MỞ ĐẦU 1.TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Trong xu thế hội nhập của nền kinh tế toàn cầu thì đẩy mạnh xuất khẩu được xem là một trong những yếu tố cơ bản của tăng trưởng kinh tế và do đó góp ph
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Mạnh Tuân
HÀ NỘI- THÁNG 9 NĂM 2009
Trang 2MỤC LỤC
Trang
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ XUẤT KHẨU HÀNG
HOÁ TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
5
1.1 KHÁI NIỆM, VAI TRÒ VÀ CÁC HÌNH THỨC XUẤT KHẨU 5
1.1.3 Vai trò của hoạt động xuất khẩu Trang 6
1.2 CÁC CHỈ TIÊU CHỦ YẾU ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG XUẤT
KHẨU
Trang 17
1.2.1 Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu Trang 17
Trang 31.3.2 Các yếu tố xã hội Trang 28 1.3.3 Các yếu tố chính trị pháp luật Trang 28 1.3.4 Các yếu tố về tự nhiên và công nghệ Trang 29 1.3.5 Yếu tố hạ tầng phục vụ cho hoạt động xuất khẩu Trang 30 1.3.6 Nhu cầu của thị trường thế giới Trang 30 1.3.7 Các nhân tố thuộc về doanh nghiệp Trang 31
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU HÀNG HOÁ CỦA TỈNH BẮC GIANG
GIAI ĐOẠN 2003 - 2008
Trang 35
2.2 THỰC TRẠNG XUẤT, NHẬP KHẨU HÀNG HOÁ CỦA TỈNH
BẮC GIANG
Trang 47
2.2.2 Về cơ cấu thị trường xuất khẩu Trang 49 2.2.3 Về cơ cấu mặt hàng xuất khẩu Trang 51
Trang 42.2.4 Các hình thức xuất khẩu hàng hoá chủ yếu Trang 52 2.2.5 Tình hình nhập khẩu hàng hoá Trang 53 2.2.6 Cán cân xuất, nhập khẩu của tỉnh Trang 55 2.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ XUẤT KHẨU HÀNG HOÁ TỈNH BẮC
GIANG
Trang 56
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU ĐẨY MẠNH
XUẤT KHẨU HÀNG HOÁ TỈNH BẮC GIANG
Trang 59
3.2 ĐỊNH HƯỚNG, MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN XUẤT KHẨU HÀNG
HOÁ CỦA TỈNH BẮC GIANG
Trang 53.3.1 Tăng cường nghiên cứu, phát triển thị trường Trang 65 3.3.2 Tăng cường hoạt động xúc tiến thương mại Trang 70 3.3.3 Phát triển mặt hàng xuất khẩu Trang 72 3.3.4 Phát triển doanh nghiệp xuất khẩu Trang 80 3.3.5 Hỗ trợ từ phía Nhà nước đối với doanh nghiệp xuất khẩu Trang 84
Trang 6MỞ ĐẦU 1.TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trong xu thế hội nhập của nền kinh tế toàn cầu thì đẩy mạnh xuất khẩu được xem là một trong những yếu tố cơ bản của tăng trưởng kinh tế và do đó góp phần quyết định sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa (CNH-HĐH) đất nước Xuất khẩu làm cho các doanh nghiệp phải trải qua các quá trình thử thách gay go trong cạnh tranh trên thị trường thế giới Trong quá trình đó, các doanh nghiệp không những cố gắng cải tiến, nâng cao chất lượng hàng hóa, giảm chi phí sản xuất, mà còn có cơ hội tiếp xúc với những công nghệ mới và
bí quyết kinh doanh, do vậy có thể nâng cao trình độ công nghệ sản xuất, quản lý và tiếp thị Xuất khẩu cũng đã góp phần vào giải quyết những vấn đề cấp bách của xã hội như: tạo công ăn việc làm, xóa đói giảm nghèo, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp với sự biến đổi của thị trường thế giới
Bắc Giang tỉnh miền núi có vị trí địa lý tương đối thuận lợi, có trục đường giao thông chính (đường: bộ, sắt, thuỷ) quan trọng của quốc gia chạy qua
Trung tâm kinh tế chính trị của tỉnh là thị xã Bắc Giang gần với thủ đô
Hà Nội và khu vực đồng bằng sông Hồng nơi tiếp giáp tam giác kinh tế Hà Nội-Hải Phòng-Quảng Ninh (nơi tập trung đầu mối kinh tế, khoa học, công nghệ của cả nước; tập trung đông dân cư và đó là thị trường lớn cho tiêu thụ nông sản hàng hoá)
Bắc Giang gần các cửa khẩu Lạng Sơn, Lào Cai, cảng Hải Phòng, cảng biển Cái Lân (Quảng Ninh) nên thuận lợi cho giao thông nhất là xuất khẩu hàng hoá
Trang 7Tuy nhiên với đặc thù là tỉnh miền núi mật độ dân số phân bổ không đều, tốc độ đô thị hoá chưa cao, công nghiệp phát triển chậm, nông nghiệp còn phân tán, tốc độ tăng trưởng kinh tế và thu nhập dân cư còn là mức thấp so với bình quân chung của cả nước nên sức mua hạn chế Đó là những yếu tố không thuận lợi cho lưu thông hàng hoá, phát triển thương mại và đẩy mạnh xuất khẩu
Mặc dù trong giai đoạn 2000-2008 tăng trưởng xuất khẩu của tỉnh luôn đạt tốc độ tương đối cao, song với xuất phát điểm thấp nên đến năm 2008 kết quả xuất khẩu của tỉnh Bắc Giang mới chỉ đạt xấp xỉ 150 triệu USD, kim ngạch xuất khẩu bình quân đầu người xấp xỉ 100 USD/ ng, là thấp so với bình quân chung của cả nước Do vậy nhiệm vụ đẩy mạnh xuất khẩu của tỉnh nhằm nhanh chóng theo kịp so với bình quân chung của cả nước đang là nhiệm vụ hết sức cấp bách với tỉnh Bắc Giang Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn khách
quan trên tôi mạnh dạn chọn đề tài: “Hoạt động xuất khẩu hàng hoá của tỉnh Bắc Giang trong điều kiện hội nhập kinh tế Quốc tế” ” làm đề tài nghiên cứu
cho luận văn của mình
2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Để đẩy mạnh xuất khẩu thì tỉnh Bắc Giang cần phải có nhiều giải pháp đồng bộ để phát triển sản xuất sản phẩm xuất khẩu, hạ giá thành sản phẩm, cải tiến mẫu mã, kiểu dáng, tăng cường xúc tiến thương mại mở rộng thị trường, đẩy mạnh nghiên cứu nhu cầu thị trường thế giới, khu vực, tập trung sản xuất cái thị trường cần, ta có thế mạnh hơn là chỉ tìm bán cái mà ta đang có…
Từ trước đến nay, đã có nhiều cuộc họp, hội thảo nghiên cứu đánh giá kiểm điểm về tình hình xuất khẩu của tỉnh Bắc Giang, tìm hướng đi để đẩy mạnh xuất khẩu của tỉnh Bắc Giang Song mới chỉ là những ý kiến phiến diện, trứơc mắt, thiếu định hướng dài hạn, chưa đầy đủ, không có đầy đủ cơ sơ lý
Trang 8luận, thực tiễn, chưa hệ thống để có thể áp dụng vào thực tiễn Hiện nay chưa
có một công trình nghiên cứu khoa học nào đề cập đến thực trạng và giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa của tỉnh Bắc Giang Do đó đề tài: “Hoạt động xuất khẩu hàng hoá của tỉnh Bắc Giang trong điều kiện hội nhập kinh tế Quốc tế” sẽ nghiên cứu cả lý luận và thực tiễn một cách có hệ thống giúp tỉnh Bắc Giang có những cái nhìn khách quan hơn trong các giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu, tương xứng với tiềm năng thế mạnh của tỉnh
3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
3.1 Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở làm rõ cơ sơ lý luận, cơ sở khoa
học về xuất khẩu, vai trò, tác dụng của xuất khẩu đối với việc phát triển kinh
tế của tỉnh, đối với sự nghiệp CNH-HĐH tỉnh Bắc Giang; luận văn phân tích những thực trạng của xuất khẩu hàng hóa của tỉnh Bắc Giang, qua đó tìm ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân dẫn đến hạn chế; trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa của tỉnh Bắc Giang trong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về xuất khẩu;
- Phân tích thực trạng xuất khẩu hàng hóa của tỉnh Bắc Giang
- Căn cứ vào lý luận và kết quả phân tích, đánh giá thực trạng xuất khẩu hàng hóa, từ đó đề ra mục tiêu, định hướng và giải pháp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa của tỉnh Bắc Giang
4 ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
4.1 Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận,
thực tiễn về xuất khẩu hàng hóa của tỉnh Bắc Giang
Trang 94.2 Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu các hoạt động xuất khẩu
hàng hoá của tỉnh Bắc Giang giai đoạn từ năm 2003 đến nay
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để giải quyết những vấn đề dặt ra, luận văn sử dụng một số phương pháp sau:
- Duy vật biện chứng và duy vật lịch sử;
- Phương pháp đánh giá tổng quan;
-Phương pháp tổng hợp, so sánh, phân tích số liệu;
-Thông kê kinh tế
Tất cả các phương pháp được sử dụng nhằm tìm ra những căn cứ, cơ sở minh hoạ cho luận điểm đồng thời góp phần đưa ra những giải pháp phù hợp với tình hình thực tế của tỉnh Bắc Giang
6 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN
Luận văn đóng góp mới những vấn đề cơ bản sau:
- Hệ thống hóa những vấn đề lý thuyết về xuất khẩu hàng hóa
- Chỉ ra những hạn chế và nguyên nhân về hoạt động xuất khẩu của tỉnh Bắc Giang
- Luận văn đưa ra các giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu của tỉnh Bắc giang trong thời gian tới
7 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN
Bố cục của luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, mục lục, phụ lục, phần nội dung được chia làm 3 chương:
CHƯƠNG 1 Xuất khẩu hàng hóa: một số vấn đề lý luận và thực tiễn CHƯƠNG 2 Thực trạng xuất khẩu hàng hoá của tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2003-2008
CHƯƠNG 3 Phương hướng và giải pháp chủ yếu đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa tỉnh Bắc Giang
Trang 10CHƯƠNG 1 XUẤT KHẨU HÀNG HÓA: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
VÀ THỰC TIỄN 1.1 KHÁI NIỆM, VAI TRÒ VÀ CÁC HÌNH THỨC XUẤT
KHẨU
1.1.1 Khái niệm về xuất khẩu
Xuất khẩu là việc bán hàng hoá hoặc dịch vụ cho nước ngoài trên cơ sở dùng ngoại tệ làm phương tiện thanh toán Cơ sở của hoạt động xuất khẩu là hoạt động mua bán trao đổi hàng hoá (bao gồm cả hàng hoá hữu hình và hàng hoá vô hình) trong nước Khi sản xuất phát triển và trao đổi hàng hoá giữa các quốc gia có lợi, hoạt động này mở rộng phạm vi ra ngoài biên giới của quốc gia hoặc thị trường nội địa và khu chế xuất ở trong nước
Xuất khẩu là một hoạt động cơ bản của hoạt động ngoại thương, nó đã xuất hiện từ lâu đời và ngày càng phát triển từ hình thức cơ bản đầu tiên là trao đổi hàng hoá giữa các nước, cho đến nay nó đã rất phát triển và được thể hiện thông qua nhiều hình thức Hoạt động xuất khẩu ngày nay diễn ra trên phạm vi toàn cầu, trong tất cả các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế, không chỉ là hàng hoá hữu hình mà cả hàng hoá vô hình với tỷ trọng ngày càng lớn
1.1.2 Bản chất của xuất khẩu
Xuất khẩu là một bộ phận cấu thành quan trọng cuả hoạt động ngoại thương, trong đó hàng hoá dịch vụ được bán cho nước ngoài nhằm thu ngoại
tệ
Trang 11Nếu xem xét dưới góc độ các hình thức kinh doanh quốc tế thì xuất khẩu
là hình thức cơ bản đầu tiên của doanh nghiệp khi bước vào kinh doanh quốc
tế Mỗi công ty luôn hướng tới xuất khẩu những sản phẩm và dịch vụ của mình ra nước ngoài Xuất khẩu còn tồn tại ngay cả khi công ty đã tiến hành các hình thức cao hơn trong kinh doanh quốc tế Các lý do để một công ty thực hiện xuất khẩu là:
Thứ nhất, sử dụng những lợi thế của quốc gia mình
Thứ hai, giảm chi phí, giảm giá thành sản phẩm
Khi một thị trường chưa bị hạn chế bởi thuế quan, hạn ngạch, các quy định khắt khe về tiêu chuẩn kỹ thuật, trên thị trường có ít đối thủ cạnh tranh hay năng lực của doanh nghiệp kinh doanh quốc tế còn chưa có đủ khả năng
để thực hiện các hình thức cao hơn thì xuất khẩu được lựa chọn So với đầu tư
rõ ràng xuất khẩu đòi hỏi một lượng vốn ít hơn, rủi ro thấp hơn, thu được lợi nhuận trong một thời gian ngắn
Trong xu thế hội nhập của nền kinh tế toàn cầu thì hoạt động xuất khẩu
là hoạt động rất cần thiết Thông qua hoạt động xuất khẩu các quốc gia tham gia vào hoạt động này phụ thuộc vào nhau nhiều hơn Dựa trên cơ sở về lợi thế so sánh giữa các quốc gia từ đó mà tính chuyên môn hoá cao hơn, làm giảm chi phí sản xuất và các chi phí khác từ đó làm giảm giá thành Mục đích của các quốc gia khi tham gia xuất khẩu là thu được một lượng ngoại tệ để có thể nhập khẩu các trang thiết bị máy móc, kĩ thuật công nghệ hiện đại… tạo ra công ăn việc làm, tăng thu nhập và nâng cao mức sống của nhân dân, từ đó tạo điều kiện thúc đẩy kinh tế phát triển và rút ngắn được khoảng cách chênh lệch quá lớn giữa các nước Trong nền kinh tế thị trường các quốc gia không thể tự mình đáp ứng được tất cả các nhu cầu mà nếu có đáp ứng thì chi phí quá cao, vì vậy bắt buộc các quốc gia phải tham gia vào hoạt động xuất khẩu,
Trang 12xuất khẩu những gì mà mình có lợi thế hơn các quốc gia khác và nhập những
gì mà trong nước không sản xuất được hoặc có sản xuất được thì chi phí quá cao Do đó các nước khi tham gia vào hoạt động xuất nhập rất có lợi, tiết kiệm được nhiều chi phí, tạo được nhiều việc làm, giảm được các tệ nạn xã hội, tạo điều kiện chuyển dịch cơ cấu ngành nghề, thúc đẩy sản xuất phát triển, góp phần vào xây dựng công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước
1.1.3.Vai trò của hoạt động xuất khẩu
Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, không một quốc gia nào có thể tự sản xuất tất cả các sản phẩm hàng hoá, dịch vụ đáp ứng nhu cầu trong nước
Vì vậy tham gia vào hoạt động thương mại quốc tế là điều kiện cần thiết cho mỗi quốc gia Mỗi quôc gia phải thông qua trao đổi, mua bán với các quốc gia nhằm thoả mản nhu cầu của mình Như vậy, hoạt động xuất khẩu góp phần quan trọng vào sự phát triển hay suy thoái, lạc hậu của quốc gia so với thế giới Vai trò của hoạt động xuất khẩu được thể hiện như sau:
1.1.3.1.Đối với nền kinh tế thế giới
Thông qua hoạt động xuất khẩu, các quốc gia tham gia vào phân công lao động quốc tế Các quốc gia sẽ tập trung vào sản xuất và xuất khẩu những hàng hoá và dịch vụ mà mình có lợi thế Xét trên tổng thể nền kinh tế thế giới thì chuyên môn hoá sản xuất và xuất khẩu sẽ làm cho việc sử dụng các nguồn lực có hiệu quả hơn và tổng sản phẩm xã hội toàn thế giới tăng lên Bên cạnh
đó xuất khẩu góp phần thắt chặt thêm quan hệ quốc tế giữa các quốc gia, nâng cao địa vị vai trò của nước xuất khẩu trên trường quốc tế Nhờ khả năng xuất khẩu dầu thô, gạo, cà phê, hạt tiêu… của chúng ta lớn mà nhiều nước muốn thiết lập quan hệ buôn bán và đầu tư với Việt Nam
1.1.3.2 Đối với nền kinh tế quốc dân
Trang 13Thông qua hoạt động xuất khẩu sẽ tạo nguồn vốn quan trọng, chủ yếu cho quốc gia thoả mãn nhu cầu nhập khẩu và tích luỹ để phát triển sản xuất Mỗi quốc gia muốn tăng trưởng và phát triển kinh tế lại rất cần những
tư liệu sản xuất để phục vụ cho công cuộc CNH- HĐH Muốn có những tư liệu sản xuất đó, họ phải nhập khẩu từ nước ngoài Tuy nhiên muốn nhập khẩu tư liệu sản xuất đó thì cần một khối lượng ngoại tệ lớn và nguồn ngoại tệ
bù đắp sự thiếu hụt đó họ sẽ lấy từ xuất khẩu Ở các nước kém phát triển vật ngăn cản chính đối với nền kinh tế là thiếu tiềm lực về vốn trong quá trình phát triển Nguồn vốn huy động từ nước ngoài được coi là chính nhưng mọi
cơ hội đầu tư hoặc vay nợ từ nước ngoài thường được xét trên khả năng xuất khẩu của đất nước đó, vì đây là nguồn chính đảm bảo nước này có thể trả nợ Đẩy mạnh xuất khẩu được xem như một yếu tố quan trọng kích thích
sự tăng trưởng kinh tế Việc đẩy mạnh xuất khẩu sẽ tạo điều kiện mở rộng qui
mô sản xuất, nhiều ngành nghề mới ra đời phục vụ cho xuất khẩu, gây phản ứng dây chuyền giúp cho các ngành kinh tế khác phát triển theo, dẫn đến kết quả tăng tổng sản phẩm xã hội và nền kinh tế phát triển nhanh có hiệu quả Xuất khẩu có vai trò kích thích đổi mới trang thiết bị và công nghiệp sản xuất Để có thể đáp ứng được nhu cầu cao của thế giới về qui cách phẩm chất sản phẩm thì người sản xuất phải đổi mới trang thiết bị công nghệ, người lao động phải năng cao tay nghề, học hỏi những kinh nghiệm sản xuất tiên tiến Thực tiễn ở ngành may của Việt Nam sau những năm mất thị trường Đông Âu và Liên Xô, hàng loạt các doanh nghiệp may gia công phải thay đổi thiết bị, máy móc Trước đây khi chưa xuất khẩu gạo, những máy móc chế biến gạo của Việt Nam rất thô sơ, gạo không cần đánh bóng, sàng lọc kỹ tấm… đến khi chuyển sang xuất khẩu gạo, thì nhiều hệ thống dây chuyền chế biến gạo hiện đại, tinh xảo đã ra đời
Trang 14Đẩy mạnh xuất khẩu nó sẽ làm thay đổi cơ cấu kinh tế ngành theo hướng sử dụng có hiệu quả nhất lợi thế so sánh tuyệt đối và tương đối của đất nước Khi xuất khẩu hàng hóa ra thị trường thế giới, nền kinh tế phải trực diện tiếp xúc với môi trường cạnh tranh lớn và muốn có chỗ đứng của sản phẩm xuất khẩu trên thị trường khu vực và thế giới, thì các ngành kinh tế phục vụ xuất khẩu phải hoạch định dựa trên những lợi thế của quốc gia : như tài nguyên, lao động, vốn kỹ thuật và công nghệ… có như vậy sản phẩm sản xuất
ra để xuất khẩu mới rẻ, chất lượng cao có khả năng cạnh tranh với sản phẩm của quốc gia khác
Xuất khẩu có tác động trực tiếp đến việc giải quyết công ăn việc làm và cải thiện đới của nhân dân Nhờ có hoạt động xuất khẩu mà một bộ phận người lao động có công ăn việc làm và có thu nhập vì vậy xuất khẩu góp phần nâng cao mức sống của nhân dân Ngoài ra một phần kim ngạch xuất khẩu còn dùng để nhập khẩu những vật phẩm tiêu dùng thiết yếu phục vụ cho đời sống và đáp ứng ngày càng phong phú hơn nhu cầu tiêu dùng của nhân dân Xuất khẩu làm cho sản phẩm sản xuất của quốc gia sẽ tăng thông qua
mở rộng với thị trường quốc tế Xuất khẩu cho phép các quốc gia đang phát triển thực hiện quy mô lợi thế kinh tế mà có thể bị giới hạn trong thị trường nội địa Một nền công nghiệp không liên hệ cạnh tranh với thế giới bên ngoài thường không tạo động lực cho sự cải tiến Mở cửa kinh tế, phát triển kinh tế hướng về xuất khẩu có thể nuôi dưỡng sự tăng trưởng của các doanh nghiệp công nghiệp non trẻ trở thành công ty có khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới bằng việc mở rộng thị trường và đưa ra nhưng sản phẩm và quy trình sản xuất phù hợp với nhu cầu thị trường, nhu cầu về các loại sản phẩm khác nhau ở các quốc gia
1.1.3.3 Đối với doanh nghiệp
Trang 15Ngày nay xu hướng vươn ra thị trường nước ngoài là một xu hướng chung của tất cả các quốc gia và các doanh nghiệp Việc xuất khẩu hàng hoá dịch vụ đem lại lợi ích sau:
Thông qua xuất khẩu các doanh nghiệp trong nước có cơ hội tham gia vào cuộc cạnh tranh trên thị trường thế giới về giá cả, chất lượng Những yếu
tố đó đòi hỏi doanh nghiệp phải hình thành một cơ cấu sản xuất phù hợp với thị trường
Xuất khẩu đòi hỏi các doanh nghiệp luôn luôn đổi mới và hoàn thiện công tác quản lý sản xuất, kinh doanh nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành
Xuất khẩu tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mở rộng thị trường, mở rộng quan hệ kinh doanh với các bạn hàng cả trong và ngoài nước, trên cơ sở hai bên cùng có lợi, tăng doanh số và lợi nhuận, đồng thời phân tán và chia sẻ rủi ro, mất mát trong hoạt động kinh doanh, tăng cường uy tín kinh doanh của doanh nghiệp
Xuất khẩu khuyến khích việc phát triển các mạng lưới kinh doanh của doanh nghiệp, chẳng hạn như hoạt động đầu tư, nghiên cứu và phát triển các hoạt động sản xuất, marketing…,cũng như sự phân phối và mở rộng thị trường [15,524-528]
1.1.4 Các hình thức xuất khẩu
Trên thị trường thế giới, các nhà buôn giao dịch với nhau theo những
cách thức nhất định Ứng với mỗi phương thức xuất khẩu có đặc điểm riêng
Kỹ thuật tiến hành riêng, tuy nhiên trong thực tế xuất khẩu thường sử dụng một trong những phương thức chủ yếu sau:
1.1.4.1 Xuất khẩu trực tiếp
Trang 16Khái niệm trực tiếp là việc xuất khẩu các loại hàng hoá và dịch vụ do chính doanh nghiệp sản xuất ra hoặc thu mua từ các đơn vị sản xuất trong nước tới khách hàng nước ngoài thông qua các tổ chức cuả mình
Trong trường hợp doanh nghiệp tham gia xuất khẩu là doanh nghiệp thương mại không tự sản xuất ra sản phẩm thì việc xuất khẩu bao gồm hai công đoạn:
+ Thu mua tạo nguồn hàng xuất khẩu với các đơn vị, địa phương trong nước
+ Đàm phán ký kết với doanh nghiệp nước ngoài, giao hàng và thanh toán tiền hàng với đơn vị bạn
Phương thức này có một số ưu điểm là: thông qua đàm phán thảo luận trực tiếp dễ dàng đi đến thống nhất và ít xảy ra những hiểu lầm đáng tiếc do đó:
+ Giảm được chi phí trung gian do đó làm tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp
+ Có nhiều điều kiện phát huy tính độc lập của doanh nghiệp
+ Chủ động trong việc tiêu thụ hàng hoá sản phẩm của mình
Tuy nhiên bên cạnh những mặt tích cực thì phương thức này còn bộc lộ một số những nhược điểm như:
+ Dễ xảy ra rủi ro
+ Nếu như không có cán bộ xuất nhập khẩu có đủ trình độ và kinh nghiệm khi tham gia ký kết hợp đồng ở một thị trường mới hay mắc phải sai lầm gây bất lợi cho mình
Trang 17+ Khối lượng hàng hoá khi tham giao giao dịch thường phải lớn thì mới
có thể bù đắp được chi phí trong việc giao dịch
Do vậy, khi tham gia xuất khẩu trực tiếp phải chuẩn bị tốt một số công việc Nghiên cứu hiểu kỹ về bạn hàng, loại hàng hoá định mua bán, các điều kiện giao dịch đưa ra trao đổi, cần phải xác định rõ mục tiêu và yêu cầu của công việc Lựa chọn người có đủ năng lực tham gia giao dịch, cần nhắc khối lượng hàng hoá, dịch vụ cần thiết để công việc giao dịch có hiệu quả
1.1.4.2 Xuất khẩu gián tiếp
Xuất khẩu gián tiếp là hình thức xuất khẩu mà nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu phải thông qua một người thứ ba, người này là trung gian
- Ưu điểm: giảm bớt được chi phí nghiên cứu tìm kiếm bạn hàng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc kinh doanh như: mở rộng kênh phân phối, mạng lưới kinh doanh, am hiểu thị trường giảm được rủi ro, giảm các chi phí trong quá trình giao dịch
- Nhược điểm: bị thụ động phải phụ thuộc nhiều vào người trung gian, đặc biệt là không kiểm soát được người trung gian
1.1.4.3 Xuất khẩu gia công uỷ thác
Xuất khẩu gia công uỷ thác là một hình thức xuất khẩu trong đó đơn vị ngoại thương đứng ra nhập nguyên vật liệu hoặc bán thành phẩm cho các xí nghiệp gia công, sau đó thu hồi thành phẩm để bán cho bên nước ngoài, đơn
vị được hưởng phí uỷ thác theo thoả thuận với các xí nghiệp uỷ thác
Đây là một phương thức kinh doanh trong đó một bên gọi là bên nhận gia công nguyên vật liệu hoặc bán thành phẩm của một bên khác (gọi là bên đặt gia công) để chế biến ra thành phẩm giao cho bên đặt gia công và nhận thù lao (gọi là phí gia công)
Trang 18Đây là một trong những hình thức xuất khẩu đang có bước phát triển mạnh mẽ và được nhiều quốc gia chú trọng bởi những lợi ích của nó
Đối với bên đặt gia công: Phương thức này giúp họ lợi dụng về giá rẻ, nguyên phụ liệu và nhân công của nước nhận gia công
Đối với bên nhận gia công: Phương thức này giúp họ giải quyết công
ăn việc làm cho nhân công lao động trong nước hoặc nhập được thiết bị hay công nghệ mới về nước mình, nhằm xây dựng một nền công nghiệp dân tộc như Nam Triều Tiên, Thái Lan, Singapore…
Các hình thức gia công quốc tế:
Xét về quyền sở hữu nguyên liệu, gia công quốc tế có thể tiến hành dưới hình thức sau đây:
Bên đặt gia công giao nguyên liệu hoặc bán thành phẩm cho bên nhận gia công và sau thời gian sản xuất, chế tạo, sẽ thu hồi sản phẩm và trả phí gia công
Bên đặt gia công bán đứt nguyên liệu cho bên nhận gia công và sau thời gian sản xuất, chế tạo sẽ mua thành phẩm Trong trường hợp này quyền sở hữu nguyên liệu chuyển từ bên đặt gia công sang bên nhận gia công
Ngoài ra người ta còn có thể áp dụng hình thức kết hợp trong đó bên đặt gia công chỉ giao những nguyên vật liệu chính còn bên nhận gia công cung cấp những nguyên vật liệu phụ
Xét về giá cả gia công người ta có thể chia việc gia công thành hai hình thức:
+ Hợp đồng thực chi, thực thanh trong đó bên nhận gia công thanh toán với bên đạt gia công toàn bộ những chi phí thực tế của mình cộng với tiền thù lao gia công
Trang 19+ Hợp đồng khoán trong đó ta xác định một giá trị định mức cho mỗi sản phẩm, bao gồm chi phí định mức và thù lao định mức Dù chi phí của bên nhận gia công là bao nhiêu đi chăng nữa, hai bên vẫn thanh toán theo định mức đó
Mối quan hệ giữa bên nhận gia công và bên đặt gia công được xác định bằng hợp đồng gia công Hợp đồng gia công thường được quy định một số điều khoản như thành phẩm, nguyên liệu, giá cả, thanh toán, giao nhận…
- Ưu điểm:
+ Dựa vào vốn của người khác để kinh doanh thu lợi nhuận
+ Rủi ro ít và chắc chắn được thanh toán
+ Nhập được những trang thiết bị công nghệ cao tạo nguồn vốn để xây dựng cơ bản
- Nhược điểm:
Giá gia công rẻ, khách hàng không biết đến người gia công, không nắm được nhu cầu thị trường vì vậy nên không thể điều chỉnh sản phẩm kinh doanh phù hợp
1.1.4.4 Xuất khẩu uỷ thác
Đây là hình thức kinh doanh trong đó đơn vị XNK đóng vai trò là người trung gian thay cho đơn vị sản xuất tiến hành ký kết hợp đồng xuất khẩu, tiến hành làm các thủ tục cần thiết để xuất khẩu do đó nhà sản xuất và qua đó được hưởng một số tiền nhất định gọi là phí uỷ thác
Hình thức này bao gồm các bước sau:
+ Ký kết hợp đồng xuất khẩu uỷ thác với đơn vị trong nước
Trang 20+ Ký hợp đồng xuất khẩu, giao hàng và thanh toán tiền hàng bên nước ngoài
+ Nhận phí ủy thác xuất khẩu từ đơn vị trong nước
Ưu điểm của phương thức này:
Những người nhận uỷ thác hiểu rõ tình hình thị trường pháp luật và tập quán địa phương, do đó họ có khả năng đẩy mạnh việc buôn bán
Đối với người nhận uỷ thác là không cần bỏ vốn vào kinh doanh, tạo ra công ăn việc làm cho nhân viên đồng thời cũng thu được một khoản tiền đáng
- Lợi nhuận bị chia sẻ
1.1.4.5 Mua bán đối lưu
* Khái niệm: Buôn bán đối lưu là một trong những phương thức giao
dịch xuất khẩu trong xuất khẩu kết hợp chặt chẽ với nhập khẩu, người bán hàng đồng thời là người mua, lượng trao đổi với nhau có giá trị tương đương Trong phương thức xuất khẩu này mục tiêu là thu về một lượng hàng hoá có giá trị tương đương Vì đặc điểm này mà phương thức này còn có tên gọi khác như xuất nhập khẩu liên kết, hay hàng đổi hàng
* Yêu cầu:
Trang 21Các bên tham gia buôn bán đối lưu luôn luôn phải quan tâm đến sự cân bằng trong trao đổi hàng hoá Sự cần bằng này được thể hiện ở những khía cạnh sau:
- Cân bằng về mặt hàng: mặt hàng quý đổi lấy mặt hàng quý, mặt hàng tồn kho đổi lấy mặt hàng tồn kho khó bán
- Cân bằng về giá cả so với giá thực tế nếu giá hàng nhập cao thì khi xuất đối phương giá hàng xuất khẩu cũng phải được tính cao tương ứng và ngược lại
- Cân bằng về tổng giá trị hàng giao cho nhau:
- Cân bằng về điều kiện giao hàng: nếu xuất khẩu CIF phải nhập khẩu CIF
* Các loại hình buôn bán đối lưu
Buôn bán đối lưu ra đời từ lâu trong lịch sử quan hệ hàng hoá tiền tệ, trong đó sớm nhất là hàng đổi dàng và trao đổi bù trừ
Nghiệp vụ hàng đổi hàng: ở hai bên trao đổi trực tiếp với nhau nhưng hàng hoá có giá trị tương đương, việc giao hàng diễn ra hầu như đồng thời Tuy nhiên trong hoạt động đổi hàng hiện đại người ta có thể sử dụng tiền để thành toán một phần hàng hơn nữa có thể thu hút 3-4 bên tham gia
Nghiệp vụ bù trừ hai bên trao đổi hàng hoá với nhau trên cơ sở ghi trị giá hàng giao, đến cuối kỳ hạn hạn, hai bên mới đối chiếu sổ sách, đối chiếu với giá trị giao và giá trị nhận Số dư thì số tiền đó được giữ lại để chi trả theo yêu cầu của bên chủ nợ
Nghiệp vụ mua đối lưu một bên tiến hành của công nghiệp chế biến, bán thành phẩm nguyên vật liệu
Trang 22Nghiệp vụ này thường được kéo dài từ 1 đến 5 năm còn trị giá hàng giao để thanh toán thường không đạt 100% trị giá hàng mua về
Nghiệp vụ chuyển giao nghĩa vụ bên nhận hàng chuyển khoản nợ về tiền hàng cho một bên thứ ba
Giao dịch bồi hoàn người ta đổi hàng hoá hoặc dịch vụ lấy những dịch
vụ và ưu huệ (như ưu huệ đầu tư hoặc giúp đỡ bán sản phẩm) giao dịch này thường xảy ra trong lĩnh vực buôn bán những kỹ thuật quân sự đắt tiền trong việc giao những chi tiết và những cụm chi tiết trong khuôn khổ hợp tác công nghiệp
Trong việc chuyển giao công nghệ người ta thường tiến hành nghiệp vụ mua lại trong đó một bên cung cấp thiết bị toàn bộ hoặc sáng chế bí quyết kỹ thuật cho bên khác, đồng thời cam kết mua lại những sản phẩm cho thiết bị hoặc sáng chế bí quyết kỹ thuật đó tạo ra
* Biện pháp thực hiện
Dùng thư tín dụng thương mại đối ứng: đây là loại L/C mà trong nội dung của nó có điều khoản quy định (L/C này chỉ có hiệu lực khi người hưởng mở một L/C khác có kim ngạch tương đương) Như vậy hai bên vừa phải mở L/C vừa phải giao hàng
Dùng người thứ 3 khống chế chứng từ sở hữu hàng hoá, người thứ 3 chỉ giao chứng từ đó cho người nhận hàng khi người này đổi lại một chứng từ sở hữu hàng hoá có giá trị tương đương
Dùng một tài khoản đặc biệt ở ngân hàng để theo dõi việc giao hàng của hai bên, đến cuối một thời kỳ nhất định (như sau sáu tháng, sau một năm…) nếu còn có số dư thì bên nợ hoặc phải giao nốt hàng hoặc chuyển số
dư sang kỳ giao hàng tiếp, hoặc thanh toán bằng ngoại tệ
Trang 23Phạt về việc nếu một bên không giao hàng hoặc chậm giao hàng phải nộp phạt bằng ngoại tệ mạnh, mức phạt do hai bên thoả thuận quy định trong hợp đồng
1.1.4.6 Phương thức mua bán tại hội chợ triển lãm
Hội chợ là một thị trường hoạt động định kì, được tổ chức vào một thời gian và một địa điểm cố định trong một thời hạn nhất định, tại đó người bán đem trưng bày hàng hoá của mình và tiếp xúc với người mua để kí hợp đồng mua bán
Triển lãm là việc trưng bày giới thiệu những thành tựu của một nền kinh tế hoặc một ngành kinh tế, văn hoá, khoa học kĩ thuật: ví dụ hội chợ triển lãm hàng công nghiệp Triển lãm liên quan chặt chẽ đến ngoại thương tại đó người ta trưng bày các loại hàng hoá nhằm mục đích quảng cáo để mở rộng khả năng tiêu thụ Ngày nay ngoài các mục đích trên, hội chợ triển lãm còn trở thành nơi để giao dịch kí kết hợp đồng cụ thể
1.1.4.7 Xuất khẩu tại chỗ
Đây là hình thức kinh doanh mới nhưng đang phát triển rộng rãi, do những ưu việt của nó đem lại
Đặc điểm của loại hình xuất khẩu này là hàng hoá không cần vượt qua biên giới quốc gia mà khách hàng vẫn mua được Do vậy nhà xuất khẩu không cần phải thâm nhập thị trường nước ngoài mà khách hàng tự tìm đến nhà xuất khẩu
Mặt khác doanh nghiệp cũng không cần phải tiến hành các thủ tục như thủ tục hải quan, mua bảo hiểm hàng hoá …do đó giảm được chi phí khá lớn
Trong điều kiện nền kinh tế như hiện nay xu hướng di cư tạm thời ngày càng trở nên phổ biến mà tiêu biểu là số dân đi du lịch nước ngoài tăng nên
Trang 24nhanh chóng Các doanh nghiệp có nhận thức đây là một cơ hội tốt để bắt tay với các tổ chức du lịch để tiến hành các hoạt động cung cấp dịch vụ hàng hoá
để thu ngoại tệ Ngoài ra doanh nghiệp còn có thể tận dụng cơ hội này để khuếch trương sản phẩm của mình thông qua những du khách
Mặt khác với sự ra đời của hàng loạt khu chế xuất ở các nước thì đây cũng là một hình thức xuất khẩu có hiệu quả được các nước chú trọng hơn nữa Việc thanh toán này cũng nhanh chóng và thuận tiện
1.1.4.8 Tạm nhập tái xuất
Đây là một hình thức xuất khẩu trở ra nước ngoài những hàng hoá trước đây đã nhập khẩu, chưa qua chế biến ở nước tái xuất qua hợp đồng tái xuất bao gồm nhập khẩu và xuất khẩu với mục đích thu về số ngoại tệ lớn hơn
số ngoại tệ đã bỏ ra ban đầu
Hợp đồng này luôn thu hút ba nước xuất khẩu, nước tái xuất, và nước nhập khẩu Vì vậy người ta gọi giao dịch tái xuất là giao dịch ba bên hay giao dịch tam giác
Tái xuất có thể thực hiện bằng một trong hai hình thức sau:
Tái xuất theo đúng nghĩa của nó, trong đó hàng hoá đi từ nước xuất khẩu đến nước tái xuất, rồi lại được xuất khẩu từ nước tái xuất sang nước nhập khẩu Ngược chiều với sự vận động của hàng hoá là sự vận động của đồng tiền đồng tiền được xuất phát từ nước nhập khẩu sang nước tái xuất và
nhanh chóng được chuyển sang nước xuất khẩu
Ưu điểm của hình thức xuất khẩu này là doanh nghiệp có thể thu được lợi nhuận cao mà không phải tổ chức sản xuất, đầu tư vào nhà xưởng máy móc, thiết bị, khả năng thu hồi vốn cũng nhanh hơn
Trang 25Kinh doanh tái xuất đòi hỏi sự nhạy bén tình hình thị trường và giá cả,
sự chính xác và chặt chẽ trong các hoạt động mua bán Do vậy khi doanh nghiệp tiến hành xuất khẩu theo phương thức này thì cần phải có đội ngũ cán
bộ có chuyện môn cao
1.1.4.9 Chuyển khẩu
Trong đó hàng hoá đi thẳng từ nước xuất khẩu sang nước nhập khẩu Nước tái xuất trả tiền cho nước xuất khẩu và thu tiền của nước nhập khẩu Lợi thế của hình thức này là hàng hoá được miễn thuế xuất khẩu
1.2 CÁC CHỈ TIÊU CHỦ YẾU ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU
1.2.1 Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu
Nghiên cứu tốc độ xuất khẩu người ta thường nghiên cứu dưới hai khía cạnh: Mức gia tăng kim ngạch xuất khẩu hàng năm và tốc độ gia tăng kim ngạch xuất khẩu so với nhập khẩu
Mức độ gia tăng kim ngạch xuất khẩu hàng năm là chỉ số tương đối của kim ngạch xuất khẩu năm sau so với năm trước, ngoài ra người ta còn xem xét mức độ gia tăng kim ngạch xuất khẩu trong từng giai đoạn 3 năm, 5 năm,
10 năm… để đánh giá mức độ tăng trưởng xuất khẩu trong cả giai đoạn nhằm
có cái nhìn tổng thể hơn trong nền kinh tế
Xem xét tốc độ gia tăng kim ngạch xuất khẩu so với nhập khẩu nhằm xem xét diễn biến của hoạt động kinh tế đối ngoại theo chiều hướng tích cực hay tiêu cực Nếu tốc độ gia tăng xuất khẩu nhanh hơn tốc độ gia tăng nhập khẩu thì tốt cho nền kinh tế bởi quốc gia đó đang phát huy tốt lợi thế của mình Còn tốc độ gia tăng của kim ngạch nhập khẩu tăng nhanh hơn tốc độ
Trang 26gia tăng của kim ngạch xuất khẩu trong một thời kỳ dài đó là dấu hiệu không tốt Các nhà hoạch định chính sách vĩ mô cần phải xem xét, điều chỉnh
Nghiên cứu tốc độ xuất khẩu của Việt Nam từ 1985 đến nay ta rút ra các nhận xét sau, Kim ngạch xuất khẩu hàng năm đều gia tăng mạnh (xem bảng 1.1)
Bảng 1.1: Kim ngạch xuất khẩu của cả nước giai đoạn 1990-2008
Chỉ tiêu
Năm
Trị giá xuất khẩu (Triệu USD)
Mức tăng trưởng xuất khẩu
Tuyệt đối Tương đối
Nguồn: Niên giám thống kê
Qua bảng 1.1 cho ta thấy: trong 6 năm trở lại đây, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu luôn ở mức trên 20%/năm, đây là mức độ tăng trương cao so với thế giới
Trang 27- Tuy nhiên, kim ngạch xuất khẩu suốt 15 năm qua (1993-2008) đều thấp hơn kim ngạch nhập khẩu, đặc biệt là sau khi Việt Nam gia nhập WTO, tốc độ tăng trưởng của nhập khẩu cao hơn xuất khẩu: năm 2007 xuất khẩu tăng 21,5%, nhập khẩu tăng đến 35,5% so với năm 2006, dẫn đến Việt Nam trong tình trạng nhập siêu cao ảnh hưởng đến cán cân thương mại và thanh toán quốc tế
- Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam còn thấp so với nhiều nước trong khu vực (xem bảng 1.2) [15,529-530]
Bảng 1.2: Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam so với một số nước
trong khu vực năm 2005
Tên nước Dân số
(Triệu ng.) Kim ngạch xuất
khẩu (Tỷ USD)
Bình quân KNXK/người (USD/ng) Trung Quốc
762
289 197,8
595
110 47,9 140,9 39,9 229,6 32,4
284
581,05 41.285,7 8.675,44 4.655,7 1.687 0,212 5.237,92 462,34 51.022 384,79 5.855,6
Nguồn: Số liệu của Bộ thương mại
1.2.2 Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu
Thông qua cơ cấu ngành hàng xuất khẩu người ta có thể đánh giá trình
độ sản xuất và tính hiệu quả của xuất khẩu
Với cơ cấu của xuất khẩu là gì? cơ cấu xuất khẩu là tỷ lệ tương quan giữa các ngành hàng xuất khẩu Tuỳ theo mỗi nước mà người ta phân hàng
Trang 28hóa xuất khẩu vào các ngành hàng theo mức độ chi tiết khác nhau Cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam chia thành 3 nhóm lớn: nông lâm thuỷ sản; nhiên liệu khoáng sản; nhóm hàng công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp (xem bảng 1.3)
Qua số liệu ở bảng dưới cho phép chúng ta đưa ra một số nhận xét như sau:
- Mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam khá đa dạng, phong phú, các mặt hàng đã khai thác được các lợi thế của Việt Nam về: tài nguyên, điều kiện tự nhiên và nguồn nhân lực
- Nhiều mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam có gía trị lớn, chiếm vị trí cao trong hoạt động xuất khẩu của thế giới (xuất khẩu gạo đứng thứ 2 thế giới, xuất khẩu cà phê đứng thứ 2; hạt tiêu đứng đầu thế giới; cao su, điều nhân đứng thứ 5; may mặc và thủy sản trong 10 nước hàng đầu)
- Tỷ trọng xuất khẩu hàng công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp ngày càng gia tăng về khối lượng và giá trị
Ngày nay Việt Nam đã có 26 mặt hàng xuất khẩu có giá trị trên 100 triệu USD, trong đó, có 11 mặt hàng có giá trị kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD
Bảng 1.3: Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam
Trang 29Nhóm ngành hàng
Kim ngạch (triệu USD)
Tỷ trọng (%)
Kim ngạch (triệu USD)
Tỷ trọng (%)
Kim ngạch (triệu USD)
Tỷ trọng (%)
Nguồn: Niên giám thống kê 2006
Qua bảng 1.3 cũng cho ta thấy:
- Mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam ngày càng đa dạng phong phú, các mặt hàng đã khai thác các lợi thế của Việt Nam về tài nguyên, điều kiện tự nhiên và nguồn lực
- Nhiều mặt hàng có giá trị xuất khẩu lớn, chiếm vị trí trong hoạt động xuất khẩu của thế giới
- Tỷ trọng xuất khẩu hàng công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp ngày càng tăng về khối lượng và giá trị
Trang 30Tóm lại, Việt Nam đã không còn cảnh bán hàng “xén” của thị trường thế giới: bán nhiều thứ nhưng mỗi thứ một ít Và đang bước vào giai đoạn xuất khẩu mạnh nhiều mặt hàng, với giá trị cao khiến nhiều nước xuất khẩu phải áp dụng những biện pháp bảo hộ để gây trở ngại cho hàng hóa xuất khẩu của ta, khiến các bạn hàng đã phải mời Việt Nam tham gia các hiệp hội ngành hàng để hợp tác xuất khẩu
Tuy nhiên, nghiên cứu cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam vẫn còn một số tồn tại:
- Tỷ trọng hàng hóa xuất khẩu dưới dạng thô ít qua chế biến vẫn còn cao;
- Những mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam là những mặt hàng trên thị trường quốc tế mang tính cạnh tranh cao, lượng cung lớn hơn cầu đòi hỏi nhà xuất khẩu Việt Nam phải nỗ lực lớn mới chiếm được thị trường
- Những mặt hàng thủy sản, nông sản tươi sống chịu sự kiểm soát chặt chẽ bởi các quy định kỹ thuật ở nước nhập khẩu
- Hàng dệt may và giày dép xuất khẩu, chiếm giá trị xuất khẩu rất lớn nhưng chủ yếu thực hiện gia công, nguyên liệu sản xuất hàng xuất khẩu chủ yếu phụ thuộc vào nguồn hàng nhập khẩu
Ngoài ra vấn đề xuất khẩu sản phẩm khai thác tài nguyên, sản phẩm nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn là vấn đề nan giải trong chiến lược xuất khẩu của Việt Nam Vì tài nguyên thiên nhiên kể cả quỹ đất của nước ta có hạn, đã
và đang khai thác ở mức độ cao cho nên mức tăng trưởng bắt đầu đi xuống, mang tính bấp bênh
Từ những nhược điểm trên dẫn đến: Giá cả xuất khẩu các mặt hàng này bấp bênh, lúc tăng lúc xuống, tác động mạnh đến sản xuất và kinh doanh
Trang 31trong và nước ngoài; khó đẩy mạnh kim ngạch xuất khẩu; khai thác triệt để tài nguyên thiên nhiên để xuất khẩu sẽ dẫn tới cạn kiệt tài nguyên; xuất khẩu nguyên liệu thô giá bán thấp, ít sử dụng nguồn lao động trong nước…
Cho nên nhiệm vụ trong thời gian tới cần phải cải tiến cơ cấu hàng xuất khẩu theo hướng:
- Giảm tỷ trọng xuất khẩu hàng nông, thuỷ hải sản thô, dưới dạng nguyên liệu hoặc ít qua chế biến
- Tăng cường đầu tư cho công nghiệp chế biến hàng xuất khẩu để nâng cao giá trị hàng xuất khẩu, khai thác nguồn nhân công dồi dào trong nước để giải quyết nạn thất nghiệp
- Nâng cao chất lượng hàng hóa xuất khẩu để tăng sức cạnh tranh hàng hóa của ta trên trường quốc tế
- Tạo ra các ngành hàng xuất khẩu mới có giá trị xuất khẩu cao, mạnh dạn đào thải những mặt hàng xuất khẩu không mang lại hiệu quả
- Có chính sách ưu đãi để khuyến khích phát triển sản xuất nguyên liệu trong nước phục vụ cho xuất hàng xuất khẩu, trước hết là nguyên liệu của ngành dệt may và dày dép [15,535-538]
1.2.3 Thị trường xuất khẩu
Nhìn lại lịch sử quan hệ thương mại giữa Việt Nam và các nước ta thấy: thời điểm 1945 khi nước ta có chủ quyền thì chủ yếu ta chỉ có quan hệ với Trung Quốc qua hình thức tiểu ngạch (buôn bán qua biên giới) thì đến nay Việt Nam đã thiết lập quan hệ thương mại với 235 nước, trong đó có 165 nước cho Việt Nam hưởng quy chế tối huệ quốc Chúng ta hãy điểm qua một
số nét cơ bản về thị trường xuất khẩu của Việt Nam qua các thời kỳ, qua đó hiểu rõ sự phát triển của hoạt động ngoại thương Việt Nam
Trang 32* Nghiên cứu thị trường xuất khẩu của Việt Nam thời gian 1975-1990:
ta thấy tình hình xuất khẩu sang các nước như sau: (xem bảng 1.4)
Bảng 1.4: Thị trường xuất khẩu của hàng Việt Nam giai đoạn 1975-1990
Nguồn: Số liệu Của Bộ Thương mại
Ta thấy thị trường Liên Xô và các nước Đông Âu là các thị trường chủ đạo về xuất khẩu và nhập khẩu chính hàng hóa của Việt Nam, sau khi tan rã khối SEV và Liên Xô, các nước Đông Âu lam vào cuộc khủng hoảng sâu sắc
về chính trị và kinh tế thì thị trường tư bản ngày càng đóng vai trò quan trọng đối với hàng hóa của Việt Nam
* Nghiên cứu thị trường xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 1991-1996 Sang thời kỳ 1991-1996 giai đoạn đầu thực hiện chính sách mở cửa kinh tế ở Việt Nam, thời kỳ mà hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên
Xô đã tan rã hoàn toàn thị tjhị trường xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam có sự thay đổi cơ bản Châu á trở thành thị trường tiêu thụ nhiều nhất hàng hóa của Việt Nam, sau đó là Châu Âu (Xem bảng 1.5)
Bảng 1.5: Thị trường xuất khẩu của hàng Việt Nam giai đoạn 1991-1996
Trang 338 Liên bang Nga 2,2%
Nguồn: Số liệu của Bộ Thương mại
* Nghiên cứu thị trường xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 1997-2000 Đây là thời kỳ Việt Nam quyết tâm theo đuổi chính sách mở cửa nền kinh tế để hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới bằng các sự kiện: Gia nhập ASEAN vào năm 1995; nộp đơn xin gia nhập WTO vào ngày 01/01/1995; gia nhập diễn đàn Châu á - Thái Bình Dương (APEC) vào năm 1998; tích cực đàm phán hiệp định thương mại Việt-Mỹ để đi đên ký kết hiệp định vào năm 2000… đã làm thay đổi hẳn cơ cấu thị trường xuất khẩu: tỷ trọng xuất khẩu vào ASEAN, EU, các nước APEC tăng nhanh Tuy nhiên hoạt động ngoại thương của Việt Nam với Mỹ còn ở dạng tiềm năng, nguyên nhân chủ yếu do
là 2 nước chưa trao Quy chế tối huệ quốc trong hoạt động thương mại song phương
(Xem phụ lục 1)
*Thời kỳ 2001- 2008:
Đây là thời kỳ Việt Nam tham gia vào tiến trình hội nhập kinh tế thế giới, Hiệp định thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ có hiệu lực thực thi; Việt Nam thực hiện song Chương trình thuế quan có hiệu lực chung (CEPT) của ASEAN vào tháng 01/2006; và quan trọng nhất đó Việt Nam chính thức là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới từ tháng 01/2007 Trong giai đoạn này, thị trường xuất khẩu Việt Nam phát triển theo cả chiều rộng lẫn chiều sâu: hàng hóa của Việt Nam xuất khẩu sang 219 nước và nhập khẩu từ 151 nước Hoa Kỳ năm 2007 trở thành thị trường xuất khẩu quan trọng nhất của Việt Nam [15,550-555]
Trang 34(Xem phụ lục 2 )
1.2.4 Cân đối xuất nhập khẩu
Xuất khẩu và nhập khẩu là hai bộ phận của một quá trình buôn bán quốc tế, nó gắn liền với nhau vừa là điều kiện tiền tệ của nhau vừa là kết quả của nhau Nó gắn bó với nhau như vậy cho nên trong quá trình hoạt động chúng ta cần phải gắn bó chặt chẽ giữa xuất khẩu và nhập khẩu với nhau
Tuy nhiên, đối với một quốc gia nhập khẩu cao hơn xuất khẩu (nhập siêu) sẽ ảnh hưởng xấu đến cán cân thanh toán quốc tế Việt Nam trong giai đoạn hiện nay đang nhập siêu lớn, trong khi nguồn ngoại tệ chủ yếu do xuất khẩu mang lại nên cần tiết kiệm ưu tiên trước hết cho nhập khẩu máy móc, trang thiết bị, công nghệ, nguyên liệu trong nước chưa sản xuất được để đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước (Xem bảng 1.6)
Bảng 1 6: Tình hình cán cân ngoại thương của cả nước
và giá trị NK -5,106 -5,483 -4,314 -5,155 -14,121 -15,0
Nguồn: Niên giám thống kê
1.3 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN XUẤT KHẨU
Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động mua bán hàng hoá quốc tế nói chung và hoạt động xuất khẩu nói riêng cho phép các nhà kinh doanh thấy được những gì họ sẽ phải đối mặt và đứng trước tinh thế đó thì họ phải xử lý như thế nào? ở đây có thể nghiên cứu ảnh hưởng của các nhóm yếu
tố chủ yếu sau:
1.3.1 Các yếu tố kinh tế
Trang 35Các yếu tố kinh tế ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh xuất khẩu, hơn nữa các yếu tố này rất rộng nên các doanh nghiệp có thể lựa chọn
và phân tích các yếu tố thiết thực nhất để đưa ra các biện pháp tác động cụ thể
1.3.1.1 Tỷ giá hối đoái và tỷ suất ngoại tệ của hàng xuất khẩu
Tỷ giá hối đoái là giá cả của một đơn vị tiền tệ này thể hiện bằng một
số đơn vị tiền tệ của nước kia Tỷ giá hối đoái và chính sách tỷ giá hối đoái là nhân tố quan trọng để doanh nghiệp đưa ra quyết định liên quan đến hoạt động mua bán hàng hoá quốc tế nói chung và hoạt động xuất khẩu nói riêng
Để nhận biết được sự tác động của tỷ giá hối đoái đối với các hoạt động của nền kinh tế nói chung, hoạt động xuất khẩu nói riêng các nhà kinh tế thường phân biệt tỷ giá hối đoái danh nghĩa và tỷ giá hối đoái thực tế
Tỷ giá hối đoái danh nghĩa (tỷ giá chính thức) là tỷ giá được nêu trên các phương tiện thông tin đại chúng như: Báo chí, đài phát thanh, tivi…Do ngân hang Nhà nước công bố hàng ngày
Tuy nhiên tỷ hối đoái chính thức không phải là một yếu tố duy nhất ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của các nhà sản xuất trong nước về các mặt hàng Vấn đề đối với các nhà xuất khẩu và những doanh nghiệp có hàng hoá cạnh tranh với các nhà nhập khẩu là có được hay không một tỷ giá chính thức, được điều chỉnh theo lạm phát trong nước và lạm phát xảy ra tại các nền kinh
tế của các bạn hàng của họ.Một tý giá hối đoái chính thức được điều chỉnh theo các quá trình lạm phát có liên quan gọi là tỷ giá hối đoái thực tế
Nếu tỷ giá hối đoái thực tế thấp hơn so với nước xuất khẩu và cao hơn
so với nước nhập khẩu thì lợi thế sẽ thuộc về nước xuất khẩu do giá nguyên vật liệu đầu vào thấp hơn, chi phí nhân công rẻ hơn làm cho gia thành sản phẩm ở nước xuất khẩu rẻ hơn so với nước nhập khẩu Còn đối với nước nhập khẩu thì cầu về hàng nhập khẩu sẽ tăng lên do phải mất chi phí lớn hơn để sản
Trang 36xuất hàng hoá ở trong nước Điều này đã tạo điều kiện thuận lợi cho các nước xuất khẩu tăng nhanh được các mặt hàng xuất khẩu của mình, do đó có thể tăng được lượng dự trữ ngoại hối
Tương tự, tỷ suất ngoại tệ hàng xuất khẩu cũng như: “Một chiếc gậy
vô hình ” đã làm thay đổi, chuyển hướng giữa các mặt hàng, các phương án kinh doanh của doanh nghiệp xuất khẩu
1.3.1.2 Mục tiêu và chiến lược phát triển kinh tế
Thông qua mục tiêu và chiến lược phát triển kinh tế thì chính phủ có thể đưa ra các chính sách khuyến khích hay hạn chế xuất nhập khẩu Chẳng hạn chiến lược phát triển kinh tế theo hướng CNH- HĐH đòi hỏi xuất khẩu để thu ngoại tệ đáp ứng nhu cầu nhập khẩu cac trang thiết bị máy móc phục vụ sản xuất, mục tiêu bảo hộ sản xuất trong nước đưa ra các chính sách khuyến khích xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu hàng tiêu dùng…
1.3.1.3.Thuế quan, hạn nghạch và trợ cấp xuất khẩu
*Thuế quan
Trong hoạt động xuất khẩu thuế quan là loại thuế đánh vào từng đơn vị hàng xuất khẩu Việc đánh thuế xuất khẩu được chính phủ ban hành nhằm quản lý xuất khẩu theo chiều hướng có lợi nhất cho nền kinh tế trong nước và
mở rộng các quan hệ kinh tế đối ngoại Tuy nhiên, thuế quan cũng gây ra một khoản chi phí xã hội do sản xuất trong nước tăng lên không có hiệu quả và mức tiêu dùng trong nước lại giảm xuống Nhìn chung công cụ này thường chỉ áp dụng đối với một số mặt hàng nhằm hạn chế số lượng xuất khẩu và bổ sung cho nguồn thu ngân sách
*Hạn ngạch
Trang 37Được coi là một công cụ chủ yếu cho hàng rào phi thuế quan, nó được hiểu như qui định của Nhà nước về số lượng tối đa của một mặt hàng hay của một nhóm hàng được phép xuất khẩu trong một thời gian nhất định thông qua việc cấp giấy phép Sở dĩ có công cụ này vì không phải lúc nào Nhà nước cũng khuyến khích xuất khẩu mà đôi khi về quyền lợi quốc gia phải kiểm soát một vài mặt hàng hay nhóm hàng như sản phẩm đặc biệt, nguyên liệu do nhu cầu trong nước còn thiếu…
*Trợ cấp xuất khẩu
Trong một số trường hợp chính phủ phải thực hiện chính sách trợ cấp xuất khẩu để tăng mức độ xuất khẩu hàng hoá của nước mình, tạo điều kiện cho sản phẩm có sức cạnh tranh về giá trên thị trường thế giới Trợ cấp xuất khẩu
sẽ làm tăng giá nội địa của hàng xuất khẩu, giảm tiêu dùng trong nước nhưng tăng sản lượng và mức xuất khẩu
1.3.2 Các yếu tố xã hội
Hoạt động của con người luôn luôn tồn tại trong một điều kiện xã hội nhất định Chính vì vậy, các yếu tố xã hội ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của con người Các yếu tố xã hội là tương đối rộng, do vậy để làm sáng tỏ ảnh hưởng của yếu tố này có thể nghiên cứu ảnh hưởng của yếu tố văn hoá, phong tục tập quán đặc biệt là trong ký kết hợp đồng
Nền văn hoá, phong tục tập quán tạo nên cách sống của mỗi cộng đồng sẽ quyết định các thức tiêu dùng, thứ tự ưu tiên cho nhu cầu mong muốn được thoả mãn và cách thoả mãn của con người sống trong đó Chính vì vậy văn hoá, phong tục tập quán là yếu tố chi phối lối sống nên các nhà xuất khẩu luôn luôn phải quan tâm tìm hiểu yếu tố văn hoá ở các thị trường mà mình tiến hành hoạt động xuất khẩu
1.3.3 Các yếu tố chính trị pháp luật
Trang 38yếu tố chính trị là nhân tố khuyến khích hoặc hạn chế quá trình quốc tế hoá hoạt động kinh doanh Chính sách của chính phủ có thể làm tăng sự liên kết các thị trường và thúc đây tốc độ tăng trưởng hoạt động xuất khẩu bằng việc dỡ bỏ các hàng rào thuế quan, phi thuế quan, thiết lập các mối quan hệ trong cơ sở hạ tầng của thị trường Khi không ổn định về chính trị sẽ cản trở
sự phát triển kinh tế của Đất nước và tạo ra tâm lý không tốt cho các nhà kinh doanh
Các yếu tố chính trị pháp luật ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động xuất khẩu Các công ty kinh doanh xuất khẩu đều phải tuân thủ các qui định mà chính phủ tham gia vào các tổ chức quốc tế trong khu vực và trên thế giới cũng như các thông lệ quốc tế:
- Các qui định của luật pháp đối với hoạt động xuất khẩu(thuế, thủ tục qui định về mặt hàng xuất khẩu,qui định quản lý về ngoại tệ )
- Các hiệp ước, hiệp định thương mại mà quốc gia có doanh nghiệp xuất khẩu tham gia
- Các qui địmh nhập khẩu của các quốc gia mà doanh nghiệp có quan
Trang 39- Qui định về vấn đề bảo về môi trường, tiêu chuẩn chất lượng, giao hàng, thực hiện hợp đồng
- Qui định về quảng cáo hướng dẫn sử dụng
Ngoài những vấn đề nói trên chính phủ còn thực hiện các chính sách ngoại thương khác như: Hàng rào phi thuế quan, ưu đãi thuế quan
Chính sách ngoại thương của chính phủ trong mỗi thời kỳ có sự thay đổi
Sự thay đổi đó là một trong những rủi ro lớn đối với nhà làm kinh doanh xuất khẩu Vì vậy họ phải nắm bắt được chiến lược phát triển kinh tế của đất nước
để biết được xu hướng vận động của nền kinh tế và sự can thiệp của Nhà nước
1.3.4 Các yếu tố về tự nhiên và công nghệ
- Khoảng cách địa lý giữa các nước sẽ ảnh hưởng đến chi phí vận tải, tới thới gian thực hiện hợp đồng, thời điểm ký kết hợp đồng do vậy, nó ảnh hưởng tới việc lựa chọn nguồn hàng, lựa chọn thị trường, mặt hàng xuất khẩu…
- Vị trí của các nước cũng ảnh hưởng đến việc lựa chọn nguồn hàng, thị trường tiêu thụ ví dụ: Việc mua bán hàng hoá với các nước có cảng biển
có chi phí thấp hơn so với các nước không có cảng biển
- Thời gian thực hiện hợp đồng xuất khẩu có thể bị kéo dài do bị thiên tai như bão, động đất…
- Sự phát triển của khoa hóc công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin cho phép các nhà kinh doanh nắm bắt một cách chính xác và nhanh chóng thông tin, tạo điều kiện thuận lợi cho việc theo dõi, điều khiển hàng hoá xuất khẩu, tiết kiệm chi phí, nâng cao hiệu quả hoạt động xuất khẩu Đồng thời yếu
Trang 40tố công nghệ còn tác động đến quá trình sản xuất, gia công chế biến hàng xuất khẩu, các lĩnh vực khác có liên quan như vận tải, ngân hàng…
1.3.5 Yếu tố hạ tầng phục vụ cho hoạt động xuất khẩu
Các yếu tố hạ tầng phục vụ hoạt động xuất khẩu ảnh hưởng trực tiếp đến xuất khẩu, chẳng hạn như:
- Hệ thống giao thông đặc biệt là hệ thống cảng biển: Mức độ trang bị,
hệ thống xếp dỡ, kho tàng…hệ thống cảng biển nếu hiện đại sẽ giảm bớt thời gian bốc dỡ, thủ tục giao nhận cũng như đảm bảo an toàn cho hàng hoá xuất khẩu
- Hệ thống ngân hàng: Sự phát triển của hệ thống ngân hàng cho phép các nhà kinh doanh xuất khẩu thuận lợi trong việc thanh toán, huy động vốn Ngoài ra ngân hàng là một nhân tố đảm bảo lợi ích cho nhà kinh doanh băng các dịch vụ thanh toán qua ngân hàng
- Hệ thống bảo hiểm ,kiểm tra chất lượng hàng hoá cho phép các hoạt động xuất khẩu được thực hiện một cách an toàn hơn, đồng thời giảm bớt được mức độ thiệt hại khi có rủi ro xảy ra…
1.3.6 Nhu cầu của thị trường thế giới
Do khả năng sản xuất của nước nhập khẩu không đủ để đáp ứng được nhu cầu tiêu dung trong nước, hoặc do các mặt hàng trong nước sản xuất không đa dạng nên không thoả mãn được nhu cầu của người tiêu dùng, nên cần thiết phải nhập khẩu để bù đắp vào nhữn thiếu hụt đó Tuy nhiên nhu cầu tiêu dùng, nhập khẩu của mỗi nước, mỗi giai đoạn có khác nhau Do đó, từ nghiên cứu nhu cầu của thị trường thế giới từ đó mới xây dựng kế hoạch phát triển sản xuất phục vụ xuất khẩu, đó là yếu tố quan trọng nhất trong việc