Các chấtthải y tế có chứa đựng các yếu tố truyền nhiễm như các chất độc có trong rác y tế, cácloại hóa chất và dược phẩm nguy hiểm, các chất thải phóng xạ, các vật sắc nhọn..v..v..những
Trang 1ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN
-KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ
GIẢI PHÁP VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI Y TẾ
TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA HUYỆN HƯƠNG KHÊ,
TỈNH HÀ TĨNH
Sinh viên thực hiện:
Nguyễn Thị Thanh Thùy
Lớp: K45 Kinh tế TNMT
Niên khóa: 2011 - 2015
Giáo viên hướng dẫn:
Th.s: Tôn Nữ Hải Âu
Huế, tháng 5 năm 2015
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 2Lời Cảm Ơn
Trong suốt quá trình thực hiện đềtài, ngoài sựnỗlực của bản thân, tôi đã
nhận được rất nhiều sựgiúp đỡcủa các thầy cô giáo, các cơ quan, các cán bộvà
các hộdân trên địa bàn ThịTrấn Hương Kh ê, huyện Hương Kh ê, tỉnh Hà Tĩnh.
Trước tiên tôi xin gửi lời biếtơn sâu sắc tới Th.s Tôn NữHải Âu đã dành
nhiều thời gian và tâm huyết trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡtôi trong suốt quá
trình thực hiện đềtài và hoàn thành bài luận văn này.
Tôi xin bày tỏlòng biếtơn chân thành tới các cô chú, anh chịcông tác tại
Phòng TNMT và bệnh viện Đa Khoa huyện Hương Kh ê đã cung cấp các sốliệu và tạo
điều kiện cho tôi thực hiện đềtài trong thời gian qua.
Nhân đây, tôi xin chân thành cảm ơn L ãnh đạo trường Đại học kinh tế Huế cùng toàn thể quý thầy cô v à cán bộ nhân viên trong Trường đã tạo điề u kiện để
tôi hoàn thành bài luận vănnày.
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn Thầy giáo chủnhiệm Võ Việt Hùng, cùng
tập thểlớp K45 Kinh tếtài nguyên môi trường, bạn bè và người thân đã nhiệt tình
giúp đỡ, động viên, khích lệtôi trong suốt thời gian học tập, rèn luyện tại trường
Đại học Kinh TếHuế.
Mặc dù tôi đã có nhiều cốgắng hoàn thiện bài luận văn này bằng tất cảsự
nhiệt tình và năng lực của mình, tuy nhiên không thểtránh khỏi những thiếu sót,
rất mong nhận được những đóng góp quý báu của quý thầy cô.
Sinh viên thực hiện:
Nguyễn ThịThanh Thùy
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 3MỤC LỤC
Trang
PHẦN I : ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2
3.1 Đối tượng nghiên cứu 2
3.2 Đối tượng khảo sát 2
3.3 Phạm vi nghiên cứu 2
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3
4.1 Phương pháp thu thập số liệu 3
4.1.1 Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp 3
4.1.2 Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp 3
4.2 Phương pháp phân tích số liệu 4
4.3 Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu 4
PHẦN II : NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 5
1.1.1 Một số khái niệm liên quan 5
1.1.1.1 Khái niệm chất thải y tế 5
1.1.1.2 Chất thải y tế nguy hại 5
1.1.1.3 Chất thải y tế không nguy hại 5
1.1.1.4 Quản lý chất thải y tế 6
1.1.2 Phân loại chất thải y tế 6
1.1.2.1 Chất thải lây nhiễm: 6
1.1.2.2 Chất thải hóa học nguy hại 7
1.1.2.3 Chất thải phóng xạ 7
1.1.2.4 Các bình chứa khí có áp suất 7
1.1.2.5 Chất thải thông thường 7
1.1.3 Nguồn gốc, thành phần và khối lượng chất thải y tế 8
1.1.4 Tính chất của chất thải y tế 8
1.1.4.1 Tính chất vật lý 8
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 41.1.4.2 Tính chất hóa học 9
1.1.5 Ảnh hưởng của chất thải y tế đến môi trường và cộng đồng 9
1.1.5.1 Tác hại của chất thải y tế đến môi trường 9
1.1.5.2 Ảnh hưởng đến sức khỏe con người 10
1.1.6 Phương pháp quản lý và xử lý chất thải y tế 12
1.1.6.1 Quản lý chất thải y tế 12
1.1.6.2 Xử lý chất thải y tế 13
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN 16
1.2.1 Thực trạng quản lý và xử lý chất thải y tế trên thế giới 16
1.2.1.1 Thực trạng phát sinh chất thải y tế 17
1.2.1.2 Phân loại chất thải y tế 17
1.2.1.3 Quản lý xử lý chất thải y tế 18
1.2.2 Thực trạng quản lý và xử lý chất thải y tế tại Việt Nam 18
1.2.2.1 Tình hình chung 18
1.2.2.2 Lượng chất thải phát sinh 19
1.2.2.3 Xử lý chất thải y tế 20
1.2.2.4 Những tồn tại, khó khăn trong việc quản lý chất thải rắn y tế 21
1.2.3 Thực trạng quản lý và xử lý chất thải y tế tại tỉnh Hà Tĩnh 22
CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA HUYỆN HƯƠNG KHÊ, TỈNH HÀ TĨNH 24
2.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 24
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 24
2.1.1.1 Vị trí địa lý 24
2.1.1.2 Đặc điểm địa hình, đất đai 24
2.1.1.3 Điều kiện khí hậu 25
2.1.2 Điều kiện kinh tế- xã hội 25
2.1.2.1 Điều kiện kinh tế 25
2.1.2.2 Văn hóa- giáo dục 25
2.1.2.3 Dịch vụ y tế 26
2.1.2.4 Giao thông và cơ sở hạ tầng 26
2.1.3 Giới thiệu chung về bệnh viện đa khoa huyện Hương Khê 26
2.1.3.1 Qúa trình hình thành và phát triển 26
2.1.3.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của bệnh viện 28
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 52.2 TÌNH HÌNH QUẢN LÝ CHẤT THẢI Y TẾ CỦA BỆNH VIỆN 29
2.2.1 Nguồn phát sinh, thành phần và khối lượng chất thải y tế tại bệnh viện 29
2.2.1.1 Nguồn phát sinh 29
2.2.1.2 Thành phần và khối lượng chất thải y tế 30
2.2.2 Hệ thống quản lý hành chính trong quản lý chất thải y tế của bệnh viện 32
2.2.3 Quy trình kỹ thuật quản lý chất thải y tế của bệnh viện 34
2.2.3.1 Tình hình phân loại chất thải của bệnh viện 35
2.2.3.2 Công tác thu gom chất thải ở bệnh viện 36
2.2.3.3 Công tác vận chuyển chất thải ở bệnh viện 36
2.2.3.4 Hoạt động lưu giữ và xử lý chất thải 37
2.2.4 Công tác giám sát quản lý CTYT của bệnh viện 38
2.2.4.1 Giám sát quy trình thu gom, phân loại và vệ sinh 38
2.2.4.2 Giám sát quá trình xử lý rác thải nguy hại tại bệnh viện 38
2.2.4.3 Giám sát tình hình nhiễm khuẩn tại bệnh viện 39
2.3.ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CTYT Ở BỆNH VIỆN THÔNG QUA CÁC ĐỐI TƯỢNG ĐIỀU TRA 39
2.3.1 Thông tin chung về mẫu điều tra 39
2.3.2 Đánh giá tình hình phân loại rác thải 40
2.3.2.1 Nhận thức của bệnh nhân và người nhà bệnh nhân về việc thực hành phân loại rác và bỏ rác đúng nơi quy định 41
2.3.2.2 Những khó khăn gặp phải trong việc phân loại rác thải tại nguồn 43
2.3.2.3 Ý kiến đánh giá chung về tình hình phân loại rác thải y tế của bệnh viện 44
2.3.3 Đánh giá tình hình thu gom rác thải y tế 45
2.3.4 Đánh giá tình hình vận chuyển, lưu trữ rác 46
2.3.5 Đánh giá tình hình xử lý rác thải y tế của bệnh viện 48
2.3.6 Cán bộ và nhân viên bệnh viện bị thương tích do chất thải y tế 49
2.3.7 Những khó khăn trong công tác quản lý CTYT 50
CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT THẢI Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA HUYỆN HƯƠNG KHÊ- HÀ TĨNH 52
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 63.1 ĐỊNH HƯỚNG XÂY DỰNG HỆ THỐNG QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG
52
3.1.1 Cơ cấu tổ chức 52
3.1.2 Nhiệm vụ của ban môi trường 52
3.1.3 Đào tại nhận thức về công tác bảo vệ môi trường 53
3.2 GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT THẢI Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA HUYỆN HƯƠNG KHÊ, HÀ TĨNH 53
3.2.1 Hệ thống quản lý hành chính 53
3.2.1.1 Kiểm soát ô nhiễm do chất thải 53
3.2.1.2 Tăng cường pháp chế đối với các trường hợp vi phạm 53
3.2.1.3 Nâng cao trình độ nhận thức 53
3.2.2 Hệ thống quản lý kỹ thuật 54
3.2.2.1 Phân loại chất thải tại nguồn 54
3.2.2.2 Công tác thu gom 54
3.2.2.3 Công tác vận chuyển 55
3.2.2.4 Công tác lưu giữ chất thải 55
3.2.2.5 Công tác xử lý rác thải y tế nguy hại tại bệnh viện 55
3.2.3 Quản lý nội quy 56
3.2.4 Giải pháp kêu gọi đầu tư 56
PHẦN III : KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 57
I KẾT LUẬN 57
II KIẾN NGHỊ 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO 59
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 7DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG - BIỂU
Sơ đồ 1: Sơ đồ của bệnh viện Đa khoa Hương Khê 28
Sơ đồ 2: Nguồn phát sinh chất thải của bệnh viện đa khoa Hương Khê 30
Sơ đồ 3 : Quy trình xử lý chất thải bệnh viện 34
Bảng 1: Thành phần chất thải rắn bệnh viện trung bình ở Việt Nam 8
Bảng 2: Số lượng rác thải y tế phát sinh theo tuyến bệnh viện 17
Bảng 3: Chất thải rắn y tế phát sinh theo giường bệnh tại Việt Nam 19
Bảng 4 Khối lượng chất thải rắn trong 3 năm từ 2012 – 2014 31
Bảng 5 Thành phần và khối lượng chất thải rắn y tế của bệnh viện năm 2014 31
Bảng 6 : Thông tin chung về mẫu điều tra 40
Bảng 7: Đánh giá về tầm quan trọng của việc phân loại rác y tế tại nguồn của 41
nhóm 1 và nhóm 2 41
Bảng 8: Liên quan giữa kiến thức, thái độ của bệnh nhân và người nhà bệnh nhân với việc thực hiện bỏ rác đúng nơi quy định 42
Bảng 9: Khó khăn khi phân loại rác thải y tế tại nguồn của nhóm 1 và nhóm 2 43
Bảng 10: Đánh giá của nhóm 1 và nhóm 2 về tình hình phân loại rác thải y tế của bệnh viện 44
Bảng 11: Đánh giá tình hình thu gom rác thải y tế 45
Bảng 12: Đánh giá về thời gian thu gom của nhóm 1 và nhóm 2 46
Bảng 13: Đánh giá về tình hình vận chuyển rác y tế của nhóm 1 và nhóm 2 46
Bảng 14: Đánh giá về tình hình lưu trữ rác y tế của nhóm 1 và nhóm 2 47
Bảng 15: Ảnh hưởng của việc đốt rác tại bệnh viện đến các đối tượng điều tra 48
Bảng 16: Tỷ lệ cán bộ và nhân viên bị thương tích do chất thải y tế 49
Bảng 17: Những khó khăn trong công tác quản lý CTYT 50
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CTR : Chất thải rắn
CTYT : Chất thải y tế
CTRYT : Chất thải rắn y tế CTRNH : Chất thải rắn nguy hại
BV : Bệnh viện
CK : Chuyên khoa
CBNVC : Cán bộ nhân viên chức TNMT : Tài nguyên môi trường
QCVN : Quy chuẩn Việt Nam
KSNK : Kiểm soát nhiễm khuẩn
Trang 9TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
1 Lý do chọn đề tài
Hiện nay chất thải y tế tại bệnh viện đang là mối quan tâm đáng lo ngại và đangtrở thành vấn đề môi trường và xã hội cấp bách ở nước ta, nhiều bệnh viện trở thànhnguồn gây ô nhiễm cho khu dân cư xung quanh, gây dư luận cho cộng đồng Các chấtthải y tế có chứa đựng các yếu tố truyền nhiễm như các chất độc có trong rác y tế, cácloại hóa chất và dược phẩm nguy hiểm, các chất thải phóng xạ, các vật sắc nhọn v v những người tiếp xúc với chất thải có nguy cơ nhiễm bệnh tiềm tàng, bao gồm nhữngngười làm việc trong các cơ sở Y tế, những người thu gom chất thải y tế và nhữngngười trong cộng đồng bị phơi nhiễm với chất thải do sự sai sót trong khâu quản lýchất thải Các chất thải này có chứa các chất hữu cơ nhiễm mầm bệnh gây ô nhiễm,bệnh tật nghiêm trọng cho môi trường xung quanh bệnh viện gây ảnh hưởng xấu đếnsức khỏe người dân
Tại Hà Tĩnh cũng như các tỉnh thành khác trong cả nước, tình trạng ô nhiễmmôi trường do các chất thải ngày càng nghiêm trọng Việc nghiên cứu tình hình quản
lý chất thải y tế tế tại bệnh viện , đề xuất nhằm tìm ra giải pháp để cải thiện môi trườngcũng là một trong những đề tài đáp ứng được yêu cầu cấp bách như hiện nay tại địabàn tỉnh Hà Tĩnh
Xuất phát từ yêu cầu đó, dựa trên cơ sở khoa học và những nghiên cứu tài liệu,
nghiên cứu thực địa, em xin đưa ra đề tài khóa luận với tên là: “Đánh giá hiện trạng
và đề xuất một số giải pháp về quản lý chất thải y tế tại bệnh viện đa khoa huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh.”
2 Mục tiêu nghiên cứu cụ thể của đề tài
+ Hệ thống hóa cở sở lý luận và thực tiễn về chất thải y tế và quản lý chất thải y
Trang 10+ Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc quản lý chất thải y tếhuyện Hương Khê.
3 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp điều tra, khảo sát bằng phiếu điều tra cho 3 nhóm đối tượng:
Nhóm 1: Bệnh nhân và người nhà bệnh nhân
Nhóm 2: Cán bộ và nhân viên bệnh viện
Nhóm 3: Các hộ dân sống xung quanh bệnh viện
- Phương pháp thống kê mô tả: Các thông tin và số liệu được cụ thể hóa thànhbảng biểu, sơ đồ và đồ thị thống kê mô tả
Ngoài các phương pháp trên, đề tài còn sử dụng phương pháp chuyên gia;phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
y tế của bệnh viện hiện nay Đó là cơ sở để đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao mộtcách tốt hơn trong công tác quản lý chất thải y tế của bệnh viện
Trang 11PHẦN I : ĐẶT VẤN ĐỀ
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Hiện nay nền kinh tế Việt Nam đang có những bước chuyển mình mạnh mẽ.Đời sống của người dân ngày càng được cải thiện hơn và họ đã nhận thức khá đầy đủrằng sự phát triển kinh tế- xã hội một mặt nâng cao mức sống, mặt khác gây ảnhhưởng tiêu cực đến con người và thiên nhiên Đây là vấn đề không phải lúc nào cũngđược chú trọng đúng mức Ngày nay trên thế giới vấn đề môi trường và sức khỏe đangđược quan tâm hàng đầu Việt Nam là một trong những nước nằm trong số đó, tuynhiên vấn đề sức khỏe và môi trường chưa được chú trọng nhiều trong sự phát triển.Cùng với sự phát triển kinh tế- xã hội và quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đấtnước, kéo theo đó là nhu cầu của con người tăng lên về vật chất lẫn tinh thần, bên cạnh
đó là các công trình kiến trúc, nhà ở, các bệnh viện, phòng khám mọc lên nhanh chóngkhông chỉ phát triển về mặt số lượng mà còn cả về chất lượng Đi đôi với sự phát triển
đó thì lượng chất thải của bệnh viện cũng tăng lên đáng kể và phức tạp về thành phần,còn việc xử lý, quản lý chất thải của bệnh viện chưa theo kịp
Hiện nay chất thải y tế tại bệnh viện đang là mối quan tâm đáng lo ngại và đangtrở thành vấn đề môi trường và xã hội cấp bách ở nước ta, nhiều bệnh viện trở thànhnguồn gây ô nhiễm cho khu dân cư xung quanh, gây dư luận cho cộng đồng Các chấtthải y tế có chứa đựng các yếu tố truyền nhiễm như các chất độc có trong rác y tế, cácloại hóa chất và dược phẩm nguy hiểm, các chất thải phóng xạ, các vật sắc nhọn v v những người tiếp xúc với chất thải có nguy cơ nhiễm bệnh tiềm tàng, bao gồm nhữngngười làm việc trong các cơ sở Y tế, những người thu gom chất thải y tế và nhữngngười trong cộng đồng bị phơi nhiễm với chất thải do sự sai sót trong khâu quản lýchất thải Các chất thải này có chứa các chất hữu cơ nhiễm mầm bệnh gây ô nhiễm,bệnh tật nghiêm trọng cho môi trường xung quanh bệnh viện gây ảnh hưởng xấu đếnsức khỏe người dân
Tại Hà Tĩnh cũng như các tỉnh thành khác trong cả nước, tình trạng ô nhiễmmôi trường do các chất thải ngày càng nghiêm trọng Việc nghiên cứu tình hình quản
lý chất thải y tế tế tại bệnh viện , đề xuất nhằm tìm ra giải pháp để cải thiện môi trường
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 12cũng là một trong những đề tài đáp ứng được yêu cầu cấp bách như hiện nay tại địabàn tỉnh Hà Tĩnh.
Xuất phát từ yêu cầu đó, dựa trên cơ sở khoa học và những nghiên cứu tài liệu,
nghiên cứu thực địa, em xin đưa ra đề tài khóa luận với tên là: “Đánh giá hiện trạng
và đề xuất một số giải pháp về quản lý chất thải y tế tại bệnh viện Đa Khoa huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh.”
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
+ Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc quản lý chất thải y tếhuyện Hương Khê
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu các vấn đề liên quan đến việc quản lý các chất thải y tế tạibệnh viện Đa Khoa huyện Hương Khê
3.2 Đối tượng khảo sát
- Con người: Cán bộ, công nhân viên chức của bệnh viện
- Văn bản: các văn bản luật, văn bản của tổ chức
- Rác thải bệnh viện
- Cơ sở vật chất để quản lý rác thải của bệnh viện: xe đẩy, lò đốt
3.3 Phạm vi nghiên cứu
+ Phạm vi không gian: Nghiên cứu này chỉ được thực hiện trên địa bàn Thị
Trấn Hương Khê, huyện Hương Khê
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 13+ Phạm vi thời gian: Nghiên cứu từ năm 2012 – 2014.
+ Phạm vi nội dung: Đề tài này tập trung nghiên cứu về thực trạng quản lý chất
thải y tế tại bệnh viện Đa Khoa huyện Hương Khê
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1 Phương pháp thu thập số liệu
4.1.1 Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp
Các tài liệu cần thu thập gồm: Điều kiện tự nhiên và tình hình phát triển kinh tế,
xã hội của địa phương, hiện trạng quản lý chất thải y tế được thu thập từ các nguồnđáng tin cậy như: Cơ quan Ban ngành trên địa bàn thị trấn Hương Khê huyện HươngKhê, phòng tài nguyên môi trường, bệnh viện Đa Khoa huyện Hương Khê
Nghiên cứu và phân tích các tài liệu có sẵn liên quan đến đề tài Dữ liệu thứ cấpđược thu thập từ các nguồn chính sau: Các báo cáo và đề tài nghiên cứu trước đây vàcác tài liệu có sẵn được đăng tải trên báo, tạp chí.(Báo Tuổi Trẻ, Báo Thanh Niên, tạpchí Xã Hội Học,Vietnam.net, và những đề tài có liên quan)
4.1.2 Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp
Phương pháp khảo sát thực địa để thấy được tình hình chung về thực trạng xảthải các chất thải y tế và quá trình quản lý chất thải y tế đó từ nơi nghiên cứu, cụ thể làtại bệnh viện Đa Khoa huyện Hương Khê
Điều tra bằng bảng hỏi phỏng vấn trực tiếp người dân địa phương Thị TrấnHương Khê, các bệnh nhân, đội ngũ các y bác sĩ
Phương pháp phỏng vấn sâu được kết hợp với phương pháp điều tra bằng bảnghỏi trong nghiên cứu để bổ sung và lý giải cho những con số mà phương pháp điều trabằng bảng hỏi thu thập được, từ đó thấy được thực trạng quản lý chất thải y tế để đưa
ra những đề xuất phù hợp
a Đối tượng phỏng vấn là :
- Nhóm 1: Bệnh nhân và người nhà bệnh nhân
- Nhóm 2: Cán bộ và nhân viên bệnh viện
- Nhóm 3: Các hộ dân sống xung quanh bệnh viện
Đối tượng nghiên cứu đó là thực trạng quản lý chất thải y tế
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 14b Số lượng mẫu điều tra:
+ Điều tra 90 hộ gia đình ở xung quanh khu vực bệnh viện, các bệnh nhân vàngười nhà bệnh nhân, các cán bộ và nhân viên y tế tại bệnh viện
+ Hình thức chọn mẫu điều tra: chọn mẫu thuận tiên cho người điều tra
4.2 Phương pháp phân tích số liệu
Phương pháp thống kê mô tả: Các thông tin và số liệu được cụ thể hóa thànhbảng biểu, sơ đồ và đồ thị thống kê mô tả
Ngoài các phương pháp trên, đề tài còn sử dụng phương pháp chuyên gia;phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
Trang 15PHẦN II : NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1.1 Một số khái niệm liên quan
1.1.1.1 Khái niệm chất thải y tế
Theo quy chế quản lý chất thải y tế ( Bộ Y tế)[3], chất thải y tế là vật chất ở thểrắn, lỏng, khí được thải ra từ các cơ sở y tế bao gồm: chất thải y tế nguy hại và chấtthải thông thường
Như vậy, có thể thấy chất thải y tế tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau, thường cóđặc tính và tác động xấu đối với môi trường và sức khỏe con người Người ta thườngphân biệt chất thải y tế qua hai loại: chất thải nguy hại và chất thải không nguy hại
1.1.1.2 Chất thải y tế nguy hại
- Chất thải nguy hại: là chất thải có chứa các chất hoặc hóa chất có một hoặc cácđặc tính gây nguy hại trực tiếp ( dễ cháy, dễ nổ, làm ngộ độc, gây ăn mòn, dễ lâynhiễm với các đặc tính nguy hại) , hoặc tương tác với các chất khác gây nguy hại tớimôi trường và sức khỏe con người
Do có các đặc tính và tiềm năng gây rủi ro về môi trường và sức khỏe mà cácchất thải y tế nguy hại đòi hỏi phải được thu gom, phân loại và tiêu hủy theo nhữngquy trình đặc biệt và đảm bảo an toàn có áp dụng các công nghệ phức tạp và thường làtốn kém để tránh thoát thải ra môi trường bên ngoài
- Chất thải y tế nguy hại: là chất thải y tế có chứa một trong các thành phần như:máu, dịch cơ thể, chất bài tiết, các bộ phận hoặc cơ quan con người, động vật, bơm,kim tiêm và các vật sắc nhọn, dược phẩm, hóa chất và các chất phóng xạ dùng trong y
tế Nếu những chất này không được phân hủy sẽ gây nguy hại cho môi trường và sứckhỏe con người
1.1.1.3 Chất thải y tế không nguy hại
Là những loại không có khả năng gây độc như giấy, nhựa, thực phẩm dư thừa Đối với loại chất thải này không cần lưu giữ và xử lý đặc biệt; nhưng để bảo vệ môitrường và cộng đồng, chúng cũng cần được thu gom và xử lý phù hợp
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 161.1.1.4 Quản lý chất thải y tế
Là các hoạt động kiểm soát chất thải trong suốt quá trình từ khi chất thải phátsinh đến xử lý bắt đầu từ khâu thu gom, vận chuyển, lưu trữ và tiêu hủy chất thải y tếnguy hại
Thu gom: là việc tách, phân loại, tập hợp, đóng gói và lưu trữ tạm thời tại điểm
tập trung của cơ sở y tế
Vận chuyển: là quá trình chuyên chở chất thải từ nơi phát sinh đến xử lý ban
đầu, lưu trữ, tiêu hủy
Xử lý ban đầu: là quá trình khử khuẩn hoặc tiết khuẩn các chất thải có nguy cơ
lây nhiễm cao ngay gần nơi phát sinh khi vận chuyển tới nơi lưu trữ hoạc tiêu hủy
Tiêu hủy: là quá trình sử dụng công nghệ nhằm cô lập ( bao gồm cả chôn lấp)
chất thải nguy hại làm mất khả năng nguy hại với môi trường và sức khỏe con người
1.1.2 Phân loại chất thải y tế
Theo quyết định số 43/2007/QĐ-BYT về việc ban hành quy chế quản lý chấtthải y tế của Bộ Trưởng Bộ Y Tế năm 2007[3] Căn cứ vào các đặc điểm lý học, hóahọc, sinh học và tính chất nguy hại, chất thải trong các cơ sở y tế được phân thành 5nhóm sau:
1.1.2.1 Chất thải lây nhiễm:
Gồm 5 nhóm nhỏ:
- Nhóm A:
Chất thải nhiễm khuẩn chứa mầm bệnh vi khuẩn, virus, kí sinh trùng, nấm v.v ,bao gồm các vật liệu thấm máu, dịch, chất bài tiết của bệnh nhân như gạc, bông , găngtay, bột bó gãy xương, dây truyền máu
- Nhóm B:
Là các vật sắc nhọn như kim tiêm, lưỡi dao, cán dao mổ, mảnh thủy tinh vỡ vàmọi vật dụng có thể gây ra vết cắt hoặc chọc thủng, cho dù chúng có thể bị nhiễmkhuẩn hoặc không nhiễm khuẩn
- Nhóm C:
Rác thải có nguy cơ lây nhiễm cao phát sinh từ các phòng xét nghiệm: găng tay,lam kính, ống nghiệm, bệnh phẩm sau khi xét nghiệm, túi đựng máu, bệnh phẩm saukhi cần thiết
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 171.1.2.2 Chất thải hóa học nguy hại
Chất hóa học nguy hại sử dụng trong y tế Chất gây độc tế bào gồm: vỏ các chaithuốc, lọ thuốc, các dụng cụ dính thuốc gây độc tế bào và các chất tiết từ người bệnhđược điều trị bằng hóa trị liệu Chất thải chứa kim loại nặng: thủy ngân( từ nhiệt kế,huyết áp kế thủy ngân bị vỡ, chất thải từ hoạt động nha khoa), cadimi( Cd)( từ pin, ắcquy), chì ( từ tấm gỗ bọc chì hoặc vật liệu tráng chì sử dụng trong ngăn tia xạ từ cáckhoa chẩn đoán hình ảnh, xạ trị)
1.1.2.3 Chất thải phóng xạ
Chất thải phóng xạ sinh ra trong các cơ sở y tế từ các hoạt động chẩn đoán định
vị khối, hóa trị liệu và nghiên cứu phân tích dịch mô cơ thể Chất thải phóng xạ tồn tạidưới cả ba dạng: rắn, lỏng, khí
Danh mục thuốc phóng xạ và hợp chất đánh dấu dùng trong chẩn đoán và điềutrị ban hành kèm theo Quyết định số 33/2006/QĐ- BYT ngày 24 tháng 10 năm 2006của Bộ Trưởng Bộ Y tế [4]
1.1.2.4 Các bình chứa khí có áp suất
Bao gồm bình đựng O2,CO2, bình ga, bình khí dung môi Các bình này dễ gâycháy, gây nổ khi thiêu đốt
1.1.2.5 Chất thải thông thường
Các chất thải thông thường là chất thải không chứa các yếu tố lây nhiễm, hóahọc nguy hại, phóng xạ, dễ cháy, nổ, bao gồm:
- Chất thải sinh hoạt phát sinh từ buồng bệnh( trừ các buồng bệnh cách ly)
- Chất thải phát sinh từ các hoạt động chuyên môn y tế như các chai lọ thủy tinh,chai huyết thanh, các vật liệu nhựa, các loại bột bó trong gãy xương kín Những chấtthải này không dính máu, dịch sinh học và các chất hóa học nguy hại
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 18- Chất thải phát sinh từ các công việc hành chính: giấy, báo, tài liệu, vật liệuđóng gói, thùng các tông, túi nylon, túi đựng phim.
- Chất thải ngoại cảnh: lá cây và rác từ các khu vực ngoại cảnh
1.1.3 Nguồn gốc, thành phần và khối lượng chất thải y tế
Thành phần và khối lượng của từng loại chất thải y tế có đặc trưng theo chứcnăng và nhiệm vụ chuyên môn của từng bệnh viện Chúng có nguồn gốc chủ yếu từcác phòng khám, khoa chức năng, phòng hành chính – tổng hợp và khu dịch vụ trongbệnh viện
1.1.4 Tính chất của chất thải y tế
1.1.4.1 Tính chất vật lý
Thành phần vật lý:
- Đồ bông vải sợi: gồm bông gạc, băng, quần áo cũ, khăn lau, vải trải
- Đồ giấy: hộp đựng dụng cụ, giấy gói, giấy thải từ nhà vệ sinh
- Đồ thủy tinh: chai lọ, ống tiêm, bông tiêm, thủy tinh, ống nghiệm
- Đồ nhựa, hộp đựng, bơm tiêm, dây chuyền máu, túi đựng
- Đồ kim loại: kim tiêm, dao mổ, hộp đựng
- Bệnh phẩm, máu mủ dính ở băng gạc
- Rác rưởi, lá cây, đất đá
Kết quả trên 80 bệnh viện trong phạm vi cả nước về thành phần chất thải rắn y
tế được chia ra như sau:
Bảng 1: Thành phần chất thải rắn bệnh viện trung bình ở Việt Nam
Thành phần Tỷ lệ ( % )
- Đồ thủy tinh và đồ nhựa ( ví dụ : kim tiêm, lọ thuốc, bơm tiêm) 3,2
- Bông băng, bó bột ( vật liệu hấp thụ chất lây nhiễm) 8,8
- Các vật sắc nhọn ( kim tiêm, dao kéo mổ, các dụng cụ cắt gọt, ) 0,4
( Nguồn: Báo cáo hội thảo quản lý chất thải y tế Hà Nội, 1998)
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 191.1.4.2 Tính chất hóa học
Thành phần hóa học:
- Những chất vô cơ, kim loại, bột bỏ, chai lọ thủy tinh,hóa chất, thuốc thử
- Những chất hữu cơ: đồ vải sợi,giấy, phần cơ thể, đồ nhựa
Nếu phân tích nguyên tố thì thấy gồm những thành phần C, H, O, N, S, Cl
Trong đó:
- Thành phần hữu cơ: phần vật chất có thể bay hơi sau khi được nung ở nhiệt độ
950
- Thành phần vô cơ ( tro) là phần tro còn lại sau khi nung rác ở 195
- Thành phần phần trăm các nguyên tố được xác định để tính giá trị nhiệt lượngcủa chất thải y tế
1.1.5 Ảnh hưởng của chất thải y tế đến môi trường và cộng đồng
1.1.5.1 Tác hại của chất thải y tế đến môi trường
Đối với môi trường đất:
Khi chất thải y tế được chôn lấp không đúng cách thì các vi sinh vật gây bệnh,hóa chất độc hại có thể ngấm vào đất gây nhiễm độc đất làm cho việc tái sử dụng bãichôn lấp gặp khó khăn
Đối với môi trường không khí:
Chất thải bệnh viện từ khi phát sinh đến khâu xử lý cuối cùng đều gây ra tácđộng xấu đến môi trường không khí Khi phân loại tại nguồn , thu gom, vận chuyểnchúng phát tán bụi rác, bào tử vi sinh vật gây bệnh, hơi dung môi, hóa chất vào khôngkhí Ở khâu xử lý ( đốt, chôn lấp) phát sinh ra các khí độc hại HX, Nox, Đioxin,furan từ lò đốt và CH4,NH3, H2S từ bãi chôn lấp Các khí này nếu không được thuhồi và xử lý sẽ gây ảnh hưởng xấu tới sức khỏe của cộng đồng dân cư xung quanh
Đối với môi trường nước:
Nước thải bệnh viện chứa nhiều hóa chất độc hại, phóng xạ, tác nhân gây bệnhcác khả năng lây nhiễm cao như Samonella, coliform, tụ cầu, liên cầu Nếu khôngđược xử lý trước khi thải bỏ vào hệ thống thoát nước chung của thành phố thì có thểgây ra tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nước
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 20Khi chôn lấp chất thải y tế không đúng kỹ thuật và hợp vệ sinh Đặc biệt là chấtthải y tế được chôn lấp chung với chất thải sinh hoạt có thể gây ô nhiễm nguồnnước ngầm.
1.1.5.2 Ảnh hưởng đến sức khỏe con người
Các loại hình rủi ro:
- Việc tiếp xúc với các chất thải y tế có thể gây nên bệnh tật hoặc tổn thương.Khả năng gây rủi ro từ chất thải y tế có thể do một hoặc nhiều đặc trưng cơ bản sau:
+ Chất thải y tế chứa đựng các yếu tố truyền nhiễm, là tác nhân nguy hại cótrong rác thải y tế
+ Các loại hóa chất dược phẩm có thành phần độc, tế bào nguy hiểm
+ Các chất chứa đồng vị phóng xạ
+ Vật sắc nhọn có thể gây tổn thương
+ Chất thải có yếu tố ảnh hưởng tâm lý xã hội
Những đối tượng có thể tiếp xúc với nguy cơ:
Tất cả mọi cá nhân tiếp xúc với chất thải y tế nguy hại là những người có nguy
cơ tiềm tàng, bao gồm những người làm trong cơ sở y tế, những người làm nhiệm vụvận chuyển các chất thải y tế và những người trong cộng đồng bị phơi nhiễm với chấtthải do hậu quả của sự bất cẩn và tác trách trong khâu quản lý và kiểm soát chất thải
Nguy cơ từ chất thải truyền nhiễm và các vật sắc nhọn:
Các vật thể trong thành phần chất thải y tế chứa đựng một lượng lớn các tácnhân vi sinh vật gây bệnh truyền nhiễm như tụ cầu , HIV, viêm gan B Các tác nhânnày có thể thâm nhập vào cơ thể người thông qua các cách thức sau:
- Qua da, qua một vết thương, trầy xước hoặc vết cắt trên da do vật sắc nhọngây tổn thương
- Qua niêm mạc, màng nhầy
- Qua đường hô hấp do hít phải
- Qua đường tiêu hóa do ăn, nuốt phải
Nguy cơ từ các chất thải gây độc tế bào:
Đối với nhân viên y tế do nhu cầu công việc phải tiếp xúc và xử lý loại chất thảigây độc tế bào mà mức độ ảnh hưởng và chịu tác động từ các rủi ro tiềm tàng sẽ phụ
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 21thuộc vào các yếu tố như tính chất, liều lượng gây độc của chất độc và khoảng thờigian tiếp xúc Quá trình tiếp xúc với các chất độc có trong công tác y tế có thể xảy ratrong lúc chuẩn bị hoặc trong quá trình điều trị bằng các thuốc đặc biệt hoặc bằngphương pháp hóa trị liệu Những phương thức tiếp xúc chính là hít phải hóa chất cótính nhiễm độc ở dạng bụi hoặc hơi qua đường hô hấp, bị hấp thụ qua da do tiếp xúctrực tiếp, qua đường tiêu hóa do ăn phải thực phẩm nhiễm thuốc Độc tính đối với tếbào của nhiều loại thuốc chống ung thư là tác động đến các chu kỳ đặc biệt của tế bào,nhằm vào các quá trình tổng hợp AND hoặc quá trình phân bào nguyên phân Nhiềuloại thuốc có độc tính cao và gây nên hậu quả hủy hoại cục bộ sau khi tiếp xúc trựctiếp với da hoặc mắt Chúng cũng có thể gây ra chóng mặt buồn nôn, đau đầu hoặcviêm da.
Nguy cơ từ chất thải phóng xạ:
Loại bệnh và hội chứng gây ra do chất thải phóng xạ được xác định bởi loại chấtthải đối tượng và phạm vi tiếp xúc Nó có thể là hội chứng đau đầu, hoa mắt, chóngmặt và nôn nhiều một cách bất thường Chất thải phóng xạ, cũng như chất thải dượcphẩm, là một loại độc hại tới tế bào, gen Tiếp xúc với các nguồn phóng xạ có hoạttính cao ví dụ như nguồn phóng xạ của các thiết bị chuẩn đoán như máy Xquang, máychụp cắt lớp… có thể gây ra một loạt các tổn thương chẳng hạn như phá hủy các mô,nhiều khi gây ra bỏng cấp tính
Các nguy cơ từ những loại chất thải có chứa các đồng vị có hoạt tính thấp có thểphát sinh do việc nhiễm xạ trên bề mặt của các vật chứa, do phương thức hoặc khoảngthời gian lưu giữ của loại chất thải này Các nhân viên y tế hoặc những người làmnhiệm vụ thu gom và vận chuyển rác khi phải tiếp xúc với chất thải có chứa các loạiđồng vị phóng xạ này là những người có nguy cơ cao
Tính nhạy cảm xã hội:
Bên cạnh việc lo ngại đối với những mối nguy cơ gây bệnh của chất thải rắn y tếtác động lên sức khỏe, cộng đồng thường cũng rất nhạy cảm với những ấn tượng tâm
lý, ghê sợ đặc biệt là khi nhìn thấy loại chất thải thuộc về giải phẫu, các bộ phận cơ thể
bị cắt bỏ trong phẫu thuật như chi, dạ dày, các loại khối u, rau thai, bào thai, máu…
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 221.1.6 Phương pháp quản lý và xử lý chất thải y tế
1.1.6.1 Quản lý chất thải y tế
a Giảm thiểu tại nguồn
- Chọn nhà cung cấp hậu cần cho bệnh viện mà sản phẩm của họ ít phế thải haygiảm lượng chất thải rắn y tế nguy hại phải xử lý đặc biệt
- Sử dụng các biện pháp khử trùng tẩy uế cơ lý học nhiều hơn các biện pháp hóahọc sẽ giảm thiểu chất thải nguy hại Giảm thiểu chất thải, nhất là trong công tác hộ lý
và khử trùng tẩy uế
b Quản lý và kiểm soát ở bệnh viện
Tập trung quản lý thống nhất các loại thuốc, hóa chất nguy hại Giám sát sự luânchuyển lưu hành hóa chất, dược chất ngay từ khâu nhận, nhập kho, sử dụng và tiêuhủy thải bỏ
c Quản lý kho hóa chất, dược chất
- Thường xuyên nhập hàng từng lượng nhỏ hơn là nhập quá nhiều một đợt dễdẫn tới thừa hay quá hạn
- Sử dụng các lô hàng cũ trước, hàng mới dùng sau Sử dụng toàn bộ thuốc, dượcchất vật tư trong kiện rồi mới chuyển sang kiện mới
- Thường xuyên kiểm tra hạn sử dụng của các loại thuốc, dược chất, vật tư tiêuhao ngay từ khi nhập hàng cũng như trong quá trình sử dụng
d Thu gom, phân loại và vận chuyển
Tách – Phân loại:
Điểm mấu chốt của biện pháp này là phân loại và tách ngay từ đầu một cáchchính xác chất thải y tế nguy hại và chất thải rắn thông thường Việc tách và phân loạichính xác chất thải y tế tạo điều kiện thuận lợi cho các quá trình tiếp theo như quátrình vận chuyển và lưu tại trạm hay nơi trung chuyển và quá trình vận chuyển tới nơitiêu hủy và quá trình tiêu hủy
Việc tách và phân loại chất thải rắn y tế đòi hỏi phải có thùng chứa, túi lót thùngchứa dây thắt túi, hộp nhốt vật sắc nhọn Yêu cầu mầu sắc phải thống nhất để dễ quản
lý chất thải y tế đã được phân loại thu gom trong suốt quá trình lưu thông
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 23Thu gom tại phòng khoa:
Hộ lý và nhân viên y tế phân loại, tách chất thải y tế ngay trong quá trình thựchành nghiệp vu chuyên môn kỹ thuật như thay băng, tiêm truyền Hoạt động này phảiduy trì thường xuyên liên tục Nhân viên chuyên trách thu gom chất thải y tế từ cácbuồng chuyên môn tập trung về thùng lưu chứa trung chuyển, vận chuyển về khu lưutrung chuyển chất thải y tế nguy hại bệnh viện Cần chú ý:
- Chất thải phải được thu gom hàng ngày và chuyển về nơi lưu, trung chuyểnchất thải của bệnh viện
- Thùng túi đã chứa đầy chất thải, khi vận chuyển đi phải có nhãn ghi rõ chấtthải từ khoa, bệnh viện, ngày giờ
- Phải có ngay thùng, túi chứa rác đặt ngay vào vị trí khi đã chuyển thùng cũ đi
Lưu chứa:
Khu trung chuyển lưu chứa chất thải y tế có thể xây dựng riêng hoặc có thể kếthợp với nhà xưởng lắp đặt lò đốt nếu được trang bị để tiêu hủy tại chỗ Nhà xưởng lòđốt và lưu chất chải rắn y tế nguy hại, xử lý thùng thu gom có diện tích bao che (đốivới tuyến tỉnh) từ 40 – 50
- Tường dày 110 mm, có cửa lưới thép
- Cột thép chữ I 200
- Phần trên tường bao quanh lắp lưới B40 khung thép cao 2200 mm
- Mái lợp tôn ausman Nền lát gạch chống trơn, dễ rửa
Thời gian lưu chứa như sau:
- Tốt nhất là vận chuyển chất thải rắn y tế nguy hại đi xử lý ngay trong ngày
- Vận chuyển chất thải đi xử lý trong vòng 48 h đối với mùa đông
- Vận chuyển chất thải đi xử lý trong vòng 24 h đối với mùa hè
Trang 24Xử lý bằng phương pháp thiêu đốt ở nhiệt độ cao:
Thiêu đốt ở nhiệt độ cao là phương pháp thành công nhất đảm bảo phá hủy cácđặc tính độc hại của chất thải y tê, giảm thiểu thể tích rác đến 95% và tiêu diệt hoàntoàn vi khuẩn gây bệnh ở nhiệt độ (1050 – 1100 ) [1] Phương pháp này đáp ứng tất
cả các tiêu chí về tiêu hủy an toàn ngoại trừ việc phát thải các khí thải cần được xử lý
Xử lý chất thải y tế bằng phương pháp khử trùng:
Theo phương pháp này, các chất thải có khả năng lây nhiễm trước khi thải ramôi trường như chất thải sinh hoạt thông thường phải đem đi khử trùng Ở các nướcphát triển, việc khử trùng còn được coi là công đoạn đầu của việc thu gom chất thải y
tế nhằm hạn chế khả năng gây tai nạn của chất thải
- Khử trùng bằng hóa chất: Hóa chất thường dùng là Clo, hypoclorit Đây là
phương pháp đơn giản và rẻ tiền, nhưng có nhược điểm là không tiêu diệt được hếtlượng vi khuẩn trong rác nếu thời gian tiếp xúc ngắn Ngoài ra, một số vi khuẩn có khảnăng bền vững với hóa chất xử lý, hoặc clo chỉ là chất khử trùng hữu hiệu khi không
có các chất hữu cơ… Do vậy, hiệu quả của phương pháp khử trùng không cao
- Khử trùng bằng nhiệt và áp suất cao: Đây là phương pháp khử trùng hiệu
quả cao nhưng thiết bị để xử lý đắt tiền và đòi hỏi chế độ vận hành, bảo dưỡng cao
Xử lý bằng phương pháp chôn lấp:
Đây là phương pháp phổ biến được dùng ở nhiều nơi nhất là ở các nước đangphát triển Chất thải sau khi được chuyển đến bãi chôn lấp thành từng ô có lớp phủ, lớplót trên và dưới ô chôn lấp để ngăn ngừa chất thải phát tán theo gió hoặc ngấm vàolòng đất
Xử lý bằng phương pháp đóng rắn:
Quá trình đóng rắn chất thải cùng với chất cố định xi măng, vôi Thông thườngngười ta trộn hỗn hợp rác y tế nguy hại 65%, vôi 15%, xi măng 15%, nước 5% [1].Hỗn hợp này được nén thành khối, trong một số trường hợp nó được dùng làm vật liệuxây dựng Trong thực hành tại bệnh viện, đối với một số chất thải y tế có dạng sắcnhọn như kim tiêm, lưỡi dao mổ, kim khâu… Người ta cũng thường áp dụng phươngpháp thu gom và nhốt chờ xử lý
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 25b Xử lý một số loại rác thải y tế
Xử lý chất thải lâm sàng:
Chất thải nhóm A : áp dụng 1 trong các phương pháp sau:
- Thiêu đốt là phương pháp tốt nhất cho chất thải lây nhiễm nhưng khí thải phảiđạt tiêu chuẩn môi trường
- Chôn lấp hợp vệ sinh: phải chôn tại bãi chôn lấp riêng, có hệ thống chốngthấm tốt và che phủ tức thời
- Khử trùng chất thải lây nhiễm: Bằng xử lý nhiệt, vi sóng, hóa chất
Chất thải nhóm B:
- Không được đốt trong lò
- Nên dùng phương pháp chôn lấp
- Có thể thu hồi các phần kim loại
- Đóng rắn
Chất thải nhóm C:
- Có thể xử lý giống như chất thải nhóm A
Chất thải nhóm D:
- Thiêu đốt cùng với chất thải nhiễm khuẩn nếu có lò đốt
- Chôn lấp: trước khi đem chôn lấp phải đóng rắn chất thải
Chất thải nhóm E:
- Thiêu đốt cùng với chất thải nhiễm khuẩn nếu có lò đốt
- Chôn lấp ở nghĩa địa hoặc nơi quy định Tại một số địa phương, theo tập tụcvăn hóa, người nhà bệnh nhân có có thể tự mang rau thai, bào thai, chi và các phần cắt
bỏ của cơ thể người đi chôn, với điều kiện các cơ sở y tế phải đảm bảo các chất thảiđược đựng trong các túi nilon màu vàng và đóng gói, bao bọc cẩn thận trước khi giaocho người nhà bệnh nhân
- Xử lý chất thải phóng xạ: Tất cả các công đoạn của quy trình quản lý phải
tuân theo hướng dẫn về xử lý chất thải phóng xạ Thực hiện theo các quy định củapháp lệnh an toàn và kiểm soát bức xạ ngày 25/6/1996, Nghị Định số 50/NĐ- CP ngày16/7/1998 của Chính phủ quy định về việc thi hành Pháp lệnh an toàn và kiểm soátbức xạ và các quy định hiện hành của Nhà Nước [6]
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 26- Xử lý chất thải hóa chất:
Hóa chất hóa học không độc hại: có thể áp dụng 1 trong 2 phương pháp sau:
- Tái sử dụng
- Tiêu hủy như chất thải sinh hoạt
Hóa chất hóa học nguy hại:
- Nguyên tắc:
+ Những hóa chất hóa học nguy hại có tính chất khác nhau không được trôn lẫnvới nhau để tiêu hủy
+ Không được đốt chất thải có chứa halogen vì sẽ gây ô nhiễm khí
+ Không được chôn lấp với khối lượng lớn vì sẽ gây ô nhiễm tới nước ngầm
- Phương pháp tiêu hủy:
+ Trả lại nơi sản xuất
1.2.1 Thực trạng quản lý và xử lý chất thải y tế trên thế giới
Nghiên cứu về chất thải y tế đã được tiến hành tại nhiều nước trên thế giới, đặcbiệt ở các nước phát triển như Anh, Mỹ, Nhật, Canada Các nghiên cứu đã quan tâmđến nhiều lĩnh vực như tình hình phát sinh; phân loại chất thải y tế; quản lý chất thải y
tế (biện pháp làm giảm thiểu chất thải, tái sử dụng chất thải, xử lý chất thải, đánh giáhiệu quả của các biện pháp xử lý chất thải ); tác hại của chất thải y tế đối với môitrường, sức khỏe; biện pháp làm giảm tác hại của chất thải y tế đối với sức khỏe cộngđồng, sự đe dọa của chất thải nhiễm khuẩn tới sức khỏe cộng đồng; tổn thương nhiễmkhuẩn ở y tá, hộ lý và người thu gom rác; nhiễm khuẩn bệnh viện, nhiễm khuẩn ngoàibệnh viện đối với người thu nhặt rác, vệ sinh viên và cộng đồng, người phơi nhiễm vớiHIV, HBV, HCV ở nhân viên y tế [7]
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 27( Nguồn : Hội thảo quản lý môi trường trong ngành y tế 5- 6/ 03/2002)
Khối lượng chất thải y tế phát sinh thay đổi theo khu vực địa lý, theo mùa vàphụ thuộc vào các yếu tố khác quan như: cơ cấu bệnh tật, dịch bệnh, loại, quy mô bệnhviện, phương pháp và thói quen của nhân viên y tế trong việc khám, chữa bệnh vàchăm sóc bệnh nhân và rác thải bệnh nhân ở các khoa phòng.…
1.2.1.2 Phân loại chất thải y tế
Theo khuyến cáo của Tổ Chức Y tế Thế Giới (1992), ở các nước đang phát triển
có thể phân loại chất thải y tế thành các loại sau: Chất thải không độc hại (chất thảisinh hoạt gồm các chất thải không lây nhiễm các yếu tố nguy hại); chất thải sắc nhọn(truyền nhiễm hay không truyền nhiễm); chất thải nhiễm khuẩn (khác với các vật sắcnhọn nhiễm khuẩn); chất thải hóa học và dược phẩm (không kể các loại thuốc độc với
tế bào); chất thải nguy hiểm khác (chất thải phóng xạ, các thuốc độc tế bào, các bình
có chứa khí có áp suất cao)[7].Tuy nhiên, ở các nước phát triển, việc phân loại chấtthải y tế được thực hiện nghiêm ngặt hơn Ví dụ, ở Mỹ phân loại chất thải y tế đượcchia thành 8 loại:
+ Chất thải cách ly: chất thải có khả năng truyền nhiễm mạnh
+ Những nuôi cấy và dự trữ các tác nhân truyền nhiễm và chế phẩm sinh họcliên quan
+ Những vật sắc nhọn được dùng trong điêu trị, nghiên cứu
+ Máu và các sản phẩm của máu
+ Chất thải động vật (xác động vật, các phần của cơ thể)
Trang 281.2.1.3 Quản lý xử lý chất thải y tế
Trên thế giới quản lý rác thải bệnh viện được nhiều quốc gia quan tâm và tiếnhành một cách triệt để từ rất lâu Về quản lý, một loạt những chính sách, quy định đãđược ban hành nhằm kiểm soát chặt chẽ loại chất thải này Các hoạt động phân loại,thu gom, lưu giữ và cuối cùng là xử lý được thực hiện nghiêm ngặt theo đúng quyđịnh, đặc biệt là ở các nước phát triển Như ở Hoa Kỳ vào năm 1996 đã bắt đầu có cácluật về khí thải của lò đốt và yêu cầu của khí thải phải lọc bằng hệ thống lọc trước khiđưa vào không khí Đối với nước thải, biện pháp xử lý phổ biến và đạt hiệu quả cao làbiện pháp/ công nghệ sinh học Trong khi đó việc xử lý rác thải phức tạp và khó khănhơn do khối lượng lớn và thành phần đa dạng Đối với rác thải y tế ít nguy hại, biệnpháp xử lý chủ yếu là chôn lấp, và đối với rác thải nguy hại thường được đốt Côngnghệ đốt rác được các nước phát triển thực hiện cẩn thận và hiệu quả
1.2.2 Thực trạng quản lý và xử lý chất thải y tế tại Việt Nam
1.2.2.1 Tình hình chung
Ở Việt Nam, phần lớn các bệnh viện được xây dựng khi đất nước còn nghèonàn, thiếu thốn, nhận thức về vấn đề môi trường chưa cao nên bệnh viện đều không có
hệ thống xử lý chất thải nghiêm túc , đúng quy trình kỹ thuật Cơ sở vật chất kĩ thuật
để xử lý triệt để các loại chất thải độc hại còn thiếu thốn nghiêm trọng Bên cạnh đó,công tác quản lý còn lỏng lẻo, chưa có quy trình xử lý một cách triệt để
Theo như kết quả điều tra năm 2002 của Bộ Y tế tại 294 bệnh viện trong cảnước cho thấy 94,2% bệnh viện phân loại CTYT tại nguồn phát sinh, chỉ có 5,8% bệnhviện chưa thực hiện Các bệnh viện Trung ương, tỉnh, bệnh viện tư nhân thực hiệnphân loại ngay tại nguồn tốt hơn các tuyến huyện và các bệnh viện ngành Có 93,9%bệnh viện thực hiện tách riêng vật sắc nhọn ra khỏi CTYT ,hầu hết các bệnh viện sửdụng chai nhựa, lọ truyền đã dùng để đựng kim tiêm Nhưng qua kiểm tra thực tế, việcphân loại CTYT ở một số bệnh viện chưa chính xác, làm giảm hiệu quả của việc phânloại chất thải 85% bệnh viện sử dụng mã màu trong việc phân loại , thu gom và vậnchuyển chất thải [8]
Kết quả thanh tra, kiểm tra của Bộ Y tế(2004 ) về CTYT ở 175 bệnh viện tại 14tỉnh thành cho thấy số bệnh viện có thùng chứa chất thải chiếm 76%, có bể chứa rác
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 29chiếm 9,6% , có nắp đậy thùng rác hoặc mái che bể chứa rác chiếm 43% Rác được đểriêng biệt chiếm 19,3% trong tổng số bệnh viện, nơi chứa rác thải đảm bảo vệ sinhchiếm 35,5% ; 29% bệnh viện chôn CTYT trong bệnh viện; có 3,2% bệnh viện vừachôn vừa đốt trong bệnh viện Hầu hết các CTYT trong bệnh viện đều không được xử
lý trước khi đem đốt hoặc chôn Một số ít bệnh viện có lò đốt CTYT nhưng lại quá cũ
kỹ và gây ô nhiễm môi trường.[9]
Kết quả kiểm tra của Bộ Y tế (2007) tại 4 bệnh viện Hà Nội, bệnh viện Lao vàbệnh viện phổi Trung ương được đánh giá là bệnh viện quản lý rác thải tốt nhất trong 4bệnh viện được điều tra nhưng đoàn kiểm tra đã phát hiện trong buồng bệnh chỉ cóthùng đựng rác sinh hoạt và thiếu thùng chứa đờm của bệnh nhân.Ở bệnh viện ViệtĐức tất cả rác thải đều được chứa chung trong một loại túi đựng rác màu vàng [9]
Theo báo cáo của Bộ Y tế (2009) tỷ lệ bệnh viện thực hiện phân loại CTYT là95,6% và thu gom hàng ngày là 90,9% Phương tiện thu gom CTYT như túi, thùngđựng chất thải, xe đẩy rác, nhà chứa rác còn thiếu và chưa đồng bộ, hầu hết chưa đạttiêu chuẩn theo yêu cầu của Quy chế quản lý CTYT [10]
1.2.2.2 Lượng chất thải phát sinh
Theo kết quả khảo sát của Vụ điều trị - Bộ Y tế tại 24 bệnh viện năm 1998 chothấy tỷ lệ phát sinh chất thải y tế theo từng tuyến , loại bệnh viện, cơ sở y tế rất khácnhau Trong cùng một bệnh viện, các khoa khác nhau sẽ có lượng chất thải y tế phátsinh khác nhau, trong một bệnh viện đa khoa , khoa hồi sức cấp cứu, khoa sản, khoangoại có lượng CTYT phát sinh lớn nhất
Bảng 3: Chất thải rắn y tế phát sinh theo giường bệnh tại Việt Nam
Tuyến bệnh viện Đơn vị Tổng lượng CTRYT CTRYT nguy hại
Bệnh viện trung ương (kg/ GB) 0,97 0,16
Bệnh viện tuyến tỉnh (kg/ GB) 0,88 0,14
Bệnh viện tuyến huyện (kg/ GB) 0,73 0,11
( Nguồn: Bộ Y tế (2006), sức khỏe môi trường, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội)
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 301.2.2.3 Xử lý chất thải y tế
a Xử lý, tiêu hủy chất thải y tế
Chất thải y tế gồm 5 nhóm khác nhau, mỗi nhóm có một quy trình xử lý, tiêuhủy riêng
- Chất thải lây nhiễm thực hiện biện pháp chôn lấp, dùng lò đốt và đốt ngoài trời
- Các vật sắc, nhọn được phân loại cùng với các chất thải khác ở hầu hết cácbệnh viện huyện nhưng hầu hết các bệnh viện huyện lại không có kinh phí mua nhữngthùng chứa các vật này Có bệnh viện tái sử dụng các chai nhựa đựng nước uống hoặccác thùng kim loại để chứa kim tiêm, sau đó chôn dưới đất Tuy nhiên ở đa số bệnhviện, các vật sắc, nhọn này được thu gom trong các túi nhựa mỏng, có thể gây nguyhiểm cho nhân viên xử lý rác
- Chất thải y tế từ các phòng thí nghiệm sau khi được khử trùng hoặc tẩy uế sẽđược đốt tại chỗ hoặc ngoài trời Tuy nhiên, nhiều bệnh viện huyện thiếu các chất tẩy
uế cần để khử trùng loại chất thải này
- Chất thải dược phẩm với biện pháp xử lý hiện nay gồm chôn lấp tại chỗ, thải
ra nơi thu gon rác công cộng, đốt trong các lò đốt thô sơ và đốt ngoài trời
- Chất thải bệnh phẩm xử lý với phương pháp tiêu hủy bằng đốt trong các lò đốtthô sơ, đốt ngoài trời và chôn lấp dưới đất Tại nhiều bệnh viện huyện, thường ghinhận chó và các động vật khác đào bới các chất thải bệnh phẩm không được chôn lấp
kỹ lên mặt đất làm ô nhiễm môi trường
b Xử lý chất thải lỏng lây nhiễm và nước thải bệnh viện
Nghiên cứu về quản lý chất thải y tế cho thấy hầu hết các bệnh viện huyệnkhông quan tâm đúng mức đến việc xử lý chất thải lỏng lây nhiễm và nước thải Cácbệnh viện thường thải chất lỏng lây nhiễm, máu và các dịch thể vào hệ thống nước thải
mà không được xử lý và nước thải rò rỉ trực tiếp ra môi trường do các ống thoát nước
bị hỏng Ở nhiều bệnh viện huyện, nhà vệ sinh của bệnh nhân không có bể phốt vàchất thải ra không được qua biện pháp xử lý, đồng thời chất thải có thể rò rỉ trực tiếpvào môi trường do hệ thống ống thoát nước bị hư hỏng Tại phần lớn các bệnh viện,nhà vệ sinh dành cho bệnh nhân không có hố tự hoại thích hợp và thải nước ra ngoàikhông qua xử lý khiến cho môi trường vệ sinh trong bệnh viện và khu dân cư lân cận
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 31bị ô nhiễm Hầu hết các bệnh viện đều không có đủ ngân sách hoặc cơ sở vật chất để
xử lý loại chất thải lỏng lây nhiễm và nước thải bệnh viện cũng làm ảnh hưởng đến vệsinh môi trường
1.2.2.4 Những tồn tại, khó khăn trong việc quản lý chất thải rắn y tế
Hiện nay, chất thải bệnh viện đang trở thành vấn đề môi trường và xã hội cấpbách của nước ta Hiện trạng quản lý và xử lý chất thải rắn bệnh viện kém hiệu quảđang gây dư luận trong cộng đồng và đặt ra nhiều thách thức đối với nhiều cấp, ngành,đặt biệt là ngành y tế Tuy nhiên giải quyết vấn đề này không phải một sớm một chiều,
vì chúng ta đang đối mặt với rất nhiều khó khăn, bất cập và nhất là thiếu đồng bộ
và tổ chức phi chính phủ Hiện nay các bệnh viện có lò đốt nhưng kinh phí để chi trảcho năng lượng để vận hành, xử lý tro, để trả lương cho nhân công còn chưa được quyđịnh sẽ lấy từ đâu Các bệnh viện không thể tự tiện nâng giá khám bệnh để bù vào chiphí xử lý chất thải của mình Vì vậy có bệnh viện tuy đã trang bị lò đốt rác y tế nhưngvẫn không vận hành vì không có đủ kinh phí
- Nhận thức về thực hành xử lý chất thải rắn y tế trong cán bộ y tế, nhân viêntrực tiếp làm công tác xử lý chất thải bệnh viện vẫn còn chưa cao, làm ảnh hưởngkhông nhỏ đến chất lượng và hiệu quả phân loại, thu gom và vận chuyển, tiêu huỷ chấtthải Một số lãnh đạo bệnh viện chưa thực sự quan tâm đến việc xử lý chất thải Việctuyên truyền giáo dục ý thức cộng đồng vẫn chưa sâu rộng, đôi khi dư luận qua báo chícòn làm dân hoang mang, gây tâm lý quá lo sợ đối với chất thải bệnh viện từ đó gâysức ép không đáng có đối với các cơ quan quản lý chuyên ngành
- Môi trường thực hiện pháp chế chưa thuận lợi mặc dù đã có luật bảo vệ môitrường, qui chế quản lý chất thải nguy hại do thủ tướng chính phủ ban hành và qui chếquản lý chất thải y tế do bộ trưởng bộ y tế ban hành nhưng các văn bản pháp quy này
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 32chưa thực sự thấm sâu vào đời sống Việc thực hiện đúng quy chế quản lý chất thải y
tế mới chỉ có ở một số ít bệnh viện Nhiều nơi chính quyền, lãnh đạo chỉ huy bệnh việnvẫn chưa quan tâm đầu tư kinh phí và phương tiện để thực hiện quy chế
- Các giải pháp về xử lý chất thải chưa đồng bộ, sự phối hợp liên ngành cònkém hiệu quả trong mọi công đoạn xử lý chất thải Nhiều nơi bệnh viện đã phân loạichất thải y tế và chất thải sinh hoạt nhưng do Công Ty Công Trình Đô thị chưa có lòđốt nên đã từ chối vận chuyển và xử lý chất thải y tế Hiện nay vẫn chưa có quy định
cụ thể trách nhiệm của từng bộ, ngành phối hợp hoạt động trong từng công đoạn quản
lý chất thải y tế.[2]
1.2.3 Thực trạng quản lý và xử lý chất thải y tế tại tỉnh Hà Tĩnh
Hà Tĩnh hiện có 19 bệnh viện, 10 phòng khám đa khoa khu vực, 262 trạm y tế
và một số phòng khám chữa bệnh tư nhân hàng ngày thải ra môi trường một lượng lớnchất thải các loại
Theo thống kê, hàng năm, tổng lượng nước thải y tế trên địa bàn tỉnh phát sinhkhoảng 412.450 ; tổng lượng chất thải rắn y tế, nguy hại phát sinh khoảng 136tấn/năm, trong đó, tổng lượng chất thải rắn nguy hại được xử lý 115 tấn (đạt 84%);14/19 bệnh viện đã hoàn thiện và đưa lò đốt và hệ thống xử lý nước thải y tế vào hoạtđộng Ngoài ra, chất thải y tế phát sinh tại các trạm y tế xã, phường, phòng khám tưnhân hầu như chưa được thu gom xử lý theo quy định
Theo ông Nguyễn Văn Anh - Phó trưởng phòng Kế hoạch - Tài chính, Sở Y tế
Hà Tĩnh cho biết: “Khó khăn nhất trong xử lý chất thải ở đa số các bệnh viện là việc
xử lý chai lọ thủy tinh, dù Bộ Y tế đã có yêu cầu cụ thể nghiền và tái chế thành bê tôngnhưng đến nay mới rất ít bệnh viện thực hiện Nhiều quy định của Bộ Y tế và BộTN&MT được ban hành trong thời gian gần đây, sau rất lâu so với thời gian quy hoạch
và xây dựng các bệnh viện nên việc thực hiện theo quy định còn gặp nhiều khó khăn
và cần có thời gian Nguồn nhân lực xử lý chất thải y tế hầu hết là cán bộ kiêm nhiệm,kiến thức quản lý, xử lý chất thải y tế hạn chế nên quá trình thực hiện còn có những sai sót”
Việc xử lý rác thải y tế còn có quá nhiều bất cập bởi nguy cơ lây lan mầm bệnhnếu không có phương tiện vận chuyển chuyên dụng và nếu chôn lấp có thể gây ônhiễm nguồn nước Mặt khác, việc xử lý rác thải nguy hại bằng lò thiêu ngoài trời, thủ
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 33công đã và đang gây ra tình trạng ô nhiễm cũng như thải ra rất nhiều chất độc hại ảnhhưởng tới sức khỏe người dân như: Furan và kim loại nặng như chì, cadimi, gây mưaaxit, gây hiệu ứng nhà kính, làm ô nhiễm môi trường đất cũng như nước ngầm do tro
lò đốt có chứa kim loại nặng độc hại
Hiện tại, Bộ Y tế đã có khuyến cáo các bệnh viện chuyển sang công nghệ “visóng kết hợp hơi nước bão hòa” trong xử lý chất thải y tế Công nghệ này sử dụngnăng lượng vi sóng ở tần số khoảng 2450 MHz, kết hợp hơi nước (bão hòa) ở áp suấtthường hoặc áp suất cao làm ẩm tất cả bề mặt chất thải, tăng hiệu suất diệt khuẩn, vậnhành đơn giản, tăng khả năng tái chế chất thải an toàn… Công nghệ không đốt nàyđang là một xu thế của thế giới vì nó không thải ra khí độc hại Theo kết quả ứng dụngtại một số bệnh viện tuyến Trung Ương, công nghệ hấp vi sóng sử dụng điện năng vàtái sử dụng được chất thải thông dụng, cũng như một số chất thải sắc nhọn nguy hạibằng công nghệ hấp nghiền Về mặt nhân lực, chỉ cần một nhân viên kỹ thuật là đủphối hợp với mạng lưới thu gom tại các khoa, phòng Công nghệ “vi sóng kết hợp hơinước bão hòa” cũng không thải ra khí độc hại, phát huy được hiệu quả cao đối với cácchất thải lây nhiễm, chi phí vận hành thấp, không gây ô nhiễm, thân thiện với môitrường
Đây là hướng đi mới, một dấu hiệu đáng mừng để tỉnh Hà Tĩnh giải quyết một
số vấn đề khó khăn mà tỉnh gặp phải về xử lý rác thải y tế trong thời gian qua.Tuynhiên, chi phí để đầu tư xây dựng công nghệ này khá cao, khoảng 5 tỷ đồng/hệ thống
Do vậy, việc ứng dụng công nghệ cao vào xử lý chất thải đang là một bài toán khó đốivới các bệnh viện, cơ sở y tế trên địa bàn tỉnh Để đạt được thành công thì cần phải có
sự nỗ lực rất lớn của các cấp chính quyền trên địa bàn Tỉnh và các Cơ sở y tế
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 34CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI
Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA HUYỆN HƯƠNG KHÊ,
TỈNH HÀ TĨNH
2.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
2.1.1.1 Vị trí địa lý
Hương Khê là một huyện miền núi, nằm phía Tây Nam tỉnh Hà Tĩnh
- Phía Bắc giáp các huyện Can Lộc, Vũ Quang;
- Phía Nam giáp huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình;
- Phía Đông giáp các huyện Kỳ anh, Cẩm Xuyên, Thạch Hà;
- Phía Tây giáp nước bạn Lào (với gần 60km đường biên giới)
- Có diện tích là 1278,0909 km²
2.1.1.2 Đặc điểm địa hình, đất đai
- Địa hình nhiều đồi núi, núi Rào Cỏ (2.235 m) Sông Ngàn Trươi chảy xuống
đổ vào sông Ngàn Sâu
- Diện tích tự nhiên 127.809,09ha, trong đó đất lâm nghiệp 93.077,86ha (chiếm72,8% tổng diện tích), đất nông nghiệp 13.933,82ha (chiếm 10,9% diện tích tự nhiên)
- Đất phần lớn là feralit núi Khoáng sản: than đá
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 352.1.1.3 Điều kiện khí hậu
Khí hậu nhiệt đới gió mùa với đặc trưng của khí hậu miền Bắc có mùa đông lạnh.Tuy nhiên, do ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc từ lục địa Trung Quốc tràn về
bị suy yếu nên mùa đông đã bớt lạnh hơn và ngắn hơn so với các tỉnh miền Bắc vàchia làm hai mùa rõ rệt một mùa lạnh và một mùa nóng
Nhiệt độ bình quân thường cao Nhiệt độ không khí vào mùa đông chênh lệchthấp hơn mùa hè Nhiệt độ đất bình quân mùa đông thường từ 18-22oC, ở mùa hè bìnhquân nhiệt độ đất từ 25,5 – 33oC Tuy nhiên nhiệt độ đất thường thay đổi theo loại đất,màu sắc đất, độ che phủ và độ ẩm của đất
2.1.2 Điều kiện kinh tế- xã hội
2.1.2.1 Điều kiện kinh tế
Nền kinh tế Hương khê chủ yếu là nông nghiệp lúa nước, ngoài ra có các loạicây lương thực như: Ngô(bắp), Chè, Cam, Chanh, Bưởi
- Về cây công nghiệp có: Thông, Cao su, Keo lá tràm
- Về chăn nuôi có:Trâu, bò, lợn, gà
- Khai thác lâm sản: Các loại gỗ quý như Lim, Dối, Táu tất nhiên hiện nay đãrơi vào tình trạng cạn kiệt do nạn khai thác tràn lan
- Đặc sản của Hương Khê có bưởi Phúc Trạch, chè xanh Hương trà, sắn ĐộngCửa (xã Hương Thủy), cá chép (sông Ngàn Sâu), cá tràu (cá quả) Đập Trạng (xãHương Thủy), mật ong rừng, gỗ quý
2.1.2.2 Văn hóa- giáo dục
Là một trong 3 huyện có trường trung học đầu tiên của tỉnh hà Tĩnh, là nơi duynhất ở Liên khu IV có trường Kỹ Nghệ Thực nghiệp, là huyện có phong trào Bình dânhọc vụ rất phát triển
Cho đến nay, trong huyện có 2 xã có 6 trường học: Hà Linh (4 trường Tiểu học,
01 trường THCS, 01 trường Mầm non) và Hương Trạch (03 trường Tiểu học, 01trường THCS, 02 trường Mầm non), xã Hòa Hải có đến 5 trường học (03 trường Tiểuhọc, 01 trường THCS, 01 trường Mầm non) Ngoài các xã trên còn có 9/22 xã thị có 2trường Tiểu học, 2 xã có 2 trường Mầm non Trừ Hương Liên, Phú Phong còn lại mỗi
xã một trường THCS, riêng Thị trấn Hương Khê có đến 2 trường Học sinh dân tộc ítngười có trường PTDT Nội trú
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 36Hương Khê trở thành huyện dẫn đầu tỉnh Hà Tĩnh phong trào xây dựng trườngđạt chuẩn quốc gia với 70% các trường học trong huyện được công nhận, là huyện thứhai trong cả nước có 100% trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia.
2.1.2.3 Dịch vụ y tế
Chỉ đạo thực hiện tốt công tác khám chữa bệnh, phòng, chống dịch bệnh, vệsinh ATTP, hành nghề y dược tư nhân, các chương trình mục tiêu quốc gia về y tế.Toàn huyện có 9/21 xã đạt tiêu chí quốc gia và tiêu chí nông thôn mới về y tế Tiếptục thực hiện chiến dịch tuyên truyền vận động lồng ghép chăm sóc SKSS/KHHGĐđến các xã khó khăn, vùng có mức sinh cao Tỷ lệ sinh trên 2 con 27%; tỷ lệ người dântham gia BHYT đạt 70% Công tác giảm nghèo được chú trọng, tỷ lệ hộ nghèo còn8,17%, cận nghèo 9,34%
2.1.2.4 Giao thông và cơ sở hạ tầng
Đường bộ chính ở Hương Khê là đường Hồ Chí Minh chạy qua thị trấn vàđường quốc lộ 15B nối Hương Khê với thành phố Hà Tĩnh; đường sắt Bắc Nam (tạiđây có ga là Hương Phố)
2.1.3 Giới thiệu chung về bệnh viện đa khoa huyện Hương Khê
2.1.3.1 Qúa trình hình thành và phát triển
Tên bệnh viện: Bệnh viện Đa khoa huyện Hương Khê
Địa chỉ: Khối 10, thị trấn Hương Khê, huyện Hương Khê, Hà Tĩnh
Điện thoại: 0393.871445
Bệnh viện Đa Khoa huyện Hương Khê được thành lập từ rất lâu vào năm 1957.Sau đó được tái thành lập theo Quyết định số 1672/QĐ- UBND vào ngày 22 tháng 7năm 2007 của UBND tỉnh Hà Tĩnh tại địa bàn khối 10 Thị Trấn huyện Hương Khê,với chức năng là cấp cứu, khám chữa bệnh cho 11 vạn cán bộ, nhân dân và các đơn vịđóng trên địa bàn, chỉ đạo tuyến dưới về chuyên môn kỹ thuật Làm tốt công tác đàotạo, nghiên cứu khoa học về y học Phối hợp với trung tâm Y Tế dự phòng huyện thựchiện có hiệu quả các chương trình y tế Quốc Gia tư vấn về công tác Phòng bệnh vàchống dịch Từng bước thực hiện thắng lợi Nghị định 43/2006/NĐ – CP ngày 25 tháng
4 năm 2006 của Chính phủ về chế độ tài chính áp dụng cho các đơn vị sự nghiệp có thu
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 37Ở những buổi đầu thành lập ( 1957), bệnh viện chỉ có 30 giường bệnh với độingũ thầy thuốc hầu hết là y sỹ và y tá Đến nay, đội ngũ cán bộ, viên chức đạt chuẩnvới 41 bác sĩ, Dược sĩ Đại học, trong đó có 21 Bác sĩ có trình độ sau Đại học, cán bộ
có trình độ Cao đẳng là 5 người, bệnh viện có 4 phòng chức năng, 10 Khoa lâm sàng,
3 Khoa Cận lâm sàng với 120 giường bệnh Vật tư trang thiết bị y tế đáp ứng yêu cầucủa Bệnh viện đa khoa hạng II: Máy siêu âm in màu 4D, máy nội soi Tai – Mũi –Họng, máy Đo loãng xương, máy Điện tim 3 cần, máy Đo lưu huyết não, máy Xétnghiệm huyết học tự động 18 thông số, máy X – quang kỹ thuật số
Năm 2012, Bệnh viện Đa khoa huyện Hương Khê thực hiện khám, chữa bệnhcho 87.256 lượt người đạt 134% kế hoạch; điều trị nội trú cho 10.411 lượt người, côngsuất sử dụng giường bệnh đạt 141% Bên cạnh đó bệnh viện đã triển khai được một số
kỹ thuật mới như: Mổ trĩ, phẫu thuật kết hợp các loại xương gãy, mổ thoát vị bẹn theophương pháp Lictenstein, mổ bướu cổ, mổ điều trị sa sinh dục nữ theo nhiều phươngpháp Hiện nay, bệnh viện đang chuẩn bị triển khai mổ cắt Amydal bằng máyCoblator, phẫu thuật nội soi tiêu hóa, tiết niệu, sinh dục,
Sau gần 60 năm xây dựng và trưởng thành, Bệnh viện Đa khoa huyện HươngKhê thực sự đã trở thành địa chỉ đáng tin cậy của cán bộ, nhân dân huyện nhà Với độingũ bác sĩ có tay nghề cao, giàu kinh nghiệm, nhiệt tình và trách nhiệm Bệnh viện Đakhoa huyện Hương Khê đã cấp cứu thành công hàng ngàn ca bệnh hiểm nghèo đem lạicuộc sống và niềm tin vững chắc cho người bệnh
Để thực hiện tốt Chỉ thị số 05/CT – BYT ngày 10 tháng 9 năm 2013 của Bộ Y
tế về việc tăng cường thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượng khám chữa bệnhcho nhân dân sau khi điều chỉnh giá viện phí mới, tiếp tục thực hiện Chương trình 527/
CT – BYT ngày 18 tháng 6 năm 2009 của Bộ Y tế về việc nâng cao chất lượng khámchữa bệnh vì mục tiêu đáp ứng hài lòng của người bệnh BHYT; trong thời gian tớibệnh viện tiếp tục đầu tư cơ sở vật chất, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đạođức nghề nghiệp của đội ngũ nhân viên y tế Đồng thời, đẩy mạnh công tác xã hội hóa,phối hợp với các nhà tài trợ trên địa bàn triển khai các phòng khám theo yêu cầu chấtlượng cao, góp phần đẩy nhanh lộ trình BHYT toàn dân trên địa bàn
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 382.1.3.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của bệnh viện
Sơ đồ 1: Sơ đồ của bệnh viện Đa khoa Hương Khê
LÒ ĐỐT RÁC
HỆ THỐNG XỬ LÝ CHẤT THẢI LỎNG
NHÀ A3
KHOA GMHS
PT-NHÀ A4 (2tầng)
KHOA SẢN
NHÀ C4 ( 2TẦNG)
NHÀ BẢO VỆ
NHÀ THUỐC BỆNH VIỆN
CỔNG CHÍNH
Trang 39Về bố trí khoa phòng được phân bổ như sau:
Các khoa cận lâm sàng: gồm có 05 đơn vị:
+ Dược – Trang thiết bị
+ Khoa Kiểm soát Nhiễm khuẩn
+ Chẩn đoán hình ảnh – Thăm dò chức năng
+ Bộ phận dinh dưỡng, tiết chế
+ Năm 2014 thành lập được khoa mới là Khoa Xét nghiệm
- Các khoa lâm sàng: gồm 09 khoa:
Trong đó:
+ Khối ngoại: có 04 khoa: khoa Ngoại, khoa Sản, 3CK, khoa GMHS
+ Khối nội: có 05 khoa: HSCC, Nội chung, Truyền nhiễm, khoa Nhi, khoa YHCH
Hệ thống phòng khám: 02
Trong đó:
+ Khoa Khám bệnh tại Bệnh viện: 01
+ Phòng Khám khu vực: 01 ( Phòng khám Đa khoa Trúc)
2.2 TÌNH HÌNH QUẢN LÝ CHẤT THẢI Y TẾ CỦA BỆNH VIỆN
Xã hội ngày càng phát triển, việc bảo vệ môi trường ngày càng được quan tâm,quản lý chất thải bệnh viện là một trong những khâu quan trọng trong việc bảo vệ môitrường bệnh viện vì hằng ngày lượng chất thải y tế phát sinh rất lớn và chứa nhiềuthành phần nguy hại Do đó, đòi hỏi phương thức quản lý bao gồm hệ thống phân loại,thu gom vận chuyển, lưu trữ và xử lý phải đảm bảo không gây ô nhiễm và không giatăng ô nhiễm môi trường
2.2.1 Nguồn phát sinh, thành phần và khối lượng chất thải y tế tại bệnh viện
Trang 40sức khỏe người bệnh cho đến hoạt động sinh hoạt của các cán bộ công nhân viên, bệnhnhân và người nhà bệnh nhân trong bệnh viện.
Sơ đồ 2: Nguồn phát sinh chất thải của bệnh viện đa khoa Hương Khê
Rác thải phát sinh trong quá trình hoạt động bệnh viện có thể chia thành hainhóm theo tính chất ô nhiễm và biện pháp xử lý
Rác thải từ hoạt động chuyên môn chiếm 10- 15% bao gồm:
+ Phòng khám bệnh phẩm thải ra: mủ các tổ chức hoại tử, bông băng gạc nhiễmkhuẩn, dụng cụ, nẹp cố định, quần áo nhiễm khuẩn
+ Khoa xét nghiệm thải ra: máu, hóa chất, bơm kim tiêm, kim chích máu, chai
lọ đựng bệnh phẩm sau xét nghiệm, môi trường nuôi cấy,
+ Khoa điều trị thải ra: bông băng, mủ hoại tử, tổ chức hoại tử đã cắt lọc, bơmkim tiêm, thuốc thừa, các dịch bệnh phẩm,
+ Khoa dược phẩm thải ra: quá hạn, dược phẩm bị nhiễm khuẩn, dược phẩmkhông còn sử dụng
Rác sinh hoạt chiếm 85- 90%, lượng rác này sinh ra từ các hoạt động sinh hoạtcủa đội ngũ y bác sĩ, nhân viên y tế và người nhà bệnh nhân ở nội trú
2.2.1.2 Thành phần và khối lượng chất thải y tế
Thành phần và lượng rác thải y tế tại bệnh viện phát sinh phụ thuộc chủ yếu vàocác hoạt động chuyên môn và quản lý, số giường bệnh và số người bệnh nằm điều trị
Kết quả điều tra rác thải sau 3 năm từ 2012 – 2014 được trình bày qua bảng sau:
Nhà ăn
Dịch vụ lưu động Chất thải bệnh viện Khám chữa bệnh
Khu vực hành chính Dịch vụ Người nhà bệnh nhân
Trường Đại học Kinh tế Huế