1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát trỉến khu vực kỉnh tế tư nhân trong điều kiện hội nhập kỉnh tế quốc tế

36 134 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 338,77 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI MỞ ĐẦUMột trong những thành tựu lớn của công cuộc đổi mới hơn 20 năm qua ở nước ta là đã hình thành một nền kinh tế đa thành phần, với các khu vực kinh tế khácnhau ngày càng phát tri

Trang 1

A LỜI MỞ ĐẦU

Một trong những thành tựu lớn của công cuộc đổi mới hơn 20 năm qua ở nước

ta là đã hình thành một nền kinh tế đa thành phần, với các khu vực kinh tế khácnhau ngày càng phát triển năng động Trong đó, khu vực trẻ trung và năng độnghơn cả là khu vực kinh tế tư nhân Kinh tế tư nhân có một vai trò đặc biệt quantrọng đối với nền kinh tế quốc dân nhất là khi Việt Nam đang trong tiến trình hộinhập kinh tế quốc tế Thực tế trên thế giới cho thấy quốc gia nào có nền kinh tế tưnhân tham gia nhiều nhất, đầy đủ nhất và sâu sắc nhất vào nền kinh tế toàn cầu thìquốc gia đó sẽ có ưu thế trong cạnh tranh Ở Việt Nam kinh tế tư nhân tuy có nhiềuđóng góp quan trọng như đóng góp lớn vào GDP của cả nước, giải quyết công ănviệc làm cho một số lượng lớn lao động nhưng vẫn còn nhiều hạn chế, khó khăn vàthử thách Nguyên nhân cơ bản là do xuất phát điểm của chúng ta còn thấp, cácđường lối chính sách của Đảng còn nhiều bất cập, những quan niệm suy nghĩ khôngđúng đắn của một bộ phận công chức nhà nước Từ đó dẫn đến yêu cầu cấp thiết làphải có những giải pháp họp lý đế phát triển khu vực kinh tế tư nhân khi đất nước

ta đang hội nhập quốc tế Và để có thể trở thành động lực tăng trưởng thực thụ vàtham gia hội nhập quốc tế thành công, khu vực kinh tế tư nhân sẽ phải vượt quanhững thử thách rất lớn Từ những vai trò và ý nghĩa trên em quyết định chọn đề

tài: “Phát trỉến khu vực kỉnh tế tư nhân trong điều kiện hội nhập kỉnh tế quốc tế”để viết.

Trong quá trình thực hiện đề tài chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót,

em mong được sự giúp đỡ và góp ý của thầy giáo Qua đó em cũng xin chân thànhcảm ơn thầy giáo đã tận tình giúp đỡ chúng em trong quá trình thực hiện và hoànthành đề tài này

Trang 2

B NOI DUNG

I Những vấn đề lý luận về kinh tê tư nhân:

1 Khái niệm và đặc điểm của kinh tê tư nhân:

1.1 Khái niệm:

* Kinh tế tư nhân là khái niệm chỉ khu vực kinh tế tư nhân, bao gồm các hìnhthức tổ chức sản suất kinh doanh thuộc nhóm các thành phần kinh tế tư nhân Tiêuthức cơ bản để xác định một thành phần kinh tế, một hình thức tổ chức sản suất nào

đó có thuộc kinh tế tư nhân hay không là quan hệ sản suất trước hết là quan hệ sởhữu Theo đó kinh tế tư nhân là một khu vực kinh tế dựa trên sở hữu tư nhân về tưliệu sản suất (hoặc vốn) với các hình thức tổ chức kinh doanh như doanh nghiệp,công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tư nhân

Kinh tế tư nhân bao gồm:

- Kinh tế cá thể là hình thức kinh tế dựa trên tư hữu nhỏ về tư liệu sản suất vàkhả năng lao động của bản thân người lao động và gia đình

- Kinh tế tiểu chủ cũng là hình thức kinh tế dựa trên tư hữu nhỏ về tư liệu sảnsuất nhưng có thể thuê mướn lao động, tuy nhiên, thu nhập vẫn chủ yếu dựa vào sứclao động và vốn của bản thân và gia đình

- Kinh tế tư bản tư nhân là hình thức kinh tế mà sản suất, kinh doanh dựa trên

cơ sở chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản suất và bóc lột sức lao độnglàm thuê

* Các quan hệ kinh tế cơ bản của kinh tế tư nhân:

- Quan hệ sở hữu: kinh tế tư nhân thể hiện sở hữu tư nhân về tư liệu sảnsuất

(hoặc vốn) cũng như phần của cải vật chất được tạo ra từ tư liệu sản suất hay vốn

đó Nó bao gồm sở hữu tư nhân nhỏ, là sở hữu của những người lao động tự do, sảnsuất ra sản phẩm nhờ lao động của chính mình và các thành viên trong gia đình(như thợ thủ công cá thể, tiểu thương, các hộ nông dân ) và sở hữu tư nhân lớn củacác nhà sản suất kinh doanh trong nước và nước ngoài đầu tư ở Việt Nam

Trang 3

- Quan hệ quản lý: xuất phát từ quan hệ sở hữu của kinh tế tư nhân, quan hệquản lý của khu vực kinh tế này gồm các quan hệ quản lý dựa trên sở hữu tư nhânnhỏ và quan hệ quản lý dựa trên sở hữu tư nhân lớn Quan hệ quản lý dựa trên sởhữu tư nhân nhỏ là quan hệ dựa trên sự tự tổ chức, điều hành hay tổ chức, điều hànhphân công việc trong nội bộ gia đình, giữa các thành viên gia đình với nhau Quan

hệ quản lý dựa trên sở hữu tư nhân lớn là quan hệ quản lý giũa chủ thể quản lý vớiđối tượng quản lý và khách thể quản lý, giữa người quản lý với người bị quản lý

- Quan hệ phân phối: Trong kinh tế tư nhân, quan hệ phân phối dựa trên cơ sởcác loại hình sở hữu tư nhân khác nhau Đối với các cơ sở sản suất kinh doanh màngười sở hữu đồng thời là người trực tiếp lao động, không thuê mướn nhân công, thìphân phối kết quả sản suất là tự phân phối trong nội bộ chủ thể kinh tế đó Còn đốivới các cơ sở sản suất kinh doanh lớn, chủ sở hữu tư liệu sản suất (hay vốn) sử dụnglao động của lao động làm thuê thì phân phối kết quả sản suất căn cứ vào sở hữu giátrị, tức là giá trị sức lao động của lao động làm thuê và sở hữu tư bản Trong các chế

độ chính trị xã hội khác nhau thì quan hệ phân phối của kinh tế tư nhân cũng có sựkhác biệt nhất định

1.2 Đặc điểm của kinh tế tư nhân:

Sự phát triển tích cực mạnh mẽ của kinh tế tư nhân là một trong những nhân

tố có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế Song nếu không định hướng chokhu vực kinh tế tư nhân thì tất yếu sẽ có những tác động tiêu cực xảy ra Trong nềnkinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, kinh tế tư nhân

có những đặc điểm sau:

* Kinh tế tư nhân gắn liền với phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành

phần theo cơ chế thị trường Mỗi thành phần kinh tế không thể tự tiến hành sản xuát

và lưu thông hàng hoá một cách bình thường, nếu không thực hiện những mối quan

hệ kinh tế trong nội bộ từng thành phần và giữa các thành phần kinh tế với nhau,giữa khu vực kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân Các thành phần kinh tế, các khuvực kinh tế chỉ có thể tồn tại và phát triển trong mối quan hệ phụ thuộc vào nhau

Trang 4

của quá trinh tái sản suất xã hội Các thành phần kinh tế, khu vực kinh tế vừa cạnhtranh với nhau, vừa hợp tác, hỗ trợ thúc đẩy nhau, là tiền đề phát triển của nhau theo

cơ chế thị trường trong nền kinh tế thống nhất

* Phát triển kinh tế tư nhân phải kết hợp với các mục tiêu độc lập tự chủ, xã

hội chủ nghĩa trong cơ chế thị trường, mở cửa, hội nhập quốc tế Trong nền kinh tế

quốc dân, không thể phủ nhận kinh tế tư nhân có đóng góp một phần không nhỏ.Tuy nhiên không phải vì thế mà nhà nước có thể để cho kinh tế tư nhân tự được tự

do phát triển Thiếu sự quản lý của nhà nước, các thành phần kinh tế thuộc khu vựcnày sẽ đi chệnh hướng, tự phát sang chủ nghĩa tư bản Trong bối cảch quốc tế hiệnnay, khi chúng ta đang trên con đường hội nhập thì cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập tựchủ về kinh tế, rộng hơn đó là sự lựa chọn con đường phát triển kinh tế cho riêngmình thì nhất thiết không thể thiếu vai trò chủ đạo của nhà nước

* Phát triển kỉnh tế tư nhân phải nhằm đạt tới các mục tiêu sau: huy động

vốn, tạo việc làm, nâng cao thu nhập của dân cư, tăng tổng sản phẩm xã hội và tăng thu ngân sách cho nhà nước.

* Phát triển kinh tế tư nhân theo hướng đa dạng hoấ sở hữu , đan xen các hình

thức sở hữu theo các hình thức kinh tế tư bản nhà nước.

2 Vai trò, vị trí của phát triển kinh tê tư nhân đối với nền kinh tê quốc dân và

xã hội:

Đối với nền kinh tế quốc dân thì kinh tế tư nhân có một vị trí và vai trò quantrọng nhất là trong khi nước ta đang hội nhập kinh tế quốc tế Vai trò và vị trí củaphát triển kinh tế tư nhân được thể hiện ở bốn mặt chủ yếu sau:

- Kinh tế tư nhân góp phần thúc đẩy tốc độ tăng trưởng kinh tế, tăng GDP,làm cho thị trường sôi động hơn, hàng hoá, dịch vụ phong phú và đa dạng hơn Vìthế góp phần thoả mãn mọi nhu cầu của thị trường và của người tiêu dùng dù lànhững nhu cầu nhỏ nhất Đồng thời phát triển kinh tế tư nhân còn thúc đẩy nhanh

Trang 5

quá trình công nghiệp hoá- hiện đại hoá, đẩy nhanh tốc độ lưu thông hàng hoá,chuyển dịch cơ cấu kinh tế, bảo đảm phát triển kinh tế tương đối đồng đều giữa cácmiền và với các địa phương với nhau.

- Vai trò không kém phần quan trọng nữa là phát triển khu vực kinh tế tư

nhân còn góp phần giải quyết nhiều vấn đề của xã hội như vấn đề việc làm, vấn đềthu nhập nâng cao đời sống của người dân, xoa đói giảm nghèo, tệ nạn xã hôị, huyđộng và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư

- Phát triển khu vực kinh tế tư nhân còn góp phần hỗ trợ, thúc đẩy các thànhphần kinh tế khác phát triển, khai thác mọi tiềm lực và tài nguyên

- Cuối cùng phát triển khu vực kinh tế tư nhân còn góp phần khai thác và sửdụng một cách có hiệu quả thị trường trong nước và ngoài nước Phát triển kinh tế

tư nhân còn là “ vườn ươm” các nhà doanh nhân giỏi cho đất nước

3 Những lợi thế của phát triển khu vực kinh tê tư nhân:

So sánh với các thành phần kinh tế khác thì trong hoạt động kinh doanh củakhu vực kinh tế tư nhân và các doanh nghiệp tư nhân có nhiều lợi thế Đó là khởi sự

dễ dàng, nhanh chóng thích nghi với môi trường kinh doanh thường xuyên thay đổi

và biến động, có thể “ đánh nhanh, thắng nhanh và chuyển hướng nhanh” Bộ máyquản lý gọn nhẹ, cơ chế quản lý - điều hành năng động, linh hoạt Người quản lý,điều hành khu vực kinh tế tư nhân và doanh nghiệp tư nhân có tính độc lập và tựchủ rất cao Các doanh nghiêp và cá nhân của khu vực kinh tế tư nhân rất dễ dàngphát huy được bản chất của chế độ hợp tác, liên doanh, liên kết trong sản xuất kinhdoanh Trước tiên là vì lợi ích của cá nhân mình sau là đến lợi ích của cả cộng đồng

và cả ngành Đặc biệt trong điều kiện hộp nhập quốc tế, môi trường cạnh tranh ngàycàng gay gắt thì quan hệ hợp tác này lại càng chặt chẽ hơn và hình thành các doanhnghiệp quy mô lớn, công ty cổ phần, hình thành các tập đoàn kinh doanh theo môhình công ty mẹ - công ty con

Trang 6

4 Những đặc trưng cơ bản của phát triển khu vực kinh tê tư nhân Việt Nam:

Ở Việt Nam khu vực kinh tế tư nhân hình thành, tồn tại và phát triển cónhững đặc điểm riêng và thể hiện ở những mặt sau:

- Khu vực kinh tế tư nhân được phát triển trên địa bàn rộng, đa dạng hoá vềhình thức và quy mô Tuy nhiên sự phát triển này không đồng đều giữa các vùng,tập trung chủ yếu ở các thị trấn, các khu công nghiệp, thành phố

- Khu vực kinh tế tư nhân được phát triển đa ngành đa nghề, đa sản phẩm,trong đó tập trung phát triển với quy mô lớn và phổ biến là khinh doanh thương mại(chủ yếu là bán lẻ), sau đó đến các loại dịch vụ, khách sạn du lịch, giao thông vậntải, xây dựng cơ bản, kinh tế trang trại còn các lĩnh vực kinh doanh khác ở nước tarất ít, chậm phát triển

- Ớ Việt Nam khó khăn của hoạt động kinh doanh của khu vực kinh tế tưnhân thường gặp đó là thiếu vốn, năng lực tài chính thấp, đất đai, mặt bằng hạn hẹp,công nghệ kỹ thuật lạc hậu, chậm đổi mới, sức cạnh tranh và chỉ số cạnh tranh trênthị trường kém, nguy cơ rủi ro cao

- Khu vực kinh tế tư nhân ở nước ta luôn bị động trong quan hệ thị trường chủyếu hoạt động kinh doanh ở thị trường nội địa, số doanh nghiệp tư nhân vươn ra thịtrường nước ngoài nói chung còn rất ít và thường gặp nhiều khó khăn

- Trình độ tổ chức quản lý của cán bộ và tay nghề của người lao động ở khuvực kinh tế tư nhân nói chung còn thấp, chưa được đào tạo hệ thống, hầu hết là laođộng phổ thông và làm việc theo kinh nghiệm là chủ yếu

Trong điều kiện toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay thì chúng tacần phải có những thay đổi hợp lý, nhà nước cần có những chính sách phù hợp đểkhắc phục những điểm yếu, những khó khăn và đáp ứng yêu cầu của quốc tế

II Thực trạng phát triển kinh tê tư nhân ở nước ta thời gian qua:

Trang 7

Khu vực kinh tế tư nhân ở nước ta bao gồm khoảng hơn 200.000 doanhnghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp; hơn 2,6 triệu hộ kinh doanh cá thể, một

bộ phận của gần 100.000 trang trại và hơn 10 triệu hộ nông dân có sản suất nôngsản hàng hoá không tham gia các hợp tác xã và các tổ hợp tác Trong số này,200.000 doanh nghiệp tư nhân, với các tổ chức khác nhau (công ty trách nhiệm hữuhạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân một chủ), có đầy đủ

tư cách pháp nhân, thường được coi là khu vực doanh nghiệp tư nhân chính thức; sốcòn lại được tổ chức kinh doanh ở hình thức thấp hơn, chưa có tư cách pháp nhân và

do đó thường được coi là khu vực tư nhân phi chính thức hoặc phi hình thức.Từ khiLuật kinh doanh được ban hành(ĩ-1-2000) doanh nghiệp tư nhân ở nước ta đã pháttriển mạnh mẽ Trước đó, trong thời gian 10 năm chúng ta đã hình thành được mộtđội ngũ khoảng 40.000 doanh nghiệp, nhưng với quyền kinh doanh rất hạn chế, bịtrói buộc và bị kỳ thị nặng nề Doanh nghiệp của chúng ta vẫn chỉ là một lực lượngnhỏ yếu, bị xem nhẹ và đóng góp không đáng kể vào nền kinh tế Trong suốt hơnmột thập kỷ đầu cải cách, kinh tế nước ta tăng trưởng chủ yếu nhờ hai động lực xuấtkhẩu và đầu tư nước ngoài, còn khu vực kinh tế tư nhân chưa trỏ thành động lựcphát triển như ở các “ con rồng Châu Á” và hầu hết các nước khác

1 Những chuyển biến bản của khu vực kinh tê tư nhân trong thời gian qua:

1.1 Môi trường kinh doanh tiếp tục được cải thiện:

Từ năm 2000 trở lại đây, khu vực kinh tế tư nhân nói chung, doanh nghiệp tưnhân nói riêng, đang phát triển mạnh, đóng góp ngày càng lớn vào sự nghiệp pháttriển kinh tế - xã hội của đất nước và đang ngày càng khẳng định vai trò động lựccủa mình Có được sự phát triển nhanh như vậy là do chúng ta đã thực hiện một loạtcác biện pháp cải cách trên nhiều lĩnh vực Môi trường kinh doanh của nước tatrong nhiều năm gần đây đã có nhiều cải thiện quan trọng theo hướng mở rộngquyền tự do kinh doanh của người dân trên nguyên tắc doanh nghiệp và người dânđược tự do kinh doanh tất cả những lĩnh vực mà pháp luật không cấm, khuyên khích

Trang 8

người dân làm ăn, kinh doanh làm giàu cho đất nước, khuyên khích mọi doanhnghiệp tham gia các ngành xuất khẩu, chú trọng các doanh nghiệp nhỏ và vừa

* Cải cách các thủ tục hành chính tiếp tục được cải thiện:

Trong năm 2004, việc cải cách hành chính liên quan đến khu vực kinh tế tưnhân đã được cộng đồng các doanh nghiệp đánh gía cao

- Chỉnh sách thuế và các vấn đê liên quan đến thuế là một trong những vấn

đề bức xúc nhất của cộng đồng doanh nghiệp nói riêng và khu vực kinh tế tư nhânnói chung trong nhiều năm qua Trong năm 2004, chính sách thuế tiếp tục được cảithiện nhằm tạo “sân chơi” bình đắng, xoá dần những bất họp lý, khuyến khích pháttriển kinh tế tư nhân Quyết định 197/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ cóhiệu lực từ ngày 1/1/2004 thí điểm về tự kê khai, tự tính, tự nộp thuế, bỏ cơ chếthông báo, áp đặt hoặc tính thuế thay doanh nghiệp Cơ chế tự tính, tự kê khai, tựnộp thuế năm 2004 được áp dụng thí điểm ở khoảng 300 doanh nghiệp tại Thànhphố Hồ Chí Minh và Quảng Ninh Ket quả thử nghiệm này sè được xem xét vàonăm 2005 và sau đó sẽ mở rộng cho các doanh nhiệp ở các địa phương khác Đây

là một bước tiến xây dựng một hệ thống tự đánh giá theo chuẩn mực quốc tế trongviệc áp dụng thuế thu nhập doanh nghiệp

Các quy định về thuế suất, quy định miễn giảm thuế trong năm 2004 đã có

sự điều chỉnh theo hướng tạo sự bình đắng giữa các thành phần kinh tế Mức thuếthu nhập doanh nghiệp đã được điều chỉnh : mức thuế suất phố thông đã được giảmxuống còn 28%; thuế suất ưu đãi là 20%, 15%, và 10% (mức thuế suất cũ là 32% ,25%, 20% và 15% ); bỏ thuế thu nhập bồ sung đối với doanh nghiệp trong nước,

mở rộng diện thuế ưu đãi, mở rộng diện thuế áp dụng thuế suất 0% đối với thuế giátrị gia tăng Đen nay, hầu hết các chính sách thuế đã được xây dựng trên cơ sởkhông phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế, bảo đảm bình đang giữa cácđối tượng nộp Chính sách ưu đãi thuế được áp dụng chung cho các thành phầnkinh tế Bất kì doanh nghiệp nào, nếu có đủ điều kiện ưu đãi đều có thể được hưởng

Trang 9

các ưu đãi theo quy định Chắng hạn, tiền sử dụng đất, các doanh nghiệp thuộc mọiloại hình kinh tế đều được hưởng các ưu đãi về khoản thu về đất theo quy định củaLuật Khuyến khích đầu tư trong nước Các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hàngxuất khẩu có giá trị sản lượng hàng xuất khẩu trên 30% giá trị hàng hoá, dịch vụsản xuất, kinh doanh cũng được giảm tiền sử dụng đất hoặc miễn tiền thuê đất trongmột số năm; miễn giảm thuế sử dụng đất với cơ sở sản xuất, kinh doanh được nhànước giao đất đế thực hiện dự án thuộc ưu đãi đầu tư Mức ưu đãi tuỳ thuộc vàomức độ đáp ứng các điều kiện ưu đãi của dự án, không phân biệt loại hình haythành phần kinh tế

Ngày5/4/2004, Chính phủ đã ban hành Quyết định số 53/2004/QĐ-TTg vềmột số chính sách khuyến khích đầu tư tại khu công nghệ cao, theo đó nhà đầu tư

sẽ được hưởng mức ưu đãi về thuế thu nhập ở mức cao nhất (10% trong suốt thờigian thực hiện dự án; miễn bốn năm kế từ khi có thu nhập chịu thuế và giảm 50%trong chín năm tiếp theo); ưu đãi về sử dụng đất; cho phép vay vốn tín dụng trunghạn, dài hạn với lãi suất ưu đãi, bảo lãnh vốn, hỗ trợ lãi suất sau đầu tư V V .

Các hình thức kinh tế cá thể, tiểu chủ đã được hưởng các chính sách ưu đãi ởmức cao hơn bình thường như: Kinh tế trang trại, làng nghề V V Ngành thuế cũng

đã áp dụng phương thức thu thuế hoặc hoàn thuế phù hợp với năng lực quản lý củacác hộ kinh doanh cá thế Nhiều chính sách tài chính khuyến khích phát triến kinh

tế tư nhân và thúc đấy phát triển nông nghiệp, nông thôn đã được sửa đối, bổ sungnhư: chính sách khuyến khích ngành nghề nông thôn, chính sách khuyến tiêu thụnông sản hàng hoá thông qua hợp đồng, khuyến khích phát triển các loại hình kinh

tế trang trại, dịch vụ nông thôn

- Công tác kiểm tra của hải quan được chuyển từ “tiền kiểm” sang “hậu

kiểm”, thực hiện kiểm tra có trọng điểm, mở rộng diện miễn kiểm tra hoặc kiểm traxác suất, giảm bớt các loại giấy tờ trong hồ sơ, thủ tục hải quan

Trang 10

- Các thủ tục hành chính về đăng ký kinh doanh và chế độ báo cáo của doanh

nghiệp tiếp tục được đơn giản hoá, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho doanh nghiệp.Nghị định 109/2004/NĐ-CP ngày 2/4/2004 về đăng ký kinh doanh Trình tự, thủ tục

và hồ sơ thành lập doanh nghiệp được rút ngắn Thời gian thành lập doanh nghiệp

đã được giảm từ khoảng hơn 90 ngày trước đây, xuống còn 7 ngày, kể từ khi nhận

đủ hồ sơ hợp lệ (ở nhiều địa phương thời gian đăng ký kinh doanh chỉ còn 2-4ngày) Thành phố Hồ Chí Minh đã thử nghiệm đăng ký kinh doanh qua mạng, rútngắn thời gian đăng ký kinh doanh còn một giờ, chí phí kinh doanh giảm đáng kể

Theo đánh giá của Ban Chỉ đạo đổi mới doanh nghiệp, các cơ quan thuế, hảiquan, kho bạc đã bước đầu thực hiện kết nối thông tin với nhau nên đã làm giảmđược khoảng 50% số chi tiêu mà doanh nghiệp cần báo cáo và giúp cho thủ tục kêkhai nộp thuê, hoàn thuế nhanh chóng hơn Thời gian làm thủ tục đăng ký mã sốthuế và hải quan ở một số địa phương đã giảm xuống còn 10 ngày Thủ tục muahoá đơn tài chính cũng đơn giản hơn và khuyến khích doanh nghiệp tự phát hànhhoá đơn Việc đơn giản hơn các thủ hành chính là một trong những nhân tố quantrọng làm cho số doanh nghiệp đăng ký kinh doanh và bổ sung ngành, nghề kinhdoanh tăng nhanh trong năm 2004

* Môi trường pháp lý cho sự phát triển kinh tế tư nhân cũng tiếp tục được cảithiện

Cơ sở pháp lý phân định rõ quyền của Nhà nước, của cán bộ, công chức vớiquyền của người đầu tư và doanh nghiệp đã được xác định rõ hơn, từng bước xoá

bỏ thói quen ôm đồm, làm thay và gây phiền hà, khó khăn cho doanh nghiệp tù’phía cơ quan Nhà nước Lần đầu tiên, thẩm quyền cấm hay hạn chế kinh doanhđược giới hạn vào ba cơ quan thẩm quyền cao nhất (Quốc hội, Uỷ ban thưòng vụQuốc hội và Chính phủ) Đây là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc bãi bỏ 116 giấyphép, chuyển 46 giấy phép sang điều kiện kinh doanh không cần giấy phép hoặcsang quản lý theo phương thức khác

Trang 11

Đe tạo môi trường kinh doanh thật sự bình đẳng cho các thành phần kinh tế,Luật Doanh nghiệp sửa đổi theo hướng thống nhất các loại hình doanh nghiệp đang

được soạn thảo; Luật Đầu tư thống nhất cũng đang được nghiên cửu sửa đổi chuẩn

bị nhằm điều chỉnh chung cho cho hoạt động đàu tư cả trong nước và quốc tế Năm

2005 ban hành Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp thống nhất

* Công tác quản lý đất đai cũng được cải tiến và phân cấp cụ thể hơn:

Các khâu trung gian và thời gian làm các thủ tục hành chính trong việc giaođất, thuê đất làm mặt bằng kinh doanh được rút ngắn Các doanh nghiệp được phép

tự thoả thuận với người có đất trong việc sử dụng đất làm mặt bằng sản xuất, kinhdoanh thông qua việc nhận chuyển nhượng, thuê quyền sử dụng đất, nhận góp vốnbằng quyền sử dụng đất Nhiều địa phương đã ban hành các quy định thông thoáng,minh bạch, đơn giản hơn về quy trình, thủ tục giao đất, cho thuê đất và quy trìnhthực hiện đền bù giải phóng mặt bằng Trong năm 2004, Chính phủ đã ban hành 5Nghị định quy định chi tiết việc thi hành Luật Đất đai: Nghị định 181/2004/NĐ-CPngày 29/10/2004 về thi hành Luật Đất đai; Nghị định số 182/2004/NĐ-CP ngày29/10/2004 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vự’c đất đai; Nghị định188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 về phương pháp xác định giá đất và khung giácác loại đất; Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 13/12/2004 về bồi thường, hỗ trợ

và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; Nghị định số 198/2004/NĐ-CP ngày3/12/2004 về thu tiền sử dụng đất Các nghị định này đã tạo điều kiện thuân lợi hơncho doanh nghiệp trong việc tiếp cận đất đai, mặt bằng sản xuất kinh doanh

* Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tiếp cận dễ dàng hơn với các nguồnvốn vay:

Chính phủ đã tiến hành một số quyết định mở rộng đối tượng được uỷ thácthực hiện tác nghiệp của Quỹ bảo hành cho Quỹ hỗ trợ phát triển; giao hoặc uỷ tháccho quỹ đầu tư tài chính địa phương Ngân hành nhà nước vầ các quy định thông

Trang 12

thoáng hơn, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, các hộ kinh doanh cá thể, chủtrang trại tiếp cận thuận lợi hơn với nguồn vốn tín dụng.

* Tiến hành nhiều biện pháp góp phần giúp cho doanh nghiệp giảm chi phísản suất:

Để nâng cao hơn hiệu quả sản suất kinh doanh, tính đến cuối năm 2004,chính phủ đã bãi bỏ 343 loại phĩ và lệ phí, đã thống nhất áp dụng mức thu và giảmmức thu đối với hàng chục loại lệ phí và phí với mức giảm bình quân chung là 20%

* Hệ thống tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp tiếp tục hình thành:

Ở nước ta hiện nay đã hình thành nhiều tổ chức hỗ trợ gồm các quỹ, cácchương trình hỗ trợ, các câu lạc bộ, các trung tâm hỗ trợ cung cấp thông tin, hỗ trợ

tư vấn Nhiều bộ ngành đã thành lập các tổ chức hỗ trợ phát triển doanh nghiệpnhư: Cục xúc tiến thương mại (Bộ Thương mại nay là Bộ Công thương), Câu lạc bộpháp chế doanh nghiệp (Bộ Tư pháp), Trung tâm thông tin doanh nghiệp (Bộ kếhoạch và đầu tư)

Để đáp ứng kịp thời yêu cầu của doanh nghiệp, trong năm 2004, Chính phủ

đã giao trách nhiệm cho các cơ quan hữu quan tập hợp và đề xuất cách giải quyếtcác kiến nghị của doanh nghiệp về thể chế, chính sách, đồng thời lập các nhómcông tác gồm cán bộ có trách nhiệm của một số ngành, đặc biệt là thuế hải quan,quản lý đất đai, ngân hàng trực tiếp đến các địa phương giải quyết tại chỗ cácvướng mắc của doanh nghiệp Ở nhiều địa phương như Hà Nội, Hải Dương, HảiPhòng, Nghệ An, Thành phố Hồ Chí Minh v.v , lãnh đạo các tỉnh, thành phố cũng

đã định kỳ tổ chức gặp các doanh nghiệp, không phải hàng năm mà hàng quý, hàngtháng và đã có các biện pháp rất cụ thể để giải quyết kịp thời các vướng mắc củadoanh nghiệp

1.2 Cơ cấu các loại hình doanh nghiệp:

* Luật doanh nghiệp ra đời và có hiệu lực từ ngày 1/1/2000 là một khâu độtphá thúc đẩy sự phát triển vượt bậc của doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân

Trang 13

Sau gần 5 năm thi hành Luật doanh nghiệp, đến cuối năm 2004, cả nước đã có gần108.300 doanh nghiệp mới đăng ký, đưa tổng số doanh nghiệp đăng ký lên tớikhoảng 150.000 doanh nghiệp Số doanh nghiệp đăng ký trung bình hàng năm thời

kỳ 2000-2004 bằng 3,75 lần so với trung bình hàng năm của thời kỳ 1991-1999 Sốdoanh nghiệp mới đăng ký trong 5 năm (2000-2004) cao gấp 2 lần so với 9 nămtrước đây (1991-1999) tăng bình quân 25,6% năm Sự ra đời của Luật doanh nghiệpcòn tác động tích cực đến sự chuyển dịch cơ cấu loại hình doanh nghiệp Tỷ trọngdoanh nghiệp tư nhân trong tống số doanh nghiệp đăng ký giảm từ 64% trong giaiđoạn 1991-1999 xuống còn 34% giai đoạn 2000-2004 Trong khi đó, cùng vớikhoảng thời gian trên, tỷ trọng công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phầntăng từ 36% lên 66% Loại hình công ty cổ phần tăng từ 1,1,% lên 10% năm 2003

và khoảng 13,6% năm 2004 Sự thay đổi này cho thấy các nhà đầu tư trong nước có

xu hướng lựa chọn loại hình doanh nghiệp hiện đại, tạo cơ sở để doanh nghiệp cóthể phát triển không hạn về quy mô và thời hạn hoạt động

Hình 1 Số lưọng các doanh nghiệp thuộc khu vục kinh tế tư nhân thời kỳ 1992-2004

Nguồn: cục phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, Bộ Ke hoạch và Đầu tư, năm 2004

* Sự phân bố của doanh nghiệp theo lĩnh vực kinh doanh:

Trang 14

Trước đây, hầu hết các doanh nghiệp đăng ký hoạt động chủ yếu trong lĩnhvực thương mại (khoảng 61%) còn các lĩnh vực khác thì thấp hơn nhiều Luật doanhnghiệp có hiệu lực đã tác động tích cực đến việc lựa chọn lĩnh vực kinh doanh củacác doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân Tỷ lệ doanh nghiệp hoạt độngtrong lĩnh vực chế tạo và các dịch vụ khác đã tăng lên Năm 2004 có khoảng 42,7%các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại; 31,4% trong công nghiệp vàxây dựng; 3,9% trong nông nghiệp và 21,9% trong các dịch vụ khác và kinh doanhtổng hợp Nhìn chung, sự phân bố các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân

ở các địa phương không đồng đều Doanh nghiệp chủ yếu tập chung tập trung ở cácvùng Đông Nam Bộ, vùng đồng bằng sông Hồng Điều này chứng tỏ môi trườngkinh doanh, chính sách và mức độ phát triển ở các địa phương có tác động rất lớnđến sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân Các địa phương như thành phố HồChí Minh, Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Nghệ An, Bình Dương, Đồng Nai là cácđịa phương có số doanh nghiệp đăng ký nhiều nhất

* Số vốn đăng ký:

Điều đáng quan tâm là số lượng vốn huy động được qua đăng ký thành lậpmới và mở rộng quy mô tăng mạnh mẽ Trong bốn năm các doanh nghiệp đã đầu tư(gồm cả đăng ký mới và đăng ký bố sung) đạt trên 182.175 tỷ đồng (tương đươngkhoảng 12,1 tỷ USD; cao hơn số vốn đầu tư nước ngoài đăng ký trong cùng thờikỳ); trong đó năm 2000 là 1,3 tỷ USD, năm 2001 là 2,3 tỷ USD, năm 2002 là gần 3

tỷ USD, năm 2003 khoảng 3,6 tỷ USD và hết tháng 5-2004 khoảng 1,8 tỷ USD.Riêng số vốn mới đăng ký giai đoạn 2000-2003 đã cao gấp hơn 4 lần so với 9 nămtrước đây (1991-1999) vốn đăng ký mới ở tất cả các tỉnh thành phố từ năm 2000đến tháng 7-2003 đều cao hơn số vốn đăng ký thời kì 1991-1999 Trong đó, có bamươi ba tỉnh, thành phố đạt tốc tăng cao gấp hơn 4 lần; có mười một tỉnh đạt tốc độtăng cao hơn 10 lần; thậm chí có những tỉnh như: Quảng Ninh, Vĩnh Phúc, HưngYên đạt tốc độ hơn 20 lần Xét về tỷ lệ gia tăng, vốn đăng ký mới ở các tỉnh,

Trang 15

thành phố phía bắc tăng nhanh và cao hơn nhiều so với các tỉnh khác, nhất là cáctỉnh Đồng bằng sông Cửu Long và miền Trung.vốn đầu tu của các doanh nghiệpdân doanh đã đóng vai trò quan trọng, thậm chí là nguồng vốn đầu tư chủ yếu đốivới phát triển kinh tế địa phương Ví dụ, đàu tư của các doanh nghiệp dân doanhnăm 2002 ở thành phố Hồ Chí Minh đã chiếm 38% tổng số vốn đầu tư toàn xã hội,cao hơn tỷ trọng vốn đầu tư của DDNN và ngân sách nhà nước gộp lại (36,5%).

Hình 2 Số vốn đăng ký hàng năm của các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân thời kỳ 1998-2004

Nguồn: Trung tâm Thông tin doanh nghiệp, Bộ Ke hoạch và Đầu tư, năm 2004

Quy mô doanh nghiệp ngày càng tăng và khác nhau ở từng địa phương.Doanh nghiệp đăng ký vốn thấp nhất là 5 triệu đồng và cao nhất là 200 tỷ đồng(hơn 13 triệu USD) Nhìn chung, số vốn đăng ký cao nhất phố biến ở các địaphương là 10 tỷ đồng như Hưng Yên là 3 tỷ đồng/ doanh nghiệp; Quảng Ninh, BìnhDương là 2,5 tỷ đồng/ doanh nghiệp; Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh là 1,25 tỷđồng/ doanh nghiệp Các tỉnh, thành phố có lượng doanh nghiệp đăng ký nhiều nhấtlà: thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nang, Nghệ An, Bình Dương,Đồng Nai, Cà Mau, Khánh Hoà, Kiên Giang

Đơn vị: tỷ đồng

Trang 16

1.3 Những đóng góp quan trọng của kinh tế tư nhân:

Nhờ có những chuyển biến quan trọng trong khu vực kinh tế tư nhân thờigian qua nên kinh tế tư nhân đã phát triển nhanh chóng, đóng góp tích cực vào tăngtrưởng kinh tế và phát triển xã hội của đất nước trên các mặt như: tạo công ăn việclàm, tăng vốn đầu tư phát triển, mở rộng xuất khẩu, thúc đẩy tăng trưởng các ngànhkinh tế công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, thúc đẩy phát triển thị truờng, đổi mớikinh tế và hành chính

* Tạo thêm nhiều việc làm:

Nước ta hàng năm có thêm khoảng 1,4-1,5 triệu người đến tuổi tham gia thịtrường lao động Ngoài ra, số lao động nông nghiệp có nhu cầu chuyến sang làmviệc trong các ngành phi nông nghiệp cũng không nhỏ Nhu cầu hàng năm phải tạothêm được hàng triệu việc làm đang là một áp lực xã hội mạnh đối với chính phủ vàcác cấp chính quyền địa phương Kinh tế tư nhân phát triển đã giải quyết được một

số lượng lớn việc làm cho người lao động Tính đến 9/2003, cả nước ta đã cókhoảng 12,4 triệu hộ kinh doanh cá thể thu hút khoảng 23 triệu lao động, chưa kể

Trang 17

số lao động đang làm việc trong hơn 117.000 doanh nghiệp tư nhân Năm 2004,doanh nghiệp ngoài quốc doanh góp phần giải quyết khoảng 1,6- 2 triệu việc làm,trong đó doanh nghiệp vừa và nhỏ đã thu hút 49% việc làm phi nông nghiệp ở nôngthôn, khoảng 25-26% lực lượng lao động cả nước; đưa số lao động làm việc trongtrực tiếp trong các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân xấp xỉ bằng tổng sốlao động trong các doanh nghiệp nhà nước Đây là sự đóng góp tích cực vào ổnđịnh chính trị xã hội, thực hiện xoá đói giảm nghèo, cải thiện đời sống.

* Góp phần cân bằng ngoại tệ thông qua xuất khẩu:

Các mặt hàng xuất khẩu ở nước ta rất phong phú như may mặc, giầy dép,thuỷ hải sản, cà phê, cao su Nhưng đa số các mặt hàng này đều do khu vực kinh

tế tư nhân sản suất và đã đem lại nhiều ngoại tệ cho đất nước Theo đánh giá của Bộthương mại nay là Bộ Công thương thì khu vực kinh tế tư nhân đã đóng góp gần mộtnửa tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước trong các năm qua Trong tương lai, tỷ

lệ trên sẽ càng tăng lên và khu vực kinh tế này sẽ là khu vực tạo nguồn thu ngoại tệlớn cho đất nước Tuy vậy xuất khẩu giữa các doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân

ở địa phương còn nhỏ và có sự chênh lệch giữa các vùng, tỉnh như ở Hà Nội chiếm25% tổng kim ngạch xuất khẩu của thành phố, ở Hà Giang là 60% tổng kim ngạchxuất khẩu của tỉnh, Quản Ngãi là 34%, Bình Thuận là 45%

* Góp phần phục hồi và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế:

Trong những năm gần đây nhất là từ khi có Luật doanh nghiệp, khu vực kinh

tế tư nhân đã trở thành động lực mạnh mẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nước ta.Năm 2004 công nghiệp ngoài quốc doanh tăng 22,8%, là mức tăng cao nhất so vớicác khu vực khác chiếm tỷ trọng 27% giá trị sản xuất công nghiệp Đóng góp củakhu vực kinh tế tư nhân vào tăng trưởng GDP tăng từ 36,6% năm 2000 lên 41,7%năm 2003 và khoảng 42% năm 2004, chiếm khoảng 27% trong các ngành côngnghiệp chế biến

* Đóng góp vào nguồn thu ngân sách:

Trang 18

Đóng góp của các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tê tư nhân vào nguônngân sách nhà nước đang có xu hướng tăng lên trong mấy năm gần đây, từ khoảng6,4% năm 2001 lên hơn 7,4% năm 2002 (tỷ lệ tương ứng của doanh nghiệp có vốnđầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là 5,2% và 6%, của DNNN là 21,6% và 23,4% ).Thu từ thuế công thương nghiệp và dịch vụ ngoài quốc doanh năm 2002 tăng 13%

so với năm 2001 Năm 2003, số thu tù’ doanh nghiệp dân doanh chiếm 15% tổng sốthu tăng 29,5% so với cùng kỳ các năm trước

* Góp phần tạo môi trường kinh doanh:

Kinh tế tư nhân đã góp phần thúc đẩy phát triển thể chế kinh tế thị trườngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy nhanh tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế Sự pháttriển của kinh tế tư nhân là nhân tố quan trọng tạo môi trường cạnh tranh giữa cácthành phần kinh tế, phá bỏ tính độc quyền của một số doanh nghiệp nhà nước Nóthúc đẩy sự hình thành và phát triển các loại thị trường, đó là thị trường hàng hoá vàdịch vụ, thị trường lao động, thị trường tài chính, thị truờng bất động sản, thị trườngkhoa học và công nghệ Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta sẽkhông thể thực hiện được nếu không có sự tham gia của khu vực kinh tế tư nhân

* Góp phần đổi mới công nghệ:

Hiện nay nước ta đang trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, số doanhnghiệp có vốn đầu tư nước ngoài xuất hiện và phát triển mạnh Đầu tư nước ngoàivào Việt Nam đã mang theo những công nghệ khoa học tiên tiến nhằm nâng caohiệu quả lao động cũng như chất lượng sản phẩm Điều này đã tạo sức ép cho cácdoanh nghiệp trong nước Muốn giữ được thi trường của mình họ phải áp dụngnhững công nghệ mới Vì thế trong nhiều năm gần đây, đầu tư đổi mới công nghệcủa các doanh nghiệp đã có dấu hiệu gia tăng nhanh chóng Năm 2002, ước tính cảnước có khoảng 200 hợp đồng chuyển giao công nghệ, trong đó khoảng 90% sốhợp đồng là của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Như vậy, mức độ đầu tưđổi mới công nghệ của các doanh nghiệp Việt Nam còn rất thấp so với yêu cầu phát

Ngày đăng: 12/01/2016, 17:23

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w