Đất nước ta đang chuyển mình theo con đường Công nghiệp hóa –hiện đại hóa, quá trình đô thị hóa diễn ra liên tục các khu đô thị mọc lên dày đặc và trở thành nơi tập trung sản xuất công n
Trang 1I LỜI NÓI ĐẦU
Mấy thập kỷ gần đây hành tinh xanh - trái đất của chúng ta đang phải đối mặt với một thảm họa lớn: đó là môi trường bị ô nhiễm Vấn đề môi trường đã trở thành mối quan tâm của toàn xã hội, từ người dân bình thường đến các nhà chính trị đứng đầu các nước Vì vậy, công tác bảo vệ môi trường ở các nước là một vấn đề hết sức cấp bách, đòi hỏi phải có sự kết hợp của nhà nước, các cơ quan chức năng và toàn thể cộng đồng
Đất nước ta đang chuyển mình theo con đường Công nghiệp hóa –hiện đại hóa, quá trình đô thị hóa diễn ra liên tục các khu đô thị mọc lên dày đặc và trở thành nơi tập trung sản xuất công nghiệp, nhiều ngành công nghiệp phát triển mạnh mẽ, nhiều nhà máy xí nghiệp được xây dựng, trong đó có nhiều nhà máy có quy mô lớn…Tốc độ tăng trưởng kinh tế của đất nước liên tục gia tăng, đời sống nhân dân ngày càng ổn định, cơ hội việc làm mở rộng, chất lượng cuộc sống ngày càng được nâng cao….Bên cạnh những lợi ích đó, quá trình đô thị hóa làm phát sinh hàng loạt vấn đề về môi trường: ô nhiễm không khí, ô nhiễm tiếng ồn, nhất là ô nhiễm chất thải rắn Đây là một vấn đề trở nên rất bức xúc cần phải giải quyết ở các đô thị
Ô nhiễm môi trường và đặc biệt là ô nhiễm chất thải rắn đang thật sự là một vấn đề bức nhức nhối mà toàn thế giới quan tâm, nó là một trong những sự kiện luôn nóng bỏng trên các phương tiện thông tin đại chúng Mặc dù biết được sự ảnh hưởng của chất thải rắn đến môi trường sống nhưng dường như ý thức bảo vệ của người dân ở các khu đô thị, bệnh viện và các khu công nghiệp lại chưa được nâng cao, cách thức quản lý của nhà nước còn lỏng lẻo, chưa thực sự hiệu quả Bởi vậy, việc tuyên truyền, giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho mỗi người dân, đồng thời nâng cao hơn nữa hiệu quả quản lý của nhà nước
về vấn đề chất thải rắn ở đô thị là rất cần thiết
Trang 2Mặc dù đã có rất nhiều cố gắng để hoàn thành tốt bài tiểu luận nhưng không thể tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế Chúng em rất mong sự góp ý của thầy giúp chúng em hoàn thiện hơn nữa trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Chúng em xin chân thành cảm ơn thầy
Trang 3PHẦN II NỘI DUNG CHƯƠNG I LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN
Ở ĐÔ THỊ
1 Khái niệm chất thải rắn
Theo quan niệm chung: Chất thải rắn là toàn bộ các loại vật chất được con người loại bỏ trong các hoạt động kinh tế - xã hội của mình (bao gồm các hoạt động sản xuất, các hoạt động sống và duy trì sự tồn tại của cộng đồng v.v…) Trong đó quan trọng nhất là các loại chất thải sinh ra từ các hoạt động sản xuất và hoạt động sống
Theo quan điểm mới: Chất thải rắn đô thị (gọi chung là rác thải đô thị) được định nghĩa là: Vật chất mà con người tạo ra ban đầu vứt bỏ đi trong khu vực đô thị mà không đòi hỏi được bồi thường cho sự vứt bỏ đó Thêm vào đó, chất thải được coi là chất thải rắn đô thị nếu chúng được xã hội nhìn nhận như một thứ mà thành phố phải có trách nhiệm thu gom và tiêu hủy
2 Nguồn tạo thành chất thải rắn
Với dân số gần 86 triệu dân và mọi hoạt động của người dân đều phát sinh chất thải, hàng trăm ngàn cơ sở dịch vụ, văn phòng, trường học và các cơ
sở công nghiệp lớn, vừa và nhỏ nên nguồn phát sinh và thành phần chất thải rắn của đô thị rất đa dạng Thông thường rác thải thường phát sinh từ các nguồn sau:
Khu dân cư;
Khu thương mại (nhà hàng, khách sạn, siêu thị, chợ );
Cơ quan, công sở (trường học, trung tâm và viện nghiên cứu, bệnh viện );
Khu xây dựng và phá hủy các công trình xây dựng;
Khu công cộng (nhà ga, bến tàu, sân bay, công viên, khu vui chơi, đường
Trang 4 Nhà máy xử lý chất thải;
Công nghiệp;
Nông nghiệp
3 Đặc trưng của chất thải rắn:
Dạng rắn, về mặt vật lý nó cũng chứa các vật chất giống như sản phẩm hữu dụng;
Bị loại bỏ trong cuộc sống, tính thiếu hữu dụng, thiếu giá trị sử dụng;
Cần phải được thu dọn và xử lý
4 Quản lý chất lượng môi trường và quản lý chất thải rắn
* Quản lý chất lượng môi trường.
Quản lý chất lượng môi trường là sự tác động liên tục, có tổ chức, có phương hướng và mục đích xác định của một chủ thể (con người, địa phương, quốc gia, tổ chức quốc tế…) đối với một đối tượng nhất định (môt trường sống) nhằm khôi phục, duy trì và cải thiện tốt hơn môi trường sống của con người trong những khoảng thời gian dự định
* Hệ thống quản lý chất thải rắn đô thị:
Là một cơ cấu tổ chức quản lý chuyên trách về chất thải rắn đô thị có vai trò kiểm soát các vấn đề có liên quan đến chất thải rắn liên quan đến vấn đề về quản lý hành chính, tài chính, luật lệ, quy hoạch và kỹ thuật
Trang 5* Hoạt động quản lý chất thải rắn:
Hoạt động quản lý chất thải rắn bao gồm các hoạt động quy hoạch quản
lý, đầu tư xây dựng cơ sở quản lý chất thải rắn, các hoạt động phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý chất thải rắn nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu những tác động có hại đối với môi trường và sức khoẻ con người
Nhiệm vụ của các cơ quan chức năng trong hệ thống quản lý chất thải rắn ở một số đô thị lớn ở Việt Nam:
Bộ Khoa học công nghệ và Bộ môi trường chịu trách nhiệm vạch chiến lược cải thiện môi trường chung cho cả nước, tư vấn cho nhà nước trong việc
đề xuất luật lệ chính sách quản lý môi trường quốc gia
Bộ Xây dựng hướng dẫn chiến lược quản lý và xây dựng đô thị, quản lý chất thải rắn
Ủy ban nhân dân thành phố chỉ đạo Ủy ban nhân dân các quận, huyện,
Sở Khoa học công nghệ, sở tài nguyên môi trường và Sở Giao thông thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môi trường đô thị, chấp hành nghiêm chỉnh chiến lược chung
và luật pháp về bảo vệ môi trường của Nhà nước thông qua việc xây dựng các quy tắc, quy chế cụ thể trong việc bảo vệ môi trường của thành phố
Công ty môi trường đô thị là cơ quan trực tiếp đảm nhận nhiệm vụ xử lý chất thải rắn, bảo vệ vệ sinh môi trường thành phố theo chức trách được giao
Trang 6CHƯƠNG II THỰC TRẠNG Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG CHẤT THẢI
RẮN Ở ĐÔ THỊ HIỆN NAY
1 Thực trạng chung về chất thải rắn ở đô thị.
Chất thải rắn ở đô thị ngày càng có những diễn biến phức tạp Chất thải
từ các nguồn như sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng, y tế, làng nghề và sinh hoạt đô thị đang ngày càng tăng nhanh về chủng loại, số lượng và tính độc hại Tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trung bình đạt 21.000 tấn/ngày Chôn lấp vẫn là hình thức phổ biến với số lượng trung bình 1 bãi chôn lấp đô thị 85% số đô thị từ thị xã trở lên sử dụng biện pháp chôn lấp không hợp vệ sinh gây ô nhiễm môi trường, tốn nhiều diện tích đất Vấn đề quản lý chất thải rắn, đặc biệt là xử lý rác, nước rác, tình trạng
ô nhiễm môi trường đô thị, vùng ven đô thị và môi trường xung quanh các cơ
sở xử lý rác đang là mối quan tâm của nhiều địa phương, mặt khác lựa chọn địa điểm để xây dựng cơ sở xử lý chất
Hiện nay, việc thu gom và xử lý chất thải rắn đô thị và công nghiệp chưa đáp ứng yêu cầu, đây là nguyên nhân quan trọng gây ô nhiễm quan trọng môi trường nước, không khí, đất, vệ sinh đô thị và ảnh hưởng xấu đến cảnh quan
đô thị và sức khỏe cộng đồng
Lượng rác thải đô thị và công nghiệp ngày càng tăng, tính độc hại của chất thải sinh hoạt cũng tăng, cùng với sự tăng thêm các cơ sở sản xuất, các khu tập trung dân cư ngày càng nhiều, nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm vật chất cũng ngày càng lớn, những điều đó tạo điều kiện kích thích các ngành sản xuất, kinh doanh và dịch vụ được mở rộng và phát triển nhanh chóng, nâng cao mức sống chung của xã hội; mặt khác cũng tạo ra một số lượng lớn chất thải bao gồm: Chất thải sinh hoạt, chất thải công nghiệp, chất thải y tế, chất thải nông nghiệp, chất thải xây dựng
Trang 7Nguyên nhân là do các ngành chức năng chưa thực sự quan tâm đến vấn
đề xử lý chất thải, bảo vệ môi trường mà chỉ tập trung phát triển kinh tế và đáp ứng nhu cầu của cuộc sống, nguy cơ ô nhiễm môi trường do các chất thải gây ra
đã và đang trở thành một vấn đề cấp bách trong công tác bảo vệ môi trường ở nước ta hiện nay
Chất thải rắn không được xử lý an toàn đã tích tụ lâu dài trong môi trường, gây ô nhiễm đất, nước mặt, nước ngầm và không khí, ảnh hưởng đến các hệ sinh thái và ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người
Kết quả điều tra ban đầu về chất thải rắn nguy hại (CTNH) cho thấy: Ở nước ta các cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp phát triển rất đa dạng và phong phú về loại hình, ngành nghề như công nghiệp hóa chất, luyện kim, dệt nhuộm, giấy và bột giấy, nhựa, cao su, công nghiệp thực phẩm, dược phẩm
Theo báo cáo diễn biến môi trường Việt Nam về chất thải rắn, tổng lượng chất thải phát sinh từ các cơ sở công nghiệp mỗi năm khoảng 2,6 triệu tấn, trong đó chất thải nguy hại công nghiệp vào khoảng 130.000 tấn/năm
Phần lớn chất thải công nghiệp nguy hại phát sinh từ miền Nam, đặc biệt
là khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam, chiếm khoảng 64% tổng lượng chất thải nguy hại phát sinh của cả nước
Tiếp theo là các tỉnh miền Bắc với lượng chất thải nông nghiệp phát sinh chiếm 31% Thêm vào đó, gần 1.500 làng miền Bắc với phát sinh chất thải nông nghiệp chiếm 31%, mà chủ yếu tập trung ở các vùng nông thôn miền Bắc mỗi năm phát sinh cỡ 774.000 tấn chất thải rắn sản xuất, bao gồm cả chất thải nông nghiệp và không nguy hại
Khối lượng rác thải ngày càng tăng Theo số liệu thống kê, hiện nay tổng lượng rác thải rắn sinh hoạt phát sinh trong toàn quốc ước tính khoảng 1,28 triệu tấn/năm Trong đó khu vực đô thị là (từ loại 4 trở lên) là 6,9 triệu tấn/năm
Trang 8(chiếm 54%), lượng chất thải còn lại tập trung ở các xã, thị trấn thuọc huyện
Dự báo tổng lượng rác thải rắn sinh hoạt đô thị đến năm 2020 khoảng 22 triệu tấn/năm Như vậy với lượng gia tăng lượng chất thải rắn như trên thì nguy cơ ô nhiễm môi trường và tác động tới sức khỏe cộng đồng do chất thải rắn gây ra đang trở thành một trong những vấn đề cấp bách của công tác bảo vệ môi trường ở nước ta Bên cạnh đó việc rác thải ồ ạt được đưa vào nước ta bất chấp
sự ô nhiễm môi trường Cuối tháng 10 vừa qua, hơn 100 container chứa đầy rác thải gồm sắt thép phế liệu gỉ sét, bao bì, ống bơ sắt bốc mùi hôi thối nồng nặc,
đe dọa ô nhiễm môi trường nghiêm trọng được nhập về Không chỉ rác thải qua tái chế, nhiều doanh nghiệp đã bất chấp nhập cả rác thải nguy hại cấm nhập cấm xuất như: ắc quy chì, …
Số liệu thống kê thì các doanh nghiệp Việt Nam đã tham gia chuyển khẩu, nhập khẩu, tạm nhập tái xuất hơn 3.500 container phế thải vào Việt Nam, trong đó có hơn 2.000 container với khối lượng khoảng 40.000 tấn ắc quy chì phế thải qua cảng Hải Phòng Đây là những mặt hàng đã được quy định kiểm soát kỹ lưỡng bởi công ước Basel, có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng trong quá trình vận chuyển, tái chế
Theo đánh giá của các chuyên gia môi trường, vi phạm môi trường, nhập khẩu phế liệu, rác thải nguy hại bằng nhiều con đường khác nhau đang từng ngày từng giờ tuồn về Việt Nam ngày càng tinh vi với số lượng và số vụ không
hề giảm
Lý giải điều này, ông Nguyễn Văn Tài - Phó vụ trưởng Vụ Môi trường (Bộ Tài nguyên và Môi trường) cho rằng, nguyên nhân chính là sự hám lợi của các đơn vị trong nước mà bất chấp các quy định của pháp luật Không hẳn các doanh nghiệp không nhận thức được vấn đề vi phạm mà lợi nhuận từ rác thải đã làm doanh nghiệp mờ mắt
Bên cạnh đó, trước tình trạng giá nguyên liệu liên tục tăng cao khiến nhiều doanh nghiệp tìm mọi cách nhập khẩu và sử dụng nguyên liệu phế thải
Trang 9hoặc tái chế với giá thấp hơn nhiều hàng chính phẩm Nếu nhập khẩu hạt nhựa nguyên chất giá thị trường từ 20.000 đến 25.000 đồng/kg, trong khi nhựa tái chế trong nước giá từ 10.000 đến 15.000 đồng/kg.
Thủ đoạn thường thấy của doanh nghiệp là khai báo hàng hóa một đằng, nhập hàng một nẻo hoặc khai phế liệu nhập khẩu nằm trong danh mục hàng hóa được phép nhập khẩu để làm nguyên liệu sản xuất, nhưng trên thực tế toàn là rác thải nguy hại
Ngoài giấy ghi nhập vỏ chai nhựa đựng nước uống (chai PET) nhưng lại
là túi nilon, sợi hóa học thu gom từ các bãi rác, ô nhiễm và mùi hôi thối nồng nặc
Chất thải rắn sinh hoạt thải ra ở các kênh rạch
Về chất thải rắn, phát sinh trên toàn quốc ước tính khoảng trên 15 triệu tấn/năm, trong đó khoảng hơn 150.000 tấn là chất thải nguy hại
Rác thải sinh hoạt đô thị và công nghiệp chiếm lượng lớn khoảng 70% - 80% tổng lượng chất thải phát sinh lượng chất rắn công nghiệp chiếm khoảng 20% tổng lượng chất thải lượng chất thải rắn nguy hại chiếm tỷ lệ nhỏ (khoảng
Trang 102% tổng lượng thải) nhưng tiềm ẩn nguy cơ gây hại cho sức khỏe và môi trường rất cao và có xu hướng gia tăng, nếu không được quản lý chặt chẽ và xử
lý hiệu quả dẫn tới việc xử lý ô nhiễm môi trường và quản lý nguy cơ ô nhiễm môi trường do chất thải gây ra đang trở thành vấn đề cấp bách của công tác bảo
vệ môi trường ở nước ta hiện nay
Theo số liệu thống kê năm 2007 của Cục Bảo vệ môi trường, tổng khối
lượng phát sinh chất thải rắn nguy hại tại 64 tỉnh thành trong cả nước là
16.927,80 tấn/ngày, tương đương 6.170.868 tấn/năm Như vậy, trung bình tại mỗi đô thị của các tỉnh, thành phố trong cả nước phát sinh ra 4,5 tấn/ngày Trong đó, TP Hồ Chí Minh là nơi có khối lượng phát sinh lớn nhất với khoảng 5.500 tấn/ngày chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) (đô thị có khối lượng phát sinh CTRSH ít nhất là thị xã Bắc Kạn với 12,3 tấn/ngày)
Sơ đồ thể hiện lượng phát sinh chất thải rắn sinh hoạt đô thị tại các
vùng địa lý.
Trang 11Khối lượng phát sinh trung bình tại các đô thị của các vùng dao động khá lớn, lớn nhất là vùng Đông Nam Bộ với 839,13 tấn/ngày/đô thị tương đương 306.280,63 tấn/năm (chiếm khoảng 65% CTRNH trên cả nước), tiếp đến là vùng đồng bằng Sông Hồng với 389,3 tấn/ngày/đô thị tương đương 142.094,5 tấn/năm ( chiếm khoảng 32% CTRNH trên cả nước) Thấp nhất là Vùng Tây Bắc với 43,9 tấn/ngày/đô thị tương đương 16.023,5 tấn/năm.
Tại Hà Nội, tổng lượng rác thải sinh hoạt đô thị của thành phố vào khoảng 2.800 tấn/ngày, ngoài ra chất thải công nghiệp, chất thải xây dựng, chất thải y tế với khối lượng 2.000 tấn/ngày Trong đó, chất thải rắn sinh hoạt chiếm
tỷ trọng lớn nhất trong các loại, khoảng 60%, chất thải xây dựng chiếm khoảng 25%, chất thải công nghiệp 10% và lượng chất thải phân bùn bể phốt là 5% Tại các bệnh viện, tỷ lệ phát sinh chất thải rắn y tế được phân cấp theo từng tuyến, loại bệnh viện, cơ sở y tế Lượng chất thải rắn bệnh viện phát sinh trong quá trình khám chữa bệnh mỗi ngày vào khoảng 429 tấn chất thải rắn y
tế, trong đó lượng chất thải rắn y tế nguy hại phát sinh ước tính khoảng 34 tấn/ngày
Trung bình mỗi ngày có khoảng 2 tấn rác thải đổ xuống sông Cà Lồ
(Đông Anh, Hà Nội).
Trang 12Theo một lãnh đạo Công ty TNHH Nhà nước một thành viên Môi trường
đô thị (URENCO), tỷ lệ thu gom chất thải sinh hoạt ở các quận nội thành đạt khoảng 95%, còn các huyện ngoại thành tỷ lệ này chỉ đạt 60%, lượng chất thải rắn công nghiệp được thu gom đạt 85 - 90% và chất thải nguy hại mới chỉ đạt khoảng 60 - 70% Nếu phân chia lượng chất thải rắn y tế nguy hại theo địa bàn thì 35% lượng chất thải y tế nguy hại tập trung ở Hà Nội và TP HCM; 65% còn lại ở các tỉnh, thành khác Theo ông Trần Thế Loãn, Trưởng Phòng tổ chức kiểm soát ô nhiễm, Cục Bảo vệ môi trường, nếu chất thải rắn không được quản
lý đúng đắn sẽ là tác nhân gây ô nhiễm môi trường đất (các tác nhân gây ô nhiễm tồn dư trong đất như kim loại nặng, các hoá chất độc hại có trong chất thải rắn ), ô nhiễm môi trường nước (các tác nhân gây ô nhiễm từ chất thải rắn hoà tan hoặc bị cuốn theo nước rỉ rác xâm nhập vào nguồn nước mặt, nước ngầm, sông hồ ao biển ) và ô nhiễm môi trường không khí (mùi, các hoá chất
bay hơi từ chất thải rắn…) Khống chế chất thải rắn, trông chờ ý thức người dân Theo nhận định của phòng tổ chức kiểm soát ô nhiễm môi trường, nguyên
nhân là do các ngành chức năng chưa thực sự quan tâm đến vấn đề xử lý chất thải mà chỉ tập trung phát triển kinh tế và đáp ứng nhu cầu của cuộc sống Bên cạnh đó, người dân chưa có ý thức trong việc chôn lấp, xử lý chất thải đúng yêu cầu Để giải quyết tình trạng này, các nhà khoa học kỹ thuật đã đưa ra nhiều giải pháp như: đốt trong các lò đốt chuyên dùng, phân loại để tái chế riêng từng loại (làm phân bón, vật liệu nhựa tái chế, vật liệu xây dựng các công trình không đòi hỏi chất lượng cao…)
Bên cạnh đó, Chính phủ cũng đã có nhiều kế hoạch và đang thực hiện để
xử lý các cơ sở gây ô nhiễm và các vùng bị ô nhiễm Trả lời báo chí trong kỳ họp thứ tư Quốc hội khóa XII đang diễn ra, Bộ Trưởng Tài nguyên và
Môi trường Phạm Khôi Nguyên cho biết: “Sắp tới, Bộ Tài nguyên và Môi trường sẽ có nhiều cuộc kiểm tra theo hướng tổng tiến công các cô sở gây ô nhiễm môi trường Trước mắt, sẽ tập trung kiểm tra các doanh nghiệp có khả
Trang 13năng gây ô nhiễm môi trường cao như các nhà máy giấy, nhà máy bia, doanh nghiệp hoá chất, đóng tàu”.
Tuy nhiên, theo ông Trần Thế Loãn, việc giải quyết cần dần dần và cần nhiều kinh phí từ nhiều nguồn lực khác nhau, cũng như quyết tâm của các cấp chính quyền Đặc biệt, cần phát huy vai trò của cộng đồng, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của người dân trong thay đổi thói quen tiêu dùng, -giảm thiểu phát sinh, phân loại, xử lý chất thải rắn đúng quy định
“Ô nhiễm đất do chất thải rắn: Các tác nhân ô nhiễm trong chất thải rắn đặc biệt là các hoá chất độc hại thâm nhiễm vào môi trường đất, tồn tại trong đất và đi vào chuỗi thức ăn, qua đó xâm nhập và tích tụ trong cơ thể người Ở một liều lượng nhất định, các tác nhân này sẽ gây ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ con người như gây ung thư, ngộ độc, các bệnh hệ tiêu hoá, tim mạch ”
“ Ô nhiễm nguồn nước: Đây được coi là nguy cơ lớn nhất đối với sức khoẻ người dân từ chất thải rắn đặc biệt là chất thải nguy hại ở thể rắn Các tác nhân gây ô nhiễm như các chất độc hại, các mầm bệnh thấm nhiễm vào nguồn nước (nước mặt và nước ngầm) gây ô nhiễm nguồn nước uống, nước sinh hoạt gây các bệnh đường tiêu hoá như tiêu chảy, giun sán mắc các bệnh truyền nhiễm như viêm gan; ngộ độc thực phẩm; các bệnh về mắt, da liễu, phụ khoa ”
“Ô nhiễm không khí: Do nền khí hậu nóng ẩm, nhiệt độ cao làm bay hơi nhiều chất độc hại từ chất thải rắn sẽ làm ảnh hưởng không nhỏ đến sức khoẻ người dân đặc biệt là những người lao động thường xuyên tiếp xúc với các nguồn chất thải, gây các bệnh về đường hô hấp như viêm phế quản, viêm đường hô hấp trên”
a Chất thải rắn sinh hoạt
Chất thải rắn sinh hoạt là chất thải rắn phát thải trong sinh hoạt cá nhân,
hộ gia đình, nơi công cộng
Trang 14Rác tại chợ Mai Xuân Thưởng Rác xả trên đường nội bộ tại chợ Bình
Tây
Hình ảnh lưu trữ rác tại chợ
Theo số liệu của Bộ Xây dựng, hiện tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt đô thị phát sinh trên toàn quốc ước tính khoảng 21.500 tấn/ngày, tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trong toàn quốc ước tính khoảng 12,8 triệu tấn/năm, trong đó khu vực đô thị (từ loại 4 trở lên) là 6,9 triệu tấn/năm (chiếm 54%), lượng chất thải rắn còn lại tập trung ở các xã, thị trấn thuộc huyện Dự báo đến năm 2015, khối lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh từ các đô thị ước tính khoảng 37 nghìn tấn/ngày và năm 2020 là 59 nghìn tấn/ngày cao gấp 2 - 3 lần hiện nay, tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt đô thị đến năm 2020 khoảng gần
22 triệu tấn/năm Như vậy, với lượng chất thải rắn sinh hoạt đô thị gia tăng nhanh chóng và các công nghệ hiện đang sử dụng không thể đáp ứng yêu cầu
do điều kiện Việt Nam mật độ dân số cao, quỹ đất hạn chế, việc xác định địa điểm bãi chôn lấp khó khăn, không đảm bảo môi trường và không tận dụng được nguồn tài nguyên từ rác thải Việc áp dụng các công nghệ mới hạn chế chôn lấp chất thải rắn nhằm tiết kiệm quỹ đất, đảm bảo môi trường và tận dụng nguồn tài nguyên từ rác thải là cấp bách
Lượng chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) tại các đô thị ở nước ta đang có
xu thế phát sinh ngày càng tăng, tính trung bình mỗi năm tăng khoảng 10% Tỷ
lệ tăng cao tập trung ở các đô thị đang có xu hướng mở rộng, phát triển mạnh
Trang 15cả về quy mô lẫn dân số và các khu công nghiệp, như các đô thị tỉnh Phú Thọ (19,9%), thành phố Phủ Lý (17,3%), Hưng Yên (12,3%), Rạch Giá (12,7%), Cao Lãnh (12,5%) Các đô thị khu vực Tây Nguyên có tỷ lệ phát sinh CTRSH tăng đồng đều hàng năm và với tỷ lệ tăng ít hơn (5,0%).
Tổng lượng phát sinh CTRSH tại các đô thị loại III trở lên và một số đô thị loại IV là các trung tâm văn hóa, xã hội, kinh tế của các tỉnh thành trên cả nước lên đến 6,5 triệu tấn/năm, trong đó CTRSH phát sinh từ các hộ gia đình, nhà hàng, các chợ và kinh doanh là chủ yếu Lượng còn lại từ các công sở, đường phố, các cơ sở y tế Chất thải nguy hại công nghiệp và các nguồn chất thải y tế nguy hại ở các đô thị tuy chiếm tỷ lệ ít nhưng chưa được xử lý triệt để vẫn còn tình trạng chôn lấp lẫn với CTRSH đô thị
Kết quả điều tra tổng thể năm 2006 - 2007 cho thấy, lượng CTRSH đô thị phát sinh chủ yếu tập trung ở 2 đô thị đặc biệt là Hà Nội và TP Hồ Chí Minh Tuy chỉ có 2 đô thị nhưng tổng lượng CTRSH phát sinh tới 8.000 tấn/ngày (2.920.000 tấn/năm) chiếm 45,24% tổng lượng CTRSH phát sinh từ tất cả các đô thị (hình 1 và bảng 1)
Trang 16Tính theo vùng địa lý (hay vùng phát triển kinh tế - xã hội) thì các đô thị vùng Đông Nam bộ có lượng CTRSH phát sinh lớn nhất tới 2.450.245 tấn/năm (chiếm 37,94% tổng lượng phát sinh CTRSH các đô thị loại III trở lên của cả nước), tiếp đến là các đô thị vùng Đồng bằng sông Hồng có lượng phát sinh CTRSH đô thị là 1.622.060 tấn/năm (chiếm 25,12%) Các đô thị khu vực miền núi Tây Bắc bộ có lượng phát sinh CTRSH đô thị thấp nhất chỉ có 69.350 tấn/năm (chiếm 1,07% ), tiếp đến là các đô thị thuộc các tỉnh vùng Tây Nguyên, tổng lượng phát sinh CTRSH đô thị là 237.350 tấn/năm (chiếm 3,68%) (Hình 2.2) Đô thị có lượng CTRSH phát sinh lớn nhất là TP Hồ Chí Minh (5.500 tấn/ngày), Hà Nội (2.500 tấn/ngày); đô thị có lượng CTRSH phát sinh ít nhất là Bắc Kạn - 12,3 tấn/ngày; Thị xã Gia Nghĩa 12,6 tấn/ngày, Cao Bằng 20 tấn/ngày; TP Đồng Hới 32,0 tấn/ngày; TP Yên Bái 33,4 tấn/ngày và thị xã Hà Giang 37,1 tấn/ngày.
Tỷ lệ phát sinh CTRSH đô thị bình quân trên đầu người tại các đô thị đặc biệt và đô thị loại I tương đối cao (0,84 – 0,96kg/người/ngày); đô thị loại II và loại III có tỷ lệ phát sinh CTRSH đô thị bình quân trên đầu người là tương đương nhau (0,72 - 0,73 kg/người/ngày); đô thị loại IV có tỷ lệ phát sinh CTRSH đô thị bình quân trên một đầu người đạt khoảng 0,65 kg/người/ngày
Trang 17Tỷ lệ phát sinh CTRSH tính bình quân lớn nhất tập trung ở các đô thị phát triển du lịch như Tp Hạ Long 1,38kg/người/ngày; Tp Hội An 1,08kg/người/ngày; Tp
Đà Lạt 1,06kg/người/ngày; Tp Ninh Bình 1,30kg/người/ngày Các đô thị có tỷ lệ phát sinh CTRSH tính bình quân đầu người thấp nhất là TP Đồng Hới (Tỉnh Quảng Bình) chỉ 0,31kg/người/ngày; Thị xã Gia Nghĩa 0,35kg/người/ngày; Thị xã Kon Tum 0,35kg/người/ngày; Thị xã Cao Bằng 0,38kg/người/ngày Trong khi đó tỷ lệ phát sinh bình quân đầu người tính trung bình cho các đô thị trên phạm vi cả nước là 0,73kg/người/ngày (bảng 2)
Với kết quả điều tra thống kê chưa đầy đủ như trên cho thấy, tổng lượng phát sinh chất thải rắn sinh hoạt tại các đô thị ở nước ta ngày càng gia tăng với
tỷ lệ tương đối cao (10%/năm) so với các nước phát triển trên thế giới Tổng lượng phát sinh CTRSH tại các đô thị loại III trở lên và một số đô thị loại IV lên khoảng 6,5 triệu tấn/năm (năm 2004: tổng lượng chất thải sinh hoạt của tất
cả các đô thị Việt Nam là 6,4 triệu tấn/năm) Dự báo tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt đô thị đến năm 2020 khoảng gần 22 triệu tấn/năm Để quản lý tốt nguồn chất thải này, đòi hỏi các cơ quan hữu quan cần đặc biệt quan tâm hơn nữa đến các khâu giảm thiểu tại nguồn, tăng cường tái chế, tái sử dụng, đầu tư công nghệ xử lý, tiêu hủy thích hợp góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường
do chất thải rắn sinh hoạt gây ra
Trang 18Giai đoạn 2009 đến 2015 sẽ có 85% tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt đô thị phát sinh được thu gom và xử lý đảm bảo môi trường, trong đó khoảng 60% được tái chế, tái sử dụng, sản xuất phân hữu cơ hoặc đốt rác thu hồi năng lượng Giai đoạn 2016 đến 2020 sẽ có 90% tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt
đô thị phát sinh được thu gom và xử lý đảm bảo môi trường, trong đó 85% được tái chế, tái sử dụng, sản xuất phân hữu cơ hoặc đốt rác thu hồi năng lượng
Như vậy, với lượng gia tăng chất thải rắn sinh hoạt như trên thì nguy cơ
ô nhiễm môi trường và tác động tới sức khoẻ cộng đồng do chất thải rắn gây ra đang trở thành một trong những vấn đề cấp bách của công tác bảo vệ môi trường ở nước ta Tuy nhiên cho đến nay, công tác quản lý chất thải rắn vẫn còn tồn tại nhiều bất cập, đặc biệt là vấn đề thu gom và xử lý chất thải rắn
Hầu hết chất thải rắn sinh hoạt đô thị Việt Nam được xử lý bằng phương pháp chôn lấp là chủ yếu, trong đó chỉ có khoảng 15% bãi chôn lấp chất thải rắn đảm bảo tiêu chuẩn hợp vệ sinh, còn lại đều là các bãi rác lộ thiên hoặc đổ
tự nhiên tại các bãi rác tạm Phần lớn các bãi rác được xây dựng trước đây không có quy hoạch lựa chọn địa điểm mà chỉ có một số bãi chôn lấp rác mới xây dựng gần đây được thực hiện theo quy hoạch đô thị được phê duyệt
Tại các xã, thị trấn thuộc huyện, tình hình quản lý chất thải rắn hiện cũng đang rất bức xúc Hầu hết các địa phương đều chưa có quy hoạch cụ thể vị trí bãi rác cho các thị trấn và cụm dân cư Rác sau khi thu gom không được xử lý, chôn lấp đúng quy định mà chỉ đơn giản là gom lại để tập trung một chỗ Thậm chí, hiện tượng vứt rác bừa bãi xuống kênh mương, sông, hồ ở vùng nông thôn đang diễn ra phổ biến, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, đặc biệt đối với nguồn nước phục vụ sinh hoạt và sản xuất
b Về chất thải công nghiệp
Trang 19Cùng với sự tăng thêm các cơ sở sản xuất, các khu tập trung dân cư ngày càng nhiều, nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm vật chất cũng ngày càng lớn, những điều đó tạo điều kiện kích thích các ngành sản xuất, kinh doanh và dịch vụ được
mở rộng và phát triển nhanh chóng, nâng cao mức sống chung của xã hội; mặt khác cũng tạo ra một số lượng lớn chất thải bao gồm: Chất thải sinh hoạt, chất thải công nghiệp, chất thải y tế, chất thải nông nghiệp, chất thải xây dựng
Đến nay cả nước đã có gần 140 khu công nghiệp (KCN), khu chế xuất (KCX) được Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập, phân bố trên gần 50 tỉnh, thành trong cả nước và thu hút được hơn 1,2 triệu lao động trực tiếp và gián tiếp Quá trình xây dựng và phát triển các KCN, KCX đã có đóng góp đáng kể vào công cuộc hiện đại hóa, công nghiệp hóa đất nước góp phần đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh tế nước ta Tuy nhiên, vấn đề môi trường tại các KCN, KCX hiện nay đang còn nhiều điều bất cập và ngày càng trở nên bức xúc Số liệu điều tra cho thấy, trong số KCN, KCX chỉ có 33 khu đã có công trình xử lý nước thải tập trung, 10 khu đang xây dựng, các khu còn lại chưa đầu tư cho công trình xử lý nước thải
Theo số lượng thống kê của bốn thành phố lớn là Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh, tổng lượng chất thải rắn công nghiệp chiếm 15%- 26% của chất thải rắn thành phố, trong đó khoảng 35%-41% mang tính nguy hại
Trang 20Chất thải công nghiệp, đặc biệt là chất thải công nghiệp nguy hại, là một trong những thách thức lớn đối với công tác quản lý môi trường của nhiều đô thị, nhất là những đô thị có khu công nghiệp tập trung như Hà Nội, thành phố
Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương,…
Chất thải công nghiệp chủ yếu tập trung ở các vùng kinh tế trọng điểm, khu công nghiệp đô thị phát triển: Khoảng 80% trong số 2,6 triệu tấn chất thải công nghiệp phát sinh mỗi năm là từ các trung tâm công nghiệp lớn ở miền Bắc
và miền Nam 50% lượng chất thải công nghiệp của Việt Nam phát sinh ở Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận và 30% phát sinh ở các vùng đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung Bộ Thêm vào đó, gần 1.500 làng nghề mà chủ yếu là tập trung ở các vùng nông thôn miền Bắc mỗi năm phát sinh khoảng 774.000 tấn chất thải công nghiệp không nguy hại
Nguồn phát sinh chất thải nguy hại lớn nhất là các cơ sở công nghiệp 130.000 tấn/năm Lượng chất thải công nghiệp nguy hại phát sinh từ vùng kinh
tế trọng điểm phía Nam chiếm tới 75% tổng lượng chất thải công nghiệp nguy hại của cả nước
Theo báo cáo của Cục Môi trường, thì tổng lượng chất thải công nghiệp nguy hại phát sinh mỗi năm tại 3 vùng phát triển kinh tế trọng điểm khoảng 113.118 tấn Từ số liệu thống kê nêu trên có thể thấy lượng chất thải nguy hại phát sinh ở Vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam lớn khoảng gấp ba lần lượng chất thải nguy hại phát sinh ở vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc và lớn gấp khoảng 20 lần lượng chất thải nguy hại phát sinh ở vùng kinh tế trọng điểm miền Trung
Trang 21Đối với chất rắn, đa số các khu công nghiệp chưa tổ chức được hệ thống phân loại, thu gom và xử lý chất thải rắn và chất thải nguy hại một cách an toàn
về môi trường
c Về chất thải rắn y tế
Hiện nay cả nước có khoảng hơn 12.500 cơ sở khám chữa bệnh, trong đó
có khoảng 850 cơ sở là các bệnh viện với quy mô khác nhau Phần lớn các bệnh viện đặt trong các khu dân cư đông đúc Trong năm 2001, Bộ Y tế đã tiến hành khảo sát tại 280 bệnh viện đại diện cho tất cả các tỉnh, thành phố trên cả nước
về vấn đề quản lý và xử lý chất thải rắn y tế Kết quả khảo sát ban đầu cho thấy
tỷ lệ phát sinh chất thải rắn y tế theo từng tuyến, loại bệnh viện, cơ sở y tế rất khác nhau Lượng chất thải rắn bệnh viện phát sinh trong quá trình khám chữa bệnh mỗi ngày vào khoảng 429 tấn chất thải rắn y tế, trong đó lượng chất thải rắn y tế nguy hại phát sinh ước tính khoảng 34 tấn/ngày Nếu phân chia lượng chất thải rắn y tế nguy hại theo địa bàn thì 35% lượng chất thải y tế nguy hại tập trung ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh 65% còn lại ở các tỉnh, thành
Trang 22khác Mặt khác, nếu phân lượng chất thải rắn y tế phát sinh theo khu vực của các tỉnh, thành thì 70% lượng chất thải y tế nguy hại tập trung ở các tỉnh, thành phố, thị xã thuộc các đô thị và 30% ở các huyện, xã, nông thôn, miền núi Ước tính, trong tổng lượng khoảng 15 triệu tấn chất thải rắn phát sinh hàng năm thì chất thải y tế nguy hại vào khoảng 21.000 tấn Đến năm 2010 thì lượng chất thải rắn y tế nguy hại vào khoảng 25.000 tấn/năm
Chất thải rắn y tế
Trang 23Với hiện trạng trên về chất thải rắn y tế, Việt Nam đang đối mặt nhiều nguy cơ lây lan bệnh truyền nhiễm, gây dịch nguy hiểm do môi trường đang bị
ô nhiễm cả đất, nước và không khí…
Thông điệp trên đưa ra tại “Diễn đàn Quốc gia về sức khỏe môi trường”
do Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) phối hợp cùng Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN&MT) và Bộ Y tế tổ chức tại Hà Nội vào ngày 29/11
Nhiều tham luận đề ra các giải pháp nhằm ngăn ngừa và kiểm sóat tác động của ô nhiễm môi trường tới sức khỏe cộng đồng
Cục Y tế dự phòng Việt Nam đưa ra khuyến cáo, “ô nhiễm môi trường”
tại nước ta đã gia tăng mức độ ảnh hưởng tới sức khỏe Ngày càng có nhiều vấn
đề về sức khỏe liên quan đến yếu tố môi trường bị ô nhiễm
Trang 24Chất thải đã ảnh hưởng lớn đến sức khỏe cộng động, đặc biệt
nghiêm trọng ở những bãi chôn lấp rác,
Theo đánh giá của chuyên gia, trong các loại chất thải nguy hại (chất thải công nghiệp nguy hại và chất thải y tế) là mối hiểm họa đặc biệt Chất thải rắn
đã ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe cộng động; nghiêm trọng nhất là đối với dân
cư khu vực làng nghề, gần khu công nghiệp, bãi chôn lấp chất thải và vùng nông thôn ô nhiễm chất thải rắn đã đến mức báo động
Nhiều bệnh như đau mắt, bệnh đường hô hấp, bệnh ngoài da, tiêu chảy, dịch tả, thương hàn,… do loại chất thải rắn gây ra
Thống kê cho thấy, nguồn phát sinh chất thải rắn tập trung chủ yếu ở đô thị lớn như Hà Nội, TP.HCM Tại các đô thị này, tuy chỉ chiếm tỉ lệ 24% dân
số cả nước, nhưng lại phát sinh hơn 6 triệu tấn chất thải mỗi năm, chiếm gần 50% tổng lượng chất thải sinh họat cả nước
Bên cạnh đó, tình trạng ô nhiễm môi trường nước, đất, ngày càng kéo tỷ
lệ bệnh nhân có liên quan đến nước sạch và vệ sinh môi trường ngày càng cao
Ngoài ra, một trong những tác động lên môi trường và sức khỏe cộng động là việc lạm dụng các sản phẩm hóa học…