1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải thích pháp luật thực trạng và giải pháp

73 408 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 894,78 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như vậy, có một thực trạng đang diễn ra ở nước ta hiện nay, đó là kết quảgiải thích của Thẩm phán khi giải quyết một vụ việc trên thực tế là rất đáng tin cậy vàkhả thi hay “sự giải thích

Trang 1

ĐẺ TẢI:

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP cử NHÂN LUẬT

KHÓA 34 (2008-2012)

GIẢI THÍCH PHÁP LUẬT THựC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

Giảns viên hướng dẫn:

Th.s HUỲNH THỊ SINH HIỀN

Bộ môn: Luật Hành chính

Sinh viên thua hiên:

PHẠM BỬU LINH MSSV: 5085813 Lớp: Luật Thương mại 2 - K34

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN

Trang 2

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN PHẢN BIỆN

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

LỜI NÓI ĐẰU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Phạm vi nghiên cứu 2

3 Mục tiêu nghiên cứu 2

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 2

5 Bố cục đề tài 2

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VÈ GIẢI THÍCH PHÁP LUẬT 4

1.1 K hái niệm về giải thích pháp luật 4

1.2 Ph ân loại giải thích pháp luật 7

1.3 Sự cần thiết của hoạt động giải thích pháp luật 10

1.3.1 D o một số hạn chế trong hình thức văn bản quy phạm pháp luật 11

1.3.2 Do kỹ thuật lập pháp nước ta còn hạn chế 12

1.3.3 Cầ n thiết cho việc tìm hiểu và áp dụng pháp luât 12

1.4 Phương pháp giải thích pháp luật 13

1.4.1 Phương pháp giải thích logic .13

1.4.2 Phương pháp giải thích ngôn ngữ, văn phạm .14

1.4.3 Phương pháp giải thích chính trị - lịch sử .15

1.4.4 Phương pháp giải thích hệ thống .16

1.4.5 Phương pháp kết họp, tổng họp .17

1.5 M ột số nguyên tắc trong hoạt động giải thích pháp luật 18

1.5.1 Nguyên tắc tôn trọng sự trong sáng của ngôn ngữ .18

1.5.2 Nguyên tắc tôn trọng ý chí của cơ quan lập pháp .19

1.5.3 Tô n trọng Hiến pháp khi tiến hành giải thích pháp luật 19

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VÈ HOẠT ĐỘNG GIẢI THÍCH PHÁP LUẬT Ở VIỆT NAM 21

2.1 Cá c chủ thể liên quan trong hoạt động giải thích pháp luật 21

2.1.1 Ch ủ thể đề nghị giải thích 21

2.1.2 Ch ủ thể giải thích pháp luật 27

2.2 Hì nh thức giải thích pháp luật 32

Trang 4

CHƯƠNG 3 THựC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ

TRONG HOẠT ĐỘNG GIẢI THÍCH PHÁP LUẬT 43

3.1 Th

ực trạng hoạt động giải thích pháp luật ở Việt Nam 433.1.1 Mặt tích cực của hoạt động giải thích pháp luật43

3.1.2 Mặt hạn chế của hoạt động giải thích pháp luật44

3.2.Một số giải pháp, kiến nghị góp phần nâng cao hiệu quả trong hoạt

động giải thích pháp luật 583.2.1 Tiến hành xây dựng Luật giải thích pháp luật 59

3.2.2 Xây dựng quy trình, thủ tục giải thích Hiến pháp59

3.2.3 Mởrộng phạm vi chủ thể được quyền đề nghị giải thích pháp luật 603.2.4 Chia thẩm quyền giải thích pháp luật cho những chủ thể thích họp vớiđối

tượng của hoạt động giải thích pháp luật 613.2.5 Nh

Trang 5

Luận văn tốt nghiệp De tài: Giải thích pháp luật - Thực trạng và giải pháp

LỜI NÓI ĐÀU

1 Lý do chọn đề tài

Trong giai đoạn xã hội hiện nay, tình hình kinh tế đang có những chuyển biếntích cực, các quan hệ quốc tế trong tiến trình hội nhập và toàn cầu hóa phát triển rấtnhanh chóng và đa dạng Cùng với sự phát triển đó, các mối quan hệ trong xã hội ởnước ta, cũng như những vấn đề phát sinh khi nước ta mở cửa hội nhập giao lưu cùngbạn bè quốc tế sẽ phát triển ngày càng đa dạng và phức tạp Do đó, việc phát sinh cáctranh chấp xảy ra ngày càng nhiều Tuy nhiên, hệ thống pháp luật ở nước ta vẫn cònbộc lộ những hạn chế Trong đỏ, tình ừạng “luật khung” làm phát sinh nhiều vấn đềnhư: các quy định mang tính nguyên tắc là chủ yếu, nhiều quy định pháp luật còn rấtchung chung, mập mờ dẫn đến tình trạng khó hiểu hoặc có thể hiểu theo nhiều cáchhọp lý khác nhau Từ đó ảnh hưởng rất lớn đến công tác quản lý của nhả nước và sựphát triển của đất nước Vì vậy, giải thích pháp luật là một nhu cầu tất yếu, tức là luậtcần phải được giải thích một cách rõ ràng, cụ thể và nhất là phải đúng với ý chí củanhà làm luật, đưa ra một cách hiểu chung nhất giúp cho hoạt động tìm hiểu pháp luật

và áp dụng pháp luật được tiến hành một cách nghiêm minh, đúng đắn

Mặc dù tầm quan trọng và sự cần thiết của hoạt động giải thích pháp luật đãđược thừa nhận từ rất sớm khi được ghi nhận trong Hiến pháp năm 1959, thế nhưngcác nhà làm luật ở nước ta vẫn chưa dành cho công tác này sự quan tâm đúng với ýnghĩa mà nó mang lại Bằng chứng là cho đến nay các cơ sở pháp lý của hoạt động giảithích pháp luật vẫn được quy định rải rác ở một số văn bản mà chưa có một luật riêngnào điều chỉnh cụ thể, dẫn đến hoạt động này ít được tiến hành trên thực tế, dù nhu cầugiải thích pháp luật ở nước ta rất nhiều

Từ thực trạng đó cùng với những yêu cầu cấp bách của xã hội làm cho hoạtđộng hướng dẫn chi tiết thi hành “lấn át” hoạt động giải thích pháp luật Do nhữngđiều kiện khách quan như vậy đã làm cho hoạt động hướng dẫn chi tiết thi hành mangnét gần giống như giải thích pháp luật, từ đó dẫn đến sự nhần lẫn giữa hai hoạt độngnày Trong khi đây là hai hoạt động hoàn toàn khác nhau, từ chủ thể có thẩm quyềnđến mục đích

Trước thực trạng hoạt động giải thích pháp luật chưa được coi trọng tại ViệtNam như hiện nay, dù hệ quả tích cực mà hoạt động này mang lại là rất nhiều, cùngvới nhu cầu giải thích pháp luật của xã hội, nên việc nghiên cứu về hoạt động giảithích pháp luật trên cơ sở lý luận và thực tiễn mang tính cấp thiết Thông qua việcnghiên cứu, nhận ra những bất cấp của hoạt động này về pháp lý cũng như thực tiễn, từ

đó đưa ra những giải pháp khắc phục nhằm góp phần giải quyết phàn nào những bất

Trang 6

Luận văn tốt nghiệp De tài: Giải thích pháp luật - Thực trạng và giải pháp

cập mà thực tiễn đã phát sinh Đây chính là nguyên do mà người viết quyết định chọn

đề tài: “Giải thích pháp luật- Thực trạng và giải pháp ” làm đề tài nghiên cứu luận văn

tốt nghiệp cử nhân của mình

3 Mục tiêu nghiên cứu

Trên cở sở kế thừa những kết quả nghiên cứu về vấn đề giải thích pháp luật kếthọp với việc tìm hiểu các quy định của pháp luật, người viết muốn làm sáng tỏ các vấn

đề pháp lý về hoạt động giải thích pháp luật cũng như nêu lên một số khó khăn, vướngmắc trong thực tiễn áp dụng hoạt động này Từ đó, đưa ra những đề xuất và giải phápnhằm nâng cao hiệu quả hoạt động giải thích pháp luật, giúp cho pháp luật tăng cườngtính nghiêm minh, hiệu lực và hiệu quả trong quá trình thi hành và áp dụng Qua đótăng cường pháp chế và bảo vệ trật tự pháp luật, đồng thời, góp phần vào quá trình cảicách tư pháp ở nước ta

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở vận dụng phương pháp nghiên cứu lý luậntrên tài liệu sách vở, phương pháp so sánh, phân tích luật viết, tổng họp số liệu thực tếdựa trên cơ sở những quy định của pháp luật hiện hành kết họp với việc tìm hiểunghiên cứu thực tiễn để làm rõ nội dung đề tài

5 Bố cục đề tài

Luận văn được sắp xếp theo kết cấu sau:

Mục lục;

Lời nói đầu;

Chương 1 Khái quát chung về giải thích pháp luật;

Chương 2 Quy định của pháp luật về hoạt động giải thích pháp luật ở Việt

Trang 7

Luận văn tốt nghiệp De tài: Giải thích pháp luật - Thực trạng và giải pháp

Kết luận;

Danh mục tài liệu tham khảo

Do hạn chế về mặt thời gian cũng như về kiến thức, đề tài có thể sẽ còn một sốvấn đề mà người viết chưa nghiên cứu tới hoặc không được trọn vẹn Người viết rấtmong nhận được sự nhận xét và đóng góp từ quý Thầy, Cô để đề tài nghiên cứu đượchoàn thiện hom

Trang 8

Luận văn tôt nghiệp Đề tài: Giải thích pháp luật - Thực trạng và giải pháp

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VÈ GIẢI THÍCH PHÁP LUẬT

Tất cả các hệ thống pháp luật trên thế giới đều không thể thiếu hoạt động giảithích pháp luật, dù đất nước đó có kỹ năng lập pháp giỏi đến đâu đi nữa Bởi trong quátrinh lập pháp không phải lúc nào nhà làm luật cũng có thể tạo ra những “sản phẩm”hoàn thiện mà đôi khi có thể đi ngược lại với ý muốn của mình Đồng thời, nhà lảmluật cũng là những con người bình thường, họ không thể tiên liệu trước những khảnăng có thế xảy ra, vì vậy trong quá trinh thi hành và áp dụng pháp luật sẽ làm phátsinh một số vấn đề mà pháp luật hiện hành quy định “gằn tới” hoặc có nhưng không rõràng và cụ thể, khi đó đòi hỏi pháp luật phải được giải thích để sao cho chủ thể tiếnhành cỏ thể áp dụng giải quyết vấn đề một cách họp lý nhất Bên cạnh đó, trình độnhận thức của mỗi người là khác nhau nên khó có thể hiểu hết, đúng với ý chí của nhàlàm luật hoặc một số đối tượng có thể lợi dụng để cố tình hiểu sai, hiểu lệch đi so vớimục đích mà nhà làm luật muốn hướng tới, từ đó có thể dẫn tới những tiêu cực cho xãhội Do đó, hoạt động giải thích pháp luật là một vấn đề rất cần thiết và quan trọng,đặc biệt là ừong giai đoạn hiện nay khi mà các mối quan hệ trong xã hội ngày càng có

xu hướng phức tạp Đe hiểu rõ như thế nào là giải thích pháp luật? Có những cách thứcgiải thích nào? Được tiến hành thông qua các phưomg pháp gì? Giải đáp được vấn đềtrên, cũng chính là nội dung mà người viết muốn đề cập đến trong phạm vi chưomgnày

1.1 Khái niệm về giải thích pháp luật

Trong hoạt động quản lý nhà nước, quản lý xã hội, đặc biệt trong Nhà nướcpháp quyền thì pháp luật có một vai trò không thể phủ nhận và thay thế được Phápluật với vị trí và vai trò vốn có của nó là một công cụ quản lý cơ bản và chủ yếu củanhà nước để quản lý nhà nước và xã hội Các quy định của pháp luật được đặt ra là đểđiều chỉnh các quan hệ xã hội theo một hướng nhất định, thông qua việc thực hiện và

áp dụng sẽ tác động một cách trực tiếp hoặc gián tiếp đến từng chủ thể pháp luật

Do đó, việc hiểu đúng, đầy đủ và chính xác các quy định của pháp luật để thựcthi và áp dụng pháp luật một cách nghiêm minh và có hiệu quả là một yêu cầu hết sứccần thiết của bất cứ một hệ thống pháp luật nào

Chính vi vậy, việc giải thích pháp luật là một hoạt động quan trọng và cần phảiđặt trong sự quản lý của nhà nước Bởi vì, nếu bất cứ kết quả giải thích pháp luật nàocũng đều được công nhận thì mỗi chủ thể sẽ có cách giải thích riêng, theo nhận thức,trình độ chuyên môn Điều này sẽ làm cho hệ thống pháp luật rối tung, trật tự xã hội

Trang 9

PGS TS Hoàng Thị Kim Quế, Một số vẩn đề về giải thích pháp luật, Quan niệm và vai trò, ý nghĩa trong thực

Luận văn tốt nghiệp De tài: Giải thích pháp luật - Thực trạng và giải pháp

bị đảo lộn, không thể quản lý Để khắc phục tình trạng đó, pháp luật các nước đều ghi

nhận hoặc thừa nhận những hoạt động giải thích nào là giải thích chính thức, họp pháp

và cỏ giá trị pháp lý; giải thích pháp luật là một thẩm quyền của một chủ thể nhất định

mang quyền lực nhà nước

Tuy nhiên, cho đến nay trong các văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quannhà nước có thẩm quyền vẫn chưa đưa ra được khái niệm chính thống về giải thích

pháp luật Ngược lại, trong khoa học pháp lý lại có rất nhiều quan điểm khác nhau về

“tư tưởng, tinh thần” của quy phạm pháp luật mà các nhà làm luật đã “gửi gắm” vào

trong quy phạm pháp luật đó Đây chính là những yếu tố mà nhất thiết trong khái niệm

về hoạt động giải thích pháp luật cần phải có Tuy nhiên, cách định nghĩa này vẫn

chưa thể hiện hết nội dụng mà “khái niệm” cần có, đó là về mặt chủ thể Bởi vì, khi

tiếp cận khái niệm chúng ta sẽ không thể biết được chủ thể nào có thẩm quyền giải

thích pháp luật Do đó, người viết cho rằng định nghĩa này vẫn chưa đầy đủ

Thứ hai, theo Tiến Sĩ Phan Trung Hiền: “Giải thích pháp luật là hoạt động của chủ thể có thấm quyền hoặc không có thấm quyền nhằm làm sảng tỏ tư tưởng, nội

dung và ỷ nghĩa của các quy phạm pháp luật, hướng đến việc nhận thức và ảp dụng

pháp luật được đồng bộ và thống nhất” 1 2

Đây là khái niệm rất rõ ràng và đầy đủ hơn so với khái niệm trước đó Kháiniệm đã nêu một cách rất cụ thể trong hoạt động giải thích pháp luật có hai loại chủ thể

giải thích, đó là chủ thể có thẩm quyền và chủ thể không có thẩm quyền Người viết

nhận thấy cách phân chia này rất phù họp với thực tế hiện nay, nước ta cũng tồn tại hai

loại hình giải thích pháp luật của hai loại chủ thể này Đồng thời, trong một số giáo

trinh ở các trường đào tạo luật của nước ta cũng phân loại giải thích pháp luật bằng

2011, tr.128.

Trang 10

Luận văn tốt nghiệp De tài: Giải thích pháp luật - Thực trạng và giải pháp

cách dựa vào chủ thể giải thích3 Hoạt động giải thích pháp luật trong khái niệm nàyngoài việc làm rõ nội dung của quy phạm pháp luật cần giải thích thì kết quả giải thíchcòn được căn cứ vào chính ý chí của nhà làm luật Đe từ đó “hướng” các chủ thể trongquan hệ pháp luật đi đến một nhận thức và pháp luật cùng được áp dụng một cáchthống nhất

Thứ ba, quan điểm của Tiến Sĩ Hoàng Văn Tú, theo ông “Giải thích pháp luật được hiếu là việc làm rõ hơn về tinh thần, nội dung, phạm vi, ỷ nghĩa và mục đích các quy định của pháp luật so với nội dung ban đầu của nó, giúp mọi người hiểu và thực thi các quy định của pháp luật một cách chinh xác và thống nhất ” 4

Người viết nhận thấy khái niệm này về mặt nội dung không khác mấy so vớihai khái niệm trên, vẫn đi từ việc tiến hành giải thích nội dung của quy phạm phápluật cần giải thích, đảm bảo cho kết quả giải thích phù họp với ý chí của cơ quan lập

pháp, đến việc “giúp mọi người hiểu và thực thỉ các quy định của pháp luật một cách chinh xác và thống nhấtTuy nhiên, theo nhận xét của người viết bản thân khái niệm

này vẫn chưa thỏa đáng ở chỗ “việc làm rõ hom về tinh thần, nội dung, phạm vi, ỷ

nghĩa và mục đích các quy định của pháp luật so với nội dung ban đầu của nó ”, như

vậy “nội dung ban đầu của nó” là nội dung gì? Nội dung đó như thế nào? Tại sao phải

lảm rõ nội dung đó? Theo quan điểm của người viết, “khái niệm” là làm rõ về vấn đề

đó một cách rõ ràng, chính xác, ngắn gọn, không nên đưa vào những nội dung có thểđặt ra nhiều câu hỏi ngay trong khái niệm, điều đó là không logic Hom nữa, đưa vàokhái niệm nội dung này là không cần thiết, bởi quy phạm pháp luật cần được giải thích

là do không rõ nghĩa hay đa nghĩa nên cần phải tiến hành giải thích, đây chính là nộidung ban đàu của quy phạm pháp luật nên khi giải thích là chủ thể giải thích tiến hànhgiải thích chính nội dung này, do đó khái niệm trên đây không cần phải đề cập nhưvậy

Dù có rất nhiều khái niệm được đưa ra nhưng suy cho cùng tất cả đều có chungmột mục đích nhằm giải thích làm rõ các quy định của pháp luật để mọi người có cáchhiểu đúng, không rời xa với ý chí của nhà làm luật

về mặt từ ngữ, để tiến hành phân tích cụm từ “giải thích pháp luật”, điều trước

tiên càn làm là đi tìm hiểu thế nào là “giải thích”? và thế nào là “pháp luật”? Theo từ

3 GS.TS Tràn Ngọc Đường, giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr 367.

Đại học luật Hà Nội, Giáo trình Lý luận Nhà nước và pháp luật, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2007, tr 487.

4 TS Hoàng Văn Tú, Giải thích pháp luật — Một vẩn để cơ bản về lý luận và thực tiễn Việt Nam, Văn phòng Quốc hội, Giải thích pháp luật - Một so vấn đề lý luận và thực tiễn (Kỷ yếu Hội thảo quốc tế tại Hà Nội, tháng 2 Trang 6 SVTH: Phạm Bửu Lỉnh

Trang 11

Từ điển Tiếng Việt thông dụng, Nxb Thanh niên, 2009, ừ 228, 509.

6

Nội, 2007,Luận văn tốt nghiệpư 487. De tài: Giải thích pháp luật - Thực trạng và giải pháp

điển Tiếng Việt thì “giải thích” có nghĩa là làm cho hiểu rõ; “pháp luật” là phép tắc do

nhà nước đặt ra để quy định hành vi của mọi người5 Đồng thời, tìm hiểu qua một số

tài liệu thì “pháp luật” là một khái niệm được ra đời từ rất sớm và luôn gắn liền với

khái niệm nhà nước; được hiểu là hệ thống các quy tắc xử sự chung do nhà nước ban

hành hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị và được bảo đảm thực hiện

bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước; là yếu tố đảm bảo sự ổn định và trật tự xã

hội

Như vậy, nếu tiến hành “lắp ghép” ý nghĩa của hai từ ngữ này lại chúng ta cócách hiểu như sau: giải thích pháp luật là việc làm rõ các quy tắc do nhà nước ban

hành hoặc thừa nhận nhằm định ra một cách hiểu chung nhất

Nhìn chung lại, xét về từ ngữ thì giải thích pháp luật là nhằm làm rõ các quyđịnh của pháp luật hướng đến việc đưa ra một cách hiếu chung nhất, đúng với ý chí

của nhà lập pháp, sao cho pháp luật được áp dụng thống nhất

Từ những lý luận nêu trên, người viết đồng tình với khái niệm của Tiến Sĩ

Phan Trung Hiền Đây là một khái niệm dễ hiểu, ngắn gọn nhưng chính xác và đầy đủ

Hoạt động giải thích pháp luật đã được nêu lên một cách rõ ràng, thể hiện qua việc

phân tích cụ thể hoạt động giải thích pháp luật là làm gì, do ai thực hiện, mục đích đạt

được khi tiến hành giải thích pháp luật Theo Tiến Sĩ Phan Trung Hiền: “Giải thích

pháp luật là hoạt động của chủ thể có thẩm quyền hoặc không có thẩm quyền nhằm

làm sảng tỏ tư tưởng, nội dung và ỷ nghĩa của các quy phạm pháp luật, hướng đến

việc nhận thức và ảp dụng pháp luật được đồng bộ và thống nhất”.

1.2 Phân loại giải thích pháp luật

Cũng giống như khái niệm về hoạt động giải thích pháp luật, hiện nay ở nước tavẫn chưa có bất cứ một văn bản pháp luật nào chính thức phân loại hoạt động giải

thích pháp luật Tuy nhiên, qua tìm hiểu một số bài viết nghiên cứu về lĩnh vực giải

thích pháp luật cũng như giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật của các trường đào

tạo luật ở nước ta Người viết nhận thấy, tuy có nhiều cách phân loại khác nhau nhưng

nhìn chung hoạt động giải thích pháp luật được chia ra làm hai loại, đó là giải thích

không chính thức và giải thích chính thức Tùy theo quan điểm của từng người mà có

Trang 12

Khoản 3 Điều 91 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001), _

Luận văn tốt nghiệp De tài: Giải thích pháp luật - Thực trạng và giải pháp

Giải thích không chính thức là giải thích của bất kỳ một tổ chức hay cá nhân

nào không có thẩm quyền giải thích quy định đang cần được giải thích của pháp luật.Giải thích không chính thức không có giá trị pháp lý, không có tính chất bắt buộc phảithực hiện đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân mà chỉ có tính chất làm sáng tỏ, nộidung, ý nghĩa, tư tưởng của nhà làm luật, giúp mọi người hiểu rõ hom về các quy địnhcủa pháp luật Loại giải thích này thường mang tính chủ quan nên có nhiều hạn chếnhư không chính xác, không thống nhất Tuy nhiên, theo người viết thì giải thíchkhông chính thức cũng có ý nghĩa ở một mức độ nào đó như các giải thích của những

tổ chức, cá nhân cỏ uy tín, các nhà khoa học pháp lý, các luật gia cũng có tác dụngquan trọng, có ảnh hưởng lớn đến ý thức pháp luật, hành vi pháp lý của các chủ thểpháp luật, thông qua đó còn ảnh hưởng đến hoạt động thực hiện và áp dụng pháp luật

Giải thích chính thức là giải thích của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền

theo luật định Nội dung lời giải thích pháp luật chính thức có giá trị pháp lý, nó đượcghi nhận bằng văn bản quy phạm pháp luật và mang tính bắt buộc các tổ chức và cánhân khác phải nhận thức và thực hiện đúng như nội dung lời giải thích Giải thíchpháp luật chính thức có ý nghĩa đặc biệt quan trọng vì vậy nó chỉ do các cơ quan nhànước có thẩm quyền tiến hành theo những trinh tự và thủ tục chặc chẽ mà pháp luậtquy định Tất cả các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội, các cá nhân đều buộc phảinhận thức và thực hiện đúng với nội dung, tinh thần các quy định pháp luật mà vănbản giải thích pháp luật chính thức đã đưa ra

Pháp luật hiện hành quy định ủy ban thường vụ Quốc hội là cơ quan duy nhất

có thẩm quyền giải thích pháp luật, kết quả giải thích được ghi nhận trong văn bản giảithích pháp luật đó là nghị quyết và có hiệu lực pháp lý bắt buộc chung đối với tất cảmọi người7 Ở đây xảy ra một vấn đề là kết quả giải thích của ủy ban thường vụ Quốchội là giải thích chính thức không dành riêng cho bất cứ một vụ việc nào mà là đế ápdụng chung Như vậy, có một thực trạng đang diễn ra ở nước ta hiện nay, đó là kết quảgiải thích của Thẩm phán khi giải quyết một vụ việc trên thực tế là rất đáng tin cậy vàkhả thi hay “sự giải thích” của cơ quan hành chính trong các văn bản hướng dẫn thihành đã “lấn át”, đồng thời gây ra sự nhằm lẫn giữa hai hoạt động giải thích pháp luật

và hướng dẫn chi tiết thi hành Vậy giải thích của Thẩm phán có được xem là hoạtđộng giải thích pháp luật không? Có nên xem văn bản hướng dẫn thi hành của cơ quanhành chính là văn bản giải thích pháp luật không và cơ quan hành chính là chủ thểthực hiện hoạt động đó?

Linh

Trang 13

Đại học luật Hà Nội: Giảo trình Lỷ luận nhà nước và pháp luật, Nxb Tư Pháp, Hà Nội, 2007, tr.488.

9

Theo phân tích của giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật (Trường Đại học

luật Hà Nội): “Giải thích chỉnh thức được chia ra hai loại, đó là giải thích chỉnh thức

mang tỉnh quy phạm và giải thích cho những vụ việc cụ thể.

Giải thích chính thức mang tinh quy phạm thường là kết quả của sự giải thích các văn

bản luật, văn bản của cơ quan cấp trên, vãn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn bằng các

văn bản có giả trị và hiệu lực pháp lý thấp hơn dưới dạng các văn bản hướng dẫn thi

hành của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để bảo đảm thực hiện, áp dụng thống

nhất luật pháp.

Giải thích chinh thức cho những vụ việc cụ thể chỉ có hiệu lực đổi với vụ việc pháp lỷ

cụ thể đó, còn đối với vụ việc khác nó không có giả trị ” 8

Với cách phân tích này, người viết đồng ý khi nói giải thích của Thẩm phán là

“Giải thích chính thức cho những vụ việc cụ thể chỉ có hiệu lực đổi với vụ việc pháp lỷ

cụ thể đó, còn đối với vụ việc khác nó không có giả trị ”, có nghĩa là không chính thức

đối với các vụ việc khác Nhưng người viết không tán thành khi cho rằng vãn bản

hướng dẫn thi hành là “Giải thích chỉnh thức mang tỉnh quy phạm ”, bởi hoạt động giải

thích pháp luật và hướng dẫn chi tiết thi hành là hai hoạt động riêng biệt, không thể nói

hướng dẫn thi hành là giải thích pháp luật được, dù thực tế hai hoạt động đang có sự

“chồng lấn nhau” là do hoạt động hướng dẫn thi hành “lấn sân” sang giải thích pháp

luật Tuy nhiên, vấn đề này sẽ được người viết làm rõ trong những phần sau

Bên cạnh đó, căn cứ vào thực tiễn cuả nước ta đó là hoạt động giải thích phápluật hiện nay chỉ được pháp luật “thừa nhận” duy nhất sự giải thích của ủy ban thường

vụ Quốc hội9, còn lại là những ý kiến, công trình nghiên cứu, bình luận của các nhà

khoa học pháp lý thì vẫn tồn tại ừên thực tế nhưng không có sự “thừa nhận” của

pháp luật Neu căn cứ vào những tiêu chí mà người viết vừa trình bày thì rõ ràng hoạt

động giải thích pháp luật ở nước ta chia thành hai loại như trên, giải thích của úy ban

thường vụ Quốc hội là giải thích chính thức còn giải thích của những nhà khoa học

pháp lý, luật sư, nhà nghiên cứu là giải thích không chính thức Bởi kết quả giải

thích của ủy ban thường vụ Quốc hội là thông qua văn bản quy phạm pháp luật (Nghị

quyết) và có giá trị bắt buộc Trong khi sự giải thích ở các bài bình luận, công trình

nghiên cứu của những luật gia, nhà nghiên cứu luật học chỉ có giá trị tham khảo

chứ không hề có bất cứ một giá trị pháp lý nào Thêm vào đó, giải thích của Thẩm

phán trong quá trình áp dụng pháp luật và hoạt động giải thích thông qua văn bản

hướng dẫn thi hành có là giải thích không thì còn nhiều tranh luận

GVHD: ThS Huỳnh Thị Sinh Hiển Trang 9 SVTH: Phạm Bửu Linh

Trang 14

Luận văn tốt nghiệp De tài: Giải thích pháp luật - Thực trạng và giải pháp

Cho nên, căn cứ vào thực tiễn cũng như qua những phân tích trong các tài liệu,giáo trình, quan điểm của người viết là đồng tình với việc phân chia hoạt động giảithích pháp luật ở nước ta thành hai loại: giải thích không chính thức và giải thích chínhthức

1.3 Sự cần thiết của hoạt động giải thích pháp luật

Để thấy rõ được sự cần thiết của hoạt động giải thích pháp luật, trước tiên ngườiviết xin đưa ra một ví dụ điển hình, để từ đó đi đến từng phân tích những cái chungnhất cho thấy hoạt động giải thích pháp luật quan trọng như thế nào trong một hệthống pháp luật, cụ thể ở đây là hệ thống pháp luật nước ta

Ví du: Đoạn 3 điều 24 Bộ luật Tố tụng Hình sự được Quốc hội thông qua ngày28-6-1988 có hiệu lực từ ngày 01-01-1989 (sau đây viết tắt là Bộ luật Tố tụng Hình sựnăm 1988) có quy định như sau: “Cơ quan đã làm oan phải khôi phục lại danh dự,quyền lợi và bồi thường cho người bị thiệt hại Cá nhân có hành vi trái pháp luật thìtùy từng trường họp bị xử lý kỹ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự” Căn cứ vàoquy định này, trong thời gian thi hành Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 1988 đã có nhiềungười bị oan, do cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng gây ra, có đơn yêucầu đòi bồi thường thiệt hại thì các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự đã lúng túng, khigiải quyết đơn yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại Lúng túng về nhiều nội dung: trong đó

có việc xác định đối tượng gọi là bị oan, là người nào? Có phải chỉ có người bị tòa ánkết án oan mới được bồi thường thiệt hại hay là bao gồm cả những người bị tạm giữoan, người bị khởi tố về hình sự oan và người bị truy tố oan Vì trong điều luật chỉ quyđịnh chung chung là: “Cơ quan đã làm o a n m à lại không quy định chủ thể phải bồithường là cơ quan nào và bồi thường trong giai đoạn tố tụng nào Mặc khác thủ tụcthực hiện việc bồi thường thiệt hại như thế nào, mức bồi thường thiệt hại đến đâu vàthủ tục khôi phục danh dự cho người bị oan

Đến ngày 17-3-2003 ủy ban thường vụ Quốc hội mới ban hành Nghị quyết số388/2003/NQ-UBTVQH11 giải thích về nội dung quy định tại đoạn 3 Điều 24 của Bộluật Tố tụng Hình sự năm 1988 và xác định người được bồi thường thiệt hại, thủ tục,trình tự thực hiện việc bồi thường thiệt hại, khôi phục danh dự cho người bị oan Nhưvậy là sau hơn 14 năm việc thiệt hại cho người bị oan do cơ quan có thẩm quyền tronghoạt động tố tụng gây ra, mới được giải thích và thực hiện Việc giải thích như vậy làquá chậm, ảnh hưởng đến tinh thần, tình cảm của người bị oan và thân nhân của họ,làm mất lòng tin của quần chúng của những các bộ công chức làm công tác bảo vệpháp luật và ảnh hưởng đến uy tín của Nhà nước

Trang 15

Luận văn tốt nghiệp De tài: Giải thích pháp luật - Thực trạng và giải pháp

Qua ví dụ trên, người viết xin đưa ra những lý do để thấy rằng hoạt động giảithích pháp luật là rất cần thiết, góp phần đảm bảo cho việc áp dụng pháp luật được tiếnhành một cách khả thi trên thực tế, cũng như cần phải quan tâm nhiều hom đến vấn đềnày

1.3.1 Do một số hạn chế trong hình thức văn bản quy phạm pháp luật

Một điều không thể phủ nhận được, đó là ở Việt Nam hình thức pháp luật đượcthừa nhận và sử dụng chủ yếu là văn bản quy phạp pháp luật Như vậy, khi nói đếngiải thích pháp luật ở Việt Nam là nói đến giải thích các văn bản quy phạm pháp luậtthành văn và không tồn tại giải thích tập quán pháp, tiền lệ pháp

Các quy phạm pháp luật được đặt ra không phải đế trực tiếp xử lý một hành vihay một vụ việc cụ thể nào đó mà là để điều chỉnh một loại hành vi hay một loại vụviệc sẽ xảy ra trong tưomg lai Phưomg pháp điều chỉnh của quy phạm pháp luật làthông qua việc sử dụng ngôn ngữ pháp luật quy định quyền và nghĩa vụ cụ thể mộtcách khái quát và cố gắng bao trùm lên tất cả các vụ việc hay hành vi có thể xảy ratrên thực tế mà nó muốn điều chỉnh Để bảo đảm khái quát được một loại vụ việc hayhành vi mà nó điều chỉnh, ngôn từ được sử dụng trong các quy phạm pháp luật thường

có tính khái quát cao Tuy các văn bản quy phạm pháp luật thường có phần định nghĩa

để giải thích các thuật ngữ nhưng phần định nghĩa này không bao giờ có thể bao gồmhết được các thuật ngữ trừu tượng cần được giải thích

Chính đăc điểm này mà công tác giải thích pháp luật trở nên thật sự rất cầnthiết Bởi vì,theo những đặc điểm trên mà người viết vừa phân tích, có thể thấy rằngpháp luật thành văn được xây dựng với mục đích bao trùm lên tất cả các hành vi hay

vụ việc Trong khi đó, hoạt động áp dụng pháp luật lại được thực hiện theo chiềungược lại, nghĩa là xuất phát từ những vụ việc cụ thể ngoài thực tế mà chủ thể có thẩmquyền sẽ tìm ra quy phạm pháp luật thật sự phù hcrp để điều chỉnh, mà thực tiễn thì vôcùng đa dạng và luôn thay đổi Như vậy, pháp luật thành văn khó có thể điều chỉnh tất

cả các vấn đề của thực tiễn, vì khi có một vụ việc cụ thể nào đó xảy ra thì người ápdụng pháp luật sẽ có cảm giác không chắc chắn rằng quy phạm pháp luật mà mình lựachọn có phù họp hay không Cho nên, việc giải thích pháp luật là rất cần thiết Nhưngkhông chỉ đom thuần là giải thích mà hoạt động giải thích cần phải có thêm yếu tốthẩm quyền, tức là giải thích chính thức được thực hiện bởi cơ quan có thẩm quyền và

có giá trị pháp lý Tính thẩm quyền mang đến cho hoạt động giải thích pháp luật tínhchính thức và có giá trị ràng buộc đối với tất cả các bên Bởi khi có nhiều cách giảithích khác nhau (giải thích không chính thức), tất nhiên đó sẽ là giải thích không cógiá trị pháp lý và chỉ mang tính tham khảo ngang nhau, không thể nào áp dụng được

Trang 16

Luận văn tốt nghiệp De tài: Giải thích pháp luật - Thực trạng và giải pháp

Sự thiếu hoạt động giải thích pháp luật chính thức là thực tế của Việt Nam hiện nay,nên nhất thiết phải làm rõ nội dung của quy phạm pháp luật bởi một cơ quan nhà nước

cỏ thẩm quyền

1.3.2 Do kỹ thuật lập pháp nước ta còn hạn chế

Giải thích pháp luật với nhiệm vụ làm sáng tỏ hom các quy phạm pháp luật nên

có vai trò vô cùng quan trọng trong nhận thức, thực thi và áp dụng pháp luật Nếu xét

về mặt lý thuyết thì nhu cầu giải thích pháp luật không phát sinh khi và chỉ khi có một

hệ thống pháp luật hoàn thiện tuyệt đối và nhận thức pháp luật của người dân đạt đượctrình độ cao Tuy nhiên, điều đó là không thể bởi kỹ thuật lập pháp ở nước ta vẫn cònnhiều hạn chế và pháp luật được ban hành là để điều chỉnh các mối quan hệ xã hộiphát sinh trong đời sống thực tế, mà các mối quan hệ này “sẽ không đứng yên tại chỗ”,chúng luôn thay đổi và phát triển một cách liên tục, chủ thể xây dựng pháp luật sẽkhông thể lường trước những gì có thể xảy ra Bên cạnh đó, trình độ nhận thức củamỗi con người là khác nhau Cho nên nhu cầu giải thích pháp luật thật sự trở nên cầnthiết và có vai trò quan trọng

Ngoài ra, theo nhận xét của người viết thì chính hoạt động giải thích pháp luậtcòn góp phần xây dựng nên các quy định pháp luật mới Vì khi giải thích, chủ thể tiếnhành có thể sẽ phát hiện ra sự bất cập của quy phạm pháp luật Từ đó, có thể đưa ranhững kiến nghị kịp thời, hỗ trợ cho việc hoàn thiện công tác lập pháp

1.3.3 Cần thiết cho việc tìm hiểu và áp dụng pháp luật

Giải thích pháp luật rất cần thiết trong hoạt động áp dụng pháp luật của các cơquan nhà nước, thực hiện pháp luật và tìm hiếu pháp luật của công dân Thông qua việclảm rõ nội dung, ý nghĩa của các quy phạm pháp luật, giải thích pháp luật sẽ giúp cácchủ thể trong quan hệ pháp luật hiểu chính xác và thống nhất các quy định của phápluật, giúp họ tuân thủ, thi hành một cách đúng đắn Qua đó, nó còn có một ý nghĩa rấtlớn là khắc phục, hạn chế được sự tùy tiện trong việc hiểu, vận dụng pháp luật và sự cốtình hay vô ý hiểu sai lệch các quy định của pháp luật với mục đích không tốt Giúpcho pháp luật tăng cường tính nghiêm minh, hiệu quả trong quá trình áp dụng, tăngcường pháp chế và bảo vệ trật tự pháp luật

Như trên đã trình bày giải thích pháp luật nhằm muc đích để hiểu rõ tư tưởng,nội dung của một quy phạm pháp luật, giúp cho việc thi hành pháp luật được thốngnhất và đúng với ý chí của nhà làm luật Đồng thời giải thích pháp luật cũng là sựminh bạch pháp luật của nhà nước pháp quyền nên giải thích pháp luật là một yêu cầukhách quan của xã hội và của cả hệ thống công tác bảo vệ pháp luật

Trang 17

Luận văn tốt nghiệp De tài: Giải thích pháp luật - Thực trạng và giải pháp

Tóm lại, giải thích pháp luật là là sáng tỏ nội dung và tư tưởng của các quy phạmpháp luật, để từ đó định ra một cách hiểu chung, mà cách hiểu chung đó phải đúng với

ý chí của nhà làm luật và phải thật sự đảm bảo đưa quy phạm được giải thích đó đi vàothực tiễn áp dụng một cách hữu hiệu

1.4 Phương pháp giải thích pháp luật

Hoạt động giải thích pháp luật bao gồm rất nhiều yếu tố cấu thành như: chủ thể

có thẩm quyền đề nghị, chủ thể có thẩm quyền giải thích, đối tượng, trình tự, thủ tụcgiải thích Trong đó, phưomg pháp giải thích là một yếu tố không thể thiếu được, đểthực hiện giải thích pháp luật thì tất nhiên cần phải có các phưomg pháp giải thích,nhằm lảm sáng tỏ một nội dung, tư tưởng, ý nghĩa của các quy định pháp luật, từ đó

đưa pháp luật vào thực tiễn áp dụng, cỏ thể nói phưomg pháp giải thích pháp luật có

ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng và hiệu quả của việc giải thích pháp luật Ở Việt Namhiện nay, các phương pháp giải thích pháp luật cũng chưa được ghi nhận chính thứctrong bất kỳ văn bản nào10 Qua tham khảo một số tài liệu, người viết xin trình bày một

số phương pháp giải thích pháp luật mà theo quan điểm của người viết thì đây lànhững phương pháp giải thích cơ bản, phù họp và rất cần thiết cho hoạt động giải thíchpháp luật ở nước ta hiện nay

1.4.1 Phương pháp giải thích logic

Theo người viết, đây là phương pháp phải ưu tiên sử dụng đầu tiên và trong hầuhết các lần tiến hành hoạt động giải thích pháp luật nhằm đưa ra kết quả giải thích họplý-

Thông qua những phán đoán, suy luận, những quy định của tư duy logic để làmsáng tỏ nội dung quy phạm pháp luật Phương pháp này thường được sử dụng trongtrường họp lời văn của quy phạm không trực tiếp thể hiện rõ ý chí của nhà nước Bằngnhững suy đoán logic có thể cho phép người nhận thức đạt tới chân lý trong quá trìnhphân tích nội dung quy phạm pháp luật Với tư duy logic còn giúp cho người soạn thảocác văn bản pháp luật tạo ra được những điều luật vừa khái quát, rõ ràng, chính xác lạivừa dễ hiểu Phương pháp giải thích này thường được sử dụng kết họp với phươngpháp giải thích ngôn ngữ trong trường họp lời văn của quy phạm hay văn bản phápluật không trực tiếp thế hiện rõ (thể hiện một cách gián tiếp) ý chí của Nhà nước

10 TS Nguyễn Văn Điệp, Nhu cầu giải thích pháp luật phát sinh trong quá trình xét xử và hoạt động của

Trang 18

Luận văn tốt nghiệp De tài: Giải thích pháp luật - Thực trạng và giải pháp

Ví du: Tại điểm g Điều 9 Nghị định 146/2007 của Chính phủ quy định về những hành

vi gây nguy hiểm trong an toàn giao thông đường bộ sẽ bị xử phạt từ 100.000 đồngđến 200.000 đồng, trong đỏ có hành vi “Người điều khiển, người ngồi trên xe mô tô,

xe gắn máy không đội mũ bảo hiểm khi đi trên đường theo quy định Như vậy, khigiải thích điều luật này cần phải chú ý đến sự logic của điều luật chứ không chỉ đomthuần là giải thích theo câu chữ của điều luật Bởi vì, nếu căn cứ vào từ ngữ có trongđiều luật thì chỉ những ai là người điều khiển phưcmg tiện (ngồi phía trước) và ngườingồi phía sau mới phải đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông Còn những ngườiđứng hay nằm ừên phưomg tiện đó thì không phải đội mũ bảo hiểm? Neu xét theo cáchhiếu như vậy thì không họp lý chút nào, có thế sẽ xảy ra tiêu cực trong hoạt động giaothông đường bộ, không đảm bảo an toàn cho người tham gia giao thông Do đó, khitiến hành giải thích điều luật phải chú ý đến sự logic mà kết quả giải thích đưa ra cầnphải có và tính họp lý của mục đích đưa ra quy định Người tham gia giao thông phảituân thủ nghiêm chỉnh các quy định để bảo đảm an toàn cho bản thân cũng như chongười tham gia giao thông khác, các tư thế mà người viết vừa giả định ở trên đã xảy ratrên thực tế và mức độ nguy hiểm là rất cao Cho nên, điều luật phải được hiểu mộtcách chính xác là: Bất kỳ người nào khi tham gia giao thông mà điều khiển phươngtiện hai bánh và có gắng động cơ thì phải đội mũ bảo hiểm, không được có các hành vigây nguy hiểm như: đứng, nằm, với làm ảnh hưởng đến an toàn trong giao thôngđường bộ

1.4.2 Phương pháp giải thích ngôn ngữ, văn phạm

Với phương pháp này, người giải thích làm sáng tỏ nội dung, tư tưởng của quyphạm pháp luật bằng cách làm rõ nghĩa từng từ, từng câu được dùng để thể hiện nộidung và xác định mối liên hệ ngữ pháp giữ chúng ừong lòfi văn của quy phạm đó Giảithích về văn phạm gồm giải thích từ ngữ và giải thích theo cú pháp Phương pháp nàyđặc biệt quan trọng và càn thiết khi tiến hành giải thích pháp luật ở nước ta, bởi vì:Người dân Việt Nam chủ yếu nhận thức và thực hiện pháp luật theo câu chữ trong vănbản (theo nghĩa đen của những câu chữ đó) Dân gian có câu “Phong ba bão táp khôngbằng ngữ pháp Việt Nam” cho thấy rằng ngôn ngữ, văn phạm tiếng Việt thì rất phứctạp Vì vậy, đây là phương pháp chắc chắn phải có trong hoạt động giải thích pháp luật

ở Việt Nam Một lý do nữa, là từ ngữ được sử dụng chủ yếu trong văn bản quy phạmpháp luật là từ ngữ chuyên môn, không dễ nhận thức đối với những người không phải

là cán bộ, công chức trong cơ quan nhà nước hay nhà nghiên cứu về luật học

Tuy nhiên, như chúng ta đều biết trong thực tiễn xây dựng pháp luật ngôn ngữ,văn phạm không phải bao giờ cũng thể hiện được đầy đủ hoặc chính xác, rõ ràng ý chí

Trang 19

Từ điền Tiếng Việt thông dụng, Nxb Thanh niẽn, 2009, ư 585.

Luận văn tốt nghiệp De tài: Giải thích pháp luật - Thực trạng và giải pháp

của Nhà nước dẫn đến các chủ thể thực hiện pháp luật có thể hiểu nhàm, hiểu sai, hiểukhông đầy đủ ý chí của Nhà nước

Vậy vấn đề đặt ra ở đây là khi giải thích, các chủ thể tiến hành sẽ giải thích theo

ý chí đích thực của Nhà nước, mà người làm luật muốn thể hiện hay theo câu chữ đãđược thể hiện trong văn bản Nếu ý chí của nhà nước được thể hiện một cách chínhxác và đầy đủ trong quy phạm hay văn bản pháp luật thì phưomg pháp giải thích trên làphù họp, chính xác và đầy đủ Nói cách khác, ý chí nhà nước chính là những gì màngôn từ đã thế hiện trong văn bản Bất luận ý chí của nhà nước ra sao, nhưng nếu cơquan ban hành pháp luật đã thể hiện ra bằng câu chữ trong văn bản thế nào thì phảihiểu đúng như câu chữ đã thể hiện Tuy nhiên, do đặc thù của từ ngữ cùng với hạn chế

về trình độ lập pháp ở nước ta thì khó có thể đạt được tiêu chuẩn như trên Với cáchlập luận này, người viết cho rằng khi tiến hành giải thích pháp luật, chủ thể tiến hànhnên giải thích đứng với nguyên văn các quy phạm pháp luật và một điều quan trọngcần phải lưu tâm là không nên rời xa ý chí của nhà làm luật

Ví du: Tại Điều 625 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định về việc bồi thường thiệt hại dosúc vật gây ra Như vậy, “súc vật” ở đây được hiểu như thế nào?

Theo từ điển Tiếng Việt thì “súc vật” có nghĩa là thú vật nuôi trong nhà11

Trong thực tiễn sản xuất và đời sống xã hội của con người, súc vật đã trở thành sảnphẩm chăn nuôi hoặc thú nuôi phổ biến của con người, như trâu, bò, lợn bản chấtsúc vật là động vật hoang dã, mang bản tính thú dữ đã được con người thuần hóa, kiểmsoát được hoạt động và tuân thủ theo sự quản lý của con người

Như vậy, “súc vật” là loài động vật hoang dã, được con người thuần hóa đểnuôi nhằm phục vụ cho một số hoạt động của con người, nên phải có trách nhiệm vớinhững thiệt hại mà nó gây ra Theo đó, điều luật được hiểu như sau: Nếu tại thời điểmcon vật gây ra thiệt hại mà con vật đó là vật nuôi thuộc quyền sở hữu, chiếm hữu, sửdụng của người nào thi người đó phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại

1.4.3 Phương pháp giải thích chính trị - lịch sử

Là phương pháp tìm hiểu nội dung, tư tưởng quy định của pháp luật thông quaviệc nghiên cứu các điều kiện chính trị - lịch sử tại thời điểm ban hành quy định đóhoặc văn bản quy phạm pháp luật đó và nhiệm vụ chính trị mà Nhà nước mong muốnđạt được khi ban hành quy định hay văn bản pháp luật đó

Trang 20

TS Phùng Trung Tập, Luật thừa kế Việt Nam (Sách chuyên khảo), Nxb Hà Nội, Hà Nội, 2008, tr 88-89.

Luận văn tốt nghiệp De tài: Giải thích pháp luật - Thực trạng và giải pháp

Ví du: Theo quy định của pháp luật hiện hành, chỉ thừa nhận quan hệ hôn nhân một

vợ một chồng, điều này đồng nghĩa với việc thừa nhận một người vợ sẽ thừa kế tài sảncủa chồng và ngược lại Tuy nhiên, vẫn có trường họp ngoại lệ, nước ta đã từng thừanhận quan hệ hôn nhân “một chồng hai vợ” khi người chồng chết các người vợ đó vẫn

có quyền thừa kế tài sản của chồng như nhau và ngược lại Đó là, khi xét về quan hệhôn nhân của vợ chồng khi chiến tranh kéo dài, nước ta tạm thời bị chia cắt làm haimiền Nam - Bắc (1954 - 1975) Trong hoàn cảnh lịch sử đặc biệt ấy cán bộ, chiến sĩmiền Nam tập kết ra Bắc (theo Hiệp định Giơnevơ năm 1954) nhưng do Mỹ - Diệm đãphá hoại Hiệp định Hội ngị hiệp thưomg ấn định vào năm 1956 giữa hai miền Nam -Bắc đã không thể thực hiện được Trong hoàn cảnh đó, người cán bộ, chiến sĩ miềnNam tập kết ra miền Bắc đã có vợ ở miền Nam, sau lại kết hôn với người khác ở miềnBắc sau ngày thống nhất đất nước quan hệ hôn nhân với người ở miền Bắc vẫn đượcthừa nhận Khi chồng chết, các vợ được thừa kế của chồng và ngược lại12 Như vậy,tùy vào bối cảnh chính trị - lịch sử khác nhau mà cùng một quan hệ sẽ có cách quyđịnh và giải thích sao cho phù họp với hoàn cảnh lúc ấy

Việc tìm hiểu thông qua các báo cáo thuyết trình, giải trình về lý do ban hànhvăn bản quy phạm pháp luật cũng góp phần giúp hiểu rõ hom về nội dung của văn bảncũng như mục đích của nhà làm luật khi ban hành Nhưng trên thực tế, việc tìm hiểunày đối với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thì không khó, trong khi đối vớinhân dân cũng lại là điều vô cùng khó khăn và nhiều khi là không thể thực hiện được

Vì vậy, Nhà nước cần nghiên cứu để làm sao công khai phổ biến các báo cáothuyết trình, giải trình về lý do ban hành văn bản quy phạm pháp luật đến với toàn xãhội là điều hết sức hữu ích và càn thiết phải làm trong giai đoạn hiện nay để phục vụcho công tác giải thích và áp dụng pháp luật

Ví du: Khoản 2 Điều 647 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: “Người từ đủ mười lămtuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có thể lập di chúc, nếu được cha, mẹ hoặc người giám

Trang 21

Khoản 1 Điều 647 Bộ luật dân sự năm 2005 quy đinh: “Người đã thành niên có quyền lập di chúc, trừ trường

mình

Luận văn tốt nghiệp De tài: Giải thích pháp luật - Thực trạng và giải pháp

hộ đồng ý” Thắc mắc đặt ra ở đây là “cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý” là đồng ý

cái gì? Điều cần giải thích là pháp luật không quy định đối tượng của hành vi đồng ý

Việc đồng ý ở đây là đồng ý về việc lập di chúc hay đồng ý nội dung của di chúc

Dùng phưong pháp giải thích hệ thống, tiến hành khảo sát toàn bộ điều luật và đối

chiếu với với khoản 1 Điều 647 Bộ luật dân sự năm 2005 13, ta hiểu điều luật đã này

như sau: Tức là con chưa thành niên (người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười

tám tuổi) họ vẫn có quyền lập di chúc nếu như được cha, mẹ hoặc người giám hộ của

họ đồng ý cho họ lập di chúc khi họ vẫn chưa đủ tuổi (đủ 18 tuổi) Nhưng phải kèm

theo điều kiện là người lập di chúc không bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà họ

không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình

1.4.5 Phương pháp kết hợp, tổng hợp

Trong thực tế, chủ thể khi tiến hành giải thích pháp luật thường không sử dụngmột phưomg pháp nhất định mà sẽ kết họp một số phương pháp với nhau để khắc phục,

loại trừ sự nhận thức không đúng nội dung, tinh thần của các quy phạm pháp luật để từ

đó đạt được hiệu quả như mong muốn Sự lựa chọn này tùy thuộc vào nhận thức chủ

quan, tư duy khoa học của người giải thích và tương ứng phù họp với từng loại quy

định cần giải thích, hoàn cảnh giải thích, mục đích giải thích, thời điểm giải thích,

người đề nghị giải thích

Tuy nhiên, như đã nói ngôn ngữ không phải bao giờ cũng chuyển tải một cáchchính xác, đầy đủ ý chí đích thực của nhà nước nên chỉ sử dụng phương pháp giải

thích ngôn ngữ, văn phạm để giải thích pháp luật là chưa đủ Bởi khi giải thích, chủ

thể giải thích, về nguyên tắc, phải là người có thẩm quyền, họ tiến hành các công đoạn

giải thích pháp luật dựa trên ngôn ngữ của văn bản cần giải thích Giới hạn của giải

thích pháp luật nằm tại giới hạn của văn bản pháp luật, và giới hạn của văn bản pháp

luật nằm tại ngôn ngữ của văn bản pháp luật đó Ngôn ngữ văn bản là điểm đầu và

cũng là điểm đến của quá trình giải thích Cho nên, trong một số trường họp, theo

người viết khi giải thích theo đúng như nguyên văn (nghĩa đen) mà lời giải thích đưa

ra không có ý nghĩa phù họp hoặc vô lý đến không thể chấp nhập được, thì ta có thể

giải thích theo hướng mở rộng hay hạn chế lại đế lời giải thích có nội dung và ý nghĩa

Trang 22

Luận văn tốt nghiệp De tài: Giải thích pháp luật - Thực trạng và giải pháp

các quy phạm pháp luật khá rõ ràng nhưng do sự phát triển của các quan hệ xã hội dẫnđến quy phạm pháp luật đó không còn phù họp, đòi hỏi phải có cách giải thích mởrộng phù họp với sự phát triển của xã hội; hoặc khi xây dựng luật các nhả lảm luật đãkhông đặt ra quy tắc điều chỉnh quan hệ xã hội hoàn toàn tưorng tự dẫn đến phải cócách giải thích mở rộng để áp dụng pháp luật tưomg tự

Điều đó không có nghĩa là giải thích mở rộng hoặc hạn chế nội dung của cácquy phạm pháp luật một cách tùy tiện, mà theo người viết đó là sự bổ khuyết nhữngthiếu sót của kỹ thuật lập pháp nước ta, làm cho các chủ thế thực hiện pháp luật hiếuđúng nội dung thật sự của các quy phạm pháp luật đó và ý chí đích thực của Nhà nướcđược thể hiện trong đỏ

Quay trở lại với ví dụ ở phương pháp giải thích thứ nhất, theo người viết để cóthể hiểu một cách chính xác, họp ký và nhằm tránh sự cố tình hiểu sai lệnh vấn đề củamột số đối tượng thì ngoài phương pháp giải thích ngôn ngữ, văn phạm, phương phápgiải thích logic thì cần phải có sự kết họp giải thích theo hướng mở rộng mới cho rađược kết quả giải thích như mong muốn Không “gói gọn” ừong việc đội mũ bảo hiểmcủa người ngồi trên xe mô tô, xe gắn máy mà phạm vi giải thích còn được mở rộng ra

để (tất nhiên vẫn nằm trong khuôn khổ của điều luật) quy định một cách rõ ràng, họp

lý nhất, tránh xảy ra tình trạng đối tượng vi phạm lợi dụng những tư thế khác nhằmche đậy, trốn ừánh hành vi vi phạm pháp luật của mình, đảm bảo an toàn cho ngườitham gia giao thông Rõ ràng, để có được sự logic trong kết quả giải thích thì vấn đề

đã được giải thích theo hướng mở rộng

Đặc biệt là trong hoàn cảnh của Việt Nam hiện nay, nước ta mở cửa hội nhập,giao lưu với bạn bè trên trường quốc tế, theo đó làm phát sinh những mối quan hệ vềkinh tế, dân sự Trong khi như đã phân tích ở trên, là do ngôn ngữ nước ta có cáchhiểu đa dạng và phức tạp hoặc là khi giải thích để áp dụng pháp luật của các nước kháchay các điều ước quốc tế trên đất nước Việt Nam mà chúng ta ký kết hay tham gia Vìthế, việc giải thích pháp luật một cách mềm dẻo cho phù họp với những điều kiện củađất nước, chuẩn mực và thông lệ quốc tế là điều hết sức cần thiết

1.5 Một số nguyên tắc trong hoạt động giải thích pháp luật

1.5.1 Nguyên tắc tôn trọng sự trong sáng của ngôn ngữ

Giải thích pháp luật phát sinh khi ngôn ngữ của một điều khoản luật có thể gây

ra những cách hiểu họp lý khác nhau về nội dung của điều khoản luật đó hay không rõràng Mỗi quy phạm luật đều có phần giả định cụ thể và ngôn ngữ của quy phạm đó,đặc biệt là phần quy định bị ràng buộc trong khung bối cảnh do phần giải định đó đặt

Trang 23

Luận văn tốt nghiệp De tài: Giải thích pháp luật - Thực trạng và giải pháp

ra Vì vậy khi giải thích một quy phạm luật thì nguyên tắc này yêu cầu cơ quan cóthẩm quyền giải thích pháp luật không được làm thay đổi nội dung của quy phạmthông qua hoạt động giải thích Nếu ngôn ngữ của điều khoản luật đã đủ trong sáng vàđơn nghĩa thì phải tuyệt đối tuân theo và không cần giải thích gì thêm Vì vậy, cơ quan

có thẩm quyền sẽ chỉ giải thích những thuật ngữ, khái niệm chưa rõ ràng hoặc đa nghĩa

mà thôi Nguyên tắc tôn trọng sự trong sáng của ngôn ngữ của quy phạm yêu cầu làkhi giải thích một quy phạm pháp luật, cơ quan có thẩm quyền phải tôn trọng nguyênvăn nghĩa của từ ngữ càn được giải thích Trong đó, theo cách hiểu phổ biến hoặc theo

từ điển và đặt trong bối cảnh cấu trúc ngữ pháp cũng như bối cảnh giả định của quyphạm đó Nguyên tắc này thể hiện sự tuyệt đối tuân thủ quy phạm pháp luật do cơquan lập pháp ban hành nên nó luôn được coi trọng nhất trong hoạt động giải thíchpháp luật

1.5.2 Nguyên tắc tôn trọng ý chí của cơ quan lập pháp

Nguyên tắc tôn trọng ý chí của cơ quan lập pháp yêu cầu cơ quan có thẩmquyền giải thích pháp luật phải tìm hiểu được và bám sát ý tứ và mục đích của cơ quanlập pháp khi ban hành ra quy phạm pháp luật Vì vậy, khi giải thích không được quá

xa rời tinh thần của cơ quan lập pháp định gửi gắm vào trong điều khoản luật Nếuviệc giải thích mà không tôn trọng ý chí của cơ quan lập pháp và xa rời với tinh thầncủa quy phạm, thì lúc này kết quả của giải thích pháp luật sẽ không khác gì với việcban hành pháp luật mới Cho nên, cơ quan có thẩm quyền giải thích cần hiểu rằng hoạtđộng giải thích pháp luật là hoạt động hỗ trợ cho hoạt động lập pháp Vì thế, nguyêntắc này cần phải được quán triệt trong suốt quá trình giải thích pháp luật Đối vớinguyên tắc tôn trọng ý chí của cơ quan lập pháp, chủ thể giải thích cũng cần phải dựavào những dự thảo luật, các phát biếu tranh luận của Đại biểu Quốc hội để thông qualuật thì sẽ cho ra kết quả giải thích đúng với ý chí của nhà làm luật Vì chính những dựthảo, các phát biểu trên đây thể hiện một cách chính xác nhất quan điểm, ý đồ của cơquan lập pháp khi ban hành văn bản quy phạm pháp luật

Bên cạnh đó, khi giải thích cơ quan có thẩm quyền phải đặt quy phạm pháp luậtcần giải thích vào trong bối cảnh của đạo luật chứa đựng nó để đưa ra một nội dunggiải thích không được mâu thuẫn với các nội dung của các quy phạm pháp luật kháctrong đạo luật đó cũng như trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

1.5.3 Tôn trọng Hiến pháp khi tiến hành giải thích pháp luật

Như chúng ta đã biết Hiến Pháp được xem như là một luật gốc trong hệ thốngpháp luật bất kỳ Vì vậy, tất cả những ngành luật như: hình sự, dân sự, lao động được xây dựng đều dựa trên những nguyên tắc chung có trong Hiến Pháp Như vậy,

Trang 24

Luận văn tốt nghiệp De tài: Giải thích pháp luật - Thực trạng và giải pháp

hoạt động giải thích ngoài việc bám sát vào đạo luật chứa dựng quy phạm cần giảithích thì chủ thể có thẩm quyền phải chú ý đến các quy định của Hiến Pháp về nhữngvấn đề cỏ liên quan đến đạo luật cần giải thích Nhằm tránh tình trạng vi hiến xảy ra,đảm bảo tính chính xác cho nội dung giải thích

Từ những lý luận nêu trên có thể thấy rằng, người viết đã phân tích làm rõ kháiniệm hoạt động giải thích pháp luật cũng như những cách phân loại, các phương phápđược sử dụng để tiến hành giải thích pháp luật, hoạt động giải thích pháp luật cần thiếtnhư thế nào và cuối cùng là các nguyên tắc cần phải chú ý khi tiến hành giải thíchpháp luật Từ đây có thể thấy rằng, hoạt động giải thích pháp luật đang là một vấn đề ítđược lưu tâm dù nỏ là vấn đề mang lại rất nhiều tác dụng tích cực Hoạt động giảithích pháp luật đã “xuất hiện” ngay trong Hiến pháp năm 1959, tính đến nay cũng đủthời gian để cơ quan lập pháp nước ta dành cho hoạt động này “sự ưu ái đặc biệt” đó làxây dựng một đạo luật riêng để điều chỉnh vấn đề này Nhưng cho đến nay, nhắc đếnhoạt động này thì nó vẫn còn tương đối xa lạ đối với nhiều người Nguyên nhân chủyếu là thiếu một cơ chế pháp lý làm cơ sở cho hoạt động giải thích pháp luật, về vấn đềnày sẽ được người viết tập trung làm rõ ở chương hai

Trang 25

Khoản 3 Điều 53 Hiến pháp năm 1959.

Luận văn tốt nghiệp Đe tài: Giải thích pháp luật - Thực trạng và giải pháp

CHƯƠNG2

QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT

VÈ HOẠT ĐỘNG GIẢI THÍCH PHÁP LUẬT Ở VIỆT NAM

Giải thích pháp luật là cách thức làm cho việc hiểu, thực hiện pháp luật trongcuộc sống được thống nhất, họp pháp và họp lý Như vậy, cách thức tiến hành hoạtđộng giải thích pháp luật của các chủ thể tham gia hoạt động này được thể hiện nhưthế nào qua các giai đoạn giải thích và thực tế hoạt động này có được đảm bảo thựchiện không và còn có những vướng mắc gì? đây cũng chính là nội dung mà người viếtmuốn phân tích trrong phạm vi chưomg này

2.1 Các chủ thể liên quan trong hoạt động giải thích pháp luật

Hiến pháp năm 1959 là văn bản quy phạm pháp luật đầu tiên quy định về giảithích pháp luật với tư cách là một hoạt động thuộc thẩm quyền của ủy ban thường vụQuốc hội14 Trên cơ sở kế thừa và phát triển quy định của Hiến pháp năm 1959, cácbản Hiến pháp sau này và các văn bản quy phạm pháp luật quy định về giải thích phápluật như: Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008; Nghị quyết số26/2004/NQ-QH11 ngày 15-6-2004 của Quốc hội quy định về Quy chế hoạt động của

ủy ban thường vụ Quốc hội; Nghị quyết số 02/NQ-UBTVQH9 ngày 17-10-1992 của

ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành về tổ chức, nhiệm vụ của Văn phòng Quốc hội;Nghị quyết số 369 cuả ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành về việc thành lập BanCông tác lập pháp năm 2003 đã có một số quy định về hoạt động giải thích phápluật, đến đây hoạt động giải thích pháp luật đã có được “đường đi nước bước” chomình khi dựa vào những quy định nằm rải rác trong các văn bản nêu trên Theo đó,hoạt động giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh được quy định với những nội dung cơbản như: chủ thể; văn bản giải thích; quy trình, thủ tục tiến hành giải thích

2.1.1 Chủ thể đề nghị giải thích

Nếu có một điều luật được quy định nhưng không rõ nghĩa, cần sự giải thíchchính thức của cơ quan lập pháp theo trình tự quy định của Luật Ban hành văn bản quyphạm pháp luật năm 2008 thì hoạt động giải thích pháp luật vẫn chưa thể tiến hành,công tác này phát sinh khi có chủ thể đề nghị tiến hành giải thích

Chủ thể có thẩm quyền đề nghị giải thích đã được pháp luật hiện hành quy địnhtại khoản 1 Điều 15 Nghị quyết số 26/2004/QH11 của Quốc hội ngày 15/6/2004 vềQuy chế hoạt động của Uỷ ban thường vụ Quốc hội thay thế cho Quy chế hoạt động

Trang 26

Luận văn tốt nghiệp De tài: Giải thích pháp luật - Thực trạng và giải pháp

của ủy ban thường vụ Quốc hội năm 1993 Tuy nhiên, ở đây người viết chỉ tập trungnghiên cứu và nêu lên những chủ thể có thẩm quyền đề nghị giải thích Hiến pháp, luật,pháp lệnh, cũng như xoáy sâu vào hoạt động giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh,không đề cập đến Điều ước quốc tế trong điều luật này Điều luật quy định như sau:

“Uỷ ban thường vụ Quốc hội tự mình hoặc theo đề nghị của Chủ tịch nước, Chỉnh phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội, Uỷ ban trung ương Mặt trận Tố quốc Việt Nam, tố chức thành viên của Mặt trận và của đại biểu Quốc hội quyết định việc giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh, điều ước quốc tế đã được Quốc hội phê chuắn, điều ước quốc tế có điều khoản trái hoặc chưa được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội,

ủy ban thường vụ Quốc hội ”

Theo đó, các chủ thể sau đây có thẩm quyền đề nghị ủy ban thường vụ Quốchội giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh: ủy ban thường vụ Quốc hội; Chủ tịch nước;Chính phủ; Tòa án nhân dân tối cao; Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Hội đồng dântộc, ủy ban của Quốc hội, đại biểu Quốc hội; ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốcViệt Nam, tổ chức thành viên của Mặt hận

2.1.1.1 Úy ban thường vụ Quốc hội

ủy ban thường vụ Quốc hội là cơ quan duy nhất có thẩm quyền giải thích Hiếnpháp, luật, pháp lệnh Song song đó, ủy ban thường vụ Quốc hội có thể tự mình đưa ra

đề nghị giải thích pháp luật Trường họp này xảy ra khi chính ủy ban thường vụ Quốchội phát hiện ra điểm bất cập của điều luật Khi đó, ủy ban thường vụ Quốc hội sẽ tiếnhành hoạt động giải thích pháp luật mà không càn phải có sự đề nghị của bất kỳ chủthể có thẩm quyền nào

2.1.1.2 Chủ tịch nước

về phần mình, Chủ tịch nước ngoài những nhiệm vụ và quyền hạn được quy

định cụ thể trong Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) như: Công bốHiến pháp, luật, pháp lệnh; Ban hành lệnh, quyết định để thực hiện nhiệm vụ củamình; Chịu trách nhiệm và báo cáo trước Quốc hội; Có quyền tham dự các phiên họpcủa ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ khi xét thấy cần thiết Khi thực hiện cácnhiệm vụ, quyền hạn này có thể sẽ nhận thấy được những điểm mà quy định pháp luậtvẫn chưa thể hiện rõ ràng để từ đỏ đưa ra đề nghị

Ví du: Trong một buổi tham dự phiên họp của Chính phủ, khi cuộc họp đưa mộtvấn đề ra thảo luận mà pháp luật thực định có một quy định chưa rõ hay vẫn còn chungchung về vấn đề được đem ra thảo luận thì Chủ tịch nước có quyền yêu cầu ủy ban

Trang 27

Điều 109 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001).

16 Điều 3 Luật tổ chức Chính phủ năm 2002.

Luận văn tốt nghiệp De tài: Giải thích pháp luật - Thực trạng và giải pháp

thường vụ Quốc hội tiến hành giải thích làm rõ Chính vì, những nhiệm vụ và quyềnhạn nêu trên mà Chủ tịch nước sẽ là chủ thể tiếp theo được giao thẩm quyền đề nghịgiải thích pháp luật

2.1.1.3 Chỉnh phủ

Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính Nhà nướccao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam15 Chính phủ gồm có Thủtướng, các Phó Thủ tướng, các Bộ trưởng và Thủ trưởng cơ quan ngang bộ16 Do thànhviên của Chính phủ quản lý chuyên môn ở từng lĩnh vực nên khả năng thấy đượcnhững điểm bất cập của các quy phạm pháp luật là một điều dễ dàng đối với Chínhphủ Bên cạnh đó, đứng ở vị trí quản lý tổng quát trong lĩnh vực hành chính nên Chínhphủ sẽ dễ dàng nhận ra sự “va chạm” giữa văn bản điều chỉnh lĩnh vực này với vănbản điều chỉnh lĩnh vực khác để có hướng giải quyết và đưa ra những đề xuất kịp thời

và hiệu quả Tất cả những yếu tố trên là nguyên nhân để Chính phủ được giao thẩmquyền đề nghị giải thích pháp luật bằng cách gửi Tờ trình lên ủy ban thường vụ Quốchội

2.1.1.4 Tòa án nhân dân toi cao

Cơ quan tiếp theo là Tòa án nhân dân tối cao cũng có thẩm quyền giải thíchpháp luật Đây là một điều dễ hiểu, bởi vì đặt giả thiết nếu điều luật được xây dựngnên mà không đưa vào áp dụng trong đời sống thực tiễn thì sẽ không có vấn đề gì bàncãi, còn ngược lại thì sẽ có ít hoặc nhiều (tùy vào trình độ lập pháp của mỗi quốc gia).Một trong những vấn đề phát sinh đó là việc giải thích pháp luật, đối với nước ta cácquy phạm pháp luật thường mang tính chung chung, không rõ ràng, khó hiểu hoặc cóthể dẫn đến nhiều cách hiểu họp lý khác nhau, cần có các văn bản quy phạm pháp luật

có giá trị pháp lý thấp hơn quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành luật, thì hoạt độnggiải thích pháp luật là rất cần thiết đối với thực tiễn pháp luật nước ta Vì vậy, tòa án,

cơ quan có thẩm quyền xét xử duy nhất ở nước ta, khi thực hiện nhiệm vụ xét xử cũngđồng nghĩa với việc áp dụng các nguyên tắc luật định vào trong từng tình huống thực

tế cụ thể vi lẽ đó tòa án là một đối tượng có nhiều “cơ hội” gặp phải những tình huốngcần được giải thích Như chúng ta đã biết, hệ thống tòa án nước ta được tổ chức theochiều dọc, từ trung ương đến địa phương mà Tòa án nhân dân tối cao là cơ quan đứngđàu hệ thống tòa án trong cả nước, quản lý và hướng dẫn tòa án cấp dưới Qua nhữngphân tích trên, việc trao cho Tòa án nhân dân tối cao thẩm quyền đề nghị giải thíchpháp luật là hoàn toàn phù họp với vị trí cũng như yêu câu của công việc

Trang 28

Điều 139 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001),

Luận văn tốt nghiệp De tài: Giải thích pháp luật - Thực trạng và giải pháp

2.1.1.5 Viện kiểm sát nhãn dân tối cao

Một cơ quan nữa đó là Viện kiểm sát nhân dân tối cao, về tổ chức cũng giốngnhư Tòa án nhân dân Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố và kiểm sát cáchoạt động tư pháp theo quy định của Hiến pháp và pháp luật17 Công tố là quyền truy

tố một người ra trước tòa án để buộc tội vì người đó đã thực hiện một tội phạm và chỉViện kiểm sát mới có thẩm quyền thực hiện Kiểm sát các hoạt động tư pháp là baogồm kiểm sát các giai đoạn trong tố tụng hình sự18, Viện kiểm sát có mặt ở tất cả cácgiai đoạn trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, đảm bảo cho vụ án được giải quyếtkhách quan và chính xác, trong đó có hoạt động xét xử, đây là một giai đoạn đặc biệtkhi Viện kiểm sát tham gia với cả hai nhiệm vụ công tố (đọc bản cáo trạng để luận tội)

và kiểm sát (giám sát việc xét xử) Nói như vậy không có nghĩa là nhiệm vụ kiểm sátcủa Viện kiểm sát chỉ dừng lại trong phạm vi của Luật tố tụng hình sự, dù không thamgia phiên tòa, không giữ quyền công tố nhưng Viện kiểm sát vẫn có nhiệm vụ kiểm sáthoạt động tư pháp ở các lĩnh vực còn lại như: dân sự, kinh tế, lao động nhằm đảmbảo các vụ việc được giải quyết một cách đúng đắn, không xảy ra vi phạm pháp luật.Nhìn chung, hoạt động của Viện kiếm sát là tương đối rộng hơn so với Tòa án, trongkhi Tòa án chỉ có mặt ở giai đoạn xét xử thì Viện kiểm sát lại “túc trực” ở tất cả cácgiai đoạn còn lại Cho nên, khả năng mà Viện kiểm sát “bắt gặp” sự bất cập, vướngmắc trong điều luật là rất cao Bên cạnh đó, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tốicao còn chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội; trong thời gian Quốchội không họp thì chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước ủy ban thường vụ Quốchội và Chủ tịch nước19 Việc báo cáo công tác giúp Viện kiểm sát thông qua đó để nêulên những khó khăn gặp phải khi công tác hên thực tế, từ đó đưa ra kiến nghị hoặc đềnghị giải thích pháp luật khi mà phạm vi hoạt động của cơ quan này khá rộng nhưngười viết đã phân tích ở phía trên Vì thế, Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền đềnghị giải thích pháp luật là điều không khó hiểu

2.1.1.6 Hội đong dân tộc

Hội đồng dân tộc là một trong những cơ quan nằm trong tổ chức của Quốc hội.Hội đồng dân tộc tham mưu cho Quốc hội về vấn đề dân tộc Nhiệm vụ của Hội đồngdân tộc là nghiên cứu và kiến nghị với Quốc hội những vấn đề về dân tộc; thực hiệnquyền giám sát thi hành chính sách dân tộc và một số nhiệm vụ khác liên quan đến vấn

đề dân tộc Trước khi ban hành các chính sách về vấn đề dân tộc, Chính phủ phải tham

17 Điều 137 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001).

Trang 29

Luận văn tốt nghiệp De tài: Giải thích pháp luật - Thực trạng và giải pháp

khảo ý kiến của Hội đồng dân tộc Hội đồng dân tộc gồm có Chủ tịch, Phó chủ tịch vàcác ủy viên do Quốc hội bầu ra trong số các đại biểu Quốc hội Hội đồng dân tộc cómột số thành viên hoạt động chuyên trách Ngay trong Quốc hội, số lượng đại biểu làngười dân tộc thiểu số cũng chiếm một tỷ lệ thích đáng, và có xu hướng mỗi ngày giatăng - chính điều này đã thể hiện phần nào chính sách dân tộc của nhà nước ta Đểđảm bảo tính khách quan trong việc giám sát hoạt động của cơ quan chấp hành củaQuốc hội, thành viên của Hội đồng dân tộc không thể đồng thời là thành viên Chínhphủ

Ngay trên chúng ta nhận thấy rằng, các hoạt động của cơ quan này đều liênquan đến các vấn đề về dân tộc Cũng như các cơ quan trên, khi hoạt động sẽ gặp phảinhững tình huống tương tự, trong vấn đề dân tộc nói riêng và ở các lĩnh vực khác nóichung

2.1.1.7 Các ủy ban của Quốc hội

ủy ban của Quốc hội được thành lập ra để giúp Quốc hội thực hiện tốt cácnhiệm vụ, quyền hạn của mình Đồng thời các ủy ban của Quốc hội còn là hình thứcthu hút các đại biểu vào việc thực hiện công tác chung của Quốc hội Quốc hội thànhlập hai loại ủy ban: ủy ban thường trực và ủy ban lâm thời

+ ủy ban thường trực: Là những ủy ban hoạt động thường xuyên Nhiệm vụ của các

ủy ban này là nghiên cứu, thẩm tra dự án luật, kiến nghị về luật, dự án pháp lệnh và

dự án khác, những báo cáo được Quốc hội hoặc ủy ban thường vụ Quốc hội giao;trình Quốc hội, ủy ban thường vụ Quốc hội ý kiến về chương trình xây dựng luật,pháp lệnh; thực hiện quyền giám sát trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn do luật định;kiến nghị những vấn đề thuộc phạm vi hoạt động của ủy ban Gồm có: ủy ban phápluật; ủy ban tư pháp; ủy ban kinh tế; ủy ban tài chính, ngân sách; ủy ban quốc phòng

và an ninh; ủy ban văn hóa, giáo dục, thanh niên, thiếu niên và nhi đồng; ủy ban vềcác vấn đề xã hội; ủy ban khoa học, công nghệ và môi trường; ủy ban đối ngoại

+ ủy ban lâm thời: Là những ủy ban được Quốc hội thành lập khi xét thấy cần thiết đểnghiên cứu thẩm tra một dự án hoặc điều tra về một vấn đề nhất định

Ví du: ủy ban kiểm tra tư cách đại biểu Quốc hội, ủy ban sửa đổi Hiến pháp

Hầu như ở mọi lĩnh vực sẽ có một ủy ban tưng ứng, trong quá trình hoạt độngcác ủy ban này có thể gặp phải một số khó khăn, vướng mắc từ điều luật liên quan đếnlĩnh vực hoạt động của mình, mà nguyên nhân là do điều luật quy định không rõ rànghay đa nghĩa Như vậy, tùy từng lĩnh vực công tác mà ủy ban tưng ứng có thẩm quyền

đề nghị giải thích pháp luật

Trang 30

Luận văn tốt nghiệp De tài: Giải thích pháp luật - Thực trạng và giải pháp

2.1.1.8 Đại biểu Quốc hội

Đại biểu Quốc hội là những công dân ưu tú trong các lĩnh vực hoạt động củađời sống xã hội được nhân dân cả nước tín nhiệm bầu ra bằng tổng tuyển cử tự do Làngười đại diện cho nhân dân đồng thời cấu thành nên cơ quan quyền lực nhà nước caonhất, do đó Đại biểu Quốc hội vừa chịu trách nhiệm trước cử tri vừa chịu trách nhiệmtrước Quốc hội về việc thực hiện nhiệm vụ đại biểu của mình

Tiếp dân là nhiệm vụ thường xuyên của Đại biểu đế nghe nhân dân đóng góp ýkiến, từ đó thu thập và phản ánh ý chí, nguyện vọng đồng thời giúp dân giải quyếtnhững thắc mắc, kiến nghị hoặc nâng chúng thành ý chí Nhà nước (thành các quy địnhcủa pháp luật) và đưa các quy định đó vào thực tế cuộc sống Đại biểu Quốc hội đạidiện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân cả nước, qua công tác tiếp dân lắng nghenhân dân đóng góp ý kiến hoặc qua công tác, từ đó có thể phát hiện và đưa ra đề nghịgiải thích pháp luật

2.1.1.9 Úy ban trung ương Mặt trận Tố quốc Việt Nam, tố chức thành viên của Mặt trận

Mặt ừận Tổ quốc Việt Nam được thảnh lập theo cơ chế bầu cử dân chủ, đượcphân cấp để hoạt động trong phạm vi toàn quốc Đây là tổ chức đại diện cho khối đạiđoàn kết toàn dân tộc, giữ vai trò phát huy dân chủ trong hệ thống chính trị

Thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam gồm có các tổ chức: Đảng Cộngsản Việt Nam, Tổng liên đoàn lao động Việt Nam, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ ChíMinh, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội nông dân Việt Nam, Hội cựu chiến binh.Các tổ chức này có cơ cấu hoàn chỉnh và đóng vai trò quan trọng trong hệ thống chínhtrị Hoạt động của tổ chức ảnh hưởng rất lớn đến hệ quả quản lý nhà nước, phát huytính dân chủ của nhà nước

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được thành lập nhằm pháp huy truyền thống đoànkết toàn dân, tăng cường sự nhất trí về chính trị đối với nhân dân, tham gia xây dựng

và củng cố chính quyền nhân dân Mặt trận Tổ quốc tuyên truyền, vận động nhân dântham gia thực hiện pháp luật, góp phần tích cực vào hiệu quả của hoạt động quản lýnhà nước; Đưa ra những kiến nghị để xây dựng văn bản quy phạm pháp luật .Do đó,Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được pháp luật quy định là một trong những chủ thể cóthẩm quyền đề nghị giải thích pháp luật là một tất yếu

Nhìn chung, những chủ thể có thẩm quyền đề nghị giải thích pháp luật là nhữngchủ thể có vị trí rất cao, hầu hết là những cơ quan đứng đầu ở Trung ương nên có thể

dễ dàng nhận thấy được những bất cập trong điều luật liên quan đến lĩnh vực quản lý

Trang 31

20 PGS TS Nguyễn Đăng Dung, Tính nhân bản của Hiến

Luận văn tốt nghiệp De tài: Giải thích pháp luật - Thực trạng và giải pháp

của mình Nhưng theo quan điểm của người viết, các cơ quan này “đứng ở vị trí trên

cao” thuận lợi cho việc quan sát bao quát nhưng lại rất khó khăn do không đi đến được

từng “ngõ ngách” mà mình quản lý Đảnh rằng, khi gặp phải bất cập thì cơ quan cấp

dưới sẽ báo cáo lên trên, vấn đề đặt ra là sẽ rất mất thời gian khi mà điều luật chưa

được làm rõ thì người dân vẫn còn phải chờ, làm ảnh hưởng tới quyền và lợi ích họp

pháp của họ, kéo theo hoạt động áp dụng pháp luật không được tiến hành khả thi trên

thực tế Mặt khác, người dân không thể nào biết được nhu cầu giải thích pháp luật, tuy

nhiên qua tiếp xúc với người dân, lắng nghe những thắc mắc của họ, từ đó Đại biểu

Quốc hội sẽ đưa ra đề nghị giải thích pháp luật nhằm giải quyết những khó khăn,

vướng mắc mà người dân gặp phải Tuy nhiên, dù Đại biểu Quốc hội có ở gần dân

nhưng đâu phải lúc nào những rắc rối, khó khăn cũng “tìm đến” ngay họ nên lúc này

quyền lợi của người dân vẫn chịu thiệt thòi hơn cả Vì vậy, theo người viết, về quy

định này nên mở rộng thêm thành phần chủ thể có thẩm quyền đề nghị giải thích pháp

luật, vấn đề này sẽ được người viết tiếp tục làm rõ ở chương ba

2.1.2 Chủ thể giải thích pháp luật 2.1.2.1 về mặt pháp lý

Lịch sử hơn 60 năm Quốc hội Việt Nam cho thấy trong cơ cấu tổ chức Quốchội luôn tồn tại một cơ quan thường trực, với Hiến pháp năm 1946 là Ban Thường vụ

Nghị viện, với các Hiến pháp năm 1959 và Hiến pháp năm 1992 là ủy ban thường vụ

Quốc hội Riêng với Hiến pháp năm 1980 có quy định theo đó Hội đồng Nhà nước là

cơ quan thực hiện đồng thời chức năng của ủy ban thường vụ Quốc hội và là Chủ tịch

tập thể của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Trong bộ máy Nhà Nước Việt Nam, ủy ban thường vụ Quốc hội có một vị trírất đặc biệt Sự đặc biệt này do cơ cấu tổ chức và thẩm quyền của ủy ban thường vụ

Quốc hội tạo nên20 Sự hiện diện của ủy ban thường vụ Quốc hội do vị trí, vai trò và

cách thức hoạt động của Quốc hội chúng ta quyết định

Theo Điều 2 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001), ở nước Cộnghòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, nhưng

nhân dân không thể trực tiếp sử dụng quyền lực nhà nước trong mọi trường họp được

mà phải thông qua Quốc hội Tại Điều 83 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm

2001), Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân và cơ quan quyền lực Nhà

nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Là cơ quan duy nhất có

GVHD: ThS Huỳnh Thị Sinh Hiển Trang 27 SVTH: Phạm Bửu Lỉnh

Trang 32

Luận văn tốt nghiệp De tài: Giải thích pháp luật - Thực trạng và giải pháp

quyền lập hiến và lập pháp, quyết định những vấn đề ừọng đại của đất nước, giám sáttối cao toàn bộ hoạt động của Nhà nước

Hàng năm Quốc hội chỉ họp hai lần, trong khi quyền hạn lại rất lớn nên buộcQuốc hội phải thành lập ra một cơ quan đế giúp Quốc hội đảm nhận các hoạt động cótính chất thường xuyên và điều phối hoạt động của Quốc hội giữa hai kỳ họp đó là ủyban thường vụ Quốc hội Vì vậy, so với các nước khác trên thế giới ủy ban thường vụQuốc hội của chúng ta có một vị trí, vai trò rất đặc biệt Có những nhiệm vụ, quyềnhạn như: Những nhiệm vụ, quyền hạn liên quan đến chức năng thường trực tổ chứccho Quốc hội hoạt động; Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật - pháp lệnh vànghị quyết; Giải thích Hiến pháp, luật và pháp lệnh; Những nhiệm vụ liên quan đếnviệc quyết định tình trạng đặc biệt của đất nước; Điều khiển các phiên họp của Chủtịch Quốc hội, và chứng thực các quyết định đã được thông qua của Quốc hội;

Trong những nhiệm vụ, quyền hạn nói trên thì hoạt động giải thích pháp luật làmột trong những hoạt động “tạo nên nét đặc biệt” cho ủy ban thường vụ Quốc hội Sở

dĩ có “nét đặc biệt” đó là vì pháp luật do Quốc hội ban hành mà chính Quốc hội lạitrao cho cơ quan thường trực của mình, do mình bầu ra “cái quyền” giải thích thôngqua thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật đó là nghị quyết

Giải thích pháp luật là vấn đề đáng được quan tâm hiện nay Mặc dù vấn đề giảithích Hiến pháp, luật, pháp lệnh đã được đặt ra từ rất sớm, trong các bản Hiến phápcủa Nhà nước Việt Nam (trừ Hiến pháp năm 1946) đều có quy định về vấn đề này vàđều giao cho cơ quan hoạt động thường xuyên của Quốc hội (Hội đồng nhà nước, ủyban thường vụ Quốc hội) đảm nhiệm21 Nhưng cho đến thời điểm hiện nay, ủy banthường vụ Quốc hội chỉ thực hiện được năm lần giải thích pháp luật22 và khi tiến hànhgiải thích thì phải dựa vào các quy định được ghi nhận trong các văn bản quy phạmpháp luật khác nhau vì chưa có một đạo luật cụ thể điều chỉnh rõ ràng

Ở Việt Nam, duy nhất cơ quan nhả nước có thẩm quyền giải thích pháp luậtchính thức đó là ủy ban thường vụ Quốc hội, được Hiến pháp quy định có thẩm quyềngiải thích Hiến pháp, luật và pháp lệnh Tại khoản 3 Điều 91 Hiến pháp năm 1992 (sửađổi, bổ sung năm 2001) quy định về nhiệm vụ và quyền hạn của ủy ban thường vụ

Quốc hội, ừong đó có “Giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh ”

21 Khoản 3 Điều 53 Hiến pháp năm 1959; khoản 5 Điều 100 Hiến pháp năm 1980; khoản 3 Điều 91 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung 2001).

22 Ban pháp chế, VCCI, Đôi nét về thực trạng giải thích pháp luật ở Việt Nam, Văn phòng Quốc hội, Giải thích pháp luật - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn (Kỳ yếu Hội thảo quốc tế tại Hà Nội, tháng 2 - 2008), Nxb Hồng

Trang 33

Luận văn tốt nghiệp De tài: Giải thích pháp luật - Thực trạng và giải pháp

Và cũng được quy định tại Điều 85 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật

năm 2008: “úy ban thường vụ Quốc hội giải thích luật, pháp lệnh Cơ quan, tố chức quy định tại Điều 87 của Hiến pháp, đại biểu Quốc hội có quyền đề nghị ủy ban thường vụ Quốc hội giải thích luật, pháp lệnh, ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét quyết định việc giải thích.”

Giúp Uỷ ban thường vụ Quốc hội trong hoạt động giải thích pháp luật có:Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hội đồng dân tộc,các Uỷ ban của Quốc hội, Văn phòng Quốc Hội, Ban công tác lập pháp Cụ thể tại:khoản 3 Điều 15 Nghị quyết 26/2004/NQ-QH11 ngày 15/6/2004 của Quốc hội quyđịnh về việc ban hành quy chế hoạt động của ủy ban thường vụ Quốc hội như sau:

“ủy ban thường vụ Quốc hội giao Chỉnh phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân toi cao hoặc Hội đong dân tộc, úy ban của Quốc hội soạn thảo dự thảo nghị quyết giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh trình ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định.”

Bên cạnh đó, tại khoản 1 Điều 86 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luậtnăm 2008 cũng quy định về việc ủy ban thường vụ Quốc hội giao Chính phủ, Tòa ánnhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc Hội đồng dân tộc, ủy ban củaQuốc hội soạn thảo dự thảo nghị quyết giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh trình ủyban thường vụ Quốc hội và giao cho Hội đồng dân tộc hoặc ủy ban của Quốc hộithẩm tra về sự phù họp của dự thảo nghị quyết

Theo quan điểm của người viết, trong hai điều luật trên đây đã nổi lên một sựbất cập Đó là ủy ban thường vụ Quốc hội sẽ giao cho một trong các cơ quan sau:Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiếm sát nhân dân tối cao hoặc Hội đồngdân tộc, ủy ban của Quốc hội soạn thảo dự thảo nghị quyết giải thích và sau đó trình

ủy ban thường vụ Quốc hội Tuy nhiên, ủy ban thường vụ Quốc hội lại tiếp tục giaocho Hội đồng dân tộc hoặc ủy ban của Quốc hội thẩm tra về sự phù họp của dự thảonghị quyết Vậy có phải ủy ban thường vụ Quốc hội đã không “nhúng tay” vào hoạtđộng giải thích pháp luật mà giao phó cho những cơ quan đã nêu trên soạn thảo dựthảo nghị quyết giải thích rồi trình lên cho mình? Việc ủy ban thường vụ Quốc hội bỏphiếu thông qua mang tính hình thức nhiều hơn Như vậy, luật quy định ủy banthường vụ Quốc hội có thẩm quyền giải thích pháp luật để làm gì? Trong khi hầu nhưtất cả các “ý tứ” trong dự thảo nghị quyết đều do cơ quan khác đưa ra, ủy ban thường

vụ Quốc hội tuy có xem xét lại nhưng để cho ra một kết quả giải thích chính xác vàhọp lý đâu phải là chuyện “một sớm một chiều” mà đòi hỏi người giải thích phải đầu

tư nghiên cứu thật sâu, đặt điều luật vào hoàn cảnh ban hành, tìm hiểu ý chí của nhà

Trang 34

Luận văn tốt nghiệp De tài: Giải thích pháp luật - Thực trạng và giải pháp

lảm luật muốn “gửi gắm” vào có như vậy mới cho ra kết quả giải thích như mongmuốn Thế nhưng, như đã từng đề cập do cơ cấu tổ chức và hoạt động đã chiếm hếtthời gian thì liệu ủy ban thường vụ Quốc hội có thể “đầu tư” cho hoạt động giải thíchpháp luật được như vậy không? Cho dù ủy ban thường vụ Quốc hội có đủ thời giancũng như trí lực để thực hiện hoạt động giải thích pháp luật thì một điều đáng nói ởđây là quy định của pháp luật đã làm hao tốn biết bao thời gian cũng như tiền bạc củanhà nước Bởi vì cùng giải quyết một vấn đề mà có đến hai chủ thể thực hiện, trongkhi hoạt động giải thích pháp luật buộc các chủ thể phải bỏ ra nhiều công sức, cho nênđây là một quy định không khả thi Thì việc trình lên ủy ban thường vụ Quốc hội xemxét có cần không? Khi đã có sự thẩm tra từ phía cơ quan khác

Công tác thẩm tra ở đây cũng có nhiều bất cập ủy ban thường vụ Quốc hộigiao cho Hội đồng dân tộc hoặc ủy ban của Quốc hội thẩm tra về sự phù hcrp của dựthảo nghị quyết Sẽ không có gì để nói nếu như trước đó ủy ban thường vụ Quốc hộigiao cho những cơ quan đã nêu ở trên soạn thảo dự thảo nghị quyết trừ Hội đồng dântộc và ủy ban của Quốc hội.Bất cập phát sinh khi vừa giao cho Hội đồng dân tộc và

ủy ban của Quốc hội soạn thảo dự thảo nghị quyết lại vừa thẩm tra ngay chính “sảnphẩm” mình vừa tạo ra Công tác thẩm tra khó được tiến hành khách quan nếu trênthực tế xảy ra trường họp này

Nói tóm lại, việc quy định trao cho ủy ban thường vụ Quốc hội thẩm quyềngiải thích pháp luật là không thiết thực, càn phải cân nhắc lại khả năng thực hiện hoạtđộng giải thích pháp luật của cơ quan này trên thực tế

Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật hiện hành (năm 2008) đã dànhriêng một chương để quy định về hoạt động giải thích luật, pháp lệnh Nhưng chỉ “góigọn” trong hai điều (Điều 85 và Điều 86) quy định về thẩm quyền giải thích và vấn đềxây dựng, ban hành dự thảo nghị quyết giải thích Trong khi đó, công tác giải thíchpháp luật vẫn đang còn nhiều bất cập, rất cần được quy định cụ thể, rõ ràng hơn

2.1.2.2 về mặt thực tiễn

Trong thực tế, chúng ta rất dễ dàng bắt gặp những lời giải thích pháp luật trongquá trình áp dụng pháp luật của một số chủ thể, mà theo nhận định của người viết đây

là những giải thích rất đáng tin cậy và đặc biệt là tính khả thi của chúng rất cao

Trở lại với ví dụ mà người viết đã từng nêu, tại điểm g Điều 9 Nghị định146/2007 của Chính phủ quy định về những hành vi gây nguy hiểm trong an toàn giaothông đường bộ sẽ bị xử phạt từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng, trong đó có hành vi

Trang 35

Luận văn tốt nghiệp De tài: Giải thích pháp luật - Thực trạng và giải pháp

“Người điều khiển, người ngồi trên xe mô tô, xe gẳn máy không đội mũ bảo hiểm khi

đi trên đường theo quy định

Theo quy định này, cảnh sát giao thông khi tuần tra giao thông hay tham giađiều khiển an toàn giao thông có thể giải thích cho người vi phạm hoặc người thamgia giao thông hiểu đúng về quy định này Đặt trường họp như một phưomg tiện giaothông (có gắn động cơ) đang lưu thông trên đường, người điều khiển ngồi trên xe cóđội mũ bảo hiểm, ngược lại người phía sau lại đứng và không đội mũ bảo hiểm và bịphạt Rõ ràng, người này đã vi phạm Luật an toàn giao thông đường bộ khi có hành vinhư vậy Nhưng để che đậy cho hành vi vi phạm nhằm “chối bỏ” trách nhiệm pháp lý

mà bản thân người đỏ phải thực hiện, người đó đã cố tình hiểu lệch đi ý nghĩa màđiều luật hướng đến Đó là, điều luật chỉ quy định phạt những người ngồi trên xe màkhông đội mũ bảo hiểm, còn người vi phạm thì đứng trên xe nên việc không đội mũbảo hiểm là không vi phạm Lúc này, cảnh sát giao thông phải thay ủy ban thường vụQuốc hội mà “tiến hành giải thích pháp luật” cho người vi phạm hiểu là luật quy địnhnhưng phải hiểu theo nghĩa “rộng” hơn Tức là khi tham gia giao thông thì phải đội

mũ bảo hiếm và tuyệt đối không được có hành vi gây nguy hiểm cho những ngườitham gia giao thông Hành vi gây nguy hiểm có thể là: đứng, nằm, với Như vậy,người ở phía sau phương tiện đã có hành vi vi phạm gây nguy hiểm trong an toàngiao thông đường bộ, đó là: Không đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông, có hành

vi gây nguy hiểm (đứng) khi tham gia giao thông

Thực tế, những tình huống như thế này xảy ra không hiếm Cảnh sát giao thôngcũng đã tiến hành giải thích cho người vi phạm hiếu, nhưng theo quy định của phápluật lời giải thích của cảnh sát giao thông không phải là giải thích chính thức, không

có giá trị bắt buộc để người vi phạm phải tuân theo Dù thực chất trong lòfi giải thíchchứa đựng nội dung giải thích rất nhiều, đồng thời cũng rất thiết thực Trên cơ sở giảithích cảnh sát giao thông ra quyết định xử phạt hành chính, người vi phạm tuân theo

vì quyết định này được bảo đảm thi hành bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước,chứ không phải lời giải thích có giá trị bắt buộc đối với họ

Một thực tế khác mà người viết muốn đề cập đó là lời giải thích của Thẩm phánkhi tiến hành xét xử một vụ án trên thực tế Khi đương sự hoặc những người có liênquan trong vụ án không hiểu hoặc hiểu không rõ về một điều luật nào đó có liên quantới họ, lúc này Thẩm phán có thể giải thích điều luật đó cho họ hiểu một cách đúngnhất Nhằm mục đảm bảo cho pháp luật được thực hiện nghiêm minh, kết quả xét xửcông bằng, chính xác, đảm bảo quyền, lợi ích họp pháp cho đương sự cũng nhưnhững người có liên quan Lời giải thích đó là họp pháp, có thể giúp cho việc giải

Trang 36

TS Hoàng Văn Tú, Giải thích pháp luật - Một vẩn đề cơ bản về lý luận và thực tiễn Việt Nam, Văn phòng

2009, ư 37 - 48.

Luận văn tốt nghiệp De tài: Giải thích pháp luật - Thực trạng và giải pháp

quyết vụ án được tiến hành nhanh chóng nhưng cũng không quên yếu tố công bằng và

khách quan, người bị áp dụng bị thuyết phục mà nghe theo Hom hết, lời giải thích là

chính thức nếu được ghi trong bản án, vì bản án có giá trị bắt buộc thi hành Đây

chính là mâu thuẫn trong quy định của pháp luật nước ta Dù rất thiết thực và rất có

ích cho hoạt động xét xử của Tòa án trong thực tiễn, góp phần đưa pháp luật vào cuộc

sống thông qua hoạt động xét xử, nhưng hiện nay lời giải thích của Thẩm phán trong

hoạt động xét xử vẫn không được pháp luật “thừa nhận” là giải thích pháp luật chính

thức

Nhìn chung, vấn đề chủ thể giải thích pháp luật ở nước ta vẫn còn nhiều bấtcập ủy ban thường vụ Quốc hội - Chủ thể được pháp luật trao quyền giải thích pháp

luật thì lại khó có thể đảm đưomg và hoàn thành tốt hoạt động này Cho đến nay hoạt

động giải thích pháp luật do ủy ban thường vụ Quốc hội thực hiện chỉ có “vẻn vẹn”

năm lần trên thực tế Trong kkhi đó, những giải thích của các chủ thể khác (cảnh sát

giao thông, thẩm phán ) lại mang nội dung giải thích rất chính xác, khả năng áp

dụng vào thực tế là rất cao, thế nhưng những lời giải thích này lại không được đưa

vào các quy định của pháp luật để nâng cao giá trị sử dụng cũng như ý nghĩa mà nó

mang lại

2.2 Hình thức giải thích pháp luật

Giải thích pháp luật chính thức là một hoạt động mang tính quyền lực nhà nước,

do đó các nội dung của nó phải được các văn bản quy phạm pháp luật quy định và khi

thực hiện giải thích pháp luật các chủ thế buộc phải tuân theo Thực tế cho thấy, tương

ứng với mỗi hệ thống pháp luật sẽ có một cơ chế giải thích pháp luật và theo đó cơ sở

pháp lý của giải thích pháp luật sẽ được thể hiện dưới các hình thức văn bản khác

nhau23

Theo khoản 2 Điều 12 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008thì Nghị quyết của ủy ban thường vụ Quốc hội được ban hành để giải thích Hiến pháp,

luật, pháp lệnh Như vậy, ủy ban thường vụ Quốc hội dùng Nghị quyết để giải thích

Hiến pháp, luật, pháp lệnh Nghị quyết giải thích pháp luật của ủy ban thường vụ

Quốc hội được ban hành theo trình tự, thủ tục luật định

Luật quy định úy ban thường vụ Quốc hội giải thích pháp luật thông qua vănbản quy phạm pháp luật là nghị quyết Nhưng như đã đề cập ở những phàn trước, hoạt

động giải thích pháp luật ở nước ta hiện nay không chỉ được riêng ủy ban thường vụ

Ngày đăng: 22/12/2015, 17:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hiến pháp năm 1959; Hiến pháp năm 1980; Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) Khác
9. Nghị quyết số 26/2004/NQ-QH11 ngày 15-6-2004 của Quốc hội về Quy chế hoạt động của ủy ban thường vụ Quốc hội Khác
10. Nghị quyết số 02/NQ-UBTVQH9 ngày 17-10-1992 của ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành về tổ chức, nhiệm vụ của Văn phòng Quốc hội Khác
11. Nghị quyết số 58/1998/NQ-UBTVQH10 ngày 24-8-1998 của ủy ban thường vụ Quốc hội về giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 01 tháng 7 năm 1991 Khác
12. Nghị quyết số 369/2003/NQ-UBTVQH11 ngày 17-3-2003 của ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành về việc thành lập Ban công tác lập pháp năm 2003 Khác
13. Nghị quyết số 388/2003/NQ-UBTVQH11 ngày 17-3-2003 của ủy ban thường vụ Quốc hội về bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra Khác
14. Nghị quyết số 746/2005/NQ-UBTVQH11 ngày 28-01-2005 của ủy ban thường vụ Quốc hội về việc giải thích điểm c khoản 2 Điều 241 Luật thưomg mại năm 1997 Khác
16. Nghị quyết số 1037/2006/NQ-UBTVQH11 ngày 27-7-2006 của ủy ban thường vụ Quốc hội về giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 1 tháng 7 năm 1991 có người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia Khác
17. Nghị quyết số 1053/2006/NQ-UBTVQH11 ngày 10-11-2006 của ủy ban thường vụ Quốc hội về việc giải thích khoản 6, Điều 19 Luật Kiểm toán Nhà nước Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w