Khái niệm chính sách xuất khẩu Chính sách xuất khẩu là một bộ phận của chính sách xuất nhập khẩuchính sách ngoại thương là hệ thống các quan điểm, mục tiêu, nguyên tắc vàcác công cụ, bi
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Việt Nam đang thực hiện lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế , trong đó mộttrong những mục tiêu hàng đầu là tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu, tiến tới cânbằng xuất nhập khẩu Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã khẳngđịnh: “Phải chủ động và tích cực thâm nhập thị trường quốc tế, chú trọng thịtrường các trung tâm kinh tế thế giới, duy trì và mở rộng thị phần trên các thịtrường quen thuộc, tranh thủ mọi cơ hội mở thị trường mới…”
Xuất khẩu là “1 trong 3 chương trình kinh tế lớn trọng điểm” đượckhẳng định trong các Nghị quyết của Đảng, đã, đang và sẽ là mũi nhọn trongChiến lược hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế của nước ta
Chiến lược công nghiệp hoá hướng mạnh về xuất khẩu đã được triểnkhai thành công tại nhiều nước, những kinh nghiệm quý báu của quốc gia này đãtùng bước được áp dụng tại Việt Nam Như vậy, không chỉ riêng Việt Nam màbất cứ nước nào cũng phải đặt xuất khẩu vào vị trí xứng đáng và có vai trò đặcbiệt quan trọng nhằm tăng trưởng kinh tế
Hoạt động xuất khẩu của một quốc gia phải gắn chặt với thị trường quốc
tế, Chiến lược xuất khẩu phải dựa trên sự lựa chọn khoa học phù hợp với đặcđiểm và khả năng của nền kinh tế
Trong những năm thực hiện chính sách mở cửa và đổi mới xuất khẩu,Việt Nam đã có những bước tiến khá dài với kim ngạch xuất khẩu Tuy nhiên,hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam vẫn mang tính manh mún, tỷ trọng nhỏ, sứccạnh tranh còn thấp, có gì xuất nấy và chưa có chiến lược đúng đắn đẻ có thểkhai thác lợi thế so sánh và thế mạnh của quốc gia
Nghị quyết 04 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII ngày29/12/1997 nhấn mạnh: “Tích cực và chủ động thâm nhập và mở rộng thị trườngxuất khẩu” Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về chiến lược phát triển xuất nhậpkhẩu hàng hoá và dịch vụ thời kỳ 2001 - 2010 đã nêu rõ: “Chiến lược phát triểnxuất nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ thời kỳ 2001 - 2010 nhất là xuất khẩu phải
là chiến lược tăng tốc toàn diện trên nhiều lĩnh vực phải có những khâu đột phá
Trang 2với bước đi vững chắc Mục tiêu hoạt động thời kỳ này là tiếp tục chủ trươngdành ưu tiên cao nhất cho xuất khẩu…đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá hiện đạihoá đát nước” Để đạt được mục tiêu chiến lược đó trong xu thế hội nhập kinh tếquốc tế, Việt Nam cần phải có những biện pháp nhằm đổi mới và hoàn thiệnchính sách xuất khẩu phù hợp với hoàn cảnh mới và điều kiện trong nước.
Với những lí do trên, người viết chọ đề tài: “Một số giải pháp nhằm
đổi mới chính sách xuất khẩu trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.”
2 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu các văn bản pháp luật quy định về xuất khẩu
- Đối chiếu, so sánh và phân tích thuận lợi, khó khăn của chính sách trêntrong điều kiện Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế
- Những tồn tại của chính sách xuất khẩu
- Phương hướng hoàn thiện chính sách
3 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở lí luận chung về chính sach xuất khẩu, tìm hiểu nội dung vàđánh giá thực trạng chính sách; từ đó đề xuất một số giải pháp góp phần đổimới chính sách xuất khẩu
4 Phạm vi nghiên cứu: Chính sách xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam
từ năm 2001 đến nay
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận khoa học
- Phương pháp phân tích tài liệu
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp so sánh đối chiếu
6 Kết cấu luận văn
Ngoài phần Lời mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo; nộidung chính của luận văn bao gồm 3 chương với 93 trang Trong đó:
Chương 1 Một số vấn đề lí luận chung về chính sách xuất khẩu
trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Chương 2 Thực trạng chính sách xuất khẩu của Việt Nam hiện nay
Trang 3Chương 3 Định hướng và giải pháp nhằm đổi mới chính sách xuất
khẩu ở Việt Nam
Trang 4Trong phạm vi chuyên đề, chỉ đề cập đến xuất khẩu hàng hoá nói chung.
2 Vai trò của xuất khẩu
2.1 Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu phục công nghiệp hoá đất nước.
Công nghiệp hoá đất nước theo những bước đi thích hợp là con đường tấtyếu để khắc phục tình trạng nghèo nàn và chậm phát triển của nước ta Để côngnghiệp hoá đất nước trong một thời gian ngắn, đòi hỏi phải có một số vốn rất lớn
để nhập khẩu máy móc thiết bị và công nghệ tiên tiến Nguồn vốn cghủ yếu đểnhập khẩu có thể được hình thành từ các nguồn như: xuất khẩu hàng hoá ; đầu tưnước ngoài; vay nợ, viện trợ…Trong đó, xuất khẩu là nguồn vốn quan trọngnhất, vì nó đem lại ngoại tệ cho quốc gia một cách trực tiếp mà không phải trảvốn như do vay nợ hay viện trợ
Trong thực tiễn, xuất khẩu và nhập khẩu có mối quan hệ mật thiết vớinhau, vừa là kết quả vừa là tiền đề của nhau Do đó, vai trò của xuất khẩu trongviệc tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu phục công nghiệp hoá đất nước ngàycàng được khẳng định vị trí củav mình trong phát triển kinh tế nói chung
2.2 Xuất khẩu đóng góp vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển.
Có hai cách nhìn nhận về tác động của xuất khẩu đối với sản xuất vàchuyển dịch cơ cấu kinh tế:
Trang 5Một là, xuất khẩu chỉ là việc tiêu thụ những sản phẩm thừa do sản xuất
vượt quá nhu cầu nội địa Trong trường hợp nền kinh tế còn lạc hậu và chậmphát triển như nước ta, sản xuất về cơ bản còn chưa đủ tiêu dùng nếu chỉ thụđộng chờ ở sự thừa ra của sản xuất thì xuất khẩu vẫn cứ nhỏ bé và tăng trưởngchậm chạp Sản xuất và sự thay đổi cơ cấu kinh tế sẽ rất chậm chạp
Hai là, khi xuất phát từ nhu cầu của thị trường coi thị trường đặc biệt là
thị trường thế giới để tổ chức sản xuất và xuất khẩu, sẽ có tác động tích cực đến
sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển Sự tác động này thểhiện ở việc:
- Xuất khẩu tạo điều kiện cho ngành liên quan có cơ hội phát triển thuậnlợi Chẳng hạn, khi phát triển ngành dệt may xuất khẩu sẽ tạo cơ hội cho việcphát triển ngành sản xuất nguyên liệu như bông, sợi hay thuốc nhuộm Pháttriển ngành chế biến thuỷ hải sản sẽ kéo théo gia tăng của ngành đánh bắt vànuôi trồng sản phẩm cùng loại để đáp đầu vào cho hoạt động sản xuất này
- Tạo ra khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ góp phần cho sản xuất pháttriển và ổn định Vì hoạt động xuất khẩu đòi hỏi phải không ngừng tìm kiếmcácthị trường tiêu thụ hàng hoá mới cũng như giữ vững các thị trường buôn bántruyền thống Nó không những là yêu cầu cho hoạt động xuất khẩu tồn tại màcòn là giải pháp để nâng cao kim ngạch xuất khẩu Chính vì quá trình này đã mởrộng được thị trường tiêu thụ Khi các thị trường xuất khẩu của Việt Nam đượcxác định rõ ràng sẽ thúc đẩy hoạt động sản xuất trong nước phát triển và ổnđịnh
- Xuất khẩu tạo ra tiền đề kinh tế - kĩ thuật nhằm cải tạo và nâng cao nănglực sản xuất trong nước Tức là, xuất khẩu là phương tiện quan trọng tạo ra vốn
và công nghệ, kĩ thuật từ thế giới bên ngoài vào Việt Nam nhằm hiện đại hoánền kinh tế của đất nước
- Thông qua xuất khẩu, hàng hoá của ta sẽ tham gia vào cuộc cạnh tranhtrên thị trường thế giới về giá cả, chất lượng Điều đó, đòi hỏi chúng ta phải tổchức lại sản xuất theo hướng sử dụng lợi thế tương đối của đất nước về nhâncông, tài nguyên thiên nhiên Như thế giá thành sản phẩm sẽ được hạ tạo ra khả
Trang 6năng cạnh tranh về mặt giá cả Mặt khác, cần không ngừng nâng cao chất lượngcủa hàng hoá phù hợp với đòi hỏi ngày một khắt khe của thế giới.
2.3 Xuất khẩu có tác động tích cực đến việc giải quyết công ăn việc làm và cải thiện đòi sống của nhân dân:
Sản xuất, chế biến và xuất khẩu hàng hoá đang trực tiếp là nơi thu húthàng triệu lao động vào làm việc và có thu nhập không thấp xuất khẩu còn tạo
ra nguồn vốn để nhập khẩu vật phẩm tiêu dùng phục vụ trực tiếp đời sống vàđáp ứng ngày một phong phú thêm nhu cầu tiêu dùng của nhân dân
Ngoài ra, xuất khẩu tác động trực tiếp đến sản xuất, làm cho cả quy môlẫn tốc độ sản xuất tăng lên, các ngành nghề cũ được khôi phục, ngành ngề mới
ra đời Sự phân công lao động mới đòi hỏi lao động được sử dụng nhiều hơn,năng suất lao động cao hơn và đời sống nhân dân được cải thiện
2.4 Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại của nước ta.
Xuất khẩu và các quan hệ kinh tế đối ngoại khác có mối quan hệ qua lạiphụ thuộc lẫn nhau Có thể hoạt động xuất khẩu có sớm hơn các hoạt động kinh
tế đối ngoại khác và tạo điều kiện thúc đẩy các quan hệ này phát triển Chẳnghạn xuất khẩu và công nghệ sản xuất hàng xuất khẩu thúc đẩy quan hệ tín dụng,đầu tư, mở rộng vận tải quốc tế…Mặt khác, chính sách quan hệ kinh tế đốingoại lại tạo tiền đề cho mở rộng xuất khẩu
3 Mục tiêu, nhiệm vụ của xuất khẩu.
Mục tiêu quan trọng nhất của xuất khẩu là để nhập khẩu đáp ứng nhucầu của nền kinh tế nhu cầu của nền kinh tế rất đa dạng như phục vụ cho côngnghiệp hoá đất nước, cho tiêu dùng, cho xuất khẩu và tạo thêm công ăn việclàm
Xuất khẩu là để nhập khẩu, do đó thị trường xuất khẩu phải gắn với thịtrường nhập khẩu; phải xuất phát từ yêu cầu thị trường nhập khẩu để xác địnhphươnh hướng và nguồn hàng thích hợp
Để thực hiện tốt mục tiêu trên, hoạt động xuất khẩu cần hướng vào thựchiện các nhiệm vụ sau:
Trang 7- Phải ra sức khai thác có hiệu quả mọi nguồn lực của đất nước như: vốn,đất đai, nhân lực, tài nguyên thiên nhiên …
- Nâng cao năng lực sản xuất hàng xuất khẩu để tăng nhanh khối lượng vàkim ngạch hàng xuất khẩu
- Tạo ra những mặt hàng (nhóm hàng) xuất khẩu chủ lực đáp ứng nhữngđòi hỏi của thị trường thế giới và của khách hàng về chất lượng và số lượng, cósức hấp dẫn và khả năng cạnh tranh cao
II TỔNG QUAN VỀ CHÍNH SÁCH XUẤT KHẨU
1 Khái niệm chính sách xuất khẩu
Chính sách xuất khẩu là một bộ phận của chính sách xuất nhập khẩu(chính sách ngoại thương) là hệ thống các quan điểm, mục tiêu, nguyên tắc vàcác công cụ, biện pháp thích hợp mà Chính phủ sử dụng để điều chỉnh các hoạtđộng xuất khẩu phù hợp với định hướng đã định trong chiến lược phát triển kinh
tế xã hội của đất nước
Quan điểm của chính sách xuất khẩu là hệ thống các tư tưởng, đường lốichỉ đạo cơ bản định hướng cho việc ban hành và thực thi chính sách xuất khẩu
Hệ thống quan điểm này là nền tảng, kim chỉ nam xuyên suốt quá trình banhành, thực thi chính sách Dựa vào đó chính sách xuất khẩu được đề ra đi theomột định hướng thống nhất phù hợp với mục tiêu chung của một quốc gia
Mục tiêu của chính sách là đích đến mà chính sách hướng tới Một chínhsách được đề ra luôn nhằm vào mục tiêu nhất định Mục tiêu của chính sách xuấtkhẩu của Việt Nam hiện nay là nhằm khuyến khích xuất khẩu Điều đó thể hiệnmong muốn của Nhà nước trong việc phát triển hoạt động xuất khẩu sao chophát triển nhanh về kim ngạch, tỉ trọng và cơ cấu các sản phẩm xuất khẩu
Mục tiêu của chính sách xuất khẩu không nằm ngoài mục tiêu phát triểnkinh tế Do đó, mục tiêu khuyến khích xuất khẩu của chính sách xuất khẩu sẽgóp phần thực hiện mục tiêu chung của phát triển kinh tế xã hội là: tăng trưởngkinh tế và ổn định xã hội
Trang 8Nguyên tắc trong ban hành và thực thi chính sách là quy định chung nhất
có tính bắt buộc của Nhà nước trong việc ban hành và thực thi chính sách xuấtkhẩu
Công cụ trong chính sách xuất khẩu được hiểu là những phương tiện cụthể nhằm đạt được mục tiêu của chính sách xuất khẩu đề ra Ví dụ, thuế, hạnngạch, giấy phép xuất khẩu… là một trong những công cụ của chính sách quản
lí xuất khẩu
Biện pháp là tổng thể những việc mà nhà hoạch định chính sách chủ địnhlàm hay không làm; cho phép hay không cho phép Hoạt động xuất khẩu hànghoá được tiến hành nhằm đạt được mục đích của chủ thể ban hành chính sách
Ví dụ, Nhà nước muốn bảo vệ tài nguyên rừng sẽ đề ra biện pháp hạn chế hoặccấm khai thác và xuất khẩu các loại gỗ tròn, gỗ xẻ…
2.Vai trò của chính sách xuất khẩu
- Chính sách xuất khẩu định hướng cho hoạt động xuất khẩu phù hợp vớimong muốn mà Nhà nước theo đuổi Vai trò định hướng của chính sách xuấtkhẩu thể hiện trong việc Nhà nước ban hành các quy định điều chỉnh hoạt độngxuất khẩu sao cho đạt được mục tiêu mà Nhà nước đề ra Mục tiêu đó là khuyếnkhích hoạt động xuất khẩu phát triển Cũng có nghĩa là hoạt động xuất khẩu sẽnhận được những ưu đãi của Nhà nước như việc quan tâm, tạo điều kiện thuậnlợi và giúp đỡ hoạt động xuất khẩu phát triển Cùng với mục tiêu, các biện phápcủa chính sách cũng có vai trò định hướng cho hoạt động xuất khẩu Vì biệnpháp của chính sách xuất khẩu có tác động thúc đẩy, cân bằng hay kìm hãm rấtlớn đến hoạt động xuất khẩu
Muốn vậy, các biện pháp của chính sách cần góp phần nhanh chóng đạtđược mục tiêu của chính sách xuất khẩu đồng thời cần tạo ra được tính đồng bộtrong hệ thống quản lý của Nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu
- Tạo lập môi trường thích hợp cho hoạt động xuất khẩu Môi trường ởđây chính là môi trường pháp lý mà ở đó diễn ra các hoạt động xuất khẩu Nếumôi trường này khắt khe sẽ làm cho hoạt động xuất khẩu khó có thể diễn ra suôn
sẻ, thuận lợi Do đó, chính sách xuất khẩu cần tạo lập môi trường pháp lý thuận
Trang 9lợi thể hiện trong sự thống nhất cao độ giữa mục tiêu thực hiện và sự phong phú
đa dạng của các biện pháp thực thi chính sách
- Chính sách xuất khẩu góp phần phát huy những mặt tốt của nền kinh tếthị trường đồng thời hạn chế những mặt tiêu cực của nó
Mặt tốt kinh tế thị trường là sự cho phép tham gia rộng rãi các mặt hàngnên vào thị trường tiêu thụ đáp ứng với nhu cầu của từng đối tượng Điều đó, tạo
cơ hội cho việc khai thác tối đa tiềm năng, lợi thế của từng vùng, miền và từngmặt hành sản xuất Nhưng ngược lại, trong nền kinh tế thị trường cũng tồn tạinhững tiêu cực của nó Cạnh tranh là một yếu tố góp phần nâng cao chất lượngsản phẩm Vì vậy, trong nền kinh tế thị trường để đạt được mục đích cạnh tranhgiữa các ngành, nghề và từng ngành, sản phẩm, nhà sản xuất hay chính chủ thểban hành chính sách của quốc gia có thể sử dụng nhiều biện pháp không lànhmạnh thậm chí nhiều âm mưu, thủ đoạn để dành vị trí độc tôn và tiêu thụ đượchàng hoá Vì vậy, chính sách xuất khẩu cần thể hiện được vai trò của mình trongviệc sử dụng các công cụ biện pháp để hạn chế những biểu hiện không lànhmạnh trong sản xuất kinh doanh như: chính sách thuế, chính sách ưu đãi đặcbiệt…
- Chính sách xuất khẩu có vai trò trong việc phân phối nguồn lực cho quátrình phát triển nói chung Điều đó thể hiện ở việc chính sách xuất khẩu tạo cơhội việc làm cho nhiều lao động đồng thời phân bổ đội ngũ cán bộ công chứchợp lí trong việc thực thi các chính sách xuất khẩu
Trang 103 Các lọai chính sách xuất khẩu
Sơ đồ cấu trúc chính sách xuất khẩu và các công cụ của chính sách
xuất khẩu
10
Chính sách xuất khẩu
Chính sách xuất khẩu
Chính sách khuyến khích xuất khẩu
Chính sách khuyến khích xuất khẩu
-Chính sách
hỗ trợ xuất khẩu
Chính sách
hỗ trợ xuất khẩu
Chính sách thuế quan
Chính sách thuế quan
Chính sách phi thuế quan
Chính sách phi thuế
quan
Biện pháp tạo nguồn hàng
Chính sách thị trường xuất khẩu
Chính sách thị trường xuất khẩu
Mức thuế suất
Mặt hàng chịu thuế
Thời hạn nộp thuế
Cách tính thuế
Tương đương thuế quan
Biện pháp liên quan đến doanh nghiệp Biện pháp
kĩ thuật
Biện pháp bảo hộ thương mại Biện pháp liên quan đến đầu tư
Biện pháp tài chính
Hạn chế định lượng
Biện pháp tài chính
Trang 113.1 Chính sách khuyến khích xuất khẩu
Khái niệm: Chính sách khuyến khích xuất khẩu là những biện pháp nhằm thúc đẩy xuất khẩu tăng nhanh về quy mô, tốc độ và cơ cấu mặt hàng.
- Quy mô xuất khẩu là khối lượng và số lượng của các mối quan hệ thamgia vào hoạt động xuất khẩu Muốn quy mô xuất khẩu tăng nhanh và vượt trộicần có biện pháp làm phong phú, đa dạng về các mối quan hệ xuất khẩu, cầnđảm bảo các mối quan hệ đó đáp ứng các yêu cầu cần thiết về chất lượng, mẫu
mã, kiểu dáng gia tăng tính cạnh tranh cao
- Tốc độ phát triển là sự so sánh gia tăng của một ngành nghề hay mặthàng nào đó giữa năm này với năm khác Tốc độ gia tăng được tính theo đơn vị
số lần hoặc phần trăm (%) Đó là tỉ lệ gia tăng nhiều lên gấp bao nhiêu của mặthàng trong năm hay giai đoạn trước
Muốn tăng nhanh về tốc độ phát triển các mặt hàng xuất khẩu cần có biệnpháp khai thác và sản xuất, tiêu thụ hàng hoá tối ưu
- Cơ cấu mặt hàng là sự có mặt của các mặt hàng sản xuất trong danh mụchàng xuất khẩu Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu còn thể hiện tỷ trọng chiếm giữnhiều hay ít của mặt hàng đó trong kim ngạch xuất khẩu ở một giai đoạn nhấtđịnh
Cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu có thể thay đổi qua các năm, thời kỳnhưng phải đảm bảo mục tiêu phát triển của hoạt động xuất khẩu
Cơ cầu mặt hàng bao gồm các nhóm hàng sau:
+ Nhóm hàng nông – lâm – thuỷ sản
+ Nhóm hàng nhiên liệu, khoáng sản
+ Nhóm hàng công nghiệp và
+ Nhóm hàng khác: là những mặt hàng còn lại
Trang 123.1.1 Chính sách chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu
Có thể hiểu đây là chính sách nhằm chuyển dịch các bộ phận cơ bản cấuthành xuất khẩu Bao gồm:
- Chính sách hình thành và phát triển các vùng sản xuất hàng xuất khẩu.Đây là chính sách nhằm xây dựng và quy hoạch các vùng sản xuất theo hướngthâm canh và chuyên môn hóa, tận dụng các lợi thế của từng vùng, nâng caonăng suất sản xuất
- Chính sách phát triển các ngành hàng sản xuất và xuất khẩu Bao gồmngành công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ Trong phạm vi của chuyên đề, emxin phép chỉ đề cập đến 2 ngành chính là công nghiệp và nông nghiệp
- Chính sách chuyển dịch cơ cấu sản phẩm xuất khẩu Cơ cấu các sảnphẩm xuất khẩu là tổng thể các mặt hàng sản xuất nằm trong danh mục hàngxuất khẩu Chuyển dịch cơ cấu sản phẩm xuất khẩu là các biện pháp nhằm giatăng tỷ trọng xuất khẩu mặt hàng này hoạc giảm bớt tỷ trọng xuất khẩu mặthàng kia, nhằm đảm bảo nhu cầu sử dụng trong nước và đáp ứng cho xuất khẩu
3.1.2 Chính sách phát triển thị trường xuất khẩu
Thị trường được hiểu là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi buôn bán cácmặt hàng sản xuất Như vậy thị trường xuất khẩu là trao đổi buôn bán các mặthàng sản xuất diễn ra ngoài phạm vi biên giới một quốc gia
Phát triển thị trường xuất khẩu là hình thức mở rộng và giai tăng các thịtrường tiêu thụ sản xuất mặt hàng trong nước đã được xuất khẩu
Chính sách phát triển thị trường xuất khẩu là tổng thể những biện pháp,quan điểm và mục tiêu của Nhà nước nhằm tạo ra thị trường xuất khẩu Chínhsách này cần đảm bảo 2 yêu cầu:
+ Giữ vững kim ngạch xuất khẩu sang từng thị trường
+ Gia tăng kim ngạch xuất khẩu sang các thị trường có tiền năng Từngbước khai thác các thị trường mới, các thị trường chiếm tỷ trọng nhỏ trong cơcấu thị trường các mặt hàng xuất khẩu
3.1.3 Chính sách hỗ trợ xuất khẩu
Trang 13Hỗ trợ xuất khẩu là tổng thể các biện pháp của Chính phủ nhằm tạo điềukiện thuận lợi và giúp đỡ các doanh nghiệp trong quá trình sản xuất và xuấtkhẩu Bao gồm các nhóm chính sách sau:
a) Các biện pháp tạo nguồn hàng và cải biến cơ cấu xuất khẩu
- Xây dựng các mặt hàng xuất khẩu chủ lực
Hàng chủ lực là những hàng hóa có điều kiện sản xuất ở trong nước vớihiệu quả kinh tế cao hơn những hàng hóa khác; có thị trường tiêu thụ tương đối
ổn định, chiếm tỷ trọng cao trong tổng kim ngạch xuất khẩu của một quốc gia
Như vậy, hàng chủ lực là loại hàng chiếm vị trí quyết định trong kimngạch xuất khẩu Vị trí của hàng chủ lực không phải là vĩnh viễn
Ví dụ: vào những năm 1960, than có thể coi là mặt hàng xuất khẩu chủlực của Việt Nam Đến thập niên 90, gạo và dầu thô là những mặt hàng xuấtkhẩu chủ lực Hiện nay vị trí đó thuộc về các mặt hàng như gạo, tôm sú, hàngdệt may
Việc xây dựng các mặt hàng xuất khẩu chủ lực có ý nghĩa quan trọng:+ Mở rộng quy mô sản xuất trong nước, trên cơ sở đó kéo theo việcchuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hương công nghiệp hóa, mở rộng và làm phongphú thị trường nội địa;
+ Tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu từ đó góp phần tăng ngân sách nhànước cải thiện cán cân thanh toán quốc tế;
+ Tạo điều kiện giữ vững, ổn định thị trường xuất khẩu và nhập khẩu;+ Tạo cơ sở vật chất để mở rộng các quan hệ hợp tác kinh tế, khoa học kĩthuật với nước ngoài
Để hình thành được những mặt hàng xuất khẩu chủ lực, nhà nước cần cónhững biện pháp, chính sách ưu tiên hỗ trợ trong việc nhanh chóng có đượcnhững mặt hàng nhóm hàng xuất khẩu chủ lực Các biện pháp ưu tiên đó là thuhút vốn đầu tư trong nước và cac chính sách tài chính… cho việc xây dựng cácmặt hàng xuất khẩu chủ lực
- Gia công xuất khẩu
Trang 14+ Khái niệm: là một hoạt động mà một bên (gọi là bên đặt hàng) giaonguyên vật liệu,máy móc, thiết bị và chuyên gia cho bên kia (bên nhận gia công)sản xuất ra một mặt hàng mới theo yêu cầu của bên đặt hàng Hàng hóa sản xuấtxong bên đặt hàng trả tiền công cho bên làm.
Khi hoạt động gia công vượt khỏi phạm vi biên giới của một quốc gia thìgọi là gia công xuất khẩu
Như vậy, gia công xuất khẩu là hình thức sản xuất hàng hóa thu ngoại tệchênh lệch do tiền công đem lại Vì vậy, suy cho cùng nó là hình thức xuất khẩutại chỗ
+ Lợi ích của gia công xuất khẩu:
(1) Giải quyết việc làm cho người lao động, tăng thu nhập quốc dân, tăngthu ngoại tệ
(2) Thúc đẩy các cơ sở sản xuất trong nước, nhanh chóng thích nghi vớiđòi hỏi của thị trường thế giới, góp phần cải tiến các quy trình sản xuất trongnước theo kịp trình độ quốc tế
(3) Tạo điều kiện thâm nhập thị trường các nước tránh những biện pháphạn chế nhập khẩu do nước ngoài đề ra
(4) Khắc phục khó khăn do thiếu nguyên liệu để sản xuất các mặt hàngxuất khẩu, đặc biệt là trong ngành công nghiệp nhẹ, tranh thủ vốn và kĩ thuậtnước ngoài
- Các biện pháp đầu tư : Đầu tư là việc bỏ vốn vào sản xuất một mặt hàngnào đó nhằm đạt được mục tiêu lợi nhuận
Các biện pháp đầu tư là các biện pháp nhằm khuyến khích đầu tư vào mộtmặt hàng nào đó
b) Thực hiện xúc tiến xuất khẩu
Xúc tiến xuất khẩu được hiểu là những công cụ của chính sách nhằm thúcđẩy trực tiếp hoặc gián tiếp đến các hoạt động xuất khẩu Hoạt động xúc tiếnxuất khẩu của nhà nước nhằm hỗ trợ cho doanh nghiệp ở các nội dung sau:
- Xây dựng chiến lược, định hướng xuất khẩu
- Ban hành các biện pháp chính sách hỗ trợ xuất khẩu
Trang 15- Lập các Viện nghiên cứu cung cấp thông tin cho các nhà xuất khẩu.
- Đào tạo cán bộ, chuyên gia giúp các nhà xuất khẩu
- Lập các cơ quan nhà nước ở nước ngoài để nghiên cứu tại chỗ tình hìnhhàng hóa, thương nhân và chính sách của Chính phủ nước sở tại…
c) Các biện pháp tài chính như: tín dụng, trợ cấp, ưu đãi thuế… được trình
bày cụ thể trong phần chính sách phi thuế quan
3.2 Chính sách quản lí xuất khẩu
Không phải lúc nào nhà nước cũng khuyến khích xuất khẩu, mà đôi khi
vì quyền lợi quốc gia phải kiểm soát một vài dạng xuất khẩu, như sản phẩm đặcbiệt, nguyên liệu do nhu cầu trong nước còn thiếu, hoặc có ý nghĩa chiến lượcđối với đát nước Nguyên nhân chủ yếu phải kiểm soát xuất khẩu của các nhànước thường là do:
- Cấm vận buôn bán :Trong các sản phẩm được sản xuất ra, không phảisản phẩm nào cũng có lợi cho đời sống kinh tế, xã hội của một quốc gia như matuý, những sản phẩm đi ngược lại với đạo đức lối sống chung của một đất nước
Do đó, để bảo vệ an ninh kinh tế và giữ vững ổn định xã hội, Nhà nước đã đề ranhững biện pháp không cho phép các sản phẩm này được buôn bán và xuấtkhẩu
- Bảo vệ tài nguyên, bảo vệ động vật và cây trồng:Tài nguyên là vốn quýcủa một quốc gia và không tồn tại mãi mãi để đáp ứng cho nhu cầu khai thác và
sử dụng các sản phẩm khai thác từ nguồn tài nguyên luôn là sản phẩm có giá trị,khả năng buôn bán và xuất khẩu cao Nếu không có biện pháp bảo vệ nguồn tàinguyên thì nó sẽ rơi vào trạng thái suy giảm và cạn kiệt Lúc đó sẽ không đảmbảo nguồn nguyên nhiên liệu cho sản xuất trong nước và mất cân bằng sinh thái,dẫn đến hậu quả suy yếu đời sống kinh tế chính trị Do đó Nhà nước cần banhành các chính sách, biện pháp nhằm hạn chế khai thác tài nguyên, cấm khaithác các tài nguyên quý hiếm như động thực vật quý hiếm để sản xuất và xuấtkhẩu
Trang 16- Bảo vệ di sản văn hóa, đồ cổ: Di sản văn hoá, đồ cổ là giá tị lịch sử vànhân văn của đời sống tinh thần của một quốc gia Nó gắn liền với quá trình xâydựng và phát triển đất nước; đồng thời cũng thể hiện sự trân trọng của thế hệmai sau đối với công lao của người đi trước Các sản phẩm này có giá trị lớn vềmặt tinh thần nhằm tôn vinh bản sắc văn hoá của một dân tộc Vì vậy, không có
lý do nào lại cho phép các sản phẩm này được trao đổi, buốn bán và xuất khẩumột cách tự do
Chính sách quản lí xuất khẩu bao gồm chính sách thuế quan và chính sáchphi thuế quan
3.2.1 Chính sách thuế quan
Thuế quan là một khoản tiền mà người chủ hàng xuất khẩu (hoặc nhập khẩu) hoặc xuất - nhập cảnh phải nộp cho cơ quan đại diện, cơ quan hải quan của nước sở tại.
- Vai trò của thuế quan
+ Điều tiết lượng hàng hóa xuất khẩu (nhập khẩu)
+ Tăng thu ngân sách
Đây là biện pháp mà WTO (Tổ chức thương mại thế giới ) cho phép sửdụng để bảo vệ thị trường trong nước nhưng phải cam kết ràng buộc với mộtmức thuế trần nhất định và có lịch trình cắt giảm, do vậy có xu hướng ngày cànggiảm đi Sự tự do hóa biểu hiện thông qua các chính sách về quy chế tối huệquốc (MFN), chế độ thuế quan ưu đãi phổ cập (GSP), Hiệp định thuế quan ưuđãi có hiệu lực chung của các khối liên kết kinh tế như: EU, NAFTA, AFTA,APEC…
- Chính sách thuế quan đối với hàng xuất khẩu bao gồm các quy định về:+ Mức thuế suất xuất khẩu;
+ Các mặt hàng xuất khẩu chịu thuế suất;
+ Cách tính thuế;
+ Thời hạn nộp thuế
3.1.2 Chính sách phi thuế quan
Trang 17Biện pháp phi thuế quan (NTM) là những biện pháp ngoài thuế quan Liên quan hoặc ảnh hưởng đến sự luân chuyển hàng hóa giữa các nước.
Phần lớn các biện pháp phi thuế thường được áp dụng cho hoạt động quản línhập khẩu hàng hoá Khi nói tới hàng rào phi thuế là nói tới các biện pháp phithuế quan có tính chất bảo hộ nền sản xuất trong nước, chúng đặt ra các quyđinh khắt khe hơn đối với hàng hoá nước ngoài nhập khẩu vào thị trường nộiđịa Các biện pháp phi thuế áp dụng cho hoạt động xuất khẩu bao gồm:
+ Biện pháp quản lí định lượng: là những quy định của một quốc gia về sốlượng hoặc giá trị hàng hoá được xuất khẩu Bao gồm các quy định:
(1) Cấm xuất khẩu: là việc Nhà nước không cho phép một hay một mặthàng xuất khẩu ra nước ngoài;
(2) Hạn ngạch xuất khẩu (quota): là biện pháp dùng để hạn chế số lượnghoặc giá trị hàng hoá xuất khẩu sang một thị trường nào đó trong một thời giannhất định (thường là 1 năm)
(3) Quy định về giấy phép xuất khẩu: Giấy phép xuất khẩu là một văn bảncho phép các doanh nghiệp được thực hiện xuất khẩu Phải xuất trình cơ quanhải quan kiểm tra khi thực hiện xuất khẩu Có 2 loại giấy phép xuất khẩu:
Giấy phép xuất khẩu tự động là một văn bản cho phép thực hiệnhoạt động xuất khẩu không theo điều kiện gì đối với người làm đơnxin giấy phép Chế độ cấp phép này mang tính quản lý để điều tiếthoạt động xuất khẩu chứ không cản trở hoạt động xuất khẩu
Giấy phép xuất khẩu không tự động là giấy phép chỉ cho phép đượcthực hiện xuất khẩu mặt hàng khi người xuất khẩu đáp ứng đượcmột số điều kiện cần thiết
+ Tương đương thuế quan là các biện pháp làm gia tăng giá hàng xuấtkhẩu theo cách tương tự như thuế quan
Biện pháp tương đương thuế quan áp dụng đối với hàng xuất khẩu tại ViệtNam là biện pháp phụ thu cho một số mặt hàng xuất khẩu
+ Biện pháp liên quan đến doanh nghiệp bao gồm: quy định về quyềnkinh doanh xuất khẩu (Quyền kinh doanh xuất khẩu là quyền dành cho một số
Trang 18công ty nhất định được tiến hành hoạt động xuất khẩu đối với tất cả các mặthàng hoặc một số mặt hàng nhất định trên một số thị trường nhất định hoặctrong một thị trường nhất định.), quy định về đầu mối xuất khẩu;
+ Biện pháp liên quan đến đầu tư: yêu cầu về tỉ lệ xuất khẩu bắt buộc(Yêu cầu tỉ lệ xuất khẩu bắt buộc là tỉ lệ sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vịsản xuất phải thực hiện xuất khẩu Lí do đưa ra tỉ lệ xuất khẩu bắt buộc vì sảnxuất trong nước đã đáp ứng được nhu cầu về chất lượng, số lượng.)
+ Các biện pháp quản lí ngoại tệ;
+ Nhóm biện pháp tài chính:
(1) Tín dụng xuất khẩu (là hình thức cho vay hoặc trả sau ) Cấp tín dụng
là việc Nhà nước cung cấp vốn với mức ưu đãi lãi suất thấp cho các doanhnghiệp tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình trao đổi, buôn bán và xuất khẩuhàng hoá
(2) Trợ cấp xuất khẩu: là việc Chính phủ dành cho doanh nghiệp nhữnglợi ích mà trong điều kiện thông thường doanh nghiệp không thể có được Baogồm các hình thức:
Chính phủ trực tiếp cấp tiền (cấp vốn, cho vay ưu đãi hoặc góp cổphần) hoặc Chính phủ bảo lãnh các khoản vay
Chính phủ miễn các khoản thu lẽ ra doanh nghiệp phải đón nhưcác loại thuế, phí (ưu đãi về thuế)
Chính phủ cung ứng những khoản hàng hoá, dịch vụ hay tiêu thụhàng hoá giúp một doanh nghiệp nào đó khi xuất khẩu nhận đượcmột khoản trợ cấp bất kì hình thức nào cho sản phẩm xuất khẩu, họkhông phải hoàn trả lại cho Nhà nước Đây là sự khác với tín dụngxuất khẩu
+ Thủ tục hải quan: là quy trình mà nhà xuất khẩu phải tiến hành khi xuất khẩuhàng hoá qua biên giới
Trang 194 Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế (HNKTQT) đến yêu cầu đổi mới chính sách xuất khẩu.
Đổi mới là việc thay đổi mang tính toàn diện một vấn đề nào đó theochiều hướng tích cực, phù hợp với xu thế vận động khách quan
Đổi mới chính sách xuất khẩu là tổng thể những biện pháp của nhà nướcnhằm điều chỉnh chính sách xuất khẩu phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế vàhội nhập kinh tế quốc tế
HNKTQT là việc chủ động tham gia lên kết kinh tế có mục tiêu, định hướng nhằm gắn kết thị trường của từng nước với kinh tế khu vực và thế giới
Việt Nam chính thức trở thành viên thứ 150 của WTO (ngày 11/01/2007)được coi như đã hoàn thành quá trình HNKTQT WTO là một tổ chức thươngmại toàn cầu có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống kinh tế- chính trị- văn hoá- xãhội của mỗi một quốc gia Theo đó, nó có tác động không nhỏ đến hoạt độngxuất khẩu của mỗi nước thành viên Vì vậy, Việt Nam cũng như các quốc giakhác cần phải điều chỉnh chính sách xuất khẩu của mình sao cho phù hợp vớithông lệ quốc tế và thúc đẩy xuất khẩu phát triển, góp phần tăng trưởng kinh tế.Việc điều chỉnh chính sách xuất khẩu căn cứ vào những ảnh hưởng củaHNKTQT đến hoạt động xuất khẩu Ảnh hưởng này thể hiện ở các mặt sau:
4.1 Cơ hội và thách thức của HNKTQT
4.1.1 Cơ hội
Động lực chính của các nước đang phát triển tìm cách gia nhập WTO là
hi vọng tư cách thành viên sẽ đem lại sự thúc đẩy cho ngành xuất khẩu của họ,nhờ cải thiện được khả năng tiếp cận thị trường quốc tế Việt Nam cũng hi vọngnhư thế, nhất là việc được bán các sản phẩm nông nghiệp và ngư nghiệp cũngnhư hàng dệt may Tư cách thành viên WTO là tăng sức hấp dẫn đầu tư trựctiếp nước ngoài Việt Nam cũng trông đợi lợi thế của cơ chế xử lí tranh chấptrong thương mại quốc tế Là thành viên của WTO, Việt Nam sẽ có tiếng nóitrong việc xây dựng luật lệ thương mại
Như vậy lợi ích lớn nhất của Việt Nam cũng như các quốc gia đang pháttriển khác khi hội nhập kinh tế quốc tế đặc biệt là gia nhập WTO là:
Trang 20(1) Tạo cơ hội mở rộng hàng hóa và dịch vụ:
- Được đối xử tối huệ quốc vô điều kiện Quy tắc đối sử quốc gia là việcđối sử như nhau giữa hàng hoá trong nước và hàng nhập khẩu của nước ngoài
- Thuế nhập khẩu vào các nước WTO giảm đáng kể
- Được hưởng cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại khi có tranh chấpthương mại với các nước khác
- Được hưởng chế độ ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP) với vị thế của nướcđang phát triển
Việt Nam phát huy được những lợi thế về tài nguyên và lao động, thâmnhập vào thị trường quốc tế
(2) Tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài và góp phần giải quyết tốt vấn
đề nợ nước ngoài: hội nhập kinh tế quốc tế thông qua việc gia nhập WTO làmcho hệ thống pháp luật của Việt Nam phù hợp hơn với thông lệ quốc tế Nhữngchính sách minh bạch, rõ ràng và thực hiện các cam kết thương mại quốc tếtrong khuôn khổ WTO là những cơ sở quan trọng để thu hút đầu tư nước ngoài
(3) Thúc đẩy cải cách kinh tế trong nước
4.1.2 Hội nhập kinh tế quốc tế và tham gia WTO sẽ đặt ra rất nhiều thách thức cho Việt Nam Đó là:
(1) Khả năng cạnh tranh thấp kém của các ngành kinh tế là thách thức lớnnhất
- Trong nông nghiệp: là ngành nhạy cảm và dễ bị tổn thương khi gia nhậpWTO Việt Nam là một nước nông nghiệp, nông sản là một trong những mặthàng xuất khẩu chủ yếu Những yếu kém nội tại làm cho khả năng cạnh tranhcủa nông nghiệp vẫn chưa cao Nông nghiệp còn lạc hậu cả về cơ sở vật chất kĩthuật lẫn cơ chế quản lí, chất lượng sản phẩm chưa cao Mặc dù Việt Nam lànước đang phát triển được miễn trừ cắt giảm trợ giá xuất khẩu nông sản và mức
hỗ trợ cho nông dân trong nước; nhưng đổi lại Việt Nam sẽ phải cam kếtnhượng bộ các đố tác nước ngoài như cắt giảm thuế quan và hàng rào phi thuếquan trong nhiều lĩnh vực nông nghiệp Điều đó có nghĩa là không những trên
Trang 21thị trường quốc tế mà ngay cả thị trường trong nước nông sản Việt Nam sẽ phảicạnh tranh thực sự với nông sản nước ngoài.
- Trong công nghiệp: những hàng được đánh giá là có khả năng cạnhtranh với bước đầu xác lập được vị trí trên thị trường quốc tế như may mặc,giày dép, hàng điện tử lắp ráp…lại là những ngành hàng chủ yếu làm gia côngcho nước ngoài khả năng cạnh tranh của phần lớn các sản phẩm công nghiệpViệt Nam vẫn còn thấp kém: mẫu mã, kiểu dáng đơn điệu lại chậm được đổimới, chất lượng chưa hoàn toàn phù hợp với yêu cầu của thị trường, giá thànhcòn cao Trình độ công nghệ còn lạc hậu và khó khăn trong đổi mới công nghệ
(2) Yêu cầu cao với cải cách hệ thống pháp luật
Gia nhập WTO có thể là cuộc trắc nghiệm khó khăn nhất đối với hệ thốngpháp luật của Việt Nam Việt Nam phải cam kết thực hiện những tiêu chuẩnquốc tế về sự minh bạch, tính đồng bộ, tính công bằng và sự hợp lý
4.2 Tác động của hội nhập đến yêu cầu đổi mới chính sách xuất khẩu 4.2.1 Tác động đến chính sách khuyến khích xuất khẩu
Dựa vào những cơ hội đem lại của việc HNKTQT, việc ban hành chínhsách xuất khẩu đặc biệt là chính sách khuyến khích xuất khẩu sẽ có thêm nhữngđiều kiện thuận lợi để gia tăng các biện pháp nhằm đẩy mạnh sản xuất trongnước Chính sách chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu đang thực hiện chuyển dịch dầnsang chế biến, sản xuất các mặt hàng mà thị trường đang cần, khan hiếm trongkhi Việt Nam có lợi thế xuất khẩu Nhà hoạch định chính sách xuất khẩu sẽ chúýýtrọng nhiều hơn đến việc làm thế nào để mở rộng cơ cấu hàng xuất khẩu Vì
rõ ràng, cơ hội mà HNKTQT đem lại là mở ra một cánh cửa rộng lớn hơn chohàng hoá Việt Nam thâm nhập vào thị trường thế giới Vấn đề ở đây là ViệtNam sẽ sản xuất được bao nhiêu các mặt hàng và có đáp ứng được các yêu cầu
về chất lượng của thị trường thế giới hay không Vì vậy, nhiệm vụ hàng đầu khiban hành chính sách là chính sách đó phải tạo ra nhiều hơn các biện pháp làmgia tăng các mặt hàng xuất khẩu
Trước đây, thị trường chủ yếu của Việt Nam là phần lớn các nước trong
hệ thống Xã hội chủ nghĩa như: Nga, các nước Đông Âu, Trung Quốc, Đài
Trang 22Loan… Sự bó hẹp khuôn khổ thị trường như vậy vì chúng ta chưa có nhữngthuận lợi về mặt quan hệ hợp tác, đối ngoại với các quốc gia khác Nhưng giờđây, thị trường đã được mở rộng nhiều hơn cũng có nghĩa chính sách khuyếnkhích xuất khẩu của ta đã hướng dần sang các thị trường mới như: EU, Mĩ, cácnước châu Mĩ Latinh, các quốc gia ở châu Phi
Mặt khác, những thách thức của HNKTQT đòi hỏi phải thay đổi chínhsách khuyến khích xuất khẩu theo hướng nâng cao năng lực sản xuất trong nước,chú trọng chế biến theo chiều sâu, làm phong phú các mặt hàng xuất khẩu…Cónhư vậy, hàng hoá của nước ta mới đủ sức cạnh tranh với hàng hoá của các quốcgia khác
4.2.2 Tác động đến chính sách quản lí xuất khẩu
Thuận lợi trong việc thuế nhập khẩu vào các quốc gia khác sẽ giảm cũngtác động đến việc đánh thuế xuất khẩu của nước ta Đó là việc chính sách thuếquan sẽ tiến tới xu hướng giảm thuế xuất khẩu Vì khi đánh thuế suất xuất khẩu
nó sẽ làm tăng giá các mặt hàng xuất khẩu; cũng có nghĩa nó làm sức cạnh tranhcủa hàng hoá Việt Nam trên thị trường thế giới Việc các cơ quan chuyên ngànhđiều chỉnh thuế xuất xuất khẩu không ảnh hưởng đến các cam kết cung nhưthông lệ chung của Tổ choc thương mại thế giới Mặt khác, đây còn là việc làmđược khuyến khích để tiến tới tự do hoá thương mại trong buôn ban quốc tế Bởi
vì, thuế quan là một công cụ quản lý mang tính minh bạch, rõ ràng và không bịcấm hay hạn chế và được WTO thừa nhận là hợp pháp Do đó, tác động củaHNKTQT đến chính sách thuế quan là việc điều chỉnh mức thuế và cách tínhthuể một cách phù hợp để tạo điều kiện hơn nữa cho hàng hoá Việt Nam có sứccạnh tranh trên thị trường quốc tế
Tác động đến chính sách phi thuế quan thể hiện ở nội dung sau:
Tiến tới xoá bỏ hạn ngạch và các biện pháp phi thuế khác vi phạm đếnquy định chung của tổ chức thương mại thế giới; đồng thời vẫn phải đảm bảocho việc hỗ trợ cho sản xuất trong nước Vì phần lớn các công cụ phi thuế màchúng ta đang sử dụng đều phải tiến hành cắt giảm thậm chí phải xoá bỏ như:cấp tín dụng xuất khẩu, trợ cấp hàng nông sản; hoạt động xúc tiến xuất khẩu…
Trang 23Tuy nhiên, những công cụ này lại là biện pháp quan trọng của Nhà nước để giúp
đỡ hoạc tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất, chế biến, gia công hàngxuất khẩu Rõ rang, ở một nước nông nghiệp còn lạc hậu, kinh tế còn kém pháttriển, trình độ sản xuất còn non yếu thì vai trò hỗ trợ của nhà nước là luôn cầnthiết Ngoài ra, Nhà nước cũng là một nhà đầu tư quan trọng, nhiều lĩnh vực chỉ
có Nhà nước mới có đủ khả năng cung ứng về vốn, phương tiện kĩ thuật, đào tạođội ngũ cán bộ Một phần những hoạt động này tạo bước tiến cho doanh nghiệpthích ứng dần với đòi hỏi của thế giới Đứng trước những thách thức củaHNKTQT sự hỗ trợ này dành cho các mặt hàng nông sản càng trở nên quantrọng Do đó, đòi hỏi xoá bỏ các biện pháp phi thuế không phù hợp không thểtiến hành ngay mà chính sách phi thuế cần có có một thời gian để tìm những giảipháp thay thế phù hợp hơn
Mặt khác, trên thực tế, tất cả các quốc gia đều cố gắng duy trì các công
cụ phi thuế để hỗ trợ cho hoạt động xuất khẩu của họ ở hình thức này hay hìnhthức khác Càng ở những quốc gia phát triển thì các biện pháp phi thuế được coi
là bị cấm lại được áp dụng một cách tinh vi và khéo léo hơn Mục đích mà các tổchoc thương mại trên thế giới yêu cầu xoá bỏ chùng vì muốn tạo ra một sân chơibình đẳng cho hàng hoá của tất cả các nước trên thị trường thế giới Khi khôngcòn sự hỗ trợ trực tiếp của Nhà nước về giá đầu vào, về nguồn ra cho hàng hoáthì giá cả của chúng sẽ sát thực hơn, không tạo ra guy cơ phá giá các sản phẩmcùng loại của các quốc gia khác Vì vậy, bên cạnh việc xoá bỏ dần các công cụphi thuế đó, chính sách quản lí xuất khẩu áp dụng các biệp pháp thay thế phùhợp được cho phép sử dụng
Trang 24Chương 2
THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH XUẤT CỦA VIỆT NAM
HIỆN NAY
I THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU 1.Về quy mô và tốc độ tăng trưởng xuất khẩu
Trong những năm 2001-2005, quy mô và tốc độ tăng trưởng hàng hoá đềuđạt và vượt các chỉ tiêu đặt ra cho giai đoạn 5 năm đầu của Chiến lược xuất khẩu2001-2010 Trong đó, tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá trungbình cả giai đoạn đạt 17%/năm vượt 1,5% so với chỉ tiêu đặt ra trong Chiến lược
là 28,4 tỷ USD Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá trong gia strị tỏng sảnphẩm quốc nội (GDP) tăng từ 44,75 năm 2000 lên 61,3% năm 2005 so với chỉtiêu đặt ra trong Chiến lược là 66,3%
Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu diễn ra không đồng đều tronggiai đoạn 2001-2005 Trong 2 năm đầu (2001-2002), tốc độ tăng trưởng xuấtkhẩu trung bình chỉ đạt mức 7,4%/năm, thấp hơn nhiều so với chỉ tiêu trungbình đặt ra là 16,5%/năm Trong 3 năm cuối, 2003-2005 hoạt động xuất khẩu đã
có sự bứt phá mạnh mẽ với tốc độ tăng trưởng đạt mức bình quân 24,7%/năm
Quy mô xuất khẩu hàng hoá giai đoạn 2001 - 2005
Đơn vị: Triệu USD,%
Trang 252.Về cơ cấu mặt hàng xuất khẩu
Nhìn chung sự chuyển dịch trong cơ cấu hàng hoá xuất khẩu của ViệtNam giai đoạn 2001-2005 chậm và không ổn định qua các năm Trong đó, tỷ
trọng của nhóm hàng nông lâm, thuỷ sản giảm dần từ 24,3% năm 2001 xuống
còn 21,1% năm 2005; nhóm hàng nhiên liệu khoáng sản giảm dần trong 3 năm
đàu thực hiện Chiến lược từ 24,3% năm 2001 xuồng còn 22,1% năm 2003
nhưng đã tăng trở lại trong năm 2004-2005 và chiếm tỷ trngj 24,7% năm 2005;
nhóm hàng công nhiệp và thủ công mĩ nghệ có xu hướng tăng nhẹ nhưng không
đồng đều và chiếm tỷ trọng 38,4% trong cơ cấu hàng hoá năm 2005
Cơ cấu hàng hoá xuất khẩu giai đoạn 2001 -2005
Đơn vị: triệu USD, %
Tổng
số 15.029 100 16.706 100 20.149 100 26.503 100 32.442 100 110.829 100Nhóm
Trang 263 Về cơ cấu thị trường xuất khẩu:
Giai đoạn này, khu vực thị trường châu Á đã giảm dànn tỷ trọng từ 57,3%
năm 2001 xuống còn 50,5% năm 2005 xong vẫn chiếm ưu thế trong cơ cấu xuất
khẩu hàng hoá của Việt Nam Tỷ trọng xuất khẩu vào khu vực thị trường châu
Âu có xu huớng giản nhẹ nhưng giá trị tuyệt đó năm sau vẫn tăng so với năm
trước và đống góp trên 20% trong tổng kim ngạch xuất khẩu trong cả nước
Trong khi đó, xuất khẩu vào thị trường châu Mĩ tăng đột biến chiếm tỷ trọng từ
8,9% năm 2001 lên 21,3% vào năm 2005 Khu vực thị trường châu Phi có tỷ
trọng tăng từ 1,2% năm 2001 lên 2,1% năm 2005 và tăng được kim ngạch xuất
khẩu gấp 4 lần trong giai đoạn này từ 176 triệu USD lên 681 triệu USD Tỷ
trọng của khu vực thị trường châu Đại Dương tăng chậm và khá ổn định từ 7,1%
năm 2001 lên 8,0% năm 2005
Cơ cấu thị trường xuất khẩu hàng hoá giai đoạn 2001 - 2005
Đơn vị: triệu USD, %
Trang 27Trung
Quốc 1.418 9,4 1.495 8,9 1.748 8,7 2.735 10,3 3.082 9,5 10.478 9,4Nhật
Bản 2.510 16,7 2.438 14,6 2.909 14,4 3.502 13,2 4.639 14,3 15.998 14,4Châu
Âu 3.515 23,4 3.640 21,8 4.326 21,5 5.412 20,4 5.872 18,1 22.765 20,5
EU 3.152 21,0 3.311 19,8 4.017 19,9 4.971 18,8 5.450 16,8 20.901 18,9Châu
Mĩ 1.342 8,9 2.774 16,6 4.327 21,5 5.642 21,3 6.910 21,3 20.995 18,9Mĩ
1.065 7,1 2.412 14,5 3.939 19,5 4.992 18,8 6.553 20,2 18.970 17,1Châu
- Cơ cấu hàng xuất khẩu chuyển dịch theo hướng tích cực, tỷ trọng hàngchế biến sâu và hóm hàng công nghiệp tăng lên, số lượng mặt hàng xuất khẩuchủ lực tăng nhanh Những năm gần đây nổi lên một số mặt hàng có mức tăngtrưởng hàng năm rất cao: giày dép, dệt may, điện tử, nhân điều, chè, gạo… và cómột số mặt hàng xuất khẩu chủ lực đã chiếm tỷ trọng lớn như cà phê Robusta
Trang 28đứng đầu thế giới, gạo đứng thứ 2 thế giới sau Thái Lan, nhân điều đứng thứ 2trong ASEAN sau Thái Lan, hạt tiêu đứng thứ 2 thế giới sau ấn Độ.
- Cơ cấu xuất khẩu đã chuyển dịch theo hướng tăng các mặt hàng chếbiến, giảm tỷ trọng các sản phẩm thô Trong kim ngạch xuất khẩu, tỷ trọng sảnphẩm đã qua chế biến tăng từ khoảng 28% năm 1996 lên 40% năm 2000 và dựkiến năm 2003 là 43%, trong khi đó, tỷ trọng các sản phẩm thô đã giảm tươngứng từ 72% xuống cón 57% Nếu như, năm 1996 dẫ có 9 mặt hàng xuất khẩutrên 100 triệu USD ; trong đó, có 2 mặt hàng có giá trị xuất khẩu trên 2 ỷ USD
là thuỷ sản và giày dép, 4 mặt hàng có giá trị xuất khẩu tren 500 triệu USD làgạo, cà phê, hàng điện tử, linh kiện máy tính và sản phẩm gỗ
- Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài những năm gần đây có mứctăng trưởng xuất khẩu khá nhanh Năm 1996, (tính cả xuất khẩu dầu thô) đạt2,13 tỷ USD chiếm 29,4% kim ngạch xuất khẩu hàng hoá, tương tự năm 1997đạt 3,21 tỷ USD chiếm 34,4%, năm 1999 đạt 4,68 tỷ USD chiếm 40,6%, năm
2000 đạt 6,81 tỷ USD chiếm 40,1%, năm 2001 đạt 6,8 tỷ USD chiếm 45,2%,năm 2002 đạt 7,87 tỷ USD chiếm 47,1% , năm 2003 đạt khoảng 10 tỷ USDchiếm 50%
Nhìn chung, tình hình xuất khẩu của Việt Nam đang có nhiều triển vọng,
uy tín trên thị trường quốc tế Có được những thànhcông trên là do những nỗ lựcsau:
- Chất lượng hàng xuất khẩu đã nâng lên đáng kể, bước đầu tạo ra sứccạnh tranh của hàng Việt Nam trên thị trường thế giới, do các nhà sản xuất trongnuớc đã chú trọng đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm.Hiện nay, gạo, dầu thô, thuỷ hản sản, hàng dệt may, giày dép, cà phê, nhân điều,hạt tiêUSD của Việt Nam đã đựơc nhiều nước ưa chuộng và đánh giá cao vềchất lượng
- Chính sách, cơ chế xuất khẩu hàng hoá có nhiều thay đổi phù hợp vớiyêu cầu của cơ chế thị trường, nhất là về quyền xuất khẩu hàng hoá của thươngnhân và các quy định về quản lí xuất khẩu
Trang 29- Tích cực kí các Hiệp định thương mại, Hiệp định ưư đãi thuế quan … đểgóp phần tạo ra sự chuyển dich cơ cấu xuất khẩu, giảm ở khu vực châu Á vàtăng ở khu vực châu Mĩ và châu Âu (khu vực châu Phi và châu Đại Dươngkhông đổi) Tỷ trọng các thị trường trung gian như Hồng Kông, Singapo giảmdần.
- Nhà nước, các hiệp hội ngành hàng và các doanh nghiệp đã quan tâmđẩy mạnh xúc tiến thương mại, giải quyết khá tốt vấn đề thông tin phục vụ pháttriển xuất khẩu
- Cơ cấu hàng xuất khẩu còn lạc hậu so với các nước, tỷ trọng hàng thô,hàng sơ chế còn quá cao Trong số sản phẩm công nghiệp chế tạo thì hàng giacông còn chiếm tỷ trọng lớn, sản phẩm có hàm lượng công nghệ và trí tuệ caocòn nhỏ bé
Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu chưa hợp lí, thể hiện trên cả 3 phương diện:+ Chủng loại hàng hoá xuất khẩu còn đơn điệu, chậm xuất hiện nhữngmặt hàng xuất khẩu mới có đóng góp kim ngạch đáng kể
+ Các mặt hàng xuất khẩu có giá trị gia tăng còn thấp: xuất khẩu chủ yếuvẫn còn phụ thuộc vào các mặt hàng như khoáng sản (dầu thô, than đá), nônglâm, thuỷ haỉ sản; trong khi các mặt hàng công nghiệp như dệt may, giày dép ,điện tử và linh kiện máy tính…chủ yếu vẫn mang tính chất gia công
+ Quá trình chuyển dịch cơ cấu mặt hàng xuất khẩu theo hương côngnghiệp hoá diễn ra chậm và chưa có giải pháp cơ bản, triệt để Về thực chất, cơcấu hàng xuất khẩu của Việt Nam thời gian qua chủ yếu chuyển dịch theo chiềurộng mà chưa đi vào chiều sâu, xuất khẩu chủ yếu dựa vào khai thác lợi thế sẵn
Trang 30có mà chưa khai thác lợi thế cạnh tranh thông qua việc xây dựng các ngành côngnghiệp có mói liên kết chặt chẽ với nhau để hình thành chuỗi giá trị gia tăngxuất khẩu lớn.
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung, trong từng lĩnh vực, ngành hàngnói riêng chưa bám sát tín hiệu của thị trường thế giới, do đó, nhiều sản phẩmlàm ra khó tiêu thụ hoặc tiêu thụ với giá thấp hơn các nước trong khu vực nhưgạo, cà phê, chèvà cao su…việc đầu tư để nâng cao khả năng cạnh tranh chocác mặt hàng xuất khẩu còn hạn chế
4.2.2 Nguyên nhân
a) Nguyên nhân khách quan
Thứ nhất, nếu như tăng trưởng kinh tế góp phần tích cực vào tăng trưởng
xuất khẩu của Việt Nam thì các bất ổn về kinh tế, chính trị, xã hội trên thịtrường thế giới lại đem đến cho xuất khẩu Việt Nam những tác động ngược lại.Chẳng hạn ,như sự suy thoái kinh tế thế giới vào đầu thập niên 2000 cùng với sựkiện lhủng bố 11/09 là một trong những nguyên nhân khiến cho tăng trưởng xuấtkhẩu của Việt Nam giai đoạn 2001-2002 chỉ đạt con số khiêm tốn là 7,4%/năm
Thứ hai, các mặt hàng nông, lâm, thuỷ sảnchiếm một tỷ trọng tương đối
lớn của xuất khẩu Việt Nam Song đây lại là nhũng mặt hàng mà giá cả thế giớibiến động thất thường Trong khi đó, giá nhiều mặt hàng nhập khẩu tăng khácao như xăng, dầu…
Thứ ba, cùng với xu thế hội nhập, ngày càng xuất hiện nhiều rào cản
thương mại mới tinh vi hơn (như chống bán phá gía, tiêu chuẩn xã hội, môitrường, an toànvệ sinh thực phẩm…), gây khó khăn và tổn thất không nhỏ chohoạt động xuất khẩu của nước ta
b) Nguyên nhân chủ quan
- Đầu tư xuất khẩu những năm gần đây tuy đã được chú trọng nhưng còndàn trải, thủ tục xin ưu đãi đầu tu còn rườm rà, chưa tập trung vốn đầu tư chonhững chương trình sản xuất hàng xuất khẩu trọng điểm để tăng sản lượng vànâng cao sức cạnh tranh của hàng xuất khẩu Các doanh nghiệp có vốn đầu tư
Trang 31nước ngoài chưa quan tâm đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm của doanh nghiệp, màcòn nặng về sản xuất hàng tiêu dùng trong nước.
- Việc đề ra cơ chế quản lí nhằm thực hiện phương châm hướng mạnh vềxuất khẩu và hội nhập kinh tế khu vực và thế giới còn lúng túng , thiếu đồng bộnên môi trường và cơ sở pháp ý cho hoạt động xuất khẩu còn nhiều hạn chế
- Sự phối hợp giữa các Bộ, ngành, địa phương đã có những chuyển biếntích cực nhưng chưa tạo được nguồn lực, sức mạnh tổng hợp nhất là trong việcxây dựng kết cấu hạ tầng trong thuơng mại phục vụ xuất khẩu
II THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY
1 Về chính sách khuyến khích xuất khẩu
1.1 Chính sách chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu
1.1.1 Chính sách hình thành và phát triển các vùng sản xuất hàng xuất khẩu
Trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội đến năm 2010 và tầm nhìn 2020
có đưa ra định hướng về phát triển các vùng: “Các vùng khu vực đều phát huylợi thế để phát triển, tạo thêm thế mạnh của mình theo cơ cấu kinh tế mở, gắnvới nhu cầu trong và ngoài nước”
a) Đồng bằng sông Hồng và các vùng kinh tế trọng điểm:
- Về phát triển nông nghiệp xuất khẩu tập trung vào các nhiệm vụ: Pháttriển cây lương thực gắn với vùng chuyên canh rau, cây ăn quả, thịt, hoa, mởrộng nuôi trồng thủy sản Phát triển mạnh công nghiệp chế biến và cơ khí phục
vụ nông nghiệp, các cụm, điểm công nghiệp và làng nghề ở nông thôn
- Về phát triển công nghiệp xuất khẩu: Phát triển các khu công nghiệpkhu công nghệ cao, công nghiệp xuất khẩu , công nghiệp điện tử, thông tin vàmột số cơ sở cơ khí đóng tàu, luyện kim, phân bón ở vùng kinh tế trọnh điểm; Ởtrung tâm kinh tế mạnh tiến hành đào tạo khoa học và công nghệ, y tế, văn hóa,
du lịch
b) Miền Đông Nam Bộ và vùng kinh tế trọng điểm:
Trang 32- Trong kĩnh vực nông nghiệp xuất khẩu :phát triển cây công nghiệp nhưcao su, hạt tiêu, điều, mía đường, bông…;các loại cây ăn quả, chăn nuôi đại giasúc, hình thành các vùng chuyên canh tập trung gắn với công nghiệp chế biến.
- Về phát triển công nghiệp xuất khẩu: Phát huy vai trò các trung tâmthương mại, xuất khẩu, viễn thông, tài chính, ngân hàng, khoa học và công nghệ,vân hóa của cả nước Đẩy mạnh công nghiệp khai thác dầu khí, khu chế xuất,khu công nghệ cao Mở mang công nghiệp các tỉnh, không tập trung quá lớnvào các đô thị lớn
c) Bắc Trung Bộ, duyên hải Trung Bộ và vùng kinh tế trọng điểm miềnTrung:
- Phát triển nông nghiệp: Tăng nhanh sản xuất cây công nghiệp, cây ănquả, chăn nuôi đại gia súc, kết hợp với công nghiệp chế biến, đẩy mạnh trồngrừng, khai thác có hiệu quả nguồn lợi thủy sản, phát huy hợp tác với nước cộnghòa dân chủ nhân dân Lào
- Phát triển công nghiệp xuất khẩu : Tại vùng kinh tế trọng điểm: hìnhthành các khu công nghiệp ven biển, các khu công nghiệp - thương mại tổnghợp tên các cửa khẩu và hành lang các tuyến đường Phát triển các ngành côngnghiệp chủ đạo như: công nghiệp lọc hóa dầu, công nghiệp chế biến chế tạo…
d) Trung du và Miền núi Bắc Bộ (Tây Bắc và Đông Bắc Bộ):
- Trong lĩnh vực nông nghiệp xuất khẩu : phát triển mạnh các cây côngnghiệp, cây ăn quả, cây dược liệu, cây đặc sản, chăn nuôi đại gia súc gắn với chếbiến
- Trong lĩnh vực công nghiệp : chú trọng phát triển cơ sơ hạ tầng như thủyđiện, đường liên tỉnh và đặc biệt chế biến nông lâm sản xuất khẩu.Nâng cấp cáccửa khẩu biên giới và phát triển kinh tế thương mại với Trung Quốc
e) Tây Nguyên
- Trong nông nghiệp xuất khẩu: Thâm canh gắn với các cây công nghiệpxuất khẩu như : cà phê, cao su, chè, bông… kết hợp với trồng và bảo vệ rừng,cây dược liệu, cây đặc sản, phát triển chawnnuooi đại gia súc gắn với côngnghiệp chế biến
Trang 33- Trong công nghiệp xuất khẩu: chú trọng phát triển công nghiệp khaikhoáng, công nghiệp năng lượng và công nghiệp chế biến làm cơ sở cho pháttriển mặt hàng xuất khẩu.
Đẩy mạnh kinh tế thương mại với 2 nước: Lào, Cămpuchia
f) Đồng bằng sông Cửu Long:
- Về nông nghiệp xuất khẩu : đầu tư sản xuất các vùng sản xuất lúa gạo,thủy sản, cây ăn quả gắn với các trường, viện nghiên cứu nông nghiệp và cáckhu công nghiệp chế biến
+ Về công nghiệp xuất khẩu: Đẩy mạnh công nghiệp cơ khí, chế biếnnông nghiệp Phát triển hợp tác thương mại với Cămpuchia
1.1.2 Về chính sách phát triển các ngành hàng sản xuất và xuất khẩu
Đối với các ngành kinh tế trọng điểm, nâng cao các ngành có vị trí chiphối với nhiều ngành kinh tế quốc dân, có tỷ trọng lớn trong nền kinh tế và trongxuất khẩu Xếp các ngành đang phát triển, có kim ngạch xuất khẩu lớn và tăngtrưởng tương đối nhanh vào các ngành kinh tế trọng điểm để tập trung đầu tuvốn và nhân lực ở mức tối đa, tăng nhanh cả về tỷ trọng trong GDP cũng nhưtrong tổng kim ngạch xuất khẩu Ngành kinh tế mũi nhọn định hướng xuất khẩu
là ngành có triển vọng lớn trong tương lai Sản phẩm của ngành này được đápứng nhu cầu tương đối lớn, và ngày càng tăng đồng thời khai thác được lợi thếcủa đất nước
Trong toàn bộ nền kinh tế: chuyển dịch cơ cấu theo hướng ngành côngnghiệp - xây dựng và dịch vụ chiếm tỷ trọng ngày càng cao Đồng thời, trongtừng ngành, việc xây dựng chiến lược phát triển ngành phải dựa trên sự phântích về nhu cầu và khuynh hướng tiêu dùng của thị trường thế giới để có sựchuyển đổi cơ cấu sản xuất phù hợp, đảm bảo sản xuất ra những sản phẩm có thểxuất khẩu và cạnh tranh được trên thị trường thế giới
a) Trong công nghiệp:
- Phát triển xuất khẩu những ngành công nghiệp chế biến sử dụng nhiềulao động với công nghệ thấp và ngành chế tạo linh kiện, sử dụng nhiều lao độngvới công nghệ trung bình
Trang 34- Tạo sự đột phá trong công nghiệp chế biến trên các sản phẩm liên quanđến sản phẩm lương thực rau quả, cà phê, cao su, chè…( là những sản phẩmnông nghiệp Việt Nam đang có lợi thế về năng suất, chi phí sản xuất thấp).
- Tăng cường liên kết công nghệ: phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợquan trọng như cơ khí, chế tạo máy Công nghiệp sản xuất theo công đoạn tạo
sự hỗ trợ và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các doanh nghiệp, các ngành
- Đầu tư và phát triển công nghiệp theo chiều sâu, đảm bảo cung cấpnguyên, nhiên vật liệu đầu vào
- Tăng sức cạnh tranh của sản phẩm công nghiệp, giảm tỷ trọng chi phítrung gian trong giá trị hàng hóa
- Khuyến khích và phát triển chính sách lựa chọn những ngành côngnghiệp sản xuất nguyên liệu có hiệu quả
b) Trong nông nghiệp:
- Giảm dần tỷ trọng ngành nhà nước trong cơ cấu kinh tế, chú trọng đầu tưnhững phân ngành có thế mạnh, tạo sản phẩm có lợi thế so sánh, có khả năngxuất khẩu
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trước hết ưu tiên cho mục tiêu an ninh lươngthực quốc gia, tăng nguồn nông sản cho chế biến xuất khẩu:
- Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn theohướng hình thành nền nông nghiệp hàng hóa lớn phù hợp với nhu cầu thị trường
và điều kiện sinh thái của từng vùng; chuyển dịch cơ cấu ngành nghề, cơ cấu laođộng, tạo việc làm thu hút nhiều lao động ở nông thôn
- Tăng cường tiềm lực khoa học và công nghệ trong nông nghiệp nhất làcông nghệ sinh học với công nghệ thông tin; làm tốt công tác chuyển giao giốngmới, cải tiến kĩ thuật canh tác
- Tiếp tục phát triển và hoàn thiện về cơ bản hệ thống thủy lợi, ngăn mặngiữ ngọt kiểm soát lũ, bảo đảm tướ tiêu an toàn, chủ động cho sản xuất nôngnghiệp và đời sống nhân dân Với những khu vực hay bị thiên tai tàn phá, cầnđiều chỉnh quy hoạch sản xuất và dân cư thích nghi với điều kiện thiên nhiên
Trang 35nâng cao năng lực dự báo thời tiết và khả năng chủ động phòng chống thiên tai,hạn chế thiệt hại.
- Phát triển mạnh công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn, phát triển làngnghề và chuyển một phần doanh nghiệp giá công và chế biến nông sản về nôngthôn nhằm chuyển một bộ phận lao động nông nghiệp sang một ngành nghềkhác
Mở rộng sản xuất nâng cao chất lượng cây trồng tiến tới cung cấp đủnguyên liệu cho các ngành sản xuất trong nước và xuất khẩu với khối lượngngày càng lớn, đồng thời giảm tổn thất hao hụt, nâng cao chất lượng sản phẩm.nhập khẩu kĩ thuật chế biến và sản phẩm tiên tiến
1.1.3 Chính sách chuyển dịch cơ cấu sản phẩm xuất khẩu
DỰ KIẾN CƠ CẤU HÀNG HÓA XUẤT KHẨU 2001-2010
Tên hàng
Lượng(nghìntấn)
Trị giá(TriệuUSD)
Lượng(nghìntấn)
Trị giá(TriệuUSD)
Lượng(nghìntấn)
Trị giá(TriệuUSD)
Trang 36a) Đối với nhóm hàng nguyên nhiên liệu
Hiện nay, dầu thô và than đá chiếm trên 20% kim ngạch xuất khẩu của cảnước, còn các loại khoáng sản khác không đáng kể Dự kiến đến năm 2010nhóm hàng này xuất khẩu sẽ giảm xuống còn khoản 3,5% kim ngạch xuất khẩu
b) Nhóm hàng chế biến
Tăng hàm lượng hàng chế biến sâu gồm sản phẩm dệt may, giày dép, sảnphẩm điện tử, sản phẩm cơ khí, hóa chất và các sản phẩm hóa chất, khí hóa lỏng,xăng dầu và các sản phẩm hóa dầu, sắt thép, sản phẩm hợp kim đặc biệt, vật liệu
Trang 37xây dựng, thực phẩm, dược phẩm Dự báo, nhóm hàng này sẽ tăng từ 40% năm
2002 lên 70% năm 2020
c) Nhóm hàng thô, sơ chế
Gồm một số khoáng sản, cà phê, cao su, chè, hạt điều, tơ tằm, thủy sản,lâm sản…Nhiều mặt hàng chủ lực của ta nằm trong hóm hàng này, dự báo giảm
từ 62% năm 2002 xuống còn 10% năm 2020
1.2 Chính sách phát triển thị trường xuất khẩu
Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX năm 2001, chiến lược phát triểnkinh tế xã hội giai đoạn 2001-2010 và tầm nhìn 2020 nhấn mạnh: “Chủ động vàtích cực thâm nhập thị trường quốc tế, chú trọng các thị trường trung tâm kinh tếthế giới, duy trì và mở rộng thị trường quen thuộc, tranh thủ mọi cơ hội mở thịtrường mới.”
Dự kiến cơ cấu thị trường năm 2006-2010
Nguồn : Bộ Thương mại, Đề án phát triển xuất khẩu 2006-2010
1.2.1 Khu vực châu Á - Thái Bình Dương
Là một thị trường rộng lớn với dân số tên 3 tỷ người, nhu cầu đa dạngphong phú, chiếm 30% tổng kim ngạch buôn bán của toàn thế giới (không kể Mĩ
và Nhật Bản) Định hướng, thị trường khu vực này vãn là thị trường trọng điểmcủa nước ta trong những năm tới với trọng điểm là các nước ASEAN, TrungQuốc (cả Hồng Công), Nhật Bản, Đài Loan và Hàn Quốc
Các nước ASEAN
Trang 38Là thị trường thân thuộc và quan trọng của Việt Nam:
- Mặt hàng trọng tâm cần đẩy mạnh xuất khẩu là gạo, linh kiện vi tính,một vài sản phẩm cơ khí (đối với các nước ngoài khu vực Đông Dương) và hóaphẩm tiêu dùng, thực phẩm chế biến, sản phẩm nhựa, hàng bách hóa (đối vớiLào và Cămpuchia)
- Khai thác thị trường lào và Cămpuchia trong bối cảnh mới, bởi pháttriển buôn bán với 2 nước này không chỉ đơn thuần mang ý nghĩa kinh tế
Trung Quốc
Trung Quốc là một thị trường lớn với 1,3 tỷ dân và 13 tỉnh, 5 khu tự trị, 5thành phố trực thuộc trung ương Việt Nam có nhiều cơ hội xuất khẩu hàng hóanhiệt đới vào các vùng địa phương của Trung Quốc, nhất là các tỉnh phía Nam,miền Tây và miền Bắc
- Mặt hàng chủ yếu vào thị trường này: hải sản, cao su, rau, hao quả, thựcphẩm chế biến và hóa phẩm tiêu dùng
Hiện nay, Trung Quốc đã ban hành quyết định ngừng chính sách ưu đãiđối với 20 mặt hàng gồm quặng, đồng, chì, kẽm, bột giấy, mực in và một số loạihóa chất Đây sẽ là một khó khăn lớn cho xuất khẩu Việt Nam vào Trung Quốc
Nhật Bản
Với dân số 126,3 triệu người với tổng sản phẩm quốc dân GNP hàng nămđạt gần 500 nghìn tỷ USD và GDP bình quân đầu người 37.000 USD (năm2005) Nhật Bản là một thị trường tiêu dùng lớn thứ 2 trên thế giới sau Mĩ, vàcũng là một thị trường nhập khẩu hàng hóa lớn
Việt Nam có khá nhiều thuận lợi trong việc xuất khẩu sang thị trườngNhật Bản Thực tế cho thấy, Nhật Bản vẫn luôn là bạn hàng lớn nhất của ViệtNam và trong quan hệ hợp tác kinh tế nói chung Cơ cấu mặt hàng xuất khẩucủa Nhật Bản mang tính bổ sung chứ không phải cạnh tranh với Việt Nam: NhậtBản xuất khẩu những mặt hàng mang nhiều hàm lượng vốn và công nghệ-những mặt hàng Việt Nam chưa sản xuất được hoặc chưa có lợi thế Nhật Bảnnhập khẩu nhưng mặt hàng nguyên liệu thô chưa qua chế biến hoạc chỉ qua sơ
Trang 39chế, đây là thế mạnh cưa Việt Nam Điều này tạo điều kiện cho hai nước pháthuy lợi thế của mình.
Ngoài ra, những năm gần đây, xuất hiện xu hướng chuyển giao nhà máysản xuất và nhập khẩu trở lại Nhật Bản.(Hình thức gia công xuất khẩu).Điểnhình là Nhật Bản đặt công ty Fujitsu xây dựng nhà máy sản xuất mạch in tạiViệt Nam đã tạo ra kim ngạch xuất khẩu 300 triệu USD
Hàn Quốc:
Với dân số 47 triệu người, tổng kim ngạch nhập khẩu lên tới 150 tỷ USD,thu nhập bình quân đầu người gần 10.000 USD/năm, đây là thị trường tiêu thụtiềm năng cho xuất khẩu nước ta
Những năm gần đây, người dân hàn quốc gia tăng tiêu dùng những sảnphẩm chất lượng cao, đồ ăn liền, giảm tiêu dùng gạo và bột mì, tiêu dùng nhữngsản phẩm lâu bền và đắt tiền, tăng nhu cầu về dịch vụ, đặc biệt rất nhạy cảm vớivấn đề vệ sinh, an toàn thực phẩm và thực phẩm biến đổi gien
Đài Loan
Là bạn hàng xuất khẩu quan trọng đứng thứ 4 của Việt Nam sau EU, NhậtBản và Singapo Làn sóng di chuyển sản xuất từ Đài Loan ra nước ngoài đangtăng lên do giá công nhân trong nước tăng và do chính sách tăng cường hợp tácvới phía Nam của chính quyền Đài Bắc Ta có thể lợi dụng xu thế này để nâncao năng lực sản xuất trong các ngành da giày, may mặc, cơ khí, chế biến gỗ,sản phẩm nhựa và đồ điện Ngoài ra, sau Trung Quốc, Đài Loan cũng gia nhậpWTO với những cam kết mở cửa thị trường rộng hơn cả Trung Quốc Đây sẽ làmột thuận lợi để đẩy mạnh thâm nhập thị trường Đài Loan
Mục tiêu chủ yếu trong thời gian tới là đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàngnhư gỗ, hải sản, cao su, dệt may, giày dép, rau quả và chè, một số mặt hàng cơkhí và điện gia dụng do cơ sở có vốn đầu tư của Đài Loan vào Việt Nam
1.2.2 Khu vực châu Âu
Thị trường châu Âu là thị trường tiêu thụ trực tiếp, mặc dù dân số chỉ hơn
500 triệu người nhưng chiếm 40% kim ngạch buôn bán thế giới (trong đó EUchiếm 35%) và đang có xu hướng tăng lên; giá thường cao hơn so với thị trường
Trang 40khác Tuy nhiên, tiêu chuẩn chất lượng hàng hóa mà thị trường EU đòi hỏi rấtcao; bởi vậy, xuất khẩu vào thị trường này phải hết sức chú trọng chất lượnghàng hóa Chiến lược thâm nhập và mở rộng thị trường châu Âu trên cơ sở phânchia châu Âu thành 2 khu vực cơ bản: Tây Âu (chủ yếu là EU ) và Đông Âu.Phấn đấu xuất khẩu vào thị trường châu Âu tăng trưởng bình quân 18,9%, đếnnăm 2010 đạt khoảng 15,9 tỷ USD và tỷ trọng giữ ở mức khoảng 22%.
Thị trường EU:
Thị trường EU có những đặc điểm cần chú ý đến trong hoạch định và banhành chính sách khuyến khích xuất khẩu Các đặc điểm đó là:
- Thứ nhất, EU là thị trường rộng lớn, có sức mua rất lớn, và đây là thị
trường tự do lưu thông hàng hóa nhất thế giới
- Thứ hai, người dân châu Âu ưa chuộng hàng hóa có nhãn hiệu nổi tiếng.
Do vậy, giá cả khôn phải là giải pháp cạnh tranh tối ưu
- Thứ ba, thị trường EU là thị trường khó tính, coi trọng mẫu mã và thời
trang Người tiêu dùng luôn tỏ ra thận trọng và bảo thủ
- Thứ tư, thị trường EU luôn bảo vệ người tiêu dùng, họ xây dựng các tiêu
chuẩn quốc gia và khu vực để buộc các nước xuất khẩu phải thực hiện
- Thứ năm, hàng hóa đưa vào thị trường EU theo hai kênh: tâp đoàn và
phi tập đoàn
Thị trường EU đưa ra những khắt khe với hàng nhập khẩu Mặc dù thuếquan thấp nhưng là thị trường bảo hộ chặt chẽ bởi rào cản kĩ thuật rất nghiêmngặt như tiêu chuẩn chất lượng, tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm, tiêuchuẩn an toàn cho người sử dụng, tiêu chuẩn môi trường, tiêu chuẩn về lao động
và xã hội (không sử dụng lao động cưỡng bức, lao động trẻ em…) Hiện tại, EUvẫn đang áp dụng giấy phép nhập khẩu và hạn ngạch đối với nhiều loại hàng hóatrong đó có giày dép, dệt may và nông sản
EU đã bãi bỏ chế độ hạn ngạch đối với hàng dệt may của Việt Nam Đặcbiệt, từ tháng 10/1999 đến nay EU đã công nhận hơn 40 doanh nghiệp xuấtkhẩu thủy sản Việt Nam vào danh sách, tức là đạt tiêu chuẩn chất lượng và vệsinh của EU, được xuất vào thị trường EU không bị kiểm tra thường xuyên