1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội NMLD Dung Quất

26 399 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 195,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NMLD Dung Quất được xây dựng nhằm giúp Việt Nam chế biến dầu thô trong nước, đảm bảo từng bước về an ninh năng lượng, giảm bớt sự phụ thuộc vào nguồn cung cấp xăng dầu từ nước ngoài, tạo

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Nhà máy lọc dầu (NMLD) Dung Quất là NMLD đầu tiên của Việt Nam được xây dựng ở huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi Đây là một trong những dự án kinh tế lớn, trọng điểm quốc gia của Việt Nam trong giai đoạn đầu thế kỷ 21 Nhà máy Nhà máy chiếm diện tích khoảng 338

ha mặt đất và 471 ha mặt biển và có công suất 6,5 triệu tấn dầu thô/năm tương đương 148.000 thùng/ngày dự kiến đáp ứng khoảng 30% nhu cầu tiêu thụ xăng dầu ở Việt Nam NMLD Dung Quất được xây dựng nhằm giúp Việt Nam chế biến dầu thô trong nước, đảm bảo từng bước về an ninh năng lượng, giảm bớt sự phụ thuộc vào nguồn cung cấp xăng dầu từ nước ngoài, tạo nền tảng phát triển KKT Dung Quất, cùng với KKT mở Chu Lai từng bước trở thành những hạt nhân tăng trưởng, trung tâm đô thị - công nghiệp - dịch vụ của vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, làm động lực thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá khu vực miền Trung và cả nước Ngoài ra đây sẽ là một đầu mối giao lưu quốc tế quan trọng, góp phần mở rộng thị trường khu vực miền Trung và Tây Nguyên và trở thành cầu nối với thị trường Nam Lào, Đông Bắc Thái Lan Tạo việc làm, thúc đẩy đào tạo và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong vùng; góp phần tạo ra những sản phẩm có thương hiệu, chất lượng và khả năng cạnh tranh cao Khai thác

có hiệu quả các lợi thế về điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý kinh tế và chính trị trong giao thương, dịch vụ quốc tế và trong nước để thúc đẩy phát triển kinh tế khu vực; tạo sự lan toả ra các vùng xung quanh, tiến tới thu hẹp khoảng cách phát triển với các vùng khác trong cả nước

Nhà máy Lọc dầu Dung Quất được xây dựng với tổng mức đầu tư là hơn 3 tỉ USD (khoảng 40.000 tỉ đồng) với tên dự án là Nhà máy lọc dầu số 1 Dung Quất của chủ đầu tư là Tổng công ty Dầu khí Việt Nam - nay là Tập đoàn Dầu khí Việt Nam - PVN

Hợp đồng chính xây dựng Nhà máy lọc dầu Dung Quất đã được Tập đoàn Dầu khí Việt Nam ký với Tổ hợp nhà thầu Technip gồm các Nhà thầu: Technip (Pháp), Technip (Malaysia), JGC (Nhật Bản) và Tecnicas Reunidas (Tây Ban Nha)

Để mô tả khối lượng công việc lớn của dự án tổng thầu của Technip đã so sánh: "Tổng số tài liệu thiết kế và sổ tay vận hành chất đầy khoảng 100 xe tải; diện tích các gói thầu chính xấp xỉ

600 hecta, tương đương với 1.200 sân bóng đá; hơn 150.000 tấn vật tư, thiết bị, tương đương với

Trang 2

Chí Minh; gần 17.000 tấn thép các loại, đủ để xây dựng 2 tháp Eiffel – Paris; và một nhà máy điện công suất trên 100 Megawatt đủ dùng cho cả thành phố Quảng Ngãi." Technip cũng thông báo: việc thiết kế thực hiện với tiêu chí sử dụng tối đa các nguồn lực và phương tiện kỹ thuật của Việt Nam, cho nên 75% công việc của nhà máy sẽ do người Việt đảm nhận Đã có 1.046 kỹ sư

và nhân viên nhà máy được đưa đi đào tạo ở nước ngoài để chuẩn bị đảm đương việc vận hành nhà máy Dung Quất trong tương lai

Nhà máy ngoài góp phần tạo công ăn việc làm thu hút nguồn nhân lực có chất lượng cao còn, tham gia có hiệu quả nhiệm vụ xoá đói giảm nghèo, nâng cao đời sống nhân dân không chỉ

ở Dung Quất mà còn ở các vùng sâu vùng xa khác của Quảng Ngãi và các tỉnh lân cận NMLD Dung Quất và các nhà máy sau lọc dầu đã tạo ra nhu cầu công nghiệp phụ trợ cho lọc hoá dầu, nhu cầu cung ứng các dịch vụ cao cấp, làm tăng thêm tính hấp dẫn của môi trường đầu tư, biến Quảng Ngãi trở thành đầu tầu của kinh tế khu vực miền Trung và Tây Nguyên NMLD Dung Quất ngoài việc đáp ứng 30% nhu cầu xăng dầu trong nước, giảm bớt nhập khẩu, góp phần đảm bảo an ninh năng lượng, còn phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của đất nước Với doanh số hàng năm dự kiến đạt trên 75.000 tỷ đồng, NMLD Dung Quất đã đóng góp đáng kể vào ngân sách Nhà nước, tham gia tích cực vào quá trình chuyển dịch cơ cấu dịch vụ của tỉnh Quảng Ngãi và khu vực miền Trung, đưa kinh tế của Quảng Ngãi phát triển nhảy vọt, vươn lên tỉnh có thu ngân sách cao trong cả nước, tạo điều kiện giải quyết công ăn việc làm cho khoảng 1.400 lao động trực tiếp trong Nhà máy và hàng vạn lao động trong các ngành phụ trợ khác”

Bên cạnh đó có nhiều ý kiến trái chiều nhau về sự xuất hiện và tồn tại của NMLD Dung Quất Trong đó, đặc biệt có ý kiến trong nước cho rằng xây dựng NMLD ở Việt Nam là không hiệu quả dựa trên kết quả tính toán sau Trong năm 2002, giá dầu thô xuất khẩu từ Việt Nam là

191 $/tấn, giá nhập khẩu xăng dầu đã lọc là 202 $/tấn chênh lệch là 11 $/tấn Như vậy, đối với Việt Nam thì cả khâu lọc dầu dẫn vận chuyển dầu chỉ có giá trị trung bình không quá 11

$/tấn Điều này có nghĩa một NMLD với công suất chế biến 6,5 triệu tấn/năm có giá trị gia tăng là 72 triệu $/năm theo mức giá thế giới , không tính đến chi phí dầu thô Chi phí đầu tư của NMLD Dung Quất với công suất 6,5 triệu tấn/năm dự kiến sẽ là 1,5 tỷ $ khi tính cả số lãi vay phải trả trong thời gian xây dựng nhà máy Với mức lãi suất thấp nhất là 10%/năm, chỉ riêng trả lãi suất cũng là khoảng 150 triệu $/năm Thêm vào đó, chi phí cho nhiên liệu sử dụng khi lọc đầu, hóa chất, lao động, sửa chữa, sẽ vào khoảng 50 triệu $/năm Như vậy, mỗi năm Việt Nam phải chi 200 triệu $ nếu lọc dầu ở Việt Nam, nhưng chỉ phải chi 72 triệu $ cho việc lọc dầu

Trang 3

ở nước ngoài nếu Việt Nam nhập dầu lọc Ngoài ra, NMLD được đặt ở Dung Quất nhằm tạo ra

sự phát triển đồng đều giữa các vùng và giúp các tỉnh nghèo thì đó là một quyết định không nên làm Ý kiến cho rằng nếu Việt Nam nhập dầu và đánh thuế ở mức mà giá người tiêu dùng phải trả cũng tương đương như giá vượt trội của Dung Quất thì mỗi năm Việt Nam có thêm gần 130 triệu $ để chi cho đường xá, trường học, thủy lợi, điện và chợ ở các tỉnh nghèo Cách làm như vậy sẽ tạo ra tác động tích cực lớn hơn nhiều đối với sự phát triển vùng và cuộc sống của người nghèo.,

Như vậy, xoay quanh sự ra đời của NMLD Dung Quất có nhiều quan điểm ủng hộ cũng có nhiều quan điểm phản đối cho rằng đầu tư dự án nhà máy lọc dầu Dung Quất là quyết định sai lầm Sau đây nhóm 4 xin phân tích quan điểm: xây dựng NMLD ở Việt Nam là không hiệu quả,

Trang 4

1 Chức năng của Chính phủ:

Chính phủ ngoài chức năng xây dựng vào bảo vệ khuôn khổ pháp luật, chính phủ còn can thiệp một cách tích cực vào nền kinh tế để thực hiện đồng thời nhiều mục tiêu, không chỉ tăng trưởng kinh tế mà còn phát triển kinh tế bền vững

Chính phủ có bốn chức năng kinh tế cơ bản sau:

- Thứ nhất: Chính phủ phân phối nguồn lực nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế;

- Thứ hai: Chính phủ phân phối lại thu nhập và đảm bảo công bằng xã hội;

- Thứ ba: Ổn định hóa kinh tế vĩ mô;

- Thứ tư: Đại diện cho quốc gia trên trường quốc tế

Trong đó, chức năng phân phối lại thu nhập và đảm bảo công bằng xã hội là một trong những chức năng quan trọng, đảm bảo cho sự phát triển kinh tế bên vững của quốc gia, đồng thời đạt được hai mục tiêu quan trọng, tăng trưởng kinh tế đi đôi với nâng cao mức sống của dân cư

2 Lý do can thiệp của chính phủ nhằm đảm bảo công bằng xã hội:

- Thứ nhất, trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước, thị trường có thể tác động đến phân bổ nguồn lực để nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực xã hội, nhưng nó lại không

có tác động gì để xã hội công bằng hơn, trong khi đó thì công bằng và hiệu quả là hai mục tiêu cao nhất trong suốt quá trình phát triển

- Thứ hai, phân phối lại thu nhập tuy không làm tăng mức của cải chung của xã hội nhưng nó có khả năng làm tăng mức phúc lợi xã hội;

- Thứ ba, phân phối lại thu nhập có tác dụng động viên giúp đỡ người nghèo, qua đó giải tỏa tâm lý bất mãn, nghi ngờ chính phủ và giảm bớt các tệ nạn xã hội Do đó, mà phân phối thu nhập coi như tạo ra một ngoại ứng tích cực

Ngoài việc chính phủ can thiệp để đảm bảo công bằng trong phân phối thu nhập, một vai trò quan trọng là chính phủ phải xóa đói giảm nghèo, mà mục tiêu là phải giảm tỷ lệ hộ nghèo, nâng cao thu nhập của người dân, tạo điều kiện để người dân tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe và y tế, giáo dục tối thiểu, giảm nguy cơ dễ bị tổn thương và dễ gặp rủi ro; nâng cao tiếng nói và quyền lực của người nghèo

Trang 5

Để thực hiện chức năng trên chính phủ tập trung vào những mảng giải pháp chính sau:

- Phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn để xóa đói giảm nghèo trên diện rộng;

- Phát triển kết cấu hạ tầng tạo cơ hội cho các xã nghèo, vùng nghèo, người nghèo tiếp cận các dịch vụ công cộng;

- Xây dựng nền giáo dục công bằng hơn, chú trọng nâng cáo chất lượng giáo dục cho người nghèo;

- Phát triển mạng lưới an sinh xã hội giúp đỡ người nghèo

Một trong việc cụ thể hóa giải pháp của chính phủ đó là chính phủ đầu tư xây dựng các

dự án tại các vùng khó khăn kém phát triển nhằm phát triển kết cấu hạ tầng tại địa phương đó, làm tăng hiệu quả kinh tế - xã hội, đây là một giải pháp có tính dài hạn mà hiệu quả kinh tế xã hội của nó được phát huy trong một thời gian tương đối dài

3 Các tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế – xã hội của một dự án.

Đối với mọi quốc gia , mục tiêu chủ yếu của nền sản xuất xã hội là tối đa hóa phúc lợi xã hội Mục tiêu này thường được thể hiện qua các chủ trương chính sách và kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của mỗi nước Các kế hoạch dài hạn đề ra phương hướng chỉ đạo, mục tiêu chiến lược trong thời gian dài (từ 10 năm trở lên) Các kế hoạch trung dài hạn nêu lên các bước đi tương đối cụ thể trong thời gian từ 5 năm đến 10 năm Các kế hoạch hay chương trình kinh tế ngắn hạn được đưa ra nhằm điều chỉnh kịp thời các sai lệch cũng như bổ sung các khiếm khuyết phát hiện trong quá trình thực hiện kế hoạch Ở các nước đang phát triển, các mục tiêu chủ yếu được đề cập trong kế hoạch phát triển dài hạn được đo lường bằng các tiêu chuẩn sau:

Nâng cao mức sống của dân cư: được thể hiện gián tiếp thông qua các số liệu cụ thể về mức gia tăng sản phẩm quốc dân, mức gia tăng thu nhập, tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế

Phân phối thu nhập và công bằng xã hội: thể hiện qua sự đóng góp vào công cuộc đầu tư và việc phát triển các vùng kinh tế kém phát triển và đẩy nhanh công bằng xã hội;

Gia tăng số lượng lao động có việc làm: Đây là một trong những mục tiêu chủ yếu của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của các nước thừa lao động, thiếu việc làm;

Tăng thu và tiết kiệm ngoại tệ: Những nước đang phát triển không chỉ nghèo mà còn là nước nhập siêu Do đó đẩy mạnh xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu là những mục tiêu quan trọng

Trang 6

Các mục tiêu kế hoạch kinh tế quốc dân khác đó là:

Tận dụng hay khai thác tài nguyên chưa được quan tâm hay mới được phát hiện;

Nâng cao năng suất lao động, đào tạo lao động có trình độ tay nghề cao, tiếp nhận chuyển giao kỹ thuật để hoàn thiện cơ cấu sản xuất của nền kinh tế;

Phát triển các ngành công nghiệp chủ đạo có tác dụng gây phản ứng dây chuyền thúc đẩy phát triển các ngành nghề khác;

Phát triển kinh tế – xã hội ở các địa phương nghèo, các vùng xa xôi, dân cư thưa thớt nhưng có nhiều triển vọng về phát triển tài nguyên đề phát triển kinh tế

CHƯƠNG II ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA DỰ ÁN NHÀ MÁY LỌC DẦU

DUNG QUẤT

Trang 7

I Thực trạng hiệu quả kinh tế của dự án lọc dầu Dung Quất.

Trên góc độ Kinh tế - kỹ thuật, dự án đầu tư NMLD Dung Quất ngay từ đầu đã mắc phải nhiều sai sót nghiêm trọng:

1 Những sai lầm xuất phát từ hệ thống luật và qui định của Nhà nước

Có lẽ dự án NMLD Dung Quất là một ví dụ tốt để đối chiếu cách thực hiện một dự án lớn với những luật và qui định hiện nay

Trong quá trình thực hiện dự án, với hệ thống qui định chung chung và mập mờ như hiện nay, Chủ đầu tư khi thực hiện dự án luôn phải tìm cách đi giữa những kẽ hở để khỏi phạm luật Đối với chủ đầu tư là Việt Nam mà còn gặp khó khăn như vậy thì đối với các nhà đầu tư nước ngoài lại càng khó hơn

Ở Việt Nam, một Bộ có thể ban hành những qui định để áp dụng cho cả nước, bao trùm cả các ngành khác, thế nên việc chồng chéo, thậm chí trái ngược giữa các qui định của các Bộ với các Nghị định, Thông tư không phải điều lạ

a Vai trò của bộ Xây Dựng

Nhà nước qui định Bộ Xây dựng phải thẩm định và thông qua thiết kế tổng thể của NMLD trước khi Chủ tịch HĐQT Petrovietnam phê duyệt, tức là về mặt quản lý nhà nước, Bộ XD là Bộ

có thẩm quyền về tất cả các công trình liên quan đến xây dựng

Lưu ý là một dự án xây dựng công nghiệp khác về cơ bản so với một dự án xây dựng dân dụng ở chỗ: dự án xây dựng công nghiệp đòi hỏi chuyên môn về quá trình công nghệ, về cơ khí,

tự động hóa, an toàn ở mức độ cao Đối với NMLD Dung Quất thì tỷ trọng xây dựng cơ bản như nền móng, đường xá, thoát nước, các cấu trúc bê tông (mà Bộ XD có chuyên môn) chỉ chiếm chừng 10% Do vậy để Bộ XD thay mặt nhà nước quản lý về chuyên môn với một công trình xây dựng công nghiệp mà phần lớn không thuộc chuyên môn của Bộ XD là điều bất hợp lý

Trong qui định của Bộ XD, chẳng hạn qui định giám sát thi công thì sẽ thấy chẳng có dòng nào về qui trình công nghệ mà chỉ toàn qui định mác vôi vữa, gạch đá, bê tông Vậy ta thử tính xem mức độ áp dụng của qui định đó với công trình xây dựng công nghiệp sẽ có bao nhiêu phần trăm đúng? Thế nhưng vẫn cứ phải áp dụng!

Trang 8

Việc quản lý như vậy chỉ khả thi khi Bộ XD thực sự có đầy đủ các chuyên gia trong từng chuyên ngành hẹp mà một công trình xây dựng công nghiệp đòi hỏi Với khả năng và thực tế của

Bộ XD hiện nay thì để hiểu quá trình công nghệ, điều khiển, cơ khí của NMLD cũng là một việc ngoài tầm với, chưa nói tới việc thay mặt nhà nước để quản lý về mặt chuyên môn với một công trình như vậy Ở đây tôi không có ý phê phán vì vấn đề mà Bộ XD được giao quản lý khác nhau

xa về cơ bản với chuyên môn xây dựng dân dụng của họ

Thực tế là để thông qua thiết kế tổng thể, Chủ đầu tư phải giải thích cho các "chuyên gia" của Bộ XD từ những vấn đề sơ đẳng nhất của quá trình công nghệ để các chuyên gia đó "thông qua"

Công ty liên doanh cũng ký hợp đồng với Viện kinh tế của Bộ XD để lập Dự toán cho toàn

bộ công trình nhưng thực tế, công việc hoàn toàn do chuyên viên của Công ty liên doanh và Petrovietnam thực hiện

Tất cả công việc thẩm định, thông qua thiết kế và dự toán của Bộ XD chỉ là phê duyệt tờ trình (cover letter) (cũng do Chủ đầu tư soạn thảo nội dung) để chuyển sang cho Chủ tịch HĐQT Petrovietnam phê duyệt Thực sự đây là cách làm hoàn toàn mang tính hình thức và máy móc

Để phê duyệt thiết kế tổng thể, Chủ đầu tư còn cần thông qua Cục phòng cháy chữa cháy (Bộ Công an) và Cục môi trường (trước đây thuộc Bộ Công nghệ môi trường)

Qui định phòng cháy chữa cháy cho công trình dầu khí rất chặt chẽ, bao gồm nhiều qui định thông dụng của API (American Petroleum Institute) và NFPA (National Fire Protection Association) theo qui chuẩn các nước phương Tây Tuy nhiên trong Hồ sơ mời thầu và thiết kế tổng thể, Việt Nam yêu cầu đặt các tiêu chuẩn của Việt Nam (hầu hết là các tiêu chuẩn lấy theo

hệ thống GOCT của Nga) lên vị trí ưu tiên cao hơn các tiêu chuẩn quốc tế

Những tiêu chuẩn GOCT không hoàn toàn phù hợp với các tiêu chuẩn thông dụng ngày nay của các nước Âu Mỹ Do đó việc đưa các tiêu chuẩn của Việt Nam lên vị trí ưu tiên cao hơn các tiêu chuẩn thông dụng hiện nay cũng là một bất cập

Với thiết kế phòng cháy chữa cháy và đánh giá tác động môi trường, Chủ đầu tư cũng cần có

sự thẩm định của Cục phòng cháy chữa cháy và Cục môi trường, tuy nhiên không mấy khó khăn

vì ít nhiều những cơ quan trên cũng có chuyên môn gần hơn so với Bộ XD

b Qui định nhà nước về đấu thầu

Trang 9

Căn cứ theo Nghị định 58 của Chính phủ về đấu thầu thì sẽ thấy: với những công trình trị giá trên 500 triệu USD, dự án nhóm A do Thủ tướng phê duyệt, cần phải đấu thầu 2 giai đoạn Gói thầu EPC 1 (trước kia) của NMLD Dung Quất trị giá (theo dự toán được phê duyệt) khoảng hơn 700 triệu USD, do đó phải qua đấu thầu 2 giai đoạn

Giai đoạn 1 là giai đoạn làm rõ về mặt kỹ thuật cho các nhà thầu để Chủ đầu tư chuẩn hóa

Hồ sơ mời thầu cho giai đoạn II, đưa các yêu cầu làm rõ, các sửa đổi do Nhà thầu đề xuất trong giai đoạn I để trong giai đoạn II, các nhà thầu sẽ chào thầu trên cùng mặt bằng

Thực tế thì nhiều hơn 2 giai đoạn

Giai đoạn đầu tiên là sơ tuyển (PQ-pre-qualification) để chọn lọc những nhà thầu có năng lực Trong giai đoạn này, một số nhà thầu tham gia dự thầu với tư cách là các nhà thầu riêng rẽ Trong khi thực hiện đấu thầu Giai đoạn 1, một số nhà thầu riêng rẽ liên danh với nhau và xin tham gia dự thầu với tư cách là liên danh Lúc này chỉ còn 2 liên danh tham gia đấu thầu nên Petrovietnam buộc phải xin đặc cách của Thủ tướng để quá trình đấu thầu tiếp tục

Technip là Nhà thầu chính trong Tổ hợp liên danh các nhà thầu Technip cũng là 1 trong 6,7 nhà thầu EPC lớn trên thế giới trong lĩnh vực dầu khí Foster Wheeler-UK, CB&I - USA, Fluor Daniel - USA, Bechtel - USA, Mustang Engineering-USA, Jacob Engineering- USA, KBR-USA Cũng mở ngoặc thêm là các gói thầu của NMLD Dung Quất đều là các gói EPC, Lump-sum Turnkey (trọn gói, chìa khóa trao tay)

Vấn đề là hình thức đấu thầu EPC áp dụng cho từng lĩnh vực khác nhau Hình thức EPC Lump-sum Turnkey thường áp dụng cho những lĩnh vực mà nhà thầu tính khá chính xác khối lượng công việc thực hiện và các phát sinh, nhà thầu chịu trách nhiệm về tất cả công việc và phát sinh nếu có Chủ đầu tư áp dụng hình thức này nếu họ không có kinh nghiệm và chuyên môn trong việc quản lý và thực hiện dự án

Đối với những lĩnh vực không tính được chính xác khối lượng và có phát sinh thì các nhà thầu thường dùng hình thức EPC Reimbursable (thực thanh thực chi, chủ đầu tư yêu cầu gì thì nhà thầu thực hiện yêu cầu đó, Chủ đầu tư chịu trách nhiệm về phát sinh) Chủ đầu tư áp dụng hình thức này khi họ có năng lực kiểm soát dự án

Trang 10

Mỗi nhà thầu EPC sẽ có preference cho các lĩnh vực họ thực hiện Thường thì các nhà thầu EPC thích reimbursable đối với lĩnh vực lọc dầu, hóa chất, lumpsum turnkey với xây dựng hạ tầng (infrastructure), điện năng

Vì các gói thầu EPC trong lĩnh vực lọc dầu và hóa chất có tỷ lệ phát sinh cao nên để chia xẻ rủi ro, các nhà thầu đã liên danh với nhau để đấu thầu

Việc sử dụng hình thức đấu thầu EPC Lump-sum Turnkey đối với NMLD Dung Quất đã vô hình chung làm giảm bớt sự quan tâm của các nhà thầu EPC tiềm năng khác và cũng không có gì

lạ khi một số nhà thầu liên danh để dự thầu

Lấy một ví dụ để tham khảo

Một nhà thầu thực hiện dự án EPC Lumpsum Turnkey và bị lỗ 50 triệu USD

Nếu thực hiện tốt một dự án EPC Lumpsum Turnkey thì nhà thầu lãi 5% tổng giá trị gói thầu Giả sử giá trị gói thầu EPC của NMLD là 1 tỷ USD thực hiện trong 3 năm thì nhà thầu lãi

50 triệu USD, sau khi trừ các chi phí nhân công, các chi phí khác thì chỉ còn 25 triệu USD Vậy

Để quá trình thực hiện những dự án tương tự nhanh và khả thi hơn, nhà nước nên xây dựng những qui trình, qui định riêng và cụ thể cho những dự án đó, không thể dùng những qui định

Trang 11

chung chung, mơ hồ của một Bộ nào đó bao trùm lên tất cả các lĩnh vực "được cho là" thuộc sự quản lý của họ

2 Việc lựa chọn nhà đầu tư

Bối cảnh tài chính châu Á trong những năm 97-98 khiến cho việc thực hiện dự án NMLD khó khăn vì không tìm được nhà đầu tư chấp nhận yêu cầu của Việt Nam (giữ độc quyền trong lĩnh vực phân phối)

Cuối năm 1998, Công ty dầu khí hải ngoại của Nga (Zarubezhneft) muốn tham gia dự án lọc dầu Dung Quất nên Chính phủ Việt Nam và Nga đã ký Hiệp định hợp tác thành lập công ty liên doanh nhà máy lọc dầu Việt Nga (Vietross) để thực hiện dự án Tỷ lệ góp vốn của mỗi bên là 50%, Công ty liên doanh hoạt động theo cơ chế đồng thuận

Cơ chế đồng thuận là một trong những khó khăn ban đầu và gây khá nhiều chậm trễ cho dự

án từ trong nội bộ chủ đầu tư Chẳng hạn hai bên không thống nhất trong việc lựa chọn nhà cung cấp bản quyền công nghệ (cho phân xưởng Reforming và Cracking) nên sau khi đánh giá chào thầu, phải mất thêm 6 tháng hai bên mới đạt được thỏa thuận

Khi nhà thầu Foster Wheeler thực hiện xong thiết kế tổng thể FEED, việc thẩm định thiết kế này của bên Việt Nam và Nga mất rất nhiều thời gian, mặc dù có mời 1 công ty độc lập để tư vấn thẩm định thiết kế

Khi đấu thầu gói EPC 2 & 3, phía Việt Nam và Nga cũng đấu tranh gay gắt vì phía Nga luôn

ép bên Việt Nam phải cho liên doanh của họ (với Lilama) thắng thầu trong khi liên doanh này vừa được thành lập, thực sự không có năng lực và kinh nghiệm

Khi đấu thầu gói EPC 1, phía Nga cũng ép phía Việt Nam phải tối đa hóa các Nhà cung cấp thiết bị của Nga Điều ngược đời ở chỗ các nhà cung cấp thiết bị Nga không có hồ sơ kỹ thuật rõ ràng, theo tiêu chuẩn GOCT (tiêu chuẩn thông thường của Liên Xô trước kia) và giá rất cao, mặc

dù trước kia hai bên đã thống nhất các thiết bị sẽ do các nhà cung cấp có xuất xứ thuộc G7 cung cấp Yêu cầu này thực sự đã gây khó khăn rất nhiều cho phía Việt Nam tham gia dự án

Với những nhà cung cấp Nga như vậy, yêu cầu kỹ thuật của thiết bị không đảm bảo theo yêu cầu dự án và tiến độ cũng sẽ là vấn đề lớn

Trang 12

Trong quá trình đàm phán Hợp đồng, phía Nga cũng gây khó khăn cho cả phía Việt Nam và nhà thầu Technip, phía Việt Nam vừa phải đàm phán với Technip, vừa phải đàm phán nội bộ với phía Nga

Do đó phía Việt Nam đi đến quyết định phải để phía Nga rút lui khỏi dự án Năm 2003, Phó thủ tướng Vũ Khoan cùng đoàn Petrovietnam sang Nga để chấm dứt Hiệp định liên chính phủ

mà hai bên đã ký năm 1998 để phía Nga rút khỏi dự án Công ty liên doanh Vietross chuyển thành Ban quản lý (BQL) dự án lọc dầu Dung Quất, thành viên trực thuộc Petrovietnam, tiếp tục đàm phán Hợp đồng gói EPC 1 với Technip

Việc tiếp tục đàm phán Hợp đồng với Technip do cả BQL và Petrovietnam tham gia Quá trình đàm phán kéo dài quá nhiều do cách làm việc sợ trách nhiệm của Việt Nam Một vấn đề nhỏ và sâu về chuyên môn, lẽ ra nên để những người có chuyên môn quyết định thì lại bị đẩy lên cấp trên (người chuyên về quản lý) phê duyệt

Cơ chế nào thì sinh ra những người như vậy, phần trách nhiệm cho sự chậm trễ này không biết nên thuộc về ai, do cơ chế hay con người do cơ chế sinh ra?

3 Về việc lựa chọn nhà thầu

Các nhà thầu Việt Nam và Nga, do năng lực và kinh nghiệm thực sự không có, đã gây nhiều phức tạp và chậm trễ đối với dự án

Việc chia NMLD thành nhiều gói thầu xuất phát từ yêu cầu tối đa hóa sự tham gia của các nhà thầu Việt Nam và Nga trong công trình này, cũng là dịp để các nhà thầu Việt Nam học hỏi kinh nghiệm khi làm việc với các nhà thầu lớn nước ngoài Việc chia sẻ này cũng gây nhiều vấn

đề phát sinh, do cách làm chụp giựt và thiếu nghiêm túc của các công ty Việt Nam và Nga khi thực hiện các gói thầu EPC

Gói thầu EPC 2 & 3, do sức ép từ phía Nga trong liên doanh nên đã buộc phải để cho liên doanh giữa 1 công ty Nga và Lilama thực hiện

Liên doanh này mới thành lập trước thời gian đấu thầu không lâu, không có năng lực và kinh nghiệm, chỉ nhờ vào sức ép của phía Nga để được thắng thầu Sức ép từ phía Nga là: nếu không thắng được 2 gói thầu đó, họ sẽ rút và bỏ rơi dự án

Trang 13

Trong tình hình liên doanh Việt Nga khi đó, phía Việt Nam thấy rằng khả năng không thực hiện được dự án xây dựng NMLD nếu phía Nga rút lui là lớn, do đó là điểm yếu để phía Nga lợi dụng và gây sức ép

Gói EPC 5A (Đê chắn sóng) do Công ty xây dựng Lũng Lô, Bộ Quốc phòng thực hiện Đê chắn sóng là công trình khá mới đối với các Nhà thầu Việt Nam, do đó không có kinh nghiệm và khả năng thực sự để thực hiện gói EPC này Lũng Lô đã từng xây dựng 1 công trình nhỏ (Bạch Long Vĩ) nhưng không thể so sánh với Đê chắn sóng Dung Quất về mặt qui mô và cũng như đòi hỏi kỹ thuật cho công trình

Cách làm của Lũng Lô giống như cách làm của nhiều công ty xây dựng hiện nay: bỏ thầu thấp hơn giá thật để được thắng thầu rồi tìm mọi cách xin phát sinh Hợp đồng, không có kinh nghiệm thực hiện EPC Một gói thầu EPC Lump-sum Turnkey không thể xin phát sinh, điều khoản đó được qui định rất chặt chẽ trong Hợp đồng mà hai bên đã ký

Tuy nhiên, Lũng Lô sử dụng quan hệ của Bộ Quốc phòng, gõ cửa các Bộ ngành để gây sức

ép đòi Petrovietnam và Công ty liên doanh chấp nhận phát sinh

Gói thầu EPC 5B (cảng xuất sản phẩm) do Cienco 6 thực hiện cũng kêu đóng cọc gặp đá ngầm và xin phát sinh

Tình trạng chung của các công ty xây dựng Việt Nam là khi dự thầu thì đưa ra nhiều máy móc thiết bị thi công (từ các công trình khác), nhưng khi thắng thầu thì điều máy móc đi các công trình khác nhau, chế tài phạt không đủ mạnh nên rất khó khăn cho Chủ đầu tư để buộc nhà thầu duy trì tiến độ

4 Nguyên nhiên liệu (NNL) đầu vào:

Đây là một khía cạnh quan trọng của dự án bởi nguyên nhiên liệu được ví như cơm gạo sản xuất, nó quyết định giá thành, tính đều đặn nhịp nhàng của sản xuất Đặc biệt là nguồn và khả năng cung cấp NNL Nó ảnh hưởng đến sự sống còn và quy mô dự án Nguồn cung NNL cơ bản phải đảm bảo đủ sử dụng cho dự án hoạt động hết đời.Trong khi thiết kế của NM chỉ sử dụng dầu thô ngọt nhẹ khai thác từ mỏ Bạch Hổ, trước thực tế là mỏ Bạch Hổ đang theo chiều đi xuống về sản lượng thì việc tìm kiếm các nguồn dầu thô thay thế đang là yêu cầu cấp bách.theo

bà Nguyễn Thị Nguyệt Hường – Đại biểu trong kỳ họp quốc hội 11/2010 “chỉ còn khoảng 20

Ngày đăng: 25/01/2016, 18:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w