1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG LÀNG NGHỀ HÀ NỘI

69 430 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 593,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với mục tiêu phấn đấu năm 2020 Việt Nam thoátkhỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu và cơ bản trở thành một nước công nghiệp thìkhôi phục và phát triển các làng nghề, ngành nghề TTCN trong n

Trang 1

MỤC LỤC DANH MỤC BẢNG

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG LÀNG NGHỀ 4

I Vai trò của làng nghề 4

1 Khái niệm và đặc điểm của làng nghề 4

1.1 Khái niệm làng nghề và phân loại làng nghề 4

1.2 Đặc điểm của làng nghề 6

2 Vai trò của làng nghề đối với phát triển kinh tế xã hội 8

2.1 Đóng góp vào tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hóa 8

2.2 Giải quyết việc làm cho lao động nông thôn 8

2.3 Xoá đói giảm nghèo, nâng cao thu nhập của người dân 9

2.4 Tận dụng nguồn nguyên liệu sẵn có của địa phương trong quá trình sản xuất nông nghiệp, công nghiệp 10

2.5 Bảo tồn và phát triển các giá trị văn hoá truyền thống 10

2.6 Góp phần phát triển nông thôn, xây dựng nông thôn mới 11

II Phát triển bền vững làng nghề 11

1 Khái niệm phát triển bền vững làng nghề 11

2 Tiêu chí đánh giá phát triển bền vững làng nghề 12

2.1.Tăng trưởng kinh tế cao và ổn định 12

2.2 Tiến bộ và công bằng xã hội 13

2.3 Bảo vệ và nâng cao chất lượng môi trường 13

III Một số mô hình phát triển làng nghề trên thế giới 14

1 Mô hình “ Mỗi làng một nghề” của Nhật Bản 14

2 Kinh nghiệm phát triển làng nghề của Thái Lan 15

CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG LÀNG NGHỀ HÀ NỘI 17

I Tổng quan về làng nghề của Hà Nội 17

1 Tổng số làng nghề 17

II Thực trạng phát triển bền vững làng nghề Hà Nội 18

1 Bền vững về mặt kinh tế 18

Trang 2

1.1 Giá trị sản xuất tại các làng nghề 18

1.2 Sản phẩm và thị trường tiêu thụ của làng nghề 21

1.4 Gắn kết làng nghề với du lịch 23

2 Bền vững về mặt xã hội 26

2.1 Thu nhập và việc làm từ nghề 26

2.2 Giữ gìn phong tục tập quán, bản sắc văn hoá truyền thống 28

2.3 Bền vững về mặt môi trường 30

III Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển bền vững làng nghề 36

1 Cơ sở hạ tầng và mặt bằng sản xuất 36

2 Vốn đầu tư 37

3 Lao động 39

4 Nguồn nguyên liệu sản xuất của các làng nghề 40

5 Kĩ thuật và việc ứng dụng khoa học công nghệ trong sản xuất 42

IV Đánh giá tính chất phát triển bền vững các làng nghề Hà Nội 44

1 Những mặt đã làm được 44

2 Hạn chế và nguyên nhân 45

CHƯƠNG III MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CÁC LÀNG NGHỀ HÀ NỘI 47

I Quan điểm và phương hướng phát triển bền vững làng nghề Hà Nội 47

1 Quan điểm phát triển bền vững làng nghề Hà Nội 47

2 Phương hướng phát triển bền vững làng nghề Hà Nội 47

2.1 Vừa bảo tồn làng nghề truyền thống vừa phát triển nghề mới 47

2.2 Quy hoạch các cụm làng nghề - TTCN 48

2.3 Tăng cường xuất khẩu các sản phẩm truyền thống mũi nhọn 48

2.4 Đẩy mạnh hoạt động du lịch làng nghề 49

2.5 Chú trọng xử lý ô nhiễm môi trường làng nghề 49

II Phân tích SWOT( điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức) đối với sự phát triển làng nghề 49

III Một số giải pháp phát triển bền vững làng nghề Hà Nội 51

1 Giải pháp bền vững về kinh tế 52

1.1 Giải pháp từ phía Nhà nước và chính quyền địa phương 52

1.2 Giải pháp từ phía làng nghề 54

2 Giải pháp bền vững về xã hội 55

2.1 Giải pháp từ phía Nhà nước và chính quyền địa phương 55

Trang 3

2.2 Giải pháp từ phía làng nghề 56

3 Giải pháp về môi trường 57

3.1 Giải pháp từ phía Nhà Nước và chính quyền địa phương 57

3.2 Giải pháp từ phía làng nghề 58

4 Giải pháp đối với các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển bền vững làng nghề 58

4.1 Giải pháp từ phía Nhà nước và chính quyền địa phương 58

4.2 Giải pháp từ phía làng nghề 61

KẾT LUẬN 63

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 65

Trang 4

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Thống kê cơ cấu làng nghề phân theo vùng và ngành nghề 17

Bảng 2.2: Cơ cấu giá trị sản xuất của các làng nghề Hà Nội 19

Bảng 2.3: Cơ cấu giá trị xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ 20

Bảng 2.4: Điều tra về sản phẩm và tình trạng tiêu thị sản phẩm 22

Bảng 2.5: Thống kê về thu nhập bình quân/hộ gia đình tại một số làng nghề 26

Bảng 2.6:Thông tin về nguy cơ và độc hại từ quá trình sản xuất 31

Bảng 2.7: Thống kê về thực trạng mặt bằng sản xuất của các chủ hộ sản xuất 36

Bảng 2.8 : Cơ cấu lao động phân theo ngành nghề và trình độ 39

Bảng 2.9: Ma trận SWOT 51

Trang 5

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt nam là một nước nông nghiệp nằm ở Đông Nam Á, cái nôi của nềnvăn minh lúa nước Khu vực nông thôn chiếm gần 70% dân số nhưng lại có dấuhiệu ngày càng tụt hậu so với khu vực thành thị nhất là về thu nhập, điều kiệnsống và cơ hội tìm việc làm Trước tình hình đó, phát triển ngành nghề nôngthôn được coi như một giải pháp hữu hiệu nhằm tạo cơ hội việc làm, nâng caomức sống cho người dân Hiện nay Việt Nam đang bước vào thời kì CNH-HĐHđất nước, thực trạng dư thừa lao động nông thôn và xu hướng chuyển dịch laođộng ra thành thị gia tăng nhanh chóng gây sức ép về cơ sở hạ tầng và các vấn đề

xã hội nghiêm trọng Vì thế, phát triển ngành nghề nông thôn không chỉ ngàycàng quan trọng đối với khu vực nông thôn mà còn ảnh hưởng đến nhịp độ pháttriển chung của toàn xã hội Với mục tiêu phấn đấu năm 2020 Việt Nam thoátkhỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu và cơ bản trở thành một nước công nghiệp thìkhôi phục và phát triển các làng nghề, ngành nghề TTCN trong nông thôn là mộttrong những nội dung quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội

Phát triển các làng nghề đã góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôntheo hướng CNH, giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập cho lao động nông thôn,bảo tồn và phát triển các giá trị văn hóa truyền thống, nâng cao dân trí xây dựngnông thôn mới Tuy nhiên, sự phát triển các làng nghề hiện nay còn bộc lộ rất nhiềukhó khăn và hạn chế Hầu hết các làng nghề đều mang tính tự phát, hoạt động manhmún, nhỏ lẻ; sản phẩm đơn điệu, công nghệ sản xuất lạc hậu; đặc biệt vấn đề ônhiễm môi trường đang ngày càng trở nên nghiêm trọng, là mối nguy hại lớn đếnmục tiêu phát triển bền vững

Hà Nội với vị trí là trung tâm kinh tế, văn hóa xã hội của cả nước, vốnđược lưu danh là “mảnh đất trăm nghề”, có nhiều làng nghề mang đậm giá trị vănhóa, lịch sử với tuổi đời hàng trăm năm như đúc đồng Ngũ Xá, gốm sứ Bát Tràng,lụa Vạn Phúc, thêu Quất Động, mây tre đan Phú Vinh Làng nghề truyền thống lànơi lưu giữ và bảo tồn tinh hoa nghệ thuật của dân tộc, là điểm hẹn văn hóa du lịchđặc sắc Các làng nghề đã giải quyết một lượng lớn lao động nông thôn, đóng gópđáng kể vào giá trị sản xuất và xuất khẩu của thành phố Vấn đề phát triển các làngnghề ở Hà Nội rất được quan tâm và có sự phát triển ổn định hơn hẳn so với cáclàng nghề cả nước Song thách thức đặt ra đối với sự phát triển bền vững các làng

Trang 6

nghề cũng là vấn đề vô cùng cấp thiết chi phối trực tiếp một bộ phận lớn dân cư Ônhiễm môi trường đã trở thành vấn đề đáng báo động Số lượng làng nghề lớn đòihòi phải có những quy hoạch cụ thể, đồng bộ Năng suất lao động và chất lượng sảnphẩm chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế vốn có của vùng Phát triển làng nghề

là một nội dung quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội khu vực nôngthôn và bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Đặc biệt, đối với thủ

đô Hà Nội, vùng đất chứa đựng lịch sử của ngàn năm văn hiến, là nơi hội tụ nhữngnét tinh hoa của các làng nghề truyền thống, nơi tập trung số lượng làng nghề lớnnhất cả nước thì việc bảo tồn và phát triển làng nghề Hà Nội càng trở nên cấp thiết

Vì vậy trong quá trình thực tập ở Ban kinh tế Hội nông dân Việt Nam tôi đã nghiên

cứu và tìm hiểu thực trạng phát triển của các làng nghề Đề tài “ Giải pháp phát triển bền vững làng nghề Hà Nội” hy vọng sẽ đưa ra được những hướng giải

quyết hợp lý, kịp thời đối với sự phát triển của các làng nghề Hà Nội ngày nay

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề kinh tế, xã hội và môi trường củacác làng nghề

- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu thực trạng phát triến bền vững của cáclàng nghề Hà Nội

3 Mục đích nghiên cứu

- Làm rõ cơ sở lý luận chung về làng nghề Việt Nam

- Đánh giá thực trạng phát triển bền vững tại các làng nghề Hà Nội

- Phân tích, đánh giá các cơ hội, thách thức, điểm mạnh, điểm yếu tác độngđến sự phảt triển bền vững của các làng nghề Hà Nội

- Xác định phương hướng phát triển đảm bảo sự bền vững của các làngnghề Hà Nội trong những năm tới

- Đề xuất các giải pháp phát triển bền vững các làng nghề Hà Nội

4 Phương pháp nghiên cứu

Trang 7

5 Kết cấu đề tài

Chuyên đề thực tập gồm 3 phần chính:

- Chương I : Cơ sở lý luận về phát triển bền vững làng nghề

- Chương II: Thực trạng phát triển bền vững làng nghề Hà Nội

- Chương II: Một số giải pháp phảt triển bền vững làng nghề Hà Nội

Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của PGS.TS Phạm VănVận, anh Ngọc và các anh, các chú ở Ban Kinh tế Hội nông dân Việt Nam đã tạomọi điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành chuyên đề thực tập này Trong quá trìnhnghiên cứu không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót, rất mong được sự đóng góp

ý kiến của các thấy cô

Trang 8

CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN

BỀN VỮNG LÀNG NGHỀ

I Vai trò của làng nghề

1 Khái niệm và đặc điểm của làng nghề

1.1 Khái niệm làng nghề và phân loại làng nghề

1.1.1 Khái niệm làng nghề

Có rất nhiều khái nịêm khác nhau về làng nghề, có thể tiếp cận theo hướngbắt đầu từ khái nhiệm ngành nghề nông thôn

Ngành nghề nông thôn là những hoạt động kinh tế sản xuất phi nông nghiệp

bao gồm công nghiệp, thủ công nghiệp và các hoạt động dịch vụ cho tiêu dùng, sảnxuất và đời sống trong nước và cho xuất khẩu; ngành nghề nông thôn phátt triển ởcác trình độ và quy mô khác nhau như thành phần kinh tế hộ gia đình, doanhnghiệp, tổ,hợp tác xã, công ty, xí nghiệp… Ngành nghề nông thôn rất đa dạng cóhàng trăm nghề, có thể chia làm 3 nhóm chính:

- Nhóm ngành chề biến nông, lâm sản

- Nhóm ngành sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng

- Nhóm ngành dịch vụ

Làng nghề là một thiết chế kinh tế- xã hội ở nông thôn, được cấu thành bởi

hai yếu tố làng và nghề, tồn tại trong một không gian địa lý nhất định, trong đó baogồm nhiều hộ gia đình hoạt động các ngành nghề nông thôn, giữa họ có mối liên kết

về kinh tế, xã hội và văn hóa

Trang 9

- Làng nghề chuyên sản xuất các mặt hàng thủ công mỹ nghệ như gốm,

- Làng nghề chuyên làm các nghề như xây dựng, trồng hoa, cây cảnh…

Phân loại làng nghề theo lịch sử phát triển làng nghề:

- Làng nghề truyền thống: là làng nghề đã được tồn tại và phát triển lâu

đời trong lịch sử, trong đó gồm có một hoặc nhiều nghề thủ công truyền thống, lànơi quy tụ các nghệ nhân và đội ngũ thợ lành nghề, là nơi có nhiều hộ gia đìnhchuyên làm nghề truyền thống lâu đời, giữa họ có sự liên kết, hỗ trợ nhau trogn sảnxuất và tiêu thụ sản phẩm Họ có cùng tổ nghề và đặc biệt các thành viên luôn có ýthức tuân thủ những chế ước xã hội, dân tộc

Tiêu chí công nhận nghề truyền thống

- Nghề đã xuất hiện tại địa phương từ trên 50 năm tính đến thời điểm đềnghị công nhận

- Nghề tạo ra những sản phẩm mang bản sắc văn hoá dân tộc

- Nghề gắn với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi củalàng nghề

Tiêu chí công nhận làng nghề truyền thống

Theo thông tư 116/2006/TT-BNN ngày 18/12/2006 của Bộ Nông nghiệp vàPhát triển nông thôn thì:

- Làng nghề truyền thống phải đạt tiêu chí làng nghề và có ít nhất mộtnghề truyền thống theo quy định tại thông tư này

- Đối với những làng nghề chưa đạt tối thiểu 30% tổng số hộ và 2 nămsản xuất kinh doanh ngành nghề ổn định nhưng có ít nhất một nghề truyền thốngđược công nhận theo quy định của thông tư 116/TT-BNN thì cũng được công nhân

là làng nghề truyền thống

- Làng nghề mới là làng nghề được hình thành do yêu cầu phát triển sản

xuất và đời sống của nhân dân địa phương, ảnh hưởng lan tỏa từ các làng nghềtruyền thống Một số làng nghề mới được hình thành do chủ trương của địa phương

Trang 10

nhằm tạo công ăn việc làm cho người dân, cho thợ đi học nghề ở nơi khác rồi vềdạy cho người dân ở địa phương mình.

1.2 Đặc điểm của làng nghề

1.2.1 Làng nghề tồn tại và gắn bó với sản xuất nông nghiệp và nông thôn

Cùng với sự phát triển của nền văn minh nông nghiệp từ hàng ngàn nămtrước đây, nhiều nghề thủ công đã ra đời tại các vùng nông thôn Việt Nam Việchình thành các làng nghề bắt đầu từ những nghề ban đầu được cư dân tranh thủ lúcnông nhàn, những lúc không phải mùa vụ chính nhằm mục đích ban đầu là cải thiệnbữa ăn và những nhu cầu thiết yếu hằng ngày về sau là tăng thu nhập Trong cáclàng nghề truyền thống, người thợ thủ công đồng thời cũng là người nông dân.Ngày nay, một bộ phận lớn người thợ thủ công tuy làm nghề là chính nhưng họ vẫncanh tác trên mảnh đất của mình, vẫn tham gia hoạt động sản xuất nông nghiệp ởmức độ nhất định

Làng nghề là một thiết chế xã hội, một bộ phận của khu vực nông thôn Hoạtđộng của các làng nghề phục vụ trực tiếp cho sự phát triển kinh tế xã hội nông thônnhư tiêu thụ nguyên vật liệu, cung cấp vật tư, sản phẩm hàng hóa ; thu hút lao độngnông thôn, thúc đẩy sản xuất nông nhgiệp và hoạt động dịch vụ cùng phát triển, gópphần tăng thu nhập cho người nông dân; tham gia xây dựng kết cấu hạ tầng nôngthôn Do vậy, làng nghề phát triển là một sự bổ sung cho nông nghiệp, tạo nên kếtcấu đa dạng, bền vững của kinh tế nông thôn

1.2.2 Kĩ thuật chủ yếu dựa trên bí quyết được lưu truyền, công nghệ sản xuất thủ công thô sơ.

Sự khác biệt lớn nhất về sản phẩm của các làng nghề đó là tính chất sản xuấtthủ công phụ thuộc vào tay nghề, kỹ năng, kỹ xảo của người thợ Ngoài sự khéo léocòn đòi hòi quá trình tích lũy kinh nghiệm qua nhiều thế hệ và trở thành bí quyếtnghề nghiệp Một số dòng họ, một số làng nghề gìn giữ bí quyết riêng của mình, chỉđược phép lưu truyền cho con cháu trong dòng họ tạo nên chất lượng vá sắc tháiriêng của sản phẩm Đó là những kết tinh đã được sáng tạo, đúc kết mang bản sắcriêng của từng làng nghề, khác biệt so với sản phẩm các nơi khác

Bản chất của của công nghệ làng nghề là yếu tố truyền thống và kĩ thuật thủcông nên không thể thay thế bằng máy móc hiện đại mà chỉ có thể áp dụng ở một

số khâu sản xuất nhất định Bên cạnh đó, sự hạn chế về quy mô vốn đầu tư, mặtbằng sản xuất chật hep, cộng với thói quen sản xuất lâu đời của người thợ thủ côngnên công nghệ chậm được cải tiến và ứng dụng các kĩ thuât hiện đại Công nghệ sản

Trang 11

xuất chủ yếu còn ở tình trạng thô sơ, máy móc thiết bị lạc hậu Tuy nhiên, thủ công

và truyền thống lại tạo nên đạc trưng riêng của các sản phẩm làng nghề

1.2.3 Sản phẩm mang tính đơn chiếc, độc đáo và có tính nghệ thuật cao

Đặc điểm đặc sắc, riêng biệt nhất của sản phẩm làng nghề là tính truyềnthống độc đáo và có tính nghệ thuật cao Kĩ thuật sản xuất trong các làng nghề lànhững bí quyết truyền thống đã được lưu truyền từ hàng trăm, hàng nghìn năm vàtồn tại cho đến ngày nay Mỗi làng mỗi vùng chứa đựng một trình độ kĩ thuật riêng,đặc trưng của từng làng mà các nơi khác không thể có Các sản phẩm là sự kết hợpkhéo léo giữa phương pháp thủ công tinh xảo với sự sáng tạo nghệ thuật độc đáo.Người thợ thủ công đã truyền vào mỗi sản phẩm linh hồn của cuộc sống, ở đó là sựdiễn ra cac hoạt dộng của con người trong lao động sản xuất , là phong tục truyềnthống, là tín ngưỡng tôn giáo, là ước muốn con người Sản phẩm truyền thốngkhông thể sản xuất hàng loạt mà với tính chất thủ công, mỗi một sản phẩm đềuđược tạo ra bởi chính đôi bàn tay khéo léo của người thợ nên Chính điều này đã tạonên cho những sản phẩm làng nghề sắc thái riêng, sự hấp dẫn riêng và là thế mạnh

để các sản phẩm có thể cạnh tranh với các sản phẩm nơi khác

1.2.4 Lao động tại các làng nghề chủ yếu sử dụng lao động thủ công

Phương thức sản xuất sẽ quy định lực lượng sản xuất, do tính chất sản xuấttại các làng nghề với kĩ thuật thủ công thô sơ nên lao động chủ yếu là lao động thủcông Hầu hết các công đoạn sản xuất đều do người lao động đảm nhận Với yêucầu cao về kĩ thuật truyền thống, sự tài hoa khéo léo cùng với óc thẩm mĩ và sángtạo kết tinh trong mỗi sản phẩm thì vai trò của nghệ nhân trong mỗi làng nghề là vôcùng quan trọng, được coi là nòng cốt trong quá trình sản xuất và sáng tạo ra sảnphẩm Chính các nghệ nhân là người dạy nghề, truyền nghề trực tiếp cho các thànhviên trong gia đình hoặc dòng họ Lao động của các nghệ nhân là sự kết tinh của đôibàn tay tài hoa khéo léo cùng với những kinh nghiệm bí quyết gia truyền của mỗilàng nghề tạo nên các sản phẩm có giá trị độc đáo, riêng biệt

1.2.5 Hộ gia đình là hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh phổ biến nhất ở các làng nghề

Hộ gia đình là hình thức tổ chức sản xuất và phổ biến ở các làng nghề Hộgia đình vừa là một đơn vị sản xuất, một đơn vị kinh tế, vừa là một đơn vị sinh hoạt.Đặc điểm của hình thức này là có thể huy động và sử dụng lao động của thành viêntrong gia đình tham gia vào các công việc khác nhau trong quá trình sản xuất kinhdoanh với ưu điểm tận dụng thời gian lao động và mặt bằng sản xuất Qúa trình dạy

Trang 12

nghề, truyền nghề được diễn ra trong gia đình bằng hình thức phụ việc vừa học vừalàm, đây cũng là cách để giữ gìn và phát huy truyền thống của nghề Hiện nay, tổchức sản xuất tại các làng nghề đã có nhiều thay đổi, đa dạng và tiến bộ hơn; bêncạnh hình thức này, có rất nhiêu hình thức khác được ra đời và phát triển, chủ yếulà: hợp tác xã, doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn Tất cả nhữnghình thức này cùng tồn tại và tác động hỗ trợ lẫn nhau trong điều kiện mới của nềnkinh tế thị trường.

2 Vai trò của làng nghề đối với phát triển kinh tế xã hội

2.1 Đóng góp vào tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hóa

Là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế, hoạt động sản xuất tại các làngnghề tạo ra khối lượng sản phẩm hàng hoá khá lớn, đóng góp đáng kể cho GDP củanền kinh tế nói chung và của địa phương nói riêng Các sản phẩm của làng nghềViệt Nam đã có mặt ở nhiều nước trên thế giới, trong đó có các thị trường lớn nhưHoa Kỳ, EU, Nhật Bản Nếu như năm 2001, xuất khẩu sản phẩm làng nghề cả nướcđạt 6,8 triệu USD, thì năm 2000 là 300 triệu và năm 2005 đạt 700 triệu Ngày 31-8,phát biểu tại buổi họp báo giới thiệu “Lễ hội làng nghề, phố nghề Thăng Long - HàNội”, ông An Văn Khanh - cục phó Cục Chế biến thương mại nông lâm thủy sản vànghề muối - cho biết kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm làng nghề trong năm 2010

dự kiến đạt 900 triệu USD

Bên cạnh đó, trong quá trình vận động và phát triển, làng nghề đã có vai tròtích cực trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng hiện đại, thểhiện sự thay đổi về chất trong kinh tế khu vực nông thôn Đó là tăng tỷ trọng côngnghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, thu hẹp tỷ trọng nông nghiệp; chuyển laođộng từ sản xuất nông nghiệp có thu nhập thấp sang ngành nghề phi nông nghiệp cóthu nhập cao hơn Hoạt động sản xuất tại các làng nghề phát triển không những trựctiếp tạo ra sản phẩm hàng hoá mà còn gián tiếp thúc đấy sự phát triển của các ngànhdịch vụ hỗ trợ trong việc cung ứng nguyên vật liệu và tiêu thụ sản phẩm Đời sốngngười dân được nâng cao, cùng với sự gắn kết giữa làng nghề và du lịch tạo cơ hộicho các hoạt động dịch vụ ở nông thôn được mở rộng, thu hút nhiều lao động manglại mức thu nhập cao cho người nông dân

2.2 Giải quyết việc làm cho lao động nông thôn.

Ở nước ta, dân số nông thôn chiếm khoảng 70,4%, trong đó lao động nôngthôn chiếm 58% lao động cả nước Tuy nhiên trước sức ép về việc tăng dân số,

Trang 13

tác động của công nghiệp hoá và đô thị hoá đã kéo theo một phần lớn diện tíchđất nông nghiệp bị chuyển đổi mục đích sử dụng để xây dựng nhà ở, kết cấu hạtầng kĩ thuật, khu công nghiệp, khu đô thị Bên cạnh đó, sự tiến bộ của khoa học

kĩ thuật và cơ giới hoá trong nông nghiệp làm cho cầu lao động trong khu vựcnày ngày càng giảm mạnh Tình trạng thất nghiệp, dư thừa lao động ở nông thôn

là một trong những vấn đề cấp bách cần phải giải quyết để đảm bảo đời sống củamột bộ phận lớn người nông dân, vì mục tiêu phát triển kinh tế bền vững Thôngtin trích từ kết quả tổng hợp về tình hình lao động việc làm 9 tháng năm 2010của Tổng cục Thống kê Theo đó, hiện nay tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong

độ tuổi là 2,88%, khu vực thành thị là 4,43%, khu vực nông thôn là 2,27% Tỷ lệthiếu việc làm của lao động trong độ tuổi hiện là 4,31%, trong đó khu vực thànhthị là 1,95%; khu vực nông thôn là 5,24% Với tính chất kĩ thuật thủ công, sửdụng nhiều lao động, hoạt động ngành nghề nông thôn trong các làng nghề đãtạo việc làm cho một lượng lớn lao động tại chỗ và thu hút lao động từ nhiều địaphương khác Trung bình mỗi cơ sở doanh nghiệp tư nhân chuyên làm nghề tạoviệc làm ổn định cho khoảng 27 lao động thường xuyên và 8 - 10 lao động thời vụ;các hộ cá thể chuyên nghề tạo 4 - 6 lao động thường xuyên và 2 - 5 lao động thời

vụ Ở những làng nghề thêu ren, dệt, mây tre đan, mỗi cơ sở có thể thu hút 200

2.3 Xoá đói giảm nghèo, nâng cao thu nhập của người dân

Mục tiêu giảm khoảng cách chênh lệch về thu nhập giữa nông thôn và thànhthị là một định hướng quan trọng trong mục tiêu phát triển kinh tế xã hội củaĐảng và Nhà nước Hiện nay thu nhập bình quân khu vực nông thôn là … ,thành thị là… Hoạt động nông nghiệp luôn có mức thu nhập khiêm tốn hơn cáclĩnh vực khác, đặc biệt với trình độ phát triển còn nhiều hạn chế nên thu nhập

Trang 14

của nông dân nước ta còn thấp, tỷ lệ hộ nghèo cao Theo Tổng cục Thống kê, vớimức chuẩn được lựa chọn, dự kiến số hộ nghèo của cả nước tăng từ 2 triệu(10%) như hiện nay lên 3,3 triệu (15%) vào năm 2011 Trước đó, chuẩn nghèo ápdụng trong giai đoạn 2006-2010 là từ 200.000 và 260.000 đồng một người mộttháng trở xuống tương ứng với khu vực nông thôn và thành thị Với chuẩn này, tỷ lệ

hộ nghèo đã giảm từ 20% của năm 2006 xuống còn 11% năm 2009 và khoảng 10%vào năm nay

Với mục tiêu xoá đói giảm nghèo, nâng cao thu nhập cho người nông dân,Nhà nước đã chủ trương phát triển và khôi phục hoạt động các làng nghề Với quy

mô vôn đầu tư thường không quá lớn, công nghệ thủ công giản đơn dễ dàng tiếpcận, đồng thời lại gắn bó với hoạt động sản xuất nông nghiệp đem lại mức thu nhậpcao hơn so với khu vực nông nghiệp (cao gấp 3- 4 lần trong nông nghiệp) Do vậy,

tỷ lệ hộ nghèo trong các khu vực có ngành nghề phi nông nghiệp phát triển chỉ ởmức khoảng 3,7%, thấp hơn nhiều so với tỷ lệ 10,4% hộ nghèo bình quân trong cảnước Như vậy người nông dân có nhiều tiềm năng phát triển với lĩnh vực sản xuấtTTCN- CN tại làng nghề Sản phẩm tại các làng nghề đòi hỏi nhiều lao động nhưnglại có gía trị cao Đây là hướng phát triển hiệu quả và cần thiết để tạo điều kiện cholao động nông thôn giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo, nâng cao thu nhậptrong điều kiện trình độ lao động nông thôn còn hạn chế

2.4 Tận dụng nguồn nguyên liệu sẵn có của địa phương trong quá trình sản xuất nông nghiệp, công nghiệp

Nguồn nguyên liệu trong hoạt động sản xuất tại các làng nghề thường là cácnguồn tài nguyên ưu thế của địa phương Mỗi một vùng có một đặc trưng riêng vềđiều kiện tự nhiên, tập quán sản xuất hình thành nên nguồn sản phẩm nông nghiệpdồi dào Song, không phải tất cả thành phẩm đều sử dụng tiêu dung hay trao đổingay được mà phải qua sơ chế hoặc có sự tác động kĩ thuật, xử lý của các làngnghề Tận dụng các sản phẩm từ sản xuất nông nghiệp có thể phục vụ cho cácngành chế biến lương thực, thực phẩm, sản xuất hàng hoá tiêu dùng và hàng thủcông mỹ nghệ Còn một số nghề như cơ khí, làm đồ nhựa thì lại tận dụng phế thảitrong công nghiệp… Rõ ràng đây là một sự kết hợp hiệu quả giữa các ngành nghềtạo nên nền tảng phát triển vũng chắc

2.5 Bảo tồn và phát triển các giá trị văn hoá truyền thống

Làng nghề truyền thống là nơi lưu giữ những nét văn hoá đặc sắc củanông thôn Việt Nam Không chỉ là cây đa, giếng nước, sân đình mà còn là

Trang 15

truyền thống văn hoá, tinh hoa nghệ thuật dân tộc được thể hiện, ẩn chứa trongphương thức sản xuất, trong mỗi sản phẩm thủ công của làng nghề Bởi lẽ, lịch

sử phát triển làng nghề truyền thống thường gắn với lịch sử phát triển văn hoádân tộc Sản phẩm của nghề thủ công truyền thống là kết tinh của lao động vậtchất và lao động tinh thần, nó được tạo nên từ bàn tay tài hoa và óc sáng tạo củangười thợ thủ công Với những đặc điểm âý chúng không chỉ là hàng hoá đơnthuần mà nó đã trở thành sản phẩm văn hoá có tính nghệ thuật cao, và được coi

là biểu tượng nghệ thuật truyền thống Từ đó, đặt ra yêu cầu đối với sự phát triểncác làng nghề truyền thống ngoài việc đáp ứng nhu cầu của thị trường thì cấnphải gìn giữ tính chất truyền thống cả trong phương thức sản xuất và chất lượngsản phẩm Đây cũng là một lợi thế để các làng nghề thu hút khách du lịch, kếthợp với việc phát triển mở rộng dịch vụ du lịch, là cơ hội để nâng cao thu nhập,giới thiệu sản phẩm và xuất khâủ tại chỗ ở đia phương

2.6 Góp phần phát triển nông thôn, xây dựng nông thôn mới

Điều kiện cần cho sự phát triển đó là thu nhập và ổn định việc làm cho ngườidân, sau đó tiến bộ và công bằng xã hội là điều kiện đủ Dó đó, với việc thu hút mộtlực lượng lớn lao động có mức thu nhập cao thì ở những vùng có làng nghề pháttriển thể hiện một sự văn minh, giàu có, dân trí cao hơn hẳn những vùng chỉ thuầntuý sản xuất nông nghiệp Khi người dân có việc làm ổn định, thu nhập cao khiếnsức mua tăng lên tạo thị trường cho công nghiệp và dịch vụ phát triển

Phát triển làng nghề cùng với việc tăng thu nhập của người dân đã tạo ranguồn tích luỹ cho ngân sách địa phương Đây là nguồn vốn cơ sở đầu tư cho xâydựng cơ sở hạ tầng nông thôn: đường, giao thông, các dịch vụ y tế, giáo dục, vănhoá được phát triển Đời sống vật chất tinh thần của người dân được cải thiện

II Phát triển bền vững làng nghề

1 Khái niệm phát triển bền vững làng nghề

Từ những thập kỉ 70, 80 của thế kỉ trước, khi tăng trưởng kinh tế củanhiều nước trên thế giới đã đạt được một tốc độ khá cao, người ta đã bắt đầu cónhững lo nghĩ đến ảnh hưởng têu cực của sự tăng trưởng nhanh đó đến tương laicon người và vấn đề phát triển bền vững được đặt ra Theo thời gian, quan điểmphát triển bền vững được hoàn thiện Năm 1987, vấn đề về phát triển bền vữngđược Ngân hàng Thế giới (WB) đề cập lần đầu tiên, theo đó phát triển bền vững

là “ Sự phát triển đáp ứng các nhu cầu hiện tại mà không làm nguy hại đến khảnăng đáp ứng nhu cầu của thế hệ tương lai” Quan niệm đầu tiên về phát triển

Trang 16

bền vững của WB chủ yếu nhấn mạnh khía cạnh sử dụng tài nguyên thiên nhiên

và đảm bảo môi trường sống cho con người trong quá trình phát triển Ngày nayquan điểm phát triển bền vững cho con người dược đề cập một cách đầy đủ hơn ,bên canh yếu tố môi trường tài nguyên thiên nhiên, yếu tố môi trường xã hộicũng được đặt ra với ý nghĩa quan trọng

Ở Việt Nam, phát triển bền vững được hiểu một cách tòan diện: “ Phát triển bền vững bao trùm các mặt của đời sống xã hội với, nghĩa là phải gắn kết sự phát triển kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, giữ gìn và cải thiện môi trường, giữ vững ổn định chính trị- xã hôi, đảm bảo quốc phòng an ninh quốc gia”.

Như vậy, phát triển bền vững là sự phát triển trong mối quan hệ chặt chẽ thực hiệnbốn mhóm mục tiêu lớn, nếu không tính đến mục tiêu an ninh- quốc phòng thì pháttriển bền vững là sự phát triển đảm bảo ba yếu tố: bền vững kinh tế, bền vững về xãhội và bền vững về môi trường

Phát triển bền vững làng nghề tức là sự phát triển phải đảm bảo ổn định, lâu

dài; lợi ích của thế hệ hiện tại không làm ảnh hưởng đến lợi ích của thế hệ tương lai

Sự phát triển dựa trên cơ sở mức tăng trưởng kinh tế cao và ổn định của hoạt độngsản xuất kinh doanh, đồng thời đảm bảo tiến bộ và công bằng xã hội nông thôn,khai thác hợp lý nguồn tài nguyên và bảo vệ môi trường

2 Tiêu chí đánh giá phát triển bền vững làng nghề

2.1.Tăng trưởng kinh tế cao và ổn định

Tăng trưởng kinh tế là sự tăng lên về quy mô, khối lượng của sản xuất

hang hóa và dịch vụ thực hiện trong nền kinh tế của một quốc gia hoặc của mộtđịa phương Đánh giá tăng trưởng tại các làng nghề có thể sử dụng một số tiêuchí như sau:

- Tiêu chí đầu tiên thể hiện sự tăng trưởng về quy mô là giá trị sản xuất của các làng nghề Sự gia tăng về sản lượng thể hiện việc mở rộng quy mô sản

xuất, năng suất lao động tạo ra khối lượng giá trị sản xuất ngày càng tăng Đây làtiêu chỉ biểu hiện về mặt số lượng của tăng trưởng

- Thị trường và chất lượng sản phẩm là một trong những tiêu chỉ đảm

bảo tính bền vững cho sự tăng trưởng của các làng nghề Với vai trò là khâu cuốicùng của quá trình cung ứng sản phẩm, có tính chất quyết định đến doanh thu vàquy mô sản xuất Do đó thị trường và chất lượng sản phẩm chính là chìa khóa thànhcông và phản ánh sự duy trì ổn định, phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh củalàng nghề

Trang 17

- Du lịch làng nghề là một trong những thế mạnh đặc trưng của các

làng nghề Hà Nội Du lịch tạo cơ hội để mở rộng thị trường, xúc tiến thương mạicho sản phẩm làng nghề Đồng thời, hoạt động cung ứng các dịch vụ du lịch cũngmang lại nguồn doanh thu đáng kể, đóng góp không nhỏ vào giá trị sản xuất tại cáclàng nghề

2.2 Tiến bộ và công bằng xã hội

Tiến bộ xã hội mà trung tâm là vấn đề phát triển con người được coi là mộttrong những nhân tố cơ bản của phát triển Sự phát triển xã hội được xem xét trênnhiều khía cạnh, song đối với làng nghề nông thôn có thể đánh giá theo một số tiêuchỉ sau đây

- Giải quyết việc làm đầy đủ, tạo thu nhập cho người dân đây là tiêu chí cơ bản để phát triển xã hội Thu nhập bình quân biểu hiện sự tác động về

kinh tế đối với cá nhân người lao động, đây là chỉ báo quan trọng phản ánh và làtiền đề để nâng cao mức sống dân cư nói chung Khi có việc làm, con người mới

có cơ hội để phát triển toàn diện, tự đáp ứng những nhu cầu cơ bản và những nhucầu chất lượng cao

- Thu hẹp khoảng cách phát triển giữa thành thị và nông thôn là chủ

trương lớn của Đảng vì mục tiêu tiến bộ và công bằng xã hội Với mức thu nhậpkhá cao và thu hút một lượng lớn lao động, sự phát triển của các làng nghề là biệnpháp trọng yếu để thúc đẩy khu vực nông thôn phát triển, kìm hãm sự tụt hậu ngàycàng gia tăng đối với thành thị

- Giữ gìn phong tục tập quán, bản sắc văn hoá truyền thống là việc bảo

tồn và nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần của cộng đồng dân cư Khu vực nôngthôn là bộ phận ít bị tác động của đô thị hóa và các nền văn hóa du nhập Bởi vậynét truyền thống là yếu tố vô cùng quan trọng trong đời sống xã hội và là đây cũngnơi tồn tại, lưu giữ cơ bản những bản sắc văn hóa dân tộc tồn tại hàng ngàn năm

2.3 Bảo vệ và nâng cao chất lượng môi trường

Môi trường có ba chức năng: là không gian sinh tồn của con người,(cả sốlượng và chất lượng); là nơi cung cấp tài nguyên cần thiết cho cuộc sống và hoạtđộng sản xuất của con người, là nơi chứa đựng , xử lý, tái chế các phế thải của conngười Môi trường giữ vai trò vô cùng quan trọng tác động đến cuộc sống củachúng ta Mặt khác môi cũng gánh chịu nhiều ảnh hưởng do hoạt động sinh hoạt vàsản xuất của con người Hiện nay tình trạng gây ô nhiễm tại các làng nghề diễn rakhá phổ biến, có thể kể đến bốn loại ô nhiếm sau

Trang 18

- Ô nhiếm môi trường không khí

Để đo mức độ ô nhiếm tại các làng nghề ta có thể ta có thể phân tích nồng độbụi( thường là bụi lơ lửng toàn phần),các loại khí thải độc hại như CO, NO2, SO2,

H2S, NH3.

- Ô nhiễm môi trường nước

Mức độ ô nhiễm môi trường nước tại các làng nghề ta thường phân tích cácthông số nồng độ PH (mg/l), BOD5(mg/l), SS (mg/l), tổng khí Nitơ (mg/l), tổngPhốt pho

- Chất thải rắn

Các làng nghề thủ công mỹ nghệ, chất thải rắn thường là các đầu mẩu mây,tre, nứa Còn ở các làng nghề sản xuất công nghiệp thì chủ yếu là xỉ than, các sảnphẩm bị hỏng và rơi vai xtrong quá trình sản xuất Ngoài ra, các làng nghề sản xuấtđúc đồng, trạm khảm rác thải sản xuất thường là mạ sắt, sắt vụn cũng gây ảnhhưởng không nhỏ đến môi trường

III Một số mô hình phát triển làng nghề trên thế giới

1 Mô hình “ Mỗi làng một nghề” của Nhật Bản

Phong trào “mỗi làng một sản phẩm” ở tỉnh Oita của Nhật Bản đã thực sựthu hút được sự quan tâm, học hỏi và phát triển ở nhiều quốc gia trên thế giới trong

đó có Thái Lan, Trung Quốc, Cam puchia, Indonesia…Đây là một điển hình về môhình phát triển nông thôn của Nhật Bản đã đem lại nhiều lợi thế cho người sản xuất

và nền kinh tế trong xu thế hội nhập kinh tế thế giới

Theo ngài Tadashi Ando, Giám đốc điều hành của “Ủy ban xúc tiến pháttriển quốc tế của phong trào mỗi làng một sản phẩm” tỉnh Oita, có 3 nguyên tắc cơbản để phát triển phong trào Thứ nhất: Hành động địa phương nhưng suy nghĩ toàncầu; thứ hai: tự tin và sáng tạo và cuối cùng là phát triển nguồn nhân lực Mỗi địaphương, tùy theo điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của mình lựa chọn ra những sảnphẩm độc đáo, mang đậm nét đặc trưng của địa phương để phát triển Việc tìm kiếmthị trường cho các sản phẩm có lẽ là một vấn đề luôn được quan tâm nhất, dù ởNhật Bản hay Việt Nam của chúng ta

Trang 19

Với phong trào mỗi làng một sản phẩm ở Oita, đã có rất nhiều sáng kiếnbán hàng được áp dụng Yếu tố thành công đầu tiên của việc tiếp thị các sảnphẩm chính là yếu tố chất lượng Yếu tố này không chỉ thể hiện ở bản thân chấtlượng của hàng hóa được kết tinh ở công nghệ chế biến và bảo quản đã đượcgiám định kỹ lưỡng bởi các cơ quan chức năng cũng như bởi ý thức sản xuấthàng hóa chất lượng cao trong hành vi của người Nhật Bản mà còn thể hiện rất

rõ ở nghệ thuật bao bì, đóng gói, luôn bắt mắt và thuận tiện cho việc vận chuyển,

sử dụng của người tiêu dùng

Phương thức bán hàng cũng rất ấn tượng – Ban lãnh đạo các hợp tác xãOyama thay thay mặt các thành viên của mình để tìm kiếm thị trường tổ chức giaohàng đến các điểm tiêu thụ

Song hành với việc phát triển mỗi làng một nghề chính là việc phát triển cáctrung tâm nghiên cứu và đào tạo trên địa bàn toàn tỉnh để có thể tạo ra các sản phẩmchất lượng đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng Các chuyên gia đào tạo tạiTrung tâm nói rằng, nguồn tài nguyên của bất kỳ quốc gia nào, bất kỳ địa phươngnào cũng có hạn, vì vậy nhiệm vụ của chúng ta là sử dụng nguồn tài nguyên đó mộtcách hiệu quả nhất để đem lại những giá trị tốt nhất cho cuộc sống

Những triết lý và bài học được đúc rút từ kinh nghiệm thực tế của ngườiNhật Bản là “Nguồn tài nguyên là có hạn nhưng sự sáng tạo là vô hạn”; “nếu bạn có

kỹ năng và óc sáng tạo thì những nguồn tài nguyên tưởng như là bỏ đi sẽ trở thànhnhững vật dùng quý giá, nhưng ngược lại, nếu bạn không có kỹ năng và sự sáng tạo,thì những nguồn tài nguyên quý giá nhất cũng sẽ trở thành vô dụng” còn đọng lạimãi trong các thành viên trong đoàn và chung tôi tin tưởng, trong một tương lai tơi

đây, chúng ta cũng sẽ có rất nhiều mô hình như vậy trong đề án “mỗi làng một nghề” đang dự kiến được triển khai thực hiện.

2 Kinh nghiệm phát triển làng nghề của Thái Lan

Thái Lan là quốc gia có nhiều làng nghề TTCN và làng nghề truyền thống.Sản phẩm của các làng nghề là những mặt hàng có giá trị cao phục vụ cho du lịch

và xuất khẩu Kết hợp kĩ thuật truyền thống từ bàn tay tay hoa của các nghệ nhânvới công nghệ kĩ thuật tiên tiến là bí quyết để các tạo ra những sản phẩm có chấtlượng cao, phù hợp với thẩm mỹ và thị hiếu người tiêu dùng Vì vậy sản phẩm docác làng nghề tạo ra có sức cạnh tranh lớn trên thị trường trong và ngoài nước

Chính sách đào tạo tay nghề lao động rất được chính phủ Thái Lan coi trọng.Ngoài ra, hoạt động của các tổ chức tín dụng cũng được đẩy mạnh khá đa dạng

Trang 20

nhằm mục đích hỗ trợ các làng nghề về mặt tài chính, thúc đẩy các hoạt động kinhdoanh và áp dụng công nghệ mới Bên cạnh đó, chình phủ Thái Lan còn có cácchính sách giảm thuế hàng loạt cho các linh kiện, phụ kiện liên quan đến các sảnphẩm trung gian, các nguyên liệu thô của làng nghề, đồng thời có luật khuyến khíchcác làng nghề hiện đại hóa sản xuất phù hợp với các điều kiện kinh tế, tự nhiên củamôi trường

Ở Thái Lan còn có hình thức tạo việc làm cho các làng nghề bằng cách hìnhthành các trung tâm đứng ra đấu thầu, sau đó họ chuyển giao một phần công việcđưa về cho các làng nghề làm gia công một số chi tiết, sản phẩm Hoạt động nàykhá phổ biến ở một số ngành sản xuất như: sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ chiếm 70%,công nghệ dệt 55%, công nghệ hóa chất 45%, sản xuất máy móc thiết bị 35%

Có thể nói, chính phủ Thái Lan đã thực hiện đồng bộ các giải pháp tập trung

cho sự phát triển của các làng nghề, tận dụng được các thể mạnh sẵn có đồng thờitích cực hỗ trợ cho các làng nghề về mọi mặt Vai trò của chính phủ là vô cùngquna trọng đối với sự phát triển của các làng nghề Thái Lan

Trang 21

CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

LÀNG NGHỀ HÀ NỘI

I Tổng quan về làng nghề của Hà Nội

1 Tổng số làng nghề

Hà Nội có số lượng làng nghề nhiều nhất cả nước, hiện có 1.350 làng nghề

và làng có nghề, Hà Nội đã chiếm tới 59% tổng số làng với 47 nghề trên tổng số 52nghề trên toàn quốc Có nhiều làng nghề nổi tiếng gắn liền với các giai đoạn lịch sửdân tộc, mà điển hình là: Bát Tràng (500 năm ), Làng lụa Vạn Phúc (1700 năm ),Đậu làng Mai Động (200 năm ), Làng rèn Đa Sỹ (1000 năm), Làng nghề mây tređan Phú Vinh (400 năm ), Làng nghề điêu khắc Nhân Hiền, Làng thêu Quất Động(350 năm ), Làng nghề sơn son thiếp vàng Hạ Thái (200 năm ), Phố hàng Bạc,Tranh dân gian Hàng Trống, Phố Hàng Thiếc, Phố Hàng Đồng

Bảng 2.1: Thống kê cơ cấu làng nghề phân theo vùng và ngành nghề

Đơn vị: làng

STT Quận, huyện, thị

xã, thành phố

Số lượng

Phân bố theo ngành nghề

cơcấu

Chế biến NS-LT- TP

khí

Ngành khác

Trang 22

19 Quận, huyện khác 26 2.11 9 8 2 5 2

Nguồn: Điều tra của Ban kinh tế Hội nông dân Việt Nam 2009

Sự phân bố các làng nghề không đồng đều giữa các vùng, tập trung ở một sốđịa phương như: Phú Xuyên(147), Thường tín(140), Chương Mỹ(194), ỨngHòa(107), Thanh Oai(119) Cơ cấu ngành nghề rất đa dạng nhưng chủ yếu là cácnhóm mặt hàng thủ công mỹ nghệ chiếm 50,37% và chế biến nông sản, lương thựcthực phẩm chiếm 18,15% Trong đó, có những sản phẩm đặc trưng của từng vùngvới số lượng làng nghề rất lớn như Thường Tín với nghề thêu, Thanh Oai với nghềlàm mũ, nón lá, Chương Mỹ với các nghề mây, tre, giang đan

Phát triển làng nghề, ngành nghề nông thôn là một chủ trương quan trọng ,rấtđược quan tâm đối với khu vực nông thôn Hà Nội Số lượng làng nghề ngày một giatăng, đăc biệt là sau khi sát nhập với tỉnh Hà Tây cũ “ mảnh đất trăm nghề”.Theothống kê, chỉ riêng tỉnh Hà Tây năm 2002 có 972 làng nghề ; đến năm 2006 đã có

1108 làng có nghề (chiếm 80,8% trong số 1460 làng của tỉnh) Uỷ ban nhân dân tỉnh

đã công nhận các làng nghề đạt tiêu chí làng nghề : 2001(120), 2002(120),2003(140), 2004(201), 2005(219), 2006(240) Năm 2008, làng nghề đạt tiêu chí làngnghề chiếm 16,4% tổng số làng nghề Có 14/14 huyện, thị và thành phố đều có làngnghề được cấp bằng công nhận làng nghề (huyện Thanh Oai: 47 làng, Phú Xuyên: 36làng; Thường Tín: 40 làng; Chương Mỹ: 28 làng; Ứng Hoà: 18 làng; Ba Vì: 14 làng;Hoài Đức: 14 làng; Quốc Oai 13 làng; Thạc Thất: 9 làng; Mỹ Đức; 6 làng)

II Thực trạng phát triển bền vững làng nghề Hà Nội

1 Bền vững về mặt kinh tế

1.1 Giá trị sản xuất tại các làng nghề

Hà Nội, mảnh đất trăm nghề là nơi hội tụ tinh hoa văn hoá của cả nước Vớithế mạnh về số lượng làng nghề chiếm tới 59% tổng số làng nghề làng với 47 nghềtrên tổng số 52 nghề trên toàn quốc với hàng chục nhóm nghề đang có xu hướngphát triển như gốm sứ, dệt may, da giày, điêu khắc, khảm trai Trong đó, có không

ít làng nghề nổi tiếng gắn với quá trình 1000 năm hình thành và phát triển ThăngLong - Hà Nội, với nhiều đặc tính riêng của truyền thống lịch sử và văn hóa dântộc Giá trị sản xuất của làng nghề, làng có nghề đạt trên 7650 tỷ đồng/năm, chiếm

26 % giá trị sản xuất công nghiệp ngoài quốc doanh, chiếm 8,4% tổng giá trị sảnxuất công ghiệp- TTCN của thủ đô Nổi bật như mộc Chàng Sơn, gốm sứ BátTràng, Mộc Vạn Điểm, dệt kim La Phù

Trang 23

Bảng 2.2: Cơ cấu giá trị sản xuất của các làng nghề Hà Nội

2008/

2007

2009/ 2008

Nguồn: Điều tra của Ban kinh tế Hội nông dân Việt Nam

Giá trị sản xuất của các làng nghề liên tục gia tăng qua các năm Năm 2008

đẫ đạt mức tăng trưởng khá ấn tượng với tốc độ tăng trưởng 29.2%, đạt giá trị sảnxuất là 6533 tỷ đồng Tuy nhiên, bước sang năm 2009, tốc độ tăng trưởng chỉ đạt ởmức 17.1%, có dấu hiệu sụt giảm đáng kể so với năm 2008 Nguyên nhân là do ảnhhưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới, các sản phẩm của làng nghề khó tiêuthụ cả trong và ngoài nước

Cơ cấu giá trị sản xuất cũng có sự đóng góp đáng kể của các làng nghề mới.Qua các năm, mức đóng góp của các làng nghề mới luôn xấp xỉ 20% giá trị sản xuấtcủa tổng số các làng nghề Đây là kết quả của chính sách thúc đẩy phát triển cácngành nghề phi nông nghiệp của Nhà nước Là đâu hiệu đáng mừng, cho công cuộcchuyển dịch cơ cấu nông thôn

Có nhiều làng nghề đang phát triển rất thăng hoa nhờ việc phát huy tốt nộilực, tạo nên sức bật lớn về kinh tế Hà Nội có gần 100 làng nghề đạt doanh số10–

20 tỷ đồng/năm, 70 làng nghề đạt 20–50 tỷ đồng/năm, 20 làng nghề đạt trên 50 tỷđồng/năm

Đặc biệt, một số làng nghề đạt doanh số rất cao như làng gốm sứ Bát Tràngđạt 283 tỷ đồng/năm; làng nghề La Phù (huyện Hoài Đức) chuyên dệt kim và làmbánh kẹo đạt 587 tỷ đồng/năm; làng nghề mộc Vạn Điểm (huyện Thường Tín) đạt

105 tỷ đồng

Hiện nay đã có hơn 40 nhóm sản phẩm của các làng nghề được xuất khẩu,trong đó phải kể đến: gốm, lụa, hàng thủ công mỹ nghệ Năm 2008, 2009 các làngnghề đã đóng góp cho kim ngạch xuất khẩu xấp xỉ 1 tỷ USD

Trang 24

Bảng 2.3: Cơ cấu giá trị xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ

Đơn vị: triệu USD

Nguồn: Sở công thương thành phố Hà Nội

Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu sản phẩm của các làng nghề khá đa dạng Trong

đó, đạt giá trị lớn nhất là gốm sứ mỹ nghệ chiếm gần 50% giá trị xuất khẩu của cảthành phố Tốc độ tăng trưởng liên tục gia tăng qua các năm với mức tăng trưởngrất cao, đặc biệt là năm 2007(51.3%) Tuy nhiên, sang đến năm 2009, kim ngạchxuất khẩu đã sụt giảm đáng kề (-8.66%) Nguyên nhân là do tác động của cuộckhủng hoảng kinh tế toàn cầu Thị trường xuất khẩu hàng TCMM gặp rất nhiều khókhăn, nhiều doanh nghiệp lâm vào tình cảnh phá sản Giá trị xuất khẩu của tất cảcác nhóm hàng đều thấp hơn so với năm 2008 Bước sang năm 2010,cùng vớinhững biện pháp thương mại, kích cầu hiệu quả và sự phục hồi của nền kinh tế, kimngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ lại có nhiều khởi sắc

Trang 25

1.2 Sản phẩm và thị trường tiêu thụ của làng nghề

Sản phẩm và thị trường là khâu cuối cùng của chuỗi giá trị sản xuất, là yếu tốquyết định đến sự phát triển của làng nghề Nâng cao chất lượng sản phẩm cùng vớiviệc quản lý tốt thị trường chính là chìa khoá thành công cho các làng nghề

Với ưu thế là mảnh đất trăm nghề, nơi hội tụ tinh hoa văn hóa làng nghề của

cả nước Sản phẩm của làng nghề Hà Nội đa dạng về chủng loại, có nhiều mặt hàngnổi tiếng, có giá trị cao tạo nên thương hiệu rất được ưa chuộng Một số làng nghề

đã tồn tại hàng trăm năm, đi vào ca dao, tục ngữ như: tranh dân gian Hàng Trống,gốm sứ Bát Tràng, lụa Vạn Phúc… Chính bởi chất lượng sản phẩm độc đáo dựatrên những bí quyết, kinh nghiệm được lưu truyền lâu đời đã tạo nên thương hiệucho các làng nghề Các sản phẩm truyền thống rất được ưa chuộng như: mây tre đanPhú Vinh, rèn Đa Sỹ, thêu ren Quất Động, dệt sợi Tân Triều; các món ăn hấp dẫnnhư bánh quấn Thanh Trì, bánh Tôm Hồ Tây, bún Tứ Kỳ, cốm làng Vòng

Bên cạnh đó còn có rất nhiều làng nghề mới hình thành do tác động lan toả

từ các làng nghề truyền thống cũng đã nhanh chóng nắm bắt được xu thế của thịtrường và phát triển mạnh mẽ tạo dựng được thương hiệu Ngày nay những tên tuổinhư may Cổ Nhuế, dược liệu Ninh Hiệp…dường như cũng đã khá quen thuộc vớingười tiêu dùng mặc dù không phải là những sản phẩm truyền thống

Tuy nhiên, một thực trạng hiện nay đối với các làng nghề nói chung và làngnghề Hà Nội nói riêng đó là chất lượng sản phẩm còn thấp do thiếu công nghệ vàtrang thiết bị lạc hậu dẫn đến chi phí sản xuất cao và không đảm bảo chất lượng.Hầu hết các sản phẩm đều được sản xuất bằng hình thức thủ công không có tiêuchuẩn đánh giá chất lượng cụ thể, thông tin liên quan về các tiêu chuẩn không phổbiến Các mặt hàng chế biến lương thực, thực phẩm thường không đảm bảo chấtlượng VSATTP

Kinh nghiệm quản lý, thông tin thị trường, nhu cầu người tiêu dùng, loại sảnphẩm ưa chuộng ,mẫu mã thiết kế… không được đánh giá đúng đắn Rất nhiều chủdoanh nghiệp và người sản xuất gặp vấn đề về thiếu thông tin Người dân làng nghềvẫn còn chưa nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng của chất lương sản phẩm, thiếunhạy bén đối với những hay đổi của thị trường, ỷ lại vào danh tiếng vốn có của sảnphẩm truyền thống Trên thực tế, nhiều người sản xuất không biết “ nên sản xuấtsản phẩm nào, cho thị trường nào và mức giá bao nhiêu” Họ thường chỉ thuần túyđáp ứng đơn đặt hàng của các nhà phân phối và khách hàng, chứ không có đủ khảnăng và kinh phí tạo ra sản phẩm mới

Trang 26

Hầu hết làng nghề nào có cơ sở, doanh nghiệp làm ăn hiệu quả thì làng nghề

đó phát triển Họ có vốn, có sự nhạy bén thị trường, có khả năng tổ chức Họ hoạtđộng như đầu tàu chính kéo theo cả đoàn tàu là làng nghề đi lên Còn những làngnghề đang gặp khó khăn thường do sản phẩm làm ra không phù hợp với thị trường,sản xuất manh mún, cò con, ngại đối đầu rủi ro, thiếu sự liên kết với nhau Nhiềulàng nghề mới chỉ biết tập trung sản xuất, chưa chú trọng khâu tiếp thị, kinh doanh.Sản phẩm họ làm ra đến được khách hàng phải qua nhiều khâu trung gian, làm lợinhuận thu về rất thấp

Bảng 2.4: Điều tra về sản phẩm và tình trạng tiêu thị sản phẩm

Đơn vị: %

Sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Nghề truyền

Sản phẩm làm ra bán trực tiếp đến người tiêu dùng (%) 15 22

Nguồn: Điều tra của Ban kinh tế Hội nông dân Việt Nam

Theo thống kê cho thấy, các làng nghề sản xuất sản phẩm rất đa dạng, thịtrường xuất khẩu cho sản phẩm của các làng nghề khá lớn trên 50%, sản phẩm tiêuthụ tại chỗ khá nhỏ Tuy nhiên, kênh tiêu thụ chủ yếu là thông qua các đại lý trunggian, đây không phải là sự chuyên môn hóa cao mà là do khả năng tiếp cận thịtrường của các cơ sở sản xuất còn yếu kém Điều đó, làm hạn chế mối liên hệ giữathị trường và quá trình sản xuất dẫn đến sản phẩm khó mà đáp ứng phù hợp với nhucầu thị trường, làm tăng chí phí sản phẩm và giảm lợi nhuận

Đứng trước xu hướng phát triển của xã hội ưa chuộng các mặt hàng côngnghiệp sản xuất với công nghệ hiện đại và sự tràn ngập của các hàng hóa nhập khẩu

có tính chất tương tư, chủ yếu là của Trung Quốc Sản phẩm truyền thống của cáclàng nghề ngày càng thiếu tính cạnh tranh cả về mẫu mã và chất lượng sản phẩm

Theo Hiệp hội Mây, giang đan Hà Nội, thời gian qua, sản xuất hàng TCMNtại các làng nghề gặp nhiều khó khăn, nhất là việc tạo ra mẫu mã sản phẩm mới.Các DN thành viên của Hiệp hội vẫn chủ yếu sản xuất gia công theo mẫu có sẵn dođối tác đặt hàng, ít sáng tạo hoặc chỉ biết "nhái" mẫu của nước ngoài Mẫu mã kém

Trang 27

hấp dẫn trong khi thị trường xuất khẩu ngày càng khó tính, nên sản phẩm mây, tređan của hiệp hội rất khó cạnh tranh trên thị trường quốc tế Nếu ký được hợp đồngxuất khẩu, giá cũng thường thấp hơn khoảng 30% so với sản phẩm cùng loại củamột số nước khác như Trung Quốc, Thái Lan…

Hiện có khoảng 85% mẫu mã hàng TCMN trong nước xuất khẩu được sảnxuất theo mẫu của người mua Sự lệ thuộc này đang là rào cản khiến ngành rơi vàotình trạng bất ổn định, đời sống người lao động bấp bênh Đại diện Hiệp hội Gốm

sứ Bát Tràng cho biết, đến nay cả làng làm gốm sứ chưa có một trung tâm thiết kếmẫu nào Các mẫu hàng quà tặng chào đối tác nước ngoài thiếu nét riêng của ViệtNam, thiết kế gần giống hàng Trung Quốc, Thái Lan Vì thế, năm qua các DN làngnghề Bát Tràng mất 70-90% đơn đặt hàng của đối tác nước ngoài Việc thiếu trầmtrọng những mẫu thiết kế theo xu hướng hiện đại, mang dáng dấp Việt Nam đang làvấn đề bức xúc trong ngành TCMN Theo ước tính, mỗi năm thị trường Mỹ nhập 13

tỷ USD hàng TCMN, nhưng hàng của Việt Nam chỉ chiếm 1,5%; thị trường EU tiêuthụ mỗi năm khoảng hơn 7 tỷ USD, trong khi hàng Việt Nam chỉ chiếm 5,4%

1.4 Gắn kết làng nghề với du lịch

Du lịch làng nghề phát triển dựa vào việc khai thác các giá trị văn hóa truyềnthống, các kĩ năng nghề thể hiện trong các sản phẩm làng nghề kết hợp chặt chẽ vớinếp sống, sinh hoạt bình dị của người dân địa phương và những cảnh quan điểnhình của nông thôn Du lịch là yếu tố giúp tiêu thụ sản phẩm tại chỗ, thu hút khách

du lịch, đóng góp phát triển ngành dịch vụ du lịch Sự phát triển của du lịch ngượclại sẽ đóng góp tích cực cho việc quảng bá, phát triển làng nghề

Hà Nội có nhiều làng nghề, phố nghề truyề thống, sản xuất và kinh doanhcác sản phẩm mang đậm nét giá trị văn hoá, nghệ thuật Hà Nội Sau khi sát nhậpvới Hà Tây- tỉnh được mệnh danh là “mảnh đất trăm nghề “ đã làm cho tiềm lựclàng nghề của Hà Nội trở nên mạnh mẽ nhất cả nước Hơn nữa, các làng nghề HàNội được phân bố ở các trục và đầu mối giao thông, ở các bến sông nên rất thuậnlợi để kết hợp phát triển du lịch

Văn hoá Hà Nội phong phú, đa dạng, có nhiều đền chùa, di tích lịch sử, ditích văn hoá và lễ hội truyền thống Điều đó cho phép Hà Nội có thể kết hợp cácloại hình du lịch: du lịch sinh thái, du lịch tâm linh, khu du lịch khám phá và du lịchlàng nghề Nếu khai thác tốt lợi thế của các làng nghề, Hà Nội sẽ có thêm nhiềuđiểm du lịch vô cùng hấp dẫn

Trang 28

Nhận thức được các thế mạnh về làng nghề và du lịch, trong những năm qua

Hà Nội đã bước đầu kết hợp phát triển làng nghề với phát triển du lịch Các công ty

lữ hành của Hà nội đã xây dựng 7 điểm đến tham quan các làng nghề, đó là: gốm sứBát Tràng, thêu Quất Động, chạm khắc gỗ Vân Hòa, lụa Vạn Phúc, chạm khảmChuôn Ngọ, sơn mài Hạ Thái, mây tre đan Phú Vinh, với 4 lịch trình là:

- Tour làng nghề truyền thống Hạ Thái và Chuôn Ngọ với các nội dung: tìmhiểu cách thức tạo ra những sản phẩm sơn mài sặc sỡ, khám phá nét độ đáo và khácbiệt của sản phẩm sơn mài đặc trưng Hà nội; trải nghiệm quy trình làng nghề khảmtrai- sơn màu trong một nài công đoạn sản xuất; cảm nhận độ tỷ mỉ, cần cù trongtừng nết chạm, khảm tinh xảo của người dân làng nghề Chuôn Ngọ

- Tour làng nghề truyền thống Phú Vinh và Vạn Phúc với cá nội dung: trảinghiệm cuộc sống của một người làm nghề mây tre đanvới việc tham gia vào mộtvài công đoạn sản xuất và dung cơm trưa tại chính gia đình nghệ nhân; chiêmngưỡng vẻ đẹp và tính sang tạo không ngừng chứa trong từng sản phẩm mây tređan; tìm hiểu sự khác biệt giữa các chất liệu lụa và lịch sử thăng trầm của làng nghềVạn Phúc; có cơ hội mua sắm những sản phẩm thủ công truyền thống

- Tour làng nghề truyền thống Bát Tràng và Quất Động với các nội dung:khám phá vẻ đẹp đầy chất nghệ thuật cảu làng gốm Bát Tràng và làng thêu QuấtĐộng; chiêm ngưỡng những sản phẩm tinh xảo, độc đáo và công phu của các nghệnhân; tự tay tạo ra những sảm phẩm bằng gốm hoặc bức thêu cho riêng mình; dùngcơm trưa với những món ăn truyền thống trong khung cảnh thanh bình của ngôi nhà

cổ kính nhất làng Bát Tràng

Du lịch là đặc điểm nổi bật của các làng nghề Hà Nôi, là hướng phát triển rấttriển vọng trong tương lai, tuy nhiên hiện tại đa số các làng nghễ vẫn chưa phát huyđược lợi thế của mình thậm chí còn bỏ ngỏ Gần 10 năm kể từ khi thành phố có chủtrương đưa làng nghề vào khai thác du lịch, có thể đếm trên đầu ngón tay số lượnglàng nghề được “du lịch hóa thành công” Ngoại trừ hai cái tên được nhắc đến liêntục là Bát Tràng và Lụa vạn Phúc, các làng nghề khác gần như bị bỏ quên, mặc dù

có chủ trương của chính quyền địa phương Dù dược triển khai tư năm 2003- 2004

và có tên trong các hang lữ hành như trên song đến nay tình hình du lịch tại nhữngđiểm này không có những chuyển biến tích cực nào, lượng tour thưa thớt, kháchhàng thờ ơ

Lý giải cho tình hình du lịch ảm đảm ở các làng nghề không thể không nóiđến chất lượng sản phẩm của các hãng lữ hành Các đầu tour không thể chỉ có

Trang 29

nhiệm vụ dẫn khách tới làng nghề và để mặc khách tự tìm hiểu Bản thân sản phẩm

mà hãng đưa ra phải có tính sáng tạo, có cách tiếp cận, cách tham quan khác lạ,không thể kết nối được người dân với khách sự liên kết và chia sẻ lợi nhuận giữahãng lữ hành với người dân làng nghề là điều kiện tiên quyết cho việc duy trì vàphát triển du lịch làng nghề Một vấn đề nữa cũng cần quan tâm là trình độ của cáchướng dẫn viên du lịch chuyên về làng nghề Nếu đội ngũ hướng dẫn viên khôngđược cung cấp kiến thức về văn hoá làng nghề, cũng như “vốn liếng hiểu biết” vềquần thể các di tích lịch sử - văn hoá có mặt trong làng nghề thì rất khó mang lạicho du khách hứng thú thực sự

Thiếu kiến thức du lịch là tình trạng chung của các làng nghề Người dânkhông có hiểu biết về tiếp thị, không được học cách tiếp khách du lịch, không đượchướng dẫn cách làm ra những sản phẩm hấp dẫn giá rẻ để “mua chuộc” khách Làngnghề nào mà người dân càng nhạy bén với thị trường, hiểu biết về tiếp thị thì cànghút khách du lịch Đó cũng chính là bí quyết của Bát Tràng-Kim Lan hay làng lụaVạn Phúc Người dân ở Bát Tràng biết đón khách vào nhà như thế nào.Họ còn

“nhạy” đến mức nghĩ ra chiếc xe trâu để chở khách thong dong đi thăm thú các lògốm Chợ Bát Tràng cũng không chỉ thuần buôn bán mà còn có những gian hàngcho khách được tham gia vào các công đoạn làm gốm Việc khách được tự nặn, tự

vẽ, tự sáng tạo ra sản phẩm gốm theo ý thích và nhìn thấy sản phẩm hoàn chỉnh củamình từ lò ra khiến khách đặc biệt thích thú và cảm thấy thoả mãn với chuyến đi

“Tâm lý đó vô cùng quan trọng quyết định việc khách có trở lại đây lần nữa haykhông và hãng lữ hành có thể tiếp tục phát triển tour du lịch này hay không.”

Sở công thương đã tổ chức các đợt tập huấn kỹ năng làm du lịch cho ngườidân một số làng nghề truyền thống Gần đây nhất từ ngày 21/7 đến ngày 26/7/2010,

Sở Công Thương tổ chức tập huấn kỹ năng làm du lịch cho người dân tại 5 làngnghề truyền thống Hà Nội bao gồm: Làng nghề gỗ mỹ nghệ Thiết Úng (xã Vân Hà,huyện Đông Anh); Làng nghề gốm sứ Bát Tràng (xã Bát Tràng, huyện Gia Lâm);Làng nghề sơn mài Hà Thái (xã Duyên Thái, huyện Thường Tín); Làng nghề sơnkhảm thôn Ngọ (xã Chuyên Mỹ, huyện Phú Xuyên) và Làng nghề mây tre đan PhúVinh (xã Phú Nghĩa, huyện Chương Mỹ) Mục đích các lớp tập huấn nhằm cungcấp những kỹ năng cơ bản về du lịch cho người dân làng nghề như: kỹ năng giaotiếp với du khách, cách giới thiệu bán hàng, cách kết hợp du lịch với bảo tồn các giátrị văn hóa, truyền thống làng nghề

2 Bền vững về mặt xã hội

Trang 30

2.1 Thu nhập và việc làm từ nghề

- Thu nhập tại các làng nghề

Thực tế cho thấy kinh tế nông thôn gắn liền với nông nghiệp có nhiều hạnchế Nông dân ở nhiều vùng nông thôn không thể làm giàu được trên mảnh ruộngcủa mình dù đã cố gắng xoay xở hết cách Làng nghề sẽ mở ra cho nông dân mộthướng làm ăn khác ngay trên mảnh đất của mình Họ sẽ không phải thất nghiệp phải

đi tha phương cầu thực Sự phát triển của các làng nghề không những giải quyếtđược tình trạng dư thừa lao động ở khu vực nông thôn, hạn chế di dân tự do vớiphương trâm “ ly nông bất ly hương” mà còn mang lại cho người dân mức thu nhậpcao và ổn định

Bảng 2.5: Thống kê về thu nhập bình quân/hộ gia đình tại một số làng nghề

Chế biến nông sản, thực phẩm 1.000.000 2.300.000

Nguồn: Điều tra của Ban Kinh tế Hội nông dân Việt Nam năm 2009

Thu nhập từ các làng nghề thường gấp 3- 4 lần so với hoạt động trong lĩnh vựcnông nghiệp, trung bình 1 triêu đồng/ lao động Lao động tại nhiều làng nghề cómức thu nhập khá cao trên 1.000.000 đồng, thậm chí có thể lên tới 2.500.000 đồngnhư nghề gốm sứ, cơ khí nhỏ, sản xuất các sản phẩm từ gỗ, chế biến nông sản thựcphẩm, nghề làm giấy Có một số nghề đặc thù như cây cảnh, khảm bạc, lũi đòi hòinhiều về kĩ thuật nghề mang lại thu nhập rất cao Mức thu nhập tại các làng nghềkhá đa dạng, bên cạnh những làng nghề đang rất thăng hoa, lại có những làng nghềlàm không hiêu quả do nhiều nguyên nhân do lượng sản phẩm tiêu thụ hạn chế hoặcgiá trị của sản phẩm thấp đều ảnh hưởng đến thu nhập mà nghề mang lại Nhưngnhìn chung, hầu như không có làng nghề nào có mức thu nhập dưới 500.000 đồng

Thu nhập được cải thiện là tiền đề cơ bản đề người dân nâng cao chất lượngcuộc sống, đáp ứng các nhu cầu về vật chất cũng như tinh thần, từ các nhu cầu cơ

Trang 31

bản đến các nhu cầu chất lượng cao Nhờ đó, đời sống của dân cư làng nghề đãđược nâng cao đáng kể tiến tới một xã hội văn minh, tiến bộ.

- Giải quyết việc làm từ nghề

Dư thừa lao động và thất nghiệp là bài toán nan giải của mọi nền kinh tế.Trong khi diện tích đất nông nghiêp ngày càng bị thu hẹp do quá trình CNH- HĐHchuyển đổi mục đích sử dụng đất cho công nghiệp, xây dựn đô thị và các công trìnhkiên trúc hạ tầng cơ sở Cùng với tốc độ tăng tự nhiên của dân số, nhu cầu về đấtsinh hoạt và sản xuất gia tăng Một bộ phận lớn nông dân không có đất để canh tác.Cộng thêm cả yếu tố chênh lệch về thu nhập, điều kiện làm việc nên càng ngày càng

có nhiều lao động ở các vùng quê, nhất là những làng quê thuần nông lên thành phốkiếm việc làm Chính điều này đã làm nảy sinh nhiều vấn đề xã hội khó giải quyếtnhư: tình trạng quá tải người lao động ở các thành phố, thiếu nhân công phục vụ sảnxuất ở nông thôn Trong bối cảnh đó, làng nghề chính là một khu vực kinh tế quantrọng thu hút, giải quyết việc làm cho người lao động, góp phần giải quyết nhữngmâu thuẫn, vấn đề xã hội trên

Với quy mô làng nghề nhiều nhất cả nước, làng nghề Hà Nội đã thu hút vàgiải quyết việc làm cho 626500 lao động chiếm chiếm hơn 64% tổng số lao độngtrong độ tuổi của làng và chiếm hơn 42% tổng số lao động sản xuất công nghiệp –tiểu thủ công nghiệp trên toàn thành phố Đây là hướng phát triển khá hợp lý, bởi lẽhoạt động tại các làng nghề sử dụng chủ yếu là lao động phổ thông; lao động không

có trình độ học vấn hay chuyên môn cao vẫn có thể tham gia sản xuất Do đó, một

bộ phân lớn lao đông dư thừa trong nông nghiệp có thể dẽ dàng chuyển sang hoạtđộng ngành nghề phi nông nghiệp Sản phẩm của các làng nghề mang tính chất thủcông sử dụng khá nhiều lao động, có thể tận dụng lao động thời vụ lúc nông nhàn,thâm chí cả người khuyết tật Trung bình mỗi hộ làm nghề phi nông nghiệp có thểthu hút thêm 2-5 lao động, còn mỗi cơ sở làm nghề phi nông nghiệp thu hút 8-10lao động thời vụ Nhiều làng nghề, nhất là các làng nghề chế biến nông sản do tínhchất mùa vụ của công việc, số lao động thời vụ thường rất lớn, thậm chí gấp 4-7 lần

số lao động thường xuyên, thu hút lao động của nhiều địa phương lân cận Hơn thếnữa, các nghề phi nông nghiệp trong các làng nghề phát triển còn tạo điều kiện đểnhiều nghề khác, nhiều hoạt động dịch vụ liên quan phát triển, thu hút thêm nhiềulao động hơn Bên cạnh giải quyết công ăn việc làm tại chỗ thì nhiều xã nghề đã trởthành trung tâm thu hút lao động trong một thời gian dài như: La Phù (Hoài Đức),

Trang 32

Phú Túc (Phú Xuyên), Quảng Phú Cầu (Ứng Hòa), Bát Tràng (Gia Lâm), XuânĐỉnh (Từ Liêm)…

- Nâng cao thu nhập và việc làm tại các làng nghề đã góp phần thu hẹp khoảng cách phát triển giữa thành thị và nông thôn Ở các làng nghề phát triển thể

hiện một sự giàu có, văn minh hơn hẳn hẳn những vùng chỉ thuần tuý sản xuấtnông nghiệp Nhiều làng nghề, đời sống của người dân khá cao Ngoài những ngôinhà xây cầu kỳ, sang trọng thì việc mua sắm các thiết bị trong gia đình như: xemáy, tivi, tủ lạnh, thậm chí cả ô tô cũng không phải là thách thức gì ghê gớm Khingười dân có việc làm ổn định, thu nhập cao khiến sức mua tăng lên tạo thị trườngcho công nghiệp và dịch vụ phát triển Ngoài các hoạt động dịch vụ sản xuất trựctiếp còn có một số loại dịch vụ khác nữa, đó là dịch vụ tín dụng, ngân hàng Khi

có việc làm và ổn định về kinh tế, người nông dân sẽ có ý thức gắn bó với nghề,với làng quê Từ đó, hạn chế được tình trạng di cư tự do lên các khu vực thành thị,gây sức ép về dân số và xã hội Các vấn đề y tế, giáo dục, giải trí cũng được quantâm hơn và nâng cao chất lượng, hạn chế tệ nạn và các vấn đề xã hội tiêu cực Donhu cầu buôn bán trao đổi thường xuyên, tại các làng nghề thường hình thành các

hệ thống phố, chợ Sự trao đổi thương mại là động lực thúc đẩy sự giao thươngcác chủng loại hàng hóa đa dạng trong sinh hoạt cũng như sản xuất, giao thoa cácnền văn hóa tiến bộ Nhờ đó, làng nghề sẽ có sự phát triển phong phú về vật chấtcũng như tinh thần Quá trình mở rộng, phát triển sản xuất cũng đòi hỏi việc hộinhập tri thức và áp dụng các thành tựu khoa học hiện đại, từ đó góp phần nâng caotrình độ dân trí dân cư Ngoài ra, sự phát triển của làng nghề cũng tạo nguồn vốncho ngân sách địa phương triển khai xây dựng và nâng cấp kết cấu hạ tầng cơ sởnhư giao thông, trường học, bệnh xá… Như vậy, khoảng cách phát triển giữa cáckhu vực thành thị và nông thôn đã được cải thiện đáng kể

2.2 Giữ gìn phong tục tập quán, bản sắc văn hoá truyền thống

Phong tục tập quán và bản sắc văn hóa truyền thống là tài sản tinh thần vôgiá của mỗi dân tộc, mỗi vùng miền Tuy nhiên, ngày nay trước sự phát triển, thayđổi không ngừng của đời sống kinh tế xã hôi thì các giá trị quý báu đó đang dần bịthay đổi và biến mất Có thể nói, làng nghề truyền thống là bộ phận xã hội ít chịuảnh hưởng của đô thị hóa, là nơi còn lưu giữ khá phong phú các nét văn hóa truyềnthống ẩn chứa trong sản phẩm, trong phương thức sản xuất và đời sống sinh hoạtcộng đồng dân cư Yếu tố truyền thống trong các làng nghề rất cần được coi trọng

và bảo tồn

Trang 33

Hiện nay các làng nghề đang đứng trước nhiều thách thức không nhỏ để lưugiữ được truyền thống làng nghề của mình Trước thực trạng này, Hà Nội đã có chủtrương ưu tiên khôi phục, bảo tồn 25 làng nghề lâu đời nhưng đang đứng trước nguy

cơ thất truyền như đúc đồng Ngũ Xã, giấy sắc Nghĩa Ðô, sơn mài Ðông Mỹ, nón láÐại Áng, giấy dó Vân Canh UBND TP Hà Nội đã ra Quyết định số 22 về bảo tồn,phát triển làng nghề thủ công truyền thống Theo đó, Hà Nội sẽ chi trả 70% chi phícho việc xây dựng và phát triển thương hiệu cho các làng nghề truyền thống baoquanh thành phố Để quảng bá rộng rãi thương hiệu, các làng nghề được quảng cáomiễn phí trên website Sở Công Thương và tại các trung tâm thương mại Đồng thời,

hỗ trợ các làng, các cơ sở kinh doanh phát triển website dựa trên website chính củathành phố Thành phố hỗ trợ 100% chi phí đào tạo lao động tại các làng nghề.Nguồn vốn này được lấy từ ngân quỹ chi cho phát triển công nghiệp thành phố; đầu

tư 100% chi phí cho việc đào tạo, nâng cao kỹ năng quản lý cho người đứng đầu cơ

sở sản xuất…

Thành phố đã tiến hành triển khai công nhận các làng nghề truyền thống,công nhận nghệ nhân cho làng các nghề hàng năm Điều này rất quan trọng trongviệc nêu cao vai trò của làng nghề truyền thống đối với nền kinh tế và việc bảo tồnbản sắc văn hóa truyền thống dân tộc Từ đó, thúc đẩy các làng nghề tiếp tục phấnđấu, phát triển bền vững trong tương lại Theo Quy chế, những làng nghề được côngnhận, ngoài số tiền thưởng 5 triệu đồng, còn được hưởng các chế độ ưu đãi vềkhuyến công, phát triển nghề và làng nghề cùng các chính sách ưu đãi hiện hànhcủa Nhà nước; được bổ sung vào danh sách các làng nghề truyền thống của xã,huyện, thành phố để lập quy hoạch, đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng và xử lý môitrường cho làng nghề cũng như bên ngoài hàng rào các điểm công nghiệp làng nghềphục vụ sản xuất; được hỗ trợ 100% chi phí thuê gian hàng tiêu chuẩn để trưng bàycác sản phẩm làng nghề khi tham gia hội chợ, triển lãm giới thiệu sản phẩm ở trongnước; được hỗ trợ 50% kinh phí thuê một gian hàng tiêu chuẩn và được hỗ trợ 50%kinh phí phương tiện đi lại khi đi tham gia hội chợ, triển lãm ở nước ngoài Tính hếtnăm 2009, toàn TP có 116 nghệ nhân ở các làng nghề được UBND TP trao bằngNghệ nhân

Nói chung, bảo tồn các phong tục tập quán và bản sắc văn hóa dân tộc là vấn

đề đang rất được Nhà nước coi trọng, cộng đồng nhân dân cũng ngày càng nhậnthức được giá trị quan trọng sâu sắc của nó Tuy nhiên, trước sự phát triển của nềnkinh tế thị trường không ít các gía trị văn hóa quý báu đó đã bị mai một, cần phải có

Trang 34

những biện pháp định hương, khuyến khích thiết thực, đúng đắn từ phía chính phủ

và sự nỗ lực của cộng đồng dân cư

Theo điều tra năm 2009, trong số 256 làng nghề được kiểm tra, có 22 điểmlàng nghề gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Đó là 3 làng nghề chế biến nôngsản thuộc huyện Hoài Đức, 2 làng nghề dệt nhuộm và dệt, in hoa trên vải thuộcquận Hà Đông; 2 làng nghề thuộc da và chế tác sản phẩm từ xương, sừng động vậtthuộc huyện Thường Tín; 2 làng nghề cơ khí và làm bún thuộc huyện Thanh Oai;các làng nghề chế biến tinh bột sắn thuộc huyện Phúc Thọ, Quốc Oai, Đan Phượng,

Ba Vì; 13 các làng nghề sơn khảm xã Chuyên Mỹ huyện Phú Xuyên; làng nghề cơkhí, mạ, rèn Xuân Phương huyện Từ Liêm; làng nghề tái chế phế liệu thuộc các xãTân Triều huyện Thanh Trì

Làng nghề ô nhiễm còn gây ảnh hưởng xấu đến sản xuất nông nghiệp của cả vùng Do các chất thải chứa nhiều tạp chất phát sinh từ hoạt động của các làng nghề

ảnh hưởng xấu đến môi trường nước, khí, đất, gây nguy hại đến sự sinh trưởng củacác loại thực vật, động vật sống trong môi trường đó, làm giảm năng suất và sảnlượng lương thực và các loại hoa màu, thuỷ sản

Ô nhiễm môi trường làng nghề gây ngoại ứng tiêu cực với xã hội và việc phát triển du lịch dẫn đến những xung đột trong cộng đồng dân cư khu vực, giữa hộ

có nghề và hộ không có nghề; giữa làng có nghề và làng không có nghề Ngoài ra,làng nghề ô nhiễm cũng ảnh hưởng xấu đến du lịch do khách không hài lòng vớimôi trường không đảm bảo, đường đi lối lại chật chội, mùi hôi thối nồng nặc, hoặckhói bụi bốc lên dày đặc từ các cơ sở sản xuất

Hoạt động sản xuất tại các làng nghề còn gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, môi trường làm việc của người lao động Tuy nhiên, đa số cả người lao

động và người thuê lao động đều chỉ quan tâm đến việc tăng thu nhập và lợi íchkinh tế chứ chưa nghĩ đến những lợi ích của công tác bảo vệ môi trường cũng nhưthực thi những quy định về an toàn lao động

Bảng 2.6:Thông tin về nguy cơ và độc hại từ quá trình sản xuất

Ngày đăng: 10/01/2016, 16:28

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Thống kê cơ cấu làng nghề phân theo vùng và ngành nghề - THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG LÀNG NGHỀ HÀ NỘI
Bảng 2.1 Thống kê cơ cấu làng nghề phân theo vùng và ngành nghề (Trang 23)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w