1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích tình hình lãi suất 2011 và dự báo 2012

14 184 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 129,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Còn trong nền kinh tế thị trường thì vai trò của lãi suất đã có sự thay đổi, lãi suất trong nền kinh tế thị trường đã được khẳng định là giá cả để vay mượn hoặc thuê những dịch vụ tiền c

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

TIỂU LUẬN

MÔN: LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH

ĐỀ TÀI: Phân tich tình hình lãi suất 2011 và dự báo 2012

Nhóm :

1 Phạm Phương Thảo: 1001030331

2 Phạm Thị Quỳnh Trang: 1001030380

Trang 2

Lời nói đầu

Lãi suất - một biến số quan trọng được theo dõi chặt chẽ trong nền kinh

tế Và lãi suất còn trực tiếp tác động đến nhiều mối quan hệ trong nền kinh tế liên quan trực tiếp đến các lợi ích vật chất trong xã hội Do đó, nó cũng đồng thời tác động đến đời sống của con người Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, vai trò của lãi suất đã bị xem nhẹ và còn được hiểu như sự phân chia cuối cùng của sản xuất và người sản xuất, hay người đầu tư về vốn và người cho vay Còn trong nền kinh tế thị trường thì vai trò của lãi suất đã có sự thay đổi, lãi suất trong nền kinh tế thị trường đã được khẳng định là giá cả để vay mượn hoặc thuê những dịch vụ tiền có liên quan đến việc tạo ra tín dụng, do đó người

ta có thể coi lãi suất là giá cả của thị trường

Đối với nền kinh tế Việt Nam từ khi chuyển mình từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng

xã hội chủ nghĩa, lãi suất trở thành công cụ quản lý vĩ mô của nhà nước Lãi suất đã góp phần kiềm chế lạm phát cũng như kích thích tăng trưởng và phát triển kinh tế trong công cuộc đổi mới của đất nước Thực tiễn đã cho thấy, do những chính sách không phù hợp, mặc cho nền kinh tế Việt Nam có tăng trưởng nhưng vẫn đi vào ngõ cụt và không có cách nào vực lên được Thực tiễn cũng

đã chứng minh với chính sách đúng đắn về lãi suất đã giải quyết được vấn đề về lạm phát từ những năm cuối thập niên 1980 từ lạm phát 3 con số xuống còn 2

số ; riêng năm 1993 tỉ lệ lạm phát chỉ còn một chữ số mức thấp nhất trong lịch

sử điều tiết lãi suất còn ở Việt Nam

Chính vì những lí do trên, nhóm em quyết định lựa chọn đề tài: “Phân

tích lãi suất 2011, dự báo 2012” làm đề tài của tiểu luận Bài tiểu luận chắc còn

nhiều thiếu sót, chúng em rất mong nhận được sự góp ý của cô giáo để bài viết hoàn chỉnh hơn

Trang 3

Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về lãi suất

1.1 Lãi suất là gì?

Lãi suất được hiểu theo nghĩa chung nhất là giá cả của tín dụng, tức là giá cả của quyền sử dụng một đơn vị vốn vay trong một khoảng thời gian nhất định như ngày, tuần, tháng hay năm Đây là một loại giá cả đặc biệt, được hình thành trên cơ sở giá trị sử dụng chứ không phải trên cơ sở giá trị

Diễn biến của lãi suất ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống hàng ngày của mỗi chủ thể kinh tế, tác động đến những quyết định của cá nhân như chi tiêu hay để dành, mua nhà, mua trái phiếu hay gửi tiết kiệm lãi suất cũng tác động đến những quyết định kinh tế của các doanh nghiệp như dùng tiền để đầu tư mua thiết bị mới hay gửi tiền vào ngân hàng lấy lãi Do đó lãi suất là một trong những biến số được theo dõi chặt chẽ nhất trong nền kinh tế và diễn biến của nó được đưa tin hầu như hàng ngày trên các phương tiện thông tin đại chúng

1.2 Vai trò của lãi suất trong nền kinh tế

Dưới góc độ điều hành kinh tế của Chính Phủ, lãi suất là công cụ chủ yếu của chính sách tiền tệ của mỗi quốc gia do ngân hàng trung ương thực thi chính sách tài chính tiền tệ nhằm điều chỉnh và can thiệp vào thị trường, khắc phục những yếu kém của nền kinh tế

Ngoài ra, để sử dụng lãi suất tác động hiệu quả đến nền kinh tế chúng ta cần chuyển

từ công cụ hành chánh thời kinh tế kế hoạch sang công cụ đòn bảy của nền kinh tế thị trường, tức là tôn trọng mối quan hệ cung cầu vận động vốn theo quy luật cung cầu; trong đó xem lãi suất được hình thành như là chi phí mà người đi vay phải trả cho người cho vay để được quyền sử dụng vốn trên cơ sở cân bằng giữa nhu cầu về vốn và cung về vốn trên thi trường Do vậy lãi suất còn được xem là một tín hiệu thị trường tham gia vào việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và phân bổ nguồn vốn một cách hợp lý

Như vậy việc điều hành lãi suất của NHTW cần kết hợp hài hòa giửa chính sách kinh tế của Chính Phủ với thực tiển quan hệ cung - cầu vốn của thị trường Để làm được điều này, cần phải xây dựng và kết hợp mối quan hệ giữa hệ thống lãi suất của NHTW như lãi suất liên bang ngân hàng, lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất thị trường mở, lãi suất tín dụng nhà nước với hệ thống lãi suất NH thương mại như lãi suất tiền gửi, lãi suất tín dụng thương mại, tín dụng doanh nghiệp, tín dụng tiêu dùng cá nhân

1.3 Mối quan hệ giữa lãi suất và các biến số kinh tế vĩ mô

1.3.1 Lãi suất và đầu tư lãi suất phản ánh chi phí vốn để tài trợ cho đầu tư nên việc

tăng lãi suất sẽ làm giảm số lượng đầu tư dự án có lãi Nói theo cách khách thì nhu cầu về đầu tư giảm do tỷ lệ nghịch với lãi suất

Trang 4

Trong quý 1/2010 lãi suất cho vay của NHTM Việt Nam quá cao từ 16 - 18%/năm, điều này khiến các doanh nghiệp hạn chế đầu tư, dẫn đến mức tăng tín dụng trong quý 1 rất thấp Để thúc đẩy kinh tế, Chính Phủ đang tập trung chỉ đạo các giải pháp kéo lãi suất cho vay xuống Tuy nhiên cũng cần lưu ý việc giảm lãi suất để thúc đẩy đầu tư cũng có hậu quả trong nền kinh tế Sau khi thị trường chứng khoán Mỹ sup sụp vào tháng 3-2000, chính phủ Mỹ đã quyết định giảm lãi suất để vượt qua thời

kỳ suy sụp này Nhưng, việc giảm lãi suất thấp quá lâu từ 2001 - 2007 đã dẫn tới sự hình thành bong bóng thị trường nhà đất, nguyên nhân quan trọng gây ra khủng hoảng tài chính toàn cầu

1.3.2 Lãi suất với tiêu dùng và tiết kiệm

Khi lãi suất tăng làm gia tăng mức độ tiết kiệm Do vậy tiết kiệm là một hàm phụ thuộc vào lãi suất: S = S ( r )

Trước thực tế khó huy động tiền gửi hiện nay, nhiều ngân hàng đã đề nghị bỏ trần lãi suất huy động vốn đang áp dụng mức 10,5%/ năm Điều hày cũng cho thấy thực tiển của kinh tế thị trường đòi hỏi một chính sách linh động hơn về lãi suất

1.3.3 Lãi suất và lạm phát Fisher

Lãi suất tăng cao trong thời kỳ lạm phát cao Lãi suất là một giải pháp công hiệu khá hiệu quả để kiềm chế lạm phát Tại Việt Nam trước nguy cơ lạm phát cao trong năm 2010, Wordbank và IMF đều cho rằng Chính Phủ cần duy trì lãi suất cao để kiềm chế lạm phát Tuy nhiên tăng lãi suất cũng có nguy cơ lớn làm sụp đổ nền kinh tế Hai cuộc khủng hoảng của Mỹ giai đoạn 1929 và 2008 đều do tăng lãi suất quá mạnh

1.3.4 Lãi suất và tỷ giá

Trong điều kiện nền kinh tế mở, với nguồn vốn được tự do vận động, nếu lãi suất trong nước tăng lên, nguồn vốn nước ngoài sẽ đổ vào đẩy cầu nội tệ lên cao, với

Trang 5

mức cung tiền nhất định sẽ làm cho tỷ giá tăng lên ảnh hưởng đến hoạt động ngoại thương quốc gia Ngược lại khi lãi suất giảm xuống, vốn trong nước sẽ ra đi làm cho cầu ngoại tệ tăng đẩy tỷ giá xuống

Chương 2: Phân tích lãi suất 2011

2.1 Tình hình kinh tế vĩ mô 2011

Kinh tế Việt Nam trong năm 2011 với nhiều thách thức lớn với lạm phát tăng cao, tăng trưởng thấp, đầu tư trong nước giảm do thắt chặt tiền tệ và đầu tư công giảm, đầu tư nước ngoài chững lại do tình hình kinh tế thế giới có nhiều biến động

Một số chỉ tiêu chủ yếu năm 2011( tăng/giảm) so với năm 2010(%)

Tốc độ tăng Tổng sản phẩm trong nước +5,89

Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng +24,2

Vốn đầu tư ngân sách nhà nước thực hiện so với kế hoạch năm101,8

Chỉ số giá tiêu dùng bình quân năm 2011 so với năm 2010 +18,85

Trong suốt những tháng đầu năm 2011, lạm phát liên tục tăng do nhiều nguyên nhân khác nhau như tác động trễ của giai đoạn thực hiện chính sách tiền tệ

mở rộng trước đó, sự leo thang của giá vàng và một số mặt hàng nhạy cảm cộng với chịu sức ép lạm phát chung của thế giới Tuy nhiên, càng về những tháng cuối năm, sức ép lạm phát tiền tệ đã ngày càng giảm dần do Chính phủ và các cơ quan chức năng đã có những biện pháp can thiệp như: tiếp tục duy trì nhất quán chính sách tài chính - tiền tệ thắt chặt và các biện pháp quản lý kinh tế vĩ mô hiệu quả như hạn chế khá nghiêm ngặt mức tăng trưởng tín dụng, giữ tổng phương tiện thanh toán khoảng 12%, hạn chế cho vay phi sản xuất và tiêu dùng; tăng thu ngân sách, tiết kiệm chi tiêu, thu hẹp và cắt giảm đầu tư công, giảm bội chi ngân sách nhà nước còn dưới 5%; tăng cường kiểm soát tình trạng buôn bán vàng miếng và ngoại tệ không có giấy phép Bên cạnh đó, Chính phủ cũng đã xem xét miễn, giảm thuế, gia hạn thời gian nộp thuế nguyên liệu đầu vào nhập khẩu phục vụ sản xuất xuất khẩu đối với những ngành hàng trong nước còn thiếu nguyên liệu (như dệt may, da giầy, thủy sản, hạt điều, gỗ, dược phẩm, ); tiếp tục tạm hoàn thuế giá trị gia tăng đầu vào đối với hàng hóa thực xuất khẩu trong năm 2011

Bên cạnh những mặt tích cực, bức tranh kinh tế Việt Nam vẫn còn tồn tại những mảng tối Hiện tại, tổng dư nợ của hệ thống tín dụng Việt Nam đang bằng khoảng 1,2 lần GDP Việt Nam (so với mức trung bình thế giới khoảng 0,6 - 0,7 lần GDP); hiệu quả của vốn đầu tư cũng đang giảm thấp đến mức báo động (ICOR của Việt Nam gần gấp đôi so sánh với các nước trong khu vực) Tín dụng tăng vọt, nhưng nền kinh tế vẫn thiếu vốn, do ngân hàng vẫn là kênh chủ yếu cấp vốn cho nền kinh tế (theo điều tra của Bộ KH & ĐT, 70% doanh nghiệp còn dựa chủ yếu vào các nguồn vốn vay và có tới 1/3 doanh nghiệp vừa và nhỏ không thể tiếp cận

Trang 6

nguồn vốn vay nên đầu tư và kinh doanh cầm chừng và 1/3 tuy có tiếp cận được nhưng gặp khó khăn) Tỉ lệ nợ công Việt Nam tuy vẫn được coi là nằm trong tầm kiểm soát nhưng đã trở nên cao hơn hẳn so với tỉ lệ phổ biến 30% - 40% ở các nền kinh tế đang phát triển và mới nổi khác Nợ công tăng nhanh trong bối cảnh thâm hụt ngân sách cao và kéo dài đã đe dọa tính bền vững của quản lí nợ công (năm

2011 Việt Nam bố trí 85.000 tỷ đồng để trả nợ so với 590.000 tỷ đồng thu ngân sách, tương đương gần 15%) và gây áp lực lên lạm phát, đây cũng là nguyên nhân chính khiến xếp hạng tín nhiệm quốc gia của Việt Nam đều bị các cơ quan xếp hạng tín dụng hạ thấp Trong năm cũng đã chứng kiến sự giảm sâu và trầm lắng kéo dài của cả thị trường bất động sản lẫn TTCK; ngược với sự nóng bỏng đến phi lý của thị trường vàng với những đỉnh cao kỷ lục cả về giá bán, lẫn chênh lệch giá trong nước với nước ngoài Sự bất ổn thị trường (bao hàm cả về quy mô, khả năng cân đối cung - cầu và mức giá cả hợp lý…) không chỉ phản ánh động thái chung thị trường thế giới, mà còn liên quan đến tính độc quyền cao, kéo dài của một số nhà cung ứng gây nhiễu và tạo sóng của giới đầu tư có tính đầu cơ; cũng như liên quan đến xu hướng gia tăng tự do hóa thị trường cho đầu tư tư nhân nước ngoài đối với các lĩnh vực mà Việt Nam đã cam kết, trong đó có hệ thống bán lẻ và thu mua, chế biến xuất khẩu…

2.2 Diễn biến chính sách lãi suất Việt Nam 2011

Thời gian qua diễn biến lãi suất trên thị trường tiền tệ tiếp tục thu hút sự quan tâm lớn của dư luận nói chung, của người vay vốn, doanh nghiệp nói riêng Hầu hết các Ngân hàng Thương mại (NHTM) đã huy động vốn vượt trần lãi suất huy động theo quy định của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), lãi suất cho vay lên tới 24% - 25%/năm, người sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp không có khả năng chịu đựng được mức lãi suất đó Vậy, nguyên nhân của tình trạng đó là gì và giải bài toán đó như thế nào trong điều kiện hiện nay để thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 11 của Chính phủ

Theo quy định, trần lãi suất huy động của NHNN là không quá 14%/năm đối với nội tệ, song lãi suất thực trả cho người gửi tiền lên tới 17-20%/năm nhưng vốn vẫn khó huy động Số liệu NHNN đã công bố rộng rãi cho thấy, tính đến cuối tháng 5-2011, tổng nguồn vốn huy động của hệ thống NHTM, tổ chức tín dụng (TCTD) trong cả nước tăng có 1,48% so với cuối năm 2010 Đây là mức tăng thấp nhất trong so với cùng kỳ nhiều năm gầy đây Đáng chú ý là lãi suất huy động vốn, thu hút tiền gửi của các NHTM tăng lên tới 18 – 20%/năm, cao nhất trong nhiều năm qua, tương đương mức lãi suất cuối năm 2008, nhưng vẫn không thu hút được tiền gửi vào hệ thống ngân hàng Điều này cũng chứng tỏ lý thuyết truyền thống tăng cao lãi suất để thu hút bớt tiền từ lưu thông về ngân hàng không phải lúc nào cũng đạt được hiệu quả và không phù hợp trong điều kiện hiện nay ở nước ta Đặc biệt là vốn huy động nội tệ lại giảm tới 2,75%, mặc dù lãi suất huy động vốn tăng rất cao, còn vốn huy động ngoại tệ tăng 18,84% Điều này cho thấy những tháng đầu năm

2011, với lo ngại đồng tiền Việt Nam mất giá, lạm phát tăng cao, trong khi đó lãi suất tiền gửi ngoại tệ lên tới 5,0 – 5,5%/năm, nên người dân đã lựa chọn USD để gửi ngân hàng thương mại Trong đó có một lượng đáng kể ngoại tệ từ nước ngoài

Trang 7

chuyển về nước dưới dạng kiều hối để gửi tiết kiệm vì lãi suất tiền gửi USD cao hơn nhiều so với lãi suất tại Mỹ và nhiều nước khác trên thế giới Đây là xu hướng tích cực nhìn từ góc độ Việt Nam thiếu vốn, phải đi vay vốn nước ngoài, thì nguồn vốn từ kiều hối chuyển về gửi các NHTM trong nước bổ sung nguồn vốn để cho vay là khá quan trọng Từ giữa tháng 4-2011, lãi suất tiền gửi USD của dân cư theo quy định của NHNN giảm xuống tối đa chỉ còn 3%/năm, nhưng với số tiền USD gửi trước đó được giữ nguyên lãi suất thời điểm gửi và người dân không rút ra, còn lượng tiền gửi USD mới không sụt giảm, làm cho tiền gửi USD trong hệ thống NHTM vẫn tăng cao, mặc dù tiền gửi USD của doanh nghiệp biến động

Về cơ cấu tiền gửi theo đối tượng khách hàng, tiền gửi dân cư tăng 11,84%; trong đó tiền gửi nội tệ về số tuyệt đối tăng 107.300 tỉ đồng, tương ứng với mức tăng 11,39% và tiền gửi ngoại tệ tăng 8,63% Riêng về tiền gửi nội tệ phải khẳng định rằng số tuyệt đối tăng có cấu phần quan trọng là do lãi suất cao Bởi vì với lãi suất tiền gửi bình quân 1,5%/tháng, khách hàng thường gửi kỳ hạn ngắn, gửi 1 tuần,

2 tuần, 1 tháng,… tiền lãi lĩnh sau mỗi kỳ gửi ngắn lại được bổ sung, tăng tích luỹ vào gốc thì riêng yếu tố lãi suất đã làm lượng tiền gửi trong 5 tháng đầu năm tăng thêm khoảng 7-8% Do đó số tiền gửi tăng thêm thực tế chỉ vào khoảng 3-4%, đây

là mức tăng rất thấp

Tiền gửi của các Tổ chức nói chung, của các doanh nghiệp nói riêng giảm đáng kể Nguyên nhân chủ yếu là các doanh nghiệp rút tiền ra để đầu tư kinh doanh Mặt khác, công nợ giữa các doanh nghiệp tăng lên, nhiều doanh nghiệp chiếm dụng vốn lẫn nhau bởi nhiều doanh nghiệp không vay được vốn ngân hàng thương mại, hoặc lãi suất vốn vay quá cao, nên không dám vay, tình trạng đó cũng làm cho tiền gửi của doanh nghiệp tại NHTM giảm

Tính chung đến hết tháng 5-2011, dư nợ cho vay của hệ thống ngân hang đối với nền kinh tế ước tính tăng khoảng trên 5%, trong khi đó số dư vốn huy động lại chỉ tăng có 1,48%, chỉ bằng dưới 1/3 so với mức tăng dư nợ cho vay Đây là nguyên nhân lớn nhất làm cho lãi suất huy động vốn nội tệ tiếp tục ở mức cao, thị trường khan hiếm vốn

Được biết đến cuối tháng 5-2011 có 14 NHTM có mức tăng trưởng tín dụng vượt 20%; trong đó có một số NHTM tăng dư nợ cho vay lên tới 24 – 26%, so với mức

dư nợ đến cuối năm 2011 không được tăng quá 20% theo Nghị quyết số 11 của Chính phủ

Một điểm đáng chú ý nữa là thời điểm đầu tháng 3-2011 có 18 NHTM có dư

nợ cho vay phi sản xuất lên tới trên 25% và 24 NHTM có tỷ trọng trên 26% Theo quy định của NHNN, đến ngày 30-6-2011 các NHTM phải giảm tỷ trọng dư nợ cho vay phi sản xuất xuống còn 22% tổng dư nợ Trong bối cảnh thị trường bất động sản trì trệ, bên cạnh đó số đông các khoản đã cho vay chưa đến hạn, thời hạn cho vay ghi rõ trong hợp đồng tín dụng, bởi vì NHTM không dễ gì thu nợ trước hạn được của khách hàng để giảm dư nợ cho vay phi sản xuất Một giải pháp khác là NHTM phải tăng tổng dư nợ sẽ làm cho tỷ trọng dư nợ phi sản xuất giảm xuống Nhưng mới đây NHNN có văn bản nói rõ việc bảo đảm mức tăng tín dụng không quá 20% duy trì trong suốt cả năm 2011 nên không dễ gì tăng được tổng dư nợ Do

Trang 8

đó NHNN cần linh hoạt lùi thời hạn quy định tỷ lệ dư nợ cho vay phi sản xuất thay

vì mốc 30-6-2011, nên lùi sang thời điểm 30-9-2011 hoặc kéo dài hơn để bảo đảm tính khả thi, tháo gỡ khó khăn cho NHTM trong bối cảnh hiện nay

Nguyên nhân quan trọng thứ hai đó là NHNN tiếp tục phát đi thông điệp ưu tiên mục tiêu kiềm chế lạm phát, tiếp tục thu hút tiền từ lưu thông về Trong khoảng thời gian cuối tháng 4 và đầu tháng 5-2011, thông qua mua thêm 1 tỉ USD bổ sung quỹ

dự trữ ngoại hối quốc gia, về mặt lý thuyết Ngân hàng Nhà nước đã cung ứng thêm

ra lưu thông 20.600 tỉ đồng Trong suốt 1 tháng, kể từ cuối tháng 4 đến 20-5-2011 NHNN đã thu hút ròng gần 40.000 tỉ đồng trên thị trường mở Tiếp đó trong tuần từ

23 đến 27-5-2011, NHNN tiếp tục thu hút ròng thêm trên 17.000 tỷ đồng về Như vậy, về mặt lý thuyết, đã có một khối lượng tiền trong lưu thông được thu hút về NHNN

Nghị quyết 11 của Chính phủ về ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát và bảo đảm an sinh xã hội đã xác định rất rõ là chính sách tài khóa thắt chặt và điều hành chính sách tiền tệ phải chặt chẽ, thận trọng để bảo đảm công ăn việc làm và duy trì tăng trưởng của nền kinh tế ở mức hợp lý 6-6,5%/năm Nhưng trong thực tế điều hành chính sách tiền tệ như đã đề cập ở trên lại theo hướng thắt chặt, được sử dụng khá nhiều biện pháp và nghiệp vụ: thường xuyên tăng tất cả các loại lãi suất chủ đạo của NHNN, khống chế hạn mức tăng trưởng tín dụng không quá 20% và tổng phương tiện thanh toán không quá 16%, khống chế tỷ lệ cho vay phi sản xuất, quy định tỷ lệ vốn huy động được sử dụng cho vay, thu hút tiền từ lưu thông về, nhưng lạm phát vẫn rất cao, đành rằng chính sách đã có độ trễ, nhưng thắt chặt tiền tệ được bắt đầu thực hiện từ ngày 1-11-2010 đến nay đã là hơn 7 tháng Như vậy một lần nữa lại khẳng định, lạm phát không phải chủ yếu và duy nhất từ yếu tố tiền tệ, mà từ giá cả thị trường thế giới, do thiên tai, do tỷ giá, do chi phí sản xuất lương thực, thực phẩm tăng cao, Bởi vậy để kiềm chế lạm phát có hiệu quả không chỉ trông chờ vào thắt chặt tiền tệ, không chỉ giảm cầu mà còn phải tăng cung, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển, đặc biệt là tăng cung lương thực - thực phẩm ra thị trường Việc NHNN tiếp tục thu hút bớt tiền từ lưu thông về sẽ làm cho thanh khoản của nhiều NHTM thêm khó khăn, lãi suất không thể hạ được, lãi suất cho vay lên quá cao, sản xuất kinh doanh gặp khó khăn

Nền kinh tế tăng trưởng được ví như cơ thể một người mới lớn đang phát triển, có nhu cầu hợp lý về vốn với lãi suất phù hợp để sản xuất thêm nhiều hàng hóa, dịch

vụ, cung ứng cho thị trường trong nước và xuất khẩu Vì vậy, về nguyên tắc cần bổ sung máu cho cơ thể, hay đáp ứng nhu cầu hợp lý khối lượng tiền trong lưu thông

để cơ thể hoạt động nhịp nhàng, để nền kinh tế vận hành hiệu quả Năm 2011 kinh

tế dự kiến tăng trưởng trên 6%, dự kiến tiền trong lưu thông tăng thêm 16% Con số 16% cũng được xem là thắt chặt vì nhiều năm qua, chỉ tiêu này lên đến 25-30% Thế nhưng trong 5 tháng đầu năm 2011, Ngân hàng Nhà nước mới chỉ bơm thêm 0,98%, tổng phương tiện thanh toán tăng khoảng 1,5%, dẫn đến một cơ thể lớn nhưng bị thiếu máu, nền kinh tế thiếu tính thanh khoản, lãi suất huy động bị đẩy lên cao nhưng vốn vẫn không huy động được

Trang 9

Tình trạng thiếu máu, thiếu thanh khoản, thiếu vốn trầm trọng hơn khi giá cả trên thị trường xã hội tăng cao Trong 5 tháng đầu năm 2011, chỉ số giá tiêu dùng tăng 12,07%, kinh tế tăng trưởng 5,43%, vì vậy cần phải có thêm tiền trong lưu thông thì hoạt động của nền kinh tế mới không bị ảnh hưởng Giả sử rằng ở thời điểm này, Ngân hàng Nhà nước có sử dụng hết chỉ tiêu tăng lượng tiền trong lưu thông của cả năm 2011 thì cũng chỉ đủ bù đắp cho mức tăng của giá cả và tăng trưởng kinh tế Tiền gửi của doanh nghiệp giảm, doanh nghiệp rút ra để sử dụng, vốn của doanh nghiệp bị chiếm dụng lẫn nhau, dư nợ cho vay tăng thấp nhất so với cùng kỳ nhiều năm, thị trường bất động sản trì trệ làm cho vòng quay vốn trong nền kinh tế chậm lại, tiền luân chuyển qua kênh ngân hàng giảm, hệ số nhân tiền cũng giảm đi, càng tác động đến thanh khoản của nền kinh tế Vì vậy đòi hỏi NHNN, với vai trò là ngân hàng Trung ương, ngân hàng của các ngân hàng linh hoạt trong vấn đề này thì mới tháo được nút gỡ về lãi suất hiện nay, chứ không chỉ có một chiều thu hút tiền

từ lưu thông về

Nhiều năm qua, về cơ bản nguyên lý lãi suất huy động thực dương được áp dụng đối với hệ thống ngân hàng, tức là lãi suất cao hơn lạm phát, có lợi cho người gửi nhưng gây khó khăn cho người vay vốn Nhưng đến nay và trong điều kiện hiện nay thì nguyên lý trên cần được linh hoạt trong cả nhận thức và hành động Bởi vì lãi suất lên tới 17% - 20% mà vốn huy động vẫn không vào, thì liệu rằng tăng lên 21-23% lãi suất có vào không và khi đó lãi suất cho vay sẽ tăng tới đâu, liệu có phải rằng lên tới 26% - 28%/năm hay không Thử hỏi rằng có nền kinh tế nào trong khu vực có mức lãi suất nội tệ lên tới đỉnh điểm đó như ở Việt Nam

Tại Mỹ lạm phát là 3,2% nhưng lãi suất huy động của các ngân hàng và định chế tài chính là 0,5%/năm; con số này ở khu vực đồng ơ-rô ở châu Âu tương ứng là 2,8 và 2,2%; tại Trung Quốc 5,3% và 3,25%; Xin-ga-po 5% và 0,5%; Thái Lan 3,27% và 1,5-2,1% Việt Nam lạm phát dự kiến trên ( chỉ só CPI bình quân 5 tháng đầu năm

2011 so với cùng kỳ năm 2010) 15% nhưng hiện nay các ngân hàng thương mại trả cho người gửi 17-18%, thậm chí 20%, gánh nặng lãi suất đổ lên người vay, người sản xuất, đến doanh nghiệp, đến người lao động

Tại nhiều nước trên thế giới, nguyên tắc thực dương được áp dụng với lãi suất cho vay Người gửi tiền phải chấp nhận lãi suất thấp hơn lạm phát nhưng thị trường chứng khoán sẽ thu hút được vốn, doanh nghiệp tạo công ăn việc làm

Vì vậy, cần thống nhất trong nhận thức và hành động về nguyên lý lãi suất theo thông lệ quốc tế, cần sớm tiếp cận nguyên tắc điều hành lãi suất mới, có lộ trình thực hiện để hướng tiền nhàn rỗi chảy vào kênh đầu tư

Bảo đảm tính thanh khoản cho nền kinh tế và cho các NHTM, hạ lãi suất cho vay, hoàn toàn nằm trong tầm tay của NHNN, vấn đề là cần linh hoạt để hành động http://wto.nciec.gov.vn/Lists/Nghin%20cu%20phn%20tch%20tnh%20hnh%20kinh

%20t%20Vit%20Nam/Attachments/DispForm.aspx?ID=240

Trang 10

Chương 3: Dự báo lãi suất 2012.

Giới phân tích nhận định rằng lạm phát 2012 có thể xuống mức 10%, nhưng đó vẫn chưa phải là điều kiện quyết định để giảm lãi suất tiền vay

Từ 2008 đến 2011, tăng trưởng kinh tế Việt Nam luôn gắn liền với bất ổn vĩ mô ở mức độ cao thông qua mối quan hệ giữa tăng trưởng và lạm phát

Cụ thể, nếu như giai đoạn 2002 - 2007, tăng trưởng luôn duy trì ở mức trung bình 8%/năm, lạm phát bình quân 6,5%/năm với miền giao động từ 3,1% - 8,3% thì giai đoạn 2008-2011, tăng trưởng chỉ đạt 6% nhưng lạm phát trung bình là 14,4%/năm

và biên độ dao động từ 6,9% lên tới 23%

Bởi vậy, nhiều chuyên gia nhận định, 2012 là năm kế thừa rất nhiều “di sản” tồi tệ của 4 năm trước đó, đồng thời đặt ra không ít thách thức lớn trong điều hành kinh tế

vĩ mô, trong đó có vấn đề lãi suất Lạm phát có thể giảm xuống dưới 10% nhưng lãi suất vẫn cao và điều này tiếp tục gây ra vô số khó khăn cho doanh nghiệp

Có thể nêu ra 3 lý do:

Đầu tiên là căng thẳng thanh khoản Có thể nói thanh khoản hệ thống ngân hàng đang là vấn đề lớn nhất của nền kinh tế trong năm 2012 Lý do ở đây chính là rủi ro

kỳ hạn giữa huy động và cho vay Tuy nhiên, một yếu tố khác cộng hưởng vào đó chính là mất niềm tin trên thị trường liên ngân hàng

Thứ hai, lòng tin của người dân chưa phục hồi cũng là một nguyên nhân chưa thể giảm ngay lãi suất Điều này rất dễ nhận thấy, dòng tiền gửi từ dân cư và tổ chức kinh tế hiện không còn tăng mạnh như trước Tiền gửi giảm có thể có nhiều nguyên nhân như tâm lý “thủ thế” giữ tiền lại khi Ngân hàng Nhà nước thực thi chính sách thắt chặt tiền tệ nhưng một lý do rất quan trọng là niềm tin nơi người gửi tiền, tin vào VND sụt giảm

Thứ ba chính là nợ xấu Xét từ góc độ của hệ thống ngân hàng, chi phí cho các khoản nợ xấu và nhu cầu dự trữ thanh khoản sẽ đẩy khoảng cách giữa lãi suất huy động và lãi suất cho vay ra lên cao Do đó, trong lúc này, nếu tiếp tục kìm nén lãi suất tiền gửi có thể không phát huy được tác dụng là giảm lãi suất cho vay

Chúng ta từng biết, căng thẳng thanh khoản ngân hàng là một trong những vấn đề lớn của hệ thống ngân hàng kể từ 2008 đến nay Và mỗi khi như vậy, Ngân hàng

Ngày đăng: 11/01/2016, 21:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w