1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐỒ án môn HỌC PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH tế

49 2,8K 16

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 49
Dung lượng 724 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích, ý nghĩa của hoạt động phân tích hoạt động kinh tế trong doanh nghiệp vận tải biển Phân tích hoạt động kinh tế trong doanh nghiệp vân tải biển là phân chiaphân giải quá trình và

Trang 1

Lời mở đầu

Trong nền kinh tế thị trường hiện nay kinh doanh như thế nào để đạt đượchiệu quả kinh tế cao luôn là một vấn đề đặt ra cho bất cứ một nhà quản lýdoanh nghiệp nào Không một doanh nghiệp nào lại muốn mình tồn tại trongtrạng thái thua lỗ và nguy cơ phá sản Để thoát khỏi tình trạng này, thu đượcnhiều lợi nhuận trong kinh doanh, doanh nghiệp phải nắm bắt và điều chỉnhđược mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của mình trên tất cả các phương diện:nguồn nhân lực, tài nguyên, kết quả thu chi để từ đó có những quyết định đúngđắn, kịp thời

Mục đích của hoạt động sản xuất kinh doanh là phải đạt được hiệu quả caonhất Muốn vậy nhà quản lý phải thường xuyên điều tra, tính toán, cân nhắc,soạn thảo và đưa ra một phương án tối ưu Cơ sở quan trọng để tìm ra phương

án tối ưu là việc đánh giá thường xuyên kết quả cuả quá trình hoạt động sản xuấtkinh doanh tìm ra nguyên nhân gây ảnh hưởng, rút ra các thiếu sót còn tồn tại,vách ra những tiềm năng chưa được sử dụng, đề ra các biện pháp khắc phục kịpthời để không ngừng nâng cao hiệu quả trong sản xuất kinh doanh

Để làm được điều đó, cần phân tích để thấy được tình hình sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp, tìm ra những nguyên nhân chủ quan, khách quan,nguyên nhân tích cực, tiêu cực, để thấy được những khó khăn, khả năng và tiềmnăng của doanh nghiệp và từ đó có những biện pháp đầu tư thích hợp

Trang 2

Phần I

Lý luận chung về phân tích hoạt động kinh tế

1 Mục đích, ý nghĩa của hoạt động phân tích hoạt động kinh tế trong doanh nghiệp vận tải biển

Phân tích hoạt động kinh tế trong doanh nghiệp vân tải biển là phân chiaphân giải quá trình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong các doanhnghiệp vận tải biển, qua đó mà nhận thức và phát hiện những tiềm năng củadoanh nghiệp, đồng thời đề xuất các biện pháp nhằm khai thác một cách triệt để

và có hiệu quả những tiềm năng ấy

1.1.Mục đích

Mục đích chung của những người làm phân tích thường bao gồm:

+Đánh giá kết quả hoạt động kinh tế, kết quả của việc thực hiện các nhiệm vụđược giao, đánh giá việc chấp hành các chế độ, chính sách của Nhà nước

+Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu phân tích,tính toán mức độ ảnhhưởng của chúng Xác định nguyên nhân dẫn đến sự biến động các nhân tố làmảnh hưởng trực tiếp đến mức độ và xu hướng của hiện tượng kinh tế

+Phân tích các nhân tố,các nguyên nhân ảnh hưởng đến các chỉ tiêu kinh tếvàquá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.Qua đó mà xác định tiềm năng,năng lực của doanh nghiệp đối với nội dung phân tích

+Đề xuất các biện pháp và phương hướng sẽ áp dung ở doanh nghiệp trong thờigian tới để khai thác triệt để và hiệu quả tiềm năng của doanh nghiệp

+ Làm cơ sở cho việc hoạch định chiến lược phát triển,các kế hoạch sản xuấtkinh doanh và xây dựng các chỉ tiêu kinh tế ở doanh nghiệp

Trang 3

1.2.Ý nghĩa

Phân tích hoạt động kinh tế đóng vai trò là công cụ của nhận thức và do

đó nó có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với cá nhân người quản lý doanhnghiệp và đối với toàn bộ quá trình và kết quả sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp Để có được hoạt động sản xuất hiệu quả và liên tục thì người quản lýdoanh nghiệp phải đưa ra được quyết định kịp thời và thích hợp Muốn vậyngười quản lý phải có nhận thức đúng đắn, khoa học.Muốn có nhận thức phảiphân tích tầm quan trọng của phân tích hoạt động kinh tế, tuỳ thuộc vào yêu cầucủa thực tiễn và nguồn lực dành cho công tác phân tích

1.3.Đối tượng của phân tích hoạt động kinh tế

Phân tích hoạt động kinh tế của doanh nghiệp là các quá trình và kết quảsản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được biểu hiện thông qua các chỉ tiêukinh tế dưới sự tác động của các nhân tố ảnh hưởng

Chỉ tiêu kinh tế của doanh nghiệp

Là khái niệm dùng để chỉ các đặc điểm về kinh tế của doanh nghiệp trongkhông gian và thời gian nhất định.Để phản ánh quá trình và kết quả sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp và các bộ phận của nó thì người ta sử dụng rấtnhiều các chỉ tiêu kinh tế.Trong đó có các chỉ tiêu phản ánh về quy mô của cácyếu tố, các điều kiện của sản xuất; có những chỉ tiêu lại phản ánh kết quả vàhiệu quả của quá trình sản xuất kinh doanh; có những chỉ tiêu phản ánh điềukiện và kết quả ở phạm vi toàn doanh nghiệp; có những chi tiêu chỉ phản ánhđiều kiện và kết quả của một bộ phận của doanh nghiệp; có những chỉ tiêu phảnánh điều kiện và kết quả của một chu kỳ sản xuất kinh doanh ở doanh nghiệpcũng có thể là điều kiện và kết quả của một giai đoạn nhất định trong chu kỳ đó

Nhân tố

Trang 4

Nhân tố hay thành phần bộ phận là khái niệm dùng để chỉ cái nhỏ hơn chỉtiêu, cấu thành chỉ tiêu.Nhân tố là những yếu tố bên trong của hiện tượng và quátrình mà mỗi biến động của nó tác động trực tiếp đến độ lớn, tính chất, xu hướng

và mức độ xác định của chỉ tiêu phân tích.Trong quá trình phân tích hoạt độngkinh tế doanh nghiệp, khi phân tích về các chỉ tiêu kinh tế thì đầu tiên là phảixác định được các thành phần bộ phận cấu thành chỉ tiêu phân tích.Sau khi tínhtoán người ta thay thế việc phân tích chỉ tiêu bằng việc phân tích các thành phần

bộ phận nhân tố

 Nguyên nhân

Nguyên nhân là cái nhỏ hơn nhân tố, cấu thành và ảnh hưởng trực tiếp tớinhân tố.Trong phân tích người ta thay việc phân tích các nhân tố bằng việc phântích các nguyên nhân.Vì vậy nguyên nhân đóng vai trò vô cùng quan trọng trongphân tích.Trong quá trình phân tích người ta thường tìm tới các nguyên nhânnguyên thuỷ.Đó là các nguyên nhân mà không thể hoặc không nhất thiết phảichia nhỏ hơn nữa.ở đó thường phản ánh một hành động hoặc một nhóm cáchành động cá biệt thường gắn với một chủ thể hành động, một phương thứchành động hay một xu hướng tác động độc lập trong điều kiện về không gian

và thời gian xác định

1.4 Nguyên tắc

- Phân tích bao giờ cũng bắt đầu từ việc phân tích chung rồi mới phân tíchchi tiết cụ thể

- Phân tích phải đảm bảo tính khách quan

- Phân tích phải đảm bảo toàn diên, sâu sắc triệt để

- Phân tích phải đặt hiện tượng trong trạng thái vận động không ngừng

- Cần phải linh hoạt lựa chọn các phương pháp phân tích

Trang 5

2 Các phương pháp phân tích

2.1 Các phương pháp chi tiết

2.1.1 Phương pháp chi tiết theo thời gian

Theo phương pháp này các chỉ tiêu phân tích về quá trình SXKD của doanhnghiệp trong một thời kỳ dài sẽ được chia nhỏ thành kết quả của các giai đoạntrong thời kỳ ấy

Khi sử dụng phương pháp này cần phân tích mục đích chung của phân tíchhoạt động kinh tế và nó còn có mục đích riêng cụ thể:

- Đánh giá chung tình hình thực hiện chỉ tiêu theo thời gian

- Xác định các nhân tố và nguyên nhân gây ảnh hưởng đối với từng giaiđoạn thực hiện chỉ tiêu

- Đề xuất các biện pháp nhằm khai thác triệt để tiềm năng của doanhnghiệp

2.1.2 Phương pháp chi tiết theo các bộ phận cấu thành

Chi tiết theo bộ phận cấu thành giúp ta biết được quan hệ cấu thành của cáchiện tượng và kết quả kinh tế, nhận thức được bản chất của các chỉ tiêu kinh tế,

từ đó giúp cho việc đánh giá kết quả của doanh nghiệp được chính xác, cụ thể vàxác định được nguyên nhân cũng như trong điểm của công tác quản lý

2.2 Phương pháp so sánh

Là phương pháp được sử dụng phổ biến trong phân tích nhằm xác định vịtrí và xu hướng biến động của hiện tượng, đánh giá kết quả

2.2.1 Phương pháp so sánh bằng số tuyệt đối

Phương pháp so sánh tuyệt đối được thực hiện bằng cách lấy trị số của chỉtiêu ở kỳ nghiên cứu trừ đi trị số của chỉ tiêu của kỳ gốc.Kết quả được gọi là

Trang 6

chênh lệch tuyệt đối của nhân tố đó, chênh lệch nàycho biết quy mô, khối lượngcủa hiện tượng nghiên cứu đạt vượt hoặc hụt giữa hai kỳ.

2.2.2.Phương pháp so sánh bằng số tương đối

Phương pháp so sánh bằng số tương đối cho ta thấy xu hướng biến động,tốc độ phát triển, kết cấu của tổng thể, mức độ phổ biến của hiện tượng

Trong bài phân tích này ta sử dụng các phương pháp so sánh bằng số tươngđối:

- So sánh theo số tương đối động thái.

Dùng để biểu hiện xu hướng biến động, tốc độ phát triển của hiện tượng theothời gian

t =y 1 /y 0

- So sánh theo số tương đối kết cấu.

Dùng để xác định tỷ trọng của bộ phận so với tổng thể:

D=y bq 100/y tt (%)

2.3 Phương pháp phân tích theo các bộ phận cấu thành

Chi tiết theo các bộ phận cấu thành giúp ta biết được quan hệ cấu thành củacác hiện tượng và kết quả kinh tế, nhận thức được bản chất của các chỉ tiêu kinh

tế, từ đó giúp cho việc đánh giá kết quả của doanh nghiệp được chính xác, cụ thể

và xác định được nguyên nhân cũng như trọng điểm của công tác quản lý

Ảnh hưởng tuyệt đối bao giờ cũng có đơn vị tính là đơn vị của chỉ tiêuphân tích Nó được tính bằng nhiều phương pháp tuỳ thuộc vào mối quan hệ cấuthành giữa nhân tố và chỉ tiêu phân tích

Trang 7

Ảnh hưởng tương đối trong mọi trường hợp đều được tính bằng cách lấymức độ ảnh hưỏng tuyệt đối của thành phần bộ phận nhân tố cần tính chia trị số

kỳ gốc của chỉ tiêu phân tích nhân với 100%

2.3.1.Phương pháp thay thế liên hoàn

Phương pháp này được vận dụng trong trường hợp các nhân tố có mối quan

hệ tích, thương số hoặc kết hợp cả tích và thương

2.3.1.1.Trình tự và nội dung

- Phải xác định được số lượng các nhân tố ảnh hưởng, mối quan hệ của

chúng với chỉ tiêu nghiên cứu từ đó xác định công thức của chỉ tiêu đó

- Cần sắp xếp các nhân tố theo một trình tự nhất định, nhân tố số lượng

đứng trước, nhân tố chất lượng đứng sau Trong trường hợp có nhiều nhân tố sốlượng, chất lượng thì nhân tố chủ yếu xếp trước, nhân tố thứ yếu xếp sau hoặctheo mối quan hệ nhân quả không được đảo lộn trật tự này

- Tiến hành lần lượt thay thế từng nhân tố theo trình tự nói trên Nhân tố

nào được thay thế rồi thì lấy giá trị thực tế từ đó Nhân tố nào chưa được thaythế phải giữ nguyên giá trị ở kỳ gốc hoặc kỳ kế hoạch Thay thế xong một nhân

tố phải tính ra kết quả cụ thể của lần thay thế đó Sau đó lấy kết quả so với kếtquả của bước trước Chênh lệch tính được chính là kết quả do ảnh hưởng củanhân tố được thay thế

- Có bao nhiêu nhân tố thì thay thế bấy nhiêu lần Cuối cùng ảnh hưởng

tổng hợp của các nhân tố so với chênh lệch của chỉ tiêu nghiên cứu

* Ưu điểm của phương pháp này là: tính toán nhanh

* Nhược điểm của phương pháp này: sắp xếp chỉ tiêu khi xét ảnh hưởngcủa nhân tố nào thì chỉ có nhân tố đó thay đổi

2.3.1.2 Khái quát

Trang 8

+ Chỉ tiêu tổng thể: y

+ Chỉ tiêu cá biệt: a,b,c

+ Phương trình kinh tế: y=abc

Giá trị chỉ tiêu kỳ gốc: y0= a0b0c0

Giá trị chỉ tiêu kì nghiên cứu: y1= a1b1c1

+ Xác định đối tượng phân tích: y = y1 - y0 = a1b1c1 - a0b0c0

+ Xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến chỉ tiêu phân tích:

- Ảnh hưởng của nhân tố thứ nhất (a) đến y:

Ảnh hưởng tuyệt đối: ya = a1b0c0- a0b0c0

Ảnh hưởng tương đối: ya = (ya.100)/y0 (%)

- Ảnh hưởng của nhân tố thứ nhất (b) đến y:

Ảnh hưởng tuyệt đối: yb = a1b1c0- a1b0c0

Ảnh hưởng tương đối: yb = (yb.100)/y0 (%)

- Ảnh hưởng của nhân tố thứ nhất (c) đến y:

Ảnh hưởng tuyệt đối: yc = a1b1c1- a1b1c0

Ảnh hưởng tương đối: yc = (yc.100)/y0 (%)Tổng ảnh hưởng của các nhân tố:

ya + yb + yc = y

ya + yb + yc = y = (y.100)/y0 (%)

Trang 9

Phần II: Nội dung phân tích

Chương 1

Phân tích tình hình thực hiện chỉ tiêu sản lượng theo các

chỉ tiêu khai thác và sử dụng phương tiện.

1 Mục đích, ý nghĩa:

Phương tiện vận chuyển của doanh nghiệp là cơ sở vật chất chủ yếu của doanh nghiệp Hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phụ thuộc vào hiệu quả sử dụng các phương tiện vận chuyển Ta tiến hành phân tích tình hình

sử dụng phương tiện vận chuyển nhằm tìm ra nguyên nhân gây biến động các trị

số của các chỉ tiêu khai thác sử dụng phương tiện từ đó dẫn đến biến động sản lượng

Phương trình kinh tế:

Trong đó: Ql : tổng sản lượng luân chuyển trong kì (T.Km)

: Số tàu có bình quân (chiếc)

Tcl: thời gian công lịch Tcl = 365 (ngày) : hệ số vận doanh bình quân

: hệ số vận hành bình quân

: tốc độ khai thác bình quân (Km/ngày) : hệ số lợi dụng quãng đường có hàng bình quân : trọng tải thực chở bình quân (TTT/chiếc)

: hệ số lợi dụng trọng tải bình quân (T/TTT)

Trang 10

2 Phân tích:

1 Lập bảng phân tích tình hình thực hiện chỉ tiêu sản lượng theo các chỉ tiêu khai thác và sử dụng phương tiện:

- Bước 1: Xác định chỉ tiêu phân tích: tổng khối lượng hàng hóa luân chuyển

- Bước 2: Xác định các nhân tố ảnh hưởng:

+ Hệ số lợi dụng trọng tải bình quân:

- Bước 3: Xác định phương trình kinh tế:

1.1 Đánh giá chung

Qua bảng số liệu phân tích tình hình thực hiện chỉ tiêu sản lượng theo các chỉtiêu khai thác và sử dụng phương tiện: Ta thấy khối lượng luân chuyển kỳnghiên cứu là 2.191.205.201 (TKm), kỳ gốc là 2.335.782.237 (TKm), giảm so

Trang 11

với kỳ gốc một lượng là 144.577.036 (TKm) tương ứng giảm 6,19% Sự biếnđộng này là do sự thay đổi của các nhân tố.

Trong tất cả nhân tố thì nhân tố hệ số vận doanh bình quân, hệ số vận hànhbình quân, hệ số lợi dụng quãng đường có hàng bình quân, trọng tải thực chởbình quân là có biến động tăng, còn các nhân tố số tàu có bình quân, tốc độ khaithác bình quân, hệ số lợi dụng trong tải bình quân có biến động giảm Riêng thờigian công lịch không có gì thay đổi nên không ảnh hưởng đến khối lượng hàngluân chuyển trong kỳ Đồng thời ta có thể thấy số tàu có bình quân là nhân tốảnh hưởng làm giảm khối lượng luân chuyển nhiều nhất và nhân tố trọng tảithực chở bình quân có ảnh hưởng làm cho khối lượng hàng luân chuyển tăngnhiều nhất

Tuy trong kỳ có những nhân tố biến động tăng và có những nhân tố biếnđộng giảm, nhưng mức độ giảm lớn hơn mức độ tăng nên qua hai kỳ ta thấy sảnlượng có biến động giảm Để thấy rõ hơn mức độ biến động giữa hai kỳ ta tiếnhành phân tích chi tiết từng nhân tố

1.2 Phân tích chi tiết

1 Số tàu có bình quân:

Số tàu có bình quân trong kì là một chỉ tiêu quan trọng đối với doanhnghiệp vận chuyển, nó được xác định theo công thức sau:

(chiếc)

Trong đó:

: số tàu có loại i (chiếc)

Tc i:thời gian có mặt của tàu loại i (ngày)

Trang 12

Tcl: thời gian công lịch (ngày)

Từ bảng phân tích ta thấy số tàu có bình quân của công ty ở kỳ nghiêncứu là 10 chiếc, ở kỳ gốc là 11 chiếc, giảm 1 chiếc, đạt 90,91% so với kỳgốc làm cho tổng khối lượng hàng hóa luân chuyển giảm 212.343.840(TKm) hay giảm 9,09% so với kỳ gốc Đây là nhân tố có ảnh hưởng làm giảmtổng khối lượng hàng hóa luân chuyển ở kỳ nghiên cứu so với kỳ gốc là lớnnhất

Số tàu có bình quân giảm có thể do số tàu trong kỳ giảm hoặc do thời gian cómặt của con tàu trong kỳ giảm, điều đó có thể do một số nguyên nhân sau:

1 Doanh nghiệp thanh lý tàu cũ

2 Trong kỳ nghiên cứu công ty đã tiến hành cho thuê định hạn một số contàu

3 Doanh nghiệp góp vốn liên doanh với một công ty vận tải biển khác bằngtàu của mình

4 Trong kỳ nghiên cứu một tàu của công ty gặp sự cố đáng tiếc trongquá trình vận chuyển làm tàu bị chìm không thể cứu vớt nên được

Xét nguyên nhân số 1: Thực trạng chung của các doanh nghiệp vận tảibiển việt nam đó là hầu hết các tàu của họ đang khai thác đa phần là nhữngtàu già Doanh nghiệp mà ta đang khảo sát cũng không nằm ngoài số đó,

để đảm bảo việc khai thác an toàn và có hiệu quả doanh nghiệp quyết địnhthanh lý 2 chiếc tàu cũ của mình cho công ty phá dỡ gần đó Hai chiếc tàunày là những chiếc tàu doanh nghiệp mua từ lâu và có tuổi già, khi khaithác thì thường xuyên xảy ra sự cố hơn nữa 2 chiếc tàu này không còn phùhợp với các hàng hóa mà doanh nghiệp đang vận chuyển Đây là nguyên

Trang 13

nhân chủ quan tích cực với doanh nghiệp Giúp doanh nghiệp đảm bảo việckhai thác an toàn, hiệu quả và nâng cao uy tín của doanh nghiệp.

Xét nguyên nhân số 2: Trong kỳ nghiên cứu giá cước thuê tàu định hạntăng cao, hơn nữa doanh nghiệp có một số tàu khai thác không hiệu quảthường xuyên xảy ra tình trạng thu không bù được chi Nhận thấy khi trongtinh hình hiên nay cho thuê tàu định hạn doanh nghiệp sẽ có nhiều lợinhuận hơn Doanh nghiệp quyết định cho thuê những con tàu khai tháckhông hiệu quả ở trên Đây là nguyên nhân chủ quan mang tính tích cựcvới doanh nghiệp

Xét nguyên nhân số 3: Trong kỳ nghiên cứu doanh nghiệp quyết địnhgóp vốn liên doanh với một doanh nghiệp vận chuyển khác bằng tàu củamình Doanh nghiệp được góp vốn là một doanh nghiệp lớn, làm ăn rấthiệu quả và có uy tín cao trên thị trường Việc góp vốn này mang lại rấtnhiều lợi ích cho doanh nghiệp của ta đang xét, ngoài những lợi ích kinh tếmang lại nó còn giúp cho doanh nghiệp có cơ hội mở rộng thêm các mốiquan hệ nâng cao danh tiếng của công ty và doanh nghiệp sẽ có cơ hội cóthêm nhiều bạn hàng mới Hơn nữa các tàu này khi doanh nghiệp tiến hànhkhai thác mang lại hiệu quả không cao, vì vậy việc đem góp vốn này làviệc làm khôn ngoan của doanh nghiệp Đây là nguyên nhân chủ quan tíchcực với doanh nghiệp

Xét nguyên nhân số 4: Trong kỳ nghiên cứu khi đang trong hành trìnhvận chuyển hàng hóa của mình, 1 tàu của doanh nghiệp gặp phải một cơnbão lớn dù thuyền trưởng và các sĩ quan trên tàu đã cố gắng hết khả năngcủa mình, cho tàu chạy nhanh lên, ném bớt hàng hóa để giảm thiểu trọngtải cho con tàu để tàu có thể vượt qua cơn bão xong vì cơn bão quá lớn contàu đã bị chìm tại một khu vực có độ sâu lớn việc trục vớt này là không khả

Trang 14

thi vì chi phí quá lớn và điều kiện tự nhiên không cho phép Đây là nguyênnhân khách quan bất lợi đối với doanh nghiệp.

2 Hệ số vận doanh bình quân:

Hệ số vận doanh bình quân hay còn gọi là hệ số sử dụng thời gian tàu có bình quân là tỷ số giữa thời gian khai thác và thời gian tàu có mặt, được tính theo công thức sau:

i i

i i

c t

KT t vd

T D

Dti: Trọng tải thực chở của tàu thứ i (tấn)

TKTi: thời gian khai thác của tàu thứ i (ngày)

so với kỳ gốc Đây là nhân tố làm cho tổng khối lượng hàng hóa luân chuyểntăng ít nhất trong các nhân tố làm tổng khối lượng hàng hóa luân chuyển tăng

Sự biến động tăng này có thể do các nguyên nhân sau:

1 Do trong kỳ nghiên cứu trình độ thuyền viên đã được nâng lên đángkể

2 Doanh nghiệp đã bán một số tàu già làm ăn không hiệu quả vàthường xuyên bị bắt giữ đi

3 Điều kiện thời tiết ổn định

4 Trong kỳ doanh nghiệp không có con tàu nào phải lên đà sửa chữalớn

Trang 15

Xét nguyên nhân số 1: Trong kỳ nghiên cứu doanh nghiệp đã tiến hànhcho các thuyền viên, sĩ quan của mình tiến hành các buổi tập huấn, xử lý một sốtình huống giả định và phổ biến một số thay đổi mới trong quá trình khai thác.Nhờ đó trình độ của thuyền viên được cải thiện rõ rệt, việc khai thác có hiệu quả

và an toàn, không có sự cố nào đáng tiếc xảy ra trên các tàu của doanh nghiệp.Nhờ đó việc khai thác của các tàu được diễn ra liên tục từ đó làm tăng thời giankhai thác của tàu do hạn chế được các khoảng thời gian phải ngừng hoạt độngcủa tàu vì các sự cố gặp phải Đây là nguyên nhân chủ quan có lợi đối với doanhnghiệp

Xét nguyên nhân số 2: Trong kỳ gốc một số tàu già của công ty thườngxuyên bị bắt giữ tại các cảng lớn trên tuyến xa vì điều kiện kỹ thuật không đảmbảo, gây ô nhiễm môi trường, làm kéo dài thời gian tàu lưu giữ tại cảng và giảmthời gian khai thác Do đó, doanh nghiệp đã quyết định thanh lý một số tàu giànày và tập hợp nguồn vốn để đầu tư mua tàu mới nhằm khai thác hiệu quả hơn.Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực Giải pháp đưa ra là: Doanh nghiệp cần

bố trí các tàu hợp lý nhằm đáp ứng được các tuyến mà trước đây các tàu giàphục vụ trong khi chờ đưa tàu mới vào khai thác tuyến đó

Xét nguyên nhân số 3: Thời tiết là nhân tố quan trọng trong quá trình hànhhải.Tàu biển hoạt động trên các vùng biển khác nhau có điều kiện thời tiết, khíhậu khác nhau và các điều kiện thời tiết đó cũng thay đổi không ngừng Thời tiếttốt hay xấu có ảnh hưởng rất lớn đến thời gian vận doanh của tàu, tức là ảnhhưởng đến hệ số vận doanh Trong kì vừa qua, thời tiết nói chung là thuận lợihơn so với kì gốc Tàu hành hải thuận lợi giảm thời gian nằm chờ ở cảng, tăngthời gian khai thác từ đó giảm chi phí tại cảng giúp lợi nhuận của doanh nghiệptăng đáng kể Như vậy đây là nguyên nhân khách quan có tác động tích cực đốivới đội tàu của doanh nghiệp

Xét nguyên nhân số 4: Đây là nguyên nhân chính làm tăng hệ số vận doanhbình quân Thời gian sửa chữa là một trong những nhân tố ảnh hưởng lớn đếnthời gian khai thác của tàu Trong kỳ nghiên cứu, các tàu của doanh nghiệp

Trang 16

không phải lên đà để sửa chữa lớn, chỉ có một số tàu cần cạo hà để tăng tốc độkhai thác của tàu song thời gian này so với tổng thời gian khai thác là rất nhỏ.Hầu hết các tàu đã lên đà sửa chữa lớn ở kỳ gốc do đó kỳ nghiên cứu thời giankhai thác của tàu tăng lên đáng kể Đây là nguyên nhân chủ quan mang tính tíchcực Vì hầu hết thời gian của tàu trong năm đều dành để khai thác do đó doanhnghiệp cần tìm được nhiều nguồn hàng để tận dụng được tối đa thời gian khaithác của tàu Đồng thời do trong năm tàu không được lên đà để sửa chữa cũngnhư kiểm tra điều kiện kỹ thuật do đó phòng khai thác cần chỉ đạo cho cácthuyền trưởng, máy trưởng phải thường xuyên theo dõi, cập nhật tình trạng kỹthuật của tàu để nắm rõ nhằm khai thác tàu hợp lý.

Tchayi : thời gian chạy của tàu i trong năm (ngày)

Qua bảng phân tích ta thấy, hệ số vận hành bình quân kỳ gốc là 0,35, kỳ nghiên cứu là 0,36, tăng 0,01 hay bằng 102,86% so với kỳ gốc làm cho tổng khối lượng hàng hóa luân chuyển tăng 61.383.429 (TKm) hay giảm 2,63% so với kỳ gốc

Hệ số vận hành bình quân tăng có thể do một số nguyên nhân sau:

1 Năng suất xếp dỡ của các thiết bị ở cảng tăng

chay

i vh

T D

T

D

.

Trang 17

2 Do công tác làm thủ tục cho tàu ra vào cảng, quá trình cung ứng cho tàu của đại lý chuyên nghiệp, các thủ tục của cảng đã được giảiquyết nhanh hơn.

3 Do cơ cấu các loại hàng vận chuyển trên cùng một tàu là không giống nhau

4 Phòng khai thác bố trí tàu vào các tuyến vận tải hợp lý

Xét nguyên nhân số 1: Trong kỳ nghiên cứu các cảng mà tàu xếp dỡ có trang thiết bị cũ, năng suất chưa cao đã được cảng thay thế cải tiến, dẫn đến tốc

độ làm hàng cho tàu nhanh , giảm thời gian đỗ bến Nâng cao hiệu quả hoạt động cho các tàu của doanh nghiệp Đây là nguyên nhân khách quan tích cực với doanh nghiệp Giúp doanh nghiệp thực hiện được nhiều hợp đồng hơn, từ đólàm tăng doanh thu của doanh nghiệp

Xét nguyên nhân số 2: Trong kỳ nghiên cứu doanh nghiệp đã mở một số đại lý mới ở các tuyến vận tải xa Do đội ngũ nhân viên ở các đại lý này có kinh nghiệm nên công tác thông báo, làm thủ tục xin phép cho tàu ra vào cảng

chuyên nghiệp làm cho thời gian tàu đỗ ở các cảng này giảm xuống Đây là nguyên nhân chủ quan mang tính tích cực đối với doanh nghiệp Giúp doanh nghiệp giảm được các chi phí do việc tàu phải đỗ quá lâu tại cảng, thực hiên được các hợp đồng đúng hạn, tăng lợi nhuận và uy tín của doanh nghiệp

Xét nguyên nhân số 3: Loại tàu của doanh nghiệp chủ yếu là tàu chở hàngtổng hợp cho nên trong một chuyến đi tàu sẽ chở nhiều loại hàng với khối lượngkhác nhau Đồng thời,trong kỳ nền kinh tế trên tuyến nội địa cũng như khu vực gặp nhiều khó khăn cho nên nhu cầu vận chuyển của từng chủ hàng là không lớn Các đại lý của chủ tàu đã phải gom hàng từ nhiều chủ hàng có chung tuyến vận chuyển lại cho đủ một chuyến Do đó cơ cấu hàng hóa chở trên tàu là khôngđồng đều, có nhiều mặt hàng khác nhau và tùy từng mặt hàng mà có quy trình công nghệ xếp dỡ khác nhau vì vậy gây khó khăn trong công tác xếp dỡ hàng Việc phải bố trí nhiều loại thiết bị cũng như từng loại công cụ mang hàng khác

Trang 18

nhau làm tốn rất nhiều thời gian và nhân lực Đây là nguyên nhân vừa mang tínhchủ quan vừa mang tính khách quan và tiêu cực Giải pháp đưa ra là: doanh nghiệp cần đầu tư các tàu chuyên dụng, tổ chức công tác gom hàng từ nhiều chủ hàng và phân bổ hàng vận chuyển hợp lý sao cho các hàng vận chuyển trên cùngmột chuyến có quy trình và cơ cấu đưa vào xếp dỡ là tương tự nhau.

Xét nguyên nhân số 4: Trong kỳ nghiên cứu phòng khai thác của doanh nghiệp đã bố trí tàu vào tuyến vận tải hợp lý Đây là nguyên nhân chính làm cho

hệ số vận hành bình quân tăng Trong khi đó ở kỳ gốc có một số tàu bố trí khônghợp lý với tuyến đường vận chuyển làm cho các tàu này phải thực hiện việc chuyển tải, và đợi chờ lâu để vào cảng thực hiện xếp dỡ do mực nước của các càng này không phù hợp và có dao động lớn Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực với doanh nghiệp

4 Tốc độ khai thác bình quân:

Tốc độ khai thác bình quân là tốc độ tàu thực hiện được trên một quãngđường trong một khoảng thời gian nhất định nào đó

VKT = (km/ngày)

Trong đó : : quãng đường tàu chạy (Km)

Từ bảng phân tích ta thấy, tốc độ khai thác bình quân ở kỳ gốc là 471 (km/ngày), ở kỳ nghiên cứu là 446 (km/ngày), giảm 12 (km/ngày) hay bằng 94,69% so với kỳ gốc làm cho tổng khối lượng hàng hóa luân chuyển giảm 117.293.177 TKm hay giảm 5,02% so với kỳ gốc Đây là nhân tố làm tổng khối lượng hàng hóa luân chuyển giảm ít nhất trong các nhân tố làm tổng khối lượng hàng hóa luân chuyển giảm

Các nguyên nhân có thể làm cho tốc độ khai thác bình quân giảm như:

1 Luồng ra vào cảng, qua âu, qua kênh đối với một số tàu là quá hẹp

Trang 19

2 Trình độ sử dụng phương tiện của cán bộ thuyền viên trên tàu.

3 Điều kiện hàng hải không thuận lợi

4 Do doanh nghiệp sử dụng nhiên liệu chạy tàu không tốt

Xét nguyên nhân số 1: Trong kì, đội tàu của doanh nghiệp đã vận chuyểnhàng tới các cảng có độ sâu luồng lạch rất hạn chế điều này gây nhiều bất lợicho công tác cập cảng.Tại một số cảng do tình hình luồng lạch bắt buộc tàu phảigiảm tốc độ từ đó làm tốc độ khai thác của doanh nghiệp giảm.Việc này còn dẫntới thời gian chuyến đi tăng lên, các chi phí vận hành của con tàu tăng từ đó làmgiảm lợi nhuận chuyến đi Như vậy đây nguyên nhân khách quan tiêu cực

Xét nguyên nhân số 2: Trên một số tàu đội ngũ thuyền viên còn thiếu kinhnghiệm khiến cho việc lựa chọn các tuyến đường tối ưu còn gặp nhiều vấn đề.Trong một số chuyến đi ở các tuyến khai thác mới còn xuất hiện hiện tượngchệch hướng đi do thuyền trưởng vẫn chưa nắm rõ được tuyến đường Đây lànguyên nhân chủ quan mang tính tiêu cực Giải pháp đưa ra là doanh nghiệp cần

tổ chức các khóa bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn cũng như kinhnghiệm cho các thuyền viên trên tàu Đông thời đối với những tuyến mới cần bốtrí thuyền trưởng cũng như các thuyền viên có kinh nghiệm đi tàu lâu năm

Xét nguyên nhân số 3: Đây là nguyên nhân chính làm giảm tốc độ khai thácbình quân, trong kỳ nghiên cứu trên tuyến hành hải của tàu thường xuyên xuấthiện sóng lớn Đặc biệt vào quý IV, tuyến đi Bắc Á chịu ảnh hưởng rất lớn củagió mùa đông bắc, sóng gió mạnh làm cho tàu phải tăng công suất đồng thờigiảm tốc độ không những làm tăng thời gian chạy tàu mà hao phí nhiên liệucàng lớn, làm tăng chi phí nhiên liệu từ đó giảm doanh thu của đội tàu Đây lànguyên nhân khách quan mang tính tiêu cực Doanh nghiệp cần tính toán, cânđối giữa doanh thu đạt được và chi phí phải bỏ ra để quyết định có nên chạy tàutrên tuyến này hay không

Trang 20

Xét nguyên nhân số 4: Trong kỳ doanh nghiệp tiến hành hợp tác với một công ty chuyên cung cấp nhiên liệu mới Do chưa nắm rõ được thông tin của nhàcung cấp cho nên doanh nghiệp đã mua phải một lượng lớn dầu DO, FO kém chất lượng để chạy tàu Điều này làm cho công suất máy của tàu giảm đồng thời máy phụ thường xuyên bị hỏng hóc, trục trặc gây ảnh hưởng đến chuyến đi, làm tăng thời gian vận hành của tàu Đây là nguyên nhân chủ quan mang tính tiêu cực Doanh nghiệp cần khiếu nại ngay về chất lượng của nhiên liệu tới cơ quan

có thẩm quyền đồng thời phải tìm kiếm được nhà cung cấp nhiên liệu mới có chất lượng, đảm bảo, giá cả hợp lý phù hợp với công suất chạy tàu nhắm tào điều kiện máy tàu chạy tốt nhất

5 Hệ số lợi dụng quãng đường có hàng bình quân:

Hệ số lợi dụng quãng đường có hàng bình quân hay còn gọi là hệ số lợi dụng trọng tải thực chở bình quân được tính theo công thức sau:

Trong đó:

Li: tổng quãng đường tàu chạy (Km)

Lhi: quãng đường tàu chạy có hàng (Km)

Qua bảng phân tích ta thấy, ở kỳ gốc hệ số lợi dụng quãng đường có hàngbình quân là 0,73, kỳ nghiên cứu hệ số lợi dụng quãng đường có hàng bình quân

là 0,74 và tăng 0,01 hay bằng 101,37% so với kỳ gốc làm cho tổng khối lượnghàng hóa luân chuyển tăng 28.664.524 (TKm) hay tăng 1,23% so với kỳ gốc

Sự biến động tăng của hệ số lợi dụng quãng đường có hàng bình quân là doquãng đường tàu chạy có hàng tăng hoặc quãng đường tàu chạy không hànggiảm Những nguyên nhân cụ thể có thể là :

i ti

hi tiL D

L

D

.

Trang 21

2 Mở rộng quy mô của đại lý ở các cảng trong nước và ngoài nước.

3 Việt Nam vừa gia nhập WTO giúp cho quá trình hợp tác với cácnước trên khu vực và trên thế giới ngày càng sâu rộng

4 Trong kỳ vừa qua tàu nhận được một số hợp đồng vận chuyển cỡlớn

Xét nguyên nhân số 1 : Đây là nguyên nhân chính ảnh hưởng đến sự biếnđộng của hệ số lợi dụng quãng đường có hàng bình quân Công tác điều tàu hợp

lý làm giảm quãng đường tàu chạy rỗng Đây là một việc làm rất khó khănnhưng đã được công ty giải quyết khá tốt bởi việc bố trí các tàu hợp lý là rất khóđòi hỏi người có nhiều kinh nghiệm, trình độ cao mới làm được Làm được điềunày là do công ty có đội ngũ cán bộ giỏi, dày dặn kinh nghiệm luôn chú ý họctập nâng cao năng lực nên mới đem lại hiệu quả công việc cao Đây là nguyênnhân chủ quan tích cực cần duy trì trong những năm tới vì vậy ngoài việc chú ý

để đào tạo đội ngũ kế cận thì công ty còn phải chú ý thường xuyên cho nhânviên đi học tập nâng cao nghiệp vụ bên cạnh việc tìm hiểu rõ về những tuyếnđường thường xuyên vận chuyển, tình hình hàng hóa để phục vụ tốt hơn nữacông tác bố trí tàu

Xét nguyên nhân số 2: Số lượng đại lý nhiều cộng với khả năng tìm kiếmnguồn hàng lớn nên thời gian qua công ty đã có nhiều đơn hàng với khối lượnglớn Không chỉ thế trước đây hầu như công ty chỉ tìm được các đơn hàng mộtchiều rất bị động ở những chuyến về thì này nhờ có đội ngũ đại lý viên năngđộng nên đã có thể kí được cả những đơn chào hàng hai chiều giúp chủ động vềnguồn hàng cũng như bố trí tàu hợp lý, nhờ vậy mà quãng đường tàu chạy cóhàng trong kỳ đã tăng lên, làm tăng hệ số lợi dụng quãng đường tàu chạy cóhàng Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực ảnh hưởng tốt đến công ty làm tăngsản lượng trong kỳ Công ty cần duy trì tốt đội ngũ đại lý viên này, có nhữngchính sách thu hút đãi ngộ để họ có thể nâng cao hơn nữa hiệu quả công việc

Trang 22

Xét nguyên nhân số 3: Do Việt Nam vừa gia nhập WTO, tăng cường hộinhập kinh tế quốc tế nên năng lực sản xuất trong nước tăng nhanh, nhu cầu xuấtnhập khẩu hàng hóa cao trong khi đó nhà nước lại tạo điều kiện thuận lợi chotiến trình xuất nhập khẩu hàng hóa nên khối lượng vận chuyển tăng nhanh, tăngquãng đường tàu chạy có hàng Đồng thời tăng cường hợp tác giữa nước ta vớicác nước phát triển trên thế giới tạo nên các luồng chu chuyển hàng hóa mới, ổnđịnh giữa các tuyến xa giúp cho đội tàu của nước ta mở rộng thị trường Đây lànguyên nhân khách quan mang tính tích cực Doanh nghiệp cần tận dụng cơ hộinày để mở rộng thị trường trên các tuyến xa song cần phải bố trí các đại lý mộtcách hợp lý ở các cảng tiềm năng nhằm tập trung được nguồn hàng Bố trí tàuphù hợp với các tuyến và yêu cầu kỹ thuật của từng tuyến Ở các tuyến xa nên

bố trí các tàu có điều kiện thuật tốt đáp ứng được các yêu cầu cao của các cảnglớn và nhu cầu vận chuyển hàng khối lượng lớn từ các chủ hàng

Xét nguyên nhân số 4: Với nhiều năm hoạt động trên thị trường vận tảibiển doanh nghiệp đã tạo được uy tín đối với khách hàng của mình thu hút được

sự hợp tác của các chủ hàng lớn đặc biệt là những chủ hàng trước đây từ chốihợp tác với mình nay đã quay trở lại ủng hộ Trong kỳ doanh nghiệp nhận đượccác hợp đồng vận chuyển hàng cỡ lớn cho nên luôn tận dụng được tối đa trọngtải thực chở của tàu làm tăng hệ số lợi dụng quãng đường có hàng bình quân.Đây là nguyên nhân chủ quan mang tính tích cực Doanh nghiệp cần tổ chưc lịchtàu hợp lý, đáp ứng các nhu cầu đưa ra của các chủ hàng nhằm gia tăng uy tín,tạo mối quan hệ chặt chẽ hơn Chỉ đạo hệ thống đại lý của mình cần phải chú ýtrong khâu chăm sóc khách hàng để tạo nên sự tin tưởng tuyệt đối ở công ty, gópphần tăng khối lượng hàng vận chuyển

6 Trọng tải đăng kiểm bình quân:

Trọng tải đăng kiểm bình quân của tàu là chỉ tiêu quan trọng trong các chỉtiêu khai thác và sử dụng phương tiện, được xác định bằng công thức sau:

Trang 23

Dt = (T)

Trong đó: : trọng tải đăng kiểm của tàu i (T)

: thời gian có mặt trong năm của tàu i ( ngày)

: khối lượng hàng hóa vận chuyển của tàu i (T)

Qua bảng phân tích ta thấy, trọng tải đăng kiểm bình quân ở kỳ gốc là 7.791 (TTT/ chiếc), ở kỳ nghiên cứu là 8.640 (TTT/ chiếc) tăng 849 (TTT/chiếc) hay bằng 110,90% so với kỳ gốc làm cho tổng khối lượng hàng hóa luân chuyển tăng 231.148.429 (TKm) hay tăng 9,90% so với kỳ gốc Đây là nhân tố làm tổng khối lượng hàng hóa luân chuyển tăng nhiều nhất trong các nhân tố làm tổng khối lượnghàng hóa luân chuyển tăng

Trọng tải đăng kiểm bình quân tăng có thể do các nguyên nhân sau:

1 Do trong kỳ doanh nghiệp bán một số tàu cỡ nhỏ, mua tàu cỡ lớn hơn

2 Do kết cấu hàng hóa thay đổi

3 Do sự xuất hiện của đối thủ cạnh tranh

4 Do trong kỳ doanh nghiệp đã tiến hành hoán cải một số tàu già

Xét nguyên nhân số 1: Đây là nguyên nhân chính làm trọng tải đăng kiểm bình quân tăng Trong kỳ nghiên cứu với uy tín đã gây dựng được trên thị

trường, doanh nghiệp đã tìm thêm được các đơn đặt hàng mới từ các chủ hàng lớn Song do một số tàu của công ty có trọng tải nhỏ cho nên không đáp ứng được với các đơn hàng lớn này Do đó doanh nghiệp đã quyết định bán một số tàu nhỏ, đầu tư mua thêm một số tàu mới tuy số tàu mới mua về này ít hơn số tàu bán đi nhưng với trọng tải lớn hơn chúng đã đáp ứng được cho những lô

Trang 24

hàng lớn này Việc bố trí thêm các tàu cỡ lớn vào tuyến góp phần đáp ứng được đầy đủ các nhu cầu vận tải, tăng cường năng lực cạnh tranh trên thị trường Điềunày góp phần làm cho trọng tải thực chở bình quân của đội tàu tăng lên Đây là nguyên nhân chủ quan mang tính tích cực Doanh nghiệp cần bố trí tàu vào các tuyến hợp lý để có thể tận dụng được tối đa trọng tải cũng như dung tích của tàu.

Xét nguyên nhân số 2: Trong kỳ nghiên cứu kết cấu các mặt hàng mà doanh nghiệp vận chuyển có thay đổi, hàng vận chuyển chủ yếu là các mặt hàng

có hệ số chất xếp lớn ( hàng nhẹ ) Các tàu tuy tận dụng hết dung tích nhưng lại không tận dụng hết trọng tải, điều đó làm cho khối lượng hàng hóa mà các tàu vận chuyển được giảm Từ đó làm cho trọng tải đăng kiểm bình quân của đội tàutăng lên Đây là nguyên nhân khách quan đối với doanh nghiệp

Xét nguyên nhân số 3: Trong kỳ nghiên cứu, một doanh nghiệp vận chuyểnmới được thành lập Đây là một đối thủ đáng gờm đối với doanh nghiệp, do có nguồn vốn dồi dào từ các nhà đầu tư trong đó có các nhà đầu tư nược ngoài Nêndoanh nghiệp này có điều kiện sở hữu đội ngũ tàu trẻ, hiện đại năng lực vận chuyển cao hơn nữa doanh nghiệp này đưa ra các chính sách rất ưu đãi với các chủ hàng Nên dù là một doanh nghiệp mới thành lập nhưng doanh nghiệp này cũng đã nhận được sự quan tâm lớn từ các chủ hàng Điều đó dẫn đến doanh nghiệp mà ta đang xét không ký được nhiều hợp đồng vận chuyển với các chủ hàng mới như ở kỳ gốc Tuy vẫn đảm bảo việc thực hiện các hợp đồng vận chuyển với các chủ hàng lâu năm như kì trước đó song khối lượng hàng hóa vậnchuyển của doanh vẫn giảm so với kỳ trước đó dẫn đến làm tăng trọng tải thực chở bình quân Đây là nguyên nhân khách quan

Xét nguyên nhân số 4: Trong đầu kỳ nghiên cứu doanh nghiệp nhận thấy cómột số tàu già chưa tận dụng hết được khả năng chở hàng vì điều kiện kỹ thuật của tàu không đảm bảo Doanh nghiệp tiến hành hoán cải các tàu đó giúp cho điều kiện kỹ thuật của các tàu tốt hơn, khả năng chứa hàng được tăng lên từ đó làm tăng trọng tải đăng kiểm bình quân của cả đội tàu Đây là nguyên nhân chủ

Ngày đăng: 25/02/2016, 12:47

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w