1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Môi trường trong việc phát triển bền vững ở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp

113 321 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 610,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quan điểm thứ nhất: Cho rằng môi trường là sinh quyển, sinh thái cần thiết cho sự sống tự nhiên của con người, môi trường cũng là nơi chứa đựng những nguồn tài nguyên làm thành đối tượng

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài.

Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Việt Nam đã kiênquyết lựa chọn con đường phát triển bền vững, hướng tới sự cân bằng giữalợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài, giữa lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể,giữa lợi ích địa phương và lợi ích quốc gia, không những vì hành phúc củathế hệ hôm nay mà còn vì sự phát triển của các thế hệ mai sau

Phát triển bền vững có thể xem như là một phương thức phát triểnmới, có ý nghĩa quan trọng trong tiến trình phát triển của nhân loại Quanđiểm phát triển này không chỉ đơn thuần là phát triển kinh tế mà đó còn là sựphối hợp hài hòa nhiều giá trị khác nhau của cuộc sống, bao gồm giá trị kinh

tế, giá trị nhân văn và đặc biệt là giá trị môi trường

Việc đưa vấn đề môi trường vào các chính sách phát triển kinh tế vàgiải quyết đầu tư có thể giúp giảm bớt mâu thuẫn giữa mục tiêu tăng trưởngkinh tế và vấn đề bảo vệ môi trường Trong thực tiễn, vấn đề ô nhiễm môitrường đã gây ra những hậu quả nghiêm trọng đối với con người và cân bằngsinh thái Nó đã và đang có những tác động tiêu cực làm ảnh hưởng đến sứckhỏe của con người, gây ra nhiều bệnh nan y, đặc biệt là căn bệnh ung thư,cướp đi sinh mạng của nhiều người dân Đồng thời, ô nhiễm môi trườngcũng gây ra nhiều hiện tượng làm thay đổi môi trường sống của con ngườinhư hiện tượng hiệu ứng nhà kính, hiện tượng ấm lên của vỏ trái đất, hiệntượng tan băng ở hai cực, mưa axit… gây thiệt hại nặng nề về kinh tế chonhiều quốc gia trên thế giới Chính vì thế, nhân loại đã và đang ý thức đượcrằng, nếu các vấn đề môi trường không được xem xét một cách nghiêm túc,đầy đủ và kỹ lưỡng trong chính sách phát triển thì tăng trưởng kinh tế và

Trang 2

công nghiệp hóa với tốc độ nhanh nhất định sẽ đi kèm với việc hủy hoại môitrường sống của con người Hiện nay, nhằm khắc phục những hậu quả nặng

nề do ô nhiễm môi trường gây ra con người đã và đang áp dụng nhiều biệnpháp thích hợp khác nhau, trong đó biện pháp có tính lâu dài là giáo dục vànâng cao nhận thức của con người về bảo vệ môi trường

Là một sinh viên, hơn nữa lại được tiếp cận với môn học kinh tế môitrường từ năm thứ hai trên giảng đường đại học, em đã tích lũy được một sốkiến thức nhất định về môi trường, hiểu được rõ vai trò của môi trường đốivới đời sống kinh tế - xã hội của con người và tầm quan trọng của việc bảo

vệ môi trường Chính vì thế, em đã lựa chọn đề tài: “Môi trường trong việcphát triển bền vững ở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp” cho khóa luậntốt nghiệp của mình

2 Mục tiêu nghiên cứu.

Thông qua việc nghiên cứu bản chất, các quy định pháp lý, lý luậncũng như thực trạng mối quan hệ giữa môi trường và phát triển kinh tế - xãhội ở Việt Nam để thấy được những mặt còn tồn tại, từ đó đưa ra một số giảipháp, kiến nghị giải quyết hài hòa mối quan hệ này để đạt được mục tiêuphát triển bền vững

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.

Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu:

 Lý luận về mối quan hệ giữa môi trường và phát triển kinh tế - xã hội

 Thực trạng vấn đề môi trường trong việc phát triển bền vững ở ViệtNam

Trang 3

Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu các vấn đề môi trường dưới

góc độ môi trường tự nhiên, nghiên cứu các vấn đề về môi trường trong mốitương quan với phát triển kinh tế - xã hội

4 Phương pháp nghiên cứu.

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu của đề tài, khóa luận sử dụng cácphương pháp nghiên cứu tổng hợp như: thu thập tài liệu, kết hợp phân tích,thống kê, tổng hợp, so sánh từ đó khái quát hóa giải quyết vấn đề

5 Kết cấu của đề tài

Đề tài gồm có 3 chương với kết cấu như sau:

Chương 1 Tổng quan về môi trường trong sự phát triển bền vững.

Chương 2 Thực trạng môi trường trong việc phát triển bền vững

ở Việt Nam.

Chương 3 Các giải pháp nhằm bảo vệ môi trường để hướng tới

sự phát triển bền vững ở Việt Nam

Cuối cùng, cho phép em được gửi lời cảm ơn đến các cô, chú cán bộlàm việc tại Trung tâm Thông tin Phát triển Việt Nam, Thư viện Viện Kinh

tế Việt Nam, thư viện trường Đại học Ngoại Thương đã giúp đỡ và tạo điềukiện cho em trong quá trình thu thập tài liệu phục vụ cho khóa luận tốtnghiệp Đăc biệt, em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới cô giáo - Thạc

sĩ Trần Minh Nguyệt, người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ emtrong suốt quá trình viết khóa luận

Trang 4

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ MÔI TRƯỜNG TRONG SỰ

PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG.

I Một số vấn đề lý luận cơ bản về môi trường, phát triển và phát triển bền vững.

1 Những đặc trưng cơ bản của môi trường.

1.1 Khái niệm chung về môi trường.

Mỗi cơ thể sống dù là cá nhân con người hay bất kỳ một loại sinh vậtnào tồn tại trên trái đất ở trong mọi trạng thái đều bị bao quanh và bị chiphối bởi môi trường Vậy môi trường là gì? Nó được hình thành và có quátrình biến đổi như thế nào? Môi trường có vai trò gì đối với sự tồn tại vàphát triển của xã hội loài người?

Xung quanh khái niệm môi trường, hiện nay có rất nhiều quan điểmkhác nhau của các nhà khoa học, các tổ chức nghiên cứu ở trong và ngoàinước; mỗi quan điểm đều cố gắng diễn đạt để đưa ra những lập luận hợp lý

có sức thuyết phục ở các mức độ khác nhau Trước khi đi sâu vào nghiêncứu về môi trường cũng như vai trò của môi trường trong việc phát triển bềnvững của Việt Nam cần hệ thống hóa các quan điểm về môi trường để trên

cơ sở đó chúng ta có một khái niệm tương đối đầy đủ về môi trường

Quan điểm thứ nhất: Cho rằng môi trường là sinh quyển, sinh thái

cần thiết cho sự sống tự nhiên của con người, môi trường cũng là nơi chứa đựng những nguồn tài nguyên làm thành đối tượng của lao động sản xuất và hình thành các nguồn lực cần thiết cho việc sản xuất ra của cải vật chất của loài người, trong số này một số có thể tái tạo được, một số khác không thể tái tạo được Trong quá trình khai thác, nếu mức độ khai thác nhanh hơn

Trang 5

mức độ tái tạo thì gây ra tình trạng khan hiếm, suy kiệt hoặc khủng hoảng môi trường.

Theo quan điểm trên, khái niệm môi trường đề cập nhiều hơn tới môitrường tự nhiên, chưa thể hiện được mối quan hệ giữa tự nhiên và xã hộitrong quan hệ tác động qua lại lẫn nhau hợp thành thể thống nhất của môitrường nói chung Nét nổi trội và cũng là ưu điểm của quan điểm này là đãnêu được những yếu tố cấu thành của môi trường đó là sinh quyển, sinh tháicần thiết cho sự sống tự nhiên của con người Điểm hạn chế ở đây là các yếu

tố sinh quyển, sinh thái được đề cập rất chung chung, chưa được cụ thể hóa.Hơn nữa, qua cách diễn đạt thì khái niệm lại toát lên tính không gian củamôi trường “là nơi chứa đựng những nguồn tài nguyên làm thành đối tượngcủa lao động” Ở đây, tính không gian về môi trường được nhấn mạnh vàtrong không gian đó hàm chứa những nguồn tiềm năng tài nguyên làm thànhđối tượng lao động Song các yếu tố cấu thành môi trường vẫn chưa được đềcập đầy đủ, khái niệm này còn thiếu những yếu tố rất cơ bản cần thiết cho sựhợp thành của môi trường đó là đất đai, động thực vật, hệ sinh thái còn tàinguyên không phải là yếu tố cơ bản duy nhất cấu thành môi trường

Nhìn nhận tổng quát khái niệm về môi trường theo quan điểm trên thìtính không gian và chức năng của môi trường được nhấn mạnh, tuy nhiênkhái niệm trên chưa thể hiện được quan hệ giữa con người với môi trườngcũng như giữa các yếu tố cấu thành của môi trường với nhau

Quan điểm thứ hai: Quan điểm này cho rằng môi trường là tổng hợp

các điều kiện bên ngoài có ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của một

sự vật hoặc sự kiện nào đó Bất kỳ một sự vật, hiện tượng nào cũng đều tồn

tại và phát triển trong môi trường nhất định Đối với cơ thể sống thì môitrường sống là tổng hợp những điều kiện bên ngoài có ảnh hưởng đến sự

Trang 6

phát triển của cơ thể Tương tự như vậy đối với con người thì “môi trườngsống là tổng hợp tất cả các điều kiện vật lý, hóa học, kinh tế, xã hội baoquanh có ảnh hưởng đến sự sống và phát triển của từng cá nhân của cộngđồng người”.So với khái niệm trên, khái niệm này mang tính bao quát hơn,môi trường được đề cập toàn diện với đầy đủ các yếu tố cấu thành của nóbao quanh mọi cơ thể sống Mặc dù khái niệm không nói cụ thể môi trườngbao hàm cả môi trường tự nhiên và môi trường xã hội song “tất cả nhữngđiều kiện bao quanh” đã hàm ý là cả môi trường tự nhiên và môi trường xãhội Điểm mới nổi trội của quan điểm này là đã đặt môi trường trong quan

hệ với sự sống, môi trường gắn với sự sống và mọi sự sống đều phải gắn vớimột môi trường nhất định Quan niệm này còn đặc biệt nhấn mạnh quan hệgiữa các cơ thể sống với môi trường, qua đó chúng ta có thể hiểu được môitrường sống của con người là những điều kiện cần thiết cho sự tồn tại vàphát triển của con người, củ xã hội loài người Môi trường sống của conngười gồm môi trường tự nhiên và môi trường xã hội Môi trường tự nhiêngiúp con người tồn tại và phát triển vể mặt thể chất, còn môi trường xã hội

có ảnh hưởng đến việc hình thành nhân cách đạo đức, phong cách và nếpsống của mỗi cá nhân trong xã hội

Quan điểm thứ ba: Môi trường ở một thời điểm nhất định là tập hợp

các nhân tố vật lý, hóa học, sinh học và các nhân tố xã hội có thể có một hậu quả trực tiếp, hay gián tiếp, trước mắt hay lâu dài tới các sinh vật sống

và các hoạt động của con người.

Với phương pháp tiếp cận mang tính khoa học, xuất phát từ nhữngmôn khoa học cụ thể để định nghĩa về môi trường, khái niệm này đã hàmchứa tương đối đầy đủ các yếu tố cấu thành môi trường, đó là các yếu tố vật

lý, hóa học, sinh học, xã hội… Mặc dù khái niệm không đề cập thật cụ thể

Trang 7

tới các yếu tố tự nhiên, xã hội, nhưng qua cách diễn đạt mang tính khái quát

đã bao hàm đầy đủ các nhân tố tự nhiên và xã hội cấu thành môi trường.Khái niệm cũng thể hiện mối quan hệ biện chứng giữa các yếu tố ở trongmôi trường và nhấn mạnh tới môi trường sống của con người Điểm mớitrong quan điểm trên về môi trường mà chưa có quan điểm nào thể hiện làtính thời gian của môi trường: “môi trường ở một thời điểm nhất định là tậphợp…” Theo quan điểm này thì môi trường cũng có tính thời gian, môitrường không phải là cái gì đó tĩnh tại, bất biến mà nó luôn thay đổi theothời điểm Đây là một quan điểm tương đối toàn diện về môi trường, quanđiểm này đã đề cập đến cả tính thời gian và tính không gian cũng như nhữngảnh hưởng trực tiếp trước mắt và lâu dài của môi trường đối với đời sốngcon người Tuy nhiên, điểm hạn chế lớn nhất của quan điểm này so với cácquan điểm trên đó là nó chưa thể hiện được các mối quan hệ giữa các yếu tốcấu thành môi trường và quan hệ giữa môi trường với con người

Quan điểm thứ tư: Quan điểm này dựa vào quan điểm của chủ nghĩa

Mác-Lênin về các điều kiện sống của con người, sự tồn tại và phát triển củaloài người Theo quan điểm này, Các Mác đã chỉ ra ba yếu tố quyết định sựtồn tại và phát triển của xã hội loài người đó là điều kiện địa lý, dân số vàphương thức sản xuất trong điều kiện hiện tại; ba nhân tố cũng có thể đượcxem là các nhân tố môi trường tự nhiên, môi trường xã hội và môi trường

kinh tế Với cách tiếp cận như vậy, quan điểm này cho rằng môi trường là khái niệm dùng để chỉ tổng thể các yếu tố vật chất, tự nhiên và nhân tạo bao quanh con người có quan hệ mật thiết đến sự tồn tại và phát triển của con người và xã hội loài người Như vậy, khái niệm môi trường ở đây không

phải là thế giới tự nhiên nói chung, bất kỳ, mà là thế giới tự nhiên đặt trong

Trang 8

mối quan hệ mật thiết với sự tồn tại và phát triển của con người và xã hộiloài người nói chung.

Khái niệm môi trường hiểu theo cách trên đây mang tính bao quát rấtrộng và đầy đủ, bao hàm cả môi trường tự nhiên, xã hội và môi trường nhântạo So với các khái niệm trên nó mang tính bao quát hơn và thể hiện đượcmối quan hệ tương tác giữa các yếu tố tự nhiên, xã hội và nhân tạo, đồngthời nêu bật được vai trò của môi trường đối với đời sống của xã hội loàingười cũng như mối quan hệ của con người với môi trường nói chung Tuynhiên nó thể hiện nhiều hơn về cách phân loại môi trường mà chưa thể hiệnđược cấu trúc về môi trường

Quan điểm thứ năm: Trong Luật bảo vệ môi trường đã được Quốc

hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 8 thông

qua ngày 29/11/2005 đã đưa ra khái niệm về môi trường như sau: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật” (Điều 3 Luật bảo vệ môi trường của Việt Nam).

Quan điểm trên về môi trường nhấn mạnh yếu tố bản chất của môitrường bao gồm các yếu tố bao quanh con người, trong đó cấu trúc của nócũng được thể hiện đó là yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất do con người tạonên Khái niệm này đề cập nhiều hơn về góc độ môi trường tự nhiên có ảnhhưởng tới đời sống của con người

Tổng hợp tất cả các quan điểm trên đây về môi trường ta có thể thấychúng đều thể hiện được những nội dung sau:

 Nêu rõ bản chất bao quanh của môi trường đối với các cơ thể sống

Trang 9

 Môi trường có ảnh hưởng và tác động tới các cơ thể sống, tới sảnxuất, tới sự tồn tại và phát triển của xã hội.

 Các mối quan hệ của các yếu tố cấu thành môi trường và quan hệ giữa

sự sống của con người với môi trường cũng được đề cập trong một số kháiniệm

 Cấu trúc của môi trường và các yếu tố cấu thành môi trường

Từ sự phân tích và nghiên cứu các quan điểm khác nhau về môitrường, căn cứ vào quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về môi trường,chúng ta có thể định nghĩa môi trường như sau:

Môi trường là khái niệm dùng để chỉ tất cả các yếu tố tự nhiên, vậtchất nhân tạo, xã hội bao quanh con người, có liên quan mật thiết với nhau

và quan hệ tới đời sống của con người Môi trường là khái niệm “động”, nóluôn vận động, biến đổi dưới tác động của các nhân tố tự nhiên, xã hội vànhân tạo

Như chúng ta đã biết, môi trường là một khái niệm rất rộng, tùy theotừng góc độ nghiên cứu mà có những cách phân loại môi trường khác nhau.Theo cách bao quát chung nhất, chúng ta hiểu môi trường là toàn bộ các yếu

tố tự nhiên, xã hội và nhân tạo bao quanh con người và các cơ thể sống khác,

có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự tồn tại và phát triển của các cơthể sống Như vậy, theo cách hiểu bao quát chung nhất ấy thì môi trườngbao hàm:

 Môi trường tự nhiên

 Môi trường xã hội

 Môi trường nhân tạo

Trang 10

Môi trường tự nhiên bao gồm các nhân tố của tự nhiên tồn tại khách

quan ngoài ý muốn của con người như không khí, đất đai, nguồn nước, ánhsang mặt trời, động thực vật… Môi trường tự nhiên cung cấp các nguồn tàinguyên tự nhiên cho chúng ta như không khí để thở, đất để xây dựng nhàcửa, trồng cây, chăn nuôi, các loại khoáng sản cho sản xuất, tiêu thụ và lànơi chứa đựng, đồng hóa các chất thải, cung cấp cho ta cảnh đẹp giải trí tăngkhả năng sinh lý của con người

Môi trường xã hội là tổng hợp các quan hệ giữa người với người Đó

là những luật lệ, thể chế, cam kết, quy định, hương ước… ở các cấp khácnhau như: Liên Hợp Quốc, Hiệp hội các nước, quốc gia, tỉnh, huyện, cơquan, làng xã, họ tộc, gia đình, các tổ chức tôn giáo… Môi trường xã hộiđịnh hướng hoạt động của con người theo một khuôn khổ nhất định tạo nênsức mạnh tập thể, thuận lợi cho sự phát triển, làm cho cuộc sống của conngười khác với các sinh vật khác

Môi trường nhân tạo bao gồm các nhân tố do con người tạo nên, làm

thành những tiện nghi cho cuộc sống của con người như ô tô, máy bay, nhà

ở, công sở, các khu đô thị, công viên nhân tạo, các khu vui chơi gải trí…

Tuy nhiên, trong khuôn khổ của bài viết này chúng ta chỉ đi sâunghiên cứu về môi trường tự nhiên

1.2 Các chức năng cơ bản của môi trường.

Môi trường tự nhiên trong quan hệ với đời sống của con người và sựphát triển của xã hội loài người là một hệ thống tự nhiên có các chức năng

cơ bản như sau:

Thứ nhất, môi trường là sinh quyển, sinh thái cần thiết cho sự sống tựnhiên của con người Chức năng đầu tiên của môi trường là nơi sinh sống và

Trang 11

phát triển của xã hội loài người Trong hoạt động của mình, con người cầnphải có một không gian sống (không gian sinh tồn) với đặc trưng về quy mô

và chất lượng cho phép Qua nhiều nghiên cứu của các nhà khoa học trên thếgiới cho tới nay đã xác định rằng, trong hệ mặt trời sự sống hầu như chỉ tồntại ở trái đất, và duy nhất chỉ có trái đất trong điều kiện bình thường mới cókhả năng duy trì được sự sống của con người Lịch sử của loài người thấy rõ

là, trong khi trái đất gần như không thay đổi về độ lớn, nhưng dân số trên thếgiới không ngừng gia tăng Vì vậy, diện tích đất tự nhiên bình quân đầungười ngày càng giảm sút nhanh chóng

Ngoài ra, sự phân bố không đồng đều dân số trên thế giới càng làmgay gắt về không gian sống ở những nơi mật độ dân số tập trung cao, đặcbiệt là ở những thành phố lớn, các khu công nghiệp tập trung ở các quốc gia.Không gian sống bị thu hẹp tất yếu sẽ kéo theo sự suy giảm chất lượng môitrường sống do không đảm bảo những điều kiện tối thiểu không gian sốngcho phép Sự sống của con người và sinh vật đòi hỏi không gian sống khôngchỉ về quy mô cho phép, mà còn cả về chất lượng đảm bảo Để đảm bảo sựsống tồn tại và phát triển bình thường, không gian sống có chất lượng caotrước hết phải đảm bảo trong lành, sạch đẹp Các thành phần môi trườngđược con người sử dụng không chứa hoặc ít chứa các chất độc hại đối vớisức khỏe của con người; đảm bảo sạch sẽ, đẹp đẽ, hài hòa đối với con người;tạo sự thoải mái và thư giãn trong cuộc sống

Thứ hai, môi trường là nơi cung cấp tài nguyên thiên nhiên Môitrường là nơi cung cấp tài nguyên thiên nhiên cần thiết cho sự sống và hoạtđộng sản xuất của con người Từ xa xưa cho tới nay, các nguồn tài nguyên

do thiên nhiên ban tặng cho con người với chủng loại hết sức phong phú vàtrữ lượng dồi dào Nhờ vậy, cuộc sống của con người mới tồn tại và không

Trang 12

ngừng phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu Nguồn tài nguyên thiênnhiên chứa trong môi trườn là rất đa dạng và giàu có, nhưng không phải là

vô tận Sự khai thác quá mức các nguồn tài nguyên thiên nhiên để phục vụsản xuất và đời sống của con người đã làm cho các nguồn này ở nhiều nơi bịcạn kiệt Việc tăng cường thăm dò, khảo sát, phát hiện thêm nhiều nguồn tàinguyên thiên nhiên, cùng với việc tăng cường mở mang các vùng đất mới,hoặc việc áp dụng các công nghệ tiên tiến thay thế nguyên, nhiên, vật liệu…chính là những biện pháp tình thế của con người hiện nay nhằm bù đắp vào

sự suy giảm chức năng của môi trường, mà nguyên nhân chính là do conngười gây ra

Thứ ba, môi trường là nơi chứa đựng, hấp thụ, trung hòa các chất thảiđộc hại Trong mọi hoạt động của con người từ quá trình khai thác tàinguyên cho sản xuất chế biến tạo ra sản phẩm, đến quá trình lưu thông vàtiêu dung đều có phế thải Chất thải bao gồm nhiều dạng, nhưng chủ yếuchúng tồn tại ở ba dạng là dạng khí, dạng rắn, dạng lỏng Ngoài ra còn cócác dạng khác như nhiệt, tiếng ồn, hóa chất nguyên tử, phân tử, hợp chất…

Và tất cả các chất thải đó đều được đưa vào môi trường

Trong xã hội sản xuất hàng hóa chưa phát triển cao, mật độ dân sốthấp, các chất thải thường được tái sử dụng Ví dụ, các chất bài tiết đượcdùng làm phân bón, các chất thải từ nông sản, lâm sản được dùng làm thức

ăn cho gia súc, nhiên liệu Những cái không thể tái sử dụng, tái chế thườngđược phân hủy tự nhiên bởi các sinh vật và vi sinh vật, sau một thời gianngắn để trở lại thành những hợp chất hoặc nguyên tố dùng làm nguyên liệucho các quá trình sản xuất mới

Trong xã hội công nghiệp hóa, sản xuất hàng hóa phát triển, mật độdân số cao, lượng chất thải thường rất lớn, môi trường không đủ nơi chứa

Trang 13

đựng, quá trình tự phân hủy không theo kịp so với lượng chất thải tạo ra.Hay người ta thường gọi lượng chất thải vượt quá mức chịu tải của môitrường Đây là nguyên nhân cơ bản gây ra những biến đổi về môi trường.

1.3 Ô nhiễm môi trường.

Trên thế giới, ô nhiễm môi trường được hiểu là việc chuyển các chấtthải hoặc năng lượng vào môi trường đến mức có khả năng gây hại đến sứckhỏe con người, đến sự phát triển sinh vật hoặc làm suy giảm chất lượngmôi trường Các tác nhân ô nhiễm bao gồm các chất thải ở dạng khí (khíthải), lỏng (nước thải), rắn (chất thải rắn) chứa hóa chất hoặc tác nhân vật lý,sinh học và các dạng năng lượng như nhiệt độ, bức xạ Tuy nhiên, môitrường chỉ được coi là bị ô nhiễm nếu trong đó hàm lượng, nồng độ hoặccường độ các tác nhân trên đạt mức có khả năng tác động xấu đến conngười, sinh vật và vật liệu

Ở Việt Nam, theo khoản 6, điều 3 Luật Bảo vệ môi trường: “Ô nhiễmmôi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp vớitiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người, sinh vật”

Ô nhiễm môi trường được phân làm 3 loại chính đó là ô nhiễm khôngkhí, ô nhiễm nước và ô nhiễm đất

 Ô nhiễm không khí là sự có mặt một chất lạ hoặc một sự biến đổiquan trọng trong thành phần không khí, làm cho không khí không sạch hoặcgây ra sự tỏa mùi, có mùi khó chịu, giảm tầm nhìn xa (do bụi) Có hai nguồnchính gây ô nhiễm không khí đó là nguồn tự nhiên (núi lửa phun ra nhữngnham thạch nóng và nhiều khói bụi giàu sunfua, cháy rừng, bão bụi gây nên

do gió mạnh và bão, các quá trình phân hủy xác động, thực vật…) và nguồn

Trang 14

nhân tạo (hoạt động công nghiệp, đốt cháy nhiên liệu, hoạt động của cácphương tiện giao thông…).

 Ô nhiễm nước là sự biến đổi nói chung do con người đối với chấtlượng nước, làm nhiễm bẩn nước và gây nguy hiểm cho con người, cho côngnghiệp, nông nghiệp, giao thông và môi trường nước Ô nhiễm nước cũng donguồn gốc tự nhiên (mưa, tuyết tan, bão lụt đưa vào môi trường nước chấtthải bẩn, các sinh vật và vi sinh vật có hại kể cả xác chết của chúng) vànguồn gốc nhân tạo (quá trình thải các chất độc hại chủ yếu dưới dạng lỏngnhư các chất thải sinh hoạt, công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vào môitrường nước)

 Ô nhiễm đất là tất cả các hiện tượng làm nhiễm bẩn môi trường đấtbởi các chất ô nhiễm Có thể phân loại đất bị ô nhiễm theo các nguồn gốcphát sinh (ô nhiễm do các chất thải sinh hoạt, ô nhiễm do chất thải côngnghiệp và ô nhiễm do hoạt động nông nghiệp) hoặc theo các tác nhân gây ônhiễm (ô nhiễm do tác nhân hóa học: phân bón, thuốc trừ sâu…; ô nhiễm dotác nhân sinh học: trực khuẩn lỵ, thương hàn, các loại ký sinh trùng…; ônhiễm đất do tác nhân vật lý: nhiệt độ, chất phóng xạ…)

2 Phát triển.

Đối với quá trình tồn tại và vận động của các sự vật và hiện tượngtrong thế giới khách quan, người ta thường dùng khái niệm phát triển để xácđịnh sự thay đổi các chỉ số của từng tiêu chí theo thời gian và không gian.Còn riêng trong lĩnh vực hoạt động kinh tế - xã hội, ngày nay khái niệm pháttriển đã được giới hạn chỉ ở những lĩnh vực liên quan trực tiếp đến đời sốngmọi mặt của con người

Trang 15

Phát triển hay nói đầy đủ hơn là phát triển kinh tế - xã hội của conngười là quá trình nâng cao về đời sống vật chất và tinh thần bằng phát triểnsản xuất, tăng cường chất lượng các hoạt động văn hóa, xã hội Con ngườivừa là đối tượng, vừa là động lực của phát triển; vì vậy, mục tiêu của sự pháttriển là không ngừng cải thiện chất lượng cuộc sống vật chất, văn hóa, tinhthần của con người Phát triển là xu hướng tất yếu trong sự tồn tại và hoạtđộng của mỗi cá nhân, của từng cộng đồng dân cư và ở từng quốc gia.

Phát triển là một khái niệm đánh giá tổng hợp các điều kiện sống củacông đồng dân cư trong xã hội đối với việc bảo đảm các yêu cầu sau:

 Tạo điều kiện cho con người sinh sống ở bất kỳ nơi nào trong một đấtnước hay trên thế giới đều được trường thọ

 Mỗi người đều có đủ tài nguyên cho cuộc sống sung túc, được thỏamãn các nhu cầu sống, đều có mức tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ tốt màkhông phải lao động quá cực nhọc

 Mọi người đều có trình độ học vấn cao, đều được hưởng những thànhtựu về văn hóa và tinh thần

 Mọi người đều được sống trong một môi trường trong lành, sạch đẹp,được hưởng các quyền cơ bản của con người và được đảm bảo an ninh, antoàn, không có bạo lực

Tăng trưởng kinh tế được đo bằng tốc độ phát triển và quy mô của nềnkinh tế Tốc độ tăng trưởng được tính bằng tỷ lệ phần trăm (%) thông quaviệc so sánh quy mô sản xuất của hai thời kỳ xác định Quy môi sản xuất củathời kỳ sau so với thời kỳ trước càng lớn thì tốc độ tăng trưởng càng nhanh.Trong nền kinh tế, sự tăng trưởng được đánh giá và thể hiện ở tốc độ tăngGNP (tổng sản phẩm quốc dân) hay GDP (tổng sản phẩm quốc nội), mà

Trang 16

chúng lại phụ thuộc vào tốc độ tăng của từng ngành kinh tế Sự tăng trưởngcủa từng ngành lại phụ thuộc vào hàng loạt những mối quan hệ hữu cơ khác.

Do vậy, tăng trưởng kinh tế là một chỉ tiêu quan trọng, nhưng nó chỉ mới làđiều kiện cần của phát triển kinh tế, bởi vì bên cạnh đó còn phải đồng thờiquan tâm đến các chỉ tiêu khác

Phát triển là nhằm để mọi người đạt tới các mục tiêu nhất định về kinh

tế, chính trị, an ninh, quốc phòng, môi trường, mức sống về vật chất và tinhthần trong quốc gia đó Các mục tiêu này thường được cụ thể hóa bằngnhững chỉ tiêu khác nhau: không chỉ dựa vào chỉ tiêu GNP hay GDP, màcòn có các chỉ tiêu về giáo dục, y tế, văn hóa…

3 Phát triển bền vững.

3.1 Khái niệm phát triển bền vững.

Khái niệm “phát triển bền vững” xuất hiện vào đầu thập niên 80 củathế kỷ XX nhưng phải đến năm 1987, Ủy ban Thế giới về Môi trường vàPhát triển mới tiếp thu và triển khai trong Bản phúc trình mang tựa đề

“Tương lai của chúng ta”, trong đó đã đưa ra định nghĩa: “Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm thỏa mãn các nhu cầu hiện tại nhưng không làm tổn hại đến khả năng của các thế hệ tương lai trong việc đáp ứng nhu cầu của chính họ” Có thể coi đây là định nghĩa đầu tiên được dùng chính thức

và hiện vẫn được sử dụng trong các văn bản của chương trình môi trườngLiên Hợp Quốc (UNEP)

Năm 1992, Liên hợp quốc tổ chức Hội nghị thượng đỉnh về Trái đấttại Rio de Janeiro, Brazil Tại đây, các quốc gia đã thỏa thuận một chươngtrình nghị sự về phát triển bền vững cho thế kỷ XXI (gọi tắt là Agenda 21),

và cũng đã thông qua được Công ước chung, theo đó viện trợ phát triển

Trang 17

chính thức (ODA) cho các nước nghèo thuộc thế giới thứ ba cần phải chiếm

ít nhất 0,7% tổng sản phẩm quốc dân (GNP) của các quốc gia công nghiệpphát triển Mười năm sau, năm 2002, Liên hợp quốc lại tổ chức Hội nghịkhác tại Johannesburg, Nam Phi, đã xác định phải xúc tiến và thực hiệnAgenda 21 và đề ra các mục tiêu cho Thiên niên kỷ

Như vậy, chúng ta có thể hiểu phát triển bền vững là sự phát triển liêntục không ngừng về mọi mặt kinh tế, xã hội, môi trường… nâng cao chấtlượng cuộc sống của con người hiện tại và tương lai Phát triển bền vữngchính là “vùng giao thoa” giữa ba mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội – môitrường Điều này có thể khái quát thành ba cấu thành chủ yếu của phát triểnbền vững, đó là: tăng trưởng kinh tế ổn định; thực hiện dân chủ, tiến bộ vàcông bằng xã hội; môi trường được bảo vệ và giữ gìn trong sạch, lành mạnh.Thông qua đó, mục đích cuối cùng cần hướng tới đó là chất lượng cuộc sốngcủa con người ngày càng được nâng cao

Theo khoản 4, điều 3 Luật Bảo vệ môi trường 2005 của Việt Nam:

“Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại

mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệtương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảođảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường”

3.2 Nội dung phát triển bền vững.

Từ khái niệm phát triển bền vững, thực chất là một sự phát triển cótính tổng hợp cao và có hệ thống Tiếp cận quan điểm hệ thống và tổng hợpcho phép hai nhà khoa học Canada là Jacobs và Sadler trình bày mối quan hệbiện chứng giữa phát triển và môi trường trong hình dưới đây:

Trang 18

Hình 1 Mối quan hệ giữa phát triển kinh tế - xã hội và môi trường.

Mô hình này cũng đã được Mohan Munasingle, chuyên gia của Ngânhàng thế giới (WB) phát triển vào năm 1993

- Tăng trưởng

- Hiệu quả

- Ổn định

KINH TẾ

- Công bằng giữa các thế hệ - Đánh giá tác động môi trường

- Mục tiêu trợ giúp việc làm - Tiền tệ hóa tác động môi trường

XÃ HỘI MÔI TRƯỜNG

- Giảm đói ngèo - Đa dạng sinh học và thích nghi

- Xây dựng thể chế - Bảo tồn tài nguyên thiên nhiên

- Bảo tồn di sản văn hóa - Ngăn chặn ô nhiễm

- Công bằng giữa các thế hệ

- Sự tham gia của quần chúng

Phát triển bền vững

Trang 19

Khía cạnh môi trường trong phát triển bền vững đòi hỏi chúng ta duytrì sự cân bằng giữa bảo vệ môi trường tự nhiên với sự khai thác nguồn tàinguyên thiên nhiên phục vụ lợi ích con người nhằm mục đích duy trì mức độkhai thác những nguồn tài nguyên ở một giới hạn nhất định cho phép môitrường tiếp tục hỗ trợ điều kiện sống cho con người và các sinh vật sống trêntrái đất.

Khía cạnh xã hội của phát triển bền vững cần được chú trọng vào sựphát triển công bằng xã hội, cần tạo mọi điều kiện thuận lợi cho lĩnh vựcphát triển con người, nâng cao và cải thiện chất lượng cuộc sống cho tất cảmọi người Đó cũng chính là sự phát triển tự sinh do chính xã hội ấy chủđộng thực hiện, chứ không phải là sự phát triển ngoại sinh, sống nhờ hoàntoàn từ bên ngoài, muốn vậy phải giảm đói nghèo, thường xuyên xây dựngthể chế tốt và bảo tồn di sản văn hóa dân tộc

Yếu tố kinh tế đóng vai trò không thể thiếu trong phát triển bền vững

Nó đòi hỏi sự phát triển của hệ thống kinh tế trong đó cơ hội để tiếp xúc vớinhững nguồn tài nguyên được tạo điều kiện thuận lợi và quyền sử dụngnhững nguồn tài nguyên thiên nhiên cho các hoạt động kinh tế được chia sẻmột cách bình đẳng Khẳng định sự tồn tại cũng như phát triển của bất cứngành kinh doanh, sản xuất nào cũng được dựa trên những nguyên tắc đạo lý

cơ bản Yếu tố chú trọng ở đây là tạo ra sự thịnh vượng chung cho tất cả mọingười, không chỉ tập trung mang lại lợi nhuận cho một số ít, trong một giớihạn cho phép của hệ sinh thái cũng như không xâm phạm những quyền cơbản của con người

3.3 Các chỉ số phát triển bền vững.

Phát triển bền vững là một vấn đề rộng lớn, mang tính tổng hợp cao

Để đo lường phát triển bền vững có nhiều chỉ tiêu khác nhau, có những chỉ

Trang 20

tiêu định lượng được, nhưng cũng có những chỉ tiêu khó có thể định lượng

mà chỉ dừng ở mức độ định tính UNDP đã đưa ra một hệ thống chỉ tiêunhưng chủ yếu tập trung ở 2 nhóm chỉ tiêu đó là chỉ số về sinh thái và chỉ sốphát triển con người (Human Development Index – HDI)

Chỉ số về sinh thái: Chỉ số này rất khó lượng hóa và tùy thuộc rất

nhiều vào hoàn cảnh tự nhiên trên từng lãnh thổ Một cách tổng quát thì một

sự phát triển được gọi là đạt chỉ tiêu này khi sự phát triển ấy vừa giải quyếtđược nhiệm vụ tăng trưởng kinh tế nhưng vẫn bảo vệ được các hệ sinh thái

cơ bản trên lãnh thổ xác định, tức là bảo vệ được môi trường trên một phạm

vi rộng của không gian lãnh thổ Đo lường chỉ tiêu này trên một lãnh thổ cụthể thường người ta căn cứ vào sự đa dạng sinh học, mức độ khai thác cácnguồn tài nguyên thiên nhiên tái sinh và không có khả năng tái sinh

Chỉ số phát triển con người (HDI): là sự kết hợp của 3 chỉ tiêu cơ

bản liên quan đến sự phát triển con người: tuổi thọ, học thức (bao gồm tỷ lệngười biết chữ trong độ tuổi và tỷ lệ người học ở các cấp học) và mức sốngcủa con người thông qua GDP bình quân đầu người tính theo sức mua tươngđương (PPP)

II Môi trường trong việc phát triển bền vững.

1 Nhận thức về môi trường trong mối tương tác với kinh tế và xã hội.

Môi trường tự nhiên và sản xuất xã hội có mối quan hệ khăng khít,chặt chẽ, tác động lẫn nhau trong thế cân đối thống nhất: Môi trường tựnhiên (bao gồm cả tài nguyên thiên nhiên) cung cấp nguyên liệu và khônggian cho sản xuất xã hội Sự giàu nghèo của mỗi nước phụ thuộc khá nhiềuvào nguồn tài nguyên: Rất nhiều quốc gia phát triển chỉ dựa trên cơ sở khai

Trang 21

thác tài nguyên để xuất khẩu đổi lấy ngoại tệ, thiết bị công nghệ hiện đại…

Có thể nói, tài nguyên nói riêng và môi trường tự nhiên nói chung (trong đó

có tài nguyên) có vai trò quyết định đối với sự phát triển bền vững về kinh tế

- xã hội ở mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ, địa phương vì các lý do sau:

Thứ nhất, môi trường không chỉ cung cấp “đầu vào” mà còn chứađựng “đầu ra” cho các quá trình sản xuất và đời sống Hoạt động sản xuất làmột quá trình bắt đầu từ việc sử dụng nguyên, nhiên liệu, vật tư, thiết bị máymóc, đất đai, cơ sở vật chất kỹ thuật khác, sức lao động của con người để tạo

ra sản phẩm hàng hóa Những dạng vật chất trên không phải gì khác, màchính là các yếu tố của môi trường

Các hoạt động sống cũng vậy, con người cũng cần có không khí đểthở, cần có nhà để ở, cần có phương tiện để đi lại, cần có chỗ vui chơi giảitrí, học tập nâng cao hiểu biết… Những cái đó không gì khác chính là yếu tốmôi trường Như vậy chính các yếu tố môi trường (yếu tố vật chất kể trên -

kể cả sức lao động) là “đầu vào” của quá trình sản xuất và các hoạt độngsống của con người Hay nói cách khác: Môi trường là “đầu vào” của sảnxuất và đời sống Tuy nhiên, cũng phải nói rằng môi trường tự nhiên cũng cóthể là nơi gây ra nhiều thảm họa cho con người và các thảm họa này sẽ tănglên nếu con người gia tăng các hoạt động mang tính tàn phá môi trường, gâymất cân bằng tự nhiên

Ngược lại, môi trường tự nhiên cũng là nơi chứa đựng, đồng hóa “đầura” các chất thải của quá trình hoạt động sản xuất và đời sống Quá trình sảnxuất thải ra môi trường rất nhiều chất thải (cả khí thải, nước thải, chất thảirắn) Trong các chất thải này có thể có rất nhiều loại chất độc hại gây ônhiễm môi trường, suy thoái hoặc gây ra các sự cố về môi trường Quá trìnhsinh hoạt, tiêu dung của xã hội loài người cũng thải ra môi trường rất nhiều

Trang 22

chất thải Những chất thải này nếu không được xử lý tốt cũng sẽ gây ô nhiễmmôi trường một cách nghiêm trọng.

Vấn đề ở đây là phải làm thế nào để hạn chế được nhiều nhất các chấtthải, đặc biệt là chất thải gây ô nhiễm, tác động tiêu cực đến môi trường

Thứ hai, môi trường liên quan đến tính ổn định và bền vững của sựphát triển kinh tế-xã hội Phát triển kinh tế - xã hội là quá trình nâng caođiều kiện sống về vật chất và tinh thần của con người qua việc sản xuất racủa cải vật chất, cải tiến quan hệ xã hội, nâng cao chất lượng văn hóa Pháttriển cũng là xu thế chung của từng cá nhân cũng như của cả loài ngườitrong quá trình sống giữa môi trường và sự phát triển có mối quan hệ chặtchẽ: Môi trường là địa bàn và đối tượng của sự phát triển, còn phát triển lànguyên nhân tạo nên các biến đổi của môi trường

Trong hệ thống kinh tế-xã hội, hang hóa được di chuyển từ sản xuấtđến lưu thông, phân phối và tiêu dung cùng với dòng luân chuyển củanguyên liệu, năng lượng, sản phẩm, chất thải Các thành phần đó luôn luôntương tác với các thành phần tự nhiên và xã hội của hệ thống môi trườngđang tồn tại trong địa bàn đó Tác động của con người đến môi trường thểhiện ở khía cạnh có lợi là cải tạo môi trường tự nhiên hoặc tạo ra kinh phícần thiết cho quá trình cải tạo đó, nhưng có thể gây ra ô nhiễm môi trường tựnhiên hoặc nhân tạo Mặt khác, môi trường tự nhiên đồng thời cũng tác độngđến sự phát triển kinh tế - xã hội thông qua việc làm suy thoái nguồn tàinguyên – đối tượng của sự phát triển kinh tế - xã hội hoặc gây ra các thảmhọa, thiên tai đối với các hoạt động kinh tế - xã hội trong khu vực

Ở các quốc gia có trình độ phát triển kinh tế khác nhau có các xuhướng gây ô nhiễm môi trường khác nhau Ví dụ:

Trang 23

 Ô nhiễm do dư thừa: 20% dân số thế giới ở các nước giàu hiện sửdụng 80% tài nguyên và năng lượng của loài người Sản xuất công nghiệpphát triển mạnh, hoạt động của quá nhiều các phương tiện giao thông vận tải

đã tạo ra một lượng lớn chất thải độc hại vào môi trường (đặc biệt là khíthải) Hiện nay việc có được mua bán hay không quyền phát thải khí thảigiữa các nước đang là đề tài tranh luận chưa ngã ngũ trong các hội nghịthượng đỉnh về môi trường, các nước giàu vẫn chưa thực sự tự giác chia sẻtài lực với các nước nghèo để giải quyết những vấn đề có liên quan đến môitrường

 Ô nhiễm do nghèo đói: mặc dù chiếm tới 80% dân số thế giới, songchỉ sử dụng 20% tài nguyên và năng lượng của thế giới, chính vì thế mànhững người nghèo khổ ở các nước nghèo chỉ có con đường duy nhất là khaithác tài nguyên thiên nhiên (rừng, khoáng sản, đất đai…) mà không có khảnăng hoàn phục Diễn đàn hợp tác Á – Âu (ASEM) về môi trường họp vàotháng 1/2002 tại Trung Quốc đã cho rằng nghèo đói là thách thức lớn nhấtđối với công tác bảo vệ môi trường hiện nay Do vậy, để giải quyết vấn đềmôi trường, trước hết các nước giàu phải có trách nhiệm giúp đỡ các nướcnghèo giải quyết nạn nghèo đói

Như vậy, để phát triển, dù là giàu có hay nghèo đói đều tạo ra khảnăng gây ô nhiễm môi trường Vấn đề ở đây là phải giải quyết hài hòa mốiquan hệ giữa phát triển và bảo vệ môi trường Để phát triển bền vững khôngđược khai thác quá mức dẫn tới hủy hoại tài nguyên, môi trường; thực hiệncác giải pháp sản xuất sạch, phát triển sản xuất đi đôi với các giải pháp xử lýmôi trường; bảo tồn các nguồn gen động vật, thực vật; bảo tồn đa dạng sinhhọc; không ngừng nâng cao nhận thức của nhân dân về bảo vệ môi trường

Trang 24

Thứ ba, môi trường có liên quan tới tương lai của đất nước, dân tộc.Như trên đã đề cập, bảo vệ môi trường chính là để giúp cho sự phát triểnkinh tế cũng như xã hội được bền vững Kinh tế - xã hội phát triển giúpchúng ta có đủ điều kiện để đảm bảo an ninh quốc phòng, giữ vững độc lậpchủ quyền của dân tộc Điều đó lại tạo điều kiện ổn định chính trị xã hội đểkinh tế - xã hội phát triển Bảo vệ môi trường là việc làm không chỉ có ýnghĩa hiện tại, mà quan trọng hơn, cao cả hơn là nó có ý nghĩa cho tương lai.Nếu một sự phát triển có mang lại lợi ích kinh tế trước mắt mà khai thác cạnkiệt tài nguyên thiên nhiên, hủy hoại môi trường, làm cho các thế hệ saukhông còn điều kiện để phát triển mọi mặt (cả về kinh tế, xã hội, thể chất, trítuệ con người…), thì sự phát triển đó phỏng có ích gì Nếu hôm nay thế hệchúng ta không quan tâm tới, không làm tốt công tác bảo vệ môi trường, làmcho môi trường bị hủy hoại thì trong tương lai, con cháu chúng ta chắc chắn

sẽ phải gánh chịu những hậu quả tồi tệ

2 Quan điểm về môi trường và phát triển.

Các nhà kinh tế học đã chỉ ra rất nhiều nguyên nhân tạo nên sự pháttriển của kinh tế - xã hội: đó là sự ra đời của máy móc, công cụ khoa học kỹthuật, đó là sự thông minh cùng với óc sáng tạo và khả năng lao động củacon người… nhưng hơn tất cả đó là môi trường Tự bản than máy móc, công

cụ sẽ không phát huy tác dụng nếu không có nguyên vật liệu, nhiên liệu; conngười dù thông minh, sáng tạo đến bao nhiêu cũng sẽ không thể có khônggian để tồn tại và sản xuất nếu không có môi trường Không thể tách sự pháttriển kinh tế - xã hội khỏi môi trường Môi trường và sự phát triển có mốiquan hệ khăng khít với nhau “Nếu không bảo vệ môi trường một cách chínhđáng, phát triển sẽ bị suy yếu dần Ngược lại, không có phát triển, bảo vệ

Trang 25

môi trường sẽ thất bại” (Báo cáo phát triển thế giới 1992 của Ngân hàngThế giới).

Như chúng ta đã biết, môi trường sống là tổng hợp các điều kiện sốngcủa con người Phát triển là quá trình sử dụng và cải thiện các điều kiện đó.Giữa môi trường và phát triển có mối quan hệ hết sức chặt chẽ Môi trường

là địa bàn và đối tượng của phát triển Phát triển là nguyên nhân tạo nên mọibiến đổi tích cực cũng như tiêu cực đối với môi trường Phát triển kinh tế -

xã hội là nhu cầu tất yếu của loài người và tất nhiên trong quá trình pháttriển kinh tế con người sẽ phải khai thác môi trường, do vậy ở đây nảy sinhmâu thuẫn giữa việc phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường

Trong phạm vi một quốc gia, cũng như trên toàn thế giới, luôn luôntồn tại hai hệ thống: hệ thống kinh tế - xã hội cấu thành bởi các khâu: sảnxuất, lưu thông, phân phối, tiêu dùng, tạo nên một dòng luân chuyển nguyênliệu, năng lượng, hàng hóa, phế thải giữa các phần tử của hệ thống Hệ thốngmôi trường với các thành phần thiên nhiên và xã hội cùng tồn tại trên mộtđịa bàn với hệ thống kinh tế - xã hội Mối quan hệ hay các mâu thuẫn đềuđược biểu hiện rất rõ ràng

Hệ thống kinh tế lấy nguyên liệu, năng lượng từ hệ thống môi trường.Đây là một trong những chức năng của môi trường: cung cấp nguyên, nhiênliệu cho cuộc sống con người Nếu vì phát triển kinh tế mà khai thác cạn kiệttài nguyên thiên nhiên không tái tạo được hoặc khai thác quá khả năng phụchồi đối với tài nguyên tái tạo được thì sẽ dẫn tới không còn nguyên liệu,năng lượng, từ đó phải đình chỉ sản xuất, giảm sút hoặc triệt tiêu hệ thốngkinh tế Chất thải là thứ mà cuộc sống sinh hoạt của con người và các hoạtđộng kinh tế thải ra môi trường nhiều nhất Hầu hết các phế thải đều độc hạiđối với sức khỏe và sinh mệnh con người, tác động xấu đến không khí,

Trang 26

nước, đất, các nhân tố môi trường và tài nguyên thiên nhiên khác Nhữngchất độc hại đó làm tổn hại chất lượng môi trường khiến cho hệ thống kinh

tế không thể hoạt động một cách bình thường được

Hiện nay trên thế giới quan niệm có hai loại ô nhiễm môi trường Một

là loại ô nhiễm do dư thừa của cải tại các nước có thu nhập cao hoặc tầnglớp giàu có trong các nước có thu nhập trung bình và thấp Loại ô nhiễm nàythể hiện ở việc sử dụng quá nhiều nguyên liệu và năng lượng vào sản xuất,

sự tiêu xài quá mức trong đời sống… đã gây nên lãng phí to lớn về mặt môitrường Một loại ô nhiễm khác xảy ra khá phổ biến là ô nhiễm do đói nghèo,

do người dân nghèo khổ không vốn liếng, không tài sản, không công cụ sảnxuất, nên con đường kiếm sống độc nhất của họ là khai thác với kỹ thuật thô

sơ các tài nguyên thiên nhiên còn chưa bị ai chiếm hữu, hoặc sở hữu chưađược chặt chẽ gây ra Phá rừng, đánh bắt thủy hải sản ngoài quy cách (như

nổ mìn, dùng xung điện), khai thác khoáng sản bừa bãi bằng biện pháp thủcông phổ thông là kết quả hầu như tất yếu của tình trạng này Hiện nay, còn

có sự khác nhau về quan điểm giữa các nước giàu có nền công nghiệp pháttriển và các nước nghèo kém phát triển về mối quan hệ giữa tăng trưởngkinh tế với bảo vệ và phát triển môi trường Các nhà môi trường học ởphương Bắc (nới có các nước giàu và công nghiệp phát triển) coi tăngtrưởng kinh tế là nguyên nhân làm mất đi tài nguyên ở phương Nam (nơi cócác nước nghèo) bởi vì các nước nghèo ở khu vực này thường phụ thuộc vàonguồn tài nguyên sẵn có để phục vụ cho phát triển kinh tế và dẫn tới hủyhoại môi trường một cách nghiêm trọng Ngược lại, các nước phương Namlại lên án phương Bắc giàu lên là nhờ sử dụng tài nguyên ngoài biên giới củanước mình, làm hủy hoại tài nguyên rừng, sinh vật của các nước phươngNam Cuộc tranh luận còn tiếp tục kéo dài trong suốt các hội nghị về môi

Trang 27

trường và ai cũng là người có lỗi Nhưng những nước nghèo không hẳn là họkhông lo lắng gì cho tương lai mà thực ra họ chỉ có khả năng hạn chế thựchiện hành động nào đó nhằm bảo tồn thiên nhiên, trong khi phải dành ưutiên nguồn lực hiện có cho nhu cầu hiện tại Nói một cách khác họ không đủnăng lực nội sinh để giải quyết mâu thuẫn giữa môi trường và phát triển Màthực ra không có mối quan hệ giản đơn giữa đói nghèo và mức suy giảmchất lượng môi trường Vấn đề chính ở chỗ những nước áp dụng các chínhsách kinh tế và thể chế đúng đắn sẽ có thể đảm bảo phát triển kinh tế nướcmình và giảm bớt ô nhiễm môi trường.

Trước thực trạng ô nhiễm môi trường ở mức báo động toàn cầu nhiềuchính sách kinh tế và thể chế đã được đề ra Một số nhà khoa học đưa ra lý

thuyết “đình chỉ phát triển”, có nghĩa là tăng trưởng bằng không hoặc là âm

để bảo vệ nguồn tài nguyên vốn hữu hạn của trái đất và chặn lại xu thế suythoái chất lượng môi trường đang đi liền với công nghiệp hóa, đô thị hóa và

bần cùng hóa nhân dân lao động ở nhiều nước Cũng có ý kiến đề xuất “chủ nghĩa bảo vệ”, chủ trương lấy bảo vệ làm mục đích không can thiệp vào

thiên nhiên, nhất là các địa bàn chưa được khảo sát nghiên cứu Đây là mộtchủ trương không tưởng đặc biệt là đối với các nước đang phát triển, nơi màtài nguyên thiên nhiên là nguồn vốn cơ bản cho mọi hoạt động phát triển củacon người

Phát triển là xu thế tất yếu của một xã hội, là quy luật tiến hóa trongthiên nhiên Không thể ngừng hay kìm hãm lại sự phát triển của xã hội loàingười mà phải tìm ra con đường phát triển thích hợp để giải quyết mâuthuẫn giữa môi trường và phát triển

Trang 28

3 Kinh nghiệm một số nước trên thế giới về giải quyết mối quan

hệ giữa phát triển và bảo vệ môi trường.

3.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc.

Quá trình phát triển kinh tế nhanh của Trung Quốc gắn liền với việcphụ thuộc nặng nề vào sử dụng nhiên liệu than đá Điều này dẫn đến tìnhtrạng ô nhiễm nghiêm trọng đã và đang ảnh hưởng lớn đến sức khỏe củangười dân Trung Quốc Đốt than đá đã góp đến 90% lượng khí SO2, 70%bụi, khí NO và CO2 thải ra hàng năm của quốc gia này Kết quả là đến hơnmột nửa trong các thành phố Trung Quốc không đáp ứng được tiêu chuẩn antoàn về không khí, và 1/3 số thành phố là có mưa axit Ô nhiễm môi trường

đã dẫn đến 51.000 vụ kiện tụng chỉ riêng trong năm 2005, tức là 140vụ/ngày Chỉ trong vòng nửa năm đầu của 2006, đã có tới 49 vụ tai nạn môitrường Môi trường bởi vậy được coi là một trong những nguyên nhân chính,bên cạnh nạn tham nhũng, bất bình đẳng ngày càng lan rộng, và hệ thống tàichính dễ bị tổn thương, gây ra bất ổn xã hội sâu rộng ở Trung Quốc

Đã từ lâu, Trung Quốc đánh giá cao tăng trưởng hơn là môi trường.May thay, các nhà lãnh đạo mới của Trung Quốc đã có một sự thay đổi triệt

để về thái độ đối với vấn đề môi trường Lớp lãnh đạo mới này đã đưa rađường lối phát triển một “xã hội hài hòa” dựa trên “sự phát triển khoa học”

Họ đã nhận thức rõ rằng chiến lược phát triển nhanh và hy sinh môi trườngphải được từ bỏ Tuy vậy, họ nhấn mạnh rằng bảo vệ môi trường không nêndựa vào việc ban hành và thực thi các quy chế kiểm soát môi trường mà phảidựa vào các biện pháp chính sách đòn bẩy kinh tế Trung Quốc đã thực hiệnthí điểm việc mua bán hạn mức khí thải SO2 ở các thành phố lớn từ năm

2002 Họ cũng đang bắt đầu thử nghiệm việc mua bán hạn mức nước thải ởcác thành phố duyên hải Ngoài ra, kế hoạch phát triển kinh tế quốc gia

Trang 29

không còn chỉ đề ra chỉ tiêu tăng trưởng mà còn đề ra những điều kiện choviệc tăng trưởng đó, trong đó có các hạn mức về yếu tố đầu vào Ví dụ, kếhoạch 5 năm 2006 - 2010 đề ra chỉ tiêu cắt giảm 20% tiêu thụ năng lượngtrên một đơn vị GDP Kế hoạch này cũng yêu cầu cắt giảm 10% lượng khíthải SO2 quốc gia vào năm 2010 so với năm 2005 Nhận thức được mối nguyhiểm của sử sụng than đá đối với môi trường, kế hoạch phát triển này cũng

đề ra nhiệm vụ tìm kiếm các nguồn nhiên liệu thay thế (thủy điện, sinh học

và gió) có thể đáp ứng được 16% nhu cầu năng lượng quốc gia vào năm

2020, từ mức 7% như hiện tại

Tích cực tham gia các nỗ lực toàn cầu nhằm cắt giảm khí thải gây hiệuứng nhà kính cũng là một thể hiện về sự thay đổi trong quan niệm về môitrường Trung Quốc đã thông qua các chỉ dẫn thúc đẩy sự thực thi thông suốtCác dự án phát triển sạch (CDM), là những dự án khuyến khích chuyển giaocông nghệ không hoặc ít gây ô nhiễm môi trường cho các nước đang pháttriển, bằng cách cho phép các nước đã phát triển đạt được một phần trongnghĩa vụ cắt giảm gây ô nhiễm của họ được thông qua việc đầu tư và chuyểngiao những công nghệ sạch này cho các nước đang phát triển Hiện tại có

177 dự án loại này đang được triển khai ở Trung Quốc

Việc nâng thẩm quyền của Cục Bảo vệ môi trường Trung Quốc(SEPA) từ chỗ “có danh không có thực” thành một cơ quan ngang bộ đã chophép cơ quan này có quyền lực áp đặt và giám sát các luật lệ về môi trường.Với thực quyền mới, cơ quan này đã bác bỏ 30 dự án công nghiệp trị giáhàng trăm tỷ nhân dân tệ vốn đầu tư, trên cơ sở các dự án này không cónhững đánh giá bảo vệ môi trường thích hợp Việc này đã gây ra một cơnsốc vì một cơ quan từ chỗ hữu danh vô thực đã đủ mạnh để có thể nói không

Trang 30

với những dự án được xác định là chủ chốt cỡ quốc gia do Ủy ban Cải cách

và Phát triển quyền lực hàng đầu của Trung Quốc thông qua

Ngoài những biện pháp trên, Trung Quốc cũng đã tích cực khuyếnkhích chính quyền địa phương có trách nhiệm hơn nữa đến môi trường trongcác quyết định của mình Từ trước đến nay, chính quyền địa phương chỉ tậptrung vào tăng trưởng kinh tế mà bỏ qua vấn đề ô nhiễm môi trường, vì côngtrạng của họ sẽ được đánh giá chủ yếu thông qua tốc độ tăng trưởng GDPcủa địa phương mình Với mục đích khắc phục tồn tại này, Chính phủ TrungQuốc đã đề ra chương trình “Thành phố môi trường”, và trao danh hiệu nàycho những thành phố nào thỏa mãn được 28 tiêu chuẩn bảo vệ môi trườngcủa SEPA đề ra Cho đến nay đã có 50 trong tổng số 600 thành phố củaTrung Quốc được trao danh hiệu này Ngược lại, Chính phủ cũng đã công bốmột danh sách “đen” 10 thành phố gây ô nhiễm nhất, nhằm tạo động lực để

họ có trách nhiệm hơn đối với môi trường Biện pháp này xem ra rất hiệuquả khi mà không một chính quyền địa phương nào muốn nằm trong danhsách này lâu cả

Để giúp công chúng hiểu rõ cái giá phải trả do ô nhiễm môi trường,SEPA cũng đã xây dựng và công bố tỷ lệ phần trăm GDP thiệt hại hàng nămdùng để xử lý môi trường Chẳng hạn, năm 2004, ô nhiễm môi trường đãtiêu tốn của Trung Quốc 64 tỷ USD, hay tương đương với 3,1% GDP năm

đó Điều này cho mọi người thấy rằng ô nhiễm môi trường trầm trọng sẽ làmxói mòn tăng trưởng trong dài hạn ở nước này

SEPA còn đi xa hơn nữa trong việc khuyến khích chính quyền địaphương có trách nhiệm hơn đối với môi trường SEPA với sự hợp tác củaBan tổ chức Trung ương Đảng đưa ra những chỉ tiêu đánh giá chất lượnghoạt động của chính quyền địa phương dựa trên cả thành tích bảo vệ môi

Trang 31

trường của họ Điều này có nghĩa là bảo vệ môi trường sẽ trực tiếp liên quanđến việc thăng tiến của các quan chức địa phương Nhờ vậy, đã có nhữngthành phố tự xây dựng những tiêu chuẩn bảo vệ môi trường cao hơn củaquốc gia.

Liên hệ với kinh nghiệm của Trung Quốc, có thể thấy rằng các nhàlãnh đạo Việt Nam cần phải gấp rút thay đổi mô hình phát triển như hiệnthời, hầu như chỉ thấy tập trung vào chỉ tiêu tăng trưởng GDP trong mọi kếhoạch, mọi chiến lược phát triển, với tham vọng nhanh chóng đuổi kịp cácnước trong khu vực Bộ và Sở Tài nguyên và Môi trường các cấp tuy cóchức năng quản lý nhà nước về môi trường nhưng xem ra vẫn còn khá hờihợt trong việc giám sát và thực thi các quy chế về môi trường của mình, vớinhững bằng chứng rõ ràng qua các vụ việc gây ô nhiễm môi trường của mộtdoanh nghiệp nào đó nhưng hầu như không bị xử lý thích đáng Cứ từ kinhnghiệm Trung Quốc suy ra thì có lẽ trong 7 – 8% tăng trưởng GDP hàngnăm mà chúng ta đã và đang đạt được, phải có đến một vài % là chi phí cầnphải để ra để xử lý ô nhiễm môi trường, làm cho tỷ lệ tăng trưởng GDP thực

sự chỉ còn ở mức rất khiêm tốn, bằng với các nước đang phát triển kháctrong khu vực, chứ không phải là một điều thần kỳ Và nếu Việt Nam thựchiện được những biện pháp mà Trung Quốc đang thực hiện thì vấn đề môitrường sẽ không còn là một mối đe dọa lên tăng trưởng trong dài hạn ở ViệtNam nũa

3.2 Kinh nghiệm của Nhật Bản.

Từ đầu thế kỷ XX, nhiều nước trên thế giới trong đó có Nhật Bản, mộtquốc gia tư bản công nghiệp đầu tiên của phương Đông, đã hình thành nhiềutrung tâm công nghiệp lớn Thông thường, gắn liền với các trung tâm côngnghiệp đó là các khu tập trung dân cư Sự tập trung quá mức các ngành sản

Trang 32

xuất và dân cư vào những khu vực địa lý nhất định tự thân nó đã gây nêntình trạng mất cân bằng sinh thái và dẫn đến ô nhiễm môi trường sống.

Trong các quốc gia thuộc khối Đông Bắc Á, Nhật Bản là nước đôngdân (126,4 triệu, đứng thứ tám trên thế giới) nhưng lại có diện tích tương đốinhỏ (378.000 km2), vì thế, mật độ dân số của Nhật Bản khá cao – tính trungbình mật độ là 336 người/km2 Hơn thế, phần lớn diện tích lãnh thổ NhậtBản là đồi núi nên trên thực tế đại bộ phận cư dân sống trên một diện tíchnhỏ hơn 10% diện tích đất nước Điều đó có nghĩa là, ở nhiều vùng của NhậtBản mức độ tập trung dân số là rất cao Hơn 70% dân số Nhật Bản sốngtrong các đô thị Tokyo, thủ đô đồng thời là thành phố lớn nhất của NhậtBản, chỉ riêng khu vực nội đô đã có quy mô dân số tới 12 triệu người Chínhtình trạng phân bố dân cư không đều giữa các vùng và mức độ tập trung cao

ở một số đô thị tự thân nó đã tiềm ẩn nguy cơ bùng phát về mức độ ô nhiễm

Trở lại lịch sử, sau những thành công của cuộc Cải cách Minh Trị(1868 – 1912), Nhật Bản bắt đầu tiến nhanh vào thời kỳ công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước Do còn thiếu kinh nghiệm trong việc hoạch định cácchính sách phát triển kinh tế - xã hội cũng như vì lợi ích kinh tế tối đa màchính quyền cũng như giới chủ tư bản đã không chú trọng đến những tácnhân tương phản của sự phát triển Trong những thập niên 50 đến 70 của thế

kỷ XX, thời gian mà nền kinh tế Nhật Bản được đánh giá là đạt tốc độ tăngtrưởng cao nhất thế giới, xã hội Nhật Bản đã phải đối diện với tình trạng ônhiễm trầm trọng, nhất là tại các trung tâm công nghiệp và đô thị lớn

Trong quá trình phát triển của Nhật Bản, hiện tượng ô nhiễm môitrường có quy mô lớn đầu tiên là sự kiện gây ô nhiễm ở mỏ đồng Ashio, khu

mỏ có trữ lượng lớn nhất Nhật Bản, đã được đưa vào khai thác từ năm 1884

và luôn chiếm vị trí hàng đầu về sản lượng khai thác Do sử dụng những

Trang 33

thiết bị khai thác lạc hậu và không chú trọng đến việc bảo vệ môi trường nênchỉ sau một thời gian, lượng khí thải và hóa chất từ khu mỏ này đã tàn phámột diện tích đất canh tác rộng lớn đồng thời làm tàn lụi cả những khu rừngxung quanh Tuy nhiên, do nhu cầu phát triển kinh tế cũng như thời bấy giờgiới tài phiệt Nhật Bản đang cần một số lượng kim loại lớn phục vụ chiếntranh nên vấn đề ô nhiễm đã không được quan tâm và mức độ ô nhiễm ngàycàng trở nên nghiêm trọng.

Sau chiến tranh thế giới thứ II, đặc biệt là những năm 1950 – 1960,chiến lược kinh tế của Nhật Bản tập trụng vào việc phát triển công nghiệpnặng đặc biệt là một số ngành như hóa chất, hóa dầu, luyện kim… do muốnđạt đến lợi nhuận tối đa nên giới chủ doanh nghiệp không muốn lắp đặt và

sử dụng công nghệ phòng chống ô nhiễm Theo đó, đầu tư cho việc chống ônhiễm được coi là loại đầu tư “phi kinh tế”, không đem lại lợi nhuận Vàphải sau khi xảy ra bốn sự kiện nghiêm trọng về môi trường thì Chính phủNhật Bản mới can thiệp sâu hơn vào vấn đề môi trường, đó là các sự kiện:

Thứ nhất, nhiễm độc thủy ngân ở Minamata Đây là một khu vựcchuyên về đánh bắt thủy sản ở phía Nam Nhật Bản và khu vực này bị nhiễmđộc thủy ngân rất nặng Vào đầu những năm 1950, nhiều người dân ở khuvực này bị mắc những chứng bệnh lạ như run rẩy chân tay, bại liệt, mất trínhớ và một số trường hợp nặng hơn đã bị tử vong Những dấu hiệu nguyhiểm bắt đầu ở chó, mèo và chim, sau đó là người Qua điều tra, người tathấy công ty sản xuất hóa chất Chisso chính là thủ phạm Trong quá trìnhsản xuất, công ty này đã thải ra sông, biển các loại hợp chất có chứa thủyngân làm cho các loài thủy sản ở đây cũng bị nhiễm thủy ngân, sau đó ngườidân ở các khu vực này ăn các loại hải sản đó và bị nhiễm độc thủy ngân.Đây là kết quả điều tra đầu tiên của các nhà nghiên cứu ở Đại học Kumando

Trang 34

công bố vào cuối những năm 1950 đầu những năm 1960 Những cư dân bịnhiễm độc đã kiện công ty này và sau nhiều lần thưa kiện, cuối cùng tòa ánphán xét công ty Chisso phải bồi thường thiệt hại cho những người bị nhiễmđộc và cam kết không thải các chất độc hại vào môi trường Sự kiện nàyđược coi là tiếng chuông cảnh tỉnh đầu tiên đối với các nhà kinh doanh vàgiới chức Nhật Bản trước việc bảo vệ môi trường sống của con người.

Thứ hai, nhiễm độc thủy ngân ở Nigata Trên thực tế sự kiện này cũngdiễn ra tương tự như ở Minamata và lần này thủ phạm là công ty khaikhoáng Showa Denko Vào năm 1965, nhiều người dân sống ở hạ lưu sôngAgano bị mắc các chứng bệnh giống như những người dân bị nhiễm độcthủy ngân ở Minamata Ngay sau đó các cuộc điều tra được tiến hành vàkhông khó khăn gì người ta phát hiện ra rằng cá, tôm ở khu vực này bịnhiễm độc thủy ngân rất nghiêm trọng và người dân nơi đây đã ăn các loạithực phẩm bị nhiễm độc đó, hậu quả là họ bị nhiễm độc thủy ngân Nhiều vụkiện đã xảy ra và người dân nơi đây đã đòi hỏi chính quyền địa phương phải

có các biện pháp mạnh nhằm buộc công ty này chấm dứt việc thải các chấtđộc hại vào môi trường Tới năm 1971, công ty này đã phải bồi thường thiệthại cho các nạn nhân và cam kết xử lý các phế thải trước khi đổ chúng vàomôi trường

Thứ ba, nhiễm độc Cadimi ở Toyama Triệu chứng của nhiễm độcCadimi là mất cảm giác thèm ăn và nhạy cảm với các thương tổn cơ thể,trong những trường hợp nghiêm trọng có thể dẫn tới tử vong Tiếng Nhật gọicăn bệnh này là “Itai – Itai”, nghĩa là tiếng khóc của một người khi bị đauđớn về thể chất Bệnh này xuất hiện ở một vùng ngoại ô Toyama, bên bờbiển Tây Nhật Bản từ những năm 20 của thế kỷ trước, nhưng mãi đến năm

1965 người ta mới tìm được nguyên nhân Thủ phạm là công ty khai khoáng

Trang 35

Mitsui, chuyên về khai mỏ và chế biến kẽm và họ đổ chất thải xuống cácsông, hồ gần đó; người dân đã lấy nước từ các sông hồ này tưới tiêu Nướctưới này có chứa nhiều chất Cadimi, được dùng để chăm sóc cây trồng nhưđậu, ngô, khoai, lúa và người dân đã ăn phải những loại lương thực nhiễmđộc này; kết quả, họ mắc các chứng bệnh như trên Sau nhiều năm khiếukiện, tới đầu những năm 1970, các nạn nhân đã thắng và công ty này đã camkết đổi mới công nghệ, bồi thường thiệt hại và không gây ô nhiễm môitrường.

Thứ tư, ô nhiễm công nghiệp ở Yokakaichi Đây là khu công nghiệptập trung nằm ở phía nam Nagoya Khu này được quy hoạch và chuyên sảnxuất các loại hóa chất và chế biến dầu mỏ Các nhà máy ở đây đã thải vàokhông khí một lượng ôxit sunfua rất lớn và nhiều cư dân địa phương đã bịbệnh phổi do họ hít thở không khí ô nhiễm sunfua Những người dân ở đây

đã đệ đơn kiện đòi hỏi Chính phủ phải can thiệp để buộc các doanh nghiệpkhông thải sunfua vào không khí Đứng trước tình hình đó, Chính phủ NhậtBản đã phải can thiệp trực tiếp vào vấn đề này Năm 1970, một cơ quan đặcbiệt chuyên về tư vấn và soạn thảo chính sách môi trường được thành lậptrực thuộc Chính phủ Nhật Bản Chức năng của cơ quan này giống như một

Ủy ban quốc gia, chịu trách nhiệm phối hợp với các cơ quan khác nhằm giúpChính phủ Nhật Bản can thiệp trực tiếp nhằm ngăn chặn tình trạng ô nhiễmmôi trường

Cũng vào năm 1970, Nghị viện Nhật Bản đã thông qua 14 dự luật quyđịnh các tiêu chuẩn về chất thải đối với từng loại ô nhiễm, đồng thời đề raquy chế kiểm soát các chất thải công nghiệp như ôxit lưu huỳnh, ôxit nitơ,ôxit cacbon, bụi…Theo “Luật chống ô nhiễm không khí”, khí thải bắt buộcphải được kiểm soát tại các nhà máy, xí nghiệp Nhờ đó, đến cuối thập kỷ 60

Trang 36

tình trạng ô nhiễm và số bệnh nhân mắc các bệnh hô hấp đã có phần suygiảm Để bảo vệ môi trường, Chính phủ Nhật Bản đã thực hiện nhiều biệnpháp mạnh mẽ Năm 1971, Nhật Bản đã thành lập một cơ quan chuyên trách

đó là Cục Môi trường Đây là một cơ quan có chức năng ngang bộ và việcthành lập Cục môi trường đã cho thấy có sự chuyển biến trong chính sách, từchỗ chỉ nhấn mạnh đến tăng trưởng kinh tế sang một chính sách cũng quantâm đến các giá trị khác như việc bảo vệ môi trường Tại các địa phương,các cơ quan bảo vệ môi trường cũng được thiết lập và hoạt động dưới sự chỉ

đạo của Cục môi trường trung ương với phương châm: Sử dụng tiềm lực kinh tế ngày càng to lớn do đạt tốc độ tăng trưởng cao để ngăn chặn nạn ô nhiễm và cải thiện điều kiện môi trường Chính phủ đã đề ra tiêu chuẩn bảo

vệ môi trường rất ngặt nghèo và thi hành triệt để các biện pháp chống ônhiễm Trong những năm 70, nền kinh tế Nhật Bản đã thể hiện mạnh mẽ đặctính phát triển của nó và đại đa số công chúng đã nhận thức rõ hơn tầm quantrọng của môi trường cũng như thực hiện phương châm giải quyết các vấn

đề môi trường gắn liền với sự tăng trưởng Điều rõ ràng là, khi môi trường

đã bị ô nhiễm, sự cân bằng sinh thái đã bị phá vỡ thì dường như không thểkhôi phục lại như trạng thái ban đầu Trong rất nhiều trường hợp, sức khỏecon người khi đã bị tổn thương cũng không thể bình phục Để khẳng địnhnguyên tắc đó, năm 1973 “Luật đề bù cho sự thiệt hại về sức khỏe do ônhiễm” đã được ban hành Theo đó, người gây ô nhiễm phải chịu tráchnhiệm trước pháp luật Mặt khác, các cơ sở, xí nghiệp sản xuất phải thực thinghiêm túc các biện pháp cải tiến kỹ thuật để ngăn chặn ô nhiễm trong quátrình sản xuất Trong trường hợp ô nhiễm xảy ra, dù là do vô tình hay sự cố

kỹ thuật, thì cơ sở đó cũng vẫn phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Trang 37

Trên thực tế, cũng có những trường hợp, các biện pháp phòng ngừađược thực hiện khá toàn diện nhưng sự cố gây ô nhiễm vẫn xảy ra Do vậy,kinh nghiệm của Nhật Bản là phải động viên nhân dân tích cực tham gia vàocác hoạt động phòng chống ô nhiễm môi trường và sớm đưa ra công luận vềthực trạng ô nhiễm Nhờ đó, đến năm 1977, trong báo cáo với tiêu đề “Kinh

tế Nhật Bản – Chính sách môi trường đã thu được thành công như thế nào?”

tổ chức OECD đã đánh giá cao về khả năng khắc phục tình trạng ô nhiễmmôi trường ở Nhật Bản Các biện pháp chống ô nhiễm, bảo vệ môi trườngcủa Nhật Bản là rất hiệu quả Cùng với những quy định và đạo luật trên đây,năm 1988, Nhật Bản đã ban hành một đạo luật quy định việc chế tạo và sử

dụng chất chlorofluorocarbon, một loại hóa chất gây hủy hoại tầng ôzôn.

Năm 1991, lại tiếp tục ban hành “Luật tái chế các nguyên liệu thải loại” Từđầu năm 1994, “Luật cơ bản về môi trường” của Nhật Bản bắt đầu có hiệulực Cùng với các luật do trung ương ban hành, 47 tỉnh của Nhật Bản cũng

đề ra các quy định, quy chế bổ sung để phù hợp với việc bảo vệ môi trường

ở từng địa phương

Bước vào thập kỷ 80, phần lớn người dân Nhật Bản đã nhận thức rõrằng ô nhiễm đã vượt qua phạm vi biên giới của mỗi quốc gia và đã trởthành vấn đề mang tính toàn cầu Nạn ô nhiễm môi trường đã phá hoại nặng

nề môi trường sống trên hành tinh Nhiều quốc gia trên thế giới đã nhận thứcđược phải thay đổi, thậm chí là phải sớm loại bỏ hệ thống sản xuất, tiêudung cũ, thay vào đó là cách thức sản xuất và hệ thống thiết bị mới an toàn,hiệu quả hơn Như vậy, có một nguyên tắc luôn phải đặt ra là, trong các dự

án sản xuất và phát triển tổng thể phải có phần đánh giá môi trường và giảipháp xử lý, bảo vệ môi trường Những yếu tố như: công viên, cây xanh, hệthống lọc nước sinh hoạt và hệ thống phòng chống ô nhiễm bao gồm cả việc

Trang 38

xây dựng quy trình xử lý nước thải là những bộ phận không thể thiếu củacác dự án Bởi vì, việc bảo vệ môi trường, không ngừng hoàn thiện môitrường sống, môi trường làm việc chính là nhằm bảo vệ con người, sức laođộng và trí sáng tạo của họ cho công cuộc phát triển đất nước.

Nhờ những chính sách đồng bộ nêu trên mà điều kiện môi trường ởNhật Bản đến cuối những năm 80 đã được cải thiện Năm 1989, lần đầu tiêntrong lịch sử, “Hội nghị nguyên thủ các nước phát triển” đã họp tại Paris đãđưa vấn đề môi trường vào trong chương trình nghị sự Những người đứngđầu các nước đã khẳng định trách nhiệm và sự phối hợp quốc tế trong cáchoạt động bảo vệ môi trường Trong bối cảnh đó, do hoạt động kinh tế củaNhật Bản diễn ra ở hầu khắp các quốc gia trên thế giới, nên nhiều nước cũngđặt ra yêu cầu Nhật Bản phải có những đóng góp thỏa đáng cho hoạt độngphòng ngừa và xử lý ô nhiễm Như vậy, với tư cách là một cường quốc kinh

tế thế giới, việc bảo vệ môi trường không chỉ dừng lại trên phạm vi lãnh thổNhật Bản mà đồng thời còn phải được thực hiện ở nhiều quốc gia Nhật Bản

là nước có những hành động tích cực trong việc cung cấp tài chính và thiết

bị kỹ thuật bảo vệ môi sinh và phòng chống ô nhiễm

Bảo vệ môi trường, ý thức gìn giữ cho đời sống xã hội luôn trong sạch

và yên bình không chỉ dừng lại trong các hoạt động của Chính phủ, các cấpchính quyền, các nhà khoa học và quản lý kinh tế, ngày nay Nhật Bản đangđẩy mạnh các chương trình truyền thông về bảo vệ môi trường Vấn đề tựnhiên và bảo vệ môi trường đang là nội dung quan trọng của tất cả các cấphọc trong hệ thống giáo dục Nhật Bản Ngoài việc thành lập các “Hội xanh”,

“Hội bảo vệ động vật” và thay đổi một số thói quen trong sinh hoạt như tụcdung đũa một lần… cũng đã có hàng trăm trường phổ thông ở các địaphương thực hiện tiếp nhận học sinh theo mô hình “Trường học thôn quê

Trang 39

cho trẻ em thành phố” Trong các ký túc xá ở vùng quê, vào những khoảngthời gian nhất định trong năm, mỗi học sinh từ thành phố về phải tự lo chomình các sinh hoạt cơ bản, phải đi bộ (thường là 3 đến 4km) đến trường học.Vào những ngày nghỉ, các em được hòa đồng với cuộc sống của nông dân,tham gia công việc đồng áng hay cắm trại, trượt tuyết… cùng với học sinhnông thôn Bằng cách đó, người ta muốn nuôi dưỡng và giáo dục tính tự lập.tình cảm tự nhiên cũng như tình yêu thiên nhiên cho thế hệ trẻ.

Nếu so sánh chúng ta thấy, các nước đang phát triển thường cókhuynh hướng ưu tiên cho các mục tiêu tăng trưởng kinh tế mà ít chú trọngđến vấn đề môi trường Nhưng theo kinh nghiệm từng phải trả giá đắt củaNhật Bản thì nếu kịp thời xây dựng các biện pháp ngăn ngừa ngay từ đầu thìchi phí dành cho việc phòng chống ô nhiễm sẽ thấp hơn nhiều so với khoảnchi phí khắc phục tình trạng ô nhiễm Theo báo cáo “Kinh nghiệm về ônhiễm môi trường của Nhật Bản” của Hội nghiên cứu môi trường thuộc Cụcmôi trường Nhật Bản năm 1991 thì thiệt hại do ô nhiễm môi trường gây raluôn ở mức cao có khi gấp đến 100 lần so với chi phí ngăn ngừa ô nhiễmban đầu Vì thế, không chỉ trên phương diện xã hội mà cả về phương diệnkinh tế, các nước đang phát triển cần coi trọng việc đề ra cơ chế ngăn chặn,kiểm soát nguy cơ ô nhiễm ngay từ khi bắt đầu xây dựng các dự án

Từ những kinh nghiệm và bài học đắt giá của quá khứ, ngày nay NhậtBản đã và đang thực hiện một chiến lược phát triển bền vững, với tầm trí tuệcao hơn, giàu tính nhân bản hơn để tạo nên một sự hòa hợp sâu sắc giữa conngười với thế giới tự nhiên và môi trường sống của mình

3 Một số gợi mở cho Việt Nam.

Ngày nay, Việt Nam đã hội nhập với thế giới, cùng với quá trình nhậnthức tăng lên và thấy được tầm quan trọng của việc phát triển bền vững, Việt

Trang 40

Nam đã có những thay đổi trong tư duy cũng như hành động của quá trìnhphát triển kinh tế - xã hội Chính phủ Việt Nam hiện nay không chỉ chútrọng đến đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế nói chung mà còn rất chú ý đếnphát triển bền vững Việt Nam đang tìm kiếm giải pháp cân bằng giữa pháttriển công nghiệp và bảo vệ môi trường và vì sức khỏe của người dân.

Việt Nam trong điều kiện là một nước đi sau, đã có thành công trongviệc phát triển kinh tế theo hướng bền vững nhưng Việt Nam vẫn cần phải

nỗ lực học hỏi những nước đi trước để từ đó lựa chọn hướng đi đúng đắnphù hợp với điều kiện phát triển của mình

Nhật Bản và Trung Quốc là hai nước được đánh giá là có những thànhcông trong tăng trưởng kinh tế và cũng đã phải gánh chịu nhiều hâu quảnghiêm trọng trong phát triển bền vững, hiện đang có những thay đổi trongchiến lược phát triển không chỉ chú trọng đến tăng trưởng kinh tế mà tăngtrưởng kinh tế phải gắn với bảo vệ môi trường và hài hòa xã hội Việt Nam

có thể rút ra nhiều bài học quý giá từ hai nước này, cụ thể:

Tăng cường năng lực cho các cơ quan chỉ đạo và điều phối hoạt độngphát triển bền vững: Phát triển bền vững đòi hỏi thay đổi nếp nghĩ, mô thứcsản xuất và tiêu dung của chúng ta, cải thiện cách thức mà con người đối xửvới thiên nhiên, đây là công việc lâu dài, nhưng phải bắt đầu từ thế hệ thiếuniên, nhi đồng cho tới tầng lớp lãnh đạo ở cấp cao cũng như ở lớp người caotuổi trong xã hội Trong công việc này, vai trò then chốt thuộc về đội ngũ tríthức, cán bộ làm công tác giảng dạy, nghiên cứu khoa học và đội ngũ truyềnthông, báo chí…

Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống thể chế phát triển bền vữngquốc gia, hội đồng phát triển bền vững các địa phương và các ngành, cơ chếhoạt động của Văn phòng phát triển bền vững các cấp cần được nghiên cứu

Ngày đăng: 11/01/2016, 13:06

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình  1.  Mối  quan  hệ  giữa  phát  triển  kinh  tế  -  xã  hội  và  môi  trường. - Môi trường trong việc phát triển bền vững ở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp
nh 1. Mối quan hệ giữa phát triển kinh tế - xã hội và môi trường (Trang 18)
Bảng 1. Những chính sách và văn bản pháp luật liên quan tới phát  triển bền vững ở Việt Nam. - Môi trường trong việc phát triển bền vững ở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp
Bảng 1. Những chính sách và văn bản pháp luật liên quan tới phát triển bền vững ở Việt Nam (Trang 56)
Bảng 2. Diện tích rừng các loại (nghìn ha) - Môi trường trong việc phát triển bền vững ở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp
Bảng 2. Diện tích rừng các loại (nghìn ha) (Trang 71)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w