1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nội dung và giá trị của tư tưởng khoan dung Hồ Chí Minh

100 754 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên nền móng bản sắc văn hóa dân tộc, sự kết tinh những giá trị và tinh thần khoan dung cổ kim Đông – Tây, tư tưởng khoan dung Hồ Chí Minh không chỉ là sự đúc kết kinh nghiệm, tri thức

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

=============================

ĐỖ DUY TÚ

NỘI DUNG VÀ GIÁ TRỊ CỦA TƯ TƯỞNG

KHOAN DUNG HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Chuyên ngành: Triết học

Hà Nội - 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

ĐỖ DUY TÚ

NỘI DUNG VÀ GIÁ TRỊ CỦA TƯ TƯỞNG

KHOAN DUNG HỒ CHÍ MINH

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và tài liệu được sử dụng trong luận văn có nguồn gốc và xuất xứ rõ ràng Kết quả nghiên cứu của luận văn chưa được công bố qua bất cứ công trình nghiên cứu khoa học nào

Hà Nội, ngày 25 tháng 01 năm 2014

NGƯỜI CAM ĐOAN

Đỗ Duy Tú

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên tôi xin trân trọng cảm ơn quý thầy (cô) giáo Khoa Triết học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội, cùng bạn bè đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu, hoàn thành luận văn

Đặc biệt, tôi xin trân trọng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Đỗ Thị Hòa Hới, người đã nghiêm khắc, tận tâm khi hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn này

Cuối cùng, tôi xin được gửi lời tri ân tới gia đình, cơ quan, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và động viên về tinh thần trong suốt quá trình tôi hoàn thành luận văn

Xin trân trọng cảm ơn !

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Đỗ Duy Tú

Trang 5

MỤC LỤC

A MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu của đề tài 4

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 10

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11

5 Cở sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 11

6 Đóng góp của luận văn 11

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 11

8 Kết cấu của luận văn 11

B NỘI DUNG 12

CHƯƠNG 1: KHÁI LƯỢC VỀ TƯ TƯỞNG KHOAN DUNG VÀ NHỮNG TIỀN ĐỀ CHO SỰ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG KHOAN DUNG HỒ CHÍ MINH 12

1.1 Khái lược về tư tưởng khoan dung trong lịch sử triết học 12

1.1.1 Tư tưởng khoan dung trong triết học phương Đông 12

1.1.2 Tư tưởng khoan dung trong triết học phương Tây 20

1.2 Những tiền đề cho sự hình thành và phát triển tư tưởng khoan dung Hồ Chí Minh 30

1.2.1 Tư tưởng khoan dung trong truyền thống Việt Nam – Cội nguồn tư tưởng khoan dung Hồ Chí Minh 30

1.2.2 Sự tiếp biến tư tưởng khoan dung Đông – Tây trên cơ sở tinh thần dân tộc của Hồ Chí Minh 34

1.2.3 Hoạt động thực tiễn phong phú – Cơ sở hoàn thiện tư tưởng khoan dung Hồ Chí Minh 40

Tiểu kết chương 1 47

CHƯƠNG 2: MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG KHOAN DUNG HỒ CHÍ MINH VÀ GIÁ TRỊ HIỆN THỜI CỦA NÓ 49

2.1 Một số nội dung cơ bản của tư tưởng khoan dung Hồ Chí Minh 49

2.1.1 Tư tưởng khoan dung trong Văn hóa của Hồ Chí Minh 49

Trang 6

2.1.2 Tư tưởng khoan dung trong lĩnh vực đạo đức của Hồ Chí Minh 54

2.1.3 Tư tưởng khoan dung tôn giáo của Hồ Chí Minh 63

2.2 Giá trị của tư tưởng khoan dung Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay 69

2.2.1 Bối cảnh quốc tế và trong nước hiện nay – sự tất yếu phải vận dụng giá trị tư tưởng khoan dung Hồ Chí Minh 69

2.2.2 Giá trị tư tưởng khoan dung Hồ Chí Minh đối với sự phát triển của Việt Nam hiện nay 73

Tiểu kết chương 2 84

C KẾT LUẬN 85

D DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 88

Trang 7

A MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong suốt chiều dài lịch sử, nhân loại trải qua nhiều thăng trầm, phức tạp, song xuyên suốt tư tưởng khoan dung đã trở thành tư tưởng quan trọng trong việc gắn kết, giao lưu, hoà hợp giữa các quốc gia, dân tộc; giữa các nền văn hoá, văn minh; giữa các vùng, miền trên thế giới, vượt qua mọi sự ngăn cách bởi địa lý, bởi không gian, thời gian cũng như các vấn đề truyền thống, quan điểm chính trị, tư tưởng, tôn giáo, phong tục, tập quán…Tuy nhiên, lịch sử cũng ghi nhận rằng, đây

đó mâu thuẫn giữa các quốc gia, dân tộc và các chế độ chính trị khác nhau vẫn chủ yếu được giải quyết bằng hình thức đối đầu thiếu khoan dung Nhiều cuộc chiến tranh, đối đầu, nhất là trong thế kỷ XX đã diễn ra ở nhiều khu vực đã gây ra hậu quả nặng nề đối với toàn nhân loại trên nhiều bình diện Bước sang thế kỷ XXI, xu hướng đối thoại đang hiện rõ và dần phổ biến hơn, xu thế khoan dung từng bước thay thế cho xu hướng đối đầu trong việc giải quyết các vấn đề quan trọng của các cộng đồng, quốc gia trên thế giới Song, tình hình thế giới những thập niên gần đây vẫn diễn ra hết sức phức tạp, những tư tưởng kỳ thị, chia rẽ nảy sinh, nhiều cuộc khủng bố xảy ra ở nhiều quốc gia, sự căng thẳng của vấn đề dân tộc và các khuynh hướng bảo thủ trong tôn giáo…cũng đang âm thầm tái diễn; ý đồ bành chướng văn hoá của các nước lớn, xu hướng đấu tranh chống lại sự áp đặt đồng hoá văn hoá cũng xuất hiện và ngày càng gay gắt hơn Phong trào li khai được các thế lực phản động khuyến khích phát triển Những đầu óc minh triết thấu hiểu những hậu quả được rút ra trong lịch sử, con người đã và đang xây dựng nên những thiết chế để cho tư tưởng khoan dung được thực thi, mong muốn hướng đến xây dựng một thế

kỷ của khoan dung đối thoại

Vấn đề xây dựng nền hoà bình bền vững đã trở thành mong ước của nhân loại Vì vậy, năm 1946 Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá Liên hợp quốc - UNESCO (United Nations Educational, Scientific and Cultural Organization) được thành lập phần nào phản ánh mong ước đó Năm 1995 UNESCO đã ra tuyên

bố về Thập kỷ văn hóa khoan dung Vấn đề đặt ra là ở chỗ, làm thế nào để phổ biến và giáo dục tinh thần khoan dung, làm cho nó trở thành một trong các nguyên

Trang 8

tắc căn bản của quan hệ quốc tế và là một trong những nhân tố góp phần xây dựng một thế giới hoà bình Để đưa tinh thần đó vào cuộc sống, UNESCO đã phát động thập niên văn hoá hoà bình (2001-2010), trong đó khoan dung là điều kiện tiên quyết của văn hoá hiện tại và tương lai, của hình thức chung sống văn minh, đối thoại hoà bình Đồng thời, Liên hợp quốc đã lấy năm 1995 làm Năm quốc tế về khoan dung, giá trị khoan dung trở thành một giá trị triết học văn hóa phổ quát nhằm kêu gọi các quốc gia, dân tộc trên thế giới nỗ lực đề ra những chiến lược phát triển, và phổ biến rộng rãi giá trị khoan dung, nền văn hoá thấm đượm tinh thần hoà bình dựa trên cơ sở tôn trọng tự do, dân chủ, bình đẳng, đoàn kết và khoan dung Vì vậy rất cần thiết phải tiếp tục việc nghiên cứu, tổng kết, đánh giá những giá trị khoan dung của thế giới và Việt Nam, điều này có ý nghĩa quan trọng

cả về mặt triết học, cũng như về mặt chính trị - xã hội Việc nghiên cứu này cũng phù hợp với chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng một nước Việt Nam dân chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển, nhằm mang lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho con người

Ở Việt Nam, những đặc điểm chính trị - kinh tế - văn hóa suốt tiến trình lịch sử dựng nước và giữ nước đã là cơ sở hình thành giá trị khoan dung, trở thành một trong những nhân tố quan trọng đảm bảo cho sự trường tồn và phát triển của dân tộc Người Việt Nam không ngừng đấu tranh để bảo tồn, giữ gìn giá trị bản sắc văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc, đồng thời cũng sẵn sàng tha thứ, tiếp nhận cái hay, cái đẹp từ các nền văn hóa dân tộc khác, kể cả văn hóa của đối thủ, cải biến chúng phù hợp với thực tiễn phát triển đất nước, trở thành giá trị của chính mình Trải qua nhiều thế hệ, tinh thần khoan dung ấy ngày càng được gạn lọc và bổi đắp thêm Tư tưởng khoan dung truyền thống Việt Nam được kế thừa và phát huy đặc sắc ở Hồ Chí Minh Trên nền móng bản sắc văn hóa dân tộc, sự kết tinh những giá trị và tinh thần khoan dung cổ kim Đông – Tây, tư tưởng khoan dung

Hồ Chí Minh không chỉ là sự đúc kết kinh nghiệm, tri thức tu dưỡng bản thân để ứng xử khoan hòa với mọi người, với thiên nhiên, mà ở Hồ Chí Minh tư tưởng khoan dung thể hiện qua lời nói, cử chỉ, qua hoạt động thực tiễn phong phú của Người, qua cách ứng xử của Người đối với nhân dân Việt Nam cũng như các dân tộc khác trên thế giới Mọi suy nghĩ và hành động của Hồ Chí Minh luôn toát lên

Trang 9

tấm lòng rộng mở khoan dung, nhân ái, độ lượng, thể hiện một tâm hồn cao thượng, một tình yêu bao la đối với tất thảy mọi người Mặt khác, tinh thần khoan dung Hồ Chí Minh còn được thể hiện một cách sâu sắc qua cách tiếp biến, chắt lọc, tôn trọng, bao dung đối với văn hóa, tôn giáo của các dân tộc khác nhau trên thế giới Tuy nhiên, trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, tư tưởng khoan dung đang đứng trước những thách thức mới đòi hỏi phải có sự bảo tồn và phát huy Mặt khác, chính việc bảo tồn và phát huy tư tưởng khoan dung sẽ giúp con người Việt Nam thể hiện bản lĩnh cũng như bảo vệ và phát triển giá trị truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc

Công cuộc đổi mới gần 30 năm qua ở nước ta đạt được những thành tựu không nhỏ trên nhiều lĩnh vực, đã làm biến đổi sâu sắc nhận thức và định hướng giá trị ở con người Việt Nam đương đại Sự phát triển của kinh tế thị trường cùng với quá trình CNH, HĐH hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng đã và đang đặt ra những bài toán nan giải là làm sao cân bằng được định hướng giá trị khác nhau giữa các cá nhân, giữa các nhóm xã hội, giữa các tôn giáo, giữa các vùng lãnh thổ để giữ được sự ổn định kinh tế - xã hội, nhằm hướng tới mục tiêu phát triển bền vững trong điều kiện biến động thường xuyên của quốc tế và khu vực Trong bối cảnh đó, khoan dung để phát triển là cách thức chủ yếu có khả năng điều hòa, tác động không nhỏ đến sự phát triển của xã hội, tạo điều kiện cho các dân tộc có thể chung số hòa bình Giá trị của khoan dung được ghi nhận như một cách thức để phát huy hơn nữa giá trị nhân đạo của khoa học, công nghệ trong cuộc sống, đồng thời giữ được những giá trị truyền thống, đạo đức chung mang tính nhân loại Chính vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu để làm rõ nội dung và giá trị tư tưởng khoan dung Hồ Chí Minh là một yêu cầu cần thiết, có giá trị to lớn về mặt lý luận và thực tiễn, nhằm hướng tới xây dựng văn hóa khoan dung ở Việt Nam hiện nay tạo điều kiện để chung sống hòa bình, phát triển bền vững cùng các quốc gia, dân tộc khác trên thế giới

Từ những lý do trên, tếp cận từ góc độ triết học giá trị, triết học văn hóa tôi

chọn vấn đề tìm hiểu “Nội dung và giá trị của tư tưởng khoan dung Hồ Chí

Minh” làm đề tài nghiên cứu cho Luận văn thạc sĩ triết học của mình

Trang 10

2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu của đề tài

Xung quanh chủ đề tư tưởng khoan dung, tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng khoan dung Hồ Chí Minh nói riêng đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm tìm hiểu theo các mức độ, phạm vi khác nhau Vì vậy, theo chúng tôi, để tổng quan tình hình nghiên cứu của vấn đề tư tưởng khoan dung Hồ Chí Minh từ góc độ triết học, việc khái quát thành các nhóm của vấn đề là cần thiết

và có thể khái quát theo những khía cạnh sau:

Thứ nhất, nhóm các công trình nghiên cứu tư tưởng khoan dung trong lịch

sử phương Đông, phương Tây và Việt Nam Có thế kể đến các công trình:

Công trình “Ca ngợi đức khoan dung” của Ehsan Naraghi đăng trên tạp chí “Người đưa tin” của UNESCO, trên cơ sở phân tích chỉ ra hậu quả của sự không khoan dung, tác giả đã đi đến một kết luận rằng: hoạt động và sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc tuyệt nhiên không phải là kết quả của tiến bộ trong các lĩnh vực hoạt động khác nhau của con người mà chỉ có thể là kết quả của thái độ ứng xử khoan dung và sự thực hành khoan dung rộng rãi trong xã hội Cũng trên tạp chí này, có thể kể đến các công trình: “Chống lại thái độ khoan dung” của Edgard Pisani; “Từ dã man đến khoan dung” của Kanam Makiya; “Gốc rễ của chủ nghĩa chủng tộc” của Bahgat Elnadi và Adel Rifaat; “Chủ nghĩa chủng tộc và chống chủ nghĩa chủng tộc” của Etienne Balibar;… Các công trình đã chỉ ra lịch

sử hình thành và phát triển của tư tưởng khoan dung; những hậu quả của việc bất khoan dung đối với loài người, và khẳng định vai trò tích cực của việc chống lại thái độ không khoan dung là làm cho con người trở nên khoan dung hơn

Năm 1995 được Liên hợp quốc chọn là năm quốc tế về khoan dung, cũng trong năm này nhiều hội thảo khu vực được tổ chức xoay quanh chủ đề này, như:

“Hội thảo quốc tế về khoan dung và luật pháp” (International Conference on Tolerrance and Law) được tổ chức tại Ý khẳng định, sự thực hành khoan dung và tôn trọng quyền con người trở thành nhân tố đảm bảo hòa bình trên trái đất; “Hội thảo về giáo dục khoan dung ở khu vực Trung Đông” (Conference on Teaching

of Tolerance in the Miditerranea Area) tổ chức ở Tunisia khẳng định khoan dung không phải là nhân tố có sẵn mà nó có được do giáo dục và rèn luyện trong cuộc sống hàng ngày Bên cạnh đó cũng cần phải kể đến các công trình: “Những

Trang 11

khuyến nghị của cuộc Hội thảo khu vực châu Á – Thái Bình Dương về khoan dung” được tổ chức tại Ấn Độ; “Hội thảo về khoan dung, hòa hợp và hiểu biết lẫn nhau” được tổ chức tại Liên bang Nga; “Hội thảo chuyên đề khoan dung Istanbul” Thổ Nhĩ Kỳ

Ở Việt Nam trong bài viết “Tư tưởng khoan dung trong triết học khai sáng” của tác giả Lương Mỹ Vân đăng trên Tạp chí triết học, số 4, năm 2007 khẳng định, khoan dung là một trong những nội dung tư tưởng nổi bật của triết học khai sáng Pháp Bài viết đã chỉ ra được nội dung chính của tư tưởng khoan dung phương Tây trong giai đoạn triết học khai sáng Pháp, biểu hiện như là sự chấp nhận đối với những người vô thần và đa thần; đồng thời khoan dung còn là

tư tưởng về tôn giáo tự nhiên và khoan dung văn hoá Song, do mục tiêu của bài báo nên tác giả bài viết cũng chỉ mới dừng lại ở lát cắt cụ thể mà chưa đặt vấn đề khoan dung của triết học khai sáng Pháp trong dòng chảy tư tưởng khoan dung phương Tây, chưa lý giải cặn kẽ vì sao đến thời kỳ khai sáng, các nhà tư tưởng lại chú ý bàn luận nhiều đến vấn đề khoan dung

Tác giả Nguyễn Thị Phương Mai trong bài viết, “Khoan dung: thuật ngữ

và sự vận động của nó trong lịch sử triết học phương Tây” đã đề cập đến vấn đề khoan dung trên hai khía cạnh: thuật ngữ và sự vận động của tư tưởng khoan dung trong lịch sử triết học phương Tây Bài viết khẳng định, sự vận động của tư tưởng khoan dung chịu sự quy định của các điều kiện xã hội - lịch sử Xem xét lịch sử vận động, phát triển của tư tưởng khoan dung trong triết học phương Tây, tác giả cũng đã chỉ ra những nội dung cơ bản và phạm vi thể hiện nổi trội của tư tưởng này cũng như những hạn chế trong cách hiểu về khoan dung trong lịch sử Tuy nhiên, bài viết chỉ mới dừng lại ở việc phác thảo những nét cơ bản của nội hàm thuật ngữ khoan dung trong triết học phương Tây

Tiếp cận từ góc độ triết học văn hóa , tác giả Huỳnh Khái Vinh - Nguyễn

khoan dung trong văn hóa qua toàn bộ dòng chảy của lịch sử văn hóa nhân loại với các trường phái, đại biểu cụ thể ở từng thời kỳ lịch sử Tác giả đã dành toàn

bộ chương 5 để phân tích khoan dung Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Trong tác phẩm, tác giả đã chỉ ra sự khác biệt giữa thích nghi với khoan dung, nhưng ông lại coi thỏa hiệp là mức độ thấp của khoan dung

Trang 12

Các bài viết “Tinh thần khoan dung và sự hòa giải trong tư duy người Ấn Độ” của Hajine Nakamura” và “Vài suy ngẫm về khoan dung trong lịch sử Phật giáo Ấn Độ và Phật giáo Việt Nam”, “Khoan dung trong lịch sử Phật giáo Ấn Độ

và Phật giáo Việt Nam” của Hoàng Thị Thơ đi sâu phân tích cơ sở biểu hiện của khoan dung trong Phật giáo nói chung và Phật giáo Việt Nam nói riêng Các bài viết đã tập trung phân tích tư tưởng khoan dung của Thích Ca Mâu Ni và khảo sát trường hợp vua Asoka và đã nêu được một cách khái quát biểu hiện của nội dung tư tưởng khoan dung theo tư tưởng của Phật giáo

Với ảnh hưởng của Nho giáo ở Việt Nam, tác giả Trần Nguyên Việt trong bài viết “Tư tưởng khoan dung của Khổng Tử và sự thể hiện nó ở Nguyễn Trãi”

đã vạch rõ sự tiếp biến của Nguyễn Trãi đối với tư tưởng khoan dung của Khổng

Tử Nếu ở Khổng Tử nội dung căn bản của tư tưởng khoan dung là trung thứ thì đến Nguyễn Trãi, đạo lý nhân nghĩa đóng vai trò chủ đạo

Đối với tinh thần khoan dung Việt Nam, mặc dù đã có một số công trình thể hiện sự quan tâm nghiên cứu, song khoan dung mới chỉ được nghiên cứu dưới góc độ văn hoá, tâm lý như: “Bao dung là một lối sống” của Đỗ Huy; “Nội sinh và Ngoại sinh trong giao lưu văn hóa ngày nay” của Vũ Khiêu; “Văn hóa vì sự phát triển” của Phạm Xuân Nam; “Tư tưởng khoan dung Việt Nam trong truyền thống văn hóa Á Đông” của Tạ Ngọc Liễu; công trình “Tính khoan dung của văn hóa truyền thống dân tộc và sự kế thừa phát triển trong tư tưởng Hồ Chí Minh” của Đỗ Thị Hòa Hới,…Tuy nhiên, các công trình trên đã phần nào lý giải cơ sở hiện thực và nền tảng của tinh thần khoan dung Việt Nam như vị trí địa lý, khí hậu, nguồn gốc văn hóa bản địa…Đây là cội nguồn hình thành nên tư tưởng khoan dung Hồ Chí Minh

Bên cạnh đó, cũng phải kể đến các công trình,“Khoan dung tôn giáo – Một triết lý nhân sinh của người Việt” của Đỗ Lai Hiền; “Vai trò của khoan dung tôn giáo và đoàn kết xã hội trong việc kiến tạo nền hòa bình và giữ vững ổn định

xã hội” của Nguyễn Thế Doanh; “Tôn giáo và khoan dung: trường hợp Việt Nam” của Đỗ Quang Hưng; “Tính khoan dung của tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam” và “Từ ngày quốc tế khoan dung suy nghĩ về tính khoan dung của tín ngưỡng tôn giáo Việt Nam” của Nguyễn Đức Lữ,…

Thứ hai, nhóm các công trình nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh tiêu biểu

Trang 13

Có thể khẳng định rằng, Hồ Chí Minh là một vĩ nhân xuất sắc của dân tộc Việt Nam và thế giới Chính vì vậy, các công trình nghiên cứu tư tưởng của Người được nhiều học giả quan tâm nghiên cứu Tuy nhiên, trong phạm vi khảo cứu, tác giả chỉ đề cập đến những công trình tiêu biểu có liên quan trực tiếp đến

đề tài

Trước hết phải kể đến Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh của Bộ Giáo dục

và Đào tạo Quyển giáo trình đã khái quát những nội dung cơ bản trong tư tưởng

Hồ Chí Minh Công trình khẳng định, tư tưởng Hồ Chí Minh được hình thành và phát triển dựa trên sự kế thừa giá trị truyền thống dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại kết hợp với năng lực, trí tuệ Hồ Chí Minh Đây là nguồn tài liệu quý giá cho tác giả khi tiến hành nghiên cứu vấn đề này

Tiếp cận tư tưởng Hồ Chí Minh dưới góc độ chủ nghĩa nhân văn, cuốn sách

“Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh với việc giáo dục đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay” của Hoàng Trang – Phạm Ngọc Anh (chủ biên), trong đó các tác giả dành một thời lượng nhỏ trong chương 2 để bàn về những đặc trưng và biểu hiện của tinh thần khoan dung Hồ Chí Minh thể hiện qua việc ứng xử đối với kẻ thù xâm lược, với nhân dân và với các tôn giáo Tuy nhiên, với mục tiêu là trình bày

hệ thống tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh, vì vậy tinh thần khoan dung mới chỉ được các tác giả trình bày một cách khái quát như là một phần nằm trong tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh

Tác giả Vũ Khiêu với công trình “Hồ Chí Minh ngôi sao sáng trên bầu trời Việt Nam” được cấu trúc thành 5 phần, thông qua nguồn tư liệu phong phú, được chắt lọc, cuốn sách đem lại những cảm nhận mới về con người, sự nghiệp và tư tưởng Hồ Chí Minh

Công trình “Tư tưởng Hồ Chí Minh về chính sách con người và về chính sách xã hội” do Lê Sỹ Thắng chủ biên, khoan dung được xem như một trong mười hai nội dung lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh về con người Trong tác phẩm

“Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam” của Võ Nguyên Giáp, đã phân tích khá chi tiết các cơ sở cho sự hình thành thành tư tưởng Hồ Chí Minh, khẳng định chủ nghĩa Mác – Lênin là nhân tố quyết định tạo ra sự thay đổi

về chất đối với sự hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh

Trang 14

Góc nhìn của một nhà hoạt động xã hội người Thái Lan - Suprida Phanomjong trong cuốn “Hồ Chí Minh ông tiên sống mãi”, tác giả đã tái hiện cuộc đời và sự nghiệp Hồ Chí Minh từ lúc ra đi tìm đường cứu nước cho đến lúc qua đời Công trình, “Hồ Chí Minh người mang lại ánh sáng” là tập hợp nhiều bài viết của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đã đăng trên Tạp chí Xưa và Nay Các công trình đã góp thêm những góc nhìn khách quan, tư liệu nghiên cứu về chủ tịch Hồ Chí Minh qua con mắt của người nước ngoài

Bên cạnh đó, cần kể đến một số cuốn sách và bài viết về tư tưởng Hồ Chí Minh như: “Đại cương lịch sử triết học Việt Nam” của Nguyễn Hùng Hậu và công trình “Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh” của Lê Hữu Nghĩa, tư tưởng khoan dung Hồ Chí Minh được nhìn nhận dưới góc độ triết học đạo đức Hồ Chí Minh;

“Hồ Chí Minh con người của sự sống” của tác giả Mạch Quang Thắng được xuất bản nhân dịp kỷ niệm 120 năm ngày sinh của Hồ Chí Minh đã phác họa Hồ Chí Minh một nhân vật đặc biệt trong lịch sử hiện đại Việt Nam và lịch sử thế giới, Người đã để lại nhiều dấu ấn tích cực, quan trọng trong quá trình phát triển của dân tộc Việt Nam Tác giả khăng định, trong tư tưởng Hồ Chí Minh vừa có cả những điều bình dị nhất, vừa có cả những điều vĩ đại, cao cả nhất của con người

Ngoài ra, có thể kể đến các công trình, “Phát triển văn hóa và con người Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh” của nhóm tác giả Hoàng Anh – Nguyễn Duy Bắc – Phạm Văn Thủy; “Nhân ái Hồ Chí Minh” của Nguyễn Văn Khoan;

“Hồ Chí Minh – quá khứ, hiện tại và tương lai” của Phạm Văn Đồng; “Ý nghĩa lịch sử và giá trị thời đại của sự kiện bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước” của Bùi

Đình Phong; “Chủ tịch Hồ Chí Minh với nước Pháp” của Phạm Hoàng Điệp; “Vĩ

đại một con người” của Trần Văn Giàu …Các công trình phần nào khắc hoạ những một số khía cạnh trong cuộc đời và sự nghiệp cũng như những nội dung trong tư tưởng Hồ Chí Minh

Thứ ba, nhóm các công trình nghiên cứu, đề cập đến các khía cạnh khác nhau trong tư tưởng khoan dung của Hồ Chí Minh

Trước hết có thể kể đến trong đề tài Luận án tiến sĩ triết học “Tư tưởng khoan dung và ý nghĩa hiện thời của nó” của Nguyễn Thị Phương Mai Luận án

đã trình bày tương đối có hệ thống sự vận động của khái niệm khoan dung trong

Trang 15

lịch sử tư tưởng triết học phương Đông và phương Tây Với logic, kết cấu của đề tài, tác giả ít nhiều dành một số trang để khái quát tư tưởng khoan dung Hồ Chí Minh với tư cách là cơ sở của sự nghiệp giải phóng con người và bảo vệ đất nước, nhất là việc Hồ Chí Minh vận dụng tư tưởng khoan dung trong việc xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc để bảo vệ và xây dựng tổ quốc trước sự chống phá của các thế lực thù địch

Đáng lưu ý, tiếp cận từ góc độ lịch sử triết học, luận án tiến sĩ triết học của Nguyễn Văn Công với đề tài “Tư tưởng khoan dung Hồ Chí Minh” trong đó đã khái quát một số cơ sở hình thành tư tưởng khoan dung Hồ Chí Minh, trong những phân tích đó tác giả khẳng định tư tưởng khoan dung Hồ Chí Minh là kết quả của

sự kết hợp truyền thống dân tộc với chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa nhân văn cộng sản Đồng thời, trong công trình cũng đã phân tích hai nội dung trong tư tưởng khoan dung Hồ Chí Minh là tình yêu con người và chính sách đại đoàn kết

Có thể nói, đây là công trình nghiên cứu một cách tập trung và hệ thống về tư tưởng khoan dung Hồ Chí Minh Tuy nhiên, theo chúng tôi, cần tìm hiểu rộng hơn

để thấy tư tưởng khoan dung Hồ Chí Minh còn được thể hiện ở rất nhiều các khía cạnh khác nhau như tư tưởng khoan dung trong lĩnh vực văn hóa, đạo đức, tôn giáo,…Không chỉ biểu hiện trong lĩnh vực tư tưởng đó mà rộng hơn, nó thể hiện xuyên suốt, sâu sắc trong toàn bộ suy nghĩ và hành động của Người, không chỉ trong tư tưởng mà còn trong hoạt động thực tiễn phong phú của Người Và cao hơn nữa là tiếp tục đi sâu phân tích để từ những nội dung đa dạng phong phú ấy chỉ ra nhiều giá trị của tư tưởng khoan dung Hồ Chí Minh đối với sự phát triển của Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hoá, nhiều cơ hội và thách thức hiện nay

Cũng cần phải nói thêm, tư tưởng khoan dung Hồ Chí Minh cũng đã được

đề cập ít nhiều ở các công trình khác nhưng không tập trung Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh dưới góc độ văn hoá, tác giả Song Thành đã xuất bản hai cuốn sách “Hồ Chí Minh nhà tư tưởng lỗi lạc” và cuốn “Hồ Chí Minh nhà văn hóa kiệt xuất” Hai cuốn sách cũng đã có sự quan tâm ít nhiều đối với văn hóa khoan dung Hồ Chí Minh Các công trình cũng đã trình bày khái lược cơ sở hình thành và một số đặc trưng, biểu hiện của văn hóa khoan dung Hồ Chí Minh Tuy

Trang 16

nhiên, nội dung tư tưởng khoan dung Hồ Chí Minh được tác giả đề cập mới chỉ dừng lại ở khoan dung đối với kẻ thù, đối với tôn giáo và đối với nhân dân ta

Ngoài ra, khi đề cập đến tư tưởng khoan dung Hồ Chí Minh ở một số bài viết chủ yếu tập trung tư tưởng khoan dung đối với con người, về tôn giáo, có thể

kể đến các bài viết như: “Tư tưởng bao dung hòa hợp của Chủ tịch Hồ Chí Minh”

và công trình “Khoan dung Hồ Chí Minh” của Ngô Phương Bá; “Văn hóa khoan dung Hồ Chí Minh với nhiệm vụ xây dựng văn hóa và con người Việt Nam” và

“Văn hóa khoan dung Hồ Chí Minh một giá trị tiêu biểu của thời đại” của Song Thành; “Khoan dung – một giá trị đạo đức trong nhân cách văn hóa Hồ Chí Minh” và “Hồ Chí Minh về sự khoan dung tôn giáo”của Hồ Trọng Hoài; “Kế thừa và phát huy tinh thần khoan dung Hồ Chí Minh trong xây dựng đồng thuận

xã hội và đại đoàn kết dân tộc” của Nguyễn Tấn Hưng; “Suy nghĩ về tư tưởng khoan dung của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong hai bức thư gửi đồng bào theo Phật giáo va Công giáo” của Nguyễn Văn Công; “Khoan dung cơ sở của đoàn kết xã hội trong tư tưởng Hồ Chí Minh” của Nguyễn Thị Phương Mai; “Khoan dung và hướng thiện trong tư tưởng Hồ Chí Minh” của Nguyễn Gia Nùng.…Các bài viết trên đã tập trung vào một số khía cạnh biểu hiện tư tưởng khoan dung Hồ Chí Minh, song đó mới là những biểu hiện cụ thể của từng lĩnh vực, mà chưa có sự khái quát về nội dung, đặc điểm tư tưởng khoan dung hay “khoan dung” ở Hồ Chí Minh đã thể hiện bước chuyển nâng cấp hiện đại hóa tư tưởng khoan dung trong dòng chảy tư tưởng của dân tộc và giá trị hiện thời của nó như thế nào

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích của luận văn là khái quát một cách cơ bản tư tưởng khoan dung trong lịch sử và những tiền đề hình thành tư tưởng khoan dung Hồ Chí Minh dưới góc độ triết học; làm rõ một số nội dung chủ yếu của tư tưởng khoan dung

Hồ Chí Minh, qua đó nêu lên giá trị của nó đối với Việt Nam trong bối cảnh mới hiện nay

Để thực hiện mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ:

Thứ nhất, khái lược về tư tưởng khoan dung trong lịch sử, đồng thời phân tích những tiền đề cơ bản hình thành và phát triển tư tưởng khoan dung Hồ Chí Minh

Trang 17

Thứ hai, làm rõ một số biểu hiện của nội dung tư tưởng khoan dung Hồ Chí Minh, từ đó vạch rõ giá trị của nó đối vớt Việt Nam trong bối cảnh hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: tư tưởng và giá trị tư tưởng khoan dung của Hồ Chí Minh

Phạm vi nghiên cứu: tư tưởng khoan dung thể hiện qua các tác phẩm và hoạt

động thực tiễn của Hồ Chí Minh, qua biên niên lịch sử và toàn tập Hồ Chí Minh

5 Cở sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện luận văn, tác giả dựa trên cơ sở lý luận là những quan điểm

cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử

Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong quá trình thực hiện luận văn

là phương pháp biện chứng duy vật, phương pháp nghiên cứu lịch sử triết học, phương pháp so sánh, phương pháp khái quát hóa, phân tích và tổng hợp Đồng thời, tác giả còn sử dụng các phương pháp liên ngành triết học văn hóa, triết học giá trị trên tinh thần kết hợp chặt chẽ giữa lý luận với thực tiễn

6 Đóng góp của luận văn

Luận văn đã trình bày được hệ thống những tiền đề hình thành và một số nội dung cơ bản của tư tưởng khoan dung Hồ Chí Minh từ góc độ triết học Từ

đó, luận văn đã chỉ rõ tư tưởng khoan dung của Hồ Chí Minh có giá trị quan trọng đối với Việt Nam trong bối cảnh hiện nay

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Luận văn góp phần nghiên cứu tương đối có hệ thống từ góc độ triết học văn hóa về cơ sở và nội dung tư tưởng khoan dung Hồ Chí Minh, từ đó chỉ ra giá trị của nó đối với Việt Nam trong bối cảnh hiện nay

Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm nghiên cứu, học tập môn Tư tưởng Hồ Chí Minh và lịch sử tư tưởng Việt Nam

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm

2 chương và 4 tiết

Trang 18

B NỘI DUNG CHƯƠNG 1: KHÁI LƯỢC VỀ TƯ TƯỞNG KHOAN DUNG VÀ NHỮNG TIỀN ĐỀ CHO SỰ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG KHOAN DUNG

HỒ CHÍ MINH

1.1 Khái lược về tư tưởng khoan dung trong lịch sử triết học

1.1.1 Tư tưởng khoan dung trong triết học phương Đông

Triết học truyền thống phương Đông lấy con người và quan hệ con người làm điểm xuất phát, cho nên thế giới quan dựa vào lập ý Thiên – Địa – Nhân hợp nhất, Thiên – Nhân cảm ứng; quan điểm chính trị - xã hội thì dựa vào lập ý sự tương liên trên dưới dựa vào nhau; quan điểm luân lý dựa vào tiền đề trên dưới tôn trọng, kính nhường nhau Đặc biệt, giá trị đạo đức là giá trị hàng đầu, chuẩn mực chính chi phối quan điểm và cách nhìn nhận cuộc sống của con người Do vậy, mọi học thuyết tư tưởng có trong lịch sử triết học phương Đông đều chú ý nhìn nhận và tìm thấy trong các chuẩn mực đạo đức – chính trị đó Mặt khác, xét về sự vận động theo đường xoáy trôn ốc của hình thái kinh tế - xã hội, việc trải qua thời

kỳ phong kiến quá dài đã làm cho hệ tư tưởng trở nên trì trệ, cũng như việc một số trào lưu tư tưởng chính đã chi phối quá sâu rộng, ảnh hưởng đến mọi mặt của cuộc sống là điều khác với phương Tây

Trung Quốc được đánh giá là cái nôi triết học của nhân loại, sản sinh ra nhiều triết gia, dòng tư tưởng với các giá trị đạo đức – chính trị có ảnh hưởng to lớn đến cuộc sống của người phương Đông, rõ nét nhất là Nho giáo Trong đó, tư tưởng khoan dung được chuyển tải qua phạm trù trung tâm là Nhân, là một trong

số rất nhiều yêu cầu về phẩm chất để hướng tới hình mẫu người quân tử Từ Trung Quốc lan sang các nước khác, Nho giáo đã có tác động mạnh mẽ đến chuẩn mực đạo đức của người Á Đông Không chỉ đề cập đến các chuẩn mực đạo đức cá nhân, Nho giáo còn được coi là học thuyết triết học chính trị - xã hội, có tác động tực tiếp đến việc điều hành đất nước ở nhiều nước phương Đông Đặc trưng của tinh thần khoan dung phương Đông nói chung và Nho giáo nói riêng là hướng đến Nhân với phẩm hạnh khoan thứ, thương yêu con người, hướng đến ý thức nội tỉnh,

Trang 19

đến đạo đức khoan hòa và thông qua đó để thiết lập sự ổn định xã hội Trong các

tác phẩm kinh điển Nho giáo, thuật ngữ khoan dung không được sử dụng nhiều mà

được chia thành: Khoan thứ, Khoan hòa, Trung dung, Bao dung Song, với tư cách

là học thuyết chính trị - đạo đức chủ trương duy trì trật tự hài hòa, học thuyết này

đã đề cập đến nhiều vấn đề liên quan đến tư tưởng khoan dung như một biểu hiện của tư tưởng nhân văn

Người khai sáng học thuyết của Nho gia là Khổng Tử (551-479 tr.CN) Quan điểm khoan, dung của ông chịu ảnh hưởng bởi quan niệm về vũ trụ quan và nhân sinh quan của Dịch được lưu truyền trong dân gian và được ghi trong sách Kinh Dịch Theo đó thì vạn vật đều có chung nguồn gốc và vận động không ngừng theo đạo “sống” của nó Một trong những cái “đạo” làm mọi vật sinh sinh, hóa hóa

“trôi đi” không ngừng, theo Khổng Tử là đạo trung dung Để đạt được đạo trung dung người quân tử phải “tu thân” Khổng Tử cho rằng, nếu tâm của con người luôn hướng về “Nhân” thì không bao giờ con người nghĩ đến chuyện phản loạn, dùng hình phạt, bạo lực, do đó, miệng không nói bậy và thân không dấn vào việc

ác Do đặt đạo Trung dung là cái căn bản của đạo làm người nên Khổng Tử coi phạm trù “Nhân” không chỉ thể hiện một khía cạnh, đức tính nào mà chỉ “Nhân” chung cho mọi đức tính con người Người có “Nhân” đồng nghĩa với người hoàn thiện nhất, nên “Nhân” là nghĩa rộng nhất của đạo trung dung Đạo là người có hàng nghìn, hàng vạn điều nhưng chung quy lại chỉ là những điều đối với mình và đối với người, nên “Nhân” có thể hiểu là cách cư xử với mình và cách cư xử với người Đối với mình, cái cao cả nhất của người nhân là cái đức nhân của mình, vì

có đức nhân con người sẽ kìm chế được mình để tuân theo chuẫn mực lễ tiết của

xã hội mà không bất cập hay thái quá

Vấn đề tu thân để trở thành Nhân là vấn đề trung tâm của Nho giáo Dù ở những giai đoạn phát triển khác nhau, Nhân được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau,

song, chung quy lại, tất cả hàm nghĩa Nhân đều vì con người Vì thế, tinh thần khoan dung của Nho giáo thể hiện ở sự tôn trọng sự sống, nhất là sự sống của con người, mục đích sống vì con người, của mình và vì chính bản thân mình Muốn mình có cuộc sống tốt thì cũng phải giúp người khác có cuộc sống tốt “Người nhân là người muốn gây dựng điều gì cho mình cũng gây dựng cho người điều đó,

Trang 20

muốn mình thông đạt ra sao cũng khiến người được thông đạt như vậy” [35, tr.341] Khổng Tử từng nói rằng: “Chỉ có người nhân mới biết yêu người, biết ghét người (một cách chính đáng)” [35, tr.267]

Tuy nhiên, tư tưởng khoan dung của Khổng Tử mới chỉ hướng đến hình

mẫu người quân tử, hình mẫu con người lý tưởng trong xã hội Trong mẫu người

quân tử, Khổng Tử yêu cầu phải có sự khoan hòa từ hình dáng đến thâm tâm, từ cách ứng xử đối với bản thân đến cách ứng xử đối với mọi người Tiêu chuẩn để đánh giá người quân tử gồm: 1 Khi nhìn nhận phải nhìn cho minh bạch; 2 Khi nghe phải nghe cho rõ ràng; 3 Sắc mặt phải ôn hòa; 4 Tướng mạo phải nghiêm trang; 5 Nói năng phải trung thực; 6 Làm việc phải trọng sự kính nể; 7 Điều gì còn nghi vấn phải hỏi han; 8 Khi tức giận phải nghĩ đến hậu họa; 9 Khi thấy lợi phải nhớ đến điều nghĩa Như vậy, người quân tử chẳng bao giờ rời bỏ điều nhân, luôn làm gương trong thi hành đạo đức của mình Để trở thành người nhân, người quân tử, con người cần có các đức tính khác “Đó là: cung kính, khoan dung, thành tín, cần mẫn và có ơn huệ 1 Cung kính thì không khinh nhờn; 2 Khoan dung thì được lòng mọi người; 3 Thành tín thì được người tín nhiệm; 4 Cần mẫn thì nên

công; 5 Có ơn huệ thì dễ sai khiến người” [35, tr.619] Đức tính khoan được nhắc

đến có nghĩa là khoan dung độ lượng, có thể bao dung cấp dưới, bao dung nhược điểm và sai lầm nhỏ của cấp dưới, có tấm lòng rộng mở đối xử với mọi người

Như vậy, chúng ta thấy rằng, khoan dung là của người trên đối với kẻ dưới

mang tính chất ban phát để được lòng mọi người ở đây không làm tăng thêm giá trị

của nhân, chỉ cốt mình được lòng mọi người một cách đơn giản Vì khoan dung

cần phải thể hiện được sự tiến triển tốt trong quan hệ, giúp người khác nhận ra điều sai để hướng tới điều phải Khổng Tử cũng có câu: “Ở địa vị trên chẳng có lòng khoan dung, hành lễ chẳng kính, có tang cha mẹ chẳng có lòng thương xót, những hạng người như thế ta biết lấy gì để xem xét (mà noi theo)?” [35, tr.265] Ở đây, một hạn chế nữa trong tinh thần khoan dung của Khổng Tử được bộc lộ Đó là mới chỉ có một chiều ở người trên, có thể hiểu đó là sự ban ơn, sự tha thứ của người trên đối với kẻ dưới

Bên cạnh đó, tinh thần khoan dung của Khổng Tử thể hiện rất đậm nét

trong tư tưởng chính trị Đó là đường lối chính trị dựa trên cơ sở những chuẩn mực đạo đức, quy phạm đạo đức để điều chỉnh hành vi của con người trong các mối

Trang 21

quan hệ của xã hội, đường lối đức trị được coi là công cụ hữu hiệu nhất để đạt được mục đích chính trị, đưa xã hội từ loạn đến bình Theo Khổng Tử đạo đức và chính trị có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và không thể tách rời Ông khẳng định, việc “lấy đức để làm việc chính trị cũng ví như ngôi sao Bắc thần, ở yên vị mà các ngôi sao khác đều chầu về” [35, tr.214]

Cũng theo Khổng Tử đường lối đức trị được coi là công cụ hữu hiệu nhất

để đạt được mục đích chính trị, đưa xã hội từ loạn đến bình Bởi, như Khổng Tử đã

có lần khẳng định, điều đáng sợ nhất của một quốc gia không phải là một nước nghèo, dân ít mà là không có phép tắc, không có đạo đức Chính vì vậy, Khổng Tử

cố gắng thể hiện tư tưởng khoan, dung của ông khi thuyết phục các nhà cầm quyền không nên gây đau khổ cho dân chúng bằng đường lối chính trị bá đạo Ông nói với đấng quân vương rằng: “Ngài cai trị đất nước, cần gì mà phải dùng tới biện pháp chém giết? Nếu ngài nghĩ tới việc trị nước cho tốt, làm những việc tốt lành, thì dân chúng sẽ bắt chước làm việc tốt trở thành người tốt Đức của quân tử như gió, đức của tiểu nhân như cỏ Gió thổi trên ngọn cỏ, cỏ sẽ xẹp xuống” [35, tr.488]

Sau khi Khổng Tử qua đời, Nho gia chia làm tám phái, trong đó quan trọng nhất là hai phái Mạnh Tử (390-305 tr.CN) và Tuân Tử (313-238 tr.CN) Cả Mạnh

Tử và Tuân Tử đều quan niệm “người có nhân thì yêu con người” (nhân giả ái nhân) Mạnh Tử đi sâu tìm hiểu bản tính con người trên cơ sở nhân học của Khổng

Tử, ông đã đề thuyết Tính thiện Mạnh Tử bác bỏ tất cả những quan điểm đương thời với ông về bản tính con người Theo ông, bản tính con người là thiện, nó là bản nguyên tinh thần vốn có của con người do trời phú cho Sự khoan dung của tính thiện theo Mạnh Tử thể hiện qua bốn đức lớn: “nhân, nghĩa, lễ, trí Bốn đức lớn ấy bắt nguồn từ tứ đoan: lòng trắc ẩn (biết thương xót), lòng tu ố (biết thẹn, ghét), lòng từ nhượng (biết cung kính), và lòng thị phi (biết phân biệt phải trái) Cũng theo Mạnh Tử tính thiện (tính khoan dung) của con người không phải nhất thành bất biến, nó chịu ảnh hưởng của ngoại cảnh và cũng có giới hạn nhất định Khi tâm con người vững vàng thì vật dục vô hiệu Vì vậy, Mạnh Tử rất chú trọng đến giáo hoá để con người không mai một lương tâm Theo ông, việc tu dưỡng đạo

lý để cái tâm sâu rộng, cái trí sáng suốt, cái khí điều hoà, tạo điều kiện trường tồn cho bản tính thiện cố hữu của mình

Trang 22

Trong quan điểm chính trị của Mạnh Tử thì dân chiếm vị trí quan trọng nhất Từ chỗ đánh giá cao vai trò của dân đối với việc cai trị, thịnh trị của nhà vua, duy trì trật tự, kỷ cương của xã hội theo yêu cầu của giai cấp phong kiến, Mạnh Tử nêu lên chủ trương: để bảo vệ ngôi vua, củng cố xã hội thì phải giữ được dân Để làm được điều đó, Mạnh Tử đề xuất thái độ, trách nhiệm của nhà vua đối với dân, của người đứng đầu trong xã hội “Mỗi người đều có lòng yêu thương, làm vua trước hết phải có lòng yêu thương, như vậy mới có đường lối chính trị yêu thương người Lấy lòng yêu thương con người mà thực thi đường lối chính trị thống nhất thiên hạ thì mọi việc thật dễ dàng! Ta nói rằng mọi người đều có lòng yêu thương con người “Đạo lý chính là ở chỗ đó” [46, tr.139] Quan điểm về lòng yêu thương

con người đó của Mạnh Tử xuất phát từ chính quan điểm Nhân mà Khổng Tử đã xây dựng và ông đã nâng cao hơn thành học thuyết Nhân chính Nó thể hiện sự

quý trọng dân như thế nào, mối quan hệ ràng buộc vua – dân như thế nào Dù cho đấy là công cụ để ổn định xã hội, duy trì vị thế của vua

Như vậy, Nho giáo Khổng – Mạnh cho rằng, trong xã hội, các mối quan hệ của con người đều phản ánh những giá trị đạo đức Con người cần phải được giáo hóa để hướng đến điều thiện, ngăn chặn cái bản tính hám lợi, đồng thời, phải biết cách ứng xử khoan, dung trong các mối quan hệ xã hội đó Giáo dục những điều hay không chỉ dành cho người dân mà đặc biệt chú trọng cho các bậc quan sĩ và thiên tử Bất cứ hành động nào, con người cũng phải xem xét tính trung dung trong đó như thế nào Nho giáo dạy rằng, “Yêu người mà người không thân ái, hãy xét lại lòng nhân của mình Sai khiến người mà người không phục, hãy xét lại trí sáng suốt của mình Giữ lễ với người, chẳng được đáp ứng, hãy xét lại thái độ của mình đã đủ cung kính chưa Làm bất cứ việc gì không được toại nguyện, đều nên xét lại bản thân Bản thân ngay thẳng, mọi người đều theo về” [35, tr.1024] Đây là nấc thang mới trong sự phát triển của tư tưởng khoan dung Nho giáo Vấn đề trên thể hiện tính chất hai chiều trong hành động và suy nghĩ Không được vội vàng, cần suy tính cho kỹ, tránh để lại những hậu quả không đáng có Khi đặt cho mình câu hỏi vì sao lại như vậy thì có nghĩa là cần tôn trọng điều khác mình và tôn trọng người khác ý với mình

Bên cạnh tư tưởng khoan, dung của Nho giáo, trong các trường phái triết học khác của Trung Quốc như: Đạo gia, Pháp gia, Âm dương gia,…ít nhiều cũng

Trang 23

đã có nét tương tự với tinh thần khoan dung Trong đó, đáng chú ý phải kể đến tư tưởng của phái Mặc gia, trong tư tưởng “Kiêm ái” của Mặc Tử thể hiện tư tưởng

có nét rất gần với tư tưởng khoan dung “Kiêm” theo Mặc Tử là hết thảy như nhau, không chia rẽ, phân biệt trên dưới, sang hèn, thiệt hơn; “Ái” là yêu, là lòng yêu thương con người, yêu người ngoài cũng như yêu người thân “Kiêm ái” còn có nghĩa là làm lợi chung cho mọi người, không phân biệt thân sơ, sang hèn

Tóm lại, các trường phái triết học Trung Quốc rất phong phú, đặc biệt là Nho gia vừa có sự kế thừa tư tưởng của nhau, vừa đấu tranh với nhau trên tất cả các mặt của triết học Tư tưởng khoan, dung của Nho giáo có vai trò rất quan trọng, cũng như có giá trị điều chỉnh mà tinh thần khoan dung mang lại là rõ ràng

Đó là nâng cao giá trị, tôn trọng cuộc sống, tôn trọng sự sống của con người, tất cả

vì con người Tuy rằng, trong xã hội phong kiến trước đây, mô hình về một xã hội đại đồng, xã hội “hòa” là mục tiêu lý tưởng tuyệt đối dường như xa vời đối với hiện thực hiện tồn Nhưng ở quan niệm xã hội lý tưởng đó thể hiện khía cạnh nội dung tư tưởng khoan , dung phổ quát nhất của Nho giáo Tư tưởng khoan, dung trong Nho giáo là tiền đề để tân Nho giáo phát triển trong điều kiện lịch sử mới

Dù rằng, để nắm bắt tinh thần khoan dung đó trong Nho giáo sơ kỳ không thể gói gọn trong một từ ngữ nào cả Nó thể hiện trong toàn bộ học thuyết chính trị - đạo đức của Nho giáo, rõ rệt nhất là trong đường lối chính trị đạo đức Cơ sở xuất phát

và đích đến cuối cùng là con người, là ổn định xã hội vì con người Tuy nhiên, ở Nho giáo, hạn chế lớn nhất là khoan dung được thực hiện vì mục đích tu thân cá nhân, vì tính chất “lợi ích” của cá nhân và dừng ở đạo đức hướng nội Điều này, cũng là hậu quả của điều kiện xã hôi phong kiến Á Đông Bên cạnh đó, Nho giáo

đã bỏ qua cơ sở nền tảng vật chất để thực thi khoan dung Khoan dung hoàn toàn dựa trên các giá trị tinh thần và tâm linh, từ sự hài hòa thiên - địa - nhân, từ sự cân bằng âm - dương, ngũ hành trong lý tưởng, trong tâm thưởng

Tương tự như ở Trung Quốc, thuật ngữ khoan dung không được sử dụng rõ ràng trong hệ thống các tư tưởng triết học của Ấn Độ, song trong nội dung tư

tưởng của Phật giáo, rất nhiều từ có nội hàm tương đương với khoan dung, như

lòng trắc ẩn (karuna), vị tha (altruism), từ bi (maitri), bác ái, không sát sinh hay độ lượng… Nghĩa của các từ đó không chỉ giới hạn ở tình cảm ứng xử khoan dung

giữa con người với con người mà còn là tình cảm giữa con người với tự nhiên, với

Trang 24

muôn vật… “Phật giáo cho rằng thử thách lớn nhất của cuộc đời là hành động xuất

phát từ tinh thần vị tha đích thực, sống và làm việc cho tha nhân mà không mong

đền ơn [77, tr.349]

Hệ thống giáo lý Phật giáo nhằm lý giải một đối tượng đặc biệt là sự đau

khổ của con người, và mục tiêu cao nhất là giải thoát con người khỏi mọi khổ đau

Con người “khổ” nói chung luôn là đối tượng để được chia sẻ, cảm thông và giúp

đỡ với lòng khoan dung, vị tha, từ bi, bác ái “Tứ vô lượng tâm” là một phần giáo lí Phật giáo về các bước tu tập để thực hiện phẩm hạnh khoan dung: “1 Tứ vô lượng

tâm: là tâm có thể đem lại niềm vui sướng cho chúng sinh; 2 Bi vô lượng tâm: là

tâm có thể trừ khổ cho chúng sinh; 3 Hỉ vô lượng tâm: là tâm vui mừng khi thấy người khác hết khổ; 4 Xả vô lượng tâm: là tâm không còn chấp cả những hành vi tốt đẹp đã làm được vì tha nhân” [11, tr.1778] “Vị tha của Phật giáo có thể được coi là thuật ngữ tương đương với từ khoan dung Vị tha có nghĩa là làm lợi cho

chúng sinh, lấy chúng sinh đau khổ làm đối tượng để phụng sự” [11, tr.1392] Có lẽ

vì mục đích và nội dung nhân văn có tính phổ quát như vậy nên Phật giáo luôn được

chấp nhận một cách hòa bình ở hầu hết mọi nơi

Phật giáo luôn hướng đến tình thương yêu và kính trọng sự sống, sự cảm

thông với nỗi thống khổ, đau thương của người và vạn vật khác Đó cũng là sự khoan dung và biết hổ thẹn trước khi phạm vào điều ác hoặc làm tổn thương đến cuộc sống Bằng hành động thưc tế, con người hướng đến từ bi, hòa bình, hướng đến sự an lạc và hạnh phúc cho tất cả chúng sinh Như đức Phật từng dạy rằng: Bạn không nên làm tổn thương đến mọi người, không nên làm tổn thương đến bất

cứ một ai qua thân, khẩu, ý Người không làm tổn hại đến bất kỳ loài chúng sinh nào, người đó mới thật đúng là một người bất hại (ahimsako) Đồng thời, Phật giáo còn phát triển tư tưởng của mình thành nguyên tắc cấm sát sinh, mở rộng tình yêu thương đối với toàn thể chúng sinh và tinh thần bình đẳng về quyền sống, thừa nhận sự bình đẳng về Phật tính của mỗi con người, không có sự phân biệt

Văn hóa truyền thống của Ấn Độ còn có nội dung tư tưởng khoan dung về tôn giáo Nhân vật điển hình nhất về khoan dung tôn giáo trong lịch sử Ấn Độ là vua Asoka (272-231 TCN) Bản thân Asoka đã bị thuyết phục bởi tinh thần khoan dung của Phật giáo Đặc biệt, ở Asoka, tinh thần khoan dung tôn giáo rất được đề cao và vận dụng một cách khôn ngoan Tuy tự nhận mình là tín đồ Phật giáo,

Trang 25

nhưng nhà vua vẫn khuyến khích các tôn giáo khác cùng phát triển với phương

châm đạo pháp (Dharma mavijaya) để lãnh đạo chính sự Nhà vua kêu gọi các

giáo phái “thôi tự khen tụng và chỉ trích các giáo phái khác mà cố tập trung trau dồi đạo đức tốt đẹp của dân tộc Ấn Độ như: lòng ngay thật, biết kiềm chế, lòng từ

bi bác ái, sống thanh tịnh, hòa nhã, tôn trọng các bậc huynh trưởng và thầy dạy, rộng rãi với bạn bè, thân quyến, người quen, thậm chí với cả nô lệ … và ngăn cấm nghiêm minh các thái độ ganh đua, hiềm khích, gây chia rẽ” [6, tr.86] Phương

châm đạo pháp của Asoka về cơ bản gần với đức trị của Nho gia Trung Quốc khi dùng đạo đức làm phương tiện thống trị, song điểm khác là đạo pháp của Asoka chú trọng khoan dung tôn giáo để giải quyết thực trạng tranh chấp giữa các tín

ngưỡng, một trong những nguyên nhân cơ bản của những hiềm khích, xung đột hay chiến tranh giữa các cộng đồng tín ngưỡng và tôn giáo làm cản trở quá trình thống nhất Ấn Độ đang trong giai đoạn chuyển dần sang thời kì phong kiến

Nhà vua đã cho dựng nhiều cột kinh bằng đá trên đó khắc những chỉ dụ về đạo lý làm người, làm thần dân của vương quốc Ấn Độ hùng mạnh trên tinh thần

Phật giáo Đặc biệt trong chỉ dụ thứ 12 nói rõ về khoan dung tôn giáo Chỉ dụ đó

nói rằng “nhà vua tôn trọng tất cả mọi người, tất cả các giáo sĩ cũng như tín đồ của các tôn giáo khác nhau Tín đồ của các tôn giáo khác nhau không được kì thị, chê bai tôn giáo khác, bất kì dưới hình thức hay lí do nào Nhà vua khuyến khích sự hòa hợp giữa các tôn giáo và kêu gọi tất cả các tôn giáo hãy tuyên giảng các giáo lý đúng đắn Nhà vua không trông chờ những lễ vật hay lời tán dương, mà mong rằng, bằng việc làm thực tế, các tôn giáo tôn trọng lẫn nhau Có như vậy, sự tăng trưởng của mỗi tôn giáo sẽ là sự tuân thủ luật trung quân” [trích theo 88, tr.16] Chủ trương hòa hợp, khoan dung tôn giáo của vua Asoka đã giải quyết được mâu thuẫn giữa các tôn giáo

và tạo được môi trường đoàn kết xã hội, đoàn kết tôn giáo dưới ngọn cờ dân tộc Ấn

Độ thống nhất rất điển hình Sau ông, nhiều vị vua khác cũng kế thừa phương châm

khoan dung tôn giáo Có lẽ cũng do áp dụng phương châm này mà Phật giáo đã phát

triển rực rỡ tại Ấn Độ và lan tỏa trong khu vực một thời kì dài như là quốc giáo với những thành tựu rực rỡ về giáo dục, văn hóa, nghệ thuật… Chúng còn được lưu giữ cho tới ngày nay như là niềm tự hào của dân tộc Ấn Độ

Như vậy, với đặc điểm kể trên, tinh thần vị tha của Phật giáo có sự tương đồng với tinh thần khoan dung được nhắc đến nhiều ở phương Tây Không những

Trang 26

vậy, có thể khẳng định rằng, vị tha cũng chính là tư tưởng khoan dung và ngược lại Đó chính là nguyên tắc tôn trọng con người, tôn trọng quyền sống của con

người Nhưng dường như, tư tưởng khoan dung có phần phổ biến hơn vì tính chất

mở của nó Hơn nữa, ban đầu, chúng đều mang ý nghĩa liên quan đến tôn giáo, song, sự vận động của chúng đều hướng đến vấn đề đạo đức chính trị, liên quan đến vấn đề nâng cao, tôn trọng giá trị con người Tuy nhiên, cũng như đã phân tích

về trường hợp Nho giáo ở Trung Quốc, điểm hạn chế của khoan dung trong triết học Ấn Độ là khoan dung mang tính nội tỉnh, mục đích rõ rệt, mang tính chất một chiều từ người trên đối với người dưới, là sự ban ơn, tha tội với người dưới, thấp kém hơn

1.1.2 Tư tưởng khoan dung trong triết học phương Tây

Tư tưởng khoan dung xuất hiện rất sớm trong lịch sử tư tưởng triết học phương Tây Dù rằng, trong giai đoạn đầu tiên đó, thuật ngữ khoan dung chưa được sử dụng thường xuyên, nhưng tinh thần của nó có ảnh hưởng lớn đến giai đoạn sau

Ngay từ khi xuất hiện, tư tưởng khoan dung gắn liền với nguyên tắc đa văn hóa ở Hy Lạp cổ dại và nó được thể hiện rõ nhất trong nội dung triết học của phái ngụy biện và của Socrates (470 – 399 TCN) Tinh thần khoan dung trong triết học Socrates thể hiện ở chỗ, nhà triết học né tránh gọi các môn đệ của mình là “học trò”, Socrates ưa thích gọi họ là những “người đối thoại” Ông khước từ “tranh luận” như hình thức giao tiếp, đem nó đối lập với “đối thoại” Theo Socrates, đối thoại, đó là một thể loại giao tiếp khác mà “hội tụ” được những người đang tìm kiếm chân lý do chưa sở hữu nó Quan niệm này được trình bày khái quát trong luận điểm nổi tiếng của ông: “Tôi chỉ biết rằng tôi không biết gì” Đây không những là luận điểm xuất phát mà còn là cơ sở cấu thành tâm thế ứng xử khoan dung của tư duy Socrates Đặc biệt, tư tưởng khoan dung thấm nhuần trong tư duy của Socrates Sự khởi đầu tư duy của ông là: tất cả những gì có kỳ vọng đạt tới sự thông thái và sự hiểu biết đều bị bác

bỏ Không có gì có thể nói một cách quả quyết rằng: “Đây là chân lý” Nếu như vậy,

ý thức được mở ra cho nhận thức; vì chỉ có ai cảm thấy mình là người không hiểu biết thì mới cố gắng hiểu biết Con người hiểu biết thì sẽ không nhận thức nữa Người ấy chỉ dạy người khác, truyền đạt sự hiểu biết của mình Khoan dung là tiền đề để đối thoại, để nâng cao nhận thức, để truy tìm tiếng nói chung, để gần đến chân lý

Trang 27

Trong quan niệm của Socrates, cách thức đối thoại thể hiện hình thức luận chứng tự nhiên và đi liền với thuật tranh biện – còn gọi là nghệ thuật tranh luận Đối thoại tranh biện được phái ngụy biện đưa vào triết học nhưng nó nhận được ý nghĩa triết học đích thực nhờ Socrates Đối thoại của Socrates thể hiện như là con đường nhận thức thế giới và quan hệ đạo đức – đức hạnh Đến Platon, ông đã đưa đối thoại tới sự hoàn hảo Thông qua biện chứng, ông đã chuyển đối thoại từ hình thức là nghệ thuật giao tiếp sống động sang hình thức văn học Ông đã biến ngôn ngữ hành văn thành ngôn ngữ đối thoại Qua đó, nó cho phép độc giả suy ngẫm toàn diện, suy ngẫm cùng với bản thân mình và trở nên tư do nội tâm, thoát khỏi khuôn khổ không gian và thời gian, vươn tới chân lý

Trong hai tác phẩm lớn là Nhà nước và Các luật Platon (427-334 tr.CN) đã

mơ tưởng một nhà nước lý tưởng theo kiểu cộng hoà quý tộc Xpáctác Platon cho rằng, chỉ đạt được sự khoan dung trong lãnh đạo nhà nước khi gạt ngang sang một bên ý chí cá nhân và trên sơ sở tôn giáo, pháp luật cũng như trong tập tục truyền thống Những tập tục truyền thống là công cụ điều chỉnh tỉ mỉ toàn bộ đời sống công cộng và cá nhân của mọi công dân Ông đòi hỏi phải thẳng tay trừng phạt, kể

cả tử hình, những ai mưu toan lật đổ và làm suy yếu thể chế trên Tư tưởng “cộng hòa” của Platon là điển hình cho quan niệm khoan dung kiểu quý tộc chủ nô ở các quốc gia – thành thị nhỏ bé tại Hy Lạp cổ đại

Aristotle, được gọi là bậc thầy của “những người hiểu biết”, là người tiếp tục đặt nền móng cho tư tưởng khoan dung Ông khuyên người ta nên “theo thuyết trung dung, tránh thiên tả, thiên hữu quá đáng; can đảm chứ đừng điên rồ hay hèn nhát; điều độc chứ đừng khắc khổ hay tham lam; rộng rãi chứ đừng phung phí hay bủn xỉn” [trích theo 35, tr.39] Trong giai đoạn triết học Hy lạp cổ đại sau Aristotle, tinh thần khoan dung vẫn được thực hiện trong quan điểm của các nhà triết học Êpiquya, Dênông,…, song nó chưa có được bước tiến đáng kể Điều đó

có thể được giải thích từ việc nhìn nhận những vấn đề xã hội Giai đoạn này chính

là giai đoạn đầu tiên tư tưởng khoan dung được nhắc đến nhiều Thậm chí, hiện nay, nhiều quan điểm cho rằng, đây mới chính là điểm khởi đầu của tư tưởng khoan dung của nhân loại

Trang 28

Tiếp theo, tại La Mã cổ đại, Luxiut Anneut Xênêca (khoảng năm 3 tr.CN đến năm 65 s.CN) đưa ra luận điểm về sự bình đẳng tinh thần của mọi người và truyền bá tư tưởng cam chịu, nhẫn nạ Tư tưởng bao dung của Xênêca nhấn mạnh

sự cam chịu và sự phục tùng, nhằm khích lệ sự quan tâm nhân đạo đến người nô lệ

và hạn chế sự chuyên quyền của chủ nô Quan điểm này được Thiên chúa giáo sử dụng, cho nên không phải ngẫu nhiên mà Ph.Ăngghen gọi ông là “người bác của Thiên chúa giáo” [trích theo 35, tr.40] Sự khủng hoảng chế độ chiếm hữu nô lệ ngày càng gia tăng đã dẫn đến sự bùng nổ các cuộc khởi nghĩa của nô lệ, mâu thuẫn trong lòng xã hội ngày càng gay gắt, đời sống của người dân lâm vào khủng hoảng, khốn cùng Mọi người, xã hội bắt đầu tìm đến tín ngưỡng tôn giáo nhằm tìm kiếm niềm an ủi tinh thần trong tôn giáo Từ sự xáo trộn tín ngưỡng cổ xưa với triết học Hy Lạp được thị dân hoá đã xuất hiện Thiên chúa giáo Những tín đồ Thiên chúa giáo sơ khai, khi thấy sự thất bại tcủa các cuộc khởi nghĩa nông dân, họ chỉ biết tự an ủi bằng hy vọng hão huyền vào sự giúp đỡ của “sứ giả nhà trời”, Thiên chúa

Jesus sinh ở Palestine vào khoảng giữa năm 4 và năm 8 (sau CN), khuyên mọi người nên hưởng những lạc thú tốt lành của đời sống, nhưng đó phải là sự hưởng thụ không tranh giành, không phô trương và thô bỉ Theo ông, “khoan hoà nhưng phải nghiêm nghị Thiện chí chưa đủ; người chỉ có nghe mà không có làm thì cũng giống như xây nhà mà không đào móng” [35, tr 41] Với quan niệm này,

rõ ràng kế thừa và đứng trên tất cả, Chúa Jesus đã rao truyền sự nhu hoà và yêu thương khiêm tốn, thành thật, khoan hoà và nhân ái

Đến thời trung cổ, với những thay đổi sâu sắc ở hệ thống ý thức xã hội, tinh thần khoan dung có bước thay đổi đáng kể Từ những quan niệm khoan dung Thiên Chúa giáo, các nhà triết học kinh viện chủ yếu xem khoan dung là một phẩm chất đạo đức, theo nghĩa theo gương các thánh nhân, nhẫn nhục chịu đựng cái ác Trong đó, đáng chú ý Tectulian đã trình bày một cách căn bản quan điểm về tự do lương tâm như là hạt nhân của tư tưởng khoan dung Bên cạnh đó, khoan dung đối với các lễ nghi phi Thiên chúa giáo được thừa nhận là cho phép, dù cho hoặc vì một lợi ích nào đó sinh ra từ đó, hoặc vì sự không cho phép cái ác lớn hơn Qua

đó, tinh thần khoan dung mang tính chất “công cụ” bắt buộc Vấn đề là ở chỗ các

Trang 29

tôn giáo đều hướng con người tới một thế giới thiêng Thế giới đó không có xung đột và bạo lực Tất cả đều phải khoan dung Trên phương diện nguyên tắc giáo lý, tôn giáo dạy con người phải biết tha thứ và thương yêu nhau Điều quan trọng là tôn giáo hướng con người tới lòng nhân ái, bao dung đồng thời, cũng không có tôn giáo nào khuyến khích xung đột

Sự ra đời và tính chất, mục đích hoạt động của hệ thống đại học kinh viện ở thời trung cổ đã cho thấy rõ tư tưởng khoan dung thâm nhập sâu sắc vào văn hóa châu Âu trung cổ Sự phát triển của các trường đại học có một ý nghĩa to lớn đối với văn hóa khoan dung trung cổ và cả sau này Các trường đại học truyền bá thần học

đã góp phần xoa dịu những mâu thuẫn xã hội, cùng với đó, một tầng lớp đặc biệt đã xuất hiện Đó là nghiệp đoàn những người có nguồn gốc xuất thân khác nhau gồm giáo sư và sinh viên, trong đó, tri thức và trí tuệ được đặt lên hàng đầu Trong môi trường ấy, một quan niệm mới về sự cao quý – cao quý không phải do huyết thống

và của cải mà do đạo đức, trí tuệ - đã xuất hiện Sự cao quý như vậy đã được gắn liền với trí tuệ và hành vi tinh tế, với tâm lý tế nhị và thị hiếu tinh vi Bên cạnh đó,

sự uyên bác và tri thức đại học thời này về nguyên tắc không hướng con người vào đối kháng và bạo loạn Ngược lại, sinh viên và giáo sư trung cổ chính là những người quan tâm nhiều nhất đến duy trì ổn định của trật tự hiện có và đến việc hoàn thiện đạo đức dần dần của nó Đẳng cấp đại học không cô lập với xã hội mà thể hiện

là một trong các chỗ dựa tinh thần cơ bản của nó Do các trường đại học trung cổ đã hình thành, nên thái độ tôn trọng tri thức và văn hóa mới đóng vai trò quan trọng trong giai đoạn lịch sử sau đó và là một biểu hiện khác của tư tưởng khoan dung

Trong lịch sử phương Tây các cuộc xung đột tôn giáo và các cuộc chiến tranh tôn giáo thường xuyên diễn ra Điển hình là cuộc xung đột giữa Công giáo và Hồi giáo với các cuộc thập tự chính kéo dài gần 200 năm từ cuối thế kỷ XI đến cuối thế kỷ XIII Chính các cuộc chiến tranh giữa các tín đồ Kitô giáo, Tin lành giáo, Hồi giáo và Do Thái giáo đã làm cho mọi người thấy rằng, hãy để cho các tôn giáo, các niềm tin khác nhau và các tổ chức giáo hội khác nhau cùng chung sống hòa bình Đó cũng chính là nguyên nhân để các tín đồ đối thoại, tìm hiểu nhau và khoan dung với nhau Tư tưởng khoan dung tôn giáo mới lại được nhắc đến trong các cuộc cải cách Tin lành và Thiên chúa giáo của Lutther và Canvin

Trang 30

Vô thần luận và khoan dung tôn giáo được nhiều nhà triết học danh tiếng Tây Âu tranh cãi dưới nhiều khía cạnh khác nhau Trong đó đáng chú ý như: Bá tước

Hônbach xuất bản cuốn Hệ thống thiên nhiên (1770); La Mettrie với tác phẩm

Người, một cái may; hay Denis Diderot thì bày tỏ quan điểm của mình trong cuốn Đối thoại với bà Thống chế,…Theo các ông, lý trí cho thấy rằng mọi tôn giáo cao

siêu, ngoài hình thức giáo lý và nghi lễ khác nhau, luôn luôn có mẫu số chung là niềm tin và thiện chân và hãy cùng chung sống hòa bình

Phong trào cải cách tôn giáo của Lutheran và của Counter tiếp tục dẫn đến sự chia rẽ tôn giáo ở thế kỷ XVII, châu Âu đã bị tàn sát bởi sự xúi giục thô bạo của kỳ thị tôn giáo gây nên cuộc chiến tranh 30 năm (1618-1648) Từ đây, những người có học nhận thức sâu sắc hơn về sức mạnh tàn phá của sự không khoan dung và tìm kiếm giới hạn của sự ảnh hưởng bằng cách xét lại mối quan hệ giữa niềm tin tôn giáo và sức mạnh chính trị

Tác phẩm Thông điệp về khoan dung của John Locke (1632-1704) có thể

xem là ví dụ điển hình cho sự luận giải về sự cần thiết khoan dung tôn giáo trên cơ

sở kinh nghiệm và thực tế Trong tác phẩm, John Locke đã cố gắng luận chứng tư tưởng khoan dung như một đặc trưng cơ bản của giáo hội chân chính Theo ông, tôn giáo là giả dối nếu nó không có tình yêu, ân huệ và lòng khoan dung nhân từ Ai truy nã những người khác nhân danh chúa Jesus thì sẽ xuyên tạc học thuyết của Người Mọi mưu toan gán ép niềm tin bằng chiến tranh vũ lực đều chỉ sinh ra sự giả nhân, giả nghĩa và sự kinh bỉ đối với Chúa Thuyết phục, đối thoại là đòn bẩy duy nhất mà có thể sử dụng để tác động đến trí tuệ con người một cách nhân hậu Sự chân thực và những con người chân thực có thể sùng bái những thần linh khác nhau,

và chỉ có thái độ khoan dung đối với những sự khác nhau ấy thì mới có thể đem đến

hòa bình cho xã hội Trong một bức thư được viết vào năm 1689 với tựa đề A Letter

Concerining Toleration, John Locke đã đề cập đến sự tự do tư tưởng, tự do lựa chọn

niềm tin cũng như tự do bày tỏ chính kiến của con người như là bản chất tự nhiên của con người và Giáo hội nên tôn trọng các quyền đó

Rousseau, trong tác phẩm Bàn về khế ước xã hội, đã có sự phân biệt giữa

tôn giáo khoan dung và tôn giáo bất khoan dung, đồng thời ông cho rằng tôn giáo

Trang 31

khoan dung mang ý nghĩa tôn giáo tích cực, vì nó góp phần giáo hoá con người, hướng con người đến các giá trị nhân văn cao cả, cần phải tôn trọng tự do đức tin

Tiếp đó, các nhà Khai sáng Pháp đã tiếp nối John Locke sử dụng thuật ngữ

“khoan dung” và đem lại cho nó những nội dung mới mẻ Việc tiếp tục dòng tư duy về khoan dung trước hết bắt nguồn từ sự phản đối của các nhà Khai sáng Pháp đối với nhà thờ – thế lực thần quyền lúc đó – về sự áp đặt niềm tin tôn giáo của nó lên cá nhân trong xã hội P.Bayle là người đầu tiên trong số những nhà Khai sáng tấn công vào các thiên kiến đó bằng vũ khí hoài nghi của mình Ông dựa trên “lý tính sáng suốt” để tiến hành phê phán: “Điều mà ông phê phán dữ dội nhất - đó chính là quan điểm theo đó thì mọi phương tiện bảo vệ niềm tin đều là tốt; là quan điểm lẫn lộn niềm tin với ảo tưởng, nhận thức đích thực với thiên kiến, lý tính với dục vọng Cái ác cơ bản cần đấu tranh chống lại, đó không phải là chủ nghĩa vô thần, mà là sự sùng bái ngẫu tượng, không phải là sự vô thần mà là niềm tin giả danh” [28, tr.503] Tiếp sau Bayle, hầu hết các nhà Khai sáng đều đưa ra những ý kiến của mình phản đối – không phải phản đối niềm tin tôn giáo nói chung, – mà là phản đối những thiên kiến, những niềm tin được tiếp nhận một cách không có ý thức, những tri thức về Chúa được tiếp nhận không có sự suy xét nghiêm túc của

lý tính Đối tượng phê phán của các nhà Khai sáng là toàn bộ những người tiếp nhận niềm tin thiên kiến lẫn những người truyền bá thiên kiến ấy – những giáo chức nhà thờ Sự phê phán những thiên kiến tôn giáo, phê phán những người truyền bá và những người tiếp nhận không ý thức những thiên kiến ấy, nhưng lại không phải là phê phán trực tiếp niềm tin tôn giáo, đã dẫn đến quan điểm cho rằng, niềm tin tôn giáo phải là công việc riêng của những cá nhân có lý trí tỉnh táo; rằng, niềm tin tôn giáo có cơ sở là tự do ý thức của mỗi người Đây chính là điểm cốt lõi trong quan niệm khoan dung tôn giáo của triết học Khai sáng Pháp thế kỷ XVIII

Nội dung tư tưởng khoan dung tôn giáo trong triết học Khai sáng Pháp có nội hàm hết sức phong phú Trước hết, đó là sự chấp nhận đối với những người

vô thần và đa thần P.Bayle đã nhấn mạnh: “chủ nghĩa vô thần không nhất thiết dẫn đến sự phá huỷ phong tục” [93, tr.59] Ông thừa nhận rằng, những người vô thần cũng có thể có một cuộc sống đạo đức, cũng như người Công giáo có thể gây ra những tội ác ghê gớm nhất Sự thừa nhận những người vô thần cũng có thể

Trang 32

có đạo đức là tinh thần khoan dung đặc biệt của trào lưu Khai sáng Pháp so với những thời kỳ tư tưởng trước nó

Các nhà Khai sáng Pháp còn cho rằng, cần có sự khoan dung về văn hóa, tôn giáo, có một tính tương đối trong các phong tục tập quán từ nơi này sang nơi khác Sự khác biệt giữa những con người về các điều kiện sinh hoạt vật chất: thức

ăn, đồ mặc, nơi ở chỉ là những khác biệt bề ngoài, không phải là cái đáng chê trách hay cần loại bỏ Thậm chí cả những quan niệm khác biệt về tư tưởng và niềm tin (những tư tưởng về tổ chức xã hội, về chính trị, về tôn giáo,… giữa họ cũng không phải là lý do cho bất cứ một sự xung đột nào Luận cứ mà các nhà Khai sáng đưa

ra để bảo vệ luận điểm ấy rất đơn giản: bởi vì con người có tính đồng nhất, toàn bộ loài người là anh em Con người đều có nguồn gốc tự nhiên và có bản tính tự

nhiên, sự khác biệt là do các điều kiện bên ngoài Năm 1763, trong Luận về sự

khoan dung, Voltaire (1694-1778) đã viết: “Chúa không hề cho chúng tôi một trái

tim để ghét bỏ nhau và những cánh tay để chém giết nhau; những khác biệt nho nhỏ giữa cách ăn mặc, ngôn ngữ, phong tục, luật lệ, ý kiến của chúng tôi, tất cả chỉ

là những sắc thái nhỏ bé phân biệt giữa những con người với nhau, Chúa không làm chúng trở thành những dấu hiệu để chúng tôi ghét bỏ nhau…Ước gì tất cả mọi người nhớ ra rằng họ đều là anh em!” [trích theo 93, tr.61]

Đặc biệt, Voltaire đã biến nguyên tắc phê phán Kinh thánh về mặt đạo đức trở thành tài sản tinh thần chung của thế kỷ Khai sáng Ông cho rằng, quy luật cơ bản của thế giới tinh thần chỉ là ở chỗ chính chúng ta hằng ngày sáng tạo ra thế giới này một lần nữa Đó là một đóng góp mới trong tư tưởng khoan dung về văn hóa, tôn giáo của Voltaire Một đặc điểm khác của quan điểm về khoan dung ở Voltaire là tính chất nghiêm túc và tỉnh táo khi xem xét vấn đề cơ bản về đề tài tôn giáo Khoan dung, mà những người theo trường phái khắc kỷ chế nhạo là sai lầm nguy hiểm và yêu cầu kỳ quái, được ông xác định là đặc điểm cơ bản và là chức năng của lý tính Khoan dung không có nghĩa là một định đề riêng biệt nào đó của triết học, mà thực ra, nó biểu thị bản thân nguyên tắc của triết học, thể hiện bản chất và sự minh biện của triết học

Hơn nữa, Voltaire có thể được coi là người đi tiên phong trong việc đề cao, công nhận và ca ngợi giá trị đức tính khoan dung, với những tác phẩm nổi tiếng là

Trang 33

Những bức thư triết học (1734) và Luận về khoan dung (1763) Trong đó, ông bàn

trực tiếp về khái niệm khoan dung: khoan dung, phản đề của cuồng tín và sự tôn trọng kẻ khác trong dị biệt Đối với Voltaire, “các giá trị - đức tính này còn có một yếu tố nhân từ và dịu hiền Muốn sung sướng trong kiếp sống hiện tại, trong chừng mực mà sự khốn cùng của bản thân cho phép, thì cần phải bao dung” [40, tr.15] và ông đòi hỏi khoan dung như một giá trị và đức tính phổ quát và như là phương pháp duy nhất nhân văn Đặc biệt trong “Từ điển triết học” (1764), Voltaire đưa ra định nghĩa cụ thể khoan dung là gì và quan trọng nhất là ông khẳng định rằng, đây

là cái mà chỉ riêng loài người mới có: “Khoan dung là gì? Là cái chỉ riêng loài người có; chúng ta ai cũng nhu nhược, cũng lầm lẫn; ta tha thứ cho nhau những sự dại dột; đó là luật quan trọng nhất của tạo hóa” [trích theo 49, tr.45] Nhưng sự bất hòa đã và vẫn tồn tại trong chính cuộc sống thực, cũng như trong tín ngưỡng của mỗi người Đó chính là nguyên nhân mà kể từ khi nhà nước – thành bang xuất hiện thì những cuộc chiến tranh vẫn diễn ra triền miên Đó chính là bài học rất đáng chú

ý nhưng chúng chưa được tìm hiểu một cách hữu ích Voltaire đã nhận ra khuyết điểm đó và ông khẳng định rằng, “sự bất hòa khủng khiếp, điều đã xảy ra trong nhiều thế kỷ, là bài học rất đáng chú ý rằng chúng ta nên tha thứ cho lỗi lầm của người khác, sự bất hòa là mối lo ngại lớn nhất của loài người và khoan dung là phương pháp duy nhất” [trích theo 49, tr.46]

Như vậy, ở Voltaire, khoan dung không chỉ còn dừng lại ở vấn đề tự do tín ngưỡng, vấn đề niềm tin tôn giáo mà nó có tác động trực tiếp đền việc xây dựng ứng xử văn hóa trong cuộc sống thực của con người Điều quan trọng nhất là hướng đến hòa bình Con người chỉ có thể phát triển toàn diện khi hòa bình được thiết lập một cách vững chắc Thế kỷ XIX, điều này đã được Kant phát triển thêm

Với con mắt của một nhà triết học lỗi lạc, I.Kant (1724 – 1804) nhìn nhận những sự kiện lịch sử một cách sâu sắc, tìm ra căn nguyên và vạch ra những điều kiện căn bản để hướng tới xây dựng nền hòa bình vĩnh cửu I.Kant đồng ý với quan điểm của T.Hobbes rằng, chiến tranh là hiện tượng tự nhiên, đồng thời ông cũng khẳng định, chiến tranh tự nó là một hiện tượng tư nhiên hữu ích, là cái cho phép bảo vệ bản sắc và sự độc lập của các dân tộc và ở một chừng mực nào đó, nó còn kích thích phát triển toàn diện những năng lực, bản chất của con người

Trang 34

Nhưng, I Kant coi chiến tranh là một phương tiện bất đắc dĩ mà người ta buộc phải tiến hành để khẳng định các quyền của mình bằng sức mạnh và để hy vọng, rốt cuộc thì “nền hòa bình vĩnh cửu của các quốc gia cũng phải được thiết lập”

“Hòa bình” được ông hiểu là sự kết thúc mọi sự thù địch, mọi hành động chiến tranh Vì, nếu chiến tranh cứ diễn ra thường xuyên thì sẽ không có điều kiện để phát triển kinh tế Đồng thời, việc phải thường xuyên chuẩn bị chiến tranh sẽ dẫn đến việc đánh mất một cách vô bổ những năng lực con người và đến lượt mình, điều đó sẽ kìm hãm việc phát triển các giá trị mang bản chất người “Một cộng đồng hẹp hay rộng lớn hơn trên trái đất này đều có quyền phát triển cho đến khi sự

vi phạm về quyền tại một nơi nào đó trở thành hiện tượng phổ biến ở khắp nơi” [trích theo 49, tr.47] Rõ ràng, tư tưởng khoan dung đã được Kant cố gắng hiện thực hóa trong các mối quan hệ, nhất là nhằm loại bỏ sự nghi ngờ lẫn nhau giữa các quốc gia, thiết lập quan hệ quốc tế và đề xuất những nguyên tắc phân xử xung đột Tư tưởng khoan dung như vậy có hàm nghĩa trong ứng xử chính trị - xã hội giữa các dân tộc, cộng đồng

Để có được nền hòa bình vĩnh cửu, I Kant kêu gọi loại bỏ quân đội thường trực, vì nếu nó được duy trì với số lượng không phù hợp sẽ là mối đe dọa với các quốc gia khác, khiến cho việc “chạy đua vũ trang” giưa các quốc gia trở thành khó tránh khỏi Chiến tranh có thể nổ ra khi sức mạnh của quốc gia đó được thể hiện trong năng lực kinh tế Trong xã hội hiện đại, vấn đề này đã được thể hiện một cách rõ ràng, dễ thấy và I Kant chính là người đã nhận ra điều này ngay từ những ngày đầu đang lên của xã hội tư bản Nếu chiến tranh cứ diễn ra thường xuyên thì, theo ông, sẽ không có điều kiện để phát triển kinh tế Do vậy, chiến tranh là cái luôn xung khắc với thương mại Việc phải thường xuyên chuẩn bị chiến tranh sẽ dẫn đến việc đánh mất một cách vô bổ những năng lực con người và đến lượt mình, điều đó sẽ kìm hãm việc phát triển các giá trị mang bản chất người

Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin với nhiều lý do khác nhau nên không trực tiếp bàn đến khái niệm khoan dung Trong bối cảnh đấu tranh cách mạng phức tạp thế kỷ XIX, C.Mác và Ph.Ăngghen đã thể hiện lập trường cách mạng phải rõ ràng, không khoan nhượng với kẻ thù; nhưng điều đó không có nghĩa

là các ông đã bỏ qua vấn đề khoan dung, mà ở đây nguyên tắc khoan dung đã gắn

Trang 35

chặt chẽ với chủ nghĩa nhân văn cộng sản, đó là đấu tranh chống lại áp bức, bất công, giải phóng con người, hướng tới xây dựng “vương quốc tự do” cho con người, điều này được thể hiện trong Bản thảo kinh tế - triết học (1844), Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (1848) và nhiều tác phẩm khác Do vậy, phải hiểu khoan dung trong điều kiện lịch sử nhất định

Đến Lênin, tính lịch sử của khoan dung được thể hiện khá rõ Trong điều kiện của cuộc đấu tranh cách mạng lúc đó không có khái niệm thoả hiệp, mà cần phải kiên định cách mạng Nhưng khi chuyển sang thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội, theo Lênin: “đã đến lúc toàn bộ quan niệm của chúng ta về chủ nghĩa xã hội phải thay đổi” [10, tr.25], cần phải tranh thủ tối đa các lực lượng và các thành phần

xã hội, tạm gạt sang bên những bất đồng, những chính kiến khác nhau Chính sách kinh tế mới (NEP) là sự thể hiện sinh động tư tưởng đó Lênin khẳng định, cần phải học tập chủ nghĩa tư bản trong cách làm ăn kinh tế, tranh thủ tầng lớp trí thức không cộng sản Ở đây, rõ ràng khoan dung vẫn được dựa trên cơ sở của những nguyên tắc nhất định, đó là khoan dung những vẫn không xa rời định hướng chủ nghĩa xã hội, khoan dung phải thể hiện lập trường giai cấp, lập trường cách mạng, nhằm hướng tới lợi ích chung cho toàn xã hội

Tóm lại, qua khái lược lịch sử phát triển tư tưởng khoan dung trong triết học phương Đông và phương Tây, có thể khẳng định, điểm chung nhất của tư tưởng khoan dung là tôn trọng sự bình đẳng về phẩm chất, đạo đức, văn hoá và chấp nhận sự khác nhau về niềm tin, tín ngưỡng, tôn giáo, văn hóa tạo nên sự thống nhất phong phú đa dạng của từng cá nhân và từng cộng đồng, từng quốc gia

Vì vậy, mọi người được tham gia vào đời sống cộng đồng về mọi mặt, không có sự

áp đặt và kỳ thị Đây là một trình độ mới của tư tưởng khoan dung mang tính nhân văn sâu sắc mà mục tiêu nó hướng đến là nền hoà bình thực sự vì sự tiến bộ, phát triển bình đẳng

Trước những đổi thay của xu thế toàn cầu hoá hiện nay, khi các nước ngày càng gắn bó, phụ thuộc lẫn nhau, bên cạnh sự đụng độ về kinh tế và về chính trị, sự đụng độ về văn hoá và văn minh đã và đang xảy ra thì khoan dung là một thuật ngữ thường xuyên được nhắc đến trong quan hệ giữa các khu vực và các dân tộc Để vạch rõ nội hàm của khái niệm khoan dung, tìm ra một khuôn mẫu cho thế giới hiện đại của thế kỷ XIX, UNESCO trong bản Tuyên ngôn những nguyên lý về

Trang 36

khoan dung đã xác định bốn khía cạnh chủ yếu của tư tưởng khoan dung có tác động tích cực đến việc xây dựng xã hội hoà bình Theo UNESCO, khoan dung là sự tôn tro ̣ng và đánh giá cao sự đa da ̣ng phong phú của nền văn hoá , tôn giáo, cá nhân trong thế giới chúng ta, các hình thức biểu hiện và cách thức tồn tại của con người Khoan dung không chỉ thuộc về phạm trù đạo đức mà còn là nền tảng của dân chủ và nhân quyền; Khoan dung không phải là sự nhượng bộ, sự hạ mình hay chấp nhận đặc ân Khoan dung trên tất cả, là thái độ tích cực, sự nhìn nhận, tôn trọng quyền con người và quyền tự do cơ bản của con người; Khoan dung là trách nhiệm, là sự duy trì quyền con người, chế độ dân chủ và luật lệ, bác bỏ chủ nghĩa giáo điều,…; Khoan dung còn có nghĩa là mỗi người được tự do trong nhận thức,

họ có quyền sống trong hòa bình và tương lại như họ muốn,…

Như vâ ̣y nội hàm khoan dung của UNESCO đã khẳng định sự thiết lập tinh thần khoan dung bao hàm cả việc xây dựng những điều kiện văn hóa , xã hội, chính trị và kinh tế Rõ ràng, khoan dung không chỉ thừa nhâ ̣n các quyền tự do cơ bản của con người mà còn là sự tôn trọng , thừa nhận và biết đánh giá tính phong phú, sự đa dạng, tìm ra sự tương đồng trong khác biệt Nó không chỉ là một nghĩa

vụ đơn thuần trong lĩnh vực đạo đức, mà là yêu cầu ngay trong chính những thiết chế chính trị, quy phạm pháp luật, trong tín ngưỡng tôn giáo, trong văn hóa nhằm hướng tới mục tiêu đảm bảo vững chắc cho nền hoà bình của thế giới , thúc đẩy tiến bô ̣ xã hô ̣i

1.2 Những tiền đề cho sự hình thành và phát triển tư tưởng khoan dung Hồ Chí Minh

1.2.1 Tư tưởng khoan dung trong truyền thống Việt Nam – Cội nguồn

tư tưởng khoan dung Hồ Chí Minh

Tư tưởng khoan dung Hồ Chí Minh là sự kế thừa, phát triển tinh thần khoan dung của dân tộc Việt Nam nhờ tiếp biến các giá trị mới của tư tưởng khoan dung của nhân loại Người nói: “Dân tộc ta là một dân tộc giàu lòng đồng tình và bắc ái” và chính Người là biểu tượng, là tinh hoa của tư tưởng khoan dung Việt Nam Trước khi ra đi tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã mang trong mình truyền thống khoan dung Á Đông, truyền thống khoan dung của văn hoá Việt Nam – cái truyền thống mà ngay từ thuở ấu thơ, Nguyễn Sinh Cung đã

Trang 37

tiếp thu được từ gia đình, quê hương và dân tộc Truyền thống ấy được thể hiện qua các câu hát, lời ru thấm đượm tình yêu thương con người, trân trọng sự sống Mười một tuổi, Hồ Chí Minh đã mồ côi mẹ, lúc này cha Nguyễn Sinh Sắc thì vắng nhà Toàn bộ việc mai táng của thân mẫu đều được những người láng giềng tốt bụng giúp đỡ Hằng ngày, Người phải bế em là Nguyễn Sinh Xim mới đầy một tuổi đi bú nhờ hàng xóm.,… Những nỗi đau đớn, cô đơn, tang tóc vất vả từ thuở nhỏ, chiến tranh, loạn lạc, mất mát, đau thương, ly tán cùng với sự đùm bọc thương yêu của bà con lối xóm, … đã tạo dựng trong tư tưởng của Người về nỗi đau và tình yêu thương con người, nhất là những người cùng cảnh ngộ Có thể coi đây là “ngọn nguồn của lòng thương yêu tôn quý con người, ngọn nguồn của những xúc cảm về nổi đau của con người và là nguồn gốc sâu xa của tinh thần khoan dung, nhân ái trong tư tưởng Hồ Chí Minh [10, tr.32] Chính từ thực tiễn cuộc sống đã giúp Người hiểu được ý nghĩa sâu xa của những cụm từ “Tình gia tộc”, “Nghĩa đồng bào” Tình cảm sâu nặng với gia đình, quê hương trong tư tưởng của Người ngày càng phát triển và mở rộng thành tình yêu Tổ quốc và rộng hơn là tình yêu con người, yêu nhân loại Văn hóa khoan dung, nhân đạo làm cho Hồ Chí Minh trở nên gần gũi và thân thiết với nhân dân lao động các nước, điều này đã lý giải tại sao Hồ Chí Minh luôn có những người bạn thân thiết, chân tình ở khắp nơi trên thế giới

Bên cạnh đó, vốn xuất thân trong một gia đình có truyền thống hiếu học, với tư chất thông minh, Người đã sớm tiếp thu tinh thần nhân văn của Nho giáo qua các người thầy vốn là những nhà Nho yêu nước Tuy nhiên, Nho giáo thấm thấu vào Hồ Chí Minh không phải là những giáo điều “tam cương”, “ngũ thường” nhằm bảo vệ tôn ti trật tự phong kiến, mà là thứ nho giáo đã được Việt Nam hoá, khoan dung đó là tinh thần “nhân nghĩa”, đạo “tu thân”, lễ nghĩa, ôn hoà, nhân ái,…cùng với tinh thần đấu tranh bất khuất của các phong trào chống Pháp nổ ra lúc bấy giờ, tấm gương của các sĩ phu yêu nước đóng vai trò như là

cơ sở cho việc hình thành trong Người lòng yêu nước và tư tưởng khoan dung, nhân ái, cốt tủy của tinh thần Hồ Chí Minh

Xuất phát từ hoàn cảnh và điều kiện địa lý nước ta thuộc khu vực Đông Nam Á và nằm ở “ngã tư đường” , Viê ̣t Nam là nơi giao lưu văn hoá của nhiều

Trang 38

nền văn hoá trong khu vực Đây là điều kiê ̣n thúc đẩy quá trình làm phong phú thêm cho bản sắc văn hoá dân tô ̣c Về đă ̣c điểm khí hậu, Viê ̣t Nam là nước có khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều với các con sông lớn và các đồng bằng châu thổ trù phú, phì nhiêu Đặc trưng đó quy định loại hình sản xuất chủ yếu của người dân nơi đây là nông nghiệp, cụ thể là nghề trồng lúa nước và xã hội được tổ chức theo kiểu làng xã với tính chất hợp quần cao Như đã nói trên, loại hình sản xuất này cùng điều kiện sống quy định các phương diện của văn hóa Việt Nam Nghề trồng trọt buộc người dân phải sống định cư và phụ thuộc nhiều vào tự nhiên sinh

ra tâm lý tôn trọng , hòa hợp và thích nghi với tự nhiên Đây chính là những nấc thang tiến đến sự ra đời tư tưởng khoan hòa với tự nhiên Mặt khác, xuất phát từ điều kiện lịch sử của dân tộc, một đất nước luôn phải chống thiên tại, địch hoạ

mà khoan dung từ rất sớm đã trở thành một trong những đức tính tốt đẹp trong truyền thống dân tộc Việt Nam trong quá trình dựng nước và giữ nước Vì vậy, khoan dung đã trở thành quy tắc ứng xử của dân tộc trong quan hệ với chính mình và với các dân tộc khác Ở buổi đầu lịch sử, đạo nghĩa khoan dung đã thể hiện rõ nét trong triết lý dân gian cũng như trong hệ thống ứng xử của người Việt Đặc biệt, từ buổi đầu lập quốc, dân tộc Việt Nam phải liên tục đứng lên đấu tranh bảo vệ tổ quốc trước sự xâm lược của những kẻ thù hùng mạnh, tàn bạo Sức mạnh của dân tộc không chỉ ở tinh thần yêu nước, ở ý chí quyết chiến, quyết thắng mà còn ở khía cạnh yêu chuộng, tha thiết hòa bình, ở tinh thần nhân ái khoan dung với đồng loại Như vậy, có thể khẳng định rằng, chính địa lý, điều kiện lịch sử đã làm cho đạo nghĩa khoan dung sớm trở thành một trong những giá trị văn hoá tinh thần cốt lõi của truyền thống dân tộc Việt Nam Truyền thống này được biểu hiện trên mọi phương diện của đời sống xã hội

Trong các sinh hoạt cộng đồng, vì sự sinh tồn của dân tộc, trong đấu tranh chống xâm lược cũng như trong lao động sản xuất, đứng trước những điều kiện thuận lợi và những khó khăn,… khoan dung của người Việt Nam luôn luôn được thực hiện với phương chân “Thương người như thể thương thân”, “lá lành đùm lá rách” hay “bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn” Với tấm lòng rộng mở, người Việt Nam sẵn sàng giúp đỡ đùm bọc lẫn nhau, cố kết và chia sẻ với nhau, “ một miếng khi đói bằng một gói khi

Trang 39

no”,…Điều đặc biệt là truyền thống này được nâng lên thành triết lý nhân sinh của dân tộc, đó là đoàn kết tạo nên sức mạnh “một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hoàn núi cao”

Người Việt Nam thấu hiểu hơn ai hết chiến tranh, mất mát, đau thương,…vì vậy, người Việt Nam có truyền thống giàu lòng yêu thương con người, giàu lòng khoan dung với kẻ thù và truyền thống ngoại giao giữ hoà khí, sống trọng tình nghĩa, tránh đối đầu, tránh chiến tranh, luôn muốn giữ hoà hiếu Ngay từ xưa, vì muốn giữ hiếu hoà mà An Dương Vương đã mắc mưu khi gả con gái của mình là Mỵ Châu cho Trọng Thuỷ Đến nhà Lý, sau khi đánh cho giặc Tống đại bại trên phòng tuyến Sông Cầu, Lý Thường Kiệt đã chủ động điều đình

để mở lối thoát cho địch trong danh dự,…và nếu có chiến tranh cũng chỉ nhằm tới mục đích cuối cùng là giành lại cuộc sống bình yên

Nằm ở cửa ngõ của sự giao lưu văn hóa từ Đông sang Tây, từ Bắc xuống Nam, Việt Nam ngay từ khi lập nước đã mở rộng đón nhận ảnh hưởng của các nền văn hóa khu vực: Đông Nam Á, Ấn Độ, Trung Hoa, và sau này là văn hóa phương Tây Chính vì thế, đã tạo nên một Việt Nam là một quốc gia với nhiều tín ngưỡng

và tôn giáo khác nhau, bao gồm tín ngưỡng tôn giáo bản địa và những tín ngưỡng tôn giáo được du nhập từ bên ngoài Sự dung nạp, chấp nhận cùng chung sống, cùng tồn tại của các sắc tộc, các giai tầng, các tôn giáo khác nhau trong xã hội Việt Nam là thể hiện của tinh thần khoan dung sâu sắc Các học thuyết, tôn giáo như Nho, Phật, Lão, Thiên chúa giáo khi du nhập vào Việt Nam đều có sự khúc xạ mạnh mẽ qua văn hóa Việt Nam Những nhân tố yếu tố tích cực trong tư tưởng khoan dung của các học thuyết, tôn giáo đó đều được nhân dân ta khai thác, bổ sung cho phù hợp với con người Việt Nam Nho giáo cần cho sự tu thân, trị nước Phật là chỗ dựa cho đời sống tâm linh của con người Đạo Lão kêu gọi con người sống hài hòa với tự nhiên Chúa Giêsu đề cao lòng bác ái…Chính việc kết hợp hài hòa giữa văn hóa Đông – Tây mà con người Việt Nam đã đạt tới sự kết hợp hài hòa giữa con người với thiên nhiên, cá nhân với cộng đồng, gia đình với tổ quốc, đạo với đời,…Đó cũng chính là cơ sở hình thành nên truyền thống khoan dung Việt Nam, cội nguồn tư tưởng khoan dung Hồ Chí Minh

Trang 40

Như vậy, Hồ Chí Minh được sinh ra và được dưỡng dục trong môi trường văn hóa gia đình giàu long yêu nước, nhân ái, sống có tình, có nghĩa, lại được kế thừa những giá trị tốt đẹp từ truyền thống khoan dung của dân tộc, đó chính là nền tảng cơ bản để Hồ Chí Minh tiếp nhận những giá trị của tinh thần khoan dung của cả Đông – Tây – Kim – Cổ, hình thành tư tưởng khoan dung ở Người Giáo sư Đặng Xuân Kỳ viết: “Những đặc trưng cơ bản nhất thu được từ tinh hoa của nhân loại đã góp phần quan trọng vào việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh trong sự nghiệp cách mạng ở Việt Nam Nhưng trước hết phải nói rằng, những tinh hoa ấy chỉ có sức sống và phát huy tác dụng khi gắn liền với truyền thống Việt Nam, với di sản tinh thần của dân tộc qua hàng ngàn năm” [39, tr.138] Đây

là nhận xét giúp chúng ta có cở sở xác đáng để lý giải về nguồn gốc hình thành

và những yếu tố chi phối đặc điểm của tư tưởng, tư duy Hồ Chí Minh, đồng thời, cũng chỉ rõ cội nguồn tư tưởng khoan dung ở Người

1.2.2 Sự tiếp biến tư tưởng khoan dung Đông – Tây trên cơ sở tinh thần dân tộc của Hồ Chí Minh

Phải khẳng định rằng, Hồ Chí Minh tạo nên văn hoá khoan dung của mình cốt lõi là từ truyền thống dân tộc, song lại trên cơ sở tiếp biến, dung hoà với những tinh tuý trong văn hoá Đông – Tây – Kim – Cổ Trước hết, Hồ Chí Minh

đã tiếp thu và chịu ảnh hưởng từ truyền thống khoan dung phương Đông, mà cụ thể là tinh thần khoan dung, tinh thần nhân văn của Nho giáo, Phật giáo Vốn sinh ra trong gia đình nhà nho, Hồ Chí Minh là người am hiểu sâu sắc Khổng giáo và chịu ảnh hưởng rất lớn từ tư tưởng khoan dung của Nho giáo Người đã nhận thức được những mặt tích cực trong tư tưởng nhân nghĩa, yêu thương dân, làm cho dân yên bình, Kiêm ái, thế giới đại đồng của Nho giáo Hồ Chí Minh đã nhận thức sâu sắc và tiếp nhận tư tưởng khoan dung, lòng nhân ái trong giáo lý Phật giáo

Về mặt lịch sử, Phật giáo được du nhập vào Việt Nam từ rất sớm, từ những năm đầu công nguyên Trước khi Phật giáo vào Việt Nam thì người Việt

đã có tín ngưỡng bản địa, thể hiện qua những tập tục như thờ phụng tổ tiên, lệ cúng bái thổ công, cầu khấn thành hoàng,…Tuy nhiên, những tín ngưỡng bản địa

đó không thoả mãn nhu cầu phát triển nhận thức của con người Càng phát triển,

Ngày đăng: 24/03/2015, 09:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoàng Anh – Nguyễn Duy Bắc – Phạm Văn Thủy (2010), Phát triển văn hóa và con người Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển văn hóa và con người Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Tác giả: Hoàng Anh – Nguyễn Duy Bắc – Phạm Văn Thủy
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2010
2. Phạm Ngọc Anh (2009), Hồ Chí Minh văn hóa và phát triển, Nxb Chính trị - Hành chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh văn hóa và phát triển
Tác giả: Phạm Ngọc Anh
Nhà XB: Nxb Chính trị - Hành chính
Năm: 2009
3. Ngô Phương Bá (1993), “Tư tưởng bao dung hòa hợp của Chủ tịch Hồ Chí Minh”, Tạp chí cộng sản (9), tr. 9 – 14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng bao dung hòa hợp của Chủ tịch Hồ Chí Minh”", Tạp chí cộng sản
Tác giả: Ngô Phương Bá
Năm: 1993
4. Ngô Phương Bá (sưu tầm và giới thiệu 1995), “Khoan dung Hồ Chí Minh”, Tạp chí Xưa & Nay (7), tr. 6 – 7, 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoan dung Hồ Chí Minh”," Tạp chí Xưa & Nay
5. Hoàng Chí Bảo (2010), Văn hóa và con người Việt Nam trong đổi mới và hội nhập quốc tế, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa và con người Việt Nam trong đổi mới và hội nhập quốc tế
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2010
6. P.V. Bavat (2002, người dịch Nguyễn Đức Tư, Hữu Song ), 2500 năm Phật giáo, Nxb, Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 2500 năm Phật giáo
7. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2011), Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2011
8. Nguyễn Văn Công (2001), “Suy nghĩ về tư tưởng khoan dung của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong hai bức thư gửi đồng bào theo Phật giáo va Công giáo”, Tập san Khoa học xã hội và Nhân văn TP. Hồ Chí Minh (8), tr. 10-13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Suy nghĩ về tư tưởng khoan dung của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong hai bức thư gửi đồng bào theo Phật giáo va Công giáo”, "Tập san Khoa học xã hội và Nhân văn TP. Hồ Chí Minh
Tác giả: Nguyễn Văn Công
Năm: 2001
9. Nguyễn Văn Công (2009), “Giá trị tư tưởng khoan dung Hồ Chí Minh với sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Khoa học Chính trị (5), tr. 7 – 13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị tư tưởng khoan dung Hồ Chí Minh với sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay”," Tạp chí Khoa học Chính trị
Tác giả: Nguyễn Văn Công
Năm: 2009
10. Nguyễn Văn Công (2009), Tư tưởng khoan dung Hồ Chí Minh, Luận án Tiến sĩ triết học Đại học KHXH và Nhân văn TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng khoan dung Hồ Chí Minh
Tác giả: Nguyễn Văn Công
Năm: 2009
11. Kim Cương Tử ( 1994 chủ biên), Từ điển Phật học Hán - Việt, tập 2, Nxb, Phân viện Nghiên cứu Phật học. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Phật học Hán - Việt
12. Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguyễn Văn Huyên (chủ biên – 2002), Giá trị truyền thống trước những thách thức, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị truyền thống trước những thách thức
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương khoá VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương khoá VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1998
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương khoá X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương khoá X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2006
16. Phạm Văn Đồng (1991), Hồ Chí Minh – quá khứ, hiện tại và tương lai, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh – quá khứ, hiện tại và tương lai
Tác giả: Phạm Văn Đồng
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1991
17. Phạm Văn Đồng (2012), Hồ Chí Minh tinh hoa và khí phách dân tộc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh tinh hoa và khí phách dân tộc
Tác giả: Phạm Văn Đồng
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2012
18. Phạm Hoàng Điệp (2010), Chủ tịch Hồ Chí Minh với nước Pháp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ tịch Hồ Chí Minh với nước Pháp
Tác giả: Phạm Hoàng Điệp
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2010
19. Định Xuân Dũng (2011), Phát triển Văn hóa trong thời kỳ đổi mới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển Văn hóa trong thời kỳ đổi mới
Tác giả: Định Xuân Dũng
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2011
20. Võ Nguyên Giáp (1997, chủ biên), Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
21. Trần Văn Giàu (2009), Vĩ đại một con người, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vĩ đại một con người
Tác giả: Trần Văn Giàu
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2009

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w