1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ VIỆT NAM

19 304 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phát triển kinh tế tư nhân trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế Việt Nam
Người hướng dẫn Thầy giáo Trần Việt Tiến
Thể loại Đề tài
Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 107 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

đầu tư là điều kiện quyết định sự ra đời, tồn tại và tiếp tục hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp, là yếu tố quyết định sự phát triển và tăng trưởng của nền sản xuất xã hội.

Trang 1

Lời nói đầu Một trong những thành tựu lớn của công cuộc đổi mới 20 năm qua là đã hình thành một nền kinh tế đa thành phần,với các khu vực kinh tế khác nhau ngày càng phát triển năng động.Trong số đó khu vực trẻ trung và năng động là khu vực kinh tế

t nhân trong nớc

Trong những năm gần đây, thực hiện đờng lối đổi mới, kinh tế t nhân gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế t bản t nhân đã phát triển rộng khắp cả nớc góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế, huy động các nguồn lực vào sản xuất kinh doanh, tạo thêm nhiều việc làm, cải thiện đời sống nhân dân tăng tích luỹ, góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội

Tuy vậy, kinh tế t nhân hiện nay ở nớc ta còn nhiều hạn chế, yếu kém: quy mô, vốn ít, công nghệ lạc hậu, trình độ quản lý thấp, sức cạnh tranh yếu…

Nghị quyết Đại hội IX của Đảng đã xác định: "Thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần Các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh, trong đó kinh tế nhà nớc giữ vai trò chủ đạo, kinh tế nhà nớc cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân"

Chọn đề tài: "Phát triển kinh tế t nhân trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế Việt Nam" em muốn góp thêm tiếng nói nhỏ của mình vào việc nhận thức

đúng vai trò và sự cần thiết của việc thúc đẩy phát triển kinh tế t nhân ở Việt Nam hiện nay

Cuối cùng em xin chân thành cám ơn thầy giáo Trần Việt Tiến đã giúp đỡ em trong việc hoàn thành đề tài này

Trang 2

I Lý luận về phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Kinh tế tư nhân không chỉ có tiếng nói quyết định đến sức mạnh kinh tế của hầu hết các quốc gia mà còn trở thành một lực lượng kinh tế có ý nghĩa chính trị toàn cầu Phát triển khu vực kinh tế tư nhân cũng có nghĩa là bảo tồn tính đa dạng phong phú của đời sống kinh tế, xem nó như là nguồn gốc của mọi sự phát triển

Ngày nay sở hữu tư nhân đã phát triển lên một trình độ mới về chất, quy mô sở hữu của nhiều Cty ngày càng đồ sộ và nhiều Cty tạo ra lượng tài sản có giá trị lớn hơn cả GDP của một số quốc gia Cùng với quá trình phát triển kinh tế, nhân loại càng ngày càng sáng tạo ra nhiều loại hình sở hữu mới Ngoài sở hữu tài sản hữu hình, người ta không chỉ sở hữu những tài sản vô hình như các nhãn hiệu hàng hóa,

bí quyết công nghệ mà còn sở hữu cả không gian ảo trên mạng Internet và tài sản

ảo là những bit thông tin đang tràn ngập trên mạng thông tin toàn cầu

1.Sự biến đổi về chất của kinh tế tư nhân

Chúng ta đang chứng kiến một thời đại các rào cản đầu tư, thương mại hàng hóa và dịch vụ dần bị dỡ bỏ, nền kinh tế thị trường mở đang tạo điều kiện dễ dàng cho kinh tế tư nhân lớn mạnh không ngừng Trong quá trình phát triển, kinh tế tư nhân đã tồn tại dưới nhiều dạng như kinh tế cá thể, Cty và ngày nay là những Cty

đa quốc gia Sự lớn mạnh của các Cty đa quốc gia trong những năm cuối của thế

kỷ XX cho thấy kinh tế tư nhân đã có sự phát triển vượt bậc với những thay đổi về chất Các Cty đa quốc gia chính là biểu hiện của kinh tế tư nhân được quốc tế hóa,

nó trở thành lực lượng hùng mạnh nhất của kinh tế tư nhân

Trong nền kinh tế thị trường mở, quốc gia nào có nền kinh tế tư nhân tham gia nhiều nhất, đầy đủ nhất và sâu sắc nhất vào nền kinh tế toàn cầu thì quốc gia đó sẽ càng có ưu thế trong cạnh tranh Dựa trên bối cảnh và xu thế phát triển này, mỗi

Trang 3

quốc gia cần phải có chính sách phát triển kinh tế tư nhân thích hợp của mình, trong đó, phải đặc biệt chú ý đến sự hợp tác của kinh tế tư nhân trong nước với các công ty đa quốc gia cũng như trực tiếp tham gia vào các công ty đa quốc gia

2.Phương tiện hiệu quả nhất để phát triển kinh tế

là kinh tế tư nhân và kinh tế nhà nước cùng song song tồn tại trong thế giới ngày nay nhưng tại sao kinh tế tư nhân lại tỏ ra năng động hơn, có sức sống đề hơn và phát triển mạnh mẽ hơn? Câu trả lời là kinh tế tư nhân có sự tương thích rất cao với kinh tế thị trường, đặc biệt là tính chất mở cửa thị trường ngày càng tăng, sự hợp tác và cạnh tranh quốc tế đòi hỏi các thực thể kinh tế phải rất linh hoạt và tự chủ trong hoạt động kinh doanh, điều này vốn là nhược điểm của kinh tế nhà nước

Tính cạnh tranh cao của kinh tế tư nhân không phải ngẫu nhiên mà có, nó Vấn được hình thành thông qua hàng chuỗi các vụ phá sản của các Cty, đó chính là sự chọn lọc tự nhiên trong quá trình phát triển Về phương diện tình cảm xã hội, người ta thấy ái ngại và thương xót mỗi khi có một vụ phá sản nào đó nhưng kinh

tế có quy luật riêng của nó, không phụ thuộc vào tình cảm của chúng ta Kinh tế tư nhân đối mặt với những thử thách khắc nghiệt như vậy để phát triển cũng như mỗi

cá nhân chúng ta cần trải qua những gian lao, thậm chí vấp ngã để trở nên vững vàng hơn trong cuộc sống

3.Giá trị nhân văn của kinh tế tư nhân

Thực tế cho thấy kinh tế tư nhân có vai trò đắc lực tạo ra sự phát triển của xã hội, tạo cho mỗi cá nhân vô số cơ hội có việc làm để khẳng định mình, để mưu cầu cuộc sống và hạnh phúc, tức là góp phần tạo ra con người với nhiều phẩm chất tốt đẹp hơn Phát triển kinh tế, suy cho cùng không phải là mục tiêu mà chỉ là phương tiện Mục tiêu tối thượng của nhân loại là xã hội phát triển, con người phát triển

Có thể nói rằng kinh tế tư nhân là một phương tiện quan trọng để con người có cơ

Trang 4

hội hoàn thiện mình trong quá trình phát triển hướng thiện của nhân loại Con người đã sáng tạo ra và quyết định lựa chọn kinh tế tư nhân để phát triển, nhưng đồng thời kinh tế tư nhân lại là môi trường tốt để con người tự thân phát triển, con người có cơ hội tự hoàn thiện vì sự phát triển của chính nó và thông qua đó phát triển toàn xã hội Đó chính là giá trị nhân văn chân chính của kinh tế tư nhân

4.Phát triển năng lực con người

Kinh tế tư nhân có cội nguồn từ cá nhân, vì vậy phát triển kinh tế tư nhân phải dựa trên nền tảng phát triển các giá trị cá nhân, phát triển năng lực cá nhân, phát triển con người Có thể nói, không có sự phát triển năng lực cá nhân thì sẽ không có sự phát triển kinh tế tư nhân

Một trong những yếu tố cạnh tranh của một cộng đồng xã hội chính là tính đa dạng của sự sáng tạo, mà tính đa dạng của sự sáng tạo là hệ quả tất yếu của sự đa dạng của những năng lực cá nhân Sự đa dạng của năng lực cá nhân là kết quả trực tiếp của sự tôn trọng các giá trị cá nhân Như vậy, có thể nói lý thuyết phát triển kinh tế

tư nhân bắt nguồn từ lý thuyết phát triển con người

Phát triển các quyền cá nhân

Sự phát triển xã hội gắn liền với sự phát triển ngày càng phong phú các quyền cá nhân Sự phát triển của các quyền cá nhân đến lượt nó sẽ thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển mạnh mẽ

Không có các quyền cá nhân làm tiền đề thì không thể có các quyền của kinh tế tư nhân Trong thực tế, hiện nay, những hiện tượng can thiệp vào đời sống cá nhân diễn ra tràn lan ở khá nhiều quốc gia Khi chúng ta không xây dựng, không tôn trọng các quyền cá nhân, có nghĩa là các giá trị cá nhân không được pháp chế hóa, định chế hóa, hoặc chúng ta không nhận thức các quyền cá nhân như những động

Trang 5

lực của sự phỏt triển cỏ nhõn, như những khụng gian xó hội cần thiết cho một cỏ nhõn phỏt triển thỡ khụng thể phỏt triển khu vực tư nhõn lành mạnh được Chừng nào một xó hội chưa tụn trọng cỏc quyền cỏ nhõn, kốm theo đú là sở hữu cỏ nhõn thỡ xó hội đú khụng thể xõy dựng khu vực kinh tế tư nhõn một cỏch chuyờn nghiệp được

Túm lại, kinh tế tư nhõn là hỡnh thức kinh tế tự nhiờn của quỏ trỡnh phỏt triển

xó hội, tồn tại và phỏt triển ngoài ý muốn chủ quan của những nhà chớnh trị cho dự

họ đại diện cho bất kỳ lực lượng xó hội nào, hoặc nhõn danh ai, hoặc với mục đớch nhõn đạo hay cao cả đến đõu chăng nữa Chừng nào con người cũn cần đến kinh tế

tư nhõn như là một phương tiện hữu hiệu để xõy dựng và kiến tạo cuộc sống của mỡnh và đồng loại, thỡ kinh tế tư nhõn cũn tồn tại như một hành trang của con người trong tiến trỡnh đi tới tương lai

II THực trạng và giải pháp

1.Thực trạng về kinh tế t nhân trong bối cảnh hội nhập quốc tế

a Hiện trạng

Từ khi Luật Doanh Nghiệp đợc thi hành (1/1/2000 ), DNTN ở nớc ta

đã phát triển mạnh mẽ Trớc đó ,trong thời gian 10 năm chúng ta đã hình thành đợc một đội ngũ khoảng 40.000 doanh nghiệp , nhng với quyền kinh doanh rất hạn chế, bị trói buộc và kì thị nặng nề DNTN của chúng ta vẫn chỉ là một lực luợng nhỏ yếu ,bị xem nhẹ và đóng góp không đáng kể vào nền kinh tế Trong xuốt hơn một thập kỉ đầu cảI cách, kinh tế nớc ta tăng trởng chủ yếu nhờ hai động lực xuất khẩu và đầu t nớc ngoài, còn khu vực kinh tế t nhân cha trở thành động lực phát triển nh các "con rồng châu á "

và hầu hết các nớc khác

Từ năm 2000 trở lại đây ,KVKTTNTN nói chung , DNTN nói riêng ,đang phát triển mạnh ,đóng góp ngày càng lớn vào sự nghiệp phát

Trang 6

triển kinh tế –xã hội của đất nớc và đang ngày càng khẳng định vai trò

động lực của mình

Với việc thi hành Luật Doanh Nghiệp và hàng loạt các biện pháp cảI cách khác ,môI trờng kinh doanh ở nớc ta trong mấy năm gần đây đã có những cảI thiện quan trọng theo hớng mở rộng quyền tự do kinh doanh của ngời dân trên nguyên tắc doanh nghiệp và ngời dân đợc tự do kinh doanh tất cả các lĩnh vực mà luật pháp không cấm , khuyến khích ngời dân làm ăn , kinh doanh làm giàu cho mình và cho đất nớc , khuyến khích mọi doanh nghiệp tham gia các ngành xuất khẩu, chú trọng hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ… chính trong môI trờng đó KVKTTNTN và đặc biệt là DNTN

đã nhanh chóng phát triển về cả số lợng và chất lợng, đóng góp tích cực vào tăng trởng kinh tế và phát triển xã hội của đất nớc trên các mặt : tạo công ăn việc làm ,tăng vốn đầu t phát triển , mở rộng xuất khẩu , thúc đẩy tăng trởng các ngành kinh tế công nghiệp ,nông nghiệp , dịch vụ , thúc đẩy phát triển các thị trờng ,đổi mới kinh tế và hành chính …

KVKTTNTN phát triển nhanh chóng trong thời gian qua còn do tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của đất nớc, khởi đầu từ khi chúng ta đổi mới , và đặc biệt phát triển từ giữa thập kỉ 1990 , khi nớc ta lần lợt tham gia ASEAN, ASEM ,APEC và không ngừng mở rộng quan hệ song phơng với các nớc khác trên thế giới Thị trờng các nớc mở rộng dần cho các sản phẩm của Việt Nam đã tạo cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam , trong

đó có KVKTTNTN phát triển sản xuất, kinh doanh các sản phẩm của mình trên các thị trờng khu vực và quốc tế Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh thị trờng trong nớc còn hạn hẹp do tình trạng nớc nghèo ,mức thu nhập và khả năng tiêu dùng còn thấp , các DNVN rất thiếu “đầu ra “ Các quan hệ thơng mại và đầu t rộng mở cũng tạo ra DNVN cơ hội có các đối tác làm ăn, cơ hội học hỏi kinh nghiệm quản lý , tiếp thu công nghệ của họ ,tạo nguồn nhân lực cho mình và trởng thành dần qua hợp tác và cạnh tranh

Khi nớc ta tham gia WTO các cơ hội này lại càng mở rộng , những rào cản sẽ đuợc dỡ bỏ , các DNVN sẽ có vị trí bình đẳng không bị phân biệt

đối sử trên thị trờng các nớc Họ sẽ có quyền không chỉ xuất nhập khẩu , tiếp nhận đầu t, mà còn mở rộng nhiều phơng thức hợp tác khác và đầu t ra các

Trang 7

thị trờng nớc ngoài , khai thác tối đa những lợi thế cạnh tranh của mình và vận dụng s phân công lao động quốc tế , tham gia mạng lới kinh doanh và chuỗi giá trị toàn cầu theo cách có lợi nhất cho mình Tham gia WTO cũng thúc đẩy nớc ta cải thiện mạnh mẽ môI trờng pháp lý , chính sách cho linh doanh , tạo thuận lợi cho cạnh tranh và phát triển của mọi doanh nghiệp

Hai thỏng qua, tốc độ tăng trưởng của khu vực kinh tế tư nhõn tại Việt Nam lờn tới 32,4% Theo bỏo cỏo mới nhất của Tổng cục Thống kờ (GSO) cho hay, tăng trưởng 2 thỏng đầu năm của kinh tế quốc doanh, kinh tế tư nhõn

và kinh tế cú vốn đầu tư nước ngoài của CSVN lần lượt là 17%, 32,4% và 3,1% Điều này chứng tỏ khu vực kinh tế tư nhõn phỏt triển nhanh, mạnh vượt trội hơn khu vực kinh tế nhà nước

Kinh nghiệm lịch sử cho thấy, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao thường nhờ vào những nỗ lực cải tiến cụng nghệ, tăng năng suất, thõm nhập thị trường, đặc biệt là thị trường quốc tế của thành phần ngoài quốc doanh Chẳng hạn tại chõu Á, từ hàng trăm năm trước, Nhật Bản đó sớm ý thức được tiềm năng của khu vực tư nhõn và đẩy mạnh phỏt triển thành phần kinh tế này Nay, Nhật Bản đó đứng thứ hai trờn thế giới về quy mụ kinh tế (chiếm khoảng 18% GDP toàn cầu, sau mức 25% của Mỹ)

Đối với Việt Nam, khu vực tư nhõn phỏt triển sẽ tạo đà cho quỏ trỡnh

cổ phần húa doanh nghiệp nhà nước diễn ra sõu, rộng và nhanh hơn Kốm theo đú sẽ là sự khởi sắc của thị trường chứng khoỏn, thị trường trỏi phiếu cụng ty Mụi trường kinh doanh sụi động hơn cũng tạo đà cho việc hấp dẫn luồng vốn FDI nhiều hơn Hiện tại, ở chõu Á, theo đỏnh giỏ của Ngõn hàng Hợp tỏc quốc tế Nhật Bản (JBIC), sức hấp dẫn FDI của Việt Nam chỉ kộm Trung Quốc

b.Nhận xét về thực trạng

Trang 8

*Th nh tành t ựu

Số liệu thống kờ của những năm gần đõy (giai đoạn 2000-2005) cho thấy đúng gúp vào sự tăng trưởng GDP của khu vực ngoài Nhà nước (chủ yếu là kinh

tế tư nhõn) luụn vượt trội Nếu năm 1995 đúng gúp vào GDP 122.487 tỷ đồng (chiếm 54% GDP cả nước) thỡ năm 2005 là 382.743 tỷ đồng, tăng 212,47% sau 10 năm phỏt triển, tăng bỡnh quõn mỗi năm 21,24% Giỏ trị sản xuất cụng nghiệp năm 1996 là 35.682,2 tỷ đồng (chiếm 24% cả nước) thỡ năm 2004 đạt 234.242,8 tỷ đồng (chiếm 29% cả nước) tăng 556% Đầu tư từ nguồn vốn ngoài nhà nước liờn tục tăng ở cỏc năm từ 1995 là 20.000 tỷ đồng chiếm 28% đầu tư cả nước thỡ số liệu nay năm 2005 là 107.500 tỷ đồng và 32% Nếu tớnh cả đầu tư ngoài nhà nước của vốn đầu tư nước ngoài thỡ số liệu này là 160.000 tỷ đồng và 48% Đặc biệt, trong lĩnh vực xó hội là giải quyết việc làm, khu vực ngoài nhà nước hoạt động rất hiệu quả Theo số liệu thống kờ năm 2005 thỡ khu vực ngoài nhà nước giải quyết

88,8% lao động toàn xó hội, trong khi tổng vốn đầu tư chiếm 32% (Niờn giỏm Thống kờ năm 2006)

* Thách thức :

Một là,bản thân KVKTTNTN và các DNTN của nớc ta nhìn chung còn nhỏ,yếu.mới hình thành , rất thiếu cacs nguồn lực cần thiết cũng nh thiếu sự liên kết để nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển

Trong DNTN của chúng ta có tới 95% thuộc quy mô nhỏ và vừa trong đó

có khoảng 50% thuộc quy mô nhỏ hoặc cực nhỏ CáI yếu của DNTN ở nớc

ta thể hiện rõ nhất ở năng xuất lao động , hiệu quả kinh doanh và các năng lực cạnh tranh nhìn chung còn thấp so với các doanh nghiệp đầu t nứoc ngoài (FDI) và doanh nghiệp các nớc xung quanh Họ cũng yếu hơn phần lớn các doanh nghiệp nhà nớc (DNNN) trong cùng lĩnh vực về quy mô về khả năng tiếp cận các nguồn lực và kinh nghiệm thơng trờng Do nhỏ, yếu, trên thị ờng trong nớc và quốc tế , vừa dễ bị tổn thơng trớc những biến động thị tr-ờng Hơn 80% DNTN ở nớc ta mới ra đời sau khi Luật Doanh Nghiệp 1999

Trang 9

đợc thi hành nên họ rất thiếu kinh nghiệm thơng trờng , cha đủ thời gian để trởng thành , trong khi đã phảI đối phó với áp lực cạnh tranh ngày càng mạnh

Hầu hết các DNTN ở nớc ta đều thiếu những nguồn lực cơ bản cần thiết cho họ :nguồn vốn, đất đai ,công nghệ ,kĩ năng quản lý , nhân lực có chất l-ợng ,thị truờng ,thông tin … Và cả mối quan hệ với các đối tác quan trọng Bản thân họ không thể có đủ nguồn lực , lại gặp khó khăn rất lớn trong việc tiếp cận với các nguồn lực có sẵn ở bên ngoài doanh nghiệp ,kể cả những nguồn lực đợc nhà nớc cam kết hỗ trợ , u đãI hoặc giành quyền bình đẳng khi tiếp cận Tình trạng thiếu nguồn lực của DNTN bị kéo dài đã hạn chế rất lớn sự phát triển của họ Tuy trong thời gian qua , DNTN đạt tốc độ phát triển nhanh trên một số lĩnh vực , nhng điều đó cũng do điểm xuất phát của

họ rất thấp Nếu tính tới hàm lợng tăng trởng , DNTN khó sánh đợc với DNNN ,còn tính cả về hàm lợng và chất lợng , họ khó sánh đựơc với FDI, nhất là trong phát triển công nghiệp và các lĩnh vực đòi hỏi nguồn vốn lớn Do vậy , DNTN vừa khó cạnh tranh vừa khó là đối tác bình đẳng với DNNN ,FDI và doanh nghiệp các nứoc khác Cho tới nay số DNTN trởng thành ,đạt quy mô kinh tế hiệu quả còn chiếm tỉ lệ rất thấp trong DNTN ở

n-ớc ta Ngay trong số DNTN đã trởng thành cũng không ít doanh nghiệp đang lúng tong về chiến lợc và nguồn lực để tiếp tục phát triển trong thời gian tới

DNTN cũng cha thiết lập đợc sự liên kết giữa các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế với nhau trong từng ngành , giữa các ngành liên quan ,hoặc trong tong vùng để tạo thế mạnh của tính hệ thống và hiệu quả của sự phối hợp.Từng DNTN mới chỉ dựa vào sức mình là chính cha khai thác ,sử dụng đợc sức manh của sự liên kết vốn rất cần thiết , nhất là đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa Thực tế đây cũng là vấn đề chng của các doanh nghiệp Việt Nam , với những mạng lới kinh doanh cha đợc hình thành

đầy đủ , thiếu những doanh nghiệp thật mạnh có khả năng làm trụ cột ,đầu

đàn tạo sự liên kết ,hợp tác vững chắc để nhân thêm sức mạnh trong cạnh tranh quốc tế

Hai là , môI trờng kinh doanh trong nớc còn nhiều khó khăn và thiếu bình

đẳng Tình trạng này kéo dài đã lâu nhng chẳng đợc khắc phục ,khiến cho môI trờng kinh doanh luôn là thách thức lớn nằm ngoài khả năng kiểm soát

Trang 10

của doanh nghiệp Trong môI trờng kinh doanh ở nớc ta hiện nay ,trở ngại lớn nhất của KVKTTNTN và DNTN là ở năm mặt sau :

+Việc gia nhập thị trờng tuy là đợc cảI thiện nhiều ra Luật Doanh Nghiệp nhng vẫn còn đòi hỏi chi phí cao về tiền của và thời gian Do vậy ,vẫn còn có khó khăn cho nhiều ngời ,nhiều vùng khi muốn lập thêm doanh nghiệp mới Hiện nay ngoài khâu đăng kí kinh doanh là nhanh chóng và ít tốn kém nhất , các doanh nghiệp mới ra đời còn phảI qua ba khâu (khắc dấu ,đăng kí mã số thuế ,mua hoá đơn ) trớc khi có thể bắt đầu hoạt động , với tổng thời gian

50-60 ngày và chi phí khoảng 3-5 triệu đồng ,tơng đơng với 49% thu nhập bình quân đầu ngời trong một năm ở nứoc ta Ngoài ra quyền kinh doanh của DNTN trong một số lĩnh vực còn bị hạn chế ,hoặc do các quy định về điều kiện kinh doanh hoặc do quy hoạch ngành ,vùng ở một số nơI ,hoặc do các rào cản thực tế khác

+Còn những rào cản lớn về pháp lý và hành chính trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp Hệ thống luật pháp và chính sách của nớc ta còn những nhợc điểm : thiếu minh bạch ,thiếu nhất quán ,thiếu ổn định ,khó tiên liệu ;tổ chức thực thi lại kém.Hệ thống hành chính của ta kém hiệu quả,với tình trạng can thiệp hành chính vào hoạt động của doanh nghiệp phổ biến và kéo dài Sự yếu kém nhũng nhiễu của không ít các công chức đãlàm vô hiệu hoá những chính sách tốt và cam kết cảI cách của nhà nớc Nhiều vớng mắc của doanh nghiệp trong lĩnh vực thanh tra , kiểm tra ,thuế, phí ,hảI quan ,đất đai kéo dài đã lâu nh

… ng rất chậm đợc giảI quyết Đó là những vấn đề chung của mọi loại hình doanh nghiệp ở nớc ta ,nhng đối với DNTN , những vấn đề này còn nặng nề hơn do sự phân biệt đối xử vẫn tồn tại trên thực tế

+ Tiếp cận các nguồn lực rất khó khăn và tốn kém Nh đã nêu trên ,doanh nghiệp t nhân rất khó tiếp cận với các nguồn lực cần thiết , họ phảI trả giá rất cao để tiếp cận với các nguồn lực đó Trong khi đó ,các doanh nghiệp nhà

n-ớc và doanh nghiệp có vốn đầu t nn-ớc ngoài lại đợc tiếp cận dễ dàng hơn , với những điều kiện u đãI và chi phí thấp hơn nhiều Thực tế này gây lên sự bất bình đẳng lớn cho DNTN làm cho họ mất đI nhiều cơ hội thị trờng , tăng rủi

ro và giảm đáng kể khả năng đầu t của họ

Ngày đăng: 10/04/2013, 11:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w