Trong cuộc sống hàng ngày, con người không chỉ tiêu thụ và sử dụng một số lượng lớn các nguyên liệu, sản phẩm từ thiên nhiên, từ sản xuất để tồn tại và phát triển mà đồng thời cũng vứt thải lại cho thiên nhiên và môi trường sống các phế thải, rác thải. Nền kinh tế xã hội càng phát triển, dân số tại các vùng đô thị, trung tâm công nghiệp càng tăng nhanh thì phế thải và rác thải càng nhiều và ảnh hưởng trực tiếp trở lại đời sống của con người: gây ô nhiễm môi trường, gây bệnh tật, làm giảm sức khỏe cộng đồng, chiếm đất đai để chôn lấp, làm bãi rác, làm mất cảnh quan các khu dân cư, đô thị,… Cùng với những vấn đề ô nhiễm
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Trong cuộc sống hàng ngày, con người không chỉ tiêu thụ và sửdụng một số lượng lớn các nguyên liệu, sản phẩm từ thiên nhiên, từ sảnxuất để tồn tại và phát triển mà đồng thời cũng vứt thải lại cho thiênnhiên và môi trường sống các phế thải, rác thải Nền kinh tế - xã hội càngphát triển, dân số tại các vùng đô thị, trung tâm công nghiệp càng tăngnhanh thì phế thải và rác thải càng nhiều và ảnh hưởng trực tiếp trở lạiđời sống của con người: gây ô nhiễm môi trường, gây bệnh tật, làm giảmsức khỏe cộng đồng, chiếm đất đai để chôn lấp, làm bãi rác, làm mấtcảnh quan các khu dân cư, đô thị,…
Cùng với những vấn đề ô nhiễm môi trường sống chung thì vấn đề
ô nhiễm chất thải rắn nói riêng tại các đô thị ở Việt Nam đang là vấn đềcấp thiết đặt ra và cần được giải quyết kịp thời Thành phố Quy Nhơncũng không nằm ngoài xu thế đó Là một trung tâm kinh tế - chính trị -văn hóa - xã hội của tỉnh Bình Định, thành phố đã và đang góp phầnđáng kể vào sự phát triển chung của tỉnh về tất cả các lĩnh vực: côngnghiệp, thương mại, du lịch, dịch vụ,…Tuy nhiên bên cạnh đó cũng làmnảy sinh nhiều vấn đề gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường, đặcbiệt là sự phát sinh chất thải rắn - một bức xúc và nan giải hiện nay củathành phố
Để thành phố Quy Nhơn phát triển theo hướng bền vững, trở thànhmột điểm du lịch thu hút nhiều du khách tham quan thì việc quản lý và
Trang 2xử lý phù hợp với thực trạng môi trường nơi đây là việc làm hết sức cầnthiết Do đó, em đã chọn đề tài “PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ
GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Ở THÀNH PHỐ QUY NHƠN” tập trung vào
việc đánh giá tác động đến môi trường không khí dựa trên phần mềmIndustrial Source Complex Short Term (ISCST3) và khả năng phát tánchất ô nhiễm nguồn nước sông Hà Thanh thông qua mô hình StreeterPhelps
Chương 4 Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị về quản
lý chất thải rắn đô thị ở thành phố Quy Nhơn
Trang 3Chương 1 TỔNG QUAN VỀ QUY TRÌNH QUẢN LÝ CHẤT
THẢI RẮN ĐÔ THỊ THÀNH PHỐ QUY NHƠN
Chất thải rắn (CTR) được hiểu là tất cả các chất thải phát sinh do các hoạt động của con người và động vật tồn tại ở dạng rắn, được thải bỏ khi không còn hữu dụng hay khi không muốn dùng nữa
Chất thải rắn đô thị (gọi chung là rác thải đô thị) bao gồm chất thải
từ khu dân cư, khu vực buôn bán thương mại và khu vực công nghiệp
Nó có thể hoặc không bao gồm chất thải xây dựng và chất thải từ việc đập phá các công trình xây dựng cũ Chất thải rắn đô thị được định nghĩa là: vật chất mà con người tạo ra ban đầu vứt bỏ đi trong khu vực đô thị
mà không đòi hỏi được bồi thường cho sự vứt bỏ đó Thêm vào đó, chất thải được coi là chất thải rắn đô thị nếu chúng được xã hội nhìn nhận nhưmột thứ mà thành phố phải có trách nhiệm thu gom và tiêu hủy
1.1 Tình hình quản lý chất thải rắn ở các đô thị Việt Nam
1.1.1 Tình hình phát sinh chất thải rắn ở các đô thị Việt Nam [10]
Lượng phát sinh chất thải rắn ở Việt Nam lên đến hơn 15 triệu tấn mỗi năm, trong đó chất thải sinh hoạt từ các hộ gia đình, nhà hàng, các khu chợ và kinh doanh chiếm tới 80% tổng lượng chất thải phát sinh trong cả nước Lượng còn lại phát sinh từ các cơ sở công nghiệp Chất thải nguy hại công nghiệp và các nguồn chất thải y tế nguy hại tuy phát sinh với khối lượng ít hơn nhiều nhưng cũng được coi là nguồn thải đáng
Trang 4lưu ý do chúng có nguy cơ gây hại sức khỏe và môi trường rất cao nếu như không được xử lý theo cách thích hợp
Chất thải chủ yếu tập trung ở các vùng đô thị Các khu đô thị tuy
có dân số chỉ chiếm 24% dân số của cả nước nhưng lại phát sinh đến hơn
6 triệu tấn chất thải mỗi năm (tương ứng với 50% tổng lượng chất thải sinh hoạt của cả nước) Ước tính mỗi người dân đô thị ở Việt Nam trung bình phát thải khoảng 2/3kg chất thải mỗi ngày, gấp đôi lượng thải bình quân đầu ở vùng nông thôn Chất thải ở các vùng đô thị thường có tỷ lệ các thành phần nguy hại lớn hơn như các loại pin, các loại dung môi sử dụng trong gia đình và các loại chất thải không phân hủy như nhựa, kim loại và thủy tinh
Chất thải công nghiệp ước tính lượng phát thải chiếm khoảng 25% tổng lượng chất thải sinh hoạt, tùy theo quy mô và cơ cấu công nghiệp của từng tỉnh/thành phố Chất thải công nghiệp tập trung nhiều ở miền Nam, gần một nửa lượng chất thải công nghiệp của cả nước phát sinh ở khu vực Đông Nam Bộ trong đó TP.Hồ Chí Minh, thành phố chính của khu vực này phát sinh 31% tổng lượng chất thải công nghiệp
20-cả nước
Chất thải nguy hại tổng lượng phát sinh trong năm 2003 ước tính
cỡ 160.000 tấn Một tỷ lệ rất lớn lượng chất thải này (cỡ 130.000
tấn/năm) phát sinh từ công nghiệp Chất thải y tế nguy hại từ các bệnh viện, cơ sở y tế và điều dưỡng chiếm cỡ 21.000 tấn/năm, trong khi các
Trang 5nguồn phát sinh chất thải nguy hại từ hoạt nông nghiệp chỉ khoảng 8.600
tấn/năm (Theo kết quả điều tra sơ bộ của Cục Bảo vệ môi trường 2003)
Với tốc độ tăng trưởng kinh tế, đô thị hóa và hiện đại hóa nhanh, ước tính lượng phát sinh chất thải sẽ tăng lên đáng kể, thành phần chất thải khó phân hủy và tính độc hại cũng gia tăng và trở thành mối quan tâm trong công tác bảo vệ môi trường
1.1.2 Ảnh hưởng của chất thải rắn đến môi trường và con người
Các vấn đề ô nhiễm môi trường như ô nhiễm môi trường nước và không khí cũng liên quan đến việc quản lý chất thải rắn không hợp lý Chính vì thế mà chất thải rắn hiện nay đang là vấn đề bức xúc đối với toàn xã hội, nhất là trong quá trình đô thị, công nghiệp hóa đang diễn ra nhanh chóng như hiện nay Từ trước đến nay ở nước ta, rác thải chủ yếu được xử lý theo hình thức chôn lấp hay tập kết vào những bãi rác lộ thiên, vấn đề này gây ảnh hưởng lớn đến môi trường và sức khỏe con người
Đối với môi trường: việc thu gom và vận chuyển chất thải rắn không tốt sẽ dẫn đến tình trạng tồn đọng chất thải rắn trong đô thị Điều này không những làm mất mỹ quan đô thị, gây mùi hôi thối, là nơi sản sinh của ruồi, muỗi, nơi cư trú của các loại vi sinh vật gây bệnh cho người và động vật mà còn là nguồn gây ô nhiễm đất, nước, không khí làm cho môi trường sống ngày càng bị đe dọa nghiêm trọng
Trang 6Đối với con người: chất thải rắn khi phát sinh có thể thâm nhập vào môi trường không khí dưới dạng bụi hoặc các chất khí sinh ra do quátrình phân hủy như: H2S, NH3…rồi theo đường hô hấp vào cơ thể người hay sinh vật Một phần thấm vào nước, đất thông qua chuỗi thức ăn vào
cơ thể người và gây bệnh Đây là những mối nguy hại đe dọa đến cuộc sống của con người, do đó cần phải có biện pháp quản lý thích hợp
Không những thế việc quản lý và thu gom chất thải rắn không tốt
sẽ không thu hồi và tái chế được các thành phần vô cơ trong rác thải như giấy, kim loại, nhựa gây lãng phí của cải vật chất cho xã hội
1.1.3 Hệ thống quản lý chất thải rắn đô thị
Hệ thống quản lý chất thải rắn đô thị là một cơ cấu tổ chức quản lý chuyên trách về chất thải rắn đô thị trong cấu trúc quản lý tổng thể của một tổ chức (cơ quan quản lý nhà nước về môi trường, doanh nghiệp, công ty, xí nghiệp, đơn vị sản xuất…)
Hệ thống quản lý chất thải rắn đô thị là thiết yếu, có vai trò kiểm soát các vấn đề liên quan đến chất thải rắn bao gồm:
1) Sự phát sinh;
2) Thu gom, lưu giữ và phân loại tại nguồn;
Trang 73) Thu gom tập trung;
4) Trung chuyển và vận chuyển;
5) Phân loại, xử lý và chế biến;
6) Thải bỏ chất thải rắn một cách hợp lý;
Nguồn phát sinh chất thải
Phân loại, lưu trữ, tái sử dụng tại
nguồn
Thu gom tập trung
Trung chuyển và vận chuyển Phân loại, xử lý và tái chế chất thải rắn
Trang 8 Mục đích của quản lý chất thải rắn:
-Bảo vệ sức khỏe cộng đồng
-Bảo vệ môi trường
-Sử dụng tối đa vật liệu, tiết kiệm tài nguyên và năng lượng
-Tái chế và sử dụng tối đa rác hữu cơ
-Giảm thiểu chất thải rắn tại các bãi đổ
1.1.4 Hiện trạng quản lý chất thải rắn hiện nay
Ở nước ta, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, các ngành sản xuất kinh doanh, dịch vụ ở các đô thị - khu công nghiệp được mở rộng vàphát triển nhanh chóng, một mặt góp phần tích cực cho sự phát triển của đất nước, mặt khác tạo ra một khối lượng chất thải rắn ngày càng lớn ( bao gồm chất thải sinh hoạt, chất thải công nghiệp, chất thải bệnh
viện…) Việc thải bỏ một cách bừa bãi chất thải rắn không hợp vệ sinh ở các đô thị, khu công nghiệp là nguyên nhân chính gây ô nhiễm môi trường, làm phát sinh bệnh tật, ảnh hưởng đến sức khỏe và cuộc sống conngười
Nguy cơ ô nhiễm môi trường do chất thải gây ra đang trở thành vấn đề cấp bách đối với hầu hết các đô thị trong nước, trong khi đó công tác quản lý chất thải rắn ở các đô thị và khu công nghiệp còn rất yếu kém
Trang 9Tại các thành phố việc thu gom và vận chuyển chất thải đô thị do Công ty môi trường đô thị (URENCO) đảm nhận Tuy nhiên hiện nay cũng đã xuất hiện nhiều tổ chức tư nhân tham gia công việc này
Hiện nay, ở Việt Nam năng lực thu gom chất thải rắn ở tất cả các
đô thị và khu công nghiệp mới chỉ đạt khoảng 20-40% Rác thải chưa phân loại tại nguồn, được thu gom lẫn lộn và vận chuyển đến bãi chôn lấp Việc ứng dụng các công nghệ tái chế chất thải rắn để tái sử dụng còn rất hạn chế, chưa được tổ chức và quy hoạch phát triển Các cơ sở tái chế rác thải có quy mô nhỏ, công nghệ lạc hậu, hiệu quả tái chế còn thấp và quá trình hoạt động cũng gây ô nhiễm môi trường Hiện chỉ có một phần nhỏ rác thải ( khoảng 1,5 - 5% tổng lượng rác thải) được chế biến thành phân bón vi sinh và chất mùn với công nghệ hợp vệ sinh [10]
Giải quyết vấn đề chất thải rắn là một bài toán phức tạp từ khâu phân loại chất thải rắn, tồn trữ, thu gom đến việc vận chuyển, tái sinh, tái chế và chôn lấp
Biện pháp xử lý chất thải rắn hiện nay chủ yếu là chôn lấp, nhưng chưa có bãi chôn lấp chất thải rắn nào đạt tiêu chuẩn kỹ thuật vệ sinh môitrường Các bãi chôn lấp chất thải rắn vẫn còn gây ô nhiễm môi trường đất, nước và không khí
Chất thải rắn phát sinh tại các khu công nghiệp đang được thu gom
và xử lý chung với rác thải sinh hoạt đô thị vì chưa có khu xử lý riêng
Trang 10dành cho chất thải rắn công nghiệp Chất thải nguy hại (trong đó có chất thải bệnh viện) chỉ được thu gom với tỷ lệ khoảng 50-60% [10]
1.1.5 Các giải pháp phòng ngừa và giảm thiểu chất thải rắn
Hạn chế và tiến tới cấm các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, bệnh viện…cũng như các hộ gia đình đổ chất thải ra sông, hồ, đường phố Kiểm soát nghiêm ngặt để bảo đảm việc thải và vận chuyển các chấtthải theo các quy định vệ sinh môi trường Các vi phạm đều bị xử lý theo Luật bảo vệ môi trường và các quy định có liên quan của Việt Nam
Tổ chức thu gom kịp thời và triệt để chất thải, tiến hành phân loại chất thải ngay từ nguồn thải để thuận tiện cho việc tái sử dụng, tái chế và tiêu hủy Khuyến khích việc áp dụng các công nghệ mới trong thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải
Vận động thực hiện nếp sống vệ sinh, văn minh, xóa bỏ các thói quen xấu như vứt rác thải, chất thải bừa bãi…ở các đô thị; tuân theo các quy định cụ thể về vệ sinh môi trường
Tiến hành việc quy hoạch xây dựng các bãi chôn chất thải theo cáctiêu chuẩn vệ sinh môi trường và đáp ứng được yêu cầu chôn lấp chất thải của địa phương
Đầu tư cơ sở vật chất để áp dụng các công nghệ xử lý hoặc tiêu hủy chất thải phù hợp với các tiêu chuẩn môi trường, trước hết là chất thải công nghiệp độc hại và chất thải bệnh viện để đảm bảo không gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến sức khỏe con người
Trang 11Xây dựng hướng dẫn về công tác quản lý chất thải rắn phổ biến rộng rãi đến từng địa phương
Tăng cường nguồn lực kiểm tra, giám sát và cưỡng chế thực hiện quy chế quản lý chất thải rắn
Cân đối các nguồn vốn và bảo đảm các điều kiện cần thiết, kể cả các nguồn vốn từ nước ngoài, để các Bộ, ngành và địa phương thực hiện
kế hoạch quản lý chất thải
Xây dựng và áp dụng các chính sách ưu đãi cho các hoạt động tái chế, đồng thời thiết lập các quỹ vốn vay cho các hoạt động sản xuất sạch hơn tạo điều kiện tốt cho các cơ sở thực hiện Đầu tư đổi mới công nghệ, hạn chế sử dụng các hóa chất độc hại trong từng giai đoạn, cải tiến trang thiết bị để tránh thất thoát nguyên vật liệu Đây là việc làm hết sức cần thiết giúp giảm thiểu chất thải rắn công nghiệp
Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, phổ biến các văn bản pháp quy về quản lý vệ sinh môi trường qua các chương trình phát thanh,truyền hình và trên báo chí, nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm của mọi người dân về vấn đề quản lý chất thải
Phát triển các loại hình dịch vụ sinh thái, du lịch sinh thái Tận dụng tối đa các ưu thế của công nghệ thông tin trong viễn thông, giao dịch mua bán cũng góp phần giảm thiểu chất thải
1.1.6 Các phương pháp xử lý
1.1.6.1 Cơ sở lựa chọn phương pháp xử lý
Trang 12 Mục tiêu của xử lý chất thải rắn là làm giảm hoặc loại bỏ các thànhphần không mong muốn trong chất thải như các chất độc hại, không hợp
vệ sinh, tận dụng vật liệu và năng lượng trong chất thải Các kỹ thuật xử
lý chất thải rắn có thể là các quá trình:
-Giảm thể tích cơ học ( nén, ép)
-Giảm thể tích hóa học (đốt)
-Giảm kích thước cơ học ( băm, cắt, nghiền)
-Tách loại theo thành phần ( thủ công hoặc cơ giới)
- Tổng lượng chất thải rắn cần được xử lý
- Khả năng thu hồi sản phẩm và năng lượng
- Yêu cầu bảo vệ môi trường
1.1.6.2 Các phương pháp xử lý chất thải rắn
Tùy theo yêu cầu xử lý và đặc điểm của rác thu gom mà lựa chọn phương pháp xử lý thích hợp Tuy nhiên thường sử dụng 3 phương pháp này nhất:
o Phương pháp chôn lấp
o Phương pháp thiêu đốt
Trang 13o Phương pháp sinh học
a) Phương pháp chôn lấp
Phương pháp truyền thống đơn giản nhất là chôn lấp rác Phương pháp này chi phí thấp và được áp dụng rộng rãi ở hầu hết các nước trên thế giới Về thực chất, chôn lấp là phương pháp lưu giữ chất thải trong một bãi
và có phủ đất lên trên
Chôn lấp hợp vệ sinh là một phương pháp kiểm soát sự phân hủy củachất thải rắn khi chúng được chôn nén và phủ lấp bề mặt Chất thải rắn trong bãi chôn lấp sẽ bị tan rữa nhờ quá trình phân hủy sinh học bên trong
để tạo ra sản phẩm cuối cùng là các chất giàu dinh dưỡng như axit hữu cơ, nitơ, các hợp chất amon và một số khí như CO2, CH4 Như vậy về thực chất chôn lấp hợp vệ sinh chất thải rắn đô thị vừa là phương pháp tiêu hủy sinh học, vừa là biện pháp kiểm soát các thông số chất lượng môi trường trong quá trình phân hủy chất thải khi chôn lấp
Theo quy định của TCVN 6696-2000, bãi chôn lấp chất thải rắn hợp
vệ sinh được định nghĩa là khu vực được quy hoạch thiết kế, xây dựng để chôn lấp các chất thải phát sinh từ các khu dân cư, đô thị và các khu công nghiệp Bãi chôn lấp chất thải bao gồm các ô chôn lấp chất thải, vùng đệm, các công trình phụ trợ khác như trạm xử lý nước, trạm xử lý khí thải, trạm cung cấp điện nước, văn phòng làm việc…
Công nghệ đơn giản, rẻ và phù hợp cho nhiều loại rác
Trang 14 Có thể thu hồi khí bãi rác cho mục đích sản xuất nhiệt năng.
Chiếm diện tích lớn
Không được sự đồng tình của dân cư xung quanh
Phát sinh nước rác là một trong những vấn đề khó khăn trong khâu
xử lý vì tính chất ô nhiễm của nó
Tìm kiếm xây dựng bãi mới là việc làm rất khó khăn
Nguy cơ dẫn đến ô nhiễm môi trường nước, cháy, nổ
tất cả các loại chất thải không nguy hại, có khả năng phân huỷ tự nhiên theo thời gian, bao gồm:
Rác thải gia đình
Rác thải chợ, đường phố
Giấy, bìa, cành cây nhỏ và lá cây
Tro củi, gỗ mục, vải, đồ da
Rác thải từ văn phòng, khách sạn, nhà hàng ăn uống
Phế thải sản xuất không nằm trong danh mục rác thải nguy hại
Bùn sệt, tro xỉ
b) Phương pháp thiêu đốt
Xử lý chất thải rắn bằng phương pháp đốt là một phương pháp hiệu quả và hiện nay được sử dụng khá phổ biến
Trang 15Đốt rác là giai đoạn xử lý cuối cùng được áp dụng cho một số loại rácnhất định không thể xử lý bằng các biện pháp khác Đây là một giai đoạn oxy hóa ở nhiệt độ cao với sự có mặt của oxy trong không khí, trong đó rác độc hại được chuyển hóa thành các chất thải rắn không cháy, các chất khí được làm sạch hoặc không được làm sạch thoát ra ngoài không khí, còn chất thải rắn được chôn lấp.
Rác trước khi vào lò đốt được phân loại ra rác hữu cơ và PVC để loại
bỏ hoặc tái chế, rác vô cơ rắn, còn lại đưa vào lò đốt duy trì ở nhiệt độ 1000
- 11000C Khi đốt rác sẽ sinh khói độc và dễ sinh Dioxin nếu giải quyết việc
xử lý khói không tốt (phần xử lý khói là phần đắt nhất trong công nghệ đốt rác)
Năng lượng phát sinh có thể tận dụng cho lò hơi, lò sưởi, hoặc tận dụng cho các ngành công nghiệp nhiệt và phát điện Mỗi lò đốt phải được trang bị một hệ thống xử lý khí thải tốn kém, nhằm khống chế ô nhiễm không khí do quá trình đốt gây ra Phương pháp dùng lò đốt thiêu hủy chỉ đạt hiệu suất tối ưu khi các thành phần khó cháy trong rác thải < 30%
Giảm thể tích chất thải rắn tới 70-90%
Khử được chất nguy hiểm, giảm độc tính cho chất thải đem đốt, xử lýtriệt để những vi sinh vật gây bệnh, ngăn ngừa lây lan dịch bệnh cho cộng đồng
Thu hồi được năng lượng có trong chất thải
Trang 16 Thời gian xử lý nhanh (chỉ khoảng 3 - 4 ngày) so với phương pháp chôn lấp và phân hủy sinh học.
Nguy cơ gây ô nhiễm nước ngầm ít
Là thành phần quan trọng trong chương trình quản lý tổng hợp chất thải rắn
Có thể xử lý chất thải rắn tại chỗ mà không cần phải vận chuyển đi
xa, tránh được các rủi ro và chi phí vận chuyển
Đòi hỏi chi phí đầu tư xây dựng lò đốt, chi phí vận hành và xử lý khí thải lớn
Việc thiết kế, vận hành lò đốt phức tạp, đòi hỏi công nhân vận hành
có năng lực kỹ thuật và có tay nghề cao
Gây ô nhiễm thứ cấp, sinh ra nhiều khí độc hại nếu không kiểm soát tốt quá trình
Rác độc hại về mặt sinh học;
Rác không phân hủy sinh học được;
Chất thải có thể bốc hơi và do đó dễ phân tán;
Chất thải có thể đốt cháy với nhiệt độ dưới 40oC;
Chất thải chứa halogen, chì, thủy ngân, cadimi, kẽm, nitơ, photpho, sulfur;
Chất thải dung môi;
Trang 17 Dầu thải, nhũ tương dầu và hỗn hợp dầu;
Nhựa cao su và mủ cao su; Rác dược phẩm;
c) Phương pháp sinh học
Phương pháp này dựa trên khả năng phân hủy các chất hữu cơ trong chất thải bởi vi sinh vật Phương pháp này được ứng dụng để chuyển các chất hữu cơ thành phân bón hoặc phân hủy chúng tạo khí sinh học
Xử lý rác thải tạo khí sinh học: Đây là phương pháp sử dụng phân
hủy yếm khí rác thải nhằm loại trừ các thành phần gây ô nhiễm môi trường, các chất vô cơ, hữu cơ thu khí sinh học Nguyên liệu là rác thải cần được xử
lý trước bằng cách đập dập nát hoặc băm thành những mẩu nhỏ dài 1 - 3cm Sau đó xếp thành đống theo từng lớp dày khoảng 50cm rồi rắc lên đó Hàng ngày tưới nước để giữ rác luôn trong điều kiện ngập nước Sau thời gian khoảng 60-70 ngày sẽ phân huỷ sinh khí chủ yếu là khí mêtan Khí nàyđược tận dụng làm năng lượng Tuy nhiên phương pháp này chỉ thích hợp với xử lý rác thải giàu protein thường là phân người, phân gia súc, chất thải nhà máy đường…cần bổ sung các thành phần này
Xử lý ủ rác lên men sản xuất phân hữu cơ (phân
compost): Công nghệ ủ rác làm phân là một quá trình phân giải phức tạp
gluxit, lipit và protein do hàng loạt các vi sinh vật hiếu khí và kị khí đảm nhiệm Công nghệ có thể là ủ thành luống hoặc ủ đống , cũng có thể ủ trong các thiết bị khác như container, thùng quay, …sau khoảng thời gian khoảng
60 - 70 ngày phân huỷ tạo thành mùn (compost) Mùn này có hàm lượng
Trang 18dinh dưỡng cao, tạo độ tơi xốp, rất tốt cho việc cải tạo đất, có thể dùng bón cho cây trồng.
Loại trừ được 50% lượng rác thải sinh hoạt gồm các chất hữu cơ là thành phần gây ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí
Sử dụng lại được 50% các chất hữu cơ có trong thành phần rác thải
để chế biến làm phân bón phục vụ nông nghiệp theo hướng cân bằng sinh thái Hạn chế việc nhập khẩu phân hóa học để bảo vệ cho đất đai
Giảm lượng rác đem chôn lấp, tiết kiệm được diện tích đất sử dụng làm bãi chôn lấp Tăng khả năng chống ô nhiễm môi trường Cải thiện điều kiện sống của cộng đồng
Vận hành đơn giản, bảo trì dễ dàng Dễ kiểm soát chất lượng sản phẩm
Giá thành tương đối thấp, có thể chấp nhận được
Thu hồi lại một số loại rác có thể tận dụng để tái chế phục vụ cho công nghiệp
Tránh lãng phí tài nguyên
Mức độ tự động của công nghệ chưa cao
Phương pháp phân loại còn thủ công nên ảnh hưởng đến sức khỏecho người lao động
Nạp liệu thủ công, năng suất kém
Trang 19 Phần tinh chế chất lượng kém do tự trang tự chế.
Trong quy mô công nghiệp, tạo ra nước rác và mùi còn chưa kiểmsoát được hết
Chỉ xử lý được các thành phần hữu cơ
Đòi hỏi vốn đầu tư lớn
Đây chỉ là một số phương pháp xử lý chất thải rắn thường hay được
sử dụng nhất ở nước ta cũng như ở nhiều nước khác trên thế giới Tuy nhiênmỗi phương pháp đều có những ưu nhược điểm riêng của nó Vì vậy khi xử
lý chúng ta cần phải xem xét thật kỹ các yếu tố cần thiết để lựa chọn một phương pháp xử lý cho phù hợp
1.2 Quy trình quản lý chất thải rắn đô thị thành phố Quy Nhơn
Thành phố Quy Nhơn là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa và xãhội của tỉnh Bình Định, là thành phố cảng, đầu mối giao thông thủy bộ quan trọng của vùng Nam Trung Bộ, cửa ngõ quan trọng của Tây
Nguyên, Nam Lào, Đông Bắc Campuchia, Thái Lan ra biển Đông Có vị trí quan trọng về an ninh, quốc phòng Đồng thời là một trong những đô thị hạt nhân của vùng Nam Trung Bộ
Ngày 25/01/2010 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số159/QĐ-TTg công nhận thành phố Quy Nhơn là đô thị loại 1, trực thuộc tỉnh Bình Định Và phát triển Quy Nhơn đến năm 2020 trở thành đô thị trực thuộc Trung ương trên hành lang Bắc – Nam và Đông – Tây; một
Trang 20trung tâm công nghiệp, thương mại, du lịch, giao dịch quốc tế có vai trò thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của khu vực
1.2.1 Đặc điểm khu vực
1.2.1.1 Vị trí địa lý
Thành phố Quy Nhơn ở phía Nam tỉnh Bình Định có tọa độ: 13o46’
vĩ độ Bắc và 119o14’ kinh độ Đông Phía Bắc giáp huyện Tuy Phước và Phù Cát, phía Nam giáp huyện Sông Cầu tỉnh Phú Yên, phía Đông giáp biển Đông, phía Tây giáp huyện Tuy Phước
1.2.1.2 Địa hình
Khu vực thành phố Quy Nhơn có địa hình đa dạng gồm cả đồi núi,
có dãi đất bằng phẳng, ruộng lúa, bãi, đầm, hồ, sông ngòi, biển, bán đảo
và đảo, có bờ biển dài 42km Thành phố Quy Nhơn chia làm 2 khu vực: khu vực thành phố cũ và khu vực mở rộng bán đảo Phương Mai
1.2.1.3 Khí hậu
Thành phố Quy nhơn nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa Mùa khô từ tháng 1 đến tháng 8, mùa mưa từ tháng 9 đến 12, 80% lượng mưa cả năm tập trung vào mùa mưa Mùa mưa ở đây bão rất dữ dội,
Trang 21thường tập trung từ tháng 9 đến tháng 11, trong đó tháng 10 thường có bão nhiều nhất
Khu vực chịu tác động của 2 luồng gió chính Mùa đông là hướng Tây Bắc và Bắc, mùa hè chủ yếu hướng gió Đông và Đông Nam Tốc độ gió bình quân là 2 -3 m/s Ở vùng đồng bằng ven biển khi có bão thì tốc
độ gió đạt 40m/s
Nhiệt độ trung bình: 27,4oC ( cao nhất: 39,1oC, thấp nhất: 15,5oC)
Độ ẩm trung bình: 80%
Tổng số giờ nắng trung bình năm: 2521 giờ
Thủy triều: 154cm (cao nhất: 260cm, thấp nhất: 44cm)
(Nguồn: số liệu từ trạm khí tượng Quy Nhơn)
Nói chung khí hậu Quy Nhơn tương đối thuận lợi, lượng mưa không quá nhiều, mùa đông có nhiệt độ không quá thấp, nhiều nắng – tương đối thích hợp cho việc xây dựng đô thị, tuy nhiên khô hạn cũng thường kéo dài gây nên cạn kiệt nguồn nước mặt, ảnh hưởng đến sinh hoạt và sản xuất, chế độ mưa lũ không đều trong năm, thường tập trung hơn 80% vào khoảng 3 tháng mùa mưa cũng gây nên những tác động khókhăn cho việc xây dựng cải tạo hệ thống thoát nước
1.2.2 Đặc điểm thủy văn
Thành phố Quy Nhơn nằm ở phía Nam con sông Hà Thanh, con sông này dài 85km bắt nguồn ở độ cao 1100m phía Tây Nam huyện Vân Canh chảy theo hướng Tây Nam - Đông Bắc đến Diêu Trì chia thành 2
Trang 22nhánh: Hà Thanh và Trường Úc đổ ra đầm Thị Nại qua 2 cửa Hưng Thanh và Trường Úc rồi thông ra biển Quy Nhơn Diện tích lưu vực 580
km2 Con sông này thường bị cạn vào mùa khô, mùa mưa nước chảy xiết
và thường gây ngập lụt vào tháng 10 tới tháng 11 Sông trong địa bàn tỉnh Bình Định ngắn và dốc, cửa sông thường bị bồi lấp và bị ảnh hưởng của chế độ thủy triều
1.2.3 Điều kiện kinh tế xã hội
1.2.3.1 Dân số lao động
Theo số liệu của niên giám thống kê thành phố Quy Nhơn, dân số chính thức của thành phố năm 2008 là 271248 người Trong đó, dân số nội thị là 242002 người, chiếm 90,3% dân số toàn thành phố
Diện tích và dân số trung bình trong các năm gần đây của các phường, xã của thành phố Quy Nhơn, cân đối lao động xã hội được trình bày trong các bảng sau:
Bảng 2.1 Đơn vị hành chính, diện tích, dân số thành phố Quy Nhơn
năm 2008
TT Tên phường xã
Số thôn,khu phố
Diện tích(km2)
Dân số( người)
Mật độ (người/km2)
Trang 23(Nguồn: Niên giám thống kê thành phố Quy Nhơn năm 2008)
Bảng 2.2 Cân đối lao động xã hội (người)
TT Cơ cấu lao động
Năm2005
Năm2006
Năm2007
Trang 24Không có nhu cầu làm việc 5490 5388 7424 7595
(Nguồn: Niên giám thống kê thành phố Quy Nhơn năm 2008)
1.2.3.2 Kinh tế - xã hội [16]
Cùng với cuộc sống công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, thành phố Quy Nhơn đã có những bước phát triển rõ rệt, đời sống của người dân ngày càng nâng cao
nhanh và phát triển, tổng giá trị sản phẩm địa phương (GDP) theo giá trị thực tế năm 2009 đạt 7571,865 tỷ đồng, tăng 6453 tỷ đồng so với năm
1998, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm trong 5 năm qua là 13,18%; GDP bình quân đầu người năm 2009 đạt 26,9 triệu đồng, tăng 22,516 triệu đồng so với năm 1998 Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo
hướng tích cực: công nghiệp và xây dựng 50,16% - dịch vụ 44,02% -
Trang 25nông , lâm, thủy sản 5,82% Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2009 đạt 4205,25 tỷ đồng, tăng 3789,439 tỷ đồng so với năm 1998, tốc độ phát triển bình quân hàng năm 5 năm qua là 14,29%
thao, lễ hội luôn diễn ra sôi nổi thu hút đông đảo quần chúng và thanh thiếu niên tham gia, góp phần nâng cao đời sống văn hóa tinh thần và rèn luyện sức khỏe trong nhân dân Sự nghiệp giáo dục – đào tạo có bước phát triển khá toàn diện về quy mô và chất lượng Hệ thống trường, lớp được đầu tư xây dựng ngày càng khang trang, cơ sở vật chất phục vụ cho việc dạy và học được tăng cường
2191 giường, trong đó bệnh viện tuyến thành phố là 290 giường; bệnh viện tuyến khu vực, ngành, tỉnh và ngoài công lập là 1901 giường Công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe của nhân dân từng bước mở rộng và nâng cao chất lượng
Thành phố Quy Nhơn là một khu đô thị đông dân cư, và đang trong giai đoạn phát triển, dân số đô thị tăng nhanh, mật độ xây dựng khá cao, các cơ sở sản xuất công nghiệp dịch vụ và xã hội cũng đang trong giai đoạn xây dựng và phát triển, do vậy lượng rác thải hàng ngày lớn và đang ngày một tăng, có ảnh hưởng nhiều đến môi trường đô thị
Trang 261.3 Hiện trạng quản lý chất thải rắn đô thị ở thành phố Quy Nhơn
1.3.1 Nguồn phát sinh chất thải rắn đô thị thành phố Quy Nhơn
Chất thải rắn của thành phố Quy Nhơn được thải ra từ các hộ gia đình, các chợ, các xí nghiệp sản xuất, các bệnh viện, đường hè phố, các công trình công cộng và phế thải xây dựng trong thành phố
1.3.2 Khối lượng và thành phần chất thải rắn của thành phố
1.3.2.1 Khối lượng: Khối lượng rác thay đổi tùy theo các thời kì
trong năm: các ngày lễ, tết, mùa trái cây…Theo số liệu thống kê của Chi cục bảo vệ môi trường, năm 2008 khối lượng chất thải rắn phát sinh hàngcủa thành phố Quy Nhơn trung bình khoảng 320 tấn/ ngày (dao động trong khoảng 10%)
vực nội thành chiếm khoảng 180 tấn/ngày với chỉ số phát thải bình quân đầu người ở mức 0,7kg/người/ngày
đô thị Quy Nhơn thì tổng lượng chất thải rắn y tế phát sinh là 520
tấn/năm (1,42 tấn/ngày) với chỉ số phát thải trong khoảng từ 1,8 – 2,2 kg/giường/ngày đêm, trong đó chất thải nguy hại chiếm khoảng 10%
vật liệu, nhiên liệu, phế thải từ hoạt động trong sản xuất công nghiệp và các phế thải từ quá trình xây dựng Hiện chưa có số liệu thống kê đầy đủ
Trang 27về khối lượng phát thải hàng năm trên địa bàn Riêng chất thải rắn công nghiệp không nguy hại, theo số liệu thống kê của Chi cục bảo vệ môi trường thì tổng lượng phát thải hàng ngày trên địa bàn là 79 tấn/ngày
1.3.2.2 Thành phần
Thành phần chất thải rắn đô thị thành phố Quy Nhơn không cố định mà thay đổi theo thời gian và điều kiện sống Tuy nhiên, đó chỉ là sựthay đổi về lượng còn thành phần định tính thì hầu như không thay đổi vàbao gồm các thành phần sau:
Bảng 2.3 Thành phần chất thải rắn sinh hoạt của thành phố Quy
Nguồn: Báo cáo kết quả phân loại thành phần rác thải sinh hoạt tại
thành phố Quy Nhơn, Công ty Môi trường đô thị Quy Nhơn
Trang 28Bảng 2.4 Thành phần rác thải y tế [1], (Nguồn: Bộ Y tế)
Thành phần Tính chất nguy hại Tỷ lệ %
Chai lọ thủy tinh, xilanh thủy tinh,
ống thuốc thủy tinh
Thành phần chất thải rắn thương mại giống như thành phần của chất thải rắn sinh hoạt thành phố
Mỗi khu vực khác nhau sẽ có thành phần và khối lượng rác khác nhau Trong công tác quản lý rác thải đô thị, khối lượng và thành phần rác là hai thông số cơ bản và quan trọng nhất trong việc thiết kế hệ thống quản lý rác như lựa chọn thiết bị chứa, thu gom và vận chuyển, phân tuyến và mạng lưới thu gom, đề ra các văn bản pháp quy phục vụ công tác quản lý cũng như việc lựa chọn phương pháp xử lý
1.3.3 Hiện trạng quản lý chất thải rắn đô thị thành phố Quy Nhơn 1.3.3.1 Hiện trạng phân loại, thu gom và vận chuyển
a) Phân loại:
Trang 29Việc phân loại chất thải rắn là một việc làm rất quan trọng nó quyết định tới hiệu quả của quá trình quản lý các nguồn chất thải thuộc loại này Cũng bởi thực trạng của quản lý chất thải hiện nay ở Quy Nhơn việc phân loại chất thải rắn chưa được thực hiện tốt, tình trạng các loại chất thải rắn được đổ thải lẫn lộn với nhau và đưa đến bãi chôn lấp diễn
ra phổ biến Việc làm này vừa gây ô nhiễm môi trường xung quanh bãi chôn lấp vừa không tận dụng triệt để được một số phế thải để tái sử dụng hoặc tái sản xuất đồng thời thể hiện sự hạn chế trong quản lý
đình, cơ quan, trường học, chợ đều thu gom chung và đưa đến bãi rác, còn chất thải vườn như rơm rạ, rau, quả được sử dụng lại để làm phân bón, làm thức ăn cho gia súc, hoặc làm chất đốt
như bột cưa, gỗ vụn trong chế biến gỗ, chất thải rắn từ quá trình chế biến đông lạnh, được phân loại riêng để làm chất đốt hoặc bán cho những cơ
sở chế biến thức ăn gia súc , còn lại các chất thải rắn khác không có giá trị đối với doanh nghiệp đó thì hầu như không được phân loại mà đổ thải chung với chất thải rắn sinh hoạt
y tế nguy hại (năm 2001) thì hầu hết các bệnh viện trong Tỉnh, các trung tâm y tế thuộc các huyện nằm trên đường quốc lộ (6/11 huyện) đã có quy
Trang 30định phân loại rác tại nguồn, theo đó chất thải sinh hoạt được thu gom riêng (theo ký hiệu màu của bao, thùng đựng rác).
dẫn cụ thể địa điểm đổ thải, đơn vị chuyên chở Trong suốt thời gian qua,các hộ gia đình, các tổ chức có chất thải này thường thuê tư nhân chở lén lút đổ vào các bãi đất trống gần khu vực của mình, tạo nên các bãi rác thứphát gây mất mỹ quan đô thị và ô nhiễm
b) Hiện trạng thu gom, vận chuyển chất thải rắn đô thị
Công ty môi trường đô thị không có đủ các nguồn tài chính để có thể tự trang trải cho các hoạt động lưu giữ, xe cộ thu gom vận chuyển và các thiết bị khác cần để có thể cung cấp dịch vụ cho phần lớn các phườngnội thị và các vùng xã vùng đảo Hậu quả của điều này là những hộ gia đình không được cung cấp dịch vụ đã sử dụng những biện pháp không chính thống để đổ bỏ rác thải của họ Những biện pháp điển hình như chôn ở nơi đất trống, đốt ngoài trời, đổ ra các bãi biển, các vực nước như biển, sông, hoặc các kênh mương hở Điều này gây ra những tác động tới
mỹ quan, tới chất lượng môi trường và sức khỏe cộng đồng Sự lưu giữ chất thải rắn trong các kênh mương hở đã làm tắc nghẽn dòng chảy và gây nên ngập úng cục bộ, còn việc lưu giữ rác thải trên các đường phố bao gồm cả rác thải trên bãi biển đã gây ra những tác động tiêu cực tới dulịch
Trang 31Thu gom rác thải từ các ngõ hẻm ở thành phố Quy Nhơn hầu hết làlao động thủ công với hiệu suất thấp.
Các phương tiện xe cộ thu gom của Công ty môi trường đô thị cũ
và lạc hậu Điều này đã làm cho chi phí vận hành và bảo dưỡng cao và hỏng hóc thường xuyên Hầu hết phương tiện xe cộ của Công ty không được trang bị thiết bị nâng thủy lực Rác thải thường được xúc thủ công vào các xe thu gom tại các điểm lưu giữ tạm thời Công việc thu gom thủ công nặng nhọc này đã gây nên các bệnh nghề nghiệp và vận hành không
an toàn cho công nhân thu gom
Vì không có đủ số lượng các sọt đựng rác dùng để thu gom rác thảitừng hộ gia đình tại các hẻm, công nhân thu gom phải đổ rác thải ra các điểm lưu giữ tạm thời trên đất Thực tế này đã làm tăng thời gian chất tải rác vào các xe thu gom, rác thải bị đổ trên đất gây mùi và tạo điều kiện hấp dẫn các côn trùng và giảm mỹ quan của khu vực
Công nhân thu gom rác thải không được đào tạo về bệnh nghề nghiệp và những kiến thức về an toàn, rủi ro trong công việc của họ
Phân xưởng cơ khí, bảo dưỡng xe cộ của Công ty không đủ
phương tiện và trang thiết bị để sữa chữa và bảo trì các xe cộ thu gom đã quá cũ
năm 2008 ở khu vực nội thành thành phố, tuy nhiên tại khu vực 4 xã đảo,bán đảo của thành phố thì tỷ lệ này chỉ đạt khoảng 60%
Trang 32Bảng 2.5 Khối lượng chất thải rắn sinh hoạt được thu gom hàng
ngày trên địa bàn thành phố Quy Nhơn.
Số hộ giađình
Lượng rác thảirắn thu gom
Trang 33- Dịch vụ thu gom và xử lý chất thải y tế lây nhiễm hiện chưa được cung cấp cho các cơ sở y tế ở các tuyến huyện trên địa bàn Tỉnh Chất thải được chôn lấp trong khuôn viên của bệnh viện gây ra nguy cơ rủi ro
về chất ô nhiễm đối với nguồn nước ngầm và nước mặt Nếu chất thải loại này không được che đậy cẩn thận sẽ rất có khả năng gây nguy cơ truyền bệnh lây nhiễm cho các bệnh nhân, nhân viên y tế cũng như nhữngngười nuôi bệnh
- Các chất y tế lây nhiễm ở phòng khám nhỏ, các cơ sở y tế tư nhân trên địa bàn thành phố không được tách riêng và được Công ty môi
trường đô thị thu gom thông thường mà không hề có khử trùng trước, mặc dù số lượng của chất thải y tế lây nhiễm không nhiều nhưng lại gây
ra nguy cơ rất lớn về khả năng lan truyền bệnh lây nhiễm và gây thương tích do các vật sắc nhọn gây ra cho nhân viên thu gom và nhân viên vận hành tại bãi chôn lấp cũng như cho những người bới rác
- Nhiều cơ sở y tế không có các dụng cụ chứa chất thải nguy hại theo cách thức an toàn trước khi chúng được Công ty môi trường đô thị thu gom và vận chuyển đến nơi xử lý
Trang 34- Tại bệnh viện Lao, nơi đặt lò đốt chất thải y tế lây nhiễm, không được trang bị nhà lạnh để lưu chứa chất thải từ các cơ sở y tế do Công ty môi trường đô thị vận chuyển đến Điều này hiện có thể tạm thời được chấp nhận trong điều kiện lò đốt vận hành bình thường Trong trường hợp có sự cố, lò đốt bị hỏng, chất thải lây nhiễm bị tích lũy trong thời gian vài ngày sẽ gây ra mùi và khả năng lan truyền bệnh do các vật dụng đựng chất thải lây nhiễm không được đậy kín theo đúng quy cách Tro sau đốt sẽ được Công ty môi trường đô thị Quy Nhơn vận chuyển đến bãichôn lấp tại khu xử lý chất thải rắn Long Mỹ
vẫn chưa triệt để Chỉ có một cở sở ký hợp đồng với đơn vị thu gom rác thì mới thu gom được lượng rác này và được thu gom bằng 2 hình thức: chính thống (do đơn vị chuyên trách thu gom chất thải rắn đảm nhận) và không chính thống (do người dân, các cơ sở tái chế, tái sử dụng lại chất thải rắn này và thu gom và mua về)
đang quản lý một số loại chất thải khác như sau:
- Phế thải xây dựng và sửa chữa;
Trang 35- Chất thải từ bãi biển: Việc dọn sạch bãi biển hiện đang được thực hiện theo phương thức thủ công Đây là công việc lao động nặng nhọc và chi phí lao động của Công ty môi trường đô thị khá nhiều.
- Chất thải phát sinh từ dọn sau các cơn dông và bão (chủ yếu là cây cối);
- Chất thải từ các tàu thuyền tại cảng của thành phố;
- Chất thải từ mặt nước và nạo vét kênh mương, Công ty môi trườnghiện không có các phương tiện cần thiết để có thể thu gom các loại chất thải tấp vào bãi biển và lắng đọng ở dạng cát bùn Lớp các bùn này được phơi trần ở bãi biển mỗi khi triều xuống
- Hiện Công ty môi trường đô thị Quy Nhơn đang sở hữu hai thuyền
có động cơ để thu gom chất thải từ mặt nước
Thời gian vận chuyển chất thải rắn hàng ngày chủ yếu được thực hiện vào khoảng từ 3 - 5 giờ sáng
1.3.3.2 Hiện trạng bãi chôn lấp chất thải rắn thành phố Quy Nhơn
Trong thời gian từ 1995 đến 2001, rác thải được đổ tại núi Bà Hỏa
ở phường Quang Trung, bãi này cách trung tâm thành phố khoảng 3 km, rộng khoảng 3ha Hiện nay bãi rác này đã đóng cửa nhưng chưa được thực hiện theo phương thức hợp lý
Toàn bộ chất thải rắn đô thị do Công ty môi trường đô thị thu gom hiện được đổ thải tại một bãi chôn lấp thôn Long Mỹ, xã Phước Mỹ,
Trang 36huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định, cách trung tâm thành phố khoảng 22km về phía Tây Bãi chôn lấp này được đưa vào vận hành từ thành 6 năm 2001, với diện tích sử dụng 6ha trên tổng diện tích 30ha của khu vực
Có khoảng 1ha đất đã chôn lấp đầy (lô số 1) cần tiến hành đóng cửa, nhưng hiện vẫn chưa thực thi được do toàn bộ rác thải đã được chôn lấp tại ô này (cao tới độ 10m so với cột mặt đất xung quanh ) và hiện đang bị hở Ô số 1 hiện không có lớp lót đáy theo đúng kỹ thuật cũng như
hệ thống thu gom nước rác ở dưới đáy
Hiện đang đổ rác vào các lô số 2 và 3 (mới được xây dựng năm
2004 theo thiết kế bãi chôn lấp hợp vệ sinh), 2 lô này có diện tích 24ha,
đã xây dựng công trình chống thấm nước rác và đã xây dựng hệ thống mương và đường ống dẫn nước rác về hố thu, nhưng chưa xây dựng đượctrạm xử lý nước rác từ năm 2003 đến nay
Việc đốt rác thải tại bãi chôn lấp Long Mỹ (do những người bới rác tự đốt để phục vụ cho hoạt động bới rác của họ) hiện đã tạo ra nguy
cơ về cháy trong mùa khô và tạo ra một lượng đáng kể khói bụi, mùi, và các loại khí khác Điều này gây ra những tác động tới sức khỏe của nhân viên vận hành bãi và những người bới rác cũng như những người dân ở khu vực cạnh bãi
Nhân viên vận hành bãi Long Mỹ không được đào tạo về bệnh nghề nghiệp và những kiến thức về an toàn, rủi ro trong công việc của họ
Trang 37 Tại bãi chôn lấp chất thải Long Mỹ không có hệ thống thu gom và
xử lý nước rác và rỉ rác Nước rỉ rác từ ô chôn lấp số 1 được lưu giữ trongmột hồ chứa không được lót đáy và không được thiết kế như một công trình xử lý nước rác Hồ chứa này có dung tích không đủ vì vậy vào mùa mưa nước rác bị tràn ra các vực nước xung quanh Do vậy cần tiến hành xây dựng trạm xử lý nước rác hoàn chỉnh thay thế cho hồ chứa này
Tóm lại, môi trường đô thị tại thành phố Quy Nhơn trongnhững năm gần đây đã được cải thiện Đối với chất thải rắn đô thị từng bước đã mở rộng diện tích vào khả năng thu gom nhưng vấn đề về bãi chứa và công tác đầu tư xử lý chất thải rắn mặc dù được các cấp, các ngành quan tâm song vẫn còn nhiều hạn chế Nước thải từ bãi rác vẫn chưa được xử lý kịp thời, công tác quan trắc các bãi rác đã đóng cửa và bãi rác mới chưa được quan tâm đúng mức Đối với các cơ sở sản xuất vàbệnh viện, việc xử lý chất thải cũng đã được cấp lãnh đạo đơn vị quan tâm, song do nhiều yếu khánh quan đặc biệt là vấn đề kinh phí, các công trình xử lý chất thải được xây dựng không nhiều và chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra về vệ sinh môi trường Các công trình xử lý chất thải trongthành phố đã được đầu tư không đồng bộ, ý thức người dân đã được nânglên song chỉ dừng lại ở từng đối tượng, chưa rộng khắp
Trang 38Chương 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA CÁC CÔNG CỤ ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG KHÍ, MÔI TRƯỜNG NƯỚC VÀ
CHẤT THẢI RẮN
Tác động tổng hợp của các nguồn khí thải, nước thải rất quan trọngđối với tác động của các bãi tập kết rác và bãi chôn lấp chất thải rắn đếnmôi trường tự nhiên kinh tế - xã hội Sử dụng phần mềm ISC-ST3 chocông tác quản lý chất lượng môi trường không khí tại các bãi tập kết rác
và bãi chôn lấp chất thải rắn rất phù hợp vì nó có khả năng tính toán chotập hợp nhiều nguồn điểm ổn định với các số liệu khí tượng bất kỳ Phầnmềm này đã được thẩm định và được US-EPA coi là phần mềm chuẩntrong đánh giá tác động môi trường ở Mỹ
Nắm vững cơ sở khoa học của ISC - ST3 là điều cần thiết để có thể
áp dụng phần mềm này một cách đúng đắn Vì vậy, chương 2 của đồ án
sẽ trình bày về cơ sở lý thuyết của ISC-ST3, Streeter- Phelps
2.1 Cơ sở lý thuyết của phần mềm phát tán khí ISC-ST3 [19], [20]
Cơ sở lý thuyết của phần mềm ISC-ST3 (Industrial Source
Complex – Short Term 3: Tổ hợp nguồn thải công nghiệp ngắn hạn) dựa
trên mô hình phát thải Gauss để tính toán nồng độ các chất ô nhiễm tại một vị trí bất kỳ theo không gian và thời gian với các điều kiện khí tượngcho trước Phần mềm ISC-ST3 đã có những hiệu chỉnh và sử dụng nhiều nghiên cứu mới về các thông số nhằm đảm bảo kết quả có độ chính xác cao hơn Chính vì phần mềm ISC-ST3 được phát triển trên cơ sở là mô
Trang 39hình Gauss nên ngay sau đây ta sẽ tìm hiểu một cách sơ lược về mô hình này, từ đó có cách nhìn nhận rõ ràng hơn về phần mềm ISC-ST3 sẽ sử dụng.
2.1.1 Cơ sở lý thuyết của mô hình Gauss
2.1.1.1 Lý thuyết mô hình Gauss
Quá trình khuếch tán của các chất ô nhiễm trong không khí được
đặc trưng bởi nồng độ chất ô nhiễm phân bố trong không gian và biến đổitheo thời gian và được xác định theo phương trình vi phân cơ bản sau :
Kx, Ky, Kz : Các hệ số khuếch tán rối theo phương x, y ,z
α1 : hệ số khi tính đến sự xâm nhập thêm chất ô nhiễm trên đường khuếch tán
α2 : hệ số khi tính đến quá trình biến hóa từ chất ô nhiễm này sang chất ô nhiễm khác do các phản ứng hóa học trên đường khuếch tán
u, v, w : vận tốc gió trung bình theo các phương x, y,z
Để đơn giản hóa người ta thường thừa nhận một số điều kiện gần đúng : coi Ct=0 = 0, α1= 0 và α2= 0 Khi đó phương trình (3.1) trở thành :
Trang 40C : Nồng độ chất ô nhiễm tại vị trí (x,y,z) và tại thời điểm t
Kx, Ky, Kz : Các hệ số khuếch tán rối theo phương x, y ,z
Trong thực tế quá trình khuếch tán các chất ô nhiễm luôn thay đổi theo không gian và thời gian vì vậy tính toán rất phức tạp Để giải
phương trình (3.2) thì xem như các hệ số khuếch tán Kx, Ky, Kz là các
hằng số, nguồn phát thải chất ô nhiễm là ổn định theo thời gian C
t
= 0Giải phương trình (3.2) với các trường hợp sau:
Bài toán 1 chiều :
2
1 exp -