1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và chính sách xã hội trong quá trình phát triển ở vĩnh phúc hiện nay

112 780 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và chính sách xã hội trong quá trình phát triển ở Vĩnh Phúc hiện nay
Trường học Đại học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Kinh tế học, Chính sách xã hội
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Vĩnh Phúc
Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 1,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sau hơn 25 năm thực hiện đường lối đổi mới được đề ra ở Đại hội VI (1986) của Đảng Cộng sản Việt Nam, nền kinh tế nước ta đã giành được những thành tựu kinh tế xã hội hết sức to lớn: “...Thực hiện thành công chặng đường đầu của công cuộc đổi mới, đưa đất nước ra khỏi tình trạng kém phát triển, đời sống nhân dân có nhiều thay đổi tích cực, sức mạnh quốc gia về mọi mặt được tăng cường, độc lập, tự chủ và chế độ xã hội chủ nghĩa được giữ vững, vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao, tạo tiền đề để nước ta tiếp tục phát triển mạnh mẽ và bền vững hơn trong giai đoạn mới” 24, tr.9. Có được kết quả đó là do đi đôi với việc thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế, Đảng ta luôn quan tâm đến việc nâng cao đời sống mọi mặt của nhân dân, hoạch định và thực thi chính sách xã hội hợp lý, tiến bộ nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho sự phát triển toàn diện con người. Một trong những mục tiêu mà Đảng ta đặt ra là: Tăng trưởng kinh tế gắn liền với bảo đảm tiến bộ ngay trong từng bước phát triển. Tuy vậy, mô hình phát triển kinh tế theo chiều rộng sau hơn 2 thập kỷ thực hiện đã để lại những hậu quả kinh tếxã hội ngày càng trầm trọng làm ảnh hưởng tới chính tốc độ và chất lượng phát triển kinh tế. Với định hướng phát triển xã hội xã hội chủ nghĩa thì những vấn đề xã hội mà mô hình phát triển kinh tế theo chiều rộng và cùng với nó là những hạn chế trong nhận thức, hoạch định chính sách xã hội và thực hiện chính sách xã hội gây ra cần phải kiên quyết hạn chế và khắc phục để thực hiện đúng bản chất xã hội ta là phát triển kinh tế không vì mục đích tự thân mà để không ngừng nâng cao đời sống mọi mặt của nhân dân. Thực hiện các chính sách xã hội xét đến cùng là để cải thiện chất lượng cuộc sống, do đó chất lượng cuộc sống là mục tiêu của phát triển và là thành quả của sự tăng trưởng kinh tế, ngược lại chất lượng cuộc sống lại có vai trò quan trọng trong việc duy trì và bảo đảm tăng trưởng kinh tế cao hơn. Hiện nay, bài toán lớn đặt ra cho con đường phát triển ở nước ta là các vấn đề xã hội phức tạp như việc làm và thu nhập, giáo dục và y tế, vấn đề môi trường... cơ hội phát triển cho mọi đối tượng trong xã hội được giải quyết như thế nào để thể hiện được bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa ngay trong quá trình phát triển? Là một tỉnh, Vĩnh Phúc cũng lớn mạnh cùng với sự phát triển kinh tếxã hội chung của cả nước. Năm 1997, khi tỉnh Vĩnh Phúc được tái lập (tách khỏi tỉnh Phú Thọ do sát nhập năm 1968), với những chiến lược và bước đi thích hợp đã thực hiện tốt việc khơi dậy các tiềm năng, phát huy nội lực và ngoại lực cho đầu tư phát triển. Do vậy trong những năm qua Vĩnh Phúc đã thu được nhiều kết quả quan trọng. Tốc độ tăng trưởng bình quân cao gấp 2 lần so với tốc độ tăng trưởng chung của cả nước, năm 1997 thu ngân sách đạt gần 100 tỷ đồng thì đến năm 2006 đã đạt trên 4000 tỷ đồng và 14.505 tỷ đồng vào năm 2010. Từ một tỉnh thuần nông nay đã chuyển dịch sang cơ cấu công nghiệp dịch vụ nông nghiệp, các thành phần kinh tế đều phát triển mạnh mẽ đóng vai trò quyết định tạo nên sự tăng trưởng nhanh trong những năm gần đây. Có được kết quả ấn tượng đó, chắc chắn là do việc hoạch định và thực hiện chính sách kinh tế và chính sách xã hội của tỉnh đã đạt được sự hợp lý nhất định trong điều kiện lịch sử cụ thể nên những năm qua đã khai thác được tiềm năng kinh tế và sức mạnh nguồn lực con người ở đây. Tuy nhiên, sức phát triển kinh tế vẫn chưa tương xứng với tiềm năng của tỉnh. Cùng với đó, kết quả của các chính sách xã hội của tỉnh chưa tương xứng với những thành tựu trong kinh tế mà tỉnh Vĩnh Phúc đã đạt được. Một số vấn đề về mặt xã hội vẫn đang đặt ra một cách bức xúc, như: thiếu việc làm còn ở mức cao, giáo dục và y tế còn nhiều bất cập, tệ nạn xã hội tăng và phức tạp hơn, ô nhiễm môi trường ngày càng tăng, mức sống và chất lượng sống của một bộ phận lớn người lao động còn rất thấp, khoảng cách giàu nghèo ngày càng tăng một cách không chính đáng... Cùng với cả nước, Vĩnh Phúc phải chuyển sang mô hình phát triển kinh tế theo chiều sâu, theo đó, nhận thức về các chính sách xã hội phải toàn diện và với nhãn quan mới, thực hiện chính sách xã hội giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong giữ ổn định xã hội và hơn thế tạo tiềm lực phát triển kinh tế, phát triển con người. Do vậy, nghiên cứu về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và chính sách xã hội trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay thực sự là cần thiết cả về lý luận và thực tiễn. Vì vậy chúng tôi chọn đề tài: “Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và chính sách xã hội trong quá trình phát triển ở Vĩnh Phúc hiện nay” làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình.

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Sau hơn 25 năm thực hiện đường lối đổi mới được đề ra ở Đại hội VI(1986) của Đảng Cộng sản Việt Nam, nền kinh tế nước ta đã giành được nhữngthành tựu kinh tế - xã hội hết sức to lớn: “ Thực hiện thành công chặng đườngđầu của công cuộc đổi mới, đưa đất nước ra khỏi tình trạng kém phát triển, đờisống nhân dân có nhiều thay đổi tích cực, sức mạnh quốc gia về mọi mặt đượctăng cường, độc lập, tự chủ và chế độ xã hội chủ nghĩa được giữ vững, vị thế

và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao, tạo tiền đề để nước

ta tiếp tục phát triển mạnh mẽ và bền vững hơn trong giai đoạn mới” [24, tr.9]

Có được kết quả đó là do đi đôi với việc thúc đẩy tăng trưởng và phát triểnkinh tế, Đảng ta luôn quan tâm đến việc nâng cao đời sống mọi mặt của nhândân, hoạch định và thực thi chính sách xã hội hợp lý, tiến bộ nhằm tạo điềukiện tốt nhất cho sự phát triển toàn diện con người Một trong những mục tiêu

mà Đảng ta đặt ra là: Tăng trưởng kinh tế gắn liền với bảo đảm tiến bộ ngay

trong từng bước phát triển

Tuy vậy, mô hình phát triển kinh tế theo chiều rộng sau hơn 2 thập kỷthực hiện đã để lại những hậu quả kinh tế-xã hội ngày càng trầm trọng làmảnh hưởng tới chính tốc độ và chất lượng phát triển kinh tế Với định hướngphát triển xã hội xã hội chủ nghĩa thì những vấn đề xã hội mà mô hình pháttriển kinh tế theo chiều rộng và cùng với nó là những hạn chế trong nhậnthức, hoạch định chính sách xã hội và thực hiện chính sách xã hội gây ra cầnphải kiên quyết hạn chế và khắc phục để thực hiện đúng bản chất xã hội ta là

phát triển kinh tế không vì mục đích tự thân mà để không ngừng nâng cao đời sống mọi mặt của nhân dân Thực hiện các chính sách xã hội xét đến cùng là

để cải thiện chất lượng cuộc sống, do đó chất lượng cuộc sống là mục tiêu của

Trang 2

cuộc sống lại có vai trò quan trọng trong việc duy trì và bảo đảm tăng trưởngkinh tế cao hơn.

Hiện nay, bài toán lớn đặt ra cho con đường phát triển ở nước ta là cácvấn đề xã hội phức tạp như việc làm và thu nhập, giáo dục và y tế, vấn đề môitrường cơ hội phát triển cho mọi đối tượng trong xã hội được giải quyết nhưthế nào để thể hiện được bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa ngaytrong quá trình phát triển?

Là một tỉnh, Vĩnh Phúc cũng lớn mạnh cùng với sự phát triển kinh

tế-xã hội chung của cả nước Năm 1997, khi tỉnh Vĩnh Phúc được tái lập (táchkhỏi tỉnh Phú Thọ do sát nhập năm 1968), với những chiến lược và bước đithích hợp đã thực hiện tốt việc khơi dậy các tiềm năng, phát huy nội lực vàngoại lực cho đầu tư phát triển Do vậy trong những năm qua Vĩnh Phúc đã

thu được nhiều kết quả quan trọng Tốc độ tăng trưởng bình quân cao gấp 2

lần so với tốc độ tăng trưởng chung của cả nước, năm 1997 thu ngân sách đạt

gần 100 tỷ đồng thì đến năm 2006 đã đạt trên 4000 tỷ đồng và 14.505 tỷ đồngvào năm 2010 Từ một tỉnh thuần nông nay đã chuyển dịch sang cơ cấu côngnghiệp - dịch vụ - nông nghiệp, các thành phần kinh tế đều phát triển mạnh

mẽ đóng vai trò quyết định tạo nên sự tăng trưởng nhanh trong những nămgần đây Có được kết quả ấn tượng đó, chắc chắn là do việc hoạch định vàthực hiện chính sách kinh tế và chính sách xã hội của tỉnh đã đạt được sự hợp

lý nhất định trong điều kiện lịch sử - cụ thể nên những năm qua đã khai thácđược tiềm năng kinh tế và sức mạnh nguồn lực con người ở đây

Tuy nhiên, sức phát triển kinh tế vẫn chưa tương xứng với tiềm năng

của tỉnh Cùng với đó, kết quả của các chính sách xã hội của tỉnh chưa tương

xứng với những thành tựu trong kinh tế mà tỉnh Vĩnh Phúc đã đạt được Một

số vấn đề về mặt xã hội vẫn đang đặt ra một cách bức xúc, như: thiếu việclàm còn ở mức cao, giáo dục và y tế còn nhiều bất cập, tệ nạn xã hội tăng vàphức tạp hơn, ô nhiễm môi trường ngày càng tăng, mức sống và chất lượng

Trang 3

sống của một bộ phận lớn người lao động còn rất thấp, khoảng cách giàunghèo ngày càng tăng một cách không chính đáng Cùng với cả nước, VĩnhPhúc phải chuyển sang mô hình phát triển kinh tế theo chiều sâu, theo đó,nhận thức về các chính sách xã hội phải toàn diện và với nhãn quan mới, thựchiện chính sách xã hội giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong giữ ổn định xã hội

và hơn thế tạo tiềm lực phát triển kinh tế, phát triển con người Do vậy,nghiên cứu về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và chính sách xã hội trênđịa bàn tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay thực sự là cần thiết cả về lý luận và thực tiễn

Vì vậy chúng tôi chọn đề tài: “Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và chính sách xã hội trong quá trình phát triển ở Vĩnh Phúc hiện nay” làm đề tài

luận văn tốt nghiệp của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Vấn đề tăng trưởng kinh tế và chính sách xã hội là một vấn đề quantrọng Ở nước ta, trong quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng xãhội chủ nghĩa, các nhà khoa học, các nhà lãnh đạo, quản lý đã xem xét,nghiên cứu vấn đề này ở nhiều góc độ khác nhau

Về vấn đề tăng trưởng kinh tế Bài viết “Việt Nam tăng trưởng kinh tế

và các nhân tố ảnh hưởng” (Tạp chí Kinh tế và phát triển, số 7 năm 1995),

GS.Tào Hữu Phùng đã làm rõ khái niệm tăng trưởng kinh tế, quá trình tăngtrưởng kinh tế ở nước ta Từ đó chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến quá trìnhtăng trưởng kinh tế ở Việt Nam Trong cuốn sách “Các giải pháp thúc đẩytăng trưởng kinh tế ở Việt Nam” (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998), GS

Vũ Đình Bách và tập thể tác giả cũng đã làm rõ khái niệm tăng trưởng kinh

tế, các yếu tố quyết định tăng trưởng kinh tế, chỉ ra một số mô hình tăngtrưởng kinh tế trên thế giới, đánh giá thực trạng tình hình tăng trưởng kinh tếcủa Việt Nam, từ đó khái quát nên kinh nghiệm cho nước ta Đồng thời cáctác giả đã chỉ ra ba nhóm giải pháp cho tăng trưởng kinh tế ở nước ta đó là:giải pháp về lao động, vốn và giải pháp về công nghệ

Trang 4

Về chính sách xã hội và quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và chính sách xã hội Có nhiều công trình nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau Trong

công trình khoa học công nghệ cấp nhà nước: “Chính sách xã hội - một số vấn

đề lý luận và thực tiễn”, PGS Bùi Đình Thanh có đưa ra khái niệm cụ thể vềchính sách xã hội Một số tác giả đã nghiên cứu mối quan hệ giữa tăng trưởngkinh tế và các vấn đề xã hội như: “Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và vấn đềviệc làm ở Việt Nam” của TS Nguyễn Thị Hường (Tạp chí Lý luận chính trị,

số 7, 2008), “Tăng trưởng kinh tế gắn với phát triển văn hoá, xã hội theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa” của PGS, TS Vũ Văn Phúc (Tạp chí Lý luận chínhtrị, số 1, 2005), “Xoá đói giảm nghèo: nhìn từ góc độ kết hợp tăng trưởngkinh tế với công bằng xã hội ở nước ta hiện nay” (Tạp chí Cộng sản - chuyên

đề cơ sở, số 5, tháng 5-2007) của TS Nguyễn Thị Nga, “Phối hợp chặt chẽgiữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội ở nước ta” của PGS, TS NguyễnViết Vượng (Tạp chí Cộng sản, số 5, tháng 3- 2006) Trong cuốn sách “Tăngtrưởng kinh tế và chính sách xã hội ở Việt Nam trong quá trình chuyển đổi từ

1991 đến nay - Kinh nghiệm của các nước ASEAN” (Nxb Lao động, Hà Nội2001), TS Lê Đăng Doanh và TS Nguyễn Minh Trí đã phân tích sự tác độngcủa các chính sách xã hội với tăng trưởng kinh tế, cụ thể như: chính sách bảohiểm xã hội; chính sách bảo hiểm y tế; chính sách việc làm, thất nghiệp và dôidư; chính sách bảo trợ xã hội; chính sách bồi thường lao động và bảo hiểm tainạn lao động Các chính sách này có sự tác động mạnh mẽ đến việc thúc đẩytăng trưởng kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội, tạo cho mọi người có sựbình đẳng nhất định trong việc tiếp cận với các cơ hội xã hội Tác giả NguyễnThị Thanh trong luận án tiến sĩ “Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và pháttriển các quan hệ xã hội lành mạnh ở nước ta hiện nay” có chỉ ra quan hệ biệnchứng giữa yếu tố kinh tế và yếu tố xã hội, giữa tăng trưởng kinh tế và pháttriển xã hội Trên cơ sở đó tác giả cũng đưa ra các giải pháp nhằm tăng cường

sự kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế và các quan hệ xã hội lành mạnh

Trang 5

Ngoài ra, còn một số công trình nghiên cứu và bài viết có liên quan đếnvấn đề nghiên cứu như:

PGS.TS Vũ Thị Ngọc Phùng (chủ biên) "Tăng trưởng kinh tế, công

bằng xã hội và vấn đề xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam” (Nxb Chính trị quốc

gia, Hà Nội, 1999)…

Lê Huy Hoàng: “Xây dựng chính sách xã hội tạo sự công bằng, bình

dẳng cho việc phát huy năng lực sáng tạo của con người Việt Nam hiện nay”

(Tạp chí Triết học, số 9, tháng 12/2001)

Trần Văn Tùng: “Nghịch lý trong tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam”, Tạp

chí Những vấn đề kinh tế thế giới, số 5/2003

Cao Viết Sinh: “Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xoá đói giảm

nghèo- thành công và thách thức”, Tạp chí Lao động xã hội, số 272/2005.

PGS.TS Trần Văn Chử: "Tư duy của Đảng ta về quan hệ giữa tăng

trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội” (Lý luận chính trị, số 2-2005,

tr.20-24) “Thành công và thách thức” (Tạp chí Lao động và Xã hội, số

272/2005)

Trần Thành: “Vai trò của nhà nước trong việc kết hợp tăng trưởng kinh

tế và công bằng xã hội ở nước ta hiện nay” (Tạp chí Triết học, số 2/2006).

Trần Văn Phòng: “Một số giải pháp nhằm kết hợp tăng trưởng kinh tế

với công bằng xã hội ở nước ta hiện nay” (Tạp chí Khoa học Chính trị, số

2/2006)

TS Nguyễn Thị Nga: "Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng

xã hội ở Việt Nam thời kỳ đổi mới” (Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, 2007).

PGS.TS Tô Huy Rứa: “Phát triển hài hoà giữa kinh tế và xã hội ở Việt

Nam 20 năm đổi mới” (Tạp chí Cộng sản, số 779, tháng 9/2007, tr.9-12).

Đặng Thị Hồng Vi: “Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và thực hiện

chính sách xã hội ở Hà Tây hiện nay” (Luận văn Thạc sĩ triết học, Học viện

Trang 6

Nhìn chung các tác giả đã nghiên cứu mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh

tế với các vấn đề xã hội, chính sách xã hội từ đó đi đến việc giải quyết mâuthuẫn giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội; trong đó một số tác giảchỉ ra vai trò của chính sách xã hội để đảm bảo sự công bằng và tiến bộ xã hội

Tuy nhiên để phân tích rõ thực trạng và đưa ra một số giải pháp nhằmkết hợp giữa tăng trưởng kinh tế và chính sách xã hội trên cơ sở nghiên cứutình hình cụ thể ở tỉnh Vĩnh Phúc và với nhãn quan mới về mối quan hệ giữachúng trong điều kiện chuyển sang mô hình kinh tế phát triển theo chiều sâuthì hiện nay chưa có công trình nào nghiên cứu

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

* Mục đích nghiên cứu:

Trên cơ sở làm rõ thực trạng mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế vàchính sách xã hội trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh VĩnhPhúc thời gian vừa qua, luận văn đề xuất phương hướng và giải pháp chủ yếunhằm kết hợp tăng trưởng kinh tế và thực hiện chính sách xã hội ở Vĩnh Phúctrong thời gian tới để đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa trong quá trìnhphát triển

* Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Để thực hiện mục đích trên đề tài tập trung giải quyết các nhiệm vụ chủyếu sau:

- Hệ thống hóa quan niệm tăng trưởng kinh tế, chính sách xã hội và mốiquan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và chính sách xã hội

- Phân tích, đánh giá thực trạng của việc thực hiện mối quan hệ giữatăng trưởng kinh tế và chính sách xã hội ở tỉnh Vĩnh Phúc thời gian vừa qua

- Xác định phương hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm thực hiệnmối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và chính sách xã hội ở Vĩnh Phúc trongthời gian tới, đáp ứng yêu cầu phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Trang 7

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu: mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và

chính sách xã hội trong đời sống xã hội

* Phạm vi nghiên cứu: mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và thực

hiện một số chính sách xã hội: việc làm, xóa đói giảm nghèo, giáo dục, y tế,môi trường trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc

5 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu của đề tài

* Cơ sở lý luận, thực tiễn của đề tài:

Cơ sở lý luận:

- Nguyên lý và quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng

Hồ Chí Minh

- Vận dụng các quan điểm, đường lối, chính sách, nghị quyết của Đảng

và pháp luật của Nhà nước; các chỉ thị, nghị quyết của Đảng bộ tỉnh VĩnhPhúc về việc giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và chính sách xãhội Đồng thời luận văn cũng tham khảo và kế thừa có chọn lọc những kết quảnghiên cứu của các tác giả nghiên cứu về những vấn đề có liên quan

Cơ sở thực tiễn của luận văn: Các báo cáo về kinh tế - xã hội của tỉnh

do các sở, ban, ngành tỉnh Vĩnh Phúc thực hiện; khảo sát thực tế của tác giảluận văn về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và chính sách xã hội trênđịa bàn tỉnh Vĩnh Phúc

* Phương pháp nghiên cứu:

Sử dụng phương pháp luận biện chứng duy vật và các phương pháp cụthể: phân tích và tổng hợp, lôgic và lịch sử, thống kê, so sánh

6 Đóng góp của luận văn

- Phân tích thực trạng của việc thực hiện mối quan hệ giữa tăng trưởngkinh tế và chính sách xã hội ở Vĩnh Phúc

Trang 8

- Đề xuất phương hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnhviệc gắn tăng trưởng kinh tế với thực hiện tốt chính sách xã hội theo yêu cầucủa một xã hội phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Vĩnh Phúc trongthời gian tới.

- Đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy một sốchuyên đề như: chính sách xã hội dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, đường lốichính sách kinh tế, tăng trưởng và phát triển kinh tế (tiếp cận ở góc độ kinh tếchính trị học) ở các trường chuyên nghiệp

- Có thể nói, trong một chừng mực nào đó đề tài nêu được một cáchkhái quát và tổng thể mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và thực hiện chínhsách xã hội ở Vĩnh Phúc nên đề tài có thể được dùng làm tư liệu tham khảocho việc hoạch định và thực thi chính sách xã hội ở tỉnh Vĩnh Phúc

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văngồm 2 chương, 5 tiết:

Chương 1: Mối quan hệ biện chứng giữa tăng trưởng kinh tế và chính

sách xã hội

Chương 2: Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và chính sách xã hội ở

Vĩnh Phúc - thực trạng, phương hướng và giải pháp

Trang 9

Chương 1 MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

VÀ CHÍNH SÁCH XÃ HỘI

1.1 Quan niệm về tăng trưởng kinh tế, chính sách xã hội

1.1.1 Tăng trưởng kinh tế và các yếu tố cơ bản quyết định sự tăng trưởng kinh tế

1.1.1.1 Khái niệm tăng trưởng kinh tế

Ngay từ thời Hy lạp cổ đại các nhà tư tưởng đã có những quan niệm vềtăng trưởng kinh tế Họ cho rằng: tăng trưởng kinh tế là hoạt động diễn ra

trong lĩnh vực kinh tế, tăng trưởng kinh tế được đồng nhất với sự tăng lên về

lượng của nền kinh tế, như tăng sản lượng, tăng của cải…

Với Xênôphôn (430-345 TCN), hoạt động kinh tế là quá trình làm tăngcủa cải, tăng tư liệu tiêu dùng (thực chất là tăng trưởng kinh tế) Theo ông,phân công lao động có vai trò thúc đẩy giao lưu hàng hoá giữa các vùng, nhờ

có phân công lao động mà nâng cao được chất lượng hoạt động, thúc đẩy tăngtrưởng kinh tế [8, tr.23]

Với Platôn (427-347 TCN), mối quan hệ giữa phân công lao động,thương mại và tiền tệ dưới sự hoạt động của các thương gia đóng vai trò quantrọng trong việc làm tăng của cải (thực chất là tăng trưởng kinh tế) Tăngtrưởng kinh tế là quá trình tăng của cải bởi hoạt động do thương mại đem lại[8, tr.24]

Với Arixtốt (384-322 TCN), hoạt động kinh tế, tăng trưởng kinh tế lànhững hoạt động gắn liền với việc tạo ra giá trị sử dụng, làm tăng giá trị sửdụng (của cải tự nhiên)

Nhìn chung, ở thời kỳ Hy lạp cổ đại, khái niệm tăng trưởng kinh tế mớichỉ mang tính chất bước đầu, đơn giản, sơ khai song nó có ý nghĩa hết sứcquan trọng ở chỗ đặt vấn đề và là cơ sở cho các nhà tư tưởng sau này tiếp tụcnghiên cứu

Trang 10

Thời kỳ cận đại, giai cấp tư sản ra đời, khai sinh thời kỳ mới với sự tiến

bộ vượt bậc về khoa học, kỹ thuật, kinh tế - xã hội Khoa học kinh tế cũngđược ra đời vào thời kỳ này

Adam Smít (1723-1790) trong cuốn sách "Bàn về bản chất và nguyênnhân giàu có của các quốc gia” đã bàn về tính chất, nguyên nhân và điều kiệnthuận lợi của tăng trưởng kinh tế Ông quan niệm: tăng trưởng kinh tế là tăngđầu ra tính theo bình quân đầu người, hoặc tăng sản phẩm lao động

D Ricardo (1772-1823), kế thừa Adam Smít nhưng ông mở rộng sang vấn

đề phân phối, thu nhập, chú trọng đến phân tích tỷ lệ phân phối của các loại thunhập và ảnh hưởng đến tích luỹ tư bản từ đó ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế

Ngày nay, theo nghĩa chung nhất tăng trưởng là khái niệm dùng để chỉ

quá trình vận động, tăng thêm, mở rộng về quy mô của sự vật hay một hệthống các sự vật Trong ngôn ngữ sử dụng hàng ngày chúng ta có thể dùngkhái niệm "tăng”, “sự gia tăng”, "sự tăng lên”… để chỉ sự tăng trưởng

Trong kinh tế học, thuật ngữ tăng trưởng kinh tế được sử dụng rộng rãi

và có nhiều cách tiếp cận khác nhau: là “sự gia tăng sản lượng thực tế của mộtnền kinh tế theo thời gian”; là “mức tăng quy mô và tốc độ sản phẩm”; là “sựtăng thêm về quy mô sản xuất mà từ đó tăng lượng sản phẩm hàng hoá vàdịch vụ trong một thời gian nhất định (thường là một năm) Nếu tổng sảnphẩm hàng hoá của một quốc gia tăng lên, nó được coi là tăng trưởng kinh tế”[48, tr.12]; là sự gia tăng thu nhập của nền kinh tế trong một khoảng thời giannhất định (thường là một năm) [51, tr.14]

Để biểu thị sự tăng trưởng kinh tế người ta thường sử dụng hai chỉ tiêutổng hợp chủ yếu là: tổng sản phẩm quốc nội (Gross domestic product -GDP)1 và tổng sản phẩm quốc dân (Gross national product - GNP)2

1

Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là tổng giá trị của toàn bộ sản phẩm hàng hoá và dịch vụ được tạo ra trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm) trong phạm vi lãnh thổ quốc gia, không phân biệt nguồn vốn và chủ sở hữu trong nước hay nước ngoài

2 Tổng sản phẩm quốc dân (GNP) là tổng giá trị hàng hoá, dịch vụ được tạo ra bởi các công dân của một quốc gia, bất kể hoạt động sản xuất kinh doanh được tiến hành ở trong nước hay ở nước ngoài, và được tính trong một thời gian nhất định.

Trang 11

Như vậy, tăng trưởng kinh tế là mức (%) tăng thêm của GDP hay GNPnăm sau so với năm trước, hay khoảng thời gian này so với khoảng thời giantrước Để đánh giá sự tăng trưởng, hầu hết các nước, cũng như các tổ chứcquốc tế sử dụng chỉ tiêu GDP (thường là một năm) Mức tăng GDP hay GDP/đầu người/năm là chỉ tiêu phản ánh tiêu biểu nhất về sự tăng trưởng kinh tếcủa một quốc gia.

Từ những quan niệm khác nhau về tăng trưởng kinh tế có thể rút ra

điểm chung: Tăng trưởng kinh tế là khái niệm chỉ mức tăng về lượng của nền

kinh tế trong một thời gian nhất định (thường là một năm).

Ngày nay, yêu cầu tăng trưởng kinh tế được gắn liền với tính bền vững

hay việc bảo đảm chất lượng của sự tăng trưởng Khi nói đến chất lượng tăng

trưởng kinh tế là phải nói đến các vấn đề đặt ra song hành với tăng trưởngkinh tế, như: nâng cao phúc lợi của công dân, thu hẹp tỷ lệ nghèo, đói; tạomôi trường xã hội, môi trường tự nhiên, cơ hội học tập và chăm sóc sức khoẻ;tăng chỉ số phát triển con người (HDI); cơ cấu kinh tế chuyển dịch theohướng hiện đại; hiệu quả đầu tư cao; công nghệ tiên tiến, năng suất lao độngngày càng tăng, sản phẩm có tính cạnh tranh cao; thể chế kinh tế thị trườngngày càng hoàn thiện; tỷ lệ thất nghiệp giảm; tài nguyên thiên nhiên đượckhai thác hợp lý, môi trường được bảo vệ…

Theo các nhà nghiên cứu Việt Nam, chất lượng tăng trưởng kinh tế cao

là sự phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững của nền kinh tế, thể hiện qua năngsuất nhân tố tổng hợp và năng suất lao động xã hội tăng và ổn định, mức sốngcủa người dân được nâng cao không ngừng, cơ cấu kinh tế được chuyển dịchphù hợp với từng thời kỳ phát triển của đất nước, sản xuất có tính cạnh tranhcao, tăng trưởng đi đôi với tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường,

quản lý kinh tế nhà nước có hiệu quả [65, tr.9] Như vậy, chất lượng tăng

trưởng kinh tế gắn liền với khái niệm phát triển kinh tế hiện nay đang dùng.

Chúng ta có thể tham khảo quan niệm của Kuznets (người đã đượcnhận giải thưởng Nobel về khoa học kinh tế năm 1971 do có công đem đếnmột sự hiểu biết mới và sâu sắc hơn đối với cấu trúc kinh tế-xã hội và với quá

Trang 12

trình biến đổi, phát triển) Ông chỉ ra sáu đặc trưng của tăng trưởng kinh tế

mà ngày nay vẫn có giá trị ứng dụng thực tiễn

Thứ nhất là GDP bình quân đầu người

Thứ hai là tốc độ tăng năng suất lao động, tức là sản phẩm đầu ra trênmỗi đơn vị của tất cả đầu vào (ngày nay thường được tính bằng hệ số vốn đầu

tư ICOR) Vận dụng vào Việt Nam có thể nói, mặc dù những năm qua tỉ lệtăng trưởng GDP cao nhưng ICOR của Việt Nam thuộc loại thấp Do đó, đểphát triển bền vững, cần phải tập trung tăng năng suất lao động và tăng hiệusuất vốn đầu tư

Thứ ba là tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế (từ nông nghiệp sang phinông nghiệp, đồng thời chuyển dịch cả quy mô các đơn vị sản xuất trong khuvực nhà nước và tư nhân theo hướng công nghiệp - dịch vụ hiện đại)

Thứ tư là tốc độ đô thị hóa với sự hình thành và phát triển những giaitầng xã hội như doanh nhân, kinh doanh, dịch vụ, trí thức và những nghềnghiệp đặc trưng cho thành thị

Thứ năm là tốc độ phát triển của cơ sở hạ tầng giao thông và truyềnthông

Thứ sáu là tốc độ hội nhập kinh tế thế giới

Căn cứ vào 6 đặc trưng của sự tăng trưởng kinh tế hiện đại, có thể nóiViệt Nam đã bước vào quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá.Một số lĩnh vực tốc độ tăng trưởng thể hiện rất rõ như tăng trưởng GDP vàchuyển đổi cơ cấu kinh tế Nhưng Việt Nam đang gặp rất nhiều khó khăntrong các lĩnh vực như năng suất lao động, giáo dục - đào tạo, cơ sở hạ tầnggiao thông đô thị, kể cả lĩnh vực truyền thông và những khác biệt lối sống dophân hóa giàu nghèo

Hiện nay, mọi quốc gia đều phấn đấu vì mục tiêu phát triển Phát triển

kinh tế được hiểu là quá trình tăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế Phát triển kinh tế được xem như là quá trình biến đổi cả về lượng và về chất; nó là sự

Trang 13

kết hợp một cách chặt chẽ quá trình hoàn thiện của hai vấn đề kinh tế và xã hội ở mỗi quốc gia [51, tr.15].

Khái niệm tăng trưởng kinh tế khác với khái niệm phát triển kinh tế,phát triển kinh tế là khái niệm có nội hàm rộng hơn, bao hàm cả tăng trưởngkinh tế (về số lượng) và sự đạt được các chỉ tiêu về chất lượng, trước hết làchất lượng cuộc sống (mức tiêu dùng vật chất; nâng cao phúc lợi xã hội; sựhưởng thụ về giáo dục, y tế, văn hoá… sự bình đẳng về các quyền con ngườitrong kinh tế, chính trị, xã hội…) Ngân hàng thế giới, trong Báo cáo về pháttriển thế giới năm 1992 (World Development report, 1992) đã định nghĩa:

"Phát triển là nâng cao phúc lợi của nhân dân Nâng cao tiêu chuẩn sống vàcải tiến giáo dục, sức khoẻ và bình đẳng về cơ hội là tất cả những thành phần

cơ bản của phát triển kinh tế Tăng trưởng kinh tế là một cách cơ bản để cóthể có được sự phát triển, nhưng trong bản thân, nó là một đại diện rất không

toàn vẹn của sự tiến bộ” Như vậy, phát triển kinh tế là sự đạt được tăng

trưởng kinh tế cao, đồng thời đảm bảo thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội.

Đó là một quan niệm và nhận thức rất tiến bộ về tăng trưởng và phát triển,đồng thời cũng rất phù hợp với mục tiêu phát triển ở nước ta

Như vậy, tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế là hai khái niệmkhông đồng nhất, nhưng chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Tăngtrưởng là điều kiện cần cho sự phát triển: có tăng trưởng kinh tế mới có điềukiện nâng cao thu nhập, nâng cao chất lượng sống của nhân dân; mới có điềukiện để tích luỹ tái đầu tư mở rộng sản xuất, đầu tư cho phúc lợi xã hội, thúcđẩy xã hội phát triển Ngược lại, kinh tế phát triển sẽ góp phần vào việc khaithác có hiệu quả các nguồn lực và nâng cao chất lượng nguồn lực để thúc đẩy

sự tăng trưởng kinh tế

1.1.1.2 Các yếu tố cơ bản quyết định sự tăng trưởng kinh tế

Trước đây, tăng trưởng chủ yếu dựa vào tiết kiệm, tích luỹ tư bản vàvốn hiện vật, thì ngày nay tăng trưởng chủ yếu dựa vào nguồn nhân lực, công

Trang 14

nghệ, thể chế chính trị và truyền thống văn hoá Nghĩa là, có nhiều nhân tốkhác nhau tác động đến quá trình tăng trưởng kinh tế Trong đó có các nhân tố

cơ bản sau:

Nguồn lực vốn Vốn là yếu tố vật chất đầu vào quan trọng, tác động

trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế Vốn sản xuất đứng trên góc độ vĩ mô có liênquan trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế, nó là toàn bộ tư liệu vật chất được tíchluỹ lại của nền kinh tế, bao gồm: nhà máy, thiết bị, máy móc, nhà xưởng vàcác trang bị được sử dụng như những yếu tố đầu vào trong sản xuất Ở cácnước đang phát triển, sự đóng góp của vốn vào tăng trưởng kinh tế thườngchiếm tỷ trọng cao nhất Tuy nhiên, chính ở những nước này do nền kinh tếcòn nghèo, thu nhập thấp nên mức độ tích luỹ vốn còn nhiều hạn chế Do vậy,nhiều quốc gia đang phát triển đã mạnh dạn vay vốn nước ngoài, có chínhsách thu hút vốn đầu tư để tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhằm đưađất nước thoát khỏi tình trạng nghèo khó, lạc hậu Tác động của nguồn vốnđối với tăng trưởng kinh tế đang có xu hướng giảm dần và được thay thế bằngcác yếu tố khác

Nguồn lực lao động Các lý thuyết tăng trưởng kinh tế từ trước đến nay

đều khẳng định vai trò quyết định của lao động, đây là một yếu tố đầu vào củasản xuất Các lý thuyết đề cập đến yếu tố lao động theo hai nội dung: Khảnăng của người lao động và khả năng sử dụng hợp lý nguồn lao động Mộttrong những chiều cạnh của chính sách xã hội chính là tác động nhằm khaithác, nâng cao khả năng của người lao động

Nguồn lực lao động được đề cập ở đây bao gồm cả số lượng và chấtlượng Trước đây, chúng ta chỉ quan niệm lao động là yếu tố vật chất đầu vào,giống như yếu tố vốn và được xác định bằng số lượng nguồn lao động củamỗi quốc gia Những mô hình kinh tế thị trường hiện đại gần đây đã nhấnmạnh khía cạnh phi vật chất của lao động gọi đó là vốn nhân lực, đó là laođộng kỹ thuật có năng xuất, lao động có thể vận hành được máy móc thiết bị

Trang 15

phức tạp, những lao động có sáng kiến và phương pháp mới trong hoạt độngkinh tế Chất lượng nguồn lao động không chỉ phụ thuộc vào trình độ giáodục, sức khoẻ, mà còn phụ thuộc vào số lượng, chất lượng những công cụ,thiết bị sản xuất trang bị cho người lao động Hiện nay, tăng trưởng kinh tếcủa các nước đang phát triển được đóng góp nhiều bởi quy mô, số lượng laođộng, yếu tố vốn nhân lực còn có vị trí chưa cao do trình độ và chất lượng laođộng ở các nước này còn thấp.

Nguồn lực tài nguyên thiên nhiên Tài nguyên thiên nhiên bao gồm: đất

đai, khoáng sản, nguồn nước, khí hậu được gọi là một trong những nguồnlực quan trọng cho tăng trưởng kinh tế Tài nguyên thiên nhiên được chia làm:Tài nguyên vô hạn và không thể thay thế, tài nguyên có thể tái tạo và tàinguyên không thể tái tạo Những quốc gia giàu có về tài nguyên sẽ rất thuậnlợi trong quá trình đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng Các tài nguyên được đánhgiá về mặt kinh tế và được tính giá trị như các đầu vào khác trong quá trình sửdụng Nguồn tài nguyên phong phú hay tiết kiệm nguồn tài nguyên trong quátrình sử dụng cũng có một ý nghĩa tương đương như việc tạo ra một giá trị giatăng so với chi phí đầu vào khác để tạo ra nó Trong nền kinh tế hiện đại,người ta đã tìm ra cách thay thế để khắc phục mức độ khan hiếm của tàinguyên trong quá trình tăng trưởng kinh tế, hơn nữa sản phẩm quốc dân vàmức tăng của nó không phụ thuộc nhiều vào dung lượng tài nguyên thiênnhiên Tuy vậy, tài nguyên thiên nhiên vẫn là yếu tố không thể thiếu được củaquá trình sản xuất, nhất là ở các nước đang phát triển

Nguồn lực khoa học và công nghệ Đây là nhân tố tác động ngày càng

có ý nghĩa quyết định đến tăng trưởng kinh tế trong điều kiện của nền kinh tếtri thức Yếu tố này bao gồm những tiến bộ về khoa học kỹ thuật cũng như vềquản lý Hiểu một cách đầy đủ, đó là thành tựu tri thức cao, là sự nắm bắt kiếnthức khoa học, nghiên cứu, thử nghiệm về cải tiến sản phảm, quy trình côngnghệ hay thiết bị kỹ thuật, là sự áp dụng phổ biến các kết quả nghiên cứu, thử

Trang 16

nghiệm vào thực tiễn sản xuất nhằm nâng cao trình độ phát triển kinh tế xãhội.

Như vậy, nếu xem xét các yếu tố đầu vào cơ bản của sản xuất ta thấy:Một mặt, đất đai, tài nguyên thiên nhiên đang có xu hướng giảm dần sự khaithác trong quá trình tăng trưởng kinh tế Mặt khác, những yếu tài nguyên vàđất đai lại đang được sử dụng có thể gia nhập dưới dạng yếu tố vốn sản xuất.Như vậy, đất đai và tài nguyên thiên nhiên không phải là yếu tố ngưng đọng

mà luôn biến đổi trong sự vận động biện chứng của tăng trưởng kinh tế Vốnlao động được coi là những nhân tố tăng trưởng theo chiều rộng, còn khoahọc-công nghệ được coi là yếu tố tăng trưởng theo chiều sâu Những yếu tốnày có quan hệ chặt chẽ và tác động lẫn nhau Vì vậy, để có tăng trưởng đạthiệu quả cao, cần phải có sự lựa chọn, kết hợp hợp lý những yếu tố này

Ngoài những yếu tố trên, vấn đề tăng trưởng kinh tế có diễn ra thuận lợihay không còn phụ thuộc vào yếu tố mang tính chất phi kinh tế Đó là thể chếchính trị và đường lối phát triển kinh tế-xã hội, đặc điểm dân tộc, đặc điểmtôn giáo, đặc điểm văn hoá

Thể chế chính trị và đường lối phát triển kinh tế-xã hội tác động đến tăng trưởng kinh tế Sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của tất cả các quốc

gia trong mọi thời đại đều chịu tác động của các quy luật khách quan, trong

đó rõ nét nhất là quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độphát triển của lực lượng sản xuất, mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng

và kiến trúc thượng tầng Theo đó sự tác động của ý chí, thể chế thông qua hệthống pháp luật do thượng tầng kiến trúc sinh ra, sẽ tác động thúc đẩy hoặckìm hãm sự tăng trưởng và phát triển Kinh tế phát triển thành công haykhông thành công và ở mức độ nào còn phụ thuộc vào cơ cấu kinh tế có hợp

lý không, cơ chế quản lý có phù hợp không, phương thức phân phối có tạo rađộng lực phát triển không, quan hệ lợi ích có được giải quyết hài hoà giữa cá

Trang 17

nhân và xã hội, giữa nhà nước và nhân dân tạo sự đồng thuận không chỉ vềkinh tế và lợi ích mà cả về chính trị - xã hội.

Vấn đề dân tộc tác động đến tăng trưởng kinh tế Các dân tộc sống

trong một cộng đồng quốc gia có nhu cầu về kinh tế, văn hoá, xã hội khácnhau; tập quán sống và hoạt động sản xuất cũng khác nhau Đặc điểm dân tộctrở thành nhân tố tích cực tác động đến tăng trưởng và phát triển kinh tế khi

sự tăng trưởng và phát triển đó phải nhằm khai thác mọi năng lực sản xuất,tiềm năng kinh tế xã hội của mỗi dân tộc, để họ cùng có lợi ích thông qua laođộng của chính bản thân Ngược lại, nếu phát triển kinh tế chỉ đem đến lợi íchcho dân tộc này nhưng lại gây hại cho dân tộc khác, thì vấn đề dân tộc khôngchỉ trở thành lực cản cho tăng trưởng và phát triển, mà còn là nguyên nhânxung đột các dân tộc, sắc tộc, gây hậu quả nghiêm trọng đến tăng trưởng vàphát triển không chỉ của các dân tộc mà với toàn xã hội Vấn đề dân tộc là vấn

đề chính trị nhạy cảm và mọi nhạy cảm này đều phải được xem xét trongquan hệ chính trị và kinh tế, giữa chính sách dân tộc với tăng trưởng và pháttriển kinh tế Mọi chiến lược tăng trưởng và phát triển kinh tế không đặt trongquan hệ với đặc điểm dân tộc sẽ phạm sai lầm nghiêm trọng

Tác động của vấn đề tôn giáo với tăng trưởng kinh tế Vấn đề tôn giáo

cũng là vấn đề rất nhạy cảm Vấn đề tôn giáo thường xuyên gắn với vấn đềdân tộc Trong mỗi quốc gia thường có nhiều tôn giáo Vì vậy chính phủ củacác quốc gia cần có chính sách tôn giáo đúng đắn để tạo ra sự hoà hợp, nhằmtận dụng những yếu tố tích cực của mỗi tôn giáo để tác động đến sự tăngtrưởng và tiến bộ xã hội

Văn hoá tác động đến tăng trưởng kinh tế Văn hoá dân tộc là một vấn

đề rộng lớn Nó bao hàm nhiều mặt: Tri thức phổ thông, khoa học, nghệ thuật,lối sống, tập quán, cách ứng xử trong quan hệ giao tiếp được hình thành vàtích luỹ suốt quá trình sinh tồn và phát triển Có thể nói trình độ văn hoá củadân tộc là nhân tố cơ bản quyết định chất lượng đội ngũ người lao động, đặc

Trang 18

biệt trong nền kinh tế tri thức hiện nay Do vậy việc giữ gìn, phát huy bản sắcvăn hoá dân tộc kết hợp hiện đại hoá truyền thống đó là nhân tố có ý nghĩaquyết định sự tăng trưởng kinh tế.

Với mô hình kinh tế phát triển theo chiều sâu thì các yếu tố: nguồn lựclao động (vốn con người), nguồn lực khoa học, công nghệ và thể chế chínhtrị, đường lối phát triển kinh tế - xã hội của chính thể là những yếu tố quantrọng nhất

Tăng trưởng kinh tế có tầm quan trọng đặc biệt - là yếu tố cơ bản, nềntảng cho sự phát triển xã hội, tuy nhiên mục đích cuối cùng của tăng trưởngkinh tế là vì con người, vì sự phát triển của xã hội và tiến bộ xã hội Vì vậy,trong xã hội phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa thì tăng trưởng kinh tếphải đi đôi với việc thực hiện chính sách xã hội nhằm giải quyết các vấn đề xãhội, đem lại sự công bằng và tiến bộ xã hội ngay trong sự tăng trưởng kinh tế

1.1.2 Chính sách xã hội và cơ sở hình thành chính sách xã hội

1.1.2.1 Khái niệm chính sách xã hội

Ở nước ta thuật ngữ “chính sách xã hội” xuất hiện khá muộn, Đảng ta

sử dụng lần đầu tiên trong Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VI (12/1986) vàhiện nay nó đã trở thành một khái niệm được sử dụng rộng rãi

Với cách tiếp cận khác nhau, các nhà nghiên cứu đưa ra những ý kiếnkhác nhau về khái niệm chính sách xã hội

PGS.TS Bùi Đình Thanh (Viện KHXH) cho rằng “Chính sách xã hội là

cụ thể hoá và thể chế hoá bằng pháp luật những đường lối, chủ trương, nhữngbiện pháp để giải quyết các vấn đề xã hội dựa trên những tư tưởng, quan điểmcủa những chủ thể lãnh đạo, phù hợp với bản chất chế độ xã hội - chính trị,phản ánh lợi ích và trách nhiệm của cộng đồng xã hội nói chung và của từngnhóm xã hội nói riêng nhằm mục đích cao nhất là thoả mãn những nhu cầu

Trang 19

ngày càng tăng về đời sống vật chất và văn hoá, tinh thần của nhân dân” [78,tr.23]

PGS.PTS Đặng Cảnh Khanh đưa ra quan niệm về chính sách xã hộinhư sau: Chính sách xã hội là bộ phận cấu thành trong chính sách chung củamột chính đảng hay một chính quyền nhà nước nhất định trong việc quản lý

và điều hoà các mối quan hệ xã hội và cá nhân Nó bao gồm việc giải quyếtnhững vấn đề quyền lợi xã hội giữa các giai cấp và tầng lớp xã hội phù hợpvới bản chất giai cấp của nhà nước và chính đảng nói trên” [78, tr.71-72]

Theo Từ điển bách khoa Việt Nam, “Chính sách xã hội là một bộ phậncấu thành chính sách chung của một chính đảng hay chính quyền nhà nướctrong việc giải quyết và quản lý các vấn đề xã hội Chính sách xã hội baotrùm mọi mặt của cuộc sống con người, điều kiện lao động và sinh hoạt, giáodục và văn hoá, quan hệ gia đình, quan hệ giai cấp và xã hội Một trongnhững đặc điểm cơ bản của chính sách xã hội là sự thống nhất biện chứng của

nó với chính sách kinh tế Trình độ phát triển kinh tế là điều kiện vật chất đểthực hiện chính sách xã hội và ngược lại Sự hợp lý công bằng và tiến bộđược thực hiện qua chính sách xã hội lại tạo ra những động lực mạnh mẽ đểthực hiện các mục tiêu kinh tế nhằm làm cho dân giàu nước mạnh Chính sáchphải đạt mục đích đem lại đời sống tốt đẹp cho con người, mang lại sự côngbằng dân chủ cho mỗi người, không theo chủ nghĩa bình quân Trong điềukiện kinh tế hàng hoá có cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, chính sách xã hộiphải hướng tới sự công bằng xã hội bảo đảm sự bình đẳng về quyền lợi vànghĩa vụ giữa các thành phần kinh tế trước pháp luật Chính sách xã hội phảivừa củng cố và phát triển những giai cấp cơ bản như công nhân, nông dân,vừa quan tâm thích đáng đến lợi ích và phát huy tiềm năng của các tầng lớp,các nhóm dân cư khác” [31, tr.478]

Từ các quan niệm về chính sách xã hội đã trình bày ở trên, có thể hiểuchính sách xã hội ở những nội dung cơ bản sau:

Trang 20

Theo nghĩa rộng, chính sách xã hội là bộ phận cấu thành trong chính

sách chung của chính đảng hay một chính quyền nhà nước hướng tới lĩnh vực

xã hội, nhằm giải quyết những vấn đề liên quan đến cuộc sống con người, nhucầu lợi ích của các nhóm người, các tầng lớp xã hội, các giai cấp, các dân tộc,các tôn giáo trong xã hội, đồng thời góp phần điều chỉnh các quan hệ xã hộiphù hợp với bản chất giai cấp và những mục tiêu của chính đảng hay chínhquyền đó

Theo nghĩa hẹp, chính sách xã hội được hiểu là những chính sách nhằm

tác động vào đối tượng cụ thể Đối tượng của chính sách xã hội là những ngườitàn tật, cô đơn không nơi nương tựa, trẻ mồ côi, người về hưu, gia đình liệt sĩ,thương binh, bệnh binh, người có công với cách mạng những người chịu thiệtthòi trong xã hội về mặt hình thể, điều kiện sống, về cơ hội Vậy nên, chínhsách xã hội rất cụ thể, tác động trực tiếp đến cuộc sống của mỗi người

Phạm vi chính sách xã hội phải giải quyết bao hàm mọi mặt của cuộcsống con người như: điều kiện lao động và sinh hoạt, giáo dục và văn hoá,quan hệ gia đình, quan hệ giai cấp, quan hệ dân tộc, quan hệ tôn giáo, quan hệnghề nghiệp

Đặc trưng cơ bản của chính sách xã hội là lấy việc phục vụ con ngườilàm mục đích cao nhất và nhằm phát huy nhân tố con người một cách toàndiện Vì vậy chính sách xã hội là một trong những động lực trực tiếp thúc đẩycon người hoạt động

Chính sách xã hội luôn gắn với chế độ chính trị - xã hội, thể hiện bảnchất của chế độ xã hội Về thực chất, mỗi chính sách xã hội đều là sản phẩmcủa đường lối chính trị trong từng giai đoạn lịch sử nhất định Đảng cầmquyền, Nhà nước, với tư cách là chủ thể ban hành chính sách bao giờ cũnghướng những nội dung chính sách vào việc thực hiện và bảo vệ lợi ích củagiai cấp cầm quyền, thể hiện mục tiêu thống trị của giai cấp cầm quyền Tuynhiên, bất cứ một chế độ nào giai cấp cầm quyền cũng cần phải thực hiện

Trang 21

chức năng xã hội nhằm bảo đảm sự ổn định và phát triển của xã hội đó Chínhsách xã hội là biện pháp cơ bản để giải quyết các vấn đề xã hội và phản ánhbản chất của xã hội đó.

Trong chủ nghĩa tư bản, nhân dân lao động là người làm thuê, chínhsách xã hội của nhà nước tư bản nhằm các mục tiêu: giảm nhẹ phần nào taihoạ cho nhân dân lao động, cải thiện từng mặt và có mức độ đời sống củanhân dân, giảm bớt sự bất bình, sự phản kháng của nhân dân gây căng thẳng

xã hội, giữ vững ổn định chính trị xã hội để đạt được mục tiêu cuối cùng làduy trì sự tồn tại của chế độ tư bản chủ nghĩa, duy trì địa vị thống trị của giaicấp tư sản Cũng phải nhận thấy rằng chính sách xã hội của các nước tư bảnchủ nghĩa đã đạt được những thành tựu nhất định, đời sống của người laođộng ở các nước đó được cải thiện, thậm chí ở nhiều khu vực lao động cònđược nâng cao khiến cho không ít người lao động “bằng lòng” với điạ vị làmthuê của mình và không còn cảm giác bị giới chủ bóc lột

Trong chủ nghĩa xã hội, nhân dân lao động là người chủ, chính sách xãhội đặt con người với tất cả những nhu cầu, lợi ích phong phú và đa dạng vào

vị trí trung tâm của sự phát triển Hay nói cách khác, lấy việc phục vụ conngười làm mục tiêu cao nhất của chính sách xã hội xã hội chủ nghĩa

Ở nước ta, chủ thể hoạch định chính sách là nhà nước, cùng tham giađánh giá chính sách là người dân Các tầng lớp dân cư là những đối tượng thụhưởng lợi ích từ chính sách đồng thời là chủ thể tham gia giám sát xã hội đốivới nhà nước và công chức Chính sách xã hội là sự cụ thể hoá, thể chế hoácác đường lối, chủ trương của Đảng Chủ thể đặt ra các chính sách xã hội ởnước ta có vai trò hết sức quan trọng, có tính chất quyết định, đồng thời thểhiện tinh thần trách nhiệm, năng lực lãnh đạo của Đảng, của Nhà nước mangbản chất giai cấp công nhân, là nhà nước của dân, do dân, vì dân Các chínhsách nói chung và chính sách xã hội nói riêng phải thể hiện đầy đủ, nổi bậtnhững bản chất đó Mục tiêu cuối cùng của chính sách xã hội trong điều kiện

Trang 22

phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay

là phát huy nhân tố con người một cách cao nhất Hoàn thiện và thực thi chínhsách xã hội trong điều kiện hiện nay chính là hoàn thiện và thực thi nhữngchính sách nhằm phát huy cao nhất nhân tố con người hướng vào thực hiệnmục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh

1.1.2.2 Cơ sở hình thành chính sách xã hội

Chính sách xã hội được xây dựng trên cơ sở những điều kiện cơ bản vềkinh tế, chính trị và cơ cấu xã hội Vì vậy chính sách xã hội phải tuân thủnhững quy tắc, quy luật khách quan và biểu hiện đặc thù của nó Sự hiểu biếtcác quy luật khách quan là rất quan trọng đối với việc hoạch định và hoànthiện các chính sách xã hội Tuy nhiên, con người là chủ thể của việc hoạchđịnh chính sách, rất có thể cái chủ quan của chủ thể can thiệp quá giới hạnvào các quy luật khách quan dẫn đến các chính sách xã hội được hoạch địnhcũng như khi thực thi bị méo mó, mất đi tính khách quan, khoa học và côngbằng của nó Đây là điều cần được xem xét khi nghiên cứu cơ sở hình thànhchính sách xã hội

Điều kiện kinh tế Điều kiện kinh tế là cơ sở quan trọng nhất để hình

thành hệ thống các chính sách xã hội của một đất nước C.Mác cho rằng: Mộttrình độ phát triển nhất định của sản xuất, trao đổi và tiêu thụ, chúng ta sẽ cómột chế độ xã hội nhất định, một tổ chức nhất định của gia đình, của các đẳngcấp hay giai cấp, nói tóm lại, là có một xã hội công dân nhất định Có thểkhẳng định rằng, điều kiện kinh tế chính là yếu tố khách quan cần thiết đểthực hiện chính sách xã hội Hệ thống chính sách xã hội phải là hệ thốngchính sách được xây dựng trên cơ sở kinh tế hiện thực của đất nước Sẽ là ảotưởng, duy ý chí, thiếu khách quan khi xây dựng hệ thống chính sách xã hộivượt lên trên trình độ kinh tế - văn hoá của một xã hội Chính sách xã hộikhông được xây dựng trên cơ sở kinh tế, nó chỉ là sản phẩm của tư duy trừutượng, không có giá trị thực tiễn, không có khả năng đi vào cuộc sống Cũng

Trang 23

phải thấy rằng, thực hiện chính sách xã hội là để thực hiện công bằng xã hội,

chính vì vậy mà cơ sở hình thành chính sách xã hội là từ nhu cầu của cuộcsống, từ những bức xúc phải giải quyết các vấn đề xã hội Trong đó trình độphát triển kinh tế là điều kiện vật chất tiên quyết nhất để thực hiện chính sách

xã hội Song chính sách xã hội không phụ thuộc một cách thụ động vào điềukiện kinh tế Giữa kinh tế và xã hội, giữa chính sách kinh tế và chính sách xãhội có mối quan hệ biện chứng, tác động ảnh hưởng qua lại với nhau Chínhsách kinh tế phải hướng tới mục tiêu xã hội, tạo điều kiện vật chất để giảiquyết các vấn đề xã hội, tìm động lực từ các nhân tố xã hội, lấy hiệu qủa phục

vụ xã hội làm thước đo cao nhất để xác định các phương án và kết quả hoạtđộng kinh tế Ngược lại chính sách xã hội phải góp phần thúc đẩy tăngtrưởng, phát triển kinh tế, tạo môi trường xã hội thuận lợi cho sự phát triểnkinh tế, làm nảy sinh những nhân tố động lực cho phát triển kinh tế Như vậy,cần phải kết hợp chặt chẽ và giải quyết hài hoà quan hệ giữa chính sách kinh

tế và chính sách xã hội với từng thời kỳ và điều kiện của từng quốc gia mớiphát huy được sức mạnh của cả hai loại chính sách này

Như vậy, chính sách xã hội chỉ có thể xem là đúng đắn, khoa học vàkhả thi nếu nó đáp ứng được mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với phát triển

xã hội Trong thực tế, mối quan hệ giữa tăng trưởng nhanh với công bằngtrong chính sách xã hội là vấn đề thời sự của nhiều quốc gia Tăng trưởngkinh tế tạo điều kiện vật chất cần thiết cho sự biến đổi mọi mặt đời sống xãhội Ngược lại, thực hiện công bằng, tiến bộ xã hội trên các mặt của đời sống

xã hội sẽ tạo động lực xã hội to lớn đẩy nhanh sự phát triển kinh tế

Điều kiện chính trị Chính sách xã hội là một dạng biểu hiện đặc biệt

của quá trình hoạt động chính trị Bởi vậy khi nghiên cứu chính sách xã hội,chúng ta cần phải đặt nó trong bối cảnh chính trị chung của toàn xã hội Nóicách khác, nghiên cứu chính sách xã hội tức là phải nghiên cứu một cáchnghiêm túc và đầy đủ sự vận động có quy luật của mối quan hệ gắn bó, sự

Trang 24

thống nhất hữu cơ giữa chính sách xã hội với toàn bộ hệ thống chính trị của

xã hội, nghiên cứu sự tác động tương hỗ giữa chính sách xã hội với thể chế xãhội, mức độ của nền dân chủ xã hội, sự bình đẳng và công bằng xã hội

Chính sách xã hội là sản phẩm của hệ tư tưởng, đường lối chính trị củamột giai cấp cầm quyền nhân danh xã hội Bởi vậy, về thực chất, không thể cóđược chính sách xã hội hoàn toàn tiến bộ trong điều kiện của một hệ thốngchính trị, một cơ chế xã hội lạc hậu, và ngược lại, cũng không thể tồn tại một

hệ thống chính trị nào được coi là tiến bộ khi những chính sách xã hội banhành luôn đi ngược quyền lợi chung của con người

Giữa chính sách xã hội và hệ thống chính trị có sự thống nhất trong bảnchất, chúng luôn được đặt trong mối quan hệ gắn bó đồng bộ Tuỳ theo nhữnghoàn cảnh xã hội cụ thể, chính phủ các nước có sự ưu tiên những mục tiêuchính trị hơn là mục tiêu xã hội và ngược lại, nhưng giữa chúng không thểtách rời nhau Hệ thống chính trị là phương tiện biểu hiện, công cụ thực hiệnnhững mục tiêu xã hội, còn chính sách xã hội lại là sự phản ánh tập trungnhững quan điểm tư tưởng cơ bản của hệ thống chính trị Hệ thống chính trịquy định mục tiêu của chính sách xã hội, trả lời cho câu hỏi: Chính sách xãhội nhằm mục đích gì? thực hiện chính sách xã hội như thế nào để mang lạihiệu quả cao nhất? Do vậy, hệ thống chính trị tiến bộ, cơ chế chính trị hợp lý

là điều kiện tốt nhất để ban hành, vận dụng và thực thi có hiệu quả chính sách

xã hội tiến bộ, và ngược lại, sẽ không có và không thể thực hiện chính sách xãhội tiến bộ trong một hệ thống chính trị phản tiến bộ Cũng như vậy, theo mộtlogíc tất yếu, thông qua hệ thống chính sách xã hội, việc thực thi chính sách

xã hội ở từng quốc gia có thể đánh giá được mức độ tiến bộ của hệ thốngchính trị và cơ chế chính trị ở quốc gia đó

Trong việc ban hành, vận dụng và thực thi chính sách xã hội, vai tròcủa các tổ chức chính trị quần chúng, với tư cách là “là lực lượng giám sát”,

“lực lượng tham mưu”, “lực lượng thực hiện chính sách xã hội” là rất quan

Trang 25

trọng Bởi xét cho cùng, con người là mục tiêu và đối tượng của chính sách xãhội và cũng chính là lực lượng thực hiện chính sách này Con người với tínhcách là con người họ phải được hưởng những gì? xã hội thoả mãn nhu cầu đóchưa? chính sách xã hội đã tạo ra động lực cho họ sống, lao động và sáng tạonhư thế nào? những chủ trương tiến bộ, hợp lý của chính sách xã hội đã đếnđược với họ chưa, còn vướng mắc ở khâu nào? Để giải đáp loạt vấn đề trên,trước hết phải phát huy tinh thần dân chủ trong nhân dân để họ không chỉ làngười thừa hưởng chính sách xã hội mà còn là người thực hiện, người thiết kếchính sách xã hội của chính họ Không thể có công bằng xã hội nếu không cómột cơ chế chính trị đảm bảo cho việc thực thi dân chủ hoá đời sống xã hội

mà chính sách xã hội tồn tại ở trong đó Ở nước ta, việc hướng các chính sáchvào việc phục vụ con người và sự phát triển toàn diện con người chỉ có thểđược thực hiện bằng sự phát huy khả năng của chính con người, bằng việctăng cường những hoạt động tự do và tự giác của con người, bằng dân chủhoá thực sự toàn bộ hoạt động vật chất, trí tuệ, văn hoá và tinh thần của conngười

Với ý nghĩa đó, việc ban hành chính sách xã hội phải kết hợp chặt chẽvới việc xây dựng và hoàn thiện cơ chế chính trị hợp lý, tạo môi trường chínhtrị thuận lợi cho việc thực hiện những chính sách này

Cơ cấu xã hội Chính sách xã hội do những chủ thể nhất định ban hành.

Nó tác động đến đối tượng tồn tại trong những điều kiện chính trị, kinh tế,văn hoá, xã hội khác nhau Do vậy, không thể có chính sách chung cho tất cả

và cũng không thể có chính sách cho một đối tượng

Trong thực tế, chính sách xã hội bao giờ cũng được vạch ra từ nhữngđiều kiện khách quan của xã hội nhằm làm thoả mãn tương đối nhu cầu của

xã hội Xã hội luôn luôn biến đổi nên nhu cầu của các đối tượng chính sách xãhội cũng thường xuyên thay đổi Bởi vậy, chính sách xã hội không phải là bất

di bất dịch Nó có những đặc điểm riêng biệt, có quá trình vận động và hoàn

Trang 26

thiện mình Điều đó xuất phát từ mối quan hệ có tính quy luật giữa chính sách

xã hội và cơ cấu xã hội

Trước hết, giữa chính sách xã hội và cơ cấu xã hội có sự thống nhấtbiện chứng Sự thống nhất giữa chính sách xã hội và cơ cấu xã hội biểu hiện ởchỗ: Chính sách xã hội hợp lý bao giờ cũng phải đặt trên cơ sở của cơ cấu xãhội hiện thực Không bắt đầu từ việc nghiên cứu thực trạng của cơ cấu xã hội,chính sách xã hội sẽ trở nên vô căn cứ, không đáp ứng được những đòi hỏicủa xã hội Ngược lại chính sách xã hội cũng tác động trở lại cơ cấu xã hội,góp phần làm biến đổi và hoàn thiện cơ cấu này Bởi vậy, mọi sự vận động vàphát triển của cơ cấu xã hội bao giờ cũng gắn kiền với vai trò chủ động củacon người thông qua hệ thống các chính sách Mối quan hệ giữa chính sách xãhội và cơ cấu xã hội trong chủ nghĩa xã hội phải biểu hiện theo phương châm:Tất cả vì con người, tất cả vì hạnh phúc của con người

Nhận thức đúng đắn sự thống nhất biện chứng giữa chính sách xã hội

và cơ cấu xã hội là cơ sở để vạch ra chính sách xã hội hợp lý, khoa học, pháthuy tính tích cực của quần chúng nhân dân, động viên họ trong mọi hoạt động

xã hội sáng tạo

Tóm lại, chính sách xã hội chính là một biện pháp cơ bản để giải quyếtcác vấn đề xã hội, mục tiêu của nó là vì con người, hạnh phúc của con người,hướng tới sự công bằng xã hội và tiến bộ xã hội, đó là một trong những điềukiện đảm bảo sự ổn định chính trị - xã hội Vì vậy, việc ban hành, vận dụng,thực thi chính sách xã hội một cách hợp lý, tiến bộ, có hiệu quả là cách tốtnhất để phát huy yếu tố con người-động lực của sự phát triển kinh tế-xã hội

Và chính sách xã hội không thể tách rời các chính sách phát triển khác, màcần có sự kết hợp đồng bộ, có hệ thống, kết hợp một cách biện chứng với cáclĩnh vực và chính sách khác của quốc gia

Trang 27

1.2 Yêu cầu của mối quan hệ biện chứng giữa tăng trưởng kinh tế

và chính sách xã hội trong định hướng phát triển xã hội xã hội chủ nghĩa

Tăng trưởng kinh tế và chính sách xã hội phản ánh mối quan hệ giữalĩnh vực kinh tế và lĩnh vực xã hội Trong thực tiễn cuộc sống, tăng trưởngkinh tế và chính sách xã hội có mối quan hệ hữu cơ Mỗi chính sách kinh tếđều có mục tiêu xã hội nhất định Trong các chế độ của giai cấp bóc lột, mụctiêu xã hội của các chính sách kinh tế là hướng vào đảm bảo lợi ích của giaicấp thống trị và phần nào góp phần xoa dịu mâu thuẫn giai cấp, hạn chế xungđột xã hội Trong chế độ xã hội chủ nghĩa, mục tiêu xã hội của chính sáchkinh tế là hướng tới một xã hội công bằng cả trong sở hữu, phân phối kết quảsản xuất lẫn tạo cơ hội cho mọi người phát huy, cống hiến cao nhất khả năngcủa mình, đồng thời phát triển những năng lực của mình Thực chất sâu xacủa công bằng xã hội nhìn từ quan điểm nhân đạo và nhân văn là công bằng

về cơ hội phát triển cho tất cả mọi người trong cộng đồng Chính sách kinh tế

là cơ sở trực tiếp để giải quyết các vấn đề như lao động, việc làm, xóa đóigiảm nghèo, nâng cao mức sống Trình độ và khả năng phát triển kinh tế làđiều kiện tiên quyết để thực hiện chính sách xã hội, kinh tế tăng trưởng mới

có điều kiện giải quyết các chính sách xã hội Tuy nhiên, nói như vậy không

có nghĩa cứ đạt được tăng trưởng kinh tế là giải quyết được các vấn đề xã hội,

mà sử dụng các thành quả tăng trưởng kinh tế như thế nào lại phụ thuộc vàoquan điểm và cách làm của thể chế cầm quyền Không chỉ chính sách kinh tế

là cơ sở cho chính sách xã hội mà chính sách xã hội cũng có tác động đếnthực hiện các mục tiêu kinh tế Chính sách xã hội công bằng, hợp lý, tiến bộ

sẽ tạo động lực để thực hiện có hiệu quả các mục tiêu tăng trưởng kinh tế,kích thích sản xuất phát triển, tăng trưởng kinh tế cao, đời sống vật chất củatoàn xã hội được nâng lên lại tạo điều kiện vật chất để thực hiện tốt các chínhsách xã hội Trong hệ thống các chính sách xã hội có những chính sách xã hội

Trang 28

tác động trực tiếp đến quá trình thực hiện các mục tiêu tăng trưởng kinh tếnhư: dân số, lao động, việc làm, đào tạo nguồn nhân lực

Tuy nhiên, giữa tăng trưởng kinh tế và thực hiện chính sách xã hộitrong thực tế cũng nảy sinh nhiều mâu thuẫn

Về mâu thuẫn khách quan: Quá trình tăng trưởng kinh tế thường kéo

theo những vấn đề xã hội như: Vấn đề việc làm, các tệ nạn xã hội làm đảo lộncác giá trị truyền thống mà hậu quả là các chính sách xã hội chưa thể xử lýđược Tăng trưởng kinh tế thường kéo theo sự huỷ hoại môi trường sinh tháilàm ảnh hưởng đến cuộc sống của con người mà cuối cùng xã hội phải giảiquyết thông qua chính sách xã hội Lại có mô hình kinh tế có tăng trưởng kinh

tế, tăng trưởng trước mặt mà không đưa đến sự phát triển thực sự khi tàinguyên thiên nhiên bị hủy hoại, thành quả tăng trưởng rơi vào thiểu số giớichủ sở hữu lớn tư liệu sản xuất hoặc tầng lớp quan liêu Kinh tế thị trường nếu

không có sự quản lý có hiệu quả của nhà nước sẽ dẫn tới tình trạng tách biệt

xã hội và bần cùng hóa đối với một bộ phận dân cư Đó là nạn thất nghiệp,

nghèo khổ, mức sống quá thấp, sự phân cực xã hội về mức sống đã tiềm ẩn vànung nấu những xung đột xã hội Điều này càng gia tăng trong điều kiện kinh

tế suy thoái, lạm phát đi liền với nạn đầu cơ, tài sản quốc gia bị lãng phí, bịxâu xé bởi các thế lực có sức mạnh trong xã hội nhưng đã xa rời lợi ích củacộng đồng dân tộc

Về mâu thuẫn chủ quan: Yêu cầu phát triển kinh tế và giải quyết mặt xã

hội của đời sống xã hội hiệu quả, tương ứng song do chủ thể ban hành chínhsách xã hội bị hạn chế tầm nhìn, hạn chế về nhận thức, chưa đạt tư duy chiếnlược, bao quát nên chưa thiết kế được chính sách xã hội như một hệ thống vớicấu trúc xác định và khi thực hiện nó thường thiếu đồng bộ, sự chủ quan duy

ý chí của các chủ thể khi thiết kế và thực thi chính sách xã hội hoặc do giớihạn của bản chất, lợi ích giai cấp chế định

Trang 29

Mặt khác cũng cần nhận thức rõ mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế

và chính sách xã hội là quan hệ thống nhất biện chứng nên không thể cầu toàngiải quyết triệt để và toàn bộ các vấn đề kinh tế, xã hội thông qua chính sáchkinh tế, chính sách xã hội một cách tách biệt, thuần tuý Điều này có nghĩa làphải kết hợp được và tìm ra được cái ngưỡng phù hợp giữa chính sách kinh tế

và chính sách xã hội trên cơ sở trình độ phát triển kinh tế-xã hội cho phép

1.2.1 Một số kinh nghiệm các nước về giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và thực hiện chính sách xã hội

Hiện nay, các nước trên thế giới khi phát triển kinh tế thị trường thì đềuphải đối mặt với tác động tiêu cực của cơ chế thị trường Đó là mâu thuẫngiữa tốc độ tăng trưởng kinh tế ngày càng nhanh với các vần đề xã hội ngàycàng trở nên nóng bỏng như: sự phân hoá giàu nghèo, phân tầng xã hội ngàycàng lớn, môi trường sinh thái bị ô nhiễm trầm trọng, tệ nạn xã hội, thấtnghiệp ngày càng gia tăng Có phải những tệ nạn xã hội là bạn đồng hànhkhông tránh khỏi của quá trình chuyển sang cơ chế thị trường? Để đạt được

sự tăng trưởng kinh tế thì tất yếu phải hi sinh hiệu quả xã hội? Liệu có giảipháp nào để tiến tới sự phát triển bền vững: vừa đạt được sự tăng trưởng kinh

tế cao, vừa thực hiện được các chính sách xã hội?

Mỗi dân tộc, mỗi quốc gia đã và đang cố gắng tìm cho mình con đườngriêng để giải quyết mâu thuẫn trên Các giải pháp đưa ra ở các nước trong thế

kỷ XX rất đa dạng, song tựu trung lại mọi giải pháp đều nhằm tìm đến việcgiải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và thực hiện chính sách xãhội, công bằng xã hội theo hướng hoặc là ưu tiên tăng trưởng kinh tế trước,thực hiện chính sách xã hội, giải quyết công bằng xã hội sau, hoặc là đặt racác mục tiêu xã hội trước các mục tiêu kinh tế Kinh nghiệm cho thấy cả haicách đó đều có những hạn chế mà hệ quả của nó đều gây ra sự chống đối vàkhủng hoảng trong đời sống xã hội

Trang 30

1.2.1.1 Kinh nghiệm của các nước tư bản chủ nghĩa giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và thực hiện chính sách xã hội

Đối với các nước tư bản chủ nghĩa, mục tiêu tối thượng là tăng trưởngkinh tế với tốc độ cao và nhanh chóng đem lại lợi nhuận tối đa cho nhà tư sản

Vì vậy, các nước tư bản chủ nghĩa ưu tiên và chấp nhận tăng trưởng kinh tếbằng mọi giá, họ sẵn sàng duy trì bất công, bất bình đẳng xã hội vì mục đíchlợi nhuận Hơn nữa, với lòng tham vô đáy, các nhà tư sản cùng chính quyềncủa họ coi người lao động là công cụ sản xuất ra giá trị thặng dư cho họ, cànggiảm thiểu chi phí lao động bao nhiêu thì túi tiền của nhà tư sản càng to ra bấynhiêu Đối với họ, lực lượng thất nghiệp trong xã hội cần phải được duy trì đểgây sức ép đối với những người lao động làm thuê: nghèo đói bất bình đẳngtrong xã hội là vấn đề tất yếu Cùng với nó là quan niệm cho rằng: tăngtrưởng kinh tế đối lập với công bằng xã hội và đi cùng với tăng trưởng kinh tế

là sự gia tăng bất bình đẳng trong thu nhập Nguồn gốc quan niệm này xuấtphát từ lý kuận của Đ Ricardo Ông cho rằng: tăng trưởng kinh tế phải đượcđảm bảo bởi mức tiết kiệm cao của tầng lớp tư sản, do đó ông chống lại việcđiều tiết thu nhập dẫn tới bất lợi cho giai cấp tư sản Từ tham vọng và quanniệm trên, mọi chính sách của nhà nước tư bản chủ nghĩa đối với xã hội đềunhằm mục đích mang lại lợi ích cho giai cấp tư sản là gia tăng giá trị thặng

dư Chính sách xã hội của nhà nước tư bản chủ nghĩa chỉ nhằm giảm bớt càngnhiều càng tốt những xung đột giai cấp trong xã hội tư bản Bởi vậy, chínhsách xã hội trong chế độ tư bản dù phát triển tới mức độ nào, và dù các hìnhthức đó đa dạng phong phú đến đâu thì cũng không bao giờ vượt ra khỏi cáibản chất cơ bản của nó, cái mà theo sự phân tích của V.I.Lênin, chỉ là: “trả lạicho người lao động từng thìa, trong khi lấy của họ từng thùng”

Như vậy, với mô hình tăng trưởng kinh tế vì mục tiêu lợi nhuận, thựcthi chính sách xã hội ở các nước tư bản chủ nghĩa là hi sinh công bằng xã hội,phản tiến bộ: nền kinh tế tăng trưởng cao nhưng đi cùng với nó là sự gia tăngbất bình đẳng, xã hội khủng hoảng sâu sắc, tài nguyên thiên nhiên bị khai tháccạn kiệt, môi trường sinh thái bị huỷ hoại nghiêm trọng

Trang 31

Theo báo cáo của Tổ chức phát triển công nghiệp Liên hợp quốc(UNIDP) ngày 30/7/2002: Năm 1950 thu nhập tính theo bình quân đầu ngườicủa 20% dân số giàu nhất thế giới gấp 30 lần thu nhập của 20% dân số nghèonhất thế giới Đến năm 1990, con số này là 90 lần Còn theo Báo cáo của Liênhợp quốc 2000-2001, năm 1998: tổng giá trị tổng sản lượng toàn thế giới đạt28.860 tỷ USD; trong đó, 24 nước phát triển, với số dân chỉ bằng 17% dân sốthế giới, nhưng lại chiếm tới 79% GDP Theo viện Chính sách tài chính Oa-sinh-tơn thì thu nhập bình quân của 20% gia đình giàu nhất ở Oa-sinh-tơn là186.830 USD/năm, trong khi mức trung bình của 20% gia đình nghèo nhấtchỉ 6.126 USD/năm, chênh lệch 31 lần Để xoa dịu mâu thuẫn xã hội, Chínhphủ Mỹ cũng đã thực hiện một số chính sách phúc lợi xã hội về y tế, giáo dục,nhà ở, thất nghiệp… nhưng đó chỉ là sự điều tiết ít ỏi trong tổng giá trị lợinhuận do xã hội tạo ra, mà người dân chỉ được hưởng một phần rất nhỏ.

Rõ ràng mô hình phát triển kinh tế hoàn toàn tự do, ưu tiên cho tăngtrưởng kinh tế như đã nói ở trên “không là con đường sáng” để Việt Nam điđến mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh

Mô hình phúc lợi xã hội của Thụy Điển và các nước Bắc Âu

Xuất phát từ quan niệm coi công bằng xã hội là mục tiêu của mọi chínhsách kinh tế - xã hội, khác với các nước tư bản chủ nghĩa khác, ở Thuỵ Điển

và các nước Bắc Âu nhà nước tích cực tham gia quản lý, điều hoà nền kinh tế

- xã hội nhằm tạo ra một xã hội thịnh vượng và một nhà nước phúc lợi toàndân Theo đó, ở những nước này hệ thống chính sách xã hội rất được quantâm, đặc biệt là hệ thống bảo hiểm và phúc lợi chung với mục đích nhằm thuhẹp khoảng cách thu nhập giữa các tầng lớp dân cư, hạn chế sự phân tầng xãhội về mặt thu nhập Việc kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiệnchính sách xã hội, mở rộng phúc lợi xã hội, tập trung triệt để các điều kiệnquốc tế đã tạo ra không khí lao động hăng say Vì vậy, chỉ trong một thời gianngắn (1938-1950) từ những nước nghèo nhất Châu Âu, Thuỵ Điển và cácnước Bắc Âu đã trở thành những nước giàu có nhất trên thế giới Mức sốngcủa toàn dân khá cao và tương đối đồng đều, người dân được sử dụng cácdịch vụ xã hội không phải trả tiền Mô hình phát triển kinh tế - xã hội ở Thuỵ

Trang 32

Điển và các nước Bắc Âu tỏ ra là một mô hình ưu việt, tiến bộ, là niềm mơước của nhân dân các nước tư bản chủ nghĩa và kể cả nhân dân các nước xãhội chủ nghĩa lúc bấy giờ Có nhiều ý kiến tán dương mô hình của các nướcnày Trên thực tế, họ đã giải quyết tốt vấn đề phúc lợi xã hội mà sản xuất vẫnphát triển trong những thời kỳ nhất định.

Tuy nhiên, việc nhà nước đánh thuế thu nhập cao để điều tiết lại vàtăng phúc lợi cho người có thu nhập thấp khó tránh hậu quả là tốc độ pháttriển kinh tế chậm lại, tính năng động tích cực của người lao động và động lựcphát triển sản xuất, năng xuất lao động bị giảm dần, tạo cho người dân thóiquen hưởng thụ, tâm lý thụ động trông chờ vào xã hội, nhà nước chi cho hệthống phúc lợi xã hội quá lớn (60% GDP) đã vượt quá sức tải của nền kinh tế,nhiều công ty lớn chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài Vì thế, cuối những năm

80 của thế kỷ XX mô hình Thuỵ Điển và các nước Bắc Âu đã thực sự rơi vàokhủng hoảng, buộc các nước phải điều chỉnh theo hướng chú trọng hơn đếntăng trưởng kinh tế, giảm chi tiêu cho thực hiện chính sách xã hội nói chung,phúc lợi và bảo hiểm xã hội nói riêng

Như vậy mô hình phúc lợi xã hội, ưu tiên cho việc thực hiện chính sách

xã hội coi nhẹ tăng trưởng kinh tế dựa trên chế độ sở hữu tư nhân về tư liệusản xuất đã bộc lộ những mâu thuẫn, không tạo được động lực cho sự pháttriển kinh tế-xã hội bền vững

1.2.1.2 Kinh nghiệm các nước xã hội chủ nghĩa giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và thực hiện chính sách xã hội

Mô hình ưu tiên thực hiện chính sách xã hội, đảm bảo công bằng xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu

Liên Xô và các nước Đông Âu trước đây, với khát vọng tốt đẹp đầytính nhân đạo là xây dựng một xã hội công bằng, bình đẳng, không có áp bức,bóc lột thể hiện bản chất ưu việt của chủ nghĩa xã hội Chính vì vậy, ngay saukhi cách mạng Tháng Mười thành công vấn đề chính sách xã hội đã được chú

ý Trong những năm đầu tiên dưới chính quyền Xôviết, những người cộng sản

đã hướng sự chú ý của mình vào việc làm thoả mãn những nhu cầu thiết yếucủa người lao động, những nhu cầu về dinh dưỡng, nhà ở, nhiên liệu, học

Trang 33

hành Tiếp theo những sắc luật về ruộng đất và hoà bình, nhà nước vô sản doV.I.Lênin lãnh đạo đã thông qua “Tuyên ngôn về quyền của nhân dân laođộng và những người bị bóc lột”, sắc luật về việc thành lập ở Hội đồng nhândân những “Uỷ ban cứu tế hội”, “Uỷ ban tài trợ xã hội”, thông qua “Luậncương về cứu tế xã hội cho nhân dân lao động”, “Luật về lao động và xãhội” Sự quan tâm của Chính phủ đối với người dân thông qua hệ thốngchính sách xã hội đó đã động viên, khích lệ người dân tích cực tham gia bảo

vệ chính quyền, tăng gia sản xuất xây dựng đất nước

Tuy nhiên, sau đó đã có thời gian ở Liên Xô cũng như một số nướckhác, trong thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội, việc xây dựng và thực thichính sách xã hội có những sai lầm, những vấn đề xã hội đã không được đặtngang tầm với những vấn đề quan trọng khác Quyền lợi của con người trongnhững thời điểm nhất định bị đặt ở hàng thứ yếu so với nghĩa vụ và tráchnhiệm, những vấn đề xã hội của cá nhân con người luôn luôn bị xem nhẹ hơnnhững vấn đề của kinh tế, chính trị Sự chú ý tới con người được hướng vàovai trò của nó như là động lực của sự phát triển xã hội hơn là mục tiêu chínhcủa sự phát triển Sinh hoạt cá nhân bị “hoà tan” trong sinh hoạt của tập thể,của toàn xã hội Điều đó đã phần nào hạn chế tính tích cực xã hội của quầnchúng lao động, hạn chế khả năng tham gia tự giác của họ vào sự nghiệp cáchmạng chung Cùng với điều đó là sai lầm nóng vội, chủ quan duy ý chí Cácnước này đã nhanh chóng xoá bỏ toàn bộ sở hữu tư nhân, công hữu hoá tưliệu sản xuất dưới hai hình thức quốc doanh và tập thể mà không tính đếntrình độ phát triển lực lượng sản xuất hiện có, bất chấp mọi quy luật phát triểnkinh tế-xã hội ở một nước chưa phát triển Đường lối phát triển ở những nướcnày chú trọng đến việc đề cao công bằng xã hội, thực hiện phân phối trước,tăng trưởng kinh tế sau Sai lầm đó ở chỗ bỏ qua nguyên tắc phân phối theolao động, đồng nhất công bằng xã hội với chủ nghĩa bình quân, thực hiệnphân phối lại thông qua hệ thống phúc lợi quá lớn so với thực trạng nền kinh

tế kém hiệu quả Thực tế cho thấy, sự chia đều trong phân phối dưới hình thức

Trang 34

bình quân dù trong nền kinh tế phát triển hay chậm phát triển cũng sớm haymuộn dẫn dến sự triệt tiêu động lực đối với người lao động Nó không tạo rakích thích đối với những người có nhiều đóng góp tích cực, mặt khác tạo tâm

lý trông chờ, ỷ lại, thụ động trong xã hội Từ đây dẫn đến năng xuất lao độngthấp, sản phẩm làm ra ít, đời sống vật chất của nhân dân không được nânglên Và thế là sự phân phối bình quân về thực chất đã chứa đựng trong đó sựbất công bằng: đối sử như nhau đối với những đóng góp khác nhau

Như vậy, việc giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và chínhsách xã hội ở Liên Xô và Đông Âu trước đây không hợp lý, không dựa trên cơ

sở tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan Vì vậy đã không tạođược sự thống nhất, không khắc phục được những mâu thuẫn tiềm ẩn vốn cócủa nó Những giải pháp các vấn đề xã hội, thực hiện chính sách xã hội xuấtphát từ mong muốn, khát vọng chủ quan thuần tuý, mặc dù đó là những ýđịnh tốt đẹp Đó là một trong những sai lầm cơ bản dẫn đến chủ nghĩa xã hội

ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ

Mô hình tập trung cao cho tăng trưởng kinh tế trước, thực hiện chính sách xã hội sau của Trung Quốc

Từ cuối thập niên 70 của thế kỷ XX, Trung Quốc thực hiện công cuộccải cách xây dựng chủ nghĩa xã hội Trong những năm đầu của công cuộc cảicách, Trung Quốc cho rằng, chỉ cần tăng trưởng kinh tế là có thể giải quyếtmọi vấn đề Trên thế giới hiếm có quốc gia nào tăng trưởng ở mức cao và liêntục duy trì suốt hơn 30 năm như ở Trung Quốc Nhưng tăng trưởng cao cũng

có vấn đề khó khăn của nó Do tập trung cao cho tăng trưởng kinh tế, hàngloạt vấn đề xã hội đã không được quan tâm, không có những chính sách xãhội hợp lý, tiến bộ Hậu quả là phần lớn người lao động không được hưởnglợi từ tăng trưởng kinh tế, hệ thống chăm sóc sức khoẻ và y tế cộng đồng ởvào tình trạng đáng lo ngại, hầu hết số người nghèo không có khả năng chi trảcác dịch vụ y tế, đầu tư cho giáo dục thấp (2% GDP) làm cho hàng chục triệu

Trang 35

trẻ em không thể tiếp tục đi học vì những khó khăn về kinh tế, nguồn nhân lực

bị giảm sút, tình trạng phân hoá giàu nghèo giữa các vùng miền, các tầng lớpdân cư quá lớn đe doạ sự ổn định và phát triển, nạn thất nghiệp có xu hướngtăng cao Tình hình xã hội trở nên căng thẳng, cản trở quá trình phát triểnkinh tế - xã hội trước mắt và đe doạ sự phát triển kinh tế bền vững

Theo Tiến sĩ Dimian Tobin - Trường Đại học Nghiên cứu PhươngĐông và Phi Châu: Ở Trung Quốc sự tăng trưởng kinh tế đã tạo nên sự phấtlên nhanh chóng của một số nhóm người, đồng thời khoảng cách chênh lệchgiàu nghèo cũng tăng lên mức chóng mặt Trong năm 2010, người nông dân

có thu nhập bình quân đầu người hàng năm là 5900 nhân dân tệ (tương đương

898 đô la) chưa bằng 1/3 dân thành thị 19.100 nhân dân tệ (tương đương 2900

đô la) Quá trình đô thị hoá diễn ra nhanh chóng, nhưng khoảng 50,3% dân sốTrung Quốc (674,15 triệu người) vẫn sống ở nông thôn Những chênh lệchnày cho thấy sự mong manh ẩn giấu bên trong mức tăng trưởng nhanh chóngcủa Trung Quốc Vào cuối năm 2009, Trung Quốc có 229,8 triệu lao độngnông thôn di cư, trong đó khoảng 149 triệu người làm việc bên ngoài khu vựcquê nhà, nhiều người chỉ kiếm được chưa tới 1000 nhân dân tệ/tháng, vớimức lương thấp, lại làm việc xa quê, không đủ bù đắp cho những hi sinh cánhân to lớn, như: phải làm việc nhiều giờ một ngày, ăn ở tồi tàn và đặc biệt làkhông được hưởng các phúc lợi Câu hỏi đặt ra cho Trung quốc là liệu cóđáng trả giá như vậy để đổi lấy mức độ tăng trưởng đó không?

Đảng cộng sản Trung Quốc đã ý thức được sự khiếm khuyết trong chủtrương của mình và đã nhấn mạnh rằng, phải coi con người vừa là động lực,vừa là mục tiêu của sự tiến bộ; xuất phát từ lợi ích căn bản của quần chúngnhân dân để xây dựng chính sách phát triển kinh tế - xã hội Tại kỳ họp thứ 5Đại hội đại biểu Nhân dân toàn quốc Trung Quốc (3/2007) đã khẳng định:kiềm chế tốc độ tăng trưởng quá nóng, phát triển nông thôn, giảm ô nhiễm,

Trang 36

giảm thất nghiệp là những vấn đề kinh tế - xã hội bức xúc được bàn thảo vàgiải quyết tại kỳ họp này.

Để đảm bảo cho sự phát triển của đất nước, trước mắt chính phủ muốnđưa chừng 40 triệu người dân sống ở vùng nông thôn thoát khỏi cảnh đóinghèo, Trung Quốc đã tích cực thực hiện những biện pháp nhằm giảm bớtnhững mâu thuẫn gay gắt giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội:chuyển chính sách ưu tiên cao độ cho tăng trưởng kinh tế sang ưu tiên cho đảmbảo công bằng xã hội, thực hiện việc kết hợp tăng trưởng kinh tế với công bằng

xã hội Chính phủ chuyển trọng tâm từ phát triển kinh tế sang giải quyết cácvấn đề xã hội như: khắc phục tình trạng nghèo đói, sự tụt hậu về y tế, giáo dục,nạn thất nghiệp Tăng ngân sách nhà nước chi cho các dịch vụ công cộng, cho

hệ thống an sinh xã hội Chính sách ưu tiên phát triển nông nghiệp, nông thôn(cải thiện thu nhập ở nông thôn thông qua việc cắt giảm thuế, triển khai thựchiện luật hợp đồng lao động) được triển khai rộng khắp

Ngày 22/10/2010, Quốc hội Trung Quốc đã thông qua Luật An sinh xãhội (ASXH3) đầu tiên của nước này Đạo luật này sẽ chính thức có hiệu lực từngày 01/7/2011 Đây được coi là một bước ngoặt lớn trên chặng đường xâydựng chính sách ASXH của quốc gia đông dân nhất thế giới Có thể coiASXH là nội dung nền tảng của chính sách xã hội và tạo nền tảng cho sự ổnđịnh, phát triển kinh tế

Sự phát triển ưu tiên cho tăng trưởng kinh tế, xem nhẹ chính sách xãhội của các nước như đã nêu ở trên trong những thập kỷ vừa qua đã khiến

“Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc” (UNDP) phải đưa ra lời cảnh báo

về năm kiểu tăng trưởng cần tránh Đó là:

3 An sinh xã hội: Theo nghĩa chung nhất, là sự bảo đảm thực hiện quyền con người được sống trong hòa bình,

tự do làm ăn, sinh sống, đi lại và phát biểu những suy nghĩ của mình trong khuôn khổ pháp luật của từng quốc gia Theo nghĩa hẹp: là sự bảo đảm thu nhập và một số điều kiện sinh sống thiết yếu cho con người (trước hết là những nhóm xã hội yếu thế) khi họ bị giảm thu nhập hoặc mất khả năng lao động, thậm chí bị mất việc làm Xét về bản chất, ASXH góp phần đảm bảo thu nhập và đời sống của người dân trong xã hội.

Về phương thức thực hiện, thông qua các biện pháp công cộng Mục đích tạo ra sự “n sinh” (sống bình an) cho mọi thành viên trong xã hội Do đó, ASXH mang tính xã hội và nhân văn sâu sắc.

Trang 37

1 Tăng trưởng không việc làm, là tăng trưởng kinh tế nhưng không mở

rộng những cơ hội tạo thêm việc làm hoặc phải làm việc nhiều giờ và có thunhập thấp

2 Tăng trưởng không lương tâm, là tăng trưởng mà thành quả của nó

chủ yếu đem lại lợi ích cho người giàu, còn người nghèo được hưởng ít, thậmchí người nghèo còn tăng thêm, khoảng cách giàu nghèo gia tăng

3 Tăng trưởng không có tiếng nói, tức là tăng trưởng kinh tế không

kèm sự mở rộng nền dân chủ hay là việc trao thêm quyền lực, chặn đứngtiếng nói khác và dập tắt những đòi hỏi được tham dự nhiều hơn về xã hội vàkinh tế

4 Tăng trưởng không gốc rễ, là sự tăng trưởng đã khiến cho nền văn

hoá của con người trở nên khô héo

5 Tăng trưởng không tương lai, là tăng trưởng mà thế hệ hiện nay

phung phí những nguồn lực mà các thế hệ tương lai cần đến

Như vậy, đối với các nước chủ trương phát triển đất nước theo conđường xã hội chủ nghĩa, việc kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiệnchính sách xã hội một cách khoa học, hợp lí để đảm bảo công bằng và tiến bộ

xã hội là một yêu cầu khách quan, không chỉ để tăng trưởng kinh tế mà cònđảm bảo cho mục tiêu chính trị đã lựa chọn

1.2.2 Quan niệm của Đảng, Nhà nước ta về quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và thực hiện chính sách xã hội trong cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Một xã hội có nền kinh tế phát triển đi liền với nó là công bằng, bìnhđẳng,tự do luôn là khát vọng của mọi người dân Tuy nhiên, trước đổi mới, donhiều nguyên nhân mà chủ yếu là do những sai lầm chủ quan, duy ý chí trongnhiều chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về cải tạo xã hội chủnghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội Do chế độ tập trung quan liêu, bao cấp

Trang 38

kéo dài, các vấn đề xã hội cũng được kế hoạch hoá và thực hiện qua các chỉtiêu pháp lệnh như chỉ tiêu tổng biên chế, quỹ lương, tuyển dụng lao động,các chỉ tiêu về kinh phí, vật tư cho phát triển sự nghiệp văn hoá, giáo dục, ytế… Quan niệm về công bằng xã hội bị đồng nhất với cào bằng bình quân,chính vì vậy không tạo được động lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội Trongđiều kiện đó, nhiều mục tiêu về phát triển kinh tế - xã hội không thể thực hiệnđược như mong muốn Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và chính sách xã hộichưa được đề cập một cách khoa học trong nhận thức, lý luận Thực sự, conngười chỉ được coi là động lực của sự phát triển, còn việc quan tâm đến conngười với tư cách vừa là động lực, vừa là mục tiêu của sự phát triển chưađược thoả đáng Chính vì vậy, tác động ngược lại, con người không thể thựchiện tốt vai trò là “động lực” của sự phát triển kinh tế-xã hội và tình hình kinh

tế - xã hội rơi vào khủng hoảng trầm trọng

Đại hội lần thứ VI (12/1986) của Đảng đã quyết định chuyển mô hìnhkinh tế kế hoạch hoá, tập trung dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuấtdưới hai hình thức chủ yếu là quốc doanh và tập thể sang nền kinh tế hànghoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường với sự quản lý của nhànước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đại hội đã mở ra một hướng mới cho

sự phát triển của đất nước, tạo nền tảng tư tưởng và lý luận để giải quyết hợp

lý hơn mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và thực hiện chính sách xã hội,đảm bảo công bằng xã hội, khắc phục tính chất bình quân, khắc phục tìnhtrạng tách rời việc trả công lao động với số lượng và chất lượng lao độngtrong phân phối trước đây, thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động -phân phối gắn chặt với kết quả lao động và hiệu quả kinh tế[13, tr.72]

Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta là một nềnkinh tế quá độ vừa tuân theo những quy luật của kinh tế thị trường, vừa dựatrên cơ sở của các nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa xã hội Đến nay, chúng ta

đã nhận thức sâu sắc và thực hiện nhất quán một số nội dung chủ yếu như:

Trang 39

Về mục tiêu: Giải phóng mạnh mẽ sức sản xuất, phát triển kinh tế, nângcao đời sống nhân dân, xây dựng cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội Đẩymạnh xoá đói giảm nghèo, khuyến khích mọi người vươn lên làm giàu chínhđáng, giúp đỡ người khác thoát nghèo và từng bước khá giả hơn, làm cho mọingười đều được hưởng thành quả của sự phát triển một cách công bằng vànhân văn Đó là mục tiêu vì con người (nhân dân lao động và mọi người).

Về chế độ sở hữu: Đa dạng các hình thức sở hữu (sở hữu nhà nước, sởhữu tập thể, sở hữu tư nhân) nhưng trên cơ sở chế độ công hữu về tư liệu sảnxuất chủ yếu và đa dạng các thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữvai trò chủ đạo, kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể trở thành nền tảngvững chắc của nền kinh tế quốc dân

Về chế độ quản lý: Trong thời đại ngày nay, bất kỳ nền kinh tế củaquốc gia nào cũng cần có sự quản lý của nhà nước Bản chất của nhà nước sẽquy định bản chất của chế độ quản lý Xuất phát từ yêu cầu mọi hoạt động củanhà nước ta là bảo vệ lợi ích của quảng đại quần chúng nhân dân, phát huymặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực của kinh tế thị trường nên chế độ quản lýphải mang tính nhân dân, thông qua luật pháp, điều hành bằng cơ chế thịtrường

Về chế độ phân phối: Sự phát triển của kinh tế thị trường tự nó đem lạinhững hình thức phân phối khác nhau Song với mục tiêu CNXH, phát triểnkinh tế không có mục đích tự thân mà vì sự phát triển của con người nên Đạihội lần thứ X của Đảng đã xác định rõ: "Thực hiện tiến bộ và công bằng xãhội trong từng bước và từng chính sách phát triển; thực hiện chế độ phân phốichủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng gópvốn cùng các nguồn lực khác và thông qua phúc lợi xã hội” [23, tr.26]

Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay

có những nét đặc thù so với các nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa.Trước hết bởi nó chưa phải là nền kinh tế thị trường đích thực, vận động trên

Trang 40

quy luật của chính nó Nó đang trong quá trình chuyển đổi rất phức tạp Nóđang mang trong mình nó tính xã hội chủ nghĩa và cả những yếu tố tư bản chủnghĩa Thứ hai, từ bản chất của nó đặt ra yêu cầu trong quá trình vận động đểđạt tới mục đích không được hy sinh lợi ích cơ bản và chính đáng của bất kỳnhóm xã hội nào

Quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN có tácdụng khơi dậy và nhân lên tính năng động và tích cực của các tầng lớp dân

cư, tạo nên luồng sinh khí mới trong xã hội Tuy nhiên, đã là kinh tế thịtrường thì phải tuân theo quy luật thị trường: quy luật cạnh tranh và lợi nhuận

là mục tiêu vươn tới của tất cả các doanh nghiệp Với một nền kinh tế thịtrường đang trong giai đoạn chuyển đổi, luật pháp chưa đầy đủ, chất lượngchưa cao và cùng với thực thi luật pháp không minh bạch, dân chủ còn hìnhthức và bớt xén là mảnh đất màu mỡ cho tiêu cực phát sinh Vì vậy, khichúng ta phát triển kinh tế thị trường, tìm kiếm cơ hội tăng trưởng và pháttriển kinh tế phải nỗ lực về trí tuệ, ý chí và bản lĩnh để tìm cách hạn chế mặttiêu cực của nó Điều đó còn đòi hỏi phải có nhận thức mới về tăng trưởngkinh tế trong sự gắn kết với chính sách xã hội, giải quyết các vấn đề xã hội,thực hiện các chính sách xã hội; dùng hệ thống chính sách xã hội làm phươngtiện điều chỉnh, hạn chế mặt trái của cơ chế thị trường

Đảng và Nhà nước ta ngày càng có quan điểm rõ hơn về mối quan hệgiữa tăng trưởng kinh tế và chính sách xã hội, sự kết hợp giữa tăng trưởngkinh tế và chính sách xã hội nhằm bảo đảm sự tăng trưởng kinh tế và côngbằng xã hội thể hiện thông qua hệ thống các chủ trương và quan điểm cơ bản

Lần đầu tiên thuật ngữ “chính sách xã hội” được Đại hội VI (12/1986)của Đảng đưa ra, đồng thời cũng là lần đầu tiên vị trí và tầm quan trọng củachính sách xã hội trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội được xác định.Nghị quyết chỉ rõ: “Chính sách xã hội bao trùm mọi mặt của cuộc sống conngười: điều kiện lao động và sinh hoạt, giáo dục và văn hoá, quan hệ gia đình,

Ngày đăng: 21/07/2014, 09:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Tuyên giáo Trung ương (2011), Tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, tr.20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tham khảo phục vụ nghiêncứu các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng
Tác giả: Ban Tuyên giáo Trung ương
Năm: 2011
2. Vũ Đình Bách (1998), Các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia. Hà Nội, tr.11-16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ởViệt Nam
Tác giả: Vũ Đình Bách
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia. Hà Nội
Năm: 1998
3. Đặng Kim Chung (2007), “Công bằng xã hội gắn với tăng trưởng kinh tế trong chính sách giảm nghèo”, Tạp chí Cộng sản, (5), tr.38-41 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công bằng xã hội gắn với tăng trưởng kinhtế trong chính sách giảm nghèo”, "Tạp chí Cộng sản
Tác giả: Đặng Kim Chung
Năm: 2007
4. PGS.TS Trần Văn Chử (2005), “Tư duy của Đảng ta về quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội”, Lý luận Chính trị, (2), tr.20-24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư duy của Đảng ta về quan hệ giữatăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội”, "Lý luận Chính trị
Tác giả: PGS.TS Trần Văn Chử
Năm: 2005
8. Mai Ngọc Cường (1999), Lịch sử các học thuyết kinh tế, Nxb. Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử các học thuyết kinh tế
Tác giả: Mai Ngọc Cường
Nhà XB: Nxb. Thống kê
Năm: 1999
9. Lê Đăng Doanh và Nguyễn Minh Trí (2001), Tăng trưởng kinh tế và chính sách xã hội ở Việt Nam trong quá trình chuyển đổi từ 1991 đến nay - Kinh nghiệm của các nước ASEAN, Nxb. Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng trưởng kinh tế và chínhsách xã hội ở Việt Nam trong quá trình chuyển đổi từ 1991 đến nay - Kinhnghiệm của các nước ASEAN
Tác giả: Lê Đăng Doanh và Nguyễn Minh Trí
Nhà XB: Nxb. Lao động
Năm: 2001
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (1986), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 1986
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 1991
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cương lĩnh xây dựng đất nước trongthời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 1991
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (1994), Văn kiện Hội nghị toàn quốc giữa nhiệm kỳ (khoá VII), Nxb. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị toàn quốc giữanhiệm kỳ (khoá VII)
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 1994
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1996
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đảng toàn tập, năm 1930, Tập 2, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng toàn tập, năm 1930
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2001
19. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2001
20. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Đảng toàn tập, năm 1960, Tập 21, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng toàn tập, năm 1960
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2002
21. Đảng Cộng sản Việt Nam (2004), Văn kiện Đảng toàn tập, năm 1976, Tập 37, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng toàn tập, năm 1976
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2004
22. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đảng toàn tập, năm 1986, Tập 47, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng toàn tập, năm 1986
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2006
23. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2006
24. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2011
25. PGS.TS Đỗ Đức Định (2007), “Tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện công bằng xã hội: động lực giảm nghèo ở Việt Nam”, Tạp chí Cộng sản, (777), tr.94-98 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiệncông bằng xã hội: động lực giảm nghèo ở Việt Nam”, "Tạp chí Cộng sản
Tác giả: PGS.TS Đỗ Đức Định
Năm: 2007
26. Lương Việt Hải (2004), “Công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Triết học, (4), tr.5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thịtrường ở nước ta hiện nay”, "Tạp chí Triết học
Tác giả: Lương Việt Hải
Năm: 2004

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Cơ cấu theo nhóm tuổi của lực lượng lao động năm 2010 - Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và chính sách xã hội trong quá trình phát triển ở vĩnh phúc hiện nay
Bảng 2.1. Cơ cấu theo nhóm tuổi của lực lượng lao động năm 2010 (Trang 49)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w