Để phát triển lĩnh vực dịch vụ phân phối DVPP, một trongcác giải pháp hữu hiệu là thúc đẩy hoạt động nhượng quyền thương mại NQTM.NQTM với những đặc tính ưu việt vốn có rất phù hợp để ứn
Trang 1Tôi xin cam đoan luận văn tốt nghiệp này được hoàn thành nhờ sự hướngdẫn của GS TS Nguyễn Thị Mơ và công sức của tôi.
Các số liệu trong luận văn được thu thập từ thực tế có nguồn gốc rõ ràng,đáng tin cậy, được xử lý trung thực và khách quan, nếu có sai phạm tôi xin chịuhoàn toàn trách nhiệm
Tác giả: Lương Thị Thu Hằng
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI TRONG LĨNH VỰC PHÂN PHỐI 4
1.1 Phân phối và dịch vụ phân phối…… ……….…… 4
1.1.1 Phân phối……… 4
1.1.2 Dịch vụ phân phối ……… 4
1.1.2.1 Khái niệm về dịch vụ phân phối ……… 4
1.1.2.2 Đặc điểm của dịch vụ phân phối……… 5
1.1.2.3 Vai trò của dịch vụ phân phối đối với nền kinh tế……… 7
1.1.3 Quan điểm của WTO về dịch vụ phân phối……… …….… 11
1.1.3.1 Về khái niệm dịch vụ phân phối ………… ……….….……… 11
1.1.3.2 Phân loại dịch vụ phân phối……….……… ….….… 11
1.1.3.3 Yêu cầu của WTO đối với các thành viên về mở cửa dịch vụ phân phối……….……….……… 13
1.2 Nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực phân phối……….……… 21
1.2.1 Khái niệm về nhượng quyền thương mại ……… … … 21
1.2.2 Đặc điểm của nhượng quyền thương mại …… ………… …… 24
1.2.2.1 Về luật điều chỉnh……… … ………… 24
1.2.2.2 Về tính chất……… ……… ……… 25
1.2.2.3 Về vai trò, vị trí và lợi ích của nhượng quyền thương mại………… 27
1.2.3 Nhượng quyền thương mại và vị trí, vai trò của nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực phân phối … ……… ……… … … 30
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI TRONG LĨNH VỰC PHÂN PHỐI TẠI VIỆT NAM… … 32
2.1 Thực trạng hoạt động nhượng quyền thương mại tại Việt Nam 32
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển hoạt động nhượng quyền thương mại tại Việt Nam thời gian qua………….………
… 32 2.1.1.1 Hệ thống nhượng quyền thương mại của các doanh nghiệp Việt Nam……….……… ……….……… 34
2.1.1.2 Hệ thống nhượng quyền thương mại của các doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam ……… ……… ……….……… 37
2.1.2 Thực trạng cơ sở pháp lý của hoạt động nhượng quyền thương mại tại Việt Nam ……….……… 41
2.1.3 Đánh giá chung ……… ……….………… … 44
2.1.3.1 Về cơ sở pháp lý……… ……….… 44
2.1.3.2 Về thực trạng hoạt động……… 50
Trang 3phối trong lĩnh vực nhượng quyền thương mại ………… ……… 53
2.2.1 Cam kết nền chung……….………… ……… ….……… 53
2.2.1.1 Cam kết theo phương thức 3 ……….……… ……… 54
2.2.1.2 Cam kết theo phương thức 4 ……… …… … …… 56
2.2.2 Các cam kết cụ thể……….………… … 58
2.2.3 Đánh giá chung ……… ……….………… … 59
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI TRONG LĨNH VỰC PHÂN PHỐI TẠI VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 61
3.1 Dự báo sự phát triển của hoạt động nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực phân phối tại Việt Nam trong thời gian tới 61
3.1.1 Cơ sở để dự báo … … … … 61
3.1.2 Số liệu dự báo 65
3.2 Giải pháp phát triển hoạt động nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực phân phối ……….……… ……… 66
3.2.1 Nhóm giải pháp thực thi các cam kết của Việt Nam trong WTO về mở cửa thị trường dịch vụ phân phối trong lĩnh vực nhượng quyền thương mại ……… …… ……… 66
3.2.1.1 Đối với Nhà nước……….……… 66
3.2.1.2 Đối với bên nhượng quyền và nhận quyền thương mại Việt Nam……… ………… …… ……… 69
3.2.2 Nhóm giải pháp phát triển hoạt động nhượng quyền thương mại 71
3.2.2.1 Đối với Nhà nước ……… 71
3.2.2.2 Đối với các doanh nghiệp Việt Nam……… 76
3.2.3 Nhóm giải pháp khác……… ……… 82
KẾT LUẬN ……… 84
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 4WTO: World Trade Organization:
Tổ chức Thương mại thế giới
ASEAN: The Association of Southeast Asian Nations:
Hiệp hội các nước Đông Nam Á
GATS: General Agreement on Trade in Services:
Hiệp định chung về thương mại dịch vụ
BTA: US-Vietnam Bilateral Trade Agrement:
Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ
MFN: Most Favoured Nation:
Nguyên tắc Tối huệ quốc
NT: Nation treatment:
Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia
IFA: International Frachise Association
Hiệp hội nhượng quyền thương mại quốc tế
NQTM: Nhượng quyền thương mại
DVPP: Dịch vụ phân phối
UFOC: Uniform Franchise Offering Circular:
Bản giới thiệu nhượng quyền thương mại
FDD: Franchise Disclosure Document:
Các nguyên tắc chung của hợp đồng nhượng quyền thương mại
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài.
Có thể ví hoạt động phân phối như một hệ thống tuần hoàn giúp cho nềnkinh tế lưu thông Hoạt động phân phối phát triển sẽ làm cho hàng hóa, dịch vụđược trao đổi, lưu thông thuận tiện từ đó thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế.Ngược lại, hoạt động phân phối yếu kém sẽ kéo theo nền kinh tế vận hành đình trệ.Đặc biệt hiện nay, trong nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế, hoạtđộng phân phối ngày càng đóng vai trò quan trọng và trở thành một lĩnh vực dịch
vụ không thể thiếu Vì vậy, phát triển lĩnh vực phân phối là một nhiệm vụ quantrọng của nền kinh tế Để phát triển lĩnh vực dịch vụ phân phối (DVPP), một trongcác giải pháp hữu hiệu là thúc đẩy hoạt động nhượng quyền thương mại (NQTM).NQTM với những đặc tính ưu việt vốn có rất phù hợp để ứng dụng trong lĩnh vựcphân phối, đặc biệt là trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay
Phù hợp với xu hướng đó, hoạt động NQTM trong lĩnh vực phân phối tạiViệt Nam những năm vừa qua đã có những bước phát triển khá mạnh mẽ, góp phầncải thiện khâu phân phối còn yếu kém của nước ta Tuy nhiên, hoạt động NQTMvẫn còn khá mới mẻ đối với các doanh nghiệp Việt Nam do vì NQTM mới chỉ thâmnhập vào Việt Nam trong thời gian gần đây Vì vậy, ở Việt Nam hoạt động NQTMtrong lĩnh vực phân phối còn nhiều hạn chế, chưa tương xứng với tiềm năng Vấn
đề cấp thiết đặt ra hiện nay là làm thế nào để đẩy mạnh phát triển hoạt động NQTMtrong lĩnh vực phân phối của nước ta
Để trả lời câu hỏi này cần có sự nghiên cứu, tìm hiểu về NQTM trong lĩnhvực phân phối Xuất phát từ những lý do trên, tôi đã chọn đề tài: “Giải pháp pháttriển hoạt động nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực phân phối tại Việt Namtrong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” để làm đề tài cho luận văn thạc sỹ kinh tếcủa mình
2 Tình hình nghiên cứu.
Ở nước ngoài hiện có một số công trình nghiên cứu ít nhiều liên quan đến
NQTM trong lĩnh vực phân phối như: “Nhượng quyền thương mại và cấp Lixăng
Trang 6(Franchising and Licensing): hai phương thức tăng trưởng hiệu quả bất chấp những biến động của nền kinh tế” (2008) của Andrew J Sherman.
Ở Việt Nam hiện nay đã có một số sách chuyên khảo, công trình, bài báo
nghiên cứu ở các góc độ khác nhau về NQTM Tiêu biểu là: “Nhượng quyền thương mại tại Việt Nam” (2009) của Nguyễn Đông Phong, “Mua Franchise – cơ hội mới cho các doanh nghiệp Việt Nam” (2006) của Lý Quý Trung, “Một số giải pháp phát triển hoạt động nhượng quyền thương mại tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế” (2007) của Phạm Thị Thu Huyền, “Hoạt động nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực phân phối trong bối cảnh Việt Nam thực hiện các cam kết với WTO” (2009) của Nguyễn Thị Hằng Nga, “Nhượng quyền thương mại trong bối cảnh toàn cầu hóa: điều kiện và khả năng áp dụng ở Việt nam trong thời gian tới” (2009) của Nguyễn Thị Hải Hà, “Nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực kinh doanh đồ ăn nhanh trên thế giới - bài học kinh nghiệm cho các doanh nghiệp Việt Nam” (2009) của Phan Thị Thanh Nhàn Tuy nhiên những công trình
này chỉ ít nhiều đề cập đến hoạt động Nhượng quyền thương mại và Nhượng quyềnthương mại trong lĩnh vực phân phối tại Việt Nam nói chung, chưa có công trìnhnào nghiên cứu giải pháp phát triển hoạt động Nhượng quyền thương mại trong lĩnhvực phân phối tại Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế Đây là luậnvăn thạc sĩ đầu tiên nghiên cứu về vấn đề này
3 Mục đích nghiên cứu.
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về NQTM và NQTMtrong lĩnh vực phân phối, sau khi phân tích thực trạng hoạt động NQTM trong lĩnhvực phân phối tại Việt Nam và nêu rõ những tồn tại, luận văn đề xuất các giải phápnhằm phát triển hoạt động NQTM trong lĩnh vực phân phối tại Việt Nam trong điềukiện hội nhập kinh tế quốc tế
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hoạt động NQTM và các cam kết củaViệt Nam trong WTO về NQTM trong lĩnh vực phân phối, phát triển NQTM tronglĩnh vực phân phối
Trang 7Phạm vi nghiên cứu của luận văn: luận văn tập trung nghiên cứu hoạt độngNQTM trong lĩnh vực phân phối tại Việt Nam Các thông tin, số liệu được thu thậpchủ yếu từ năm 2005 đến nay ở Việt Nam, giải pháp đến hết năm 2020.
5 Phương pháp nghiên cứu.
Trong quá trình nghiên cứu, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứuchủ yếu trong nghiên cứu kinh tế như phương pháp duy vật biện chứng và duy vậtlịch sử, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp thống kê, phương phápluận giải và phương pháp so sánh
6 Kết cấu luận văn.
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, kết cấu của luận văn gồm
Trang 8CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI TRONG LĨNH VỰC PHÂN PHỐI
1.1 Phân phối và dịch vụ phân phối
1.1.1 Phân phối
Phân phối là một trong bốn khâu của quá trình tái sản xuất xã hội, bao gồmsản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng Trong mối quan hệ đó sản xuất là gốc, cóvai trò quyết định; tiêu dùng là mục đích, là động lực của sản xuất; còn phân phối làkhâu trung gian nối sản xuất với tiêu dùng, là mắt xích chủ yếu giữa nhà sản xuấtvới người tiêu dùng cuối cùng, đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành giá cả
Phân phối bao gồm:
- Phân phối các yếu tố sản xuất cho các ngành sản xuất, các đơn vị sản xuấtkhác nhau để tạo ra các sản phẩm khác nhau
- Phân phối cho tiêu dùng dưới hình thức các nguồn thu nhập của các tầnglớp dân cư
Tính chất và nguyên tắc của quan hệ phân phối và bản thân quy luật phânphối đều do tính chất của nền sản xuất và quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất quyếtđịnh Song, phân phối cũng tác động trở lại đối với sản xuất và tiêu dùng Nó thúcđẩy sản xuất và tiêu dùng phát triển nếu quan hệ phân phối tiến bộ, hoặc ngược lại
nó cản trở quá trình sản xuất và tiêu dùng nếu quan hệ phân phối lạc hậu Vì vậyphát triển hoạt động phân phối có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển nền kinh
tế nói chung
1.1.2 Dịch vụ phân phối
1.1.2.1 Khái niệm dịch vụ phân phối
Trong nền kinh tế thị trường, hàng hóa từ người sản xuất đi đến người tiêudùng hoặc người sử dụng cuối cùng phải qua một chuỗi các hoạt động mua và bán.Dịch vụ phân phối (DVPP) là thuật ngữ mô tả toàn bộ quá trình lưu thông tiêu thụhàng hóa trên thị trường Chúng là những dòng chuyển quyền sở hữu các hàng hóa
Trang 9qua các doanh nghiệp và tổ chức khác nhau để tới người mua cuối cùng Từ nhữngquan điểm nghiên cứu khác nhau, có thể có những quan niệm khác nhau về DVPP.
Xuất phát từ quan điểm của các doanh nghiệp – chủ thể kinh doanh, DVPP làcác hình thức liên kết của các doanh nghiệp trên thị trường để cùng thực hiện mộtmục đích kinh doanh Người sản xuất (hay nhập khẩu) phải qua các trung gianthương mại nào để đưa sản phẩm của họ đến người tiêu dùng, vì vậy DVPP là cáchình thức lưu thông sản phẩm qua các trung gian khác nhau1
Xuất phát từ quan điểm hoạt động dịch vụ của các doanh nghiệp, DVPP làmột sự tổ chức hệ thống các quan hệ bên ngoài doanh nghiệp để quản lý các hoạtđộng phân phối hàng hóa nhằm đạt các mục tiêu kinh doanh Mà kinh doanh, theo
qui định tại Điều 4 của Luật Doanh nghiệp năm 2005, được hiểu là “việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”.
DVPP là hệ thống các quan hệ của một tập hợp các doanh nghiệp và cá nhânđộc lập và phụ thuộc lẫn nhau cùng tham gia vào quá trình lưu thông, mua bán hànghóa, dịch vụ nhằm đưa hàng hóa, dịch vụ từ người sản xuất đến người tiêu dùngcuối cùng Nó là một chuỗi các mối quan hệ giữa các tổ chức liên quan trong quátrình mua và bán hàng hóa Mỗi doanh nghiệp trong kinh doanh chắc chắn tham giavào một hoặc một số DVPP nhất định Ví dụ, với một doanh nghiệp xuất khẩu càphê, DVPP của họ bao gồm: hệ thống thu mua cà phê hạt từ những người nông dân
và hệ thống xuất khẩu cà phê ra thị trường nước ngoài Như vậy, DVPP là đối tượng
để tổ chức, quản lý như một công cụ kinh doanh trọng yếu của các doanh nghiệptrên thị trường
Như vậy, có thể hiểu một cách cơ bản, DVPP là hoạt động có sinh lợi củamột, một số các công ty hay cá nhân nhằm lưu thông và chuyển giao sản phẩm vàchuyển giao quyền sở hữu sản phẩm từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng
1.1.2.2 Đặc điểm của dịch vụ phân phối
1 Bộ thương mại, Phát triển hệ thống phân phối hàng hóa ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc
tế, 2004
Trang 10Với tư cách là một ngành dịch vụ2, DVPP mang đầy đủ các đặc điểm chungcủa dịch vụ Đó là: DVPP có tính vô hình và khó xác định; DVPP không lưu trữđược và quá trình sản xuất (cung ứng) DVPP và tiêu dùng DVPP xảy ra đồng thời.
Ngoài các đặc điểm trên, DVPP còn có các đặc điểm sau:
- Dịch vụ phân phối mang tính chuyên môn hóa và phân công lao động cao
Mỗi DVPP hoạt động được thông qua các dòng hoạt động (dòng chảy) đểđảm bảo hàng hóa đến được địa điểm tiêu dùng như: chuyển quyền sở hữu, đàmphán, vận động vật chất của hàng hóa, thanh toán, thông tin, xúc tiến đặt hàng, chia
sẻ rủi ro, tài chính, thu hồi, tái sử dụng lại bao gói Các dòng chảy này kết nối cácthành viên của DVPP với nhau Các DVPP ví như dòng chảy vì các hoạt động phânphối hàng hóa trong hệ thống là một quá trình vận động liên tục không ngừng Mỗidòng chảy là một tập hợp các chức năng phân phối được thực hiện bởi các thànhviên tham gia hệ thống phân phối
Tất cả các chức năng phân phối trong DVPP đều cần được thực hiện bởi mộtdoanh nghiệp hoặc cá nhân nào đó Nhưng không cần thiết mọi doanh nghiệp đềutham gia vào tất cả các dòng chảy Các DVPP có sự phân công lao động và chuyênmôn hóa trong từng hệ thống và cả ở tầm vĩ mô Các tổ chức kinh doanh nhất địnhchuyên môn hóa vào một hoặc một số công việc phân phối nhất định Doanh nghiệpsản xuất và nhập khẩu sử dụng những trung gian thương mại hoặc tổ chức bổ trợkhác để thực hiện công việc phân phối là vì họ thực hiện các chức năng phân phốihiệu quả hơn
- Bản chất của dịch vụ phân phối là sự vận động liên tục
Hàng hóa lưu thông qua các DVPP thông qua cơ chế “kéo đẩy” Cơ chế kéonghĩa là các doanh nghiệp dùng các biện pháp tác động vào nhu cầu của người tiêudùng cuối cùng để tạo ra mong muốn của họ, để họ tạo ra lực hút hàng hóa ra thịtrường Cơ chế đẩy nghĩa là doanh nghiệp sử dụng các biện pháp thúc đẩy các thànhviên của DVPP tăng cường hoạt động tiêu thụ tạo thành lực đẩy hàng hóa ra thịtrường Sự hoạt động của DVPP rất phức tạp do có nhiều dòng vận động trong
2 Theo qui định của WTO, phân phối là một trong số 12 ngành dịch vụ thuộc phạm vi điều chỉnh của Hiệp định GATS
Trang 11DVPP và nhiều doanh nghiệp và nhiều cá nhân tham gia vào DVPP Sự vận độngliên tục là bản chất của các DVPP.
- Sự phát triển của dịch vụ phân phối phụ thuộc vào sự quản lý hiệu quả của nhà nước
Như đặt vấn đề ở trên, mỗi nền kinh tế đều có một hệ thống các DVPP vĩ môhoạt động rất phức tạp Hoạt động thương mại của một đất nước thực chất được thểhiện ở hoạt động của DVPP vĩ mô Các DVPP của vô số các doanh nghiệp đan xenvào nhau trên thị trường, chảy theo nhiều chiều hướng với nhiều cường độ khácnhau Các DVPP của các doanh nghiệp khác nhau vừa hợp tác vừa cạnh tranh nhautrên thị trường Nhà nước với vai trò quản lý vĩ mô phải tạo điều kiện cho các doanhnghiệp phát triển được các DVPP hiện đại, hoạt động có hiệu quả cao Nhà nướcphải bảo đảm các điều kiện về môi trường kinh doanh để các DVPP hoạt động cóhiệu quả, bảo vệ dòng chảy hàng hóa hợp pháp, hạn chế những dòng chảy hàng hóatiêu cực, bất hợp pháp
Đặc điểm trong công tác quản lý vĩ mô của nhà nước đối với các DVPP làkhông phải bằng sự can thiệp trực tiếp vào hoạt động phân phối của các doanhnghiệp và các DVPP cụ thể mà chủ yếu là bằng các công cụ gián tiếp tác động đến
sự hình thành, phát triển và hoạt động của các DVPP của các doanh nghiệp
1.1.2.3 Vai trò của dịch vụ phân phối đối với nền kinh tế
- Dịch vụ phân phối có vai trò giải quyết các mâu thuẫn cơ bản vốn có của nền kinh tế thị trường và vì vậy nó góp phần đảm bảo cho nền kinh tế thị trường phát triển một cách bền vững nhờ sự kết nối hoạt động sản xuất với tiêu dùng.
Mâu thuẫn cơ bản, vốn có của nền kinh tế thị trường gồm 3 loại: Thứ nhất là
mâu thuẫn giữa sản xuất khối lượng lớn, chuyên môn hóa với nhu cầu tiêu dùngtheo khối lượng nhỏ nhưng đặc biệt và đa dạng Đó là mỗi nhà sản xuất chuyên mônhóa sản xuất và bán số lượng lớn một hoặc một số ít hàng hóa và dịch vụ, nhưngmỗi người tiêu dùng chỉ mua số lượng nhỏ của một tập hợp hàng hóa và dịch vụphong phú
Trang 12Có mâu thuẫn này là do thị trường là một tập hợp gồm vô số những ngườitiêu dùng với những nhu cầu và mong muốn rất khác nhau Xã hội càng phát triển,thu nhập của dân cư càng tăng lên, nhu cầu tiêu dùng càng đa dạng, phong phú.Trong khi đó, các doanh nghiệp sản xuất phải sản xuất khối lượng lớn để đạt hiệuquả kinh tế theo quy mô, chi phí sản xuất đơn vị sản phẩm thấp.
* Sự khác biệt về số lượng
* Sự khác biệt về không gian
* Sự khác biệt về thời gian
* Sự khác biệt về chủng loại
* Sự khác biệt về số lượng
* Sự khác biệt về không gian
* Sự khác biệt về thời gian
* Sự khác biệt về chủng loại
Sơ đồ 1.1 Dịch vụ phân phối nối sản xuất với tiêu dùng
(Nguồn: Bộ Thương mại, Phát triển hệ thống phân phối hàng hóa ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, 2004)
Hơn nữa các kỹ năng sản xuất hiện đại có thể giúp tạo ra số lượng hàng hóa
và dịch vụ lớn để thỏa mãn đông đảo khách hàng Sản xuất lớn, hiệu quả cao khôngthể giải quyết vấn đề thỏa mãn nhu cầu DVPP giúp giải quyết được mâu thuẫn nàynhờ sự gắn kết giữa sản xuất và tiêu dùng (xem sơ đồ 1.1)
Khu vực sản xuất: Chuyên môn hóa và phân công lao động dẫn đến khả năng cung cấp đa dạng
Hệ thống phân phối hàng hóa cần thiết để giải quyết những khác biệt và mâu thuẫn
Khu vực tiêu dùng: Nhu cầu và mong muốn đa dạng
về chủng loại, thời gian, địa điểm và quyền sở hữu
Trang 13Mâu thuẫn thứ hai trong nền kinh tế là sự khác biệt về không gian giữa sản
xuất và tiêu dùng do hoạt động sản xuất thường tập trung tại những địa điểm nhấtđịnh còn tiêu dùng lại trải rộng khắp hoặc ngược lại Do đó, DVPP giúp giải quyếtđược mâu thuẫn này trong quá trình thực hiện hoạt động phân phối
Tạo sự ăn khớp về không gian giữa sản xuất và tiêu dùng đòi hỏi phải tốithiểu hóa tổng số các trao đổi Sự xuất hiện DVPP với nhiều cấp độ với các trunggian thương mại chính là để giảm tổng số các trao đổi và tạo điều kiện vận chuyểnsản phẩm với khối lượng lớn ở cự ly dài, nhờ đó giảm chi phí vận chuyển
Mâu thuẫn thứ ba là sự khác biệt về thời gian do vì thời gian sản xuất và thời
gian tiêu dùng không trùng khớp, có thể sản xuất có tính thời vụ còn tiêu dùngquanh năm và ngược lại Vì sản xuất thường không xảy ra cùng thời gian với nhucầu tiêu dùng sản phẩm nên phải dự trữ hàng hóa Sự ăn khớp về thời gian giữa sảnxuất và tiêu dùng được giải quyết thông qua dòng chảy sản phẩm qua các DVPPđảm bảo đúng thời gian mong muốn của khách hàng
Ngoài ba vấn đề cơ bản trên, trong nền kinh tế còn chứa đựng nhiều mâuthuẫn khác như sự khác biệt về thông tin và giá trị, sự khác biệt về quyền sở hữu…
Các DVPP có vai trò và chức năng giải quyết những sự khác biệt và mâuthuẫn trên qua quá trình phân phối tổng thể DVPP hiệu quả là cần thiết để nốingười sản xuất với người tiêu dùng, có nghĩa là phân phối hàng hóa và dịch vụ đápứng nhu cầu và mong muốn của khách hàng
- Dịch vụ phân phối tác động tích cực đối với sự phân công lao động xã hội
Trong lĩnh vực sản xuất, phân công lao động thể hiện rõ nét ở việc mỗidoanh nghiệp chỉ tập trung nguồn lực sản xuất với loại sản phẩm hay một phần củasản phẩm để đạt hiệu suất cao hơn là sản xuất cùng lúc nhiều loại sản phẩm hay vô
số các phần nhỏ để tự tạo nên một sản phẩm hoàn chỉnh Khi đưa quan điểm này lêntầm vĩ mô, chúng ta sẽ thấy lãng phí khi một doanh nghiệp phải đảm đương mọikhâu từ sản xuất tới vận chuyển rổi trao đổi trực tiếp với người tiêu dùng Phâncông lao động ở tầm vĩ mô sẽ đạt hiệu quả cao hơn nếu mỗi ngành kinh tế chỉ tậptrung vào nghiệp vụ đặc trưng của ngành mình, ví dụ, công ty sản xuất thì nên tập
Trang 14trung vào sản xuất và sử dụng hợp lí các dịch vụ hỗ trợ tiêu thụ được cung cấp bởicác công ty khác Ngày nay phân phối cũng đang không nằm ngoài xu hướng đó.Với ưu thế về tính chuyên nghiệp và tiết kiệm chi phí, dịch vụ phân phối đang là sựlựa chọn rộng rãi trong các doang nghiệp sản xuất hay cho mô hình cửa hàng giớithiệu sản phẩm hay cửa hàng bán lẻ của chính công ty Sự phát triển mạnh mẽ củangành dịch vụ phân phối đang thu hút các luồng nhân lực và tài chính đầu tư vàongành này Điều này có tác dụng rất tốt trong việc điều hoà trạng thái cân bằng vềnguồn lực giữa các lĩnh vực kinh tế, đảm bảo duy trì một nền kinh tế hài hoà, tránhtình trạng phát triển thiên lệch
- Sự tăng trưởng của ngành dịch vụ phân phối góp phần tạo nên động lực phát triển mạnh mẽ cho nền kinh tế
Ngày nay, dịch vụ phân phối đang đạt giá trị ngày càng lớn, thu hút lượnglao động ngày càng đông đảo, trở thành một nhân tố tác động sâu rộng đến mọingóc ngách của hoạt động thương mại hàng hoá và thương mại dịch vụ Đối tượngcủa phân phối không chỉ có hàng hoá hữu hình mà bao gồm các loại hình dịch vụnhư mô hình phân phối các dịch vụ giải trí qua mạng đang rất thịnh hành hiện nay
Ở góc độ khác, dịch vụ phân phối đang trở thành tiêu chí để các nhà đầu tư đánh giátrình độ phát triển của một nền kinh tế bởi khi đầu tư vào một nơi nào đó, họ cầnbiết sản phẩm của mình có các kênh tiêu thụ hiệu quả hay không Mức độ thịnhvượng của ngành phân phối không chỉ là sự đảm bảo về kênh lưu thông sản phẩm
mà còn là sự hứa hẹn về một nền kinh tế tiêu dùng mạnh đầy tiềm năng mà nhà đầu
tư nào cũng mong đợi Do đó, dịch vụ phân phối đã vượt ra ngoài vai trò của mộtphân ngành dịch vụ trong nền kinh tế để trở thành một trong những động lực quantrọng của phát triển kinh tế
Với các vai trò quan trọng như vậy, hiện nay, phân phối được hầu hết cácnước thừa nhận là một ngành kinh tế nhạy cảm, có tác động tới nhiều mặt kinh tế -
xã hội và cần được đưa vào chiến lược phát triển quản lí kinh tế vĩ mô của Nhànước
1.1.3 Quan điểm của WTO về dịch vụ phân phối
1.1.3.1 Về khái niệm dịch vụ phân phối
Trang 15Theo phân loại của WTO, DVPP đứng ở vị trí thứ 4 trong tổng số 12 ngànhdịch vụ3 Cũng như dịch vụ nói chung, WTO không đưa ra khái niệm DVPP mà chỉđưa ra cách phân loại DVPP để phục vụ cho hoạt động của mình.
1.1.3.2 Phân loại dịch vụ phân phối
Theo WTO, ngành dịch vụ phân phối bao gồm 4 phân ngành chính là: Cácdịch vụ của đại lí ăn hoa hồng; các dịch vụ thương mại bán buôn; các dịch vụ bán lẻ
và các dịch vụ nhượng quyền thương mại4
- Đại lý hoa hồng là dịch vụ đại lý mà theo đó bên đại lý thực hiện việc mua,
bán hàng theo giá mua, giá bán do bên giao dịch đại lý ấn định để hưởng hoa hồng.
Hoa hồng được tính theo tỉ lệ phần trăm do các bên thoả thuận trên giá mua, giá bánhàng hoá Dịch vụ đại lý hoa hồng bao gồm các hoạt động bán hàng của phía nhậnđại lý, môi giới, đấu thầu hay những hình thức bán buôn hàng hoá và các dịch vụphụ trợ có liên quan khác để hưởng một khoản phí cố định hoặc theo thoả thuận trênhợp đồng
- Dịch vụ bán buôn là dịch vụ mà theo đó bên cung cấp dịch vụ giúp bên sử
dụng dịch vụ bán một khối lượng lớn hàng hoá với lượng giá gốc hoặc giá đã có chiết khấu ở mức cao nhằm tiêu thụ nhanh, nhiều hoặc khi khó đảm bảo về khối lượng hàng hoá đó Dịch vụ bán buôn thường được cung cấp bởi các trung gian
thương mại đầu mối như tổng đại lý và đại lý các cấp Việc bán buôn thường đicùng với mức giá đặc biệt gọi là giá bán buôn Giá bán buôn thường thấp hơn giábán lẻ và được qui định kiểu bậc thang theo khối lượng hàng bán ra nhằm khuyếnkhích khối lượng đặt hàng của các đại lý mà vẫn đảm bảo sự cân bằng và công bằng
về giá trong hệ thống thương mại Dịch vụ bán buôn bao gồm các hoạt động bánhàng cho người bán lẻ, các khách hàng là doanh nghiệp sản xuất, thương mại, các tổchức, các doanh nghiệp chuyên ngành hay người bán buôn, và các dịch vụ phụ trợ
có liên quan
- Dịch vụ bán lẻ bao gồm hoạt động bán hàng tại những điểm nhỏ, cố định,
như cửa hàng hay ki-ốt, hoặc qua đường bưu điện với số lượng nhỏ và người mua làngười tiêu dùng trực tiếp Dịch vụ bán lẻ có thể gồm cả những dịch vụ phụ trợ, ví
3 WTO, Hiệp định chung về thương mại dịch vụ, 1995
4 Mutrap II, Cẩm nang các cam kết thương mại dịch vụ của Việt Nam trong WTO, 2006
Trang 16dụ như giao hàng Khách hàng của dịch vụ bán lẻ có thể là cá nhân hoặc doanhnghiệp Trong thương mại, người bán lẻ mua hàng hoá với số lượng lớn từ nhà sảnxuất, người nhập khẩu hoặc người bán buôn và bán cho người tiêu dùng với sốlượng nhỏ hơn Người bán lẻ giữ vị trí cuối cùng trong chuỗi cung ứng và có vai tròrất quan trọng trong chiến lược phân phối của các công ty vì là những người gần gũingười tiêu dùng cuối cùng nhất.
- Nhượng quyền thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên nhượng
quyền cho phép và yêu cầu bên nhận quyền tự mình việc tiến hành mua bán hànghoá, cung ứng dịch vụ theo cách thức tổ chức kinh doanh do bên nhượng quyền quiđịnh và được gắn với nhãn hiệu hàng hoá, tên thương mại, bí quyết kinh doanh,khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, quảng cáo của bên nhượng quyền;bên nhượng quyền có quyền kiểm soát và trợ giúp cho bên nhận quyền trong việcđiều hành công việc kinh doanh Quyền hạn và nghĩa vụ của bên nhượng quyền vàbên nhận quyền qui định trong hợp đồng nhận quyền thương mại hai bên kí kết Bênnhận quyền thường phải trả cho bên nhượng quyền một khoản tiền nhượng quyềntheo số sản phẩm tiêu thụ được và vẫn phải trả một khoản nhượng quyền nhất địnhngay cả khi kinh doanh không có lãi Nhượng quyền thương mại thường mang lạihiệu quả tốt nhất trong các mô hình kinh doanh có chi phí ban đầu thấp hoặc trungbình, dễ triển khai, nhân rộng, và nhất là những dự án dựa trên những ý tưởng độcđáo, khác lạ
Trên đây là 4 loại hình cơ bản thuộc ngành dịch vụ phân phối được WTOphân loại Trong 4 loại hình này, NQTM là loại hình dịch vụ phân phối phát triểnkhá sớm ở các nước có nền kinh tế thị trường nhưng mới hình thành ở Việt Nam khiViệt Nam thực hiện chủ trương mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế
1.1.3.3 Yêu cầu của WTO đối với các thành viên về mở cửa dịch vụ phân phối
* Các qui định về phương thức mở cửa dịch vụ phân phối
Các hoạt động thương mại dịch vụ phân phối được chia làm 4 phương thứccung cấp theo đúng qui định chung của WTO về các phương thức cung ứng dịch vụ,
đó là: Cung cấp qua biên giới; Tiêu dùng ngoài lãnh thổ; Hiện diện thương mại;Hiện diện thể nhân (Điểu I khoản 2 - GATS)
Trang 17Phương thức 1 – Cung cấp dịch vụ qua biên giới (Cross-border supply) làphương thức mà theo đó, dịch vụ phân phối được cung cấp từ lãnh thổ của mộtnước thành viên sang lãnh thổ của một nước thành viên khác Theo phương thứcnày, không có sự di chuyển của người cung cấp và người tiêu dùng dịch vụ sanglãnh thổ của nhau mà chỉ có DVPP là đi qua lãnh thổ Cung cấp dịch vụ qua biêngiới thường được thực hiện bằng các phương thức truyền tải thông tin qua thư, điệnthoại, internet, vệ tinh, từ quốc gia thành viên này sang quốc gia thành viên khác.
Ví dụ, một người Việt Nam mua sách trên trang web của công ty Amazon(www.amazon.com) và nhận được sách gửi bằng đường bưu điện từ công tyAmazon ở Mỹ tới địa chỉ của người đó ở Việt Nam Khi đó, công ty Amazon của
Mỹ đã cung cấp dịch vụ phân phối qua biên giới Mỹ tới Việt Nam mà không có sự
di chuyển nhân viên của Amazon tới Việt Nam hay sự di chuyển của người muahàng Việt Nam tới Mỹ
Phương thức 2 – Tiêu dùng ngoài lãnh thổ (Consumption abroad) làphương thức mà theo đó người tiêu dùng của một nước thành viên (hoặc tài sản củahọ) tiêu dùng dịch vụ phân phối tại lãnh thổ của một nước thành viên khác bằngcách tự di chuyển hoặc được dịch chuyển (trong trường hợp là tài sản) ra nướcngoài Ví dụ, khi khách du lịch của Trung Quốc tới Việt Nam mua sắm, họ đã dichuyển ra ngoài lãnh thổ nước họ, tới Việt Nam để tiêu dùng dịch vụ phân phối tạiViệt Nam
Phương thức 3 – Hiện diện thương mại (Commercial presence) là phươngthức mà theo đó nhà cung cấp dịch vụ phân phối của một nước thành viên thành lậpchi nhánh hoặc công ty con, công ty liên doanh, văn phòng đại diện,… trên lãnh thổcủa một nước thành viên khác nhằm cung cấp dịch vụ phân phối của mình Ví dụ,tập đoàn Metro Cash & Carry của Đức đầu tư thành lập công ty TNHH Metro Cash
& Carry Việt Nam để trực tiếp cung cấp dịch vụ siêu thị bán buôn bán lẻ tại thịtrường Việt Nam
Phương thức 4 – Hiện diện thể nhân (Movement of natural persons) làphương thức mà theo đó dịch vụ phân phối được cung cấp bởi một cá nhân, hoạtđộng riêng rẽ hoặc với tư cách là một người làm thuê cho nhà cung cấp dịch vụ
Trang 18phân phối của một nước thành viên, hiện diện trên lãnh thổ của một nước thành viênkhác để cung cấp dịch vụ phân phối Ví dụ, khi nhân viên của một công ty có trụ sởtại Mỹ tới Việt Nam để trực tiếp chào bán sản phẩm xe hơi của công ty mình vớicác khách hàng Việt Nam có tiềm năng thì họ đang cung cấp dịch vụ bán lẻ trựctiếp cho công ty mình bằng cách di chuyển từ Mỹ vào Việt Nam để thực hiệnnghiệp vụ.
Với mục tiêu tạo dựng một môi trường thương mại tự do và công bằng chocác nước thành viên, WTO đã sớm đưa ra hiệp định chung về thương mại dịch vụ(General Agreement on Trade in Services - GATS) như một bước phát huy và tiếpnối những tác động tích cực của hiệp định chung về thuế quan và thương mại(General Agreement on Trade in Services - GATT) Tính đến thời điểm này, GATS
1995 là văn phòng pháp lí của WTO qui định về lĩnh vực dịch vụ với những mụctiêu rõ ràng là: tạo dựng một khuôn khổ pháp lí đáng tin cậy về thương mại quốc tế;đảm bảo sự ứng xử công bằng và hợp lí giữa các thành viên (nguyên tắc không phânbiệt đối xử); khuyến khích các hoạt động kinh tế thông qua các nghĩa vụ về chínhsách đã cam kết; và thúc đẩy thương mại và phát triển thông qua tự do hoá khôngngừng
Tiến trình và mức độ mở cửa dịch vụ phân phối của mỗi nước khi gia nhậpWTO được qui định trong “ Biểu cam kết về Thương mại Dịch vụ” của từng nước.Phần nội dung dưới đây chỉ nghiên cứu các qui định, yêu cầu khung ở dạng nguyêntắc định hướng đối với các thành viên về DVPP
* Các qui định về MFN và yêu cầu đối với các thành viên
Nguyên tắc Tối huệ quốc (Most Favoured Nation – MFN) được qui định ápdụng cho mọi ngành dịch vụ, bao gồm cả phân phối, theo Điều II của GATS Ápdụng trong phạm vi ngành phân phối, qui định trong Điều II được hiểu là mỗi thànhviên phải ngay lập tức và không điều kiện dành cho DVPP và các nhà cung cấpDVPP của bất kì thành viên nào khác sự đối xử không kém thuận lợi hơn sự đối xử
mà các thành viên đó dành cho DVPP và các nhà cung cấp DVPP tương tự của bất
kì nước nào khác
Trang 19Tuy nhiên, trong quá trình thực thi, yêu cầu về MFN đối với các thành viênthường không thể được đáp ứng ngay khi ra nhập chính thức, tức là chưa thể mởcửa ngành phân phối ở mức ưu đãi tối đa cho mọi thành viên WTO ngay lập tức Cóđiều này là do vào lúc gia nhập, các nước thành viên đã kí kết các hiệp định songphương hoăc khu vực dành cho một số nước nhất định những ưu đãi đặc biệt vềphân phối mà không thể áp dụng rộng rãi, hoặc không thể áp dụng rộng rãi ngay lậptức, cho tất cả các thành viên WTO Nếu áp dụng ngay, quốc gia đó sẽ đứng trướcnguy cơ mất kiểm soát hệ thống phân phối trong nền kinh tế và các doanh nghiệpphân phối nội địa không thích nghi kịp Xuất phát từ thực tế này, GATS đã có quiđịnh Điều 2 về những trường hợp miễn trừ tối huệ quốc riêng cho từng quốc giathành viên Theo đó nếu được các thành viên chấp thuận thông qua đàm phán, mộtnước có thể duy trì những ưu đãi ngoại lệ trong ngành phân phối, hay bất cứ ngànhdịch vụ nào khác, cho một số nước nhất định trong một thời gian cụ thể Các điềukiện mà ngoại lệ cần đáp ứng được qui định cụ thể trong “Danh mục Miễn trừ đối
xử Tối huệ quốc theo Điều II” Những trường hợp được liệt kê trong “Danh mụcMiễn trừ đối xử Tối huệ quốc theo điều II” riêng của từng thành viên sẽ được ràsoát trong vòng 5 năm và không áp dụng quá 10 năm kể từ ngày hiệp định WTO cóhiệu lực Bên cạnh đó, trong mọi trường hợp, các ngoại lệ này phải được đàm phántại các vòng đàm phán tiếp theo về tự do hoá thương mại để đảm bảo đạt mức độ tự
do hoá ngành phân phối tốt nhất có thể sau mỗi vòng đàm phán Như vậy, về bảnchất, “Danh mục Miễn trừ đối xử Tối huệ quốc theo điều II” là một danh mụcnhững trường hợp của dịnh vụ phân phối tạm thời chưa chịu sự điều chỉnh củanguyên tắc MFN hay là danh mục trì hoãn áp dụng nguyên tắc MFN
Ngoài ra, theo GATS thì hoạt động thương mại dịnh vụ, bao gồm cả phânphối, trong phạm vi vùng biên giới giữa các nước lân cận vẫn được hưởng những ưuđãi và lợi thế đặc biệt mà không bị coi là vi phạm nguyên tắc MFN Qui định nàytạo nên tính linh hoạt cần thiết trong bối cảnh tự do hoá thương mại dịch vụ nóichung và lĩnh vực phân phối nói riêng hiện đang nở rộ trên toàn thế giới Một quốcgia năng động ngày nay thường tham gia cùng một lúc nhiều tổ chức kinh tế, khuvực mậu dịch tự do hay các hiệp định song và đa phương Trong đó, một trong sốcác xu hướng có ảnh hưởng lớn nhất hiện nay là các khu vực mậu dịch tự do theo
Trang 20địa lý, hướng tới mô hình liên minh châu Âu (European Union - EU) Do vậy,quyền áp dụng nhưng ưu đãi đặc biệt cho các nước lân cận chung biên giới vừa tạođiều kiện cho một quốc gia tận dụng những lợi thế thương mại của mình, vừa đápứng xu hướng tất yếu về thắt chặt liên kết chính trị trong dài hạn.
* Các qui định về NT và yêu cầu đối với với các thành viên.
Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia (National Teantment - NT) được qui định trongđiều 17 thuộc Phần III của GATS Theo đó, dựa theo những cam kết cụ thể về lĩnhvực phân phối trong biểu cam kết của mỗi nước, mỗi thành viên phải dành cho dịch
vụ phân phối và người cung cấp dịch vụ phân phối của bất kì thành viên nào khác
sự đối xử không kém thuận lợi hơn sự đối xử mà thành viên đó dành cho dịch vụphân phối và nhà cung cấp dịch vụ phân phối của mình Dễ thấy, cùng được xâydựng trên nguyên tắc không phân biệt đối xử, nếu qui định tại Điều II về MFN giúpđảm bảo các thành viên WTO được đối xử không kém hơn những đối tác khác củanước chủ nhà thì Điều XVII về NT giúp đảm bảo các thành viên WTO trong vai tròđối tác sẽ được đối xử không kém hơn chính những chủ thể của nước chủ nhà
Tuy nhiên, GATS không cứng nhắc trong việc đưa ra các tiêu chí đánh giámột thành viên có áp dụng đầy đủ qui định về NT hay không Khoản 2 và 3 củaĐiều XVII đã chỉ rõ yêu cầu về NT có thể thực hiện bằng cách dành cho dịch vụphân phối hoặc nhà cung cấp dịch vụ phân phối của thành viên khác sự đối xửtương tự hoặc khác biệt về hình thức mà thành viên đó dành cho dịch vụ hoặc nhàcung cấp dịch vụ của mình Như vậy, sự khác biệt về hình thức giữa các qui địnhhay biện pháp được áp dụng cho nước chủ nhà và các nước thành viên khác khôngđược tính là vi phạm yêu cầu về NT trong WTO Sự đối xử chỉ bị coi là vi phạmnếu xác định được nó làm thay đổi điều kiện cạnh tranh theo hướng có lợi cho dịch
vụ phân phối hay nhà cung cấp dịch vụ phân phối của nước chủ nhà so với dịch vụphân phối hay nhà cung cấp dịch vụ phân phối của các Thành viên khác Do vậy,trong một chừng mực nào đó, mỗi nước thành viên WTO vẫn có thể linh hoạt ápdụng các biện pháp mà nước đó cho là phù hợp nhất với mỗi thành viên khác nhau
để vừa đảm bảo công bằng thương mại theo phương châm của WTO, vừa tránhđược những bất lợi quá lớn cho nước mình
Trang 21* Những qui định khác của WTO về mở cửa dịch vụ phân phối
Ngoài những qui định về MFN và NT, WTO còn có một số qui định khácnữa áp dụng cho việc mở cửa DVPP, gồm 7 nguyên tắc như sau:
- Nguyên tắc minh bạch hoá hệ thống chính sách:Theo GATS, tự do hoá
với việc các nước thành viên công khai minh bạch chính sách thương mại của mình
để các nhà cung cấp dịch vụ phân phối có thể tiếp cận thị trường và xúc tiến đầu tư
Vì vậy, GATS đã yêu cầu các thành viên phải đáp ứng đầy đủ một số yêu cầu nhấtđịnh.Trước hết, Chính phú các nước thành viên phải ấn hành một cách công khai vàrộng rãi tất cả các qui định, văn bản pháp lý và hiệp định quốc tế có liên quan hoặc
có tác động tới hoạt động và dịch vụ phân phối của quốc gia đó, đồng thời đáp ứngđầy đủ thông tin về việc áp dụng các qui định nêu trên tới các thành viên khác nếu
có yêu cầu Nếu có sửa đổi hay ban hành các luật, quy chế hoặc hướng dẫn hànhchính có tác động cơ bản tới hoạt động của dịch vụ phân phối, các thành viên phảithông báo khẩn trương và ít nhất mỗi năm một lần cho Hội đồng thương mại dịch
vụ của WTO Tuy nhiên, GATS không yêu cầu các thành viên phải cung cấp cácthông tin bí mật mà nếu tiết lộ sẽ gây ra khó khăn cho việc thi hành luật, hoặc mâuthuẫn với lợi ích công cộng, hoặc phương hại tới quyền lợi thương mại hợp phápcủa một doanh nghiệp cụ thể Bên cạnh đó, các nước thành viên cũng không đượcphép áp dụng những yêu cầu về chuyên môn, về chất lượng dịch vụ phân phối, vềgiấy phép, về tiêu chuẩn kỹ thuật quá cao hay đưa ra những qui định hành chính cónguy cơ vô hiệu hoá hay bóp méo việc thực hiện các cam kết WTO về mở cửa dịch
vụ phân phối
- Nguyên tắc công nhận lẫn nhau: GATS đưa ra nguyên tắc công nhận lẫn
nhau nhằm xoá bỏ sự phân biệt đối xử trên thực tế với dịch vụ phân phối và ngườicung cấp dịch vụ phân phối của nước ngoài Theo đó các thành viên được khuyếnkhích công nhận các thủ tục của nhau liên quan tới giáo dục, đào tạo, cấp giấy phép
và các thủ tục cần thiết khác để cấp phép cung cấp dịch vụ phân phối trên thịtrường Bên cạnh đó, các nước thành viên cần phải tạo cơ hội ngang bằng cho bất
cứ một nước thành viên nào khác trong việc đàm phán gia nhập các thoả thuận hoặchiệp định mà thành viên đó đã ký kết với một nước thành viên khác Các biện pháp
Trang 22công nhận hiện thời của các nước thành viên cũng cần được thông báo cho Hộiđồng thương mại dịch vụ của WTO và chỉ rõ đó là các biện pháp công nhận dựatrên thoả thuận hay tự động Đồng thời, GATS còn khuyến khích các thành viêntuân thủ các chuẩn mực đã được tổ chức chuyên môn quốc tế thừa nhận và việccông nhận lẫn nhau phải dựa trên những tiêu chí đã được chấp thuận rộng rãi trênphạm vi quốc tế.
- Nguyên tắc tự do hoá từng bước dịch vụ phân phối: Đây là kết quả cuộc
đấu tranh của các nước thành viên kém phát triển tại vòng đàm phán Uruguay xuấtphát từ sự không đồng nhất về điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội nói chung và trình
độ phát triển ngành dịch vụ phân phối nói riêng của các Thành viên Từ thực tế đó,các thành viên WTO đã thống nhất quan điểm tự do hoá ngành dịch vụ phân phốicần đuợc tiến hành từng bước phù hợp với trình độ phát triển ở mỗi quốc gia Vìvậy, các quốc gia đang phát triển được phép không mở cửa thị trường dịch vụ phânphối nhanh chóng như các nước phát triển mà mở rộng việc tiếp cận thị trường mộtcách dần dần sao cho phù hợp với mức độ phát triển của nước mình, thậm chí đượcqui định điều kiện đi kèm tiếp nhận các nhà đầu tư nước ngoài Đồng thời, WTOcũng khuyến khích sự tham gia của các nước đang phát triển vào thương mại dịch
vụ nói chung và thương mại dịch vụ phân phối nói riêng thông qua việc tạo điềukiện cho các nước này nâng cao khả năng cạnh tranh, tăng cường khả năng tiếp cậncông nghệ mới, các kênh phân phối và hệ thống công ty nước ngoài Tiến trình tự
do hoá từng bước được đẩy mạnh qua từng vòng đàm phán, cả song phuơng và đaphương, nhằm tới mục tiêu nâng mức độ mở cửa thị trường dịch vụ phân phối củacác nước đang phát triển lên ngày một cao hơn và gần hơn với mức qui định chung
- Nguyên tắc liên quan đến quy tắc trong nước: khi gia nhập WTO, một
trong số những khó khăn mà các nước gặp phải là mâu thuẫn giữa các cam kếtWTO với các qui định của pháp luật trong nước Về vấn đề này, điều VI của GATScông nhận chủ quyền của các nước thành viên trong việc đưa ra những qui địnhđiều chỉnh dịch vụ phân phối trong nước và khuyến khích các thành viên minh bạchhoá các qui định và chính sách của mình Bên cạch đó, WTO cũng đưa ra nguyêntắc chung yêu cầu những biện pháp nội bộ phải được quản lý một cách khách quan,hợp lý và không thiên vị Những nhà cung cấp dịch vụ phân phối nước ngoài được
Trang 23phép phản đối các quyết định hành chính trước toà và phải được thông báo kết quảviệc xem xét các yêu cầu của họ Các nước thành viên buộc phải xem xét các yêucầu của doanh nghiệp phân phối nước ngoài một cách khách quan, bình đẳng và giảiquyết yêu cầu xin được cung cấp dịch vụ trong một thời gian hợp lý.
- nguyên tắc liên quan đến vấn đề độc quyền và đặc quyền cung cấp dịch vụ: GATS cho phép các thành viên có một số ngành dịch vụ được hưởng độc quyền
và đặc quyền, với điều kiện hoạt động của nguời cung cấp dịch vụ độc quyền phảiphù hợp với các nghĩa vụ chung và nghĩa vụ đã cam kết của thành viên đó Qui địnhnày cũng đuợc áp dụng với dịch vụ phân phối Nếu một nước thành viên cho phépđộc quyền hay đặc quyền dịch vụ phân phối, nhưng phải đảm bảo phù hợp với danhmục cam kết của nước đó, thì phải thông báo cho Hội đồng thương mại dịch vụ củaWTO chậm nhất là ba tháng trước khi dự kiến thực hiện việc cho phép độc quyềnhay đặc quyền Trong trường hợp này, thành viên đó phải tiến hành những điềuchỉnh có tính bù đắp, phù hợp với những qui định thông thường về sửa đổi hoặc rútcam kết Nước thành viên cho phép độc quyền có nghĩa vụ cung cấp cho các thànhviên khác những thông tin cần thiết liên quan đến độc quyền để các thành viên khácđánh giá được mức độ ảnh hưởng của độc quyền tới các nhà cung cấp dịch vụ phânphối của họ trên thị trường của nước có độc quyền
- Nguyên tắc đối xử đặc biệt dành cho các nước thành viên đang phát triển và /hoặc trong quá trình chuyển đổi: theo qui định của GATS, các nước
thành viên đang phát triển được hưởng nguyên tắc đối xử đặc biệt và khác biệt Thứnhất, những cam kết gia nhập WTO của các nước đang phát triển phải đảm bảo chocác nước này có thể tăng cường năng lực cạnh tranh của ngành dịch vụ phân phốitrong nước, đồng thời, các nước phát triển sẽ tạo điều kiện để các thành viên kémphát triển tiếp cận hệ thống thông tin và các kênh phân phối thuận lợi cho phát triểnngành dịch vụ phân phối Thứ hai, các nước đang phát triển được áp dụng phươngpháp “chọn – cho” (tức là mở cửa lĩnh vực nào thì liệt kê lĩnh vực đó trong danhmục cam kết về dịch vụ), thuận lợi hơn so với phương pháp “chọn - bỏ” (tức làkhông mở cửa lĩnh vực nào thì liệt kê lĩnh vực đó trong danh mục cam kết về dịch
vụ, các lĩnh vực còn lại đều phải mở cửa) mà các nước phát triển phải áp dụng Hơnnữa, các nước đang phát triển còn được hưởng những linh hoạt thích đáng trong
Trang 24đàm phán và thực hiện các cam kết đối với thị trường dịch vụ phân phối Thứ ba,trong thời hạn hai năm kể từ ngày các Hiệp định WTO có hiệu lực, các nước thànhviên phát triển và các thành viên khác sẽ lập những điểm liên lạc để tạo điều kiệncho những người cung cấp dịch vụ phân phối của các nước thành viên đang pháttriển tiếp cận với thông tin về thị trường.
1.2 Nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực phân phối
1.2.1 Khái niệm về nhượng quyền thương mại
NQTM còn được biết đến với các tên gọi franchise, frachising, nhượngquyền thương hiệu… Từ khi ra đời cho đến nay có rất nhiều khái niệm về NQTM
Theo cách hiểu của Ủy ban Thương mại liên bang Hoa Kỳ (The US FederalTrade Commission):
NQTM là một hợp đồng hay một thỏa thuận giữa ít nhất hai người, trong đó: Người mua NQTM được cấp quyền bán hay phân phối sản phẩm, dịch vụ theo cùng một kế hoạch hay hệ thống tiếp thị của người chủ thương hiệu Hoạt động kinh doanh của người mua NQTM phải triệt để tuân theo kế hoạch hay hệ thống tiếp thị này gắn liền với nhãn hiệu, thượng hiệu, biểu tượng, khẩu hiệu, tiêu chí, quảng cáo
và những biểu tượng thương mại khác của chủ thương hiệu Người mua NQTM phải trả một khoản phí trực tiếp hay gián tiếp, gọi là phí NQTM 5 Khái niệm này
khá chi tiết nhưng chỉ tập trung làm rõ nội dung các quyền và nghĩa vụ của chủ thểtham gia hoạt động NQTM mà chủ yếu là quyền và nghĩa vụ của bên mua NQTM
Một khái niệm về NQTM do tác giả Awalan Abdul Aziz đưa ra trong cuốnsách “A guide to franchising in Malaysia” (Hướng dẫn NQTM tại Malaysia) lạinhấn mạnh NQTM dưới góc độ mối quan hệ giữa bên nhượng quyền và bên nhậnquyền:
NQTM là một phương thức tiếp thị và phân phối sản phẩm hay dịch vụ dựa trên mối quan hệ giữa hai đối tác: một bên được gọi là người bán NQTM (franchisor) và một bên gọi là người mua NQTM (franchisee) Bên mua NQTM
5 Lý Quý Trung, Mua Franchise cơ hội mới cho các doanh nghiệp Việt Nam, 2005
Trang 25được cấp phép sử dụng thương hiệu của bên bán NQTM để kinh doanh tại một địa điểm hay khu vực nhất định, trong một khoảng thời gian nhất định 6
Khái niệm NQTM của Hiệp hội NQTM quốc tế (International FrachiseAssociation – IFA) lại nhấn mạnh tính liên tục của mối quan hệ trong NQTM:
NQTM là mối quan hệ liên tục trong đó bên bán franchise cấp cho bên mua franchise quyền được kinh doanh (sản phẩm/ dịch vụ của doanh nghiệp), cộng với những hỗ trợ về tổ chức, đào tạo, cách thức kinh doanh, quản lý, đổi lại nhận được một khoản tiền nhất định từ bên mua 7
Theo quan điểm này, “mối quan hệ liên tục” thể hiện đặc thù của phươngthức kinh doanh NQTM: quan hệ giữa người mua và người bán NQTM không chấmdứt sau khi hợp đồng nhượng quyền được ký kết mà liên tục được duy trì trong suốtquá trình hoạt động của các đơn vị nhận quyền và chỉ chấm dứt cho đến khi hết thờihạn qui định trong hợp đồng Nói cách khác, hợp đồng nhượng quyền không phảimua đứt bán đoạn mà là sự khởi đầu của mối quan hệ hợp tác giữa hai chủ thể độclập dựa trên sự tồn tại và phát triển kinh doanh
Như vậy, theo các cách hiểu khác nhau về NQTM nêu trên, có thể phân chiaNQTM thành hai hình thức là nhượng quyền thương hiệu (nhượng quyền phân phốisản phẩm) và nhượng quyền hệ thống (nhượng quyền sử dụng công thức kinh
doanh) Trong nhượng quyền thương hiệu, bên nhận quyền thường không nhận
được sự hỗ trợ đáng kể nào từ bên nhượng quyền ngoại trừ được phép sử dụng tênnhãn hiệu, biểu tượng, khẩu hiệu và phân phối sản phẩm hay dịch vụ của bênnhượng quyền trong một phạm vi khu vực và thời gian nhất định Điều này có nghĩa
là bên nhận quyền sẽ quản lý điều hành hệ thống kinh doanh của mình khá độc lập,
ít bị ràng buộc bởi những qui định từ bên nhượng quyền Bên nhận quyền trongtrường hợp này có thể cải biến cung cách phục vụ và kinh doanh theo ý mình Hìnhthức nhượng quyền này tương tự như cấp phép kinh doanh (licensing) mà trong đóbên nhượng quyền chủ yếu quan tâm đến việc phân phối sản phẩm của mình chứkhông mấy quan tâm đến hoạt động hàng ngày hay tiêu chuẩn của hệ thống kinhdoanh của bên nhận quyền Do đó, mối quan hệ giữa bên nhượng quyền và bên
6 Lý Quý Trung, Mua Franchise cơ hội mới cho các doanh nghiệp Việt Nam, 2005
7 Lý Quý Trung, Mua Franchise cơ hội mới cho các doanh nghiệp Việt Nam, 2005
Trang 26nhận quyền là mối quan hệ nhà cung cấp – nhà phân phối Hình thức nhượng quyềnthương hiệu phổ biến nhất là các trạm xăng dầu, các đại lý bán ô tô, các công ty giải
khát như Coca-cola hay Pepsi Trong khi đó, nhượng quyền hệ thống phát triển cả
về bề rộng và bề sâu Ngoài việc chuyển giao thương hiệu, nhượng quyền hệ thốngcòn chuyển giao toàn bộ các yếu tố cấu thành hệ thống bao gồm thương hiệu, sảnphẩm, dịch vụ, biểu tượng, bộ nhận dạng hệ thống, quy trình dịch vụ, bí quyết kinhdoanh, cách thức quản lý… Các chuẩn mực kinh doanh phải tuyệt đối tuân thủ Mốiquan hệ hợp tác giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền được qui định rất chặtchẽ và cụ thể trong hợp đồng NQTM Bên nhận quyền thường phải trả một khoảnphí cho bên nhượng quyền, có thể là một khoản phí trọn gói một lần có thể là mộtkhoản phí hàng tháng dựa trên doanh số và cũng có thể là tổng hợp luôn hai khoảnphí nói trên Mức phí cao hay thấp phụ thuộc vào uy tín hệ thống, sự thương lượnggiữa hai bên và chủ trương của bên nhượng quyền NQTM ngày nay chủ yếu lànhượng quyền hệ thống
Tại Việt Nam, khái niệm NQTM được qui định trong Luật thương mại ViệtNam năm 2005, theo đó:
NQTM là một hoạt động thương mại, theo đó bên nhượng quyền cho phép và yêu cầu bên nhận quyền tự mình tiến hành việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch
vụ theo hai điều kiện chính như sau:
1 Về mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ được tiến hành theo cách thức tổ chức kinh doanh do bên nhượng quyền qui định và được gắn với nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại, bí quyết kinh doanh, quảng cáo của bên nhượng quyền.
2 Bên nhượng quyền có quyền kiểm soát và trợ giúp cho bên nhận chuyển nhượng trong việc điều hành công việc kinh doanh 8
Khái niệm này cũng bao quát các nội dung đã được đề cập ở các khái niệmtrên về hoạt động NQTM Tuy nhiên, điểm khác biệt lớn nhất của Luật thương mạiViệt Nam 2005 đó là đã đồng nhất khái niệm NQTM với khái niệm nhượng quyền
hệ thống (nhượng quyền sử dụng công thức kinh doanh), hay nói cách khác NQTMtheo luật định tại Việt Nam không bao gồm nhượng quyền thương hiệu (nhượng
8 Luật Thương mại Việt Nam năm 2005, Điều 284
Trang 27quyền phân phối sản phẩm) Khái niệm NQTM trong luận văn này được hiểu theocách hiểu của Luật thương mại Việt Nam 2005, nghĩa là tương ứng với khái niệmnhượng quyền hệ thống (nhượng quyền sử dụng công thức kinh doanh) trên thếgiới.
Từ những khái niệm trên, có thể khái quát NQTM có những đặc điểm sau
1.2.2 Đặc điểm của nhượng quyền thương mại
1.2.2.1 Về luật điều chỉnh
NQTM là một hoạt động thương mại Việc xác định đây là một hoạt độngthương mại có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định luật áp dụng là luật thươngmại và xác định cơ quan tài phán trong trường hợp có tranh chấp là tòa án kinh tế.Luật thương mại điều chỉnh hoạt động NQTM có thể là luật của nước của chủ thểtham gia vào hợp đồng NQTM hoặc là luật của nước thứ 3 được qui định áp dụngtrong hợp đồng NQTM
NQTM được thực hiện thông qua hợp đồng Hợp đồng NQTM là văn bảnxác định quyền và nghĩa vụ cụ thể của các bên trong khi tham gia vào hoạt độngNQTM Hợp đồng sẽ qui định những gì bên nhượng quyền cũng như bên nhậnquyền được phép làm và có nghĩa vụ phải làm NQTM là một hoạt động thương mạiđặc trưng mà nội dung của nó bao hàm nhiều vấn đề được nêu trong nhiều văn bảnpháp lý khác nhau, ví dụ các vấn đề về sở hữu trí tuệ được nêu trong luật dân sự,luật sở hữu trí tuệ, vấn đề quảng cáo được nêu trong pháp lệnh quảng cáo, các vấn
đề về thanh toán phí được qui định trong các luật thuế và pháp luật về ngoại hối(trong trường hợp thanh toán phí cho bên nhượng quyền nước ngoài),… Hợp đồngNQTM là văn bản qui định cụ thể tất cả các vấn đề trên và vì vậy, hợp đồng NQTMcũng là luật điều chỉnh quan hệ giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền
NQTM là một tiểu phân ngành dịch vụ trong dịch vụ phân phối, vì vậy,NQTM chịu sự điều chỉnh của các Công ước quốc tế, các hiệp định về thương mạidịch vụ song phương và đa phương mà quốc gia tham gia Đối với các nước thànhviên của WTO như Việt Nam, NQTM còn chịu sự điều chỉnh của Hiệp định chung
về thương mại dịch vụ (GATS)
Trang 281.2.2.2 Về đối tượng của nhượng quyền thương mại
Đối tượng của NQTM là quyền thương mại.“Quyền thương mại”, theo
khoản 6, Điều 3, Nghị định 35/2006/NĐ-CP qui định chi tiết Luật thương mại vềhoạt động nhượng quyền, bao gồm một, một số hoặc toàn bộ các quyền sau đây:
a) Quyền được Bên nhượng quyền cho phép và yêu cầu Bên nhận quyền tự mình tiến hành công việc kinh doanh cung cấp hàng hóa hoặc dịch vụ theo một hệ thống do Bên nhượng quyền qui định và được gắn với nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, quảng cáo của Bên nhượng quyền.
b) Quyền được Bên nhượng quyền cấp cho Bên nhận quyền sơ cấp quyền thương mại chung.
c) Quyền được Bên nhượng quyền thứ cấp cấp lại cho Bên nhận quyền thứ cấp theo hợp đồng NQTM chung.
d) Quyền được Bên nhượng quyền cấp cho Bên nhận quyền quyền thương mại theo hợp đồng phát triển quyền thương mại.”
Vì đối tượng của NQTM là quyền thương mại, do đó, giữa bên nhượngquyền và bên nhận quyền luôn tồn tại một mối quan hệ hỗ trợ mật thiết
Đây là một đặc điểm giúp chúng ta tìm thấy sự khác biệt của NQTM với cáchoạt động thương mại khác Trong NQTM luôn tồn tại mối quan hệ hỗ trợ mật thiếtgiữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền, nếu không có điều đó, thì đã thiếu đimột điều kiện tiên quyết để xác định hoạt động đấy có phải là NQTM hay không
Mục đích và cũng là yêu cầu của NQTM là việc nhân rộng một mô hình kinhdoanh đã được trải nghiệm thành công trên thương trường Chính vì vậy, đối vớiNQTM thì cần phải bảo đảm được tính đồng nhất về các yếu tố liên quan trực tiếpđến quy trình kinh doanh đó như: chất lượng hàng hóa, dịch vụ; phương thức phụcvụ; cách thức bài trí cơ sở kinh doanh (từ hình ảnh bên ngoài cho đến khu vực bêntrong của cơ sở); việc sử dụng nhãn hiệu hàng hóa, biểu tượng kinh doanh, tênthương mại của bên nhượng quyền; hoạt động quảng bá, khuyến mại; đồng phụccủa nhân viên; các ấn phẩm của cơ sở kinh doanh Tính đồng nhất trong các mắt
Trang 29xích của một hệ thống NQTM chỉ có thể được đảm bảo khi giữa bên nhượng quyền
và bên nhận quyền luôn duy trì mối quan hệ mật thiết với nhau trong suốt thời giantồn tại quan hệ NQTM
Tính mật thiết của mối quan hệ giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyềnthể hiện từ ngay sau khi các bên hình thành nên quan hệ NQTM Kể từ thời điểm
đó, bên nhượng quyền phải tiến hành việc cung cấp tài liệu, đào tạo nhân viên củabên nhận quyền Không chỉ vậy, mà cùng với sự lớn mạnh và phát triển theo thờigian của hệ thống, bên nhượng quyền phải thường xuyên trợ giúp kỹ thuật, đào tạonhân viên của bên nhận quyền đối với những ứng dụng mới áp dụng cho cả hệthống
Quyền thương mại, với ý nghĩa là đối tượng của NQTM nên trong quá trìnhthực hiện quyền thương mại, bên nhận quyền luôn chịu sự kiểm soát của bênnhượng quyền
Quyền kiểm soát của bên nhượng quyền đối với việc điều hành hoạt độngkinh doanh của bên nhận quyền được pháp luật đa số các quốc gia trên thế giới thừanhận Theo đó, bên nhượng quyền có thể định kỳ hoặc đột xuất kiểm tra việc thựchiện các quyền thương mại của bên nhận quyền Sự hỗ trợ của bên nhượng quyềnđối với bên nhận quyền như đã nói ở trên sẽ trở nên vô nghĩa và thiếu đi tính thực tếnếu như bên nhượng quyền không có quyền năng kiểm soát hoạt động điều hànhkinh doanh của bên nhận quyền Quyền năng này của bên nhượng quyền đã thực sựtạo nên chất kết dính quan trọng trong việc xây dựng tính thống nhất của hệ thốngNQTM và sự ổn định về chất lượng hàng hóa và dịch vụ
1.2.2.3 Về vai trò, vị trí và lợi ích của NQTM
Theo nhận định của các chuyên gia kinh tế, không có một quốc gia nào cónền kinh tế phát triển mà không cần đến sự góp sức năng động của NQTM Hay nóicách khác, NQTM là chất xúc tác giúp nền kinh tế phát triển, tạo điều kiện nhanhnhất cho các doanh nghiệp chia sẻ kinh nghiệm, nhân rộng thành công và ngược lạicũng là giải pháp ít rủi ro nhất cho các doanh nghiệp thừa hưởng những thành công
có sẵn làm tiền đề cho sự phát triển ổn định và lâu dài của mình Đặc biệt trong kỷnguyên của thương mại quốc tế, khi mà các doanh nghiệp nói riêng và các quốc gia
Trang 30nói chung ngày càng phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt thì hoạt động NQTMcàng phát huy vai trò quan trọng của mình cả ở tầm vi mô và vĩ mô.
* Vai trò của NQTM đối với nền kinh tế
- Đối với việc hội nhập quốc tế: Các tổ chức kinh tế - thương mại quốc tế vàkhu vực cũng như các quốc gia trên thế giới ngày càng quan tâm sát sao tới NQTM.NQTM là một cửa ngõ rất thuận tiện và thích hợp để các thương hiệu có tiếng trênthế giới đi vào từng quốc gia Điều này sẽ đem lại nhiều lợi ích cho nền kinh tế Một
ví dụ nhỏ về mặt tâm lý, du khách và các nhà đầu tư quốc tế sẽ cảm thấy gần gũi, antâm hơn khi nhìn thấy các thương hiệu quen thuộc của thế giới cũng có mặt tại mộtquốc gia khác như các chuỗi nhà hàng, khách sạn và nhiều dịch vụ phổ biến khác.Nói khác đi, sự góp mặt của các thương hiệu nổi tiếng thế giới sẽ giúp kinh tế quốcgia quảng bá hình ảnh hội nhập quốc tế của mình Do vậy để tham gia thực hiện cácchương trình hoạt động của cộng đồng quốc tế đòi hỏi các quốc gia cũng phải pháttriển mạnh hoạt động NQTM ở quốc gia mình cũng như phải có hệ thống tổ chứchoạt động thương mại của Chính phủ và các doanh nghiệp
- Nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia: NQTM là một giải pháp hữu hiệu
để nâng cao năng lực cạnh tranh Các doanh nghiệp ở các quốc gia sẽ có hợp tác,học hỏi và nhân rộng mô hình kinh doanh đã chứng minh thành công trên thươngtrường Bước kế tiếp của các doanh nghiệp của các quốc gia này bắt đầu áp dụng
mô hình NQTM vào chính doanh nghiệp của mình để nhân rộng thương hiệu trong
và ngoài nước
* Lợi ích của NQTM đối với hai bên nhượng quyền và nhận quyền
- Đối với bên nhượng quyền:
Nhân rộng tối đa mô hình kinh doanh với chi phí vốn đầu tư thấp nhất: mộtdoanh nghiệp muốn nhân rộng mô hình kinh doanh của mình ra khỏi ranh giới mộtthành phố hay một quốc gia thường gặp phải khó khăn lớn nhất là khả năng tàichính có hạn Ngoài ra, doanh nghiệp có thể phải đương đầu với những trở ngại vềyếu tố địa lý, con người và văn hóa địa phương NQTM sẽ giúp cho doanh nghiệp,chủ thương hiệu san sẻ những khó khăn này cho bên nhận quyền – bên chịu toàn bộ
Trang 31chi phí đầu tư của cải vật chất và cũng là bên am hiểu tường tận về con người, thóiquen tiêu dùng và văn hóa địa phương
Phát triển uy tín thương hiệu: khi mô hình kinh doanh của doanh nghiệpđược nhân rộng nhanh chóng thì giá trị của công ty hay thương hiệu cũng lớn mạnhtheo Sự lớn mạnh về uy tín thương hiệu sẽ có tác động tốt đến tâm lý người tiêudùng và thu hút sự quan tâm chú ý của các nhà đầu tư và các tổ chức tài chính –ngân hàng
Tăng doanh thu: thông qua phương thức NQTM, chủ thương hiệu có thể cảithiện doanh thu của mình khi nhận được các khoản phí nhượng quyền bao gồm: phínhượng quyền ban đầu (được tính một lần và là khoản phí hành chính, đào tạo,chuyển giao công thức kinh doanh cho bên nhận quyền), phí hàng tháng (là khoảnphí bên nhận quyền phải trả cho việc duy trì sử dụng nhãn hiệu, thương hiệu củabên nhượng quyền và những dịch vụ hỗ trợ mang tính thường xuyên, liên tục nhưđào tạo huấn luyện, tiếp thị quảng bá, nghiên cứu phát triển sản phẩm mới ) Ngoài
ra, nhiều chủ thương hiệu có thể tăng doanh thu từ việc bán các nguyên, vật liệu đặcthù cho bên nhận quyền
Tiết kiệm chi phí kinh doanh: các doanh nghiệp sử dụng phương thứcNQTM thường có ưu thế mua hàng giá rẻ hơn do mua với số lượng lớn Ngoài ra,các chi phí tiếp thị, quảng cáo cũng được tiết giảm nhờ phân bố cho nhiều đơn vịmang cùng một nhãn hiệu
- Đối với bên nhận quyền
Đầu tư an toàn và có khách hàng ngay: xác suất thành công của các doanhnghiệp nhận quyền cao hơn rất nhiều so với các doanh nghiệp mới bắt đầu thửnghiệm mô hình kinh doanh lần đầu với nhãn hiệu, thương hiệu chưa được biết đến.Thương hiệu hay uy tín nhãn hiệu đóng một vai trò vô cùng quan trọng đối vớikhách hàng khi họ quyết định chọn mua sản phẩm Thông thường, những nhãn hiệu,thương hiệu đã có uy tín luôn đem lại cho khách hàng cảm giác an tâm về nguồngốc, chất lượng của sản phẩm, dịch vụ Do vậy, khi nhận quyền của một sản phẩm
đã có thương hiệu thì doanh nghiệp sẽ có một lượng khách hàng tối thiểu ngay từban đầu
Trang 32Sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực: do bên nhận quyền chỉ tập trung vào việcđiều hành hoạt động kinh doanh, phần còn lại như xây dựng chiến lược tiếp thị, quytrình vận hành, chiến lược kinh doanh sẽ do bên nhượng quyền đảm trách chuyểngiao nên mọi nguồn lực của bên nhận quyền sẽ được chuyên môn hóa hiệu quả.
Dễ dàng nhận được sự hỗ trợ tài chính: với những lợi thế về uy tín, chủthương hiệu thường đóng vai trò cầu nối giúp bên nhận quyền vay vốn từ các tổchức tài chính – ngân hàng hoặc chính bản thân họ đứng ra cho vay nhằm nhanhchóng phát triển và nhân rộng mô hình kinh doanh
Tận dụng được kinh nghiệm và sự giúp đỡ của bên nhượng quyền: như đãnói ở trên, bên nhận quyền luôn luôn nhận được sự giúp đỡ, hỗ trợ từ phía chủthương hiệu trong các lĩnh vực về đào tạo, thiết kế, tìm nguồn hàng, tiếp thị, quảngcáo Đây là lợi thế lớn đối với những ai kinh doanh lần đầu
Nâng cao năng lực kinh doanh: bên nhận quyền phải tự mình trực tiếp quản
lý điều hành cửa hàng nhượng quyền, tự mình đưa ra các quyết định tác nghiệphàng ngày với sự tư vấn và trợ giúp của bên nhượng quyền
1.2.3 NQTM và vị trí, vai trò của NQTM trong lĩnh vực phân phối
Khởi nguồn của hoạt động NQTM trên thế giới được đánh dấu trong nhữngngành nghề như: thực phẩm và đồ uống, cửa hàng bán lẻ, dịch vụ xe ô tô Ngàynay, hình thức NQTM được ứng dụng trong hầu hết các ngành nghề lĩnh vực kinhdoanh, trong đó lĩnh vực phân phối là một trong những lĩnh vực được ứng dụng môhình kinh doanh NQTM phổ biến nhất Tại Mỹ, theo nghiên cứu của Tổ chứcNQTM quốc tế (International Franchise Association), trong tổng số 773.436 cửahàng nhượng quyền tại nước này có đến 78.621 cửa hàng hoạt động trong lĩnh vựcphân phối bán lẻ (chiếm 10,2%), tạo ra giá trị sản lượng là 11,6 tỷ USD vào năm2005; chiếm 5.5% tổng giá trị sản lượng cả hoạt động NQTM trong nước9 Theothống kê của Hội đồng NQTM thế giới (World Franchise Council), tại Nhật, mộtquốc gia có hoạt động NQTM đứng thứ 3 trên thế giới với 1.100 hệ thống nhượngquyền tạo ra gần 150 tỷ USD mỗi năm với mức tăng trưởng 7%/năm thì ngành dịch
vụ phân phối bán lẻ chiếm tới 32%, chỉ sau lĩnh vực thực phẩm (chiếm 40% tổng số
9 International Frachise Association, Economic Impact of Franchised Business volumn 2, 2005
Trang 33hệ thống kinh doanh nhượng quyền) Nguyên nhân khiến mô hình NQTM được ứngdụng nhiều trong lĩnh vực phân phối và bán lẻ là do tính chất của ngành có nhiềuđặc điểm phù hợp với phương thức kinh doanh này Thứ nhất, ngành phân phối làmột ngành không dễ dàng có thể gia nhập Để có thể tham gia vào lĩnh vực này, đòihỏi các doanh nghiệp phải có năng lực tài chính mạnh Vì số vốn đầu tư ban đầu làkhông nhỏ, nến sự thất bại sẽ khiến cho người tham gia có khả năng trắng tay nếukinh doanh không hiệu quả hoặc thất bại Do đó, việc áp dụng mô hình NQTM sẽgiảm thiểu rủi ro cho các doanh nghiệp khi tham gia vào sân chơi này Hơn nữa,được sự giúp đỡ của bên nhượng quyền, doanh nghiệp sẽ dễ dàng lấy được lòng tincủa người tiêu dùng hơn là tự mình bắt đầu khởi nghiệp Thứ hai, khi xã hội ngàycàng phát triển, dịch vụ phân phối cần làm thỏa mãn khách hàng không chỉ ở chỗđạt chất lượng tốt mà còn cần tạo ra sự tiện lợi cho người tiêu dùng Để đáp ứng nhucầu đó thì việc nhân rộng các cửa hàng bằng phương thức NQTM là cách lựa chọntối ưu Thứ ba, phân phối là cầu nối giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng, nếu pháttriển được hệ thống phân phối hiệu quả sẽ tách riêng biệt được sản xuất và phânphối, giúp nền sản xuất phát triển hiệu quả hơn Nhà sản xuất sẽ yên tâm khi giaosản phẩm của mình cho một hệ thống nhượng quyền phân phối có uy tín và đượckhách hàng yêu thích.
Những phân tích ở trên cho thấy NQTM đóng vai trò quan trọng không chỉtrong đời sống nói chung mà cả trong hoạt động phân phối Chương 2 dưới đâyphân tích thực trạng hoạt động NQTM với ý nghĩa là một loại hình hoạt động phânphối ở Việt Nam
Trang 34CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI TRONG LĨNH VỰC PHÂN PHỐI TẠI VIỆT NAM 2.1 Thực trạng hoạt động nhượng quyền thương mại tại Việt Nam
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển hoạt động nhượng quyền thương mại tại Việt Nam trong thời gian qua
Hoạt động NQTM có lịch sử từ rất lâu đời và không ngừng khẳng định vaitrò của mình tại nhiều quốc gia trên thế giới Nhưng ở Việt Nam, đây là một lĩnhvực còn khá mới mẻ Tuy nhiên, cùng lúc với sự hội nhập ngày càng sâu rộng vàonền kinh tế thế giới và đặc biệt là từ khi Việt Nam gia nhập WTO, cụm từ NQTMbắt đầu gây được sự chú ý của nhiều doanh nghiệp, nhiều nhà nghiên cứu bởi ngàycàng có nhiều thương hiệu lớn của nước ngoài vào Việt Nam thông qua hình thứckinh doanh này, cũng như một số ít thương hiệu trong nước đã thực hiện NQTMtrong và ngoài nước
Tại Việt Nam, hình thức kinh doanh NQTM đã nhen nhóm từ trước năm
1975 với sự xuất hiện các trạm xăng dầu như Mobil Exxon, Shell Tuy nhiên, hìnhthức NQTM này còn sơ khai, chưa đầy đủ, chỉ mang tính chất phân phối sản phẩmchứ chưa có sự chuyển giao về công thức kinh doanh Hoạt động NQTM chỉ thực
sự bắt đầu ở Việt Nam vào giữa những năm 1990, với sự tham gia của các tập đoàntên tuổi quốc tế trong ngành chế biến thức ăn nhanh và giải khát như Five StarChicken, Texas Chicken, Carvel, Baskin Robbins (Mỹ), Jollibee (Philippines),Burger Khan (Hàn Quốc) Tiếp theo có thêm Dilma, Qualitea (Sri Lanka), KFC,Pizza Hut, New Horizons IT Center (Mỹ), Lotteria (Nhật), Illy Café (Ý), GloriaJeans (Úc gốc Mỹ) Trong lĩnh vực bán lẻ có sự góp mặt của các đại gia nhưBourbon Group (Pháp, sau này là Big C), Parkson (Malaysia), Metro Cash & Carry(Đức), chuỗi Medicare (Anh) và gần đây là Dairy Farm/ 7-Eleven (Mỹ) Ngànhhàng tiêu dùng có các mô hình NQTM của đồng hồ Swatch (Thụy Sĩ), mỹ phẩmClinique, thời trang Pierre Cardin (Pháp), chuỗi cửa hàng ảnh Mini Lab của Fuji(Nhật), hệ thống cửa hàng mực in Cartridge (Úc), thiết bị chăm sóc sức khỏe OSIM(Singapore)
Trang 35Cùng với sự đầu tư vào Việt Nam của các hệ thống toàn cầu, các hệ thốngNQTM của Việt Nam cũng đã được hình thành và phát triển Đi tiên phong là cácdoanh nghiệp kinh doanh thiết bị lọc nước do Việt Kiều đầu tư từ giữa thập niên 90,tuy nhiên đã không thành công do thị trường lúc đó chưa thực sự sôi động cộng vớicác doanh nghiệp này chưa xây dựng được thương hiệu đủ mạnh Sau đó, lần lượtcác thương hiệu mạnh của Việt Nam như: Cà phê Trung Nguyên, chuỗi cửa hàngtiện lợi G7 Mart, Phở 24, thời trang Foci, bánh kẹo Kinh Đô, giày T&T, Nhà Vuicenter đã tiến hành NQTM và thu được những thành công nhất định Những nămgần đây, hai thương hiệu Cà phê Trung Nguyên và Phở 24 đã xây dựng được một
hệ thống kinh doanh trên toàn bộ Việt Nam và đang mở rộng ra nước ngoài
Theo các chuyên gia, nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao với số lượngdoanh nghiệp vừa và nhỏ khá đông và dân số trẻ của Việt Nam là điều kiện lý tưởng
để phát triển phương thức NQTM Thực tế, hoạt động NQTM đang phát triển nhanhchóng ở nước ta, với tốc độ tăng trưởng hơn 20%/năm10 Mặc dù hoạt động NQTMtại Việt Nam vẫn chưa được thống kê chính thức, tuy nhiên theo sự tổng hợp củangười viết, hiện nay nước ta có khoảng gần 90 hệ thống NQTM đang hoạt động,trong đó hơn 2/3 là các thương hiệu nước ngoài11 Mặc dù số lượng các thương hiệuNQTM còn khá khiêm tốn, nhưng bước đầu đã tạo được ấn tượng năng động, hiệnđại và hiệu quả kinh tế với các doanh nghiệp Việt Nam hay những người mới khởi
sự kinh doanh khi phần lớn các hợp đồng NQTM đang triển khai thành công Cácdoanh nghiệp đều cho rằng sử dụng hình thức NQTM giúp các doanh nghiệp có thểkết hợp được những ưu điểm của sự phân phối bằng cách tạo ấn tượng chung vềthương hiệu của các doanh nghiệp NQTM thông qua các bên nhận quyền độc lập
mà họ tự chịu rủi ro trong kinh doanh, góp phần tăng khả năng cạnh tranh cho bênnhượng quyền, đồng thời hệ thống này giúp các thương nhân thiếu kinh nghiệm cầnthiết tiếp cận các phương pháp thương mại thành công của bên nhượng quyền, mànếu không có hệ thống họ chỉ đạt được sau những nghiên cứu và những nỗ lực kéodài
2.1.1.1 Hệ thống nhượng quyền thương mại của các doanh nghiệp Việt Nam
10 Bích Nga, Franchise không phải là “dựa hơi”, Báo Sài Gòn tiếp thị 2009
11 Tổng hợp từ Nguyễn Khánh Trung, Franchise – chọn hay không, 2008 và trang web của Bộ Công thương
Trang 36NQTM đang là hình thức kinh doanh phát triển tại Việt Nam hiện nay Đếnnay, nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã biết tận dụng hình thức này để làm đòn bẩyphát triển thị trường và nâng cao giá trị thương hiệu của mình Tuy nhiên số lượngcác doanh nghiệp Việt Nam hoạt động theo hình thức này vẫn còn hạn chế và sốliệu về hoạt động NQTM chưa được thống kê chính thức và công bố bởi bất kì một
cơ quan nào Theo tổng hợp, thống kê của tác giả, hiện tại ở Việt Nam có khoảnghơn 20 hệ thống NQTM là của các doanh nghiệp Việt Nam, lĩnh vực nhượng quyềnđang chiếm ưu thế là ngành kinh doanh thực phẩm và phục vụ ăn uống Các mặthàng truyền thống của Việt Nam như hàng thủ công mỹ nghệ, may mặc là nhữngsản phẩm tiềm năng có thể áp dụng mô hình NQTM nhưng chưa được khai thác Càphê Trung Nguyên, Phở 24 và Kinh Đô Bakery là những thương hiệu NQTM tiêubiểu
Trung Nguyên là thương hiệu đầu tiên tiến hành NQTM một cách quy mô và
đã thu được những thành công đáng kể với hệ thống gần 1000 quán cà phê nhượngquyền trên khắp cả nước và 8 quán ở nước ngoài tại Mỹ, Nhật, Singapore, Thái Lan,Trung Quốc, Campuchia, Ba Lan và Ukraina12 Hiện nay, mô hình G7 Mart củaTrung Nguyên tiếp tục được xem là bước đột phá trong việc thực hiện NQTM nhằmcạnh tranh với các nhà phân phối nước ngoài để chiếm lĩnh thị trường bán lẻ
Tương tự, Phở 24 của tập đoàn An Nam cũng đã định hình được uy tín Đếntháng 4 năm 2010, Phở 24 đã mở được 81 cửa hàng trong đó có 65 cửa hàng ở trongnước tại thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng, Vũng Tàu, Nha Trang, BìnhDương, và 16 cửa hàng ở ngoài nước như Jakarta (Indonesia), Manila (Philippines),Seoul (Hàn Quốc), Phnom Penh (Campuchia), Úc, Hồng Kông Mục tiêu của Phở
24 là tới năm 2012 sẽ có một hệ thống NQTM với tổng số 200 cửa hàng13
Công ty bánh kẹo Kinh Đô - công ty sản xuất bánh kẹo lớn nhất Việt Namcũng là một trong những doanh nghiệp rất thành công với mô hình NQTM vớithương hiệu Kinh Đô Bakery Từ năm 1999 đến nay, thương hiệu Kinh Đô Bakerycủa công ty đã mở được 36 cửa hàng bán lẻ thực phẩm trong đó có 6 cửa hàngNQTM Kinh Đô cũng là công ty thực phẩm đầu tiên trong nước NQTM cho một
12 Website www.vietnamfranchise, Trung Nguyên cà phê – Khơi nguồn sáng tạo, 2009
13 Website www.pho24.com.vn , Giới thiệu về Phở 24
Trang 37cửa hàng bán lẻ Với phương thức này, bên nhận quyền của Kinh Đô bỏ vốn mở cửahàng bánh dưới sự hỗ trợ và kiểm duyệt của Kinh Đô, được Kinh Đô chuyển giao
mô hình kinh doanh chuẩn, công nghệ sản xuất bánh tại cửa hàng, bí quyết kinhdoanh và khách hàng cũng được hưởng đầy đủ các dịch vụ khuyến mãi và hậumãi từ công ty.
Trong số những thương hiệu nhượng quyền thành công của Việt Nam, thờitrang Foci của công ty dệt may Nguyên Tâm cũng là một cái tên thường xuyên đượcnhắc tới Với chủ trương phát triển mạnh bằng NQTM, ngay từ đầu nhãn hiệu thờitrang này đã xác định chỉ tập trung vào sản xuất, giao việc bán hàng cho người muaNQTM Hiện Foci đã có 31 cửa hàng nhượng quyền tại 21 tỉnh thành trên toànquốc14 Thực tế đã chứng minh đây là một phương thức kinh doanh giúp công tynhân rộng mô hình kinh doanh một cách hiệu quả cũng như làm vững mạnh thươnghiệu
Bên cạnh những tên tuổi lâu năm trên thị trường trong nước, nhiều doanhnghiệp trẻ cũng đang sử dụng hình thức NQTM như là một bước đi cần thiết để làmlớn mạnh thương hiệu của mình Như trường hợp mô hình siêu thịwww.thegioididong.com của công ty trách nhiệm hữu hạn Thế giới di động đãNQTM ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh mặc dù mới có mặt trên thị trườngkhông lâu và đang mở rộng thị trường tại phía Nam và phía Tây Đến nay công ty
đã có 9 siêu thị nhượng quyền
Trong lĩnh vực bất động sản cũng đã xuất hiện hoạt động NQTM Nhà Vui làđơn vị tiên phong khởi xướng mô hình các trung tâm thiết kế và thi công nhà ở vớithương hiệu Nhavui.center Mô hình NQTM là mô hình trung tâm tư vấn thiết kế vàthầu xây dựng, sản phẩm chính là các công trình nhà ở Năm 2006, mô hình NQTMNhavui.center đã chính thức được áp dụng với việc ra đời của các trung tâm ở thànhphố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận Đến nay, công ty đã có 16 trung tâm nhượngquyền cả tư vấn thiết kế và thi công15
14 Website: www.satavina.com, Công ty TNHH SX – TM Nguyên Tâm
15 Website www.nhavui.center.com.vn
Trang 38Trong lĩnh vực bán lẻ, nhiều thương hiệu mạnh của Việt Nam cũng đang tiếnhành triển khai nhượng quyền như Vissan, Hapromart, Coopmart, Bibomart (xembảng 1)
Bảng 1: Những thương hiệu Việt Nam đã và đang chuẩn bị nhượng quyền thương mại
ST
15 Trường đào tạo Việt Mỹ VATC Đào tạo
19 Trà sữa trân châu Tapio cup Thức uống
(Nguồn: Tổng hợp từ: Franchise – chọn hay không và website Bộ Công thương)
Về cách thức tiến hành NQTM, các doanh nghiệp nhượng quyền của ViệtNam hầu hết đều thực hiện chiến lược NQTM riêng lẻ, trực tiếp (Single unitfranchise) Nguyên nhân chính là do hiện nay các doanh nghiệp Việt Nam vẫn đangtrong giai đoạn làm quen với mô hình NQTM, chưa có những chính sách kiểm soátchặt chẽ, liên tục các tiêu chuẩn đồng bộ của từng cơ sở NQTM và cũng chưa sửdụng các đối tác trung gian thay mặt mình quản lý Chính vì vậy, các doanh nghiệpViệt Nam đều e ngại thương hiệu chưa kịp lớn mạnh thì có thể đã gây ấn tượng xấu
và mai một dần trong mắt người tiêu dùng
Trang 39Ngoài ra, các doanh nghiệp Việt Nam thực hiện NQTM riêng lẻ, trực tiếp vớimục đích thăm dò, sau đó nếu thấy khả năng hợp tác và điều hành của đối tác nhậnquyền đạt tiêu chuẩn cần thiết thì mới phát triển họ thành đại lý NQTM độc quyền(Master franchise unit) Chiến lược này tuy chậm nhưng an toàn cho các doanhnghiệp Việt Nam Các doanh nghiệp nhượng quyền với tư cách là chủ thương hiệu
có điều kiện làm việc và kiểm tra cơ sở NQTM một cách chặt chẽ, sâu sát Mốiquan hệ giữa người mua và người bán nhờ vậy mà gắn bó hơn và phí nhượng quyềnthu được cho chủ thương hiệu không phải chia sẻ cho đối tác trung gian
2.1.1.2 Hệ thống nhượng quyền thương mại của các doanh nghiệp nước ngoài tạiViệt Nam
Thị trường NQTM của các doanh nghiệp nước ngoài vào Việt Nam bắt đầu
từ năm 1994 qua hệ thống bán kem Baskin Robbins của Mỹ Đến nay đã có nhiềuthương hiệu nổi tiếng thế giới tiến hành NQTM tại Việt Nam Các quốc gia códoanh nghiệp tham gia vào thị trường NQTM tại Việt Nam đến nay gồm có Mỹ,Thái Lan, Philippines, Pháp, Ấn Độ, Nhật Bản, Đức, Hàn Quốc, Úc, Ý, nhưngtrong đó các doanh nghiệp Mỹ chiếm thị phần lớn nhất (xem bảng 2)
Bảng 2: Những thương hiệu nước ngoài NQTM tại Việt Nam
STT Thương hiệu/công ty
Trang 4018 Parkson Malaysia Bán lẻ 2005
39 Gymboree Play & Music Mỹ Dịch vụ vui chơi 2008
46 Aldo Group International AG Thụy Sĩ Bán lẻ 2009
48 Kinderland Educare Services Singapore Dịch vụ giáo dục 2008
54 GR Vietnam International Hongkong Cửa hàng tiện ích 2009