Đánh giá thực hiện công việc (ĐGTHCV) thường được hiểu là sự đánh giá có hệ thống và chính thức tình hình thực hiện công việc của người lao động trong quan hệ so sánh với các tiêu chuẩn đã được xây dựng và thảo luận về sự đánh giá đó của người lao động.”
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Xu thế mới nhất trong sự phát triển của nền kinh tế thế giới ngày nay chínhlà xu thế cơ bản của cạnh tranh quốc tế Quá trình cạnh tranh này diễn ra ngày càngquyết liệt khiến cho nền kinh tế thế giới phát triển theo hướng quốc tế hóa và tậpđoàn hóa khu vực Trước sự biến động mạnh mẽ của nền kinh tế như vậy, mộtdoanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển vững mạnh trên thị trường phụ thuộc vàorất nhiều yếu tố, tuy nhiên nhân tố quan trọng nhất cần trong đó chính là nguồn lựccon người Con người là yếu tố không thể thiếu trong quá trình sản xuất kinh doanhcủa bất kì một doanh nghiệp nào Do đó,việc phát huy tối đa nguồn nhân lực vô hạnnày cả về số lượng và chất lượng là điều vô cùng cần thiết để một tổ chức ngày mộtphát triển và mạnh mẽ hơn Như vậy để có thể mang lại lợi ích tối đa thì doanhnghiệp cần phải quản lý nguồn nhân lực như thế nào cho phù hợp? Để làm đượcđiều đó, doanh nghiệp cần phải thực hiện tốt các hoạt động quản trị nguồn nhân lựcmà đặc biệt là phải có một hệ thống đánh giá thực hiện công việc công bằng, chínhxác và có hiệu quả đối với các hoạt động khác trong doanh nghiệp Đánh giá thựchiện công việc không chỉ giúp các nhà quản lý đưa ra các quyết định ngân sự đúngđắn mà còn giúp người lao động tự hoàn thiện khả năng của mình cũng như biếtcách đặt ra các mục tiêu để phấn đấu
Qua quá trình tìm hiểu các hoạt động quản trị nguồn nhân lực tại Công tyCổ phần Cồn Rượu Hà Nội, em nhận thấy hệ thống đánh giá thực hiện công việc tạicông ty hiện nay còn rất nhiều bất cập và hạn chế Công ty vẫn chưa nhận thức đượctầm quan trọng và thực hiện có hiệu quả hoạt động quản trị này Chính vì vậy em đãlựa chọn đề tài “Hoàn thiện công tác đánh giá thực hiện công việc tại Công ty cổphần Cồn Rượu Hà Nội” để từ đó đưa ra các giải pháp giúp công ty thực hiện hoạtđộng này tốt hơn
2 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu và phân tích hoạt động đánh giá thực hiện công việc hiện nay củaCông ty Cổ phần Cồn Rượu Hà Nội để tìm ra những ưu điểm, hạn chế và nguyênnhân
Trang 2Đề xuất ra các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác đánh giá thực hiện côngviệc cho phù hợp với thực tế của Công ty.
3 Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu hoạt động đánh giá thực hiện công việc tại Công ty Cổphần Cồn Rượu Hà Nội
4 Phương pháp nghiên cứu
Dựa trên các số liệu được Công ty cung cấp để từ đó tiến hành phân tích,tổng hợp, đồng thời sử dụng các phương pháp phân tích xã hội học để thu thập ýkiến từ người lao động
5 Kết cấu chuyên đề
Chuyên đề được chia thành 3 phần chính:
Phần 1: Cơ sở lý luận chung về hệ thống đánh giá thực hiện công việc trongtổ chức
Phần 2: Thực trạng công tác đánh giá thực hiện công việc tại Công ty Cổphần Cồn Rượu Hà Nội
Phần 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác đánh giá thực hiện côngviệc tại Công ty Cổ phần Cồn Rượu Hà Nội
Trang 3Quốc dân – 2007, tr 134).
2 Mục đích của đánh giá thực hiện công việc trong tổ chức:
Đánh giá thực hiện công việc là một hoạt động quan trọng trong công tácquản trị nhân sự Mục đích chung của bất kì một hệ thống đánh giá nào đều nhằmnâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức Qua đánh giá và đo lường kết quả côngviệc, các nhà quản lý có thể cải thiện sự thực hiện công việc của nhân viên, từ đóđảm bảo cho nhân viên của mình có thể làm việc với khả năng tốt nhất và phát triểntiềm năng của họ trong tương lai
Kết quả đánh giá thực hiện công việc là cơ sở giúp cho nhà quản lý có thểxác định nhu cầu đào tạo và phát triển của nhân viên; đánh giá năng lực tiềm tàngvà khả năng thăng tiến trong tương lai của nhân viên Đồng thời đánh giá còn làm
cơ sở xác định mức lương, tạo động lực cho người lao động thông qua việc côngnhận đúng mức thành tích họ đạt được, qua đó giúp người lao động gắn bó hơn với
Trang 4doanh nghiệp Ngoài ra, đánh giá còn giúp người quản lý đưa ra các quyết địnhnhân sự đúng đắn như tuyển mộ, tuyển chọn, kế hoạch hóa nhân lực, kỷ luật
3 Cấu trúc của hệ thống đánh giá thực hiện công việc:
Để tiến hành đánh giá kết quả thực hiện công việc cần phải xây dựng mộthệ thống đánh giá Hệ thống này thường được thiết lập bởi ba yếu tố cơ bản sau: cáctiêu chuẩn thực hiện công việc; đo lường sự thực hiện công việc theo các tiêu thứctrong tiêu chuẩn và cuối cùng là thông tin phản hồi kết quả đánh giá
Mối quan hệ giữa ba yếu tố này được thể hiện qua hình sau:
Sơ đồ 1.1- Mối quan hệ giữa ba yếu tố của hệ thống đánh giá và
các mục tiêu của ĐGTHCV
(Nguồn: Wiliam B.Werther, Jr , Keith Davis, “Human Resources and Personel Management”, fifth edition, Irwin Mac Graw-Hill, 1994, Trang 344)
Theo sơ đồ trên, quá trình đánh giá thực hiện công việc thường được tiếnhành theo trình tự như sau:
- Đầu tiên, nhà quản lý phải lựa chọn và xây dựng các tiêu chuẩn thực hiệncông việc Đây là hệ thống các chỉ tiêu về mặt số lượng và chất lượng, là các mứcchuẩn cho việc đo lường, qua đó nhằm xác định các yêu cầu cần thiết để hoàn thànhmột công việc Tiêu chuẩn thực hiện công việc chính là căn cứ để tiến hành đo
Thực tế thực
hiện công việc
Đánh giá thựchiện công việc
Thông tin phảnhồi
Đo lường sự thựchiện công việc
Tiêu chuẩn thựchiện công việc
Quyết định
nhân sự
Hồ sơ nhân viên
Trang 5lường và đánh giá thực hiện công việc của nhân viên Vì vậy, tùy thuộc vào tìnhhình sản xuất, kinh doanh mà có thể xây dựng các tiêu chuẩn thực hiện công việckhác nhau trong mỗi tổ chức Tuy nhiên trên thực tế người quản lý thường sử dụngmột trong hai phương pháp cơ bản sau để xây dựng các tiêu chuẩn thực hiện côngviệc, đó là chỉ đạo tập trung và thảo luận dân chủ Xây dựng một hệ thống tiêuchuẩn thực hiện công việc không phải là một vấn đề dễ dàng Do đó, các tiêu chuẩncần phải được xây dựng một cách khách quan và hợp lý sao cho có thể đo lường vàđánh giá chính xác mức độ thực hiện công việc của người lao động Điều này cónghĩa tiêu chuẩn phải phản ánh được các kết quả và hành vi cần phải có để thựchiện một công việc sao cho có hiệu quả nhất.
- Sau khi xây dựng các chuẩn mực thực hiện công việc, người đánh giá phảithiết kế một công cụ để tiến hành đo lường sự thực hiện công việc của người laođộng Việc đo lường được tiến hành thông qua so sánh thực tế làm việc của nhânviên với các tiêu chuẩn đã được xây dựng từ trước Đo lường sự thực hiện công việcchính là yếu tố trọng tâm của đánh giá Để tiến hành đo lường trước hết cần xácđịnh cái gì cần được đo lường trong sự thực hiện công việc của người lao động, sauđó cân nhắc và xem xét sử dụng phương thức nào để đo lường Thông qua cácphương pháp đánh giá thực hiện công việc để từ đó xây dựng một công cụ đo lườngsao cho phù hợp với bản chất công việc và mục đích của việc đánh giá Kết quả củaviệc đo lường được thể hiện qua việc ấn định một con số hay một thứ hạng cụ thểnhằm đánh giá mức độ thực hiện công việc của người lao động
- Cuối cùng, thông tin phản hồi kết quả đánh giá là yếu tố thứ ba trong hệthống đánh giá, thường được diễn ra vào cuối mỗi kỳ đánh giá Tiến trình cung cấpkết quả đánh giá và thu thập thông tin phản hồi được thực hiện thông qua một buổitrao đổi chính thức giữa người lãnh đạo và người lao động Cuộc trao đổi này đượcgọi là phỏng vấn đánh giá Nội dung chủ yếu của buổi phỏng vấn là thông báo chongười lao động về tình hình thực hiện công việc họ đã làm và tiềm năng phát triểntrong tương lai cũng như các biện pháp nhằm hoàn thiện sự thực hiện công việc củahọ Đồng thời, thông qua buổi phỏng vấn, người lao động cũng có thể hiểu được lý
do về các quyết định nhân sự như thù lao, đào tạo, kỷ luật của người quản lý
II Phương pháp và quy trình tiến hành đánh giá thực hiện công việc:
1 Một số phương pháp đánh giá:
1.1 Phương pháp thang đo đồ họa:
Trang 6Đây là phương pháp đơn giản và được sử dụng khá phổ biến để tiến hànhđánh giá thực hiện công việc Theo phương pháp này, người đánh giá, dựa vào ýkiến chủ quan của mình, đánh giá mức độ hoàn thành công việc của người lao độngtheo thứ tự từ thấp đến cao Việc đánh giá được thực hiện thông qua một mẫu phiếuđánh giá bao gồm các tiêu thức có liên quan trực tiếp hoặc không trực tiếp đến côngviệc Muốn xây dựng được phương pháp này cần phải căn cứ vào hai yếu tố, đó làlựa chọn được các tiêu thức đánh giá và đo lường các tiêu thức đó.
Ưu điểm:
Phương pháp được xây dựng tương đối đơn giản và dễ hiểu cho cả ngườiđánh giá và người bị đánh giá Ưu điểm lớn nhất của phương pháp chính là có thểcho điểm một cách dễ dàng, qua đó người quản lý lượng hóa được tình hình thựchiện công việc của người lao động thuận tiện hơn, tạo điều kiện cho việc ra cácquyết định quản lý liên quan đến quyền lợi cũng như năng lực làm việc của ngườilao động
Nhược điểm:
Sử dụng phương pháp thang đo đồ họa dễ bị ảnh hưởng bởi lỗi chủ quancủa người đánh giá như các lỗi về thiên vị, thành kiến, xu hướng trung bình Dođó kết quả đo lường có thể không được chính xác
Ngoài ra, các thang đo còn có thể phát sinh nhiều vấn đề nếu các tiêu thưcđược lựa chọn không phù hợp Khi đo lường có thể xảy ra trường hợp điểm số caocủa tiêu thức này sẽ bù đắp cho điểm số thấp của tiêu thức khác Như vậy, các đặctrưng quan trọng nhất của công việc sẽ rất khó đánh giá khi tính tổng điểm chung
1.2 Phương pháp danh mục kiểm tra:
Đây là phương pháp đánh giá thông qua một mẫu phiếu gồm các câu mô tảvề hành vi và các thái độ có thể xảy ra trong quá trình thực hiện công việc của nhânviên Các câu mô tả thường có giá trị ngang nhau, tuy nhiên trong một số trườnghợp để làm rõ mức độ quan trọng của từng câu, người ta thường gán cho mỗi câumột trọng số riêng Kết quả cuối cùng của việc đánh giá được tính bằng cách cộngđiểm các câu đã được lựa chọn
Ưu điểm:
Thực hiện phương pháp này khá dễ và có thể khắc phục được lỗi xu hướngtrung bình trong khi đánh giá Mặt khác, do kết quả được đánh giá cụ thể bằng điểmsố nên đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc ra các quyết định quản lý
Trang 7 Nhược điểm:
Muốn có kết quả chính xác thì các câu mô tả phải phù hợp với từng loạicông việc khác nhau Do vậy, người quản lý sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc thiếtkế các danh mục cho mỗi công việc Việc xác định trọng số khi xây dựng thangđiểm cũng rất phức tạp, đòi hỏi phải có sự nghiên cứu chuyên sâu
1.3 Phương pháp ghi chép các sự kiện quan trọng:
Người quản lý thực hiện đánh giá thông qua quá trình quan sát và ghi chéplại bằng cách mô tả các hành vi có hiệu quả hoặc không có hiệu quả liên quan đếnviệc thực hiện công việc của người lao động theo từng yếu tố công việc
Ưu điểm:
Do thực hiện ghi chép các hành vi tích cực cũng như tiêu cực trong thựchiện công việc của người lao động nên người đánh giá có thể thuận lợi khi trao đổivới họ về những ưu, nhược điểm trong quá trình làm việc, từ đó giúp ích cho việcđưa ra các quyết định quản lý một cách đúng đắn
Mặt khác, phương pháp này cũng hạn chế được các lỗi do chủ quan củangười đánh giá, do đó đánh giá được thực hiện công bằng hơn đối với người laođộng
Nhược điểm:
Để ghi chép được đầy đủ các hoạt động của nhân viên, người đánh giá phảiquan sát tất cả các hành vi làm việc của họ, như vậy sẽ mất rất nhiều thời gian chohoạt động này Mặt khác, nhiều khi công việc ghi chép bị bỏ qua do không phải lúcnào người quản lý cũng giám sát hết từng hành vi của người lao động
1.4 Phương pháp đánh giá bằng thang đo dựa trên hành vi:
Phương pháp được xây dựng dựa trên sự kết hợp giữa phương pháp thang
đo đồ họa và phương pháp ghi chép các sự kiện quan trọng Cũng giống như cácthang đánh giá đồ họa, phương pháp sử dụng thang đo dựa trên hành vi, tuy nhiêncác thang này mô tả chính xác hơn bởi các hành vi cụ thể
Ưu điểm lớn nhất của phương pháp chính là ít thiên vị hơn so với các thang
đo khác do các đặc trưng được chọn lựa hết sức cẩn thận Đồng thời, các hành viđánh giá có thể quan sát được nên đã tạo ra sự nhất quán giữa những người đánhgiá, vì vậy các nhận thức chủ quan đã được hạn chế
Trang 8Do phải mô tả chính xác các hành vi cụ thể của đối tượng nên để thiết kếmột thang đo hợp lý cần rất nhiều thời gian và chi phí, đồng thời việc sử dụng thang
đo để cho điểm cũng tốn nhiều thời gian
Mặt khác, nếu các hành vi và đặc trưng không được lựa chọn cũng như môtả cẩn thận sẽ làm ảnh hưởng đến các kết quả đánh giá Người đánh giá cũng gặpnhiều khó khăn trong việc xác định các hành vi thực hiện công việc trên thực tế củađối tượng và so sánh với các mô tả trong thang đo
1.5 Phương pháp so sánh:
Việc đánh giá được tiến hành dựa trên sự so sánh thực hiện công việc củangười lao động với các đồng nghiệp của họ trong cùng bộ phận Để có thể so sánh,người đánh giá phải sử dụng một tiêu thức tổng thể về tình hình làm việc của từngngười lao động
Có nhiều cách để đánh giá so sánh, một số phương pháp thường được sửdụng như: phương pháp xếp hạng, phương pháp phân phối bắt buộc, phương phápcho điểm và phương pháp so sánh cặp
Các phương pháp so sánh đều tương đối đơn giản, dễ hiểu và dễ thực hiện.Bên cạnh đó, người quản lý cũng có thể thuận tiện trong việc ra các quyết định vềlương, thưởng và thăng tiến đối với người lao động
Cũng giống như thang đo đồ họa, phương pháp này dễ dẫn tới các lỗi thiênvị, thành kiến và sự kiện gần nhất Đặc biệt, việc cung cấp các thông tin phản hồicho người lao động cũng bị hạn chế Do đó, các phương pháp so sánh hầu nhưkhông có tác động trong việc khuyến khích người lao động hợp tác và đoàn kếttrong tập thể
1.6 Phương pháp bản tường thuật:
Đây là phương pháp người đánh giá viết một văn bản tường thuật về tìnhhình thực hiện công việc của người lao động Trong đó, bảng tường thuật phải liệt
kê được các điểm mạnh, điểm yếu và gợi ý về các biện pháp nhằm hoàn thiện sựthực hiện công việc của người lao động
Khác với các phương pháp trên, sử dụng bản tường thuật sẽ được cung cấpcác thông tin phản hồi rất chi tiết và cụ thể, đồng thời hữu ích cho người lao động
Trang 9Mặt khác, người quản lý cũng có thể đánh giá được nhiều mặt liên quan đến côngviệc người nhân viên đang thực hiện, không bị hạn chế bởi các tiêu chí của mộtthang bảng cố định.
Người quản lý gặp khó khăn trong việc ra các quyết định nhân sự khi sửdụng thông tin tường thuật Bên cạnh đó, sự chính xác của các thông tin tường thuậtphụ thuộc rất nhiều vào khả năng diễn đạt của người đánh giá Do vậy có thể xảy ratrường hợp nếu diễn đạt quá phức tạp sẽ gây khó khăn cho việc trao đổi thông tin
1.7 Phương pháp quản lý bằng mục tiêu:
Theo phương pháp này, người lãnh đạo cùng với nhân viên cấp dưới xâydựng các mục tiêu thực hiện công việc cho thời kỳ tương lai Các mục tiêu này đượcdùng để đánh giá sự nỗ lực trong quá trình làm việc của người nhân viên Đặc điểmnổi bật của phương pháp là nhấn mạnh nhiều vào các kết quả thực hiện công việcmà người nhân viên cần đạt được chứ không xem xét nhiều vào các hoạt động thựchiện công việc của họ
Phương pháp đánh giá có tác dụng lớn trong việc nâng cao tính trách nhiệmcủa từng cá nhân người lao động đối với việc thực hiện công việc Đồng thời, quảnlý bằng mục tiêu còn góp phần tạo động lực cho người lao động bởi họ đã đượctham gia vào việc xây dựng mục tiêu công việc cho chính mình Mặt khác, các mụctiêu cũng giúp cho nhà quản lý xác định được nhu cầu đào tạo và phát triển nghềnghiệp trong tương lai cho từng người lao động
Nhược điểm:
Để xác định được các mục tiêu công việc phù hợp với từng đối tượng laođộng cần rất nhiều thời gian và công sức Bên cạnh đó, nếu chỉ thiết lập một mụctiêu cố định trong điều kiện sản xuất kinh doanh liên tục đổi mới sẽ khiến cho việcđánh giá không còn chính xác và hiệu quả
1.8 Phương pháp khác:
Hiện nay, ngoài các phương pháp trên, các doanh nghiệp còn sử dụng mộtsố phương pháp khác để tiến hành đánh giá nhân viên Một trong những phươngpháp được sử dụng nhiều nhất là đánh giá 360O
Đối với phương pháp này, đánh giá được tiến hành thông qua việc thu thậpý kiến từ tất cả các kênh thông tin phản hồi như cấp trên, cấp dưới, đồng nghiệp,
Trang 10khách hàng, và ngay cả bản thân ứng viên cũng có thể tự đánh giá sự thực hiện côngviệc của mình
Ưu điểm:
Thông qua việc sử dụng thông tin phản hồi từ tất cả các đối tượng đánh giá,người quản lý sẽ có cái nhìn đa chiều về sự thực hiện công việc của nhân viên, từ đócó thể đo lường chính xác năng lực của từng người Vì vậy, phương pháp đánh giánày được coi là công bằng và chính xác hơn so với các phương pháp khác
Nhược điểm:
Do lấy ý kiến từ nhiều nguồn khác nhau, nên để thiết kế mẫu phiếu đánh giáphù hợp sẽ tốn rất nhiều chi phí và thời gian Ngoài ra, việc thu thập và sử lý kếtquả đánh giá cũng gặp nhiều khó khăn do việc đánh giá được thực hiện bởi nhiềuđối tượng Mặt khác, người quản lý cũng khó xác định được tính trung thực của cácnhận xét trong phiếu đánh giá vì thông tin về người đánh giá thường không được đềcấp đến Đồng thời, việc xác định người đánh giá cũng rất quan trọng Nếu ngườiđánh giá có quan hệ thân thiết hoặc ganh ghét, thù địch với đối tượng bị đánh giá thìviệc đánh giá sẽ trở nên vô nghĩa Do vậy, lựa chọn người đánh giá phù hợp sẽ tốnrất nhiều thời gian
2 Tiến trình đánh giá thực hiện công việc:
2.1 Lựa chọn phương pháp đánh giá:
Hoạt động đánh giá thực hiện công việc chỉ đạt được hiệu quả cao khi xâydựng được phương pháp đánh giá phù hợp Để lựa chọn được phương pháp đảmbảo cho hệ thống đánh giá chặt chẽ và công bằng, các nhà quản lý thường dựa vàohai phương pháp sau đây:
- Lựa chọn dựa vào mục đích đánh giá: mục tiêu cơ bản nhất của đánh giá đolường và kiểm tra sự thực hiện công việc của người lao động Tuy nhiên, hoạt độngđánh giá còn được thực hiện nhằm phục vụ các chức năng công tác quản trị nhânlực khác như thù lao lao động, đào tạo, đề bạt, thăng tiến
- Lựa chọn dựa vào mục tiêu quản lý: tùy thuộc vào mục tiêu ngắn hạn haydài hạn mà tổ chức lựa chọn và thiết kế phương pháp đánh giá cho phù hợp
2.2 Lựa chọn người đánh giá:
Việc lựa chọn người đánh giá hợp lý được coi là rất quan trọng trong tiếntrình đánh giá Để có thể đánh giá chính xác thì người được chọn phải hiểu rõ từng
Trang 11vị trí công việc cũng như giám sát được quá trình làm việc của từng người lao động.
Do đó, thông thường người lãnh đạo trực tiếp được coi là người đánh giá chủ yếu,cần thiết và có hiệu quả nhất Đồng thời, họ cũng là người trực tiếp chỉ đạo và đưa
ra các biện pháp điều chỉnh cần thiết để quá trình thực hiện công việc của người laođộng ngày càng hoàn thiện hơn
Ngoài ra, người đánh giá cũng có thể được lựa chọn từ các nhân viên cấpdưới hay đồng nghiệp, khách hàng, hoặc thậm chí ngay cả cá nhân cũng có thể tựđánh giá chính bản thân mình Tuy nhiên trong sự kết hợp các ý kiến đánh giá, ýkiến của người lãnh đạo trực tiếp vẫn mang tính chất quyết định nhất, các ý kiếnkhác chỉ mang tính chất tham khảo
2.3 Xác định chu kỳ đánh giá:
Khoảng thời gian giữa hai kỳ đánh giá liên tiếp thường được gọi là chu kỳđánh giá Muốn công tác đánh giá đạt hiệu quả cao, các tổ chức thường quy địnhchu kỳ đánh giá là 6 tháng hoặc một năm Tuy nhiên, chu kỳ đánh giá không nênquá dài bởi việc thu thập thông tin cho một quá trình đánh giá dài sẽ thiếu chính xácvà không đầy đủ, do đó kết quả đánh giá có thể bị sai lệch Bên cạnh đó, nếu chu kỳđánh giá quá ngắn sẽ không phản ánh hết được quá trình thực hiện công việc củangười lao động Do vậy, xác định chu kỳ đánh giá hợp lý cần phải dựa vào thực tiễnquản lý của mỗi tổ chức
Ngoài ra, việc đánh giá cũng có thể được tiến hành tùy thuộc vào từng đợthoàn thành công việc Điều này cung cấp thông tin cần thiết để tổ chức đánh giá kịpthời và đưa ra các quyết định nhân sự hợp lý
2.4 Đào tạo người đánh giá:
Đây là một hoạt động quan trọng nhằm đảm bảo hiệu quả cho quá trìnhđánh giá Để hiểu rõ về hệ thống đánh giá cũng như mục đích của hoạt động đánhgiá thì việc đào tạo người đánh giá là rất cần thiết cho tổ chức Nếu công tác đào tạođược thực hiện tốt sẽ có tác dụng lớn trong việc giảm thiểu các hạn chế khi đánhgiá, đồng thời làm tăng tính chính xác của thông tin thu thập được
Để tiến hành đào tạo người đánh giá, thông thường có thể sử dụng haiphương pháp sau:
- Cung cấp văn bản hướng dẫn: theo phương pháp này, người đánh giá đượcnhận các văn bản liên quan đến công tác đánh giá, từ đó họ sẽ tự nghiên cứu và thực
Trang 12hiện việc đánh giá Tuy nhiên phương pháp này chỉ nên tiến hành với những côngviệc dễ thực hiện việc đánh giá.
- Tổ chức các lớp đào tạo: việc này gây tốn kém về chi phí cho doanh nghiệpnhưng đem lại hiệu quả cao hơn Người đánh giá sẽ được đào tạo, giải thích cặn kẽvề hệ thống cũng như phương pháp sử dụng đánh giá Đồng thời họ cũng có thểtham gia các quá trình thảo luận và tiến hành làm thử để rút kinh nghiệm
2.5 Phỏng vấn đánh giá:
Đây là khâu cuối cùng trong quá trình thực hiện đánh giá Phỏng vấn đánhgiá là quá trình thu thập các thông tin phản hồi sau khi thực hiện quy trình đánh giá.Cuộc phỏng vấn được thực hiện thông qua buổi trao đổi, thảo luận trực chính thứcgiữa người đánh giá trực tiếp và người lao động nhằm xem xét lại toàn bộ quá trìnhlàm việc của họ Nội dung chính của buổi phỏng vấn là thảo luận về sự thực hiệncông việc của đối tượng, các tiềm năng phát triển trong tương lai cũng như biệnpháp nhằm hoàn thiện sự thực hiện công việc của họ
Phỏng vấn đánh giá thực chất như một diễn đàn để hai bên cùng thảo luậngiải quyết vấn đề Do đó, để buổi phỏng vấn diễn ra thành công, người lãnh đạo cầnchuẩn bị chu đáo và đầy đủ cho buổi nói chuyện, đồng thời cần tạo không khí đốithoại cởi mở để khai thác và hiểu rõ nguyên nhân sâu xa các vấn đề của người laođộng
III Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động đánh giá thực hiện công việc trong tổ chức:
1 Yếu tố thuộc về tổ chức:
Việc xây dựng một hệ thống tiêu chuẩn thực hiện công việc phù hợp là điềucần thiết và có ý nghĩa lớn đối với công tác đánh giá Thông qua bản tiêu chuẩnthực hiện công việc, người lao động có thể biết được các nhiệm vụ cụ thể cần phảihoàn thành, đồng thời qua đó người quản lý có căn cứ để đo lường mức độ thựchiện công việc trên thực tế của người lao động Do vậy, công tác phân tích côngviệc và xây dựng các tiêu chuẩn cũng như bản mô tả công việc cho từng vị trí cụ thểcó ảnh hưởng tương đối lớn đến hoạt động đánh giá trong tổ chức Nếu phân tíchđược tiến hành cẩn thận, doanh nghiệp sẽ xây dựng được các tiêu chí đánh giá phùhợp, từ đó góp phần tạo động lực cho người lao động hoàn thành tốt nhiệm vụ củamình
Trang 13Bên cạnh đó, sự hiểu biết của người lãnh đạo về công tác đánh giá cũng gópphần quan trọng đảm bảo tính chính xác của kết quả đánh giá Đánh giá chỉ có thểđạt hiệu quả cao khi người lãnh đạo có kiến thức đầy đủ và xây dựng được một hệthống đánh giá với các yêu cầu cơ bản như về tính phù hợp, nhạy cảm, sự nhấtquán, được nhân viên ủng hộ và có thể áp dụng vào thực tiễn Tuy nhiên, nếu ngườiquản lý không hiểu rõ về mục đích cũng như ý nghĩa của công tác đánh giá thì đánhgiá chỉ mang tính hình thức, điều này sẽ không đem lại lợi ích cho tổ chức.
Ngoài ra, kết quả đánh giá còn phụ thuộc nhiều vào ý kiến và quan điểmcủa người quản lý Trong đánh giá thực hiện công việc, người lãnh đạo thường mắcmột số lỗi chủ quan khi đánh giá như lỗi thiên vị, thành kiến, xu hướng trung bình,ảnh hưởng của sự kiện gần nhất Chính vì vậy, muốn đánh giá công bằng và chínhxác, người lãnh đạo cần có cái nhìn và nhận xét khách quan đối với tất cả nhân viên,không phân biệt đối xử theo quan điểm, tình cảm cá nhân, như vậy công tác đánhgiá mới có thể đạt hiệu quả cao và tạo động lực làm việc cho nhân viên
2 Yếu tố thuộc về người lao động:
Sự hiểu biết của người lao động cũng có ảnh hưởng không nhỏ tới công tácđánh giá Mục đích cơ bản của đánh giá chính là nhằm hoàn thiện sự thực hiện củangười lao động Nếu hiểu được ý nghĩa quan trọng đó, sẽ tạo động lực thúc đẩyngười lao động làm việc có hiệu quả hơn, đồng thời qua đó việc đánh giá có thểđược tiến hành thuận lợi hơn
Mặt khác, hệ thống đánh giá muốn thực hiện được thì đòi hỏi phải được sựchấp nhận của người lao động Nhờ có sự ủng hộ đó, người quản lý sẽ thuận lợitrong việc tổ chức hoạt động đánh giá thực hiện công việc cũng như có thể đạt đượccác lợi ích cần thiết do đánh giá mang lại
IV Mối quan hệ giữa đánh giá thực hiện công việc với các hoạt động quản trị nhân lực khác trong tổ chức:
1 Thiết kế và phân tích công việc:
“Phân tích công việc là quá trình thu thập các tư liệu đánh giá một cách có hệ thống các thông tin quan trọng có liên quan đến các công việc cụ thể trong tổ chức nhằm làm rõ bản chất của từng công việc.” (Ths Nguyễn Văn Điềm và
Trang 14PGS.TS Nguyễn Ngọc Quân(chủ biên), Giáo trình Quản trị nhân lực, Nhà xuất bản
Đại học Kinh tế Quốc dân – 2007, tr 48)
Như vậy, qua hoạt động phân tích công việc, nhà quản lý xây dựng nên cácbản mô tả công việc, bản tiêu chuẩn thực hiện công việc Đây chính là các căn cứ đểtiến hành đánh giá Tuy nhiên, muốn thực hiện phân tích công việc cũng cần phảidựa trên kết quả của hoạt động đánh giá Từ kết quả đánh giá của từng người, nhàquản lý có thể thấy được các hạn chế và bất hợp lý của các tiêu chuẩn thực hiệncông việc, để từ đó đưa ra các điều chỉnh cho phù hợp
2 Kế hoạch hóa nguồn nhân lực:
“Kế hoạch hóa nguồn nhân lực là quá trình đánh giá, xác định nhu cầu về nguồn nhân lực để đáp ứng mục tiêu công việc của tổ chức và xây dựng các kế hoạch lao động để đáp ứng được yêu cầu đó.” (Ths Nguyễn Văn Điềm và PGS.TS Nguyễn Ngọc Quân(chủ biên), Giáo trình Quản trị nhân lực, Nhà xuất bản Đại học
Kinh tế Quốc dân – 2007, tr 62)
Công tác đánh giá giúp cho nhà quản trị có được các thông tin cần thiết vềnăng lực, phẩm chất và tiềm năng phát triển của nhân viên trong tương lai Từ đó,họ xây dựng các phương án, kế hoạch về nhu cầu nguồn nhân lực trong tổ chức vàđưa ra các quyết định luân chuyển, thuyển chuyển lao động hợp lý Đồng thời, quađánh giá, nhà quản lý cũng có thể thấy được hiệu quả thực hiện các kế hoạch nhânlực đã đề ra, từ đó đưa ra các giải pháp điều chỉnh kế hoạch trong thời gian tới
3 Tuyển dụng và bố trí nhân lực:
Thông qua đánh giá thực hiện công việc, nhà quản lý sẽ thiết lập nên cácyêu cầu cần có để hoàn thành tốt một công việc nhất định, từ đó xây dựng bản mô tảcông việc cho từng vị trí cụ thể phục vụ cho công tác tuyển dụng và bố trí lại nhânlực trong tổ chức
Đối với hoạt động tuyển dụng, dựa vào các yêu cầu đã được xây dựng trongbản mô tả, nhà quản lý có thể đưa ra các quyết định chính xác hơn khi thực hiệntuyển dụng thêm lao động Ngoài ra, việc đo lường sự thực hiện công việc củangười lao động và so sánh với các tiêu chuẩn được xây dựng từ trước cũng giúp chonhà quản trị tiến hành bố trí và bố trí lại công việc một cách hợp lý hơn
4 Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực:
Trang 15Mục tiêu cơ bản của đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chính là sử dụngtối đa nguồn nhân lực hiện có, đồng thời thực hiện các biện pháp nhằm nâng caotính hiệu quả cho tổ chức Vì vậy, muốn thực hiện công tác này thì đầu tiên phảitiến hành đánh giá tính hiệu quả trong việc thực hiện công việc của người lao động.Tiến hành đánh giá sẽ cho người quản lý biết điểm mạnh, điểm yếu và tiềm năngcủa từng người, từ đó đưa ra các quyết định đào tạo hợp lý như ai là người cần đàotạo, đào tạo như thế nào, thời gian đào tạo
Đồng thời, thông qua đánh giá, người quản lý cũng có thể thấy được hiệuquả của công tác đào tạo được xây dựng trong kỳ trước, từ đó biết được mục tiêucủa tổ chức và cá nhân sau khi đào tạo có đáp ứng theo đúng kế hoạch đã lập trướchay không
5 Thù lao lao động:
Thù lao lao động chính là các khoản mà người lao động nhận được khi tiếnhành làm việc cho tổ chức Trên thực tế, kết quả của hoạt động đánh giá thực hiệncông việc là một căn cứ quan trọng để các nhà quản lý đưa ra các quyết định vềlương, thưởng hợp lý cho người lao động
Tùy thuộc vào mức độ hoàn thành công việc của nhân viên mà người quảnlý tiến hành trả lương, thưởng tương xứng cho từng người Có thể nói hoạt độngđánh giá tạo nên sự phân phối khoa học và công bằng trong vấn đề trả thù lao laođộng trong tổ chức Đồng thời, công tác này còn tạo động lực thúc đẩy người laođộng nâng cao sự thực hiện công việc, khuyến khích họ làm việc có hiệu quả hơn
6 Kỷ luật lao động và an toàn lao động:
Để có thể nhận mức thù lao cao thông thường người lao động sẽ làm việccẩn thận và chu đáo hơn, nhằm hoàn thiện công việc một các tốt nhất Do đó việctránh không để mắc lỗi và vi phạm kỷ luật trong quá trình làm việc là điều hết sứccần thiết Như vậy việc thực hiện đánh giá có thể tăng cường tính kỷ luật làm việctrong tổ chức
Mặt khác, quá trình đánh giá sự thực hiện công việc của người lao độnggiúp cho các nhà quản lý xác định được quy trình làm việc hiện tại có an toànkhông, từ đó xác định các nguyên nhân và tìm ra các giải pháp cải thiện nhằm đápứng đầy đủ các điều kiện an toàn cho người lao động
V Sự cần thiết phải hoàn thiện hoạt động đánh giá thực hiện công việc:
Trang 16Đánh giá thực hiện công việc là một hoạt động có tầm quan trọng to lớn đốivới việc quản lý nguồn nhân lực trong tổ chức Trong bất kỳ một tổ chức nào, côngtác quản trị nhân sự có thành công hay không phần lớn do doanh nghiệp biết đánhgiá đúng hiệu quả làm việc của nhân viên Vì vậy, đánh giá thực hiện công việc có ýnghĩa quan trọng, nó không chỉ phục vụ nhiều mục tiêu quản lý mà còn tác độngtrực tiếp đến cả người lao động và tổ chức; đồng thời nó cũng là cơ sở cho các hoạtđộng quản trị nhân sự khác như tuyển mộ, tuyển chọn, đào tạo và phát triển, thùlao Để tăng cường tính hiệu quả cho quản lý nhân sự thì việc hoàn thiện hoạt độngnày trong tổ chức là điều rất cần thiết.
Công ty Cổ phần Cồn Rượu Hà Nội là một thành viên của Tổng Công ty Cổphần Bia-Rượu-Nước giải khát Hà Nội, với hơn 100 năm lịch sử, Công ty đã trảiqua các giai đoạn phát triển khác nhau và đã đúc kết nhiều kinh nghiệp thành côngtrong sản xuất kinh doanh Trong những năm gần đây, mặc dù nền kinh tế trongnước có nhiều biến chuyển lớn do khủng hoảng toàn cầu nhưng Công ty vẫn có mứctăng trưởng mạnh và quy mô được mở rộng hàng năm
Cùng với quy mô ngày càng phát triển, sự gia tăng về nhân lực và việc thựchiện hiệu quả các công tác quản trị nguồn nhân lực đang trở thành vấn đề được quantâm tại Công ty hiện nay Để người lao động phát huy được sức mạnh cũng như cóthể gắn bó và cống hiến cho doanh nghiệp, Công ty đã xây dựng các chính sách vềcác chế độ phụ cấp, nâng lương, nâng bậc tương đối hợp lý Tuy nhiên, đối vớicông tác đánh giá sự thực hiện công việc của người lao động Công ty vẫn chưa thựcsự chú trọng nhiều
Hiện nay, Công ty tiến hành đánh giá thực hiện công việc hàng tháng dựatrên “Quy chế bình bầu A-B-C hàng tháng” và thực hiện đánh giá năm theo “Quyđịnh khen thưởng các danh hiệu thi đua năm” Thực tế cho thấy, hoạt động đánh giáthực hiện công việc vẫn còn mang tính hình thức và còn nhiều hạn chế Hoạt độngđánh giá chỉ được thực hiện nhằm phục vụ cho công tác trả thù lao lao động, chưathực sự tác động đến các hoạt động khác trong Công ty
Vì vậy, để có thể phát triển lớn mạnh hơn thì việc hoàn thiện công tác đánhgiá thực hiện công việc tại Công ty là điều hết sức cần thiết Công ty nên xây dựngmột hệ thống đánh giá rõ ràng, cụ thể để có thể đánh giá đúng năng lực và hiệu quảlàm việc của người lao động
Trang 17CHƯƠNG II.
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÁNH GIÁ THỰC HIỆN CÔNG VIỆC TẠI CÔNG TY CỔ PHẨN CỒN RƯỢU HÀ NỘI
I Tổng quan về Công ty Cổ phần Cồn Rượu Hà Nội:
1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty:
Trang 18 Giới thiệu chung về công ty:
Tên giao dịch quốc tế: Hanoi Liquor Joint Stock Company
Logo Công ty:
Cơ quan quản lý cấp trên: Tổng Công ty CP Bia-Rượu-Nước Giải khát Hà NộiNgười đại diện pháp nhân: Hồ Văn Hải
Tổng số CBCNV hiện tại: 918 người
- Cán bộ có trình độ Cao đẳng, Đại học và trên Đại học: 158 người
- Công nhân kỹ thuật bậc cao ( từ bậc 4 trở lên): 396 người
Số vốn điều lệ: 108.500.000.000 VND
Tổng số vốn điều lệ của Công ty được chia thành 10.850.000 cổ phần với mệnh giá10.000 đồng/cổ phần
Khái quát tiến trình hình thành và phát triển của Công ty Cổ
phần Cồn Rượu Hà Nội:
Công ty Cổ phần Cồn Rượu Hà Nội có tiền thân là Nhà máy Rượu Hà Nội,được thành lập năm 1898 tại số 94 Lò Đúc Đây là nhà máy lớn nhất trong bốn nhàmáy được Công ty Fontaine của Chính phủ Pháp xây dựng tại Đông Dương Trongsuốt những năm kháng chiến chống Pháp, Nhà máy Rượu Hà Nội bị kẻ địch chiếmđóng biến làm trại giam Sau khi hòa bình lập lại Nhà máy trở thành kho chứa hànghóa, vật tư của ngành công thương
Trang 19Ngày 21/11/1955 Chính phủ ban hành quyết định phục hồi Nhà máy RượuHà Nội để sản xuất cồn phục vụ cho y tế, quốc phòng và dân sinh Sau gần 1 nămkhôi phục và sửa chữa, đến ngày 19/05/1956, Nhà máy đã được khánh thành và đưavào sản xuất theo tiêu chí “Tham gia quản lý lao động, cải tiến kỹ thuật” Để phụcvụ tốt đáp ứng nhu cầu của đất nước, từ năm 1957 đến năm 1958, Nhà máy đã nỗlực nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hóa, tổ chức tìm kiếm, tháo dỡ, vận chuyển,và lắp đặt thành công các tổ máy quan trọng như lò hơi, máy cất Nhà máy RượuHà Nội được vinh dự tiếp đón Bác Hồ hai lần vào năm 1956 và năm 1961 Nghe lờiBác dạy, cùng với sự động viên, khích lệ của Bác, các cán bộ công nhân viên Nhàmáy đã hăng hái nghiên cứu, thi đua sản xuất, ứng dụng thành công nguyên liệuthay thế cho gạo nhằm mục tiêu tiết kiệm gạo cho dân đủ ăn, tinh chế rượu, giảmđộc tố có hại cho sức khỏe Với những nỗ lực tìm tòi nghiên cứu cùng sự hỗ trợ củacác chuyên gia đầu ngành sinh học người Đức và Trung Quốc, từ năm 1960 – 1961,nhà máy đã thực hiện “cuộc cải cách kỹ thuật” thay thế việc sản xuất rượu từphương pháp cũ sang phương pháp mới (Mycomalte) Qua đó Nhà máy đã tănghiệu suất thu hồi sản phẩm và đa dạng được nguồn nguyên liệu trong sản xuất rượu( sử dụng ngô, sắn làm nguyên liệu chính thay cho gạo).
Trong thời kỳ kế hoạch hóa tập trung, Nhà máy sản xuất phần lớn các sảnphẩm phục vụ cho việc xuất khẩu sang Liên Xô và Đông Âu, phần còn lại đượcphân phối cho nhu cầu tiêu dùng trong nước Nổi bật nhất trong thời kỳ này là Nhàmáy đã tiến hành nghiên cứu và xây dựng thành công tháp tinh chế rượu theo hệthống của Pháp, đảm bảo chất lượng rượu tinh chế đạt hiệu quả cao
Tuy nhiên, khi kinh tế đất nước chuyển đổi sang cơ chế thị trường, Nhàmáy đã gặp không ít khó khăn trong quá trình sản xuất và đặc biệt là tiêu thụ sảnphẩm, do máy móc thiết bị cũ kỹ, công nghệ lạc hậu, không theo kịp sản phẩm rượungoại Trước nguy cơ đó, năm 1990, các lãnh đạo Nhà máy đã quyết định tiến hànhchuyển đổi công nghệ sản xuất mới, từ phương pháp Mycomalte sang phương phápEnzyme, đổi mới hệ thống lên men rượu theo tiêu chuẩn quốc tế
Năm 1993, theo quyết định của Bộ Công nghiệp nhẹ, Nhà máy được đổi tênthành Công ty Rượu Hà Nội, với tên giao dịch là Halico Đến năm 2004, Công tyRượu Hà Nội được chuyển đổi thành Công ty TNHH một thành viên Rượu Hà Nội
Năm 2006, Công ty tiến hành cổ phần hóa với tên gọi mới là Công ty Cổphần Cồn Rượu Hà Nội Hiện nay Halico đang tiến hành áp dụng những công nghệhiện đại, tiên tiến nhất thế giới để sản xuất những sản phẩm chất lượng cao, phù hợp
Trang 20với văn hóa rượu của người Việt Nam và xuất khẩu sang các nước khác trên thếgiới Mặt khác, do có nhiều đóng góp trong việc nâng cao chất lượng sản phẩm,phát triển kinh tế đất nước nên năm 2008 Công ty Cổ phần Cồn Rượu Hà Nội đượcnâng hạng trở thành Doanh nghiệp loại 1 và được nhận chứng chỉ ISO 9001:2000.Bên cạnh đó, Công ty còn vinh dự được nhận cờ thi đua của Chính phủ cho doanhnghiệp dẫn đầu phong trào thi đua toàn quốc Hiện tại, Halico đã xây dựng thêmmột nhà máy sản xuất lớn tại khu công nghiệp Yên Phong-Bắc Ninh Nhà máy đượctrang bị đầy đủ các trang thiết bị, máy móc hiện đại nhằm sản xuất các sản phẩmphục vụ nhu cầu ngày càng tăng trong và ngoài nước.
2 Cơ cấu tổ chức của Công ty:
Trong mô hình tổ chức của Công ty, cơ quan lãnh đạo cao nhất là Đại hộiđồng cổ đông, tiếp đến là Hội đồng quản trị, và sau đó là Giám đốc, hỗ trợ choGiám đốc có ba Phó Giám đốc Giám đốc là người chịu trách nhiệm quản lý cácphòng ban và phân xưởng
Mô hình tổ chức của Công ty được thể hiện qua Sơ đồ 1 tại trang sau Qua
sơ đồ có thể thấy cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của Công ty được xây dựng theodạng cơ cấu trực tuyến - chức năng Như vậy, mối quan hệ giữa cấp trên với cấpdưới là một đường thẳng Theo cơ cấu tổ chức này, ban quản lý của công ty có thểthực hiện tốt chế độ thủ trưởng, ngoài ra còn có thể tận dụng, khai thác tiềm năng,kinh nghiệm của các cán bộ cấp dưới, đồng thời qua đó giảm bớt gánh nặng quản lýcho nhà lãnh đạo Tuy nhiên, cơ cấu này cũng đòi hỏi người lãnh đạo phải thườngxuyên giải quyết mối quan hệ giữa các bộ phận trực tuyến với bộ phận chức năng
Trang 21(Nguồn: Phòng Tổ chức Lao động Tiền lương, Công ty CP Cồn Rượu Hà Nội)
Sơ đồ 2.1- Cơ cấu tổ chức của Công ty Cổ phần Cồn Rượu Hà Nội
Ban kiểm soát HĐQT
Giám đốc Công ty
P.
KTTC KSC P KTCĐ P
P KTCN
CT TNHH 1TVTM Rượu HN
Nhà máy Rượu Hà
Nội-Bắc Ninh
CN Tp Cần Thơ
Trang 22Chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận trong bộ máy quản lý và sản xuấtcủa Công ty như sau:
Đại hội đồng cổ đông: là cơ quan thẩm quyền cao nhất của Halico, có nhữngquyền và nhiệm vụ chính sau: thông qua các báo cáo tài chính hàng năm, xem xéttình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty; thông qua định hướng pháttriển của công ty về kế hoạch sản xuất kinh doanh; quyết định các dự án đầu tư,công tác tài chính
Ban kiểm soát: là ban được lập ra thay mặt Đại hội đồng cổ đông kiểm tragiám sát về mọi hoạt động quản lý Công ty của Hội đồng quản trị, Giám đốc
Hội đồng quản trị: đây là cơ quản có đầy đủ quyền hạn để thực hiện tất cảcác quyền nhân danh Công ty trừ những thẩm quyền thuộc về Đại hội đồng cổđông Chức năng và nhiệm vụ của Hội đồng quản trị bao gồm: quyết định kế hoạchphát triển sản xuất kinh doanh và ngân sách hàng năm; xác định các mục tiêu hoạtđộng trên cơ sở các mục tiêu chiến lược được Đại hội đồng cổ đông thông qua; bổnhiệm và bãi nhiệm các cán bộ quản lý của công ty
Giám đốc là người điều hành công việc hàng ngày của Công ty, nhiệm vụ cụthể của Giám đốc là: thực hiện các nghị quyết của Hội đồng quản trị và Đại hộiđồng cổ đông; tổ chức thực hiện kế hoạch kinh doanh và phương án đầu tư củaCông ty; đề xuất những biện pháp nhằm nâng cao hoạt động và quản lý của Côngty; báo cáo lên Hội đồng quản trị và các cổ đông; thực hiện tất cả các hoạt độngkhác theo quy chế của Công ty
Phó Giám đốc là người tham mưu, giúp đỡ cho Giám đốc trong việc thựchiện vai trò điều hành của mình Hiện nay Công ty Cổ phần Cồn Rượu Hà Nội có
ba phó giám đốc được phân chia các chức năng rõ ràng là: Phó Giám đốc Tài chínhkiêm Kế toán trưởng, Phó Giám đốc Kế hoạch-đầu tư, Phó Giám đốc Kỹ thuật sảnxuất
Các phòng ban chức năng thực hiện các nhiệm vụ theo chức năng, tham mưucho giám đốc trong hoạt động sản xuất kinh doanh về từng mặt, được sự chỉ đạotrực tiếp của Giám đốc Cụ thể chức năng nhiệm vụ của từng phòng ban được mô tảnhư sau:
Phòng Kế hoạch đầu tư: Tham mưu và giúp việc cho Giám đốc trong lĩnhvực kế hoạch sản xuất kinh doanh, tổ chức bán hàng, quản lý kho thành phẩm, cungứng sản phẩm; xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh ngắn hạn và dài hạn; lập kế
Trang 23hoạch tiêu thụ sản phẩm; xây dựng các chính sách bán hàng và quản lý hệ thốngphân phối.
Phòng Marketing: Tham mưu cho Giám đốc và tổ chức thực hiện cáccông tác như nghiên cứu thị trường, xây dựng chiến lược và kế hoạch marketing, tổchức phát triển thị trường, quản trị và phát triển thương hiệu, phối hợp phát triểnsản phẩm mới
Phòng Vật tư: Tham mưu cho Giám đốc và thực hiện thu mua vật tư,quản lý và cấp các loại nguyên liệu, nhiên liệu, vật tư phục vụ sản xuất và kinhdoanh của Công ty; tổ chức quản lý và cấp phát vật tư cho các bộ phận; quản lý phếliệu, phế phẩm và phế thải
Phòng Hành chính: Tham mưu cho Giám đốc và thực hiện công tác vănthư, lưu trữ, lế tân; quản lý tài sản, trang thiết bị, vật tư văn phòng; tổ chức công tácbảo vệ tài sản, đảm bảo an ninh trật tự; tổ chức công tác y tế và quản lý nhà ăn tậpthể; tổ chức công tác quan hệ công chúng bên trong và bên ngoài công ty
Phòng Tổ chức Lao động Tiền lương: Tham mưu cho Giám đốc và thựchiện công tác xây dựng, kiện toàn, cải tiến cơ cấu tổ chức và các quy chế quản lýnội bộ; quản trị và phát triển nguồn nhân lực; quản lý cổ đông, cổ phẩn, cổ phiếucủa Công ty Xây dựng và thực hiện các chính sách, chế độ đãi ngộ cho người laođộng; xây dựng kế hoạch lương, thưởng, và các hoạt động quản trị nguồn nhân lựckhác; thực hiện các nhiệm vụ về BHXH, BHYT; giải quyết các vấn đề về hệ thốngchất lượng ISO
Phòng Tài chính Kế toán: Thực hiện công tác hạch toán kế toán theo quyđịnh; quản trị tài chính, tham mưu cho Giám đốc các giải pháp bảo toàn, phát triểnnguồn vốn và ra các quyết định sản xuất kinh doanh; lập kế hoạch tài chính choCông ty; đề xuất các giải pháp sử dụng vốn hiệu quả; phân tích dự báo tình hình tàichính cho Công ty
Phòng Kỹ rhuật Công nghệ: Tham mưu và giúp Giám đốc xây dựng, cảitiến và giám sát thực hiện các quy trình, quy định, tiêu chuẩn, định mưc kỹ thuậtcông nghệ Phối hợp với phòng Marketing nghiên cứu, thiết kế, thử sản phẩm mới
Phòng KCS:
Tổ chức quản lý chất lượng vật tư, nguyên liệu, nhiên liệu, bán thành phẩm,thành phẩm, thiết bị và hệ thống quản lý chất lượng của Công ty; kiểm tra chấtlượng sản phẩm khách hàng khiếu nại; tham gia công tác chống hàng giả, hàng nháivà phân tích sản phẩm của đối thủ cạnh tranh
Trang 24 Phòng Kỹ thuật Cơ điện: Thực hiện quản lý hệ thống máy móc, thiết bị,phương tiện, cơ sở hạ tầng của Công ty đáp ứng yêu cầu sản xuất kinh doanh, đảmbảo có hiệu quả và an toàn; xây dựng các quy chế, quy trình, quy phạm kỹ thuật antoàn lao động.
Ban quản lý dự án: Tổ chức triển khai thực hiện và quản lý các dự án đầu
tư sản xuất kinh doanh của Công ty; nghiên cứu dự án và lập kế hoạch triển khai dựán; tổ chức triển khai, quản lý và giám sát thực hiện dự án
Công ty TNHH 1 thành viên Thương mại Rượu Hà Nội là một công ty concủa Công ty Cổ phần Cồn Rượu Hà Nội, quản lý ba chi nhánh lớn tại thành phố HồChí Minh, Đà Nẵng, Cần Thơ; và một cửa hàng giới thiệu sản phẩm Công tyTNHH 1TV Thương mại Rượu Hà Nội có nhiệm vụ tổ chức giới thiệu các sảnphẩm, chính sách bán hàng, thương hiệu của Halico; tổ chức bán hàng tại các vùngmiền trong nước, lập kế hoạch bán hàng tại các chi nhánh
Nhà máy Rượu Hà Nội-Bắc Ninh: là một thành viên của Halico, gồm ba xínghiệp chính thuộc khu vực sản xuất là xí nghiệp cồn, xí nghiệp rượu mùi và xínghiệp phục vụ Các xí nghiệp có nhiệm vụ quản lý mọi hoạt động của xí nghiệpnhằm thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch mà Công ty giao cho; đảm bảo hoàn thành kếhoạch sản xuất cả về số lượng và chất lượng sản phẩm
3 Cơ cấu lao động:
Do đặc điểm là một công ty sản xuất sản phẩm để tiêu thụ nên Halico cóquy mô lao động tương đối lớn, đặc biệt là khố lao động sản xuất trực tiếp
Qua bảng tổng hợp cơ cấu lao động của Công ty (Bảng 1) có thể thấy quy
mô lao động ngày càng được mở rộng cả về số lượng và chất lượng Nguyên nhâncủa sự gia tăng nhanh chóng lực lượng lao động là do quy mô sản xuất của Công tyngày càng được mở rộng và phát triển mạnh Tính đến cuối năm 2009, tổng số laođộng trong Công ty hiện có là 918 người với một cơ cấu rất đa dạng So với năm
2008 lực lượng lao động của Công ty đã tăng lên 161 người tương ứng với 21,3%.Như vậy chỉ sau một năm, số lao động đã tăng lên tương đối lớn
Bảng 2.1-Cơ cấu lao động qua các năm
Đơn vị: người
Trang 25Nội dung
2009/2008 Số
I Theo chức năng
II Theo giới tính
III Theo tuổi đời
(Nguồn:Tự tổng hợp từ dánh sách CBCNV Công ty CP Cồn Rượu Hà Nội qua các
năm 2008, 2009, Phòng Tổ chức Lao động tiền lương)
Xét theo cơ cấu chức năng, số lượng lao động trực tiếp và lao động giántiếp đều tăng lên, trong đó lao động gián tiếp tăng nhanh một cách đáng kể Trongnăm 2009, lượng lao động gián tiếp đã tăng lên đến 60% trong khi đó lao động trựctiếp hầu như không tăng Sự gia tăng của lao động gián tiếp chủ yếu là do quy môsản xuất ngày càng tăng, các loại sản phẩm mới được thử nghiệm và sản xuất ngàycàng nhiều, do đó việc tiếp thị với khách hàng là điều không thể thiếu Vì vậy laođộng gián tiếp tăng lên chủ yếu là các nhân viên bán hàng và lái xe để phục vụ chocông tác tiêu thụ sản phẩm và vận chuyển của Công ty Số lượng lao động trực tiếphầu như không đổi trong khi giá trị sản lượng của Công ty lại không ngừng gia tăng.Điều này cho thấy Công ty đã tiến hành rất tốt công tác quản lý, phân công hiệp táclao động hợp lý và đặc biệt là kỷ luật lao động rất chặt chẽ, qua đó nhằm nâng cao
Trang 26năng suất lao động, góp phần tăng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh cho doanhnghiệp.
Theo cơ cấu giới tính, số lao động nữ chiếm tương đối lớn, năm 2008 chiếm52,7%; năm 2009 là 54,5% Mặt khác, sự tăng lên của lao động nữ cũng lớn hơnnhiều so với lao động năm Năm 2009 lao động nữ tăng so với năm 2008 là 25,3%trong khi nam chỉ có 16,8% Với một công ty có đặc điểm sản xuất tương đối phứctạp như Halico thì số lượng lao động nữ nhiều hơn lao động nam nhu vậy là khôngphù hợp Tuy nhiên, nếu xét theo khía cạnh khác, số lượng lao động nữ này chủ yếulàm việc trong khối hành chính văn phòng và đặc biệt là lượng lao động nữ tiếp thịbán hàng của Công ty cũng tương đối lớn Do đó có thể nói lao động nữ tham giavào khối sản xuất ít hơn số lao động nam, điều này là hoàn toàn hợp lý
Về cơ cấu cán bộ công nhân viên theo tuổi đời có thể thấy số lượng laođộng dưới 30 tuổi chiếm tương đối lớn ( năm 2009: 36,5%) và tăng lên khá nhanh(66,7% năm 2009 so với 2008) Và số lao động trên độ tuổi 50 chiếm thấp hơn sovới các độ tuổi khác, chỉ có 16,7% năm 2009 Nhìn chung lao động trong Công tycó cơ cấu tuổi khá trẻ, tuổi trung bình của số lao động của Halico la 36 tuổi Đâycũng là một ưu thế lớn đối với Công ty Lao động trẻ thường năng động, tìm tòisáng tạo và luôn thích làm mới trong công việc, do đó thường làm việc tích cực vàhiệu quả hơn
Xét theo trình độ chuyên môn, lành nghề; đội ngũ lao động có trình độ Đạihọc và trên đại học chiếm 13,4% tổng số lao động toàn Công ty Đây là một con sốtương đối thấp, cần được chú trọng nâng cao hơn Lượng lao động có trình độ Caođẳng và Trung học chuyên nghiệp chiếm cũng không nhiều nhưng có xu hướng tănglên ( năm 2008 chỉ có 6,6%; năm 2009 lên đến 11,5%) Như vậy số lượng lao độnchuyên môn kỹ thuật của Halico là rất thấp trong khi đó lượng lao động sơ cấp vàchưa qua đào tạo lai chiếm khá lớn ( khoảng 75%) Đây là một khó khăn lớn trongviệc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của Công ty
4 Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty:
1.1 Đặc điểm về sản phẩm:
Halico là một trong những doanh nghiệp sản xuất rượu cồn lớn nhất ViệtNam Trong những năm qua Công ty đã chứng tỏ được vị thế của mình là một công
Trang 27ty sản xuất đồ uống có cồn được người Việt Nam ưa chuộng và tin dùng Một trongnhững thành công đó chính là nhờ sản phẩm ngày càng đa dạng, có chất lượng ổnđịnh và đảm bảo với người tiêu dùng Công ty đang sản xuất ba loại sản phẩm chínhđó là Cồn tinh chế, Rượu Vodka và Rượu mùi các loại Mặt khác, hiện nay sảnphẩm của Halico không chỉ dừng lại ở các sản phẩm truyền thống mà Công ty đãchú trọng phát triển sản phẩm mới thuộc dòng Vodka cao cấp hướng tới nhu cầungày càng cao của người tiêu dùng trẻ tuổi, thu nhập cao như Vina Vodka, BluebirdVodka Đồng thời cho ra mắt các sản phẩm hướng tới người tiêu dùng là nữ giớinhư Thanh Mai, Rượu Cà phê, Zuz
1.2 Thị trường tiêu thụ:
Đối với thị trường trong nước: Công ty có hệ thống kênh phân phối sản phẩmđược mở rộng và phát triển khắp các tỉnh thành phố trên cả nước, trong đó bao gồm
ba chi nhánh chính là chi nhánh Tp Hồ Chí Minh, chi nhánh Tp Cần Thơ, chinhánh Tp Đằ Nẵng Trong những nam gần đây hệ thống tiêu thụ nói trên được chútrọng đầu tư nhằm mục đích tiếp cận và khai thác hợp lý các nhu cầu của thị trường,đưa sản phẩm từ nơi sản xuất đến các khách hàng cuối cùng một cách nhanh chóngnhất
Song song với việc phát triển thị trường nội địa, Công ty cũng đã có nhiều cốgắng mở rộng thị trường ra nước ngoài Tuy doanh thu từ xuất khẩu vẫn còn hạnchế nhưng các sản phẩm đã dần dần được khẳng định ở nhiều nước trên thế giới.Đặc biệt những năm gần đây sản phẩm của Công ty đã được đánh giá cao tại cácnước khu vực Đông Âu, vươn tới được các thị trường lớn trên thế giới như Mỹ,Nhật Bản, Hà Quốc, EU
1.3 Công nghệ sản xuất:
Công nghệ sản xuất cồn tinh chế: nguyên liêu chủ yếu là các loại ngũ cốcnhư bột gạo, ngô, sắn được xay nhỏ theo tiêu chuẩn sau đó tiến hành tinh chế cồntheo sơ đồ sau:
Sơ đồ 2.2-Quy trình sản xuất cồn tinh chế
H 2 O
Bột gạo, ngô,
Đường hóa
(Enzym+Nước dội nguội)
Trang 28(Nguồn: Quy trình công nghê sản xuất, P.TCLĐTL)
Công nghệ sản xuất Rượu mùi: nguyên liệu chính là cồn đã được tinh chế,nước, hương liệu, côt quả và phẩm màu thực vật Các nguyên liệu được đưa vào phachế theo tỷ lệ nhất định, sau đó được chuyển sang tàng trữ, tách cặn, lọc trong Saukhi tiến hành kiểm tra độ trong, rượu được chiết chai, đậy nút, dán nhãn, đóng đaikét và được vận chuyển vào kho
Quá trình sản xuất rượu mùi được thể hiện thông qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 2.3-Quy trình sản xuất rượu mùi:
(Nguồn: Quy trình công nghê sản xuất, P.TCLĐTL)
Công nghệ sản xuất Rượu Vodka: nguyên liệu chính là cồn tinh chế, đượcđưa qua hệ thống tháp cất tinh luyện, cho các loại cồn sản xuất rượu Vodka, sau đócồn được đưa vào tàng trữ, chiết chai, đậy nút; cuối cùng được kiểm tra, dán nhãn,đai két và vận chuyển nhập kho
Sơ đồ sản xuất rượu Vodka như sau:
Sơ đồ 2.4-Quy trình sản xuất rượu Vodka
Cồn,nước,axit
hương liệu,cốt
quả,phẩm màu tvật
Kiểm tra sảnphẩm
Bao gói,đaikét
Vận chuyển,
nhập kho
Cồn tinh chế Tháp cất tinh
Chiết chai,đậy nút, dánnhãn, in ngàysx
Kiểm tra sảnphẩm
Bao gói,đaikétVận chuyển,
nhập kho
Trang 29(Nguồn: Quy trình công nghê sản xuất, P.TCLĐTL)
1.4 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh:
Qua bảng tổng hợp kết của Công ty trong 3 năm (trang sau) cho thấy hoạtđộng sản xuất kinh doanh của Công ty tương đối khả quan Các chỉ tiêu về doanhthu, vốn chủ sở hữu, các khoản phải nộp ngân sách nhà nước đều tăng qua các năm.Năm 2006, Công ty bắt đầu chuyển sang hình thức cổ phần, doanh thu lúc này củaHalico đạt tới 408,3 tỷ; tăng hơn so với năm 2005 là 70,5% Doanh thu vẫn tiếp tụctăng cao, đến năm 20078 tăng hơn so với 2006 là 32,5%; năm 2008 so với 2007 là25,1% Mặc dù doanh thu tuyệt đối qua các năm nhưng xét về mặt tương đói, lượnggia tăng này có xu hướng ngày càng giảm Nguyên nhân của hiện tượng này co thể
do các khoản chi phí phải nộp cho ngân sách nhà nước cũng tăng lên theo từng năm.Năm 2006 khoản phải nộp cho nhà nước là 159,6 tỷ đồng, tăng lên 177,8 tỷ đồngnăm 2007 và đến năm 2008 đạt mức cao là 208,5 Mặt khác, vốn chủ sở hữu củaCông ty cũng tăng lên nhanh chóng So với năm 2005, nguồn vốn chủ sở hữu năm
2006 tăng lên 46,6% nhưng đến năm 2007 tăng lên đến 105,5% và năm 2009 là94,8% Đây là một con số rất lớn Chính vì sự tăng lên của vốn chủ sở hữu khiếncho tỷ suất lợi tức cũng tăng nhanh và điều này là nguyên nhân làm doanh thu giảmtương đôi Thu nhập bình quân của người lao động trong Công ty được coi là caohơn rất nhiều so với mức trên thị trường; năm 2006 tăng 300% so với 2005, 2007tăng 60% và 2008 tăng 109% Như vậy, qua bảng kết quả sản xuất kinh doanh cóthể thấy rằng Halico đang trên đà phát triển mạnh, có tốc độ tăng trưởng khá cao,thu nhập bình quân của người lao động tăng lên đáng kể so với thời kỳ trước, điềunày chứng tỏ Công ty đã dần nâng cao hiệu quả sản xuất đặc biệt là đã quan tâm chúý cải thiện đời sống cho người lao động
Rửa chai
Trang 30Bảng 2.2- Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh 3 năm 2006, 2007, 2008 của Công ty Halico
tính
thực hiện năm 2009
Ghi chú
Thực hiện
Tỷ lệ % 2006/2005
Thực hiện
Tỷ lệ % 2007/2006
Thực hiện
Tỷ lệ % 2008/2007
4 Tổng vốn đầu tư đổi mới công
7 Tỷ suất lợi tức thực hiện/ vốn chủ
9
Thu nhập bình quân
Người/thángLao động chuyên môn
Lao động phổ thông
Triệuđồng
15
208
153
164
173
2006 t/
h CPhóa
(Nguồn:Báo cáo thành tích năm 2008, Phòng Tổ chức Lao động Tiền lương)
Trang 31II Phân tích thực trạng hoạt động đánh giá thực hiện công việc tại Công ty Cổ phần Cồn Rượu Hà Nội.
1 Hệ thống đánh giá thực hiện công việc tại Công ty hiện nay:
Để công tác đánh giá thực hiện công việc có hiệu quả cao thì bước đầu tiêncần phải xây dựng một hệ thống đánh giá thực hiện công việc Hệ thống này thôngthường được thiết lập bởi ba yếu tố cơ bản là: các tiêu chuẩn thực hiện công việc;
đo lường sự thực hiện công việc theo các tiêu thức trong tiêu chuẩn; thông tin phảnhồi kết quả đánh giá
Sau đây ta sẽ xét cụ thể từng yếu tố đối với công tác thực hiện công việc tạiCông ty CP Cồn Rượu Hà Nội:
1.1 Tiêu chuẩn thực hiện công việc:
Hiện nay các tiêu chuẩn dùng để đánh giá nhân viên cũng như các phòngban, xí nghiệp được xây dựng cụ thể tại văn bản “Tiêu chuẩn viên chức chuyênmôn, nghiệp vụ, kỹ thuật và cấp bậc kỹ thuật công nhân TC01” Mục đích chính củavăn bản này là quy định cho công nhân, cán sự, chuyên viên ở các chức danhchuyên môn, nghiệp vụ, kỹ thuật về các tiêu chuẩn phải đạt như chức trách, hiểubiết, làm được, trình độ yêu cầu (Phụ lục 02)
Ví dụ cụ thể đối với vị trí nhân viên bán hàng, yêu cầu làm được theo tiêuchuẩn như sau:
- Làm được công việc theo đúng chức trách,
- Thực hiện kế hoạch bán hàng, giới thiệu, quảng cáo sản phẩm đã được phêduyệt,
- Nhận và giao hàng hóa, sản phẩm theo đúng yêu cầu về số lượng, chấtlượng, mẫu mã Thu tiền hàng, phân loại mệnh giá các loại tiền,
- Biết phân biệt các loại tiền thật, tiền giả,
- Viết chính xác các loại hóa đơn, chứng từ của hoạt động bán hàng, giớithiệu, quảng cáo sản phẩm
- Bảo quản hóa đơn, chứng từ theo quy định; định kỳ thống kê và báo cáo kếtquả thực hiện công việc được giao
Từ ví dụ cho thấy, nếu một nhân viên có thể thực hiện công việc bán hàngtheo đúng tiêu chuẩn trên thì được coi là hoàn thành nhiệm vụ Các tiêu chuẩn hoànthành công việc này mới chỉ đề cập đến yêu cầu nhiệm vụ chung chung, chưa xác
Trang 32định cụ thể số lượng các loại mặt hàng cũng như khối lượng đơn đặt hàng cần bánlà bao nhiêu.
Như vậy, Công ty đã xây dựng được hệ thống các tiêu chuẩn cho việc đánhgiá thực hiện công việc, xác định được các yêu cầu cần thiết để hoàn thành tốt mộtcông việc cụ thể Và từ các tiêu chuẩn này, Công ty đã cho thiết kế các mẫu bản môtả công việc khá đầy đủ cho từng vị trí công việc Tuy nhiên những tiêu chuẩn nàychỉ gồm các chỉ tiêu về mặt chất lượng, còn mặt số lượng chưa được đề cập đến.Bên cạnh đó cũng có nhiều tiêu chuẩn chưa thực sự cụ thể đối với lao động giántiếp và một số vị trí không có tiêu chuẩn cụ thể như các chức danh Giám đốc, PhóGiám đốc, Kế toán trưởng
1.2 Đo lường sự thực hiện công việc:
Việc đo lường kết quả công việc của người lao động được xem xét trên cáctiêu thức có trong tiêu chuẩn thực hiện công việc Đây là công việc mang tính chấttrung tâm của công tác đánh giá Tuy nhiên, đối với Công ty Cổ Phần Cồn Rượu HàNội, đo lường thực hiện công việc không chỉ xét đến các yếu tố trong tiêu chuẩn màcòn căn cứ vào các yếu tố không thuộc tiêu chuẩn Cụ thể các tiêu thức đánh giánhư sau:
- Chỉ tiêu về số ngày công lao động
- Chỉ tiêu về mức độ hoàn thành nhiệm vụ
- Chỉ tiêu về mức độ tiết kiệm vật tư
- Chỉ tiêu về kỷ luật lao động và an toàn lao động
Như vậy, các tiêu chuẩn để đánh giá của Công ty không chỉ bó hẹp trongphạm vi của hệ thống tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ kỹ thuật mà còn được xemxét bởi các yếu tố khác phù hợp với điều kiện thực tế làm việc của Công ty
Xét cụ thể từng yếu tố căn cứ của công tác đánh giá thực hiện công việc củaCông ty đối với khối lao động quản lý và khối lao động sản xuất như sau:
Khối lao động quản lý:
Do đặc trưng của công việc là thực hiện giám sát và quản lý theo thời giannên các tiêu chí dùng để đánh giá lao động quản lý chỉ bao gồm số ngày công laođộng, mức độ hoàn thành nhiệm vụ và chỉ tiêu về kỷ luật lao động, an toàn laođộng
Về số ngày công lao động:
Trang 33Đây là một trong những tiêu chí được coi là quan trọng đối với công tácđánh giá vì nó ảnh hưởng đến việc đảm bảo tiến độ thực hiện công việc theo kếhoạch Đối với tiêu chí này, để có thể giám sát số ngày công của người lao động,người quản lý sử dụng bảng chấm công, ghi nhận giờ giấc cũng như số ngày làmviệc thực tế của người lao động (Phụ lục 05)
Về mức độ hoàn thành nhiệm vụ:
Chỉ tiêu này được coi là quan trọng nhất để đánh giá kết quả thực hiện côngviệc của người lao động Một người được coi là hoàn thành nhiệm vụ khi đáp ứngđầy đủ các tiêu thức trong tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ theo quy định củaCông ty Đặc biệt đối với khối lao động quản lý, tiêu chuẩn này được thể hiện cụthể thông qua bản mô tả công việc (Phụ lục 03)
Ví dụ đối với vị trí nhân viên tiền lương, một số các yêu cầu công việc nhưsau:
- Công tác trả lương cho người lao động hàng tháng được thực hiện chính xác,minh bạch, kịp thời và tuân thủ quy chế trả lương của Công ty
- Hệ thống tiền lương được điều chỉnh cải tiến phù hợp với chiến lược pháttriển nhân sự, đảm bảo công bằng, kích thích người lao động
- Hệ thống đánh giá thực hiện công việc của người lao động được thực hiệnđúng theo quy trình, mục đích và cung cấp các thông tin hữu ích phục vụ quản lýnhân sự
Như vậy, bản mô tả đã nêu cụ thể nhiệm vụ công việc mà một chuyên viênlao động cần phải làm được Nếu đáp ứng được đầy đủ các tiêu chuẩn được xâydựng trong bảng mô tả thì người cán bộ được coi là đã hoàn thành công việc củamình Bên cạnh việc hoàn thành nhiệm vụ theo bảng tiêu chuẩn, việc đánh giá cònxem xét trên các nhiệm vụ đột xuất phát sinh do người quản lý trực tiếp hoặc cấptrên giao cho Tuy nhiên có thể thấy, để tiến hành đo lường sự thực hiện công việccủa người cán bộ quản lý là một việc khá khó khăn do các tiêu chuẩn không đượclượng hóa cụ thể mà chỉ được nêu dưới dạng hoàn thành nhiệm vụ về mặt chấtlượng
Về kỷ luật lao động và an toàn lao động:
Đây là chỉ tiêu phản ánh ý thức và hành vi của người lao động trong quátrình làm việc Căn cứ vào “Nội quy lao động” và “Thỏa ước lao động tập thể” củaCông ty để xác định các hình thức kỷ luật cho từng trường hợp
Trang 34Nhìn chung, việc đánh giá qua tiêu chí này còn có nhiều khó khăn, ngườiđánh giá chủ yếu chỉ xem xét các lỗi lớn của người lao động, còn những lỗi nhỏthường được bỏ qua.
Khối lao động sản xuất:
Căn cứ đánh giá sự thực hiện công việc của người lao động cũng được thểhiện thông qua các chỉ tiêu về số ngày công lao động, kỷ luật lao động và an toànlao động tương tự như đối với lao động quản lý Tuy nhiên, có sự khác biệt khi đolường về mức độ hoàn thành công việc và đặc biệt là mức độ về tiết kiệm vật tư củangười lao động
Xét về mức độ hoàn thành công việc:
Từ tiêu chuẩn viên chức cấp bậc kỹ thuật, Công ty cũng cho xây dựng bảng
mô tả công việc đối với khối lao động sản xuất (Phụ lục 04) Tuy nhiên, bản mô tảnày chỉ được sử dụng để phục vụ công tác tuyển dụng; còn đối với hoạt động đolường mức độ thực hiện công việc của người lao động, Công ty vẫn dựa theo Tiêuchuẩn viên chức chuyên môn nghiệp vụ, cấp bậc kỹ thuật Khác với lao động quảnlý, tiêu chuẩn thực hiện công việc của lao động sản xuất được xây dựng dựa trêncấp bậc công nhân cho từng vị trí công việc
Ví dụ, đối với công nhân vận hành thiết bị dây chuyền rửa chai, chiết chaibậc 4/6, yêu cầu về mức độ làm được theo tiêu chuẩn như sau:
- Kiểm tra, nhận biết và đánh giá được chất lượng nguyên liệu dùng trong sản
xuất Báo cáo, đề xuất biện pháp xử lý khi nguyên liệu chưa đạt yêu cầu chất lượng
- Vận hành và vệ sinh thành thạo các thiết bị tại các công đoạn rửa chai,
thanh trùng theo quy trình, quy định
- Kiểm tra và điều chỉnh các thông số kỹ thuật của các thiết bị tại các công
đoạn rửa chai, thanh trùng
- Theo dõi hoạt động của các thiết bị, phát hiện được những sự cố, nguyên
nhân gây ra và xử lý các sự cố trong sự vận hành theo đúng quy định
Nhìn chung, tiêu chuẩn đã đưa ra các yêu cầu tối thiểu cần phải thực hiệnkhi tiến hành làm việc Người lao động đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu này đượccoi là hoàn thành đảm bảo về chất lượng công việc Tuy nhiên, do đặc điểm côngviệc của lao động sản xuất là khoán sản phẩm nên việc đánh giá mức độ hoàn thànhcông việc của người lao động còn phải xét đến mức sản lượng mà người đó thựchiện được trong kỳ Việc đo lường khối lượng công việc của người lao động được
Trang 35xác định bằng cách so sánh mức sản lượng thực tế với định mức lao động đã đượcxây dựng từ trước
Sau đây là một ví dụ cụ thể về định mức lao động trong 1ca sản xuất đối vớisản phẩm rượu 0,30LD tại tổ máy rửa 2, xí nghiệp rượu mùi:
Máy rửa chai (16 chai/lượt)
Định mức lao động: 8 người/máy
Định mức sản lượng: 45.000 chai/ca (tương đương 990.000 chai/tháng)
Đơn giá tiền lương: - Chai 0,3LD: 17,8 đồng/chai
Như vậy, việc đánh giá khối lao động sản xuất đơn giản hơn so với lao độngquản lý do có thể xác định được số lượng sản phẩm hoàn thành và chất lượng sảnphẩm được kiểm tra chặt chẽ theo sổ tay chất lượng của Công ty
Về mức tiết kiệm vật tư:
Chỉ tiêu này chỉ xét cho khối lao động sản xuất trực tiếp Cũng giống cácdoanh nghiệp sản xuất khác, việc tiết kiệm nguyên liệu, nhiên liệu luôn là một vấnđề cần thiết trong quá trình sản xuất Tuy nhiên để khuyến khích sự thực hiện vượtmức đối với người lao động, Công ty đã đưa yếu tố tiết kiệm như một căn cứ quantrọng để đánh giá
Để xác định mức độ hao hụt vật tư hàng ngày trong quá trình sản xuất,Công ty sử dụng mẫu văn bản sau:
Trang 36Bảng 2.3- Báo cáo sử dụng vật tư tháng 6/2009
XÍ NGHIỆP RƯỢU MÙI BÁO CÁO SỬ DỤNG VẬT TƯ
Tổ: Máy rửa Ngày 31/6/2009
SL Ra máy rửa
Vỡ
(Loại)
Ký Đốc công
1146
3275
14114
Tổng
(Nguồn: Phòng kiểm kê Xí nghiệp)
Mặt khác, Công ty đã xác định được tỷ lệ định mức hao hụt đối với từngloại vật tư để từ đó đánh giá về mức độ tiết kiệm (Phụ lục 07) Đây là một ưu điểmrất lớn, tạo thuận lợi cho quá trình đánh giá Điều này không những khuyến khíchngười lao động làm việc có hiệu quả hơn mà còn góp phần không nhỏ vào việcgiảm những chi phí không cần thiết cho Công ty
Sau khi xác định được các căn cứ để đo lường, trong toàn bộ tổ chức cầnxây dựng được một công cụ đo lường hiệu quả để những tiêu chuẩn đánh giá có thể
so sánh được Phương pháp đánh giá của Công ty sẽ được trình bày cụ thể trongphần 2.2
1.3 Thông tin phản hồi kết quả đánh giá:
Thông thường đây là quá trình được thực hiện vào cuối chu kỳ đánh giá.Việc thu thập, cung cấp thông tin phản hồi sẽ được thực hiện thông qua buổi traođổi, thảo luận giữa người đánh giá và người được đánh giá nhằm hoàn thiện sự thựchiện công việc của họ
Đối với kết quả đánh giá trong Công ty CP Cồn Rượu Hà Nội, người laođộng được biết mức xếp loại của mình thông qua cuộc họp biên bản cuối tháng Tuynhiên cuộc thảo luận này chỉ mang tính hình thức do không có bất kỳ cuộc trao đổivề những khiếm khuyết hay sai sót của người lao động trong kỳ đánh giá hay tiềmnăng phát triển trong tương lai cũng như các biện pháp nhằm hoàn thiện sự thựchiện công việc của họ Đây là vấn đề Công ty thực hiện còn chưa được tốt
2 Quá trình thực hiện công tác đánh giá tại Công ty:
Trang 37Để thấy được tính chính xác và hiệu quả của công tác đánh giá, em đã tiếnhành xây dựng một mẫu phiếu điều tra để thu thập các ý kiến từ phía người laođộng về hoạt động đánh giá đang được thực hiện tại Công ty (Phụ lục 01) Tổng sốphiếu điều tra đã phát là 50 phiếu và thu về được 47 phiếu Nhận xét về các ý kiếnthu được sẽ trình bày cụ thể trong các phần dưới.
Xét cụ thể tiến trình thực hiện hoạt động đánh giá trong Công ty như sau:
2.1 Lựa chọn phương pháp đánh giá:
2.1.1.Mục đích đánh giá:
Mục đích cơ bản của công tác đánh giá là nhằm hoàn thiện sự thực hiệncông việc và tăng hiệu quả làm việc cho người lao động Tuy nhiên, theo quy địnhcủa Công ty, mục tiêu chính của công tác đánh giá thực hiện công việc là tính trảlương và thưởng cho người lao động Như vậy, đánh giá vẫn chỉ bó hẹp trong phạm
vi thù lao lao động, chưa có tác động đến các công tác quản lý khác trong Công ty
2.1.2.Nội dung phương pháp:
Để lựa chọn được phương pháp thích hợp đảm bảo cho hệ thống đánh giáđược chặt chẽ, công bằng, các nhà quản lý thường lựa chọn dựa vào mục đích củaviệc đánh giá Vì vậy căn cứ vào mục đích và dựa vào các tiêu chí đánh giá đã xácđịnh trước, Công ty đã xây dựng văn bản chính thức quy định về “Quy chế bình bầuA-B-C hàng tháng” (Phụ lục 08) áp dụng để đánh giá chung cho toàn bộ CBCNVcó tên trong danh sách của Công ty và có hợp đồng lao động từ 1 năm trở lên Quađó có thể thấy phương pháp đang được dùng để đánh giá là phương pháp đánh giácho điểm
Theo phương pháp này việc đánh giá được xem xét như sau:
Bảng 2.4- Tiêu chuẩn đánh giá thực hiện công việc
Loại A + Đạt số ngày công trong tháng theo chế độ Công ty
+ Hoàn thành nhiệm vụ được giao, chất lượng sản phẩm tốt:
Trang 38- Không vi phạm kỷ luật lao động, an toàn lao động
- Tiết kiệm vật tư, nguyên nhiên liệu, sáng tạo trong công việc
- Tham gia các phong trào thi đua
Loại B
+ Số ngày công thấp hơn loại A quy định 1 công
+ Hoàn thành nhiệm vụ, chất lượng sản phẩm
- Năng suất và chất lượng sản phẩm kém hơn so với loại A
- Vi phạm kỷ luật lao động, nội quy, quy trình công nghệ ở mức độnhắc nhở lần thứ nhất
Loại C
+ Ngày công giảm so với loại B quy định 1 công
+ Nămg suất và chất lượng:
- Sản phẩm kém so với loại B
- Vi phạm kỷ luật lao động, nội quy, quy trình công nghệ, vi phạmtiêu cực ở mức độ nặng hơn loại B
(Nguồn: Tổng hợp từ “Quy chế bình bầu A-B-C hàng tháng”, P TCLĐTL)
Như vậy có 4 mức độ xếp loại lao động căn cứ vào số lượng tiêu chuẩn thựchiện tốt Các mức độ vi phạm tương ứng sẽ bị trừ một bậc xếp loại Có thể nói đâylà phương pháp tương đối đơn giản Sau khi xem xét, đánh giá theo các tiêu chítrên, Công ty đã cho xây dựng biểu mẫu đánh giá như sau:
Bảng 2.5-Bảng đánh giá một số lao động tổ Pha chế-XNRM T2/2010
T
Ngày công
Năn g suất
Tiết kiệm
Vi phạm nội quy tiêu cực
Tổ
xếp loại
Phòng xếp loại
Tổng cộng
(Nguồn: Trích Bảng Bình xét ABC tháng02/2010 tổ Pha chế-XNRM, P.TCLĐTL)
Mẫu đánh giá của Công ty có thể được coi là khá rõ ràng với từng yếu tốđánh giá và dễ hiểu không những đối với người đánh giá mà cả người lao động cũngcó thể tự đánh giá kết quả thực hiện của mình
Trang 39Sau đây là bảng kết quả đánh giá 3 tháng đầu năm của toàn Công ty (chỉ xétcác lao động xếp loại A và B):
Bảng 2.6-Kết quả đánh giá 3 tháng đầu năm 2010.
Đơn vị: người
Kết quả đánh giá
10
190