Hơn nữa trong những năm gần đây quan điểm phát triển nông nghiệp bền vững được xác định lại và được định hướng cùng những ứng dụng quan trọng về khoa học kỹ thuật tiến tiến trong sản xuấ
Trang 1Đề tài: Hiệu quả kinh tế đất trong sản xuất nông
nghiệp ở Việt Nam
I Mở đầu:
1 Tính cấp thiết :
Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất xuất hiện sớm nhất trong lịch
sử phát triển của nhân loại Từ bao đời nay nông nghiệp là ngành sản xuất quan trọng trong nền kinh tế nhằm đảm bảo nhu cầu cuộc sống của con người.Hiện nay mặc dù con người đã đạt được trình độ phát triển cao về khoa
học kỹ thuật và công nghệ, nhất là công nghệ sinh học cũng như nhiều lĩnh vực sản xuất khác nhưng nhiều nước trên thế giới vẫn còn sống dựa vào hoạt động sản xuất nông nghiệp là chủ yếu Việc phát triển nông nghiệp và những vấn đề liên quan đến nông nghiệp như: Đất đai, giống, vật tư phân bón là những đề tài được đông đảo các nhà khoa học trên thế giới cũng như ở nước
ta quan tâm đặc biệt
Đất đai là tư liệu sản xuất quan trọng trong sản xuất nông nghiệp Trong quá trình phát triển xã hội, gắn liền với các hoạt động mở rộng sản xuấtcông nghiệp, dịch vụ đất đai không chỉ sử dụng vào trồng trọt, chăn nuôi mà còn sử dụng ngày càng nhiều để phát triển các ngành nghề khác Điều đó có nghĩa là trong quá trình phát triển kinh tế gắn liền với việc chuyển dịch đất đai trong nông nghiệp sang các ngành khác, phản ánh quy luật tất yếu của chủtrương giảm diện tích đất trong sản xuất nông nghiệp Điều này phản ánh sự tiến bộ của xã hội, song đó lại là mối đe dọa cho cuộc sống loài người trong việc sản xuất ra lương thực, thực phẩm nhằm đảm bảo cho nhu cầu lương thực ngày càng tăng Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá và không
Trang 2thể tái tạo được nhưng nếu biết sử dụng hợp lí thì giá trị của nó sẽ được tăng thêm và mang lại lợi ích ngày càng cao cho nền kinh tế quốc dân Vì vậy việc
sử dụng và khai thác đất đai hợp lí, tiết kiệm không những có ý nghĩa về mặt kinh tế, chính trị xã hội mà còn góp phần tạo tiền đề để nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực khác
Việt Nam là một nước “Trọng nông” lấy nông nghiệp làm ngành sản xuất chủ yếu, hàng năm tỉ lệ đóng góp của ngành nông nghiệp vào tổng sản phẩm xã hội là khá cao và có ý nghĩa quan trọng Vì vậy ruộng đất đóng vai trò hết sức quan trọng, là vấn đề cốt lõi trong mối quan hệ kinh tế Việt Nam vốn là một nước đông dân, bình quân diện tích tự nhiên đầu người chỉ có
4450 m2 Vì vậy việc sử dụng đất đai tiết kiệm có hiệu quả không chỉ có ý nghĩa về mặt kinh tế mà còn đảm bảo về mục tiêu chính trị, xã hội
Ngày nay trong bối cảnh đất nước đang trên đà phát triển và đổi mới,
mở cửa hội nhập với nền kinh tế quốc tế đã có những tác động tích cực và không ít những cơ hội, thách thức liên quan đến mối quan hệ đất đai Bên cạnh đó vấn đề bùng nổ dân số, công tác quản lí sử dụng đất còn nhiều lỏng lẻo, bất cập, công tác qui hoạch chậm, lỗi thời không phù hợp với tình hình thực tế hiện nay đã tạo ra sức ép nặng nề đối với đất đai nói chung và đất nông nghiệp nói riêng
Hơn nữa trong những năm gần đây quan điểm phát triển nông nghiệp bền vững được xác định lại và được định hướng cùng những ứng dụng quan trọng về khoa học kỹ thuật tiến tiến trong sản xuất nông nghiệp của thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, chính vì vậy mà việc điều tra đánh giá hiệu quả kinh tế đất trong sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam là một công việc hết sức quan trọng và cần thiết để từ đó có cơ sở khoa học nhằm chỉnh lý bổ sung xây dựng các phương án quy hoạch cũng như việc tổ chức sắp xếp lại phương thức sản xuất, mở ra phương hướng và triển vọng lâu dài, đồng thời
Trang 3sử dụng đúng đắn và bền vững tài nguyên đất đai.
2 Mục tiêu nghiên cứu:
- Đánh giá các yếu tố về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội ảnh hưởng đến đất nông nghiệp
- Đánh giá hiệu quả các loại hình sử dụng đất
- Điều tra, phân tích, đánh giá đặc điểm tự nhiên, kinh tế- xã hội tác động đến tình hình sử dụng đất
- Đánh giá hiện trạng sử dụng đất
- Đánh giá hiện trạng các loại hình sử dụng đất
- Đánh giá hiệu quả kinh tế đất trong sản xuất nông nghiệp
3 Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp thu thập số liệu: Số liệu thứ cấp: từ các báo cáo, luận văn, sách báo và trên Internet
- Phương pháp phân tích số liệu
- Phương pháp thống kê mô tả, so sánh
- Phương pháp điều tra, khảo sát
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp chọn điểm nghiên cứu
II.Nội dung nghiên cứu:
1 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất.
Để đánh giá hiệu quả sử dụng đất của một loại hình nào đó người dân đánh giá chúng trên ba khía cạnh: Hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường
1.1 Đánh giá về hiệu quả kinh tế đất.
Trang 4Hiệu quả kinh tế: Hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu mô tả mối quan hệ giữa lợi ích mà người sử dụng đất nhận được và chi phí bỏ ra để nhận được lợi ích
đó Trong một nền sản xuất thì hiệu quả kinh tế là một động lực thúc đẩy sản xuất phát triển
Để đánh giá được hiệu quả kinh tế của việc sử dụng đất canh tác của các nông hộ được điều tra chúng chúng tôi sử dụng một số chỉ tiêu đó là:
- Năng suất cây trồng: Năng suất cây trồng là lượng sản phẩm của cây trồng đó tính trên một ha trong một vụ hay một năm Chỉ tiêu này phản ánh trình độ sản xuất của địa phương hay toàn ngành
Tổng sản lượng cây trồng i
Năng suất cây trồng i =
Tổng diện tích gieo trồng cây trồng i
- Giá trị sản xuất (GO): Là toàn bộ giá trị của cải vật chất và dịch vụ đượctạo ra trong nông nghiệp qua 1 thời gian nhất định, thường là một năm
GO = ∑ Qi*Pi
Trong đó: Qi: Khối lượng sản phẩm loại i
Pi: Đơn vị giá sản phẩm loại i
- Chi phí trung gian (IC): Bao gồm chi phí vật chất và dịch vụ phục vụ cho sản xuất
IC = Chi phí vật chất trực tiếp + Chi phí dịch vụ thuê ngoài
- Giá trị gia tăng (VA): Là toàn bộ phận của giá trị sản xuất còn lại sau khi trừ đi chi phí trung gian Đó là một bộ phần mới do lao động sản xuất tạo ra
và khấu hao tài sản cố định trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm)
VA = GO - IC
- Tỷ suất VA/IC: Chỉ tiêu này cho biết một đồng chi phí bỏ ra sẽ thu được bao nhiêu đồng chi phí tăng thêm
- Tỷ suất GO/IC: Chỉ tiêu này cho biết một đồng chi phí trung gian bỏ
ra sẽ thu được bao nhiêu đồng chi phí sản xuất
Trang 5- Tỷ suất VA/LĐ: chỉ tiêu này cho biết một ngày công lao động tạo ra
bao nhiêu đồng giá trị tăng thêm
- Hệ số sử dụng ruộng đất: Hệ số sử dụng ruộng đất là tỷ số giữa diện
tích gieo trồng với diện tích canh tác hàng năm ở đơn vị nghiên cứu Chỉ tiêu
này phản ánh trình độ sử dụng đất canh tác hay cho biết mức quay vòng đất
canh tác trong một năm được tính như sau:
Tổng diện tích gieo trồng trong năm
Hệ số sử dụng đất =
Tổng diện tích canh tác
- Tỷ lệ sử dụng đất: Tỷ lệ sử dụng đất là tỷ số giữa diện tích đất đã
được sử dụng với tổng diện tích đất đai ở vùng nghiên cứu Chỉ tiêu này phản
ánh mức độ sử dụng đất và được tính bằng công thức sau:
Σ Diện tích đất tự nhiên - Diện tích đất chưa sử dụng
Tỷ lệ sử dụng đất đai (lần ) =
Σ Diện tích đất đai
1.2 Đánh giá về hiệu quả xã hội.
Để đánh giá hiệu quả xã hội cho một loại hình sử dụng đất nào đó
người dân thường xét đến chỉ tiêu là loại hình đó giải quyết được bao nhiêu
lao động/ha/năm, khả năng bố trí lao động, mức độ đáp ứng vấn đề an sinh xã
hội, khả năng thu hút và sử dụng nguồn vật chất tại chỗ
1.3 Đánh giá hiệu quả môi trường.
Trong quá trình sản xuất để nâng cao năng suất cây trồng thì con người
đã tác động một cách không hợp lý vào đất gây ảnh hưởng không nhỏ đến
môi trường
Để đánh giá chính xác về mặt môi trường người dân thường sử dụng
công thức tính như sau:
DT đất LN có rừng + đất cây lâu năm
Trang 6Độ che phủ (%) = x 100%
Σ Diện tích đất đai
2 Các nghiên cứu về đánh giá đất ở Việt Nam.
* Đánh giá đất tại huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa, các tác giả Trịnh Văn Chiến và Đỗ Ánh cho biết:
- Ở huyện Yên Định có 4 nhóm và 10 loại đất chính, trong đó nhóm đấtphù sa chiếm diện tích lớn nhất (83,23%) tiếp đến là đất xám (7,87%) và đất tầng mỏng (6,68%), thấp nhất là đất đỏ vàng (2,02%)
- Bản đồ đơn vị đất đai của huyện Yên Định tỷ lệ 1/25.000 có 37 đơn vịđất đai Chất lượng khá phức tạp và không đồng đều Các nhóm đất xám và đất đỏ vàng phân hóa tính chất đất phức tạp hơn nhóm đất phù sa Trong 37 đơn vị đất đai có 32 đơn vị thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp với diện tích là12.861 ha và 5 đơn vị thuận lợi cho sản xuất lâm nghiệp là 1.112 ha
* Tác giả Phạm Quang Khánh, năm 2003 khi tiến hành nghiên cứu đánh giá đất ở Bà Rịa – Vũng Tàu đã rút ra kết luận như sau:
- Trên bản đồ tỷ lệ 1/50.000 có 9 nhóm đất và 32 đơn vị bản đồ đất Trong đó nhóm đất đỏ có 81.621 ha (41,31%), nhóm đất xám có 28.689 ha (14,52%), nhóm đất cát có 20.480 ha (19,37%), nhóm đất phèn có 17.962 ha (9,09%), nhóm đất dốc tụ có 12.287 ha (6,22%), nhóm đất xói mòn trơ sỏi đá
có 8.572 ha (4,34%), nhóm đất đen có 8.321 ha (4,21%), nhóm đất phù sa có 7.582 ha (3,84%) và nhóm đất mặn chỉ có 1.069 ha (0,54%)
- Kết quả xây dựng bản đồ đất đai tỷ lệ 1/50.000 trên cơ sở chồng ghép
05 lớp thông tin về đặc trưng thổ nhưỡng, địa hình, độ đày tầng đất, khả năng tưới, lượng mưa và vị trí cho thấy toàn tỉnh có 64 đơn vị đất đai Các đơn vị đất đai này là cơ sở cho các tính toán trong quy hoạch sử dụng tài nguyên đất
Trang 7* Tác giả Lê Quang Trí, Văn Phạm Đăng Trí, đã phân lập được 85 đơn
vị bản đồ đất đai để đánh giá khả năng thích nghi cho 06 kiểu sử dụng đất đai
có triển vọng trên địa bàn xã Trung Hiếu, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long
và trên cơ sở đánh giá thích nghi 4 vùng thích nghi đã được phân lập
Qua thông tin thu thập được từ 3 cấp: Tỉnh, chính quyền địa phương vànông dân đã xác định được 4 tiêu chuẩn đánh giá là: An toàn lương thực, lợi nhuận, hiệu quả xã hội và môi trường bền vững Khi các tiêu chuẩn đánh giá được xác định với mức độ quan trọng như nhau thì cơ cấu 2 vụ lúa – 1 vụ màu và chuyên canh cây ăn trái đặc sản là 2 cơ cấu được đánh giá cao nhất Tuy nhiên, khi các tiêu chuẩn được gán thứ tự ưu tiên, trong đó nhìn chung tiêu chuẩn an toàn lương thực và tiêu chuẩn môi trường bền vững là kém quan trọng nhất thì cơ cấu 3 vụ lúa lại được đánh giá cao hơn cơ cấu 2 vụ lúa – 1 vụ màu trong khi cơ cấu chuyên canh cây ăn trái đặc sản vẫn giữ được vị trí ưu tiên hàng đầu của nó
* Tiến hành phân hạng mức độ thích hợp đất đai tỉnh Quảng Trị tác giả Nguyễn Văn Toàn, đã rút ra một số kết luận như sau:
Trong số 26.621 ha đang canh tác lúa của tỉnh Quảng Trị có 12.448 ha rất thích hợp, chiếm 47%; thích hợp có 7.927,6 ha, chiếm 29,8% và đất ít thích hợp có 6.205,8 ha chiếm 23,2%, trong số này có 1.747 ha đất chuyên lúa, còn lại là đất đang trồng màu, đây là diện tích đất có vấn đề trầm trọng cần được chuyển đổi
* Kết quả nghiên cứu về đánh giá đất của Đỗ Nguyên Hải và cộng sự,
2006 cho thấy:
Trên diện tích 8.305,67 ha đất canh tác nông nghiệp trồng cây hàng năm của huyện Phổ Yên đã xác định được 36 LMU với 503 khoanh đất Cáckiểu sử dụng đất: lúa xuân - lúa màu - khoai tây; lúa xuân - lúa màu - rau; lạc xuân - lúa màu - khoai tây; lạc xuân - đậu tương Hè Thu - rau; đậu tươngxuân - lúa mùa - rau là những kiểu sử dụng đất có triển vọng cho sử dụng
Trang 8đất bèn vững trong vùng, mang lại hiệu quả kinh tế cao và giải quyết được việc làm ở nông thôn.
* Kết quả nghiên cứu của tác giả Võ Thị Gương và cộng sự, năm 2001
ở tỉnh Cà Mau cho thấy:
- Đất đai Cà Mau đa dạng và có khả năng thích nghi cho nhiều mô hình sử dụng đất đai khác nhau Có 09 kiểu sử dụng đất đai đã được lựa chọn trong đó bao gồm cả lúa – nuôi trồng thủy sản và rừng
- Diện tích có khả năng trồng lúa cao sản cho năng suất cao khoảng 109.161,4 ha (vùng I) chủ yếu tập trung ở các vùng đất cao không phèn có khả năng thâm canh cao, có khả năng ngăn mặn triệt để và có khả năng thích nghi với nhiều mô hình thuộc các huyện Đầm Dơi, Cái Nước, Trần Văn Thời,
U Minh và Thới Bình
- Mô hình rừng Tràm kết hợp với nuôi Cá là thích hợp nhất cho các vùng chung quanh quanh rừng U Minh và các vùng phèn nặng khác, đồng thời cũng đáp ứng mục tiêu bảo vệ và khôi phục rừng Tràm Diện tích đề xuấtcho khu vực này khoảng 21.000 ha bao gồm rừng Tràm đang có và một số lâm trường đang trồng Tràm
- Diện tích có khả năng thích nghi và đề xuất chuyển đổi sang mô hình
có kinh tế và phù hợp với điều kiện tự nhiên là mô hình Lúa – Tôm chiếm diện tích khoảng 236.773 ha phân bố ở các vùng canh tác Lúa gặp khó khăn như thấp trũng, đất phèn, khả năng ngập sâu cao
- Mô hình chuyên Tôm (vùng V) có khả năng mở rộng hơn so với diện tích đề xuất (13.885 ha), đặc biệt là từ vùng đất đề xuất Lúa – Tôm Diện tích mô hình Tôm - Rừng và Rừng phòng hộ thì được đề xuất là 124.125 ha (thuộc vùng VI)
* Kết quả nghiên cứu ở Huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên của các tác giả Đào Thổ Chu, Nguyễn Ích Lân, cho thấy:
Trang 9Tổng diện tích 5172,33 ha đất canh tác có 19 đơn vị đất đai với 5 loại hình sử dụng đất thích hợp Mức độ thích nghi hiện tại như sau: Mức độ thích hợp cao (S1) có ở 3 loại hình sử dụng đất (LUT) LUT1, LUT2, LUT3 diện tích 1578,03 ha, chiếm 30,51% diện tích đất canh tác Mức độ thích hợp trung bình (S2) có ở LUT2 và LUT3 với diện tích là 1863,96 ha chiếm 36,04% diện tích đất canh tác Mức độ ít thích hợp (S3) có ở nhiều LUT nhất đồng thời cũng nhiều đơn vị đất đai nhất với diện tích là 1730,34 ha, chiếm 33,45% diện tích đất canh tác.
Trong tương lai trên cơ sở đầu tư cải tạo hệ thống kênh mương tưới tiêunước, kết hợp sử dụng đất và cải tạo đất, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật… thì loại đất kém thích hợp hiện tại (S3) sẽ không còn, chỉ còn mức độ thích hợp cao và thích hợp trung bình Mức độ thích hợp cao (S1) là 2619,04 ha, chiếm 50,64% diện tích đất canh tác, tăng 1.042,01 ha và tăng 65,97% so với hiện tại Mức độ thích hợp trung bình (S2) là 2533,29 ha chiếm 49,36% diện tích đất canh tác, tăng 689,33 ha và tăng 36,98% so với hiện tại Hệ số sử dụng đất hiện tại từ 2,58 lần lên 2,94 lần vào năm 2010, tăng 0,36 lần
* Áp dụng quy trình đánh giá đất của FAO, Lê Quang Trí và Văn PhạmĐăng Trí, năm 2005 đã phân lập ra 24 đơn vị bản đồ đất đai để đánh giá khả năng thích nghi cho 6 kiểu sử dụng đất có triển vọng và đã phân ra được 3 vùng thích nghi cho xã Song Phú, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long Trong đóvùng 1 thích nghi được 6 kiểu sử dụng đất đai, vùng 2 thích nghi 4 kiểu sử dụng đất đai (LUT1, LUT2, LUT4, LUT5) Riêng vùng 3 thích nghi cho các
cơ cấu 3 vụ hoặc chuyên canh cây ăn trái khi có đê bao
* Kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Bài, Nguyễn Thị Vọng, cho thấy:
Hiệp Hòa là một huyện trung du nằm ở phía Tây nam tỉnh Bắc Giang Hiện tại việc sử dụng đất nông nghiệp chưa thật hợp lý và chưa hiệu quả, sản xuất còn nhỏ lẻ, phân tán, chưa hình thành vùng chuyên canh để sản xuất
Trang 10hàng hóa có chất lượng cao Hiện tại Hiệp Hòa có 6 loại hình sử dụng đất: đất
3 vụ, đất 2 vụ lúa, 1 vụ lúa, chuyên màu, lúa - cá và cây ăn quả Mức độ thích hợp đất đai hiện tại đối với các loại hình sử dụng đất còn chiếm tỷ lệ thấp, yếu
tố hạn chế chủ yếu là việc bố trí các loại cây trồng phù hợp trên mỗi chân đất, mỗi vùng đất, hệ thống thủy lợi và tập quán canh tác của người dân địa
phương Kết quả lựa chọn các loại hình sử dụng đất theo các vùng địa hình: vùng gò đồi tập trung phát triển các loại cây ăn quả như vải, nhãn, hồng, na dai; vùng đất bằng (đất ruộng) chọn loại hình sử dụng đất 3 vụ (dưa hấu xuân
- lúa màu - khoai tây, lúa xuân - lúa màu - dưa hấu đông, ngô xuân - đậu tương hè - rau vụ đông, lúa xuân - lúa màu - khoai tây) và loại hình sử dụng đất chuyên màu và cây công nghiệp ngắn ngày (ngô, đậu tương, lạc, cà chua);vùng đất trũng ngập nước chọn loại hình sử dụng đất lúa - cá
* Trần An Phong và cộng sự, khi tiến hành đánh giá đất ở huyện Cư Jút
đã rút ra kết luận như sau:
Huyện Cư Jút có diện tích tự nhiên là 71.889 ha Diện tích lớn nhất trong tài nguyên đất là đất xám trên đá sa thạch (Haplic Acrisols) 25.345 ha chiếm 35,3% Đất tự nhiên, đất đỏ và nâu vàng trên đá bazan 11.700 ha chiếm16,1% diện tích đất tự nhiên Đất đen và nâu thẫm trên sản phẩm đá bọt bazan6.200 ha chiếm 9,10% diện tích đất tự nhiên
Bản đồ các đơn vị đất đai được xây dựng trên 15 tính chất đất đai từ việc chồng ghép các bản đồ như bản đồ đất, phân vùng khí hậu Kết quả có 31đơn vị đất đai (ĐVĐĐ), vùng đất xám trên phiến sét có 9 ĐVĐĐ, vùng đất nâu đỏ trên đá bazan có 6 ĐVĐĐ, vùng đất nâu vàng có 1 ĐVĐĐ, vùng đất đen có 4 ĐVĐĐ, vùng đất bọt bazan có 4 ĐVĐĐ, đất xám then cát có 3 ĐVĐĐ và đất dốc tụ có 3 ĐVĐĐ
* Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Ích Tân, Hà Anh Tuấn khi nghiên cứu ở huyện Võ Nhai, cho thấy:
Trang 11Võ Nhai có diện tích đất chưa sử dụng lớn với diện tích 22.541,78 ha chiếm 26,27% diện tích đất tự nhiên Diện tích đất chưa sử dụng đưa vào sản xuất nông lâm nghiệp, phát triển kinh tế xã hội còn ít so với tiềm năng.
Dựa vào các chỉ tiêu phân cấp: loại đất, độ dốc, thành phần cơ giới, độ dày tầng đất, chế độ nước để đánh giá thích hợp đất đai theo quan điểm sinh thái và phát triển lâu dài đã xác định được 17.225,29 ha, chiếm 76,42% diện tích đất chưa sử dụng có khả năng sử dụng đưa vào định hướng cho sản xuất nông lâm nghiệp
Lựa chọn được 5 loại hình sử dụng đất thích hợp cho đất chưa sử dụng
có khả năng sử dụng đưa vào định hướng sản xuất nông lâm nghiệp Loại hình sử dụng đất thích hợp: trồng cây màu và cây công nghiệp ngắn ngày 1.292,26 ha chiếm 7,56%; cây công nghiệp lâu năm là 2.761,08 ha chiếm 16,03%; cây ăn quả là 2.617,99 ha chiếm 15,20%; cây lâm nghiệp là
10.540,26 ha chiếm 61,19%; nuôi trồng thủy sản là 13,7 ha chiếm 0,08%
3 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam
3.1.Thực trạng sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam.
Diện tích Việt Nam là 33.168.855 ha, đứng thứ 59 trong hơn 200 nước trên thế giới
Đất bằng ở Việt Nam có khoảng >7 triệu ha, đất dốc >25 triệu ha
>50% diện tích đất đồng bằng và gần 70% diện tích đất đồi núi là đất có vấn
đề, đất xấu và có độ phì nhiêu thấp, trong đó đất bạc màu gần 3 triệu ha, đất
trơ sỏi đá 5,76 triệu ha, đất mặn 0,91 triệu ha, đất dốc trên 25 độ gần 12,4
triệu ha
Bình quân đất tự nhiên theo đầu người là 0,4 ha Theo mục đích sử dụng năm 2000, đất nông nghiệp 9,35 triệu ha, lâm nghiệp 11,58 triệu ha, đất chưa sử dụng 10 triệu ha (30,45%), chuyên dùng 1,5 triệu ha Đất tiềm năng nông nghiệp hiện còn khoảng 4 triệu ha Bình quân đất tự nhiên ở Việt Nam
Trang 12là 0,6 ha/người Bình quân đất nông nghiệp theo đầu người thấp và giảm rất nhanh theo thời gian, năm 1940 có 0,2 ha, năm 1995 là 0,095 ha Đây là một hạn chế rất lớn cho phát triển Đầu tư và hiệu quả khai thác tài nguyên đất ở Việt Nam chưa cao, thể hiện ở tỷ lệ đất thuỷ lợi hoá thấp, hiệu quả dùng đất thấp, chỉ đạt 1,6vụ/năm, năng suất cây trồng thấp, riêng năng suất lúa, cà phê
và ngô đã đạt mức trung bình thế giới
3.2 Các loại hình sử dụng đất nông nghiệp của Vệt Nam
Với lợi thế là nước có truyền thống sản xuất nông nghiệp nên Việt Namcũng mang những đặc điểm của vùng sản xuất nông nghiệp chuyên canh
Đất trồng cây lâu năm 2181943 23.34
Đất cỏ dùng vào chăn nuôi 37575 0.41
Đất có mặt nước nuôi trồng thủy
sản
Trong những năm gần đây, khi nền kinh tế phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá, thì việc nhân rộng các kiểu sử dụng đất như trên là cần thiết
Trang 13nhưng vẫn chưa đủ, cần phải đa dạng hóa các loại hình sử dụng đất với nhiều chủng loại cây trồng khác nhau để tạo thị trường nông sản đa dạng Theo đó vấn đề tìm được đầu ra ổn định cho sản phẩm, sử dụng đất không làm ảnh hưởng đến môi trường là vấn đề cốt lõi để các kiểu sử dụng đất trên được bềnvững.
3.3 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất về mặt kinh tế
Trong những năm vừa qua, tỷ trọng ngành nông nghiệp đóng góp trongGDP có xu hướng giảm dần, từ 70 % năm 2006 xuống còn 65 % năm
2008 Nhưng giá trị sản xuất ngành nông nghiệp lại có xu hướng tăng lên
về quy mô lẫn giá trị
3.4 Hiệu quả kinh tế của 1 số cây trồng
Những năm qua mặc dù tình hình khó khăn nhưng năng suất của
câytrồng luôn đạt mức khả quan Nhìn chung năng suất của các loại cây không giảm mà có sự ổn định qua các năm Điều này được thể hiện trong bảng 2
Trang 14Bảng 2 : Năng suất, hiệu quả kinh tế của 1 số loại cây trồng.
Loại cây Ước tính năm 2011 Ước tính năm 2011 so với
2010 (%)Tổng
số
Chia ra Tổng số Chia ra
Miềnbắc
MiềnNam
Miềnbắc
MiềnNam