1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Phân tích tình hình lãi suất Việt Nam ảnh hưởng như thế nào đến nhu cầu vay vốn các doanh nghiệp trong bối cảnh kinh tế khó khăn hiện nay

12 1,4K 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 76,81 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân tích tình hình lãi suất Việt Nam ảnh hưởng như thế nào đến nhu cầu vay vốn các doanh nghiệp trong bối cảnh kinh tế khó khăn hiện nay

Trang 1

Bài viết

LÃI SUẤT VỚI NỀN KINH TẾ

Như các bạn đã biết, lãi suất là một vấn đề rất quan trọng trong thị trường tài chính nói riêng và nền kinh tế nói chung, bởi lãi suất chính là:

 Giá cả trong thị trường tài chính

 Chi phí các doanh nghiệp phải bỏ ra khi đi vay mượn

 Là tỷ lệ số tiền phải trả so với số tiền gốc vay mượn ban đầu

 Là giá mà người đi vay phải trả để sử dụng số tiền không thuộc sỡ hữu mình và là lợi tức mà người cho vay có được do việc trì hoãn chi tiêu

Hay, theo John Maynard Keynes lập luận rằng, lãi suất là hiện tượng tiền tệ phản ánh mối qua hệ

giữa cung tiền và cầu tiền

Và nhiều quan điểm khác về lãi suất trên nhiều khía cạnh của nhiều chủ thể khác nhau trong nền kinh tế

Chính vì vậy, bài viết này xin đề cập đến tình hình lãi suất với nền kinh tế của Việt Nam trong suốt khoảng thời gian từ đầu năm 2012 đến nay

Bước vào năm 2012, kinh tế vĩ mô nước ta đứng trước 5 thách thức lớn:

Thứ nhất, áp lực lạm phát kéo dài từ năm 2008 mà Chính phủ luôn phải nỗ lực ứng phó trong suốt

4 năm qua Năm 2012 càng khó khăn hơn khi phải chống lạm phát trong điều kiện lãi suất đang quá cao, cấp thiết phải bằng mọi cách kéo giảm lãi suất

Thứ hai, các biện pháp giảm tổng cầu (chính sách tiền tệ và tài khóa thắt chặt theo Nghị quyết 11

của Chính phủ) đã tác động làm kìm hãm thị trường và tốc độ tăng trưởng kinh tế Số lượng doanh

nghiệp ngưng hoạt động, phá sản, giải thể tăng cao

Trang 2

Thứ ba, hệ thống Ngân hàng thương mại từ quý 4-2011 lâm vào nguy cơ đổ vỡ dây chuyền do mất

thanh khoản của một nhóm ngân hàng nhỏ Nợ xấu tăng nhanh, đặc biệt các khoản tín dụng về bất động

sản

Thứ tư, từ quý 2-2012, nền kinh tế càng thể hiện rõ nét đặc điểm nền kinh tế thiếu vốn nhưng không

thể hấp thụ một cách tốt nhất Doanh nghiệp thiếu vốn hoạt động trong khi Ngân hàng thương mại

không tăng được tín dụng Nợ xấu như “cục máu động” gây tắc nghẽn “hệ tuần hoàn” nền kinh tế

Thứ năm, thị trường thiếu niềm tin về tính ổn định của kinh tế vĩ mô nên diễn biến thất thường Điều

này thể hiện rõ qua chỉ báo ảm đạm của thị trường chứng khoán

Với tình hình kinh tế khó khăn như vậy, hàng loạt doanh nghiệp phải đối mặt với nguy cơ phá sản,

đỗ vỡ do hoạt động không có hiệu quả

Thế nhưng, trên lĩnh vực về tài chính, kết thúc năm 2011, với báo cáo kết quả kinh doanh của hàng

loạt các Ngân hàng có lãi sau một năm nỗ lực kinh doanh, “chạy đua xé rào” trong việc huy động vốn

“vượt trần” dẫn đến lãi suất cho vay cao “cắt cổ” các doanh nghiệp

STT Tổ chức tín dụng

Tổng Tài sản Lợi nhuận trước thuế Giá trị (Tỷ

VND)

Tăng/Giảm so với năm 2010 (%)

Giá trị (Tỷ VND)

Tăng/Giảm so với năm 2010 (%)

Trong khi đó, các doanh nghiệp phải đối mặt với việc thanh toán các khoản tiền lãi vay, các chi phí liên quan đến việc cấp tín dụng một cách rất khó khăn, thậm chí có một số doanh nghiệp phải làm đơn xin trình gia hạn và cơ cấu lại các khoảng nợ vay tại các tổ chức tín dụng

Tình hình kinh tế đến cuối năm 2011 khó khăn như vậy, tôi cho rằng xuất phát từ một số các nguyên nhân chính sau:

Trang 3

Do tình hình kinh doanh thực tế vào những năm 2009, 2010 vẫn còn khả thi, nên các doanh nghiệp vẫn chưa có động thái biểu hiện sự khó khăn trong việc thanh toán tiền lãi Nên, bước vào đầu năm

2011, các doanh nghiệp tiếp tục ký kết các hợp đồng hạn mức tín dụng đối với các tổ chức tín dụng

và không có sự đàm phán về việc thay đổi lãi suất Tuy nhiên, với tình hình kinh tế khó khăn biểu

hiện rõ trong năm 2011, nên kết quả cuối cùng vào cuối năm 2011 và đầu năm 2012 đến hạn thanh toán lãi thì các doanh nghiệp lại gặp khó khăn Đây được cho là vấn đề mấu chốt trong trong việc khó khăn trong việc thanh toán tiền lãi của các doanh nghiệp trong cuối năm 2011 và đầu năm 2012, kéo theo hệ quả đến thời điểm bây giờ

Cùng với đó, một số doanh nghiệp đầu tư một cách tràn lan, mở rộng kinh doanh sang lĩnh vực bất động sản Thêm vào đó, đối mặt với tình hình kinh tế khó khăn bắt đầu biểu hiện trong cuối năm

2010 và đầu năm 2011, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 11, với việc thực hiện Nghị quyết số

11 của Chính phủ về giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, các tổ chức tín dụng giảm tốc độ và tỷ trọng dư nợ cho vay lĩnh vực phi sản xuất so với năm 2010, nhất là bất động sản và chứng khoán

Ngay sau khi có chỉ thị này, các ngân hàng thương mại đồng loạt siết tín dụng đối với bất động sản đồng thời nâng cao lãi suất cho vay Hệ quả là hàng loạt các dự án phải “đổi chủ”, giãn tiến độ, nhiều ngành nghề sản xuất trong lĩnh vực bất động sản cũng bị rơi vào khó khăn Không ít nhà đầu

tư “ăn lớn” đã phải dừng đầu tư với bất động sản, thậm chí đến cả những “ông lớn” trong lĩnh vực này cũng rơi vào tình cảnh khó khăn

Kể từ đó, các doanh nghiệp bắt đầu xoáy sâu vào vòng xoáy thu hồi vốn, dòng vốn ứ đọng trong đầu tư bất động bản đã làm cho một số các doanh nghiệp không đủ khả năng trả nợ và dẫn đến mất trắng Hệ quả, đến 30/6/2011, tỷ trọng dư nợ cho vay lĩnh vực phi sản xuất so với tổng dư nợ tối đa

là 22% và đến 31/12/2011, tỷ trọng này tối đa là 16%

Và nguyên nhân cuối cùng mà tôi muốn đề cập đó là vấn đề về lãi suất huy động Tính đến cuối năm

2011, các tổ chức tín dụng vẫn đang tiến hành huy động vốn vượt trần một cách khá cao Có những

Trang 4

tổ chức tín dụng huy động đến mức lãi suất 21%, điều này chắc chắn một điều rằng các doanh nghiệp khi đi vay phải chịu lại một mức lãi suất rất cao, và chắc chắn phải cao hơn mức lãi suất huy động vốn Với một mặt bằng lãi suất cao như vậy cùng với tình hình kinh tế khó khăn các doanh nghiệp khó bề nào có thể thanh toán lãi một cách đúng như cam kết

Và tình hình này lại tiếp tục tái diễn trong đầu năm 2012, đứng trước bối cảnh khó khăn như vậy,

trên tinh thần xác định được các doanh nghiệp đang gặp khó khăn trong việc thanh toán tiền lãi cho các

tổ chức tín dụng để tiếp tục quay vòng vốn với hợp đồng tín dụng hạn mức mới Tuy nhiên, lãi suất cho vay cao nhu vậy là do lãi suất huy động vốn khá cao

Xác định được điều này, vào ngày 12/03/2012, Ngân hàng Nhà Nước đã ban hành thông tư số

05/2012/TT-NHNN về việc quy định lãi suất tối đa đối với tiền gửi bằng đồng Việt nam đối với tổ chức, các nhân tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài Theo thông tư này, thì lãi suất tiền gửi tối đa đối với trường hợp gửi tiền không kỳ hạn hoặc dưới kỳ hạn 1 tháng là 5%/năm và lãi suất tiền gửi

có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 12 tháng là 13%/năm

Nhưng, trên thực tế, tình hình lãi suất huy động vẫn không lắng dịu bớt, bởi các tổ chức tín dụng vẫn tiếp tục “xé rào” lãi suất huy động, điều này tiếp tục dẫn đến hệ quả tiếp theo là lãi suất cho vay vẫn duy trì ở mức cao

Như vậy, tính đến hết quý 1 năm 2012, hoạt động sản xuất kinh doanh vẫn tiếp tục bị áp lực do lãi

suất vay và huy động vốn cao, có thể lên đến 19% Dẫn đến kết quả cuối cùng là các doanh nghiệp vẫn khốn đốn trong việc xoay chuyển dòng tiền để thanh toán lãi, dòng vốn vẫn tiếp tục chìm sâu trong các

dự án đầu tư bất động sản mà do chính họ đã tham gia đầu tư ngoài ngành trong những năm trước

Trang 5

Ng ày

1 2/

03 /2

01 2 (T T

số 0 5)

Ng ày

1 0/

04 /2

01 2 (T T

số 0 8)

Ng ày

2 5/

05 /2

01 2 (T T

số 1 7)

Ng ày

8 /6 /2 01

2 (T

T số

1 9)

Cu ối

n ăm *

5

4

3

13

12

11

13.5

12.5

11.5

Lãi suất huy động theo NHNN (%)Không Kỳ hạng, < 1 tháng

Kỳ hạn 1 đến 12 tháng Quỹ Tín dụng Nhân dân, 1 đến 12 tháng

* Số liệu dự kiến Bước vào đầu quý 2 năm 2012, khó khăn chưa được tháo gỡ, vào ngày 10/04/2012, Ngân hàng Nhà

Nước đã ban hành thông tư số 08/2012/TT-NHNN về việc quy định lãi suất tối đa đối với tiền gửi bằng đồng Việt nam đối với tổ chức, các nhân tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài Theo thông tư này, thì lãi suất tiền gửi tối đa đối với trường hợp gửi tiền không kỳ hạn hoặc dưới kỳ hạn 1 tháng là 4%/năm và lãi suất tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 12 tháng là 12%/năm

Vậy, theo thông tư này, lãi suất huy động có quy định các tổ chức tín dụng giảm xuống mức 1% so với thông tư trước đó (Thông tư số 05/2012/TT-NHNN) Tuy nhiên, theo tình hình thực tế ghi nhận lại thì tình hình lãi suất huy động vốn và lãi suất cho vay của một số tổ chức tín dụng trên thị trường thời điểm này là:

Mức lãi suất huy động vốn vẫn được một số tổ chức tín dụng thực hiện ở mức 18%/năm, nhưng đối

với các khách hàng truyền thống, khách hàng có doanh số huy động lớn áp dụng lên đến mức 19%

Mức lãi suất cho vay cũng đẩy theo cao, vượt trên mức 19%/năm Cụ thể, có những doanh nghiệp

hoạt động kinh doanh tốt, chưa có biểu hiện trong việc thanh toán lãi từ đầu năm 2012, các tổ chức

Trang 6

tín dụng sẵn sàng áp mức 22,5%/năm (Ví dụ như các công ty hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu ngành y tế…)

Các tổ chức tín dụng cạnh tranh nhau trong việc thu hút khách hàng nên nâng cao mức lãi suất huy động vốn, bởi thời điểm này, các tổ chức tín dụng đều lo lắng về “rủi ro” khi tiến hành cấp tín dụng.

Do đó, việc cấp tín dụng rất cầm chừng, chỉ thực hiện ở một số doanh nghiệp truyền thồng và có quy

mô lớn Còn đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa, nếu đồng ý cấp tín dụng thì phải chịu mức lãi suất vay vốn khá cao

Sa u

ng ày

1 2/

03 /2

01 2 (T T

số 0 5)

Sa u

ng ày

1 0/

04 /2

01 2 (T T

số 0 8)

Sa u

ng ày

2 5/

05 /2

01 2 (T T

số 1 7)

Sa u

ng ày

8 /6 /2 01

2 (T

T số

1 9)

Cu ối

ăm *

11

Lãi suất huy động thực tế so với quy định của NHNN (%)

Theo NHNN Thực tế

* Số liệu dự kiến Tất cả điều này, tôi cho rằng đều xuất phát từ những nguyên nhân khách quan và chủ quan từ nền kinh tế hiện tại.

Trước hết, chúng ta hãy cùng nhau nhìn lại tình hình kiểm tra và giám sát của Ngân hàng Nhà Nước sau 2 thông tư đã ban hành (thông tư số 05/2012/TT-NHNN và thông tư số 08/2012/TT-NHNN).

Ngân hàng Nhà Nước đã không tiến hành kiểm tra sát sao các hoạt động của các tổ chức tín dụng

Cùng với đó, do việc giữ chân khách hàng có tiền gửi lớn, nên các tổ chức tín dụng đã ban hành nhiều sản phẩm để che đậy đi việc huy động vốn vượt trần của mình như việc thông qua các sản

phẩm: chứng chỉ tiền gửi, đầu tư mua cổ phiếu, …

Trang 7

Đứng trước tình hình như vậy, lãi suất cho vay vẫn cao, vì thế vào thời điểm đầu tháng 5/2012, các doanh nghiệp đã chủ động đề xuất các tổ chức tín dụng giảm lãi suất cho vay Cùng với thời điểm này, vào ngày 04/05/2012, Ngân hàng Nhà Nước lại tiếp tục ban hành thông tư thông tư số 14/2012/TT-NHNN về việc quy định lãi suất cho vay ngắn hạn đối với một số ngành nghề cho mục đích sản xuất kinh doanh Theo đó:

Lãi suất cho vay tối đa = Lãi suất tối đa đối với tiền gửi bằng VND có kỳ hạn 1 tháng trở lên và dưới 12 tháng do Ngân hàng Nhà Nước quy định + Biên độ 3%/năm.

Như vậy với thông tư số 08/2012/TT-NHNN thì lãi suất tối đa đối với tiền gửi bằng VND có kỳ hạn 1 tháng trở lên và dưới 12 tháng là 12%/năm cộng với biên độ 3%/năm thì lãi suất cho vay tối đa theo thông tư số 14/2012/TT-NHNN là 15%/năm

Và được áp dụng với 4 lĩnh vực sau:

 Phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn theo nghị định số 41/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010

 Thực hiện phương án, dự án sản xuất – kinh doanh hàng xuất khẩu theo luật thương mại

 Phục vụ sản xuất – kinh doanh phục vụ doanh nghiệp vừa và nhỏ theo nghị định 56/2009/NĐ-CP

 Phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ theo quy định tại quyết định số 12/2011/QĐ-TTg

15

Lãi suất cho vay theo NHNN (%)

* Số liệu dự kiến

Tưởng chừng các doanh nghiệp sẽ được ưu đãi lãi suất cho vay như thông tư số 08/2012/TT-NHNN, nhưng thực tế các daonh nghiệp lại phải tiếp tục đối đầu với mức lãi suất cũng khá cao, mặt dù đã có

Trang 8

một số các tổ chức tín dụng đã giảm lãi suất cho vay, nhưng mức giảm vẫn ở mức vừa phải, nguyên nhân này tôi cho rằng xuất phát từ các kẻ hở sau:

Thứ nhất, theo thông tư số 08/2012/TT-NHNN, tại khoản 2 điều 4 nêu rõ, lãi suất cho vay áp dụng

đối với các hợp đồng tín dụng được ký kết trước ngày thông tư này có hiệu lực thi hành được tiếp tục thực hiện theo hợp đồng tín dụng đã ký kết phù hợp với quy định của pháp luật tại thời điểm ký kết hợp đồng Như vậy, đồng nghĩa với việc, thông tư này chỉ có hiệu lực áp dụng đối với các hợp

đồng tín dụng được ký kết từ ngày thông tư này ban hành và trở về sau Do đó, các tổ chức tín dụng

đã chủ động ký kết lại hàng loạt các hợp đồng tín dụng

Ví dụ cụ thể như sau: Một hợp đồng tín dụng ký kết vào ngày 7/5/2011, như vậy sẽ hết hiệu lực

vào ngày 7/5/2012 (một năm sau đó), như vậy nếu ký kết hợp đồng mới vào ngày 8/5/2012 thì sẽ áp dụng lãi suất theo thông tư số 08/2012/TT-NHNN (vì thông tư này có hiệu lực từ ngày 8/5/2012), nên các tổ chức tín dụng chủ động ký lại hàng loạt hợp đồng tín dụng mới trước ngày 8/5/2012, họ

có thể ký trước ngày 7/5/2012 (là ngày hết hiệu lực của hợp đồng cũ), như vậy hợp đồng tín dụng mới lại tiếp tục có hiệu lực 1 năm với mức lãi suất không phụ thuộc vào thông tư số 08/2012/TT-NHNN Và các doanh nghiệp cũng đồng ý điều này, vì họ cho rằng các tổ chức tín dụng đang phục

vụ họ tốt hơn và làm hạn mức tín dụng nhanh hơn so với trước

Thứ hai, theo quy định của nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009 có quy định rõ, doanh

nghiệp vừa và nhỏ là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật Chia thành 3 cấp: Siêu nhỏ - Nhỏ - Vừa, theo quy mô tổng nguồn vốn/tổng tài sản hoặc số lao động bình quân/mỗi năm, cụ thể như sau:

Khu vực

Số lao động

Tổng Nguồn vốn

Số lao động Tổng Nguồn vốn Số lao động

Nông, lâm

nghiệp và

10 người trở xuống

20 tỷ VND trở xuống

10 < Người <= 200 20 < Tỷ VND < = 100 200 < Người <= 300

Trang 9

thủy sản

Công

nghiệp và

xây dựng

10 người trở xuống

20 tỷ VND trở xuống

10 < Người <= 200 20 < Tỷ VND < = 100 10 < Người <= 200

Thương

mại và

dịch vụ

10 người trở xuống

10 tỷ VND trở xuống

10 < Người <= 50 10 < Tỷ VND < = 50 50 < Người <= 100

Như vậy, chỉ cần các doanh nghiệp đáp ứng được 1 trong 2 điều kiện về vốn hoặc lao đồng thì có thể được hưởng chính sách thông tư số 08/2012/TT-NHNN

Tuy nhiên, các tổ chức tín dụng cho rằng, nếu đáp ứng 1 trong 2 điều kiện thì chưa đủ, các doanh nghiệp phải đáp ứng cả 2 điều kiện về vốn và lao động mới có thể được hưởng chính sách

theo thông tư số 08/2012/TT-NHNN

Thứ ba, đối với các doanh nghiệp (công ty con) có hoạch toán tài chính độc lập và là một pháp nhân

độc lập nhưng thuộc một tập đoàn (công ty mẹ), nếu đáp ứng được điều kiện quy mô vừa và nhỏ, thì

các tổ chức tín dụng lại cho rằng vì doanh nghiệp này (công ty con) thuộc công ty mẹ có quy mô lớn nên không được áp dụng chính sách theo thông tư số 08/2012/TT-NHNN, vì hợp đồng hạn mức tín

dụng là được ký kết giữa công ty mẹ và tổ chức tín dụng, sau đó công ty mẹ phân bổ hạn mức về cho công ty con dùng mà thôi

Tiếp tục mạnh tay hơn, vào ngày 25/05/2012, Ngân hàng Nhà Nước đã ban hành thông tư số

17/2012/TT-NHNN về việc quy định lãi suất tối đa đối với tiền gửi bằng đồng Việt nam đối với tổ chức, các nhân tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài Theo thông tư này, thì lãi suất tiền gửi tối đa đối với trường hợp gửi tiền không kỳ hạn hoặc dưới kỳ hạn 1 tháng là 3%/năm và lãi suất tiền gửi

có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 12 tháng là 11%/năm

Khác biệt so với các thông tư trước, lần này, Ngân hàng Nhà Nước đã kiểm tra và giám sát chặt

chẽ, vì vậy các tổ chức tín dụng đã thực hiện đúng theo quy định của Ngân hàng Nhà Nước, và cũng đã chủ động tiến hành chủ động giảm lãi suất cho vay xuống mức giao động từ 13%/năm (áp dụng đối với

Trang 10

phí dịch vụ cao) đến 17%/năm (áp dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa) Tuy nhiên, xét trên khía

cạnh lãi suất huy động, cũng còn một số tổ chức tín dụng huy động vượt trần so với mức lãi suất 13%/năm

Tr ướ

c T T

số 1 4

Sa u

ng ày

4 /5 /2 01

2 (T

T số

1 4)

Sa u

ng ày

8 /6 /2 01

2 (T

T số

2 0)

Cu ối

ăm *

24

19

15

Lãi suất cho vay thực tế so với NHNN (%)

Theo NHNN Thực tế cao nhất có thể

* Số liệu dự kiến

Tuy nhiên, để kết thúc 6 tháng đầu năm 2012 với một bức tranh tươi sáng hơn về tình hình lãi suất dâng cao như thời gian trước, ngày 08/06/2012, Ngân hàng Nhà Nước ban hành đồng thời hai thông tư

số 19 và 20/2012/TT-NHNN, theo đó, tại thông tư số 19/2012/TT-NHNN quy định lãi suất huy động tối

đa là 9%/năm và thông tư số 19/2012/TT-NHNN quy định lãi suất cho vay tối đa là 13%/năm

Tính đến hết quý 2 năm 2012, nhìn chung nền kinh tế có sự kiểm soát chặt chẽ hơn so với quý 1

năm 2012, đặc biệt trên lĩnh vực tài chính – tiền tệ, các tổ chức tín dụng đã bắt đầu có dấu hiệu giảm lãi suất cho vay, thông qua việc đồng thời giảm lãi suất huy động vốn và áp dụng mức lãi suất huy động vốn theo đúng quy định của Ngân hàng Nhà Nước

Tuy nhiên, trong khoảng thời gian từ đầu quý 3 năm 2012 cho đến nay, vẫn còn một số tổ chức tín

dụng huy động vốn với mức lãi suất cao trên 9%/năm theo tinh thần tại thông tư số 19/2012/TT-NHNN

đã quy định, và mức cao nhất theo thực tế hiện nay vẫn ở mức 12,5%/năm (áp dụng cho các khách hàng

có doanh số tiền gửi lớn) mà một số tổ chức tín dụng nhỏ đang âm thầm thực hiện Do đó, Ngân hàng

Ngày đăng: 03/04/2014, 17:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w