộc kháng chiến chống quân Tống, Lý Thường Kiệt đã nêu lên nguyên lý quan trọng của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam là ý thức độc lập
tự chủ và quyền bình đẳng của của dân tộc Việt Nam:
“Sông núi nước Nam vua Nam ở
Rành rành định phận ở sách trời
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm?
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời”
Bài thơ thần “Nam quốc sơn hà” của Lý Thường Kiệt là một minh
Trang 38chứng thành văn đầu tiên và rõ nhất khẳng định ý thức sâu sắc của dân tộc ta
về tinh thần dân tộc độc lập Rõ ràng là, lãnh thổ Việt Nam do dân tộc Việt Nam làm chủ, quyền độc lập tự chủ của dân tộc Việt Nam không ai có thể xâm phạm, và nếu kẻ nào cố tình xâm phạm thì nhất định sẽ chuốc lấy thất bại - đó là đạo trời, lẽ trời
Trần Quốc Tuấn - vị tổng chỉ huy quân đội của nhà Trần trong kháng chiến chống quân Nguyên Mông, là anh hùng kiệt xuất của dân tộc Tư tưởng chính trị độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia của Trần Quốc Tuấn thể hiện
rõ khi ông nhận thấy rằng, nguyên nhân lớn nhất của chiến thắng là “vua tôi đồng tâm, anh em hòa thuận, cả nước góp sức” Nói “vua tôi đồng tâm” là nói
cả bộ máy nhà nước đều nhất trí, quyết tâm đánh giặc, vua không do dự, quân không hai lòng, binh sĩ và chủ tướng một dạ sống chết có nhau như cha con một nhà Nói “anh em hòa thuận” là nói đến sự đoàn kết nhất trí của tập đoàn cầm quyền, đặt sự tồn vong của nước nhà lên trên hết “Cả nước góp sức” nghĩa là không phải chỉ có quân sĩ đánh giặc, mà cả thường dân đều đánh giặc, mọi người đều có ý thức góp phần tích cực vào cuộc chiến chống ngoại xâm Đó là tư tưởng chính trị toàn dân kháng chiến, chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện
Tổng kết cuộc đại thắng giặc Minh của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Lê Lợi, Nguyễn Trãi đã viết “Bình Ngô đại cáo”, một lần nữa, nêu cao tinh thần độc lập dân tộc:
“Như nước Đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Núi sông bờ cõi đã chia,
Phong tục Bắc Nam cũng khác
Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời gây nền độc lập
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương…” Nếu ở Lý Thường Kiệt, quyền độc lập của dân tộc được ghi ở “Sách Trời” thì đến Nguyễn Trãi, ông khẳng khái tuyên bố chủ quyền của đất nước được tạo bởi các điều kiện địa lý, lịch sử, phong tục, văn hóa tổng hợp lại, đặc biệt là được biểu hiện ở ý thức dân tộc, ở lòng tự hào, tự tôn dân tộc, ở khả
Trang 39năng tự chủ, tự cường mà bằng chứng là cuộc sống độc lập lâu dài và biết bao thành tích vang dội trong các cuộc kháng chiến đánh Tống, diệt Nguyên, quét Minh Nếu chỉ kể từ trước khởi nghĩa Lam Sơn trở về thời Ngô Quyền thì lịch
sử nước ta có Ngô Quyền diệt quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, Lê Hoàn diệt quân Tống ở Chi Lăng, Lý Thường Kiệt chặn đứng và đẩy lùi quân Tống trên sông Như Nguyệt, quân dân nhà Trần dưới sự lãnh đạo của Trần Quốc Tuấn đã ba lần đánh đuổi quân Nguyên Đến khởi nghĩa Lam Sơn, dưới sự lãnh đạo của người anh hùng Lê Lợi, quân và dân ta đã quét sạch quân Minh
ra khỏi bờ cõi Sự thật lịch sử hào hùng ấy không ai có thể phủ nhận được
Tư tưởng chính trị của Nguyễn Trãi bao hàm mối quan tâm sâu sắc đến lợi ích và chủ quyền quốc gia Đại Việt Ông là người đầu tiên đưa ra nhận thức sâu sắc về khái niệm “nước” - quốc gia, tổ quốc, dân tộc với những yếu
tố chính của các phạm trù này coi như một cộng đồng hình thành trong lịch
sử, có sự thống nhất về lãnh thổ, kinh tế, chính trị, văn hóa Từ nhận thức sâu sắc về quốc gia dân tộc, tư tưởng chính trị của Nguyễn Trãi nêu cao tinh thần
tự chủ, giữ gìn chủ quyền quốc gia của dân tộc đồng thời kiên quyết chống chiến tranh nô dịch và áp bức dân tộc, thể hiện lòng yêu chuộng hòa bình và tình hữu nghị đối với các nước khác Tư tưởng chính trị của Nguyễn Trãi còn định hướng cho việc xây dựng một bộ máy nhà nước trong sạch vững mạnh, không dung hòa với tệ tham quan, lại nhũng Người làm quan “coi quân trị dân đều phải theo phép công bằng”, “đổi bỏ thói tham ô, sửa trừ tệ lười biếng”, “coi công việc quốc gia làm công việc của mình, lấy điều lo lắng của
dân sinh làm điều lo thiết kỷ” (Lời Chiếu Nguyễn Trãi viết cho vua để răn bảo
thái tử)
Như vậy, tư tưởng chính trị Việt Nam thể hiện chủ yếu ở quan điểm dựa vào sức mạnh của dân để lo cho nước, lo cho nước vì lợi ích của dân; ở tư tưởng tự tôn, tự lập, tự cường dân tộc và tinh thần bảo vệ độc lập dân tộc và chính những tư tưởng này có sức mạnh to lớn, có sức sống lâu dài và ảnh hưởng lớn đến sự hình thành tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh
Bên cạnh tiếp thu tư tưởng chính trị trong lịch sử Việt Nam, những giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam cũng được Hồ Chí Minh tiếp thu, kế
Trang 40thừa, phát triển Có quan điểm cho rằng, tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam Chúng tôi cho rằng nhận định này là đúng, nhưng chưa đầy đủ Đúng là tư tưởng Hồ Chí Minh khi đã định hình và chín muồi thì mang đậm màu sắc của chủ nghĩa Mác - Lênin, thế nhưng, như Giáo sư Trần Văn Giàu nhận định:
“Chúng ta không thể nào bằng lòng với định nghĩa chỉ xem xét tư tưởng Hồ Chí Minh căn bản là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin” [58, tr 28], bởi vì, trước khi đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã có một hành trang tư tưởng khá đồ sộ về các giá trị tinh thần quý báu của dân tộc Việt Nam được đúc kết mấy ngàn năm lịch sử Sau này, chính Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Lúc đầu chính chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đưa tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba” [116, tr 128] Cũng chính khối hành trang tư tưởng đó đã quyết định cách tiếp cận chủ nghĩa Mác
- Lênin, quyết định sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin của Người vào hoàn cảnh Việt Nam
Dân tộc Việt Nam trải qua hơn bốn ngàn năm dựng nước và giữ nước,
đã hình thành một bề dày văn hóa chính trị, đặc biệt là các giá trị tinh thần truyền thống Theo thời gian, các giá trị tinh thần đó đã được các thế hệ người Việt Nam liên tục kế thừa và phát triển, làm nên những trang sử vẻ vang của dân tộc Trong hệ giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam, một trong những giá trị tinh thần cốt lõi nhất, được hình thành sớm nhất và thường xuyên được củng cố, kế thừa, phát huy và phát triển từ thời dựng nước đến tận ngày nay là
tinh thần yêu nước Qua các cuộc chiến tranh chống xâm lược bảo vệ nền độc
lập của dân tộc, tinh thần yêu nước ngày càng lớn lên và trở thành chủ nghĩa
yêu nước trong tâm hồn mỗi người dân Việt Nam Tinh thần ấy, chủ nghĩa ấy
là một trong những giá trị hàng đầu, đóng vai trò trung tâm, làm nền tảng cho mọi hoạt động tinh thần của nhân dân và trở thành điểm tựa cho sự trường tồn của dân tộc Đúng như nhận định: “Chủ nghĩa yêu nước là sợi chỉ đỏ xuyên qua toàn bộ lịch sử Việt Nam từ cổ đại đến hiện đại Ở đây, bản chất Việt Nam biểu lộ đầy đủ và tập trung nhất, hơn bất cứ chỗ nào khác Yêu nước trở thành một triết lý xã hội và nhân sinh của người Việt Nam” [164, tr 98] Tất nhiên,