1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực trạng và giải pháp phát triển bền vững làng nghề phú túc (huyện phú xuyên, thành phố hà nội) hiện nay​

75 62 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 0,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

“Xuất phát từ những lí do trên tôi đã chọn đề tài “Thực tạng và giải pháp phát triển bền vững làng nghề truyền thống ở xã Phú Túc hyện Phú Xuyên thành phố Hà Nội” để nghiên cứu và góp ph

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học

Người hướng dẫn khoa học

TS Hoàng Thanh Sơn

HÀ NỘI - 2019

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Em xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành nhất tới thày giáo hướng dẫn, tiến

sĩ : Hoàng Thanh Sơn, người thầy đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ em hoàn thành

khóa luận

Em xin bày tỏ lời cảm ơn tới các thầy cô trong trường ĐHSP Hà Nội 2

đặc biệt là các thầy, cô Khóa Giáo dục chính trị đã nhiệt tình giảng dạy, chỉ

bảo em trong suốt thời gian học tập tại trường

Em cũng xin bày tỏ lời cảm ơn tới thư viện trường ĐHSP Hà Nội 2, gia

đình cũng như bạn bè đã tạo điều kiện và giúp đỡ em hoàn thành khóa luận

Với điều kiện hạn chế về thời gian cũng như kiến thức của bản thân nên

khóa luận khó tránh khỏi những thiếu xót, kính mong sự chỉ bảo của quý thầy

cô cũng như các bạn sinh viên

Em xin chân thành cảm ơn !

Hà Nội, tháng 5 năm 2019

Sinh viên

Nguyễn Thị Phương

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Khóa luận tốt nghiệp này được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của thầy

giáo, tiến sĩ: Hoàng Thanh Sơn Tôi xin cam đoan rằng:

Đây là kết quả nghiên cứu của riêng tôi

Nếu sai tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2.Tình hình nghiên cứu 2

3.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2

4.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

5.Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 3

6.Đóng góp của khóa luận 3

7.Bố cục của khóa luận 4

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG 5

1.1.Một số vấn đề chung về phát triển bền vững 5

1.2.Một số vấn đề chung về làng nghề truyền thống 9

1.3.Nhân tố ảnh hương đến phát triển bền vững làng nghề truyền thống 16

1.4.Sự cần thiết phát triển bền vững làng nghề truyền thống 17

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG PHÚ TÚC (HUYỆN PHÚ XUYÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI) 22

2.1 Vài nét về làng nghề truyền thống xã Phú Túc 22

2.2 Thực trạng phát triển bền vững làng nghề truyền thống ở Phú Túc (Huyện Phú Xuyên, Thành phố hà Nội) 26

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG PHÚ TÚC (HUYỆN PHÚ XUYÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI) HIỆN NAY 42

3.1 Một số yêu cầu, định hướng và nhiệm vụ cơ bản trong bảo tồn và phát triển bền vững làng nghề truyền thống Phú Túc (Huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội) hiện nay 42

Trang 6

3.2 Một số giải pháp cơ bản nhằm bảo tồn và phát triển bền vững làng nghề truyền thống Phú Túc( Huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội) hiện nay 46

KẾT LUẬN 66 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 68

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Các làng nghề Việt Nam ra đời từ rất lâu tại các vùng dân cư tập trung ở Đồng bằng châu thổ sông Hồng Làng nghề có vai trò quan trọng trong nền kinh tế của một dân tộc Phát triển kin tế làng nghề là giải pháp quan trọng thúc đẩy tăng trưởng, phát triển kinh tế, ổn định chính trị- xã hội, đặc biệt là nâng cao đời sống đối với khu vực nông thôn

Thực tế chứng minh, làng nghề có vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế nông thôn Phát triển làng nghề sẽ góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ, sử dụng và phát huy các nguồn lực về lao động, vốn và các nguồn lực khác trong nhân dân để phát triển sản xuất, kinh doanh, tạo ra việc làm, xóa đói giảm nghèo, tác động đến việc phân công lao động trong xã hội, nâng cao thu nhập và đời sống nhân dân, thu hẹp khoảng cách thành thị và nông thôn, xây dựng nông thôn mới

Trong những năm gần đây Đảng và Nhà nước có nhiều chủ trương, chính sách, biện pháp khuyến khích tạo điều kiện để các làng nghề được khôi phục và phát triển

Phú Xuyên nằm ở phía Nam thành phố Hà Nội’cách trung tâm thành phố 40km, là 1 huyện thuần nông Ngoài nông nghiệp, huyện còn có 78 làng nghề được duy trì và phát triển, trong đó có 40 làng nghề được UBND thành phố

Hà Nội công nhận là làng nghề truyền thống Đặc biệt phải kể đến xã Phú Túc với làng nghề mây tre đan cỏ tế đã góp phần lớn trong việc thu hút lao động, nâng cao thu nhập và cao đời sống người dân trong địa bàn xã.”

Làng nghề trên địa bàn xã đã trở nên quen thuộc và đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra sản phẩm tiêu dùng trên địa bàn xã, trong nước và xuất khẩu Những sản phẩm của làng nghề ở xã Phú Túc mang bản sắc văn hóa của địa phương như:cỏ tế, mây tre đan, …đã giải quyết việc làm cho hàng trăm lao động, nâng cao thu nhập

Trong thời gian qua, các cấp Đảng, chính quyền trong xã đã có những chính sách và biện pháp khuyến khích khôi phục và phát triển các làng nghề

Trang 8

trên địa bàn Tuy nhiên, phần lớn làng nghề vẫn trong tình trạng mai một hoặc

có tồn tại thì sản xuất nhỏ lẻ theo kinh tế hộ gia đình,…

Do vậy để tìm các biện pháp để phát triển bền vững làng nghề thật sự phát huy tiềm năng và hiệu quả,có đóng góp lớn cho mục tiêu phát triển kinh

tế - xã hội, bảo tồn các giá trị văn hóa làng nghề … được coi là nhiệm vụ hết sức cấp thiết

“Xuất phát từ những lí do trên tôi đã chọn đề tài “Thực tạng và giải pháp phát triển bền vững làng nghề truyền thống ở xã Phú Túc( hyện Phú Xuyên thành phố Hà Nội)” để nghiên cứu và góp phần phát triển làng nghề truyền thống, phát triển kinh tế - xã hội và bảo tồn truyền thống văn hóa trên địa bàn huyện.”

2.Tình hình nghiên cứu

“Phát triển kinh tế làng nghề ở nông thôn là vấn đề rất quan trọng cả về

lý luận và thực tiễn đối với cả nước nói chung, các tỉnh nói riêng, nên đã thu hút được nhiều người và tổ chức quan tâm nghiên cứu Cụ thể:

- Ngoài nước: nghiên cứu của Awgichew(2010), trung tâm nghiên cứu phát triển cộng đồng Trung Quốc đã nghiên cứu về thương mại hóa nghề thủ công…

-Trong nước: “Nghiên cứu quy hoạch phát triển ngành nghề thủ công theo hướng CNH nông thôn ở Việt Nam”,“Làng nghề thủ công truyền thống” Bùi Văn Vượng, “Phát triển làng nghề truyền thống trong quá trình CNH, HĐH ở vùng ven thủ đô Hà Nội” của Mai Thế Hởn,…”

3.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1.Mục đích nghiên cứu

Khóa luận bổ sung ,hệ thống hóa 1 số lý luận chung về bảo tồn, phát triển bền vững làng nghề truyền thống, phân tích thực trạng và hạn chế trong việc bảo tồn và phát triển làng nghề của xã, từ đó đề xuất các giải pháp phát triển bền vững làng nghề trên địa bàn xã Phú Túc huyện Phú Xuyên trong những năm tới

Trang 9

3.2.Nhiệm vụ nghiên cứu

Hệ thống được lý luận về phát triển làng nghề làm cơ sở hình thành khung nội dung, phương pháp nghiên cứu cho đề tài

Đánh giá thực trạng làng nghề xã Phú Túc, chỉ ra mặt mạnh, điểm yếu, nguyên nhân, những vấn đề tồn tại về chính sách ảnh hưởng tới quá trình bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống

Đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển làng nghề xã Phú Túc huyện Phú Xuyên trong những năm tới

4.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1.Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: các làng nghề xã Phú Túc

4.2.Phạm vi nghiên cứu

- Không gian:xã Phúc Túc

- Thời gian:từ năm 2008 đến nay

5.Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

- Khóa luận thực hiện trên cơ sở lý luận của Đảng và Nhà nước, sử dụng và tham khảo 1 số sách báo, bài viết, luận văn về vấn đề làng nghề

- Phương pháp nghiên cứu: phân tích, tổng hợp, quy nạp, diễn dịch, đi

từ trừu tượng đến cụ thể

6.Đóng góp của khóa luận

- Góp phần làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn về bảo tồn và phát triển bền vững làng nghề truyền thống

- Phân tích làm rõ thực trạng phát triển làng nghề xã Phú Túc

- Đưa ra phương hướng và giải pháp thúc đẩy phát bảo tồn và phát triển bền vững làng nghề xã Phú Túc trong bối cảnh mới

Trang 10

7.Bố cục của khóa luận

“Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo thì nội dung cơ bản của khóa luận được chia thành 3 chương”

Trang 11

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG

1.1.Một số vấn đề chung về phát triển bền vững

1.1.1.Quan niệm về phát triển bền vững

Phát triển kinh tế là quy luật chung của mọi thời đại, tăng trưởng kinh tế

để cải thiện mức sống là mục tiêu quan tâm của các quốc gia Tăng trưởng kinh tế là điều kiện vật chất đầu tiên để xóa đói giảm nghèo tạo việc làm, cải thiện, nâng cao chất lượng cuộc sống, phát triển y tế - văn hóa - giáo dục Một số nước thường nhấn mạnh tăng trưởng nhanh, đẩy mạnh tốc độ Khi mức tăng trưởng đạt đến trình độ cao sẽ tập trung vào các chính sách về

xã hội Thực tế thì kinh tế không phải lúc nào cũng đi liền với sự phát triển con người và xã hội

“Nếu chỉ quan tâm đến phát triển kinh tế sẽ gây ra các hậu quả: tăng trưởng kinh tế nhanh sẽ không đảm bảo được sự công bằng xã hội, sự chênh lệch giàu nghèo, chênh lệch mức sống, tạo ra sự bất bình đẳng tăng trưởng kinh tế theo hướng phát triển công nghiệp, nhưng kinh tế nông thôn không được chú trọng, phát triển không đồng đều giữa kinh tế các vùng miền, giữa thành thị và nông thôn Như vậy ta có thể thấy rằng giữa tăng tưởng kinh tế và phát triển kinh tế có mối quan hệ mật thiết với nhau, muốn phát triển kinh tế phải có tăng trưởng kinh tế nhưng không phải sự tăng trưởng kinh tế nào cũng

là sự phát triển kinh tế.”

Ngoài ra, mức độ thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của xã hội thể hiện bằng

sự tăng lên của thu nhập thực tế, chất lượng cuộc sống, chất lượng y tế - giáo dục

Trong quá trình sản xuất, chúng ta nhận thấy không chỉ có mối liên hệ chặt chẽ giữa phát kinh tế - công bằng xã hội, mà chúng ta còn phải đối diện với những hậu quả do mình gây ra đối với môi trường: sự nóng lên của trái đất, suy thoái đa dạng sinh học, thiên tai, sự thất thường của thời tiết,… Vì vậy, khi phát triển phải gắn với môi trường, với các mối quan hệ xã hội giữa con người với con người Nhiều hội nghị quốc tế được họp bàn để bàn về những vấn đề tương lai chung của nhân loại, trong đó các hội nghị đều đạt

Trang 12

được bước tiến rất quan trọng về nhận thức là phải làm thế nào để kinh tế thế giới có sự phát triển bền vững

Thuật ngữ “Phát triển bền vững” có rất nhiều các định nghĩa, cách hiểu khác

Ủy ban thế giới về Môi trường đã đưa ra đĩnh nghĩa về phát triển bền vững là: “Sự phát triển nhằm thỏa mãn nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng làm thỏa mãn nhu cầu của chính các thế hệ mai sau” [15, tr 175]

“Tổ chúc ngân hàng phát triển Châu Á định nghĩa cụ thể hơn: “Phát triển bền vững là loại hình phát triển mới, lồng ghếp quá trình sản xuất với bảo tồn tài nguyên và nâng cao chất lượng môi trường Phát triển bền vững cần phải đáp ứng các nhu cầu của thế hẹ hiện tại mà không làm phương hại đến khả năng của chúng ta đáp ứng các nhu cầu của thế hệ trong tương lai.”[15,tr 175]”

“Phát triển bền vững là phát triển kinh tế- xã hội lành mạnh, dựa trên việc sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên và bảo vệ môi trường nhằm đáp ứng nhu cầu hiện tại nhưng không làm ảnh hưởng bất lại cho thế hệ mai sau.”

“Phát triển bền vững là sự phát triển kinh tế- xã hội với tốc độ tăng trưởng cao liên tục trong thời gian dài dựa trên việc sử dụng hiệu quả cao nguồn tài nguyên thiên nhiên mà vẫn bảo vệ được môi trường sinh thái Phát triển kinh tế nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội hiện tại, song không làm cạn kiệt tài nguyên, để lại hậu quả về môi trường cho tương lai.”

“Phát triển bề vững là sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hái hòa giữa 3 mặt của sự phát triển Đó là: phát triển kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường.”

“Phát triển bền vững về kinh tế được hiểu là sự tiến bộ mọi mặt của nề kinh tế thể hiện ở quá trình tăng trưởng kinh tế cao, ổn định và sự thay đổi về chất của nền kinh tế gắn với quá trình tăng năng suất lao động mục tiêu của phát triển bền vững kinh tế là đạt được sự tăng trưởng ổn định, với cơ cấu hợp

lý, đáp ứng được yêu cầu nâng cao đời sống của người dân, tránh được sự suy thoái trong tương lai, tránh gây nợ nần cho thế hệ mai sau.[15, tr 175]”

Trang 13

“Phát triển bền vững về xã hội là quá trình phát triển đạt được kết quả ngày càng cao trong công việc thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội Đảm bảo chế độ dinh dưỡng và chăm sóc sức khỏe cho người dân, mội người đều

có cơ hội trong giáo dục, có việc làm, giảm tình trạng đói nghèo nâng cao tình

độ văn minh về đời sống vật chất và tinh thần cho mọi thành viên của xã hội.”

“Phát triển bền vững về môi trường là khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý kịp thời hậu qur ô nhiễm môi trường Cần chú ý các khía cạnh sau: tăng trưởng kinh tế không làm ô nhiêm, suy thoái, hủy hoại môi trường, tăng trưởng kinh

tế phải dựa trên cơ sở khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm, sử dụng công nghệ tiên tiến hạn chế tình trạng ô nhiễm môi trường.”

Như vậy, để phát triển bền vững là tăng trưởng kinh tế trong thời gian dài, tăng trưởng kinh tế đi đối với giải quyết các vấn đè xã hội bảo vệ cải thiện môi trường và tăng trưởng kinh tế vì con người

1.1.2.Quan niệm phát triển bền vững ở Việt Nam

Phát triển bền vững trong điều kiện hội nhập kinh tế là vấn đề mang tính chất toàn cầu, là mục tiêu phấn đấu của mọi quốc gia Chiến lược phát triển bền vững của mỗi quốc gia được xây dựng và hình thành dựa trên cơ sở điều kiện lịch sử, hoàn hoàn của từng nước

“Ngày 17-8-2004, Việt Nam đã có quyết định số 153/2004/QĐ-TTg phê duyệt và ban hành “Định hướng phát triển bền vững ở Việt Nam” (Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam) nhằm phát triển bền vững đất nước trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường.”

Những nguyên tắc phát triển bền vững ở Việt Nam gồm 8 nguyên tắc:

“Con người là trung tâm của phát triển bền vững”

“Coi phát triển klinh tế là nhiệm vụ trung tâm của giai đoạn phát triển sắp tới, đảm bảo an ninh lương thực, năng lượng để phát triển bền vững, kết hợp chặt chẽ hợp lý hài hòa với phát triển xã hội, khai thác hợp lý sử dụng hiệu quả tài nguyên thien nhiên trong giới hạn cho phép.”

Trang 14

“Bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường phải được coi là một yếu tố không thể tách rời của quá trình phát triển.”

“Quá trình phát triển phải đảm bảo đáp ứng 1 cách công bằng nhu cầu của thế hệ hiện tại và không gây trở ngại tới cuộc sống của thế hệ mai sau”

“Khoa học công nghệ là nền tảng động lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thúc đẩy phát triển nhanh mạnh và bền vững đât nước”

“Phát triển bền vững là sự nghiệp của toàn Đảng, các cấp chính quyền, của các cơ quan doanh nghiệp, đoàn thể xã hội, các cộng đồng dân cư và mọi người dân.”

“Gắn chặt việc xây dựng nền kinh tế đọc lập tự chủ với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế đẻ phát triển bền vững đất nước.”

“Kêt hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường với đảm bảo quốc phòng an ninh và trật tự an toàn xã hội.[20]”

“Trên cơ sở 8 nguyên tắc định hướng phát triển bền vững ở Việt Nam gồm 5 phần:

Phát triển bền vững- con đường tất yếu ở Việt Nam

Những lĩnh vực kinh tế cần ưu tiên nhằm phát triển bền vững

Những lĩnh vực xã hội cần ưu tiên nhằm phát triển bền vững

Những lĩnh vực sử dụng tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường và kiểm soát ô nhiễm môi trường

Tổ chức thực hiện phát triển bền vững bao gồm 3 lĩnh vực chính: hoàn thiện vai trò lãnh đạo của nhà nước trong lĩnh vực tổ chức thực hiện phát triển bèn vững; huy động toàn dân tham gia thực hiện phát triển bền vững; hợp tác quốc tế để phát triển bền vững.[17]

Đại hội Đảng lần thứ IX khẳng định: phát triển nhanh hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đối với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường

Nước ta đi lên Chủ nghĩa xã hội từ một nước nông nghiệp nên phát triển kinh tế nông thôn có ý nghĩa rất quan trọng Làng nghề nói chung và làng

Trang 15

nghề truyền thống nói riêng là bộ phận không thể tách rời kinh tế nông thôn, trong đường lối phát triển kinh tế của nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X đã đưa ra vấn đề “Phát triển bền vững các làng nghề”[ 13, tr 194]”

1.2.Một số vấn đề chung về làng nghề truyền thống

1.2.1.Khái niệm làng nghề

Làng nghề là một thuật ngữ dùng để chỉ các cộng đồng dân cư, chủ yếu ở các vùng ngoại ô thành phố, vùng nông thôn Việt Nam, có truyền thống sản xuất các sản phẩm thủ công truyền thống, cùng chủng loại Các làng nghề thường mang tính truyền thống đặc sắc, đặc trưng, không chỉ mang lại giá trị kinh tế mà còn mang giá trị văn hóa, du lịch

Làng nghề được cấu tạo bởi hai nhân tố là “làng” , “nghề” Vì thế khái niệm sẽ được hiểu thông qua việc phân tích hai khái niệm “làng” và “nghề” “Làng nghề là một mô hình kinh tế ở nông thôn, được tạo bởi hai thành tố “làng” và “nghề”, tồn tại trong cùng một không gian địa lý nhất định, trong đó bao gồm nhiều hộ gia đình sinh sống bằng nguồn thu nhập chủ yếu là

từ làm các nghề thủ công, giữa họ có một mối liên kết về kinh tế, xã hội và văn hóa.”

“Làng” theo từ điển tiếng Việt là một khối người quần tụ ở một nơi nhất định trong nông thôn “Làng là một tế bào xã hội của người Việt, là một tập hợp dân cư chủ yếu theo quan hệ láng giềng Đó là một không gian lãnh thổ nhất định ở đó tập hợp những người quần tụ lại cùng nhau sinh sống và sản xuất Trong quá trình cộng nghiệp hía hiện đại hóa khái niệm làng được hiểu theo một cách tương đối, một số địa phương hiện nay không còn gọi là làng

mà thay bằng các tên gọi khác như tổ, phố, khố phố Tuy nhiên dù có thay đổi cách gọi tên thì bản chất của cộng đồng vẫn gắn với nông thôn không thay đổi thì đóa vẫn được coi là làng.”

“Nghề” có thể được hiểu là công việc mà người dân làm để kiếm sống hàng ngày “Các nghề trong hoạt động của làng nghề thường là thủ công, tiểu thủ công Vì thế những sản phẩm làm ra luôn mang đậm dấu ấn của chủ nhân làm ra nó.”

Trang 16

“Những phát hiện về khảo cổ học đã chứng minh các làng nghề Việt Nam ra đời từ hàng trăm năm trước đây, tập trung chủ yếu ở các vùng châu thổ sông lớn như Hà Nội, Ninh Bình, Nam Định, Huế, Đà Nẵng,… Với một

số làng nghề nổi tiểng như: gốm Bát tràng, tranh Đông Hồ,lụa Vạn Phúc Hà Đông,nghề mây tre đan, nghề làm nón, làm chiếu, ”

“Do đặc tính nông thôn, nông nghiệp và quan hệ láng giềng làng xã, các ngành nghề thủ công được lựa chọn thường là các ngành nghề dễ phát triển với quy mô cá nhân rồi mới mở rộng thành quy mô hộ gia đình Dần dần các nghề thủ công được truyền bá giữa các gia đình rồi lan rộng ra cả làng Lợi ích của các nghề thủ công đem lại cho mỗi cá nhân mỗi làng có sự phân hóa khác nhau Những nghề đem lại nhiều lợi ích thì sẽ được phát triển mạnh lên, còn những nghề mang lại hiệu quả thấp hay không phù hợp sẽ dần bị mai một, xóa bỏ Từ đó mà hình thành nên những làng nghề đi sâu vào sản xuất 1 sản phẩm duy nhất nào đó như: làng gốm, làng lụa, làng khảm trai, làng may,…”

“Theo Phạm Côn Sơn “Làng là một đơn vị hành chính cổ xưa mà cũng

có nghĩa là nơi quần cư đông người sinh hoạt, có tổ chức, có kỷ cương, tập quán riêng theo nghĩa rộng Làng nghề không những là một làng sống chuyên nghề mà cũng có hàm ý là những người cùng nghề sống hợp quần để phát triển cùng ăn, làm việc.”Cơ sở vững chắc của các làng nghề là sự vừa làm ăn tập thể phát triển kinh tế, giữ gìn bản sắc dân tộc và cá biệt của địa phương”

“Theo Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn đưa ra khái niệm về làng nghề như sau: “Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buon, phum, sóc,… hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị trấn,”có các hoạt động hành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau”

Như vậy, một làng được coi là làng nghề phải có những yếu tố sau: phải được kết hợp bởi 2 yếu tố làng và nghề, cùng chung sống trong một không gian địa lý nhất định, có một số lượng tương đối hộ gia đình cùng sản xuất một nghề, giữa họ có mối quan hệ văn hóa- xã hội, thu nhập do sản xuất đem lại một tỷ trọng lớn trong thu nhập của hộ gia đình nói riêng và trong địa bàn làng nói chung

Trang 17

* Tiêu chí làng nghề:

“Một làng được công nhận là làng nghề, thì theo thông tư số: 116/2006/TT-BNN về hướng dẫn thực hiện một số nội dung của nghị định số 66/ 2006/NĐ-CP ngày 7/7/2006 của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn, phải đạt ba tiêu chí như sau:

Một là, phải có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề nông thôn

Hai là, hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận

Ba là, chấp hành tốt chính sách pháp luật của Nhà nước

Trong các làng nghề ngoài việc trồng trọt và chăn nuôi là chủ yếu còn có các hoạt động sản xuất tiểu thủ công, sản phẩm làm ra ngoài việc đáp ứng nhu cầu của cá nhân, gia đình còn dùng để trao đổi, mua bán, sản phẩm của làng nghề là hàng hóa.”

Các nghề thủ công ở làng quê ban đầu chỉ xuất hiện dưới dạng là nghề phụ, chủ yếu được làm khi rảnh rỗi, hết mùa vụ, nhằm phục vụ một số nhu cầu của cá nhân và gia đình Nhưng sau này, do sự phân công lao động mà các ngành nghề thủ công tách dần khỏi sản xuất nông nghiệp nhưng vẫn phục

vụ trực tiếp cho hoạt độgn sản xuất nông nghiệp Cho đến khi nghề thủ công phát triển mạnh thu hút lao động, những người làm nghề thủ công tăng nhanh

Đó chính là cơ sở của sự tồn tại và phát triển của các làng nghề

1.2.2.Làng nghề truyền thống

Làng nghề truyền thống là các làng nghề được hình thành từ lâu đời, tạo

ra các sản phẩm độc đáo, có đặc thù riêng biệt, được lưu truyền và phát triển cho đến ngày nay, hoặc có nguy cơ bị mai một

tục tập quán,…vừa có nét chung của dân tộc vừa có nét riêng của làng nghề Các sản phẩm của làng nghề truyền thống được làm ra mang những giá trị từ

sự kết tinh, giao thoa, phát triển các giá trị văn hóa, văn minh, có giá trị thẩm

mỹ cao Sản phẩm của làng nghề có những quy trình nhất định được truyền từ

Trang 18

đời này qua đời khác Mỗi làng nghề truyền thống có thể có một hoặc nhiều nghề truyền thống.”

Làng nghề truyền thống là tổng hòa của môi trường kinh tế, văn hóa, xã hội và công nghệ nơi lưu trữ những giá trị tịnh hoa kỹ thuật và nghệ thuật, thẩm mỹ từ đời này qua đời khác, được hun đúc ở các thế hệ nghệ nhân tài năng

“Theo quy định tại Khoản I, mục I phần II, Thông tư số 116/2006/TT-BNN ngày 18/12/2006 của Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn, một làng nghề được công nhận là làng nghề truyền thống phải tuân thủ các yếu tố sau:

Nghề đã xuất hiện tại địa phương từ trên 50 năm tính đến thời điểm

đề nghị công nhận

Nghề tạo ra những sản phẩm mang bản sắc văn hóa dân tộc

Nghề gắn với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi của làng nghề.”

“Khi nhắc tới làng nghề truyền thống thì phải xét tới nhiều yếu tố cả không gian và thời gian nghĩa là quan tâm tới tình hệ thống, toàn diện của làng nghề, đặc biệt yếu tố quyết định là nghệ nhân, sản phẩm, phương pháp,

mỹ thuật và kỹ thuật Làng nghề truyền thống là nơi quy tụ các nghệ nhân và nhiều hộ gia đình chuyên làm nghề mang tính lâu đời, liên kết hỗ trợ trong sản xuất, trao đổi mua bán Làng nghề truyền thống có đại bộ phận dân số làm nghề cổ truyền và một vai dòng họ làm nghề theo kiểu cha truyền con nối Các sản phẩm của các làng nghề truyền thống không những hữu ích trong đời sống hàng ngày mà còn là hàng hóa tinh xảo, độc đáo, nổi tiếng.”

Do tính chất của nền kinh tế thị trường của quá trình sản xuất hàng hóa, tiêu thụ sản phẩm, làng nghề , là đơn vị kinh tế quan trọng nhằm nâng cao đời sống kinh tế xã hội của người dân

Làng nghề truyền thống có thể có một nghề hay vài nghề truyền thống Nếu làng nghề có vài nghề thì có một nghề chính, tên nghề đó được gọi tên

Trang 19

làng nghề Sản phẩm của làng nghề có qúa trình sản xuất, các quy trình công nghệ nhất định, được truyền từ thế hệ này, sang thế hệ khác

“Các làng nghề truyền thống trước đây thường sử dụng phương thức truyền nghề để dạy nghề, bắt đầu từ trong phạm vi ra đình rồi lan rộng Nhìn chung, các nghề được bảo tồn và phát triển trong từng gia đình của làng, xã

mà ít được truyền ra bên ngoài, vì một số quy định truyền nghề mang tính gia truyền Tuy nhiên qua thời gian phương thức dạy nghề và truyền nghề phong phú hơn.”

Các làng nghề có đặc điểm là thường yêu cầu vốn đầu tư, quy mô sản xuất không lớn nhưng có khả năng thu hút nhiều lao động, mang lại hiệu qảu kinh tế khá cao, giúp nâng cao đời sống

“Làng nghề truyền thống tồn tại ở nông thôn gắn bó chặt chẽ với nông nghiệp về các khía cạnh: lao động, nguyên liệu, thị trường,… Trong điều kiện toàn cầu hóa thì sự cạnh tranh ngày càng manh mẽ, vì vậy chúng ta cần phải tìm ra các sản phẩm có sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế của những nước đang phát triển như Việt Nam thì các sản phẩm của các làng nghề truyền thống cũng là những mặt hàng đáng để chúng ta quan tâm.”

Trang 20

với những người tiểu sản xuất hàng hoá, thì người làm nghề thủ công gắn bó với ruộng đất mạnh hơn” [22, tr 414]

Về sản phẩm:

Sản phẩm của làng nghề nhằm để phục vụ đời sống sinh hoạt và sản xuất Nó là các vật dụng hàng ngày, là những sản phẩm vừa có giá trị sử dụng, vừa có giá trị thẩm mỹ hoặc chỉ là vật để dùng trang trí ở nhà, công sở, đình chùa Dưới những bàn tay tài hoa của người thợ thủ công

“Truyền thống nghề với truyền thống văn hóa vùng miền, tập quán, phong tục từng vùng được hòa quyện trong sản phẩm Nó thể hiện sự gắn bó khăng khít văn hóa và nghề truyền thống Cùng sản phẩm đồ gốm nhưng nhìn màu men người ta có thể phân biệt được đó là gốm Bát Tràng, gốm Đông Triều hay gốm Thổ Hà.”

“Các sản phẩm của làng nghề truyền thống, mang tính chủ quan sáng tạo, hoàn toàn phụ thuộc bàn tay người thợ Do đặc điểm điều kiện sản xuất kinh doanh, sản phẩm thủ công mang đậm dấu ấn người thợ nên khó sản xuất đại trà, mà chỉ sản xuất đơn chiếc Vì vậy các sản phẩm của làng nghề truyền thống khó đáp ứng được đơn đặt hàng lớn, chất lượng sản phẩm không đồng đều.”

Kỹ thuật công nghệ:

“Kỹ thuật sản xuất đặc trưng trong làng nghề truyền thống là công cụ thủ công, công nghệ có tính chất cổ truyền do chính người lao động trong làng nghề tạo ra Kỹ thuật đặc biệt nhất của làng nghề truyền thống được tích luỹ qua nhiều thế hệ, mang tính chất bí truyền của nghề Nó làm cho các sản phẩm có tính đơn chiếc, phụ thuộc chủ quan người sản xuất Nhược điểm kỹ thuật của làng nghề truyền thống không tổng kết thành lý luận, không được ghi chép mà được truyền miệng nên nhiều bí kíp bị thất truyền.”

Tổ chức sản xuất kinh doanh:

Sự gắn bó giữa nông nghiệp và nghề thủ công tạo nên mô hình sản xuất kinh doanh truyền thống phổ biến nhất ở các làng nghề là hình thức hộ gia đình

Trang 21

Hộ gia đình: là mô hình sản xuất truyền thống chiếm hơn 90% các mô hình tổ chức sản xuất kinh doanh trong các làng nghề hiện nay

+ Đặc điểm: Hộ gia đình là mô hình sản xuất đặc biệt phổ biến, các làng nghề Trong đó, lao động là các thành viên trong gia đình Mọi thành viên trong gia đình đều có thể tham gia, tùy theo độ tuổi, trình độ tay nghề để làm công việc phù hợp … Vì vậy mô hình sản xuất hộ gia đình là qui mô nhỏ + Vai trò: Hộ gia đình là mô hình tổ chức sản xuất phù hợp với cơ sở vật chất ở làng nghề hiện nay, nên đã phát huy được nhiều ưu điểm trong sản xuất kinh doanh

+ Hạn chế: Các chủ hộ chưa có đủ kiến thức về quản lý kinh tế, chậm tiếp cận, ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại vào sản xuất; quy mô sản xuất nhỏ, nên không đáp ứng được nhu cầu thị trường

Tổ sản xuất:

“Xuất hiện do các chủ thể kinh tế độc lập liên kết với nhau, nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế, thỏa mãn lợi ích chung về kinh tế Các đơn vị kinh tế độc lập ký được hợp đồng sản xuất lớn mà không thể đảm nhiệm được do hạn chế về vốn, lao động, thời gian thanh lý hợp đồng,… nên đã xuất hiện sự liên kết, hợp tác giữa các đươn vị kinh tế cùng sản xuất.Thông thường sự hợp tác này được thông qua thỏa thuận bằng hợp đồng miệng.”

“Hình thức của sự hợp tác này rất đa dạng do điều kiện cụ thể quyết định Như vậy bên cạnh hình thức sản xuất hộ gia đình đã tự phát làm nảy sinh hình thức tổ sản xuất.”

“Hợp tác xã: Trước thời kì đổi mới, hợp tác xã thủ công nghiệp là mô hình sản xuất quan trọng trong các làng nghề Các hợp tác xã thủ công nghiệp có đầy đủ cơ sở vật chất như nhà xưởng, kho chứa sản phẩm, nguyên liệu, văn phòng, cửa hàng… được thực hiện dựa trên nguyên tắc phân phối theo lao động bằng cách chấm công, điểm Tuy nhiên cơ chế tập trung quan liêu bao cấp đã bộc lộ những hạn chế, xã viên không còn động lực kinh tế, các hợp tác xã sản xuất trì trệ, trở thành nhân tố kìm hãm sự phát triển làng nghề.”

Trang 22

Nguyên tắc cơ bản của hợp tác xã là sự tự nguyện tham gia của các chủ thể kinh tế độc lập tự chủ, đóng góp vốn theo điều lệ hợp tác xã và được chia lãi theo cổ phần Hình thức phân phối theo lao động, vốn cổ phần

Vai trò: Hợp tác xã đã kết hợp được lợi ích cá nhân với lợi ích tập thể, hợp tác xã có đủ tư cách pháp nhân để giao dịch về xuất nhập khẩu

- Công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần,

là hình thức mới xuất hiện ở làng nghề truyền thống, phát triển sau khi luật doanh nghiệp ra đời Được xuất hiện từ những chủ thể kinh tế có vốn dồi dào

và năng động trong cơ chế thị trường, tuy mới xuất hiện và chiếm tỷ trọng nhỏ nhưng các mô hình kinh tế này đã khẳng định được vai trò của mình trong xu thế hội nhập của các làng nghề truyền thống

1.3.Nhân tố ảnh hương đến phát triển bền vững làng nghề truyền thống

Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng tới làng nghề nhưng chủ yếu chịu tác động lớn của tổng hòa của các nhóm nhân tố sau: nhân tố xã hội, nhóm nhân

tố về kinh tế,nhóm nhân tố môi trường

- Nhóm nhân tố xã hội:

“Chính sách của nhà nước: chính sách của Nhà nước ảnh hưởng lớn tới

sự tồn tại phát triển của làng nghề Trong thời kì trước đổi mới, chúng ta đã phủ nhận các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh Mọi họat động sản xuất, kinh doanh trong làng nghề đều theo hình thức hợp tác xã, tập thể với chế độ chia quân bình cho mọi lao động là ngang nhau Trên thực tế chính sách này k phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế Nhận thấy những hạn chế đó,Đảng và Nhà nước đã thực hiện chính sách đổi mới trong cơ chế quản lý kinh tế, đặc biệt là sự thừa nhận sự tồn tại của nhiều thành phần kinh tế khác ( kinh tế tư nhân, kinh tế hộ,…) Từ đó các làng nghề có điều kiện thuận lợi hơn để khôi phục, tồn tại và phát triển Cùng với đó là các chính sách khuyến khích,đầu tư vốn giúp các làng nghề được mở rộng quy mô, nâng cao quy trình công nghệ.”

Truyền thống và phong tục tập quán: thực tế cho thấy các làng nghề phát triển được là do có sự kế tục “cha truyền con lối”, các bậc tiền bối truyền

Trang 23

lại cho lớp hậu sinh bằng miệng Những bí quyết nghề nghiệp trong làng nghề được giữ bí mật khắt khe Vì vậy, không thể tránh khỏi việc thất truyền Như vậy, nhân tố truyền thống có ảnh hưởng tới sự hư vong của làng nghề Ngoài

ra, ở nhiều vùng đia phương trong những ngày lễ tết họ làm ra những sản phẩm cho chính họ, những sản phẩm này sẽ được nhiều người biết đến và tiêu dùng Từ đó, phong tục tập qausn của mỗi địa phương cũng tạo nên sự phong phú đa dạng

- Nhóm nhân tố kinh tế:

Cơ sở hạ tầng: giao thông vận tải, y tế, giáo dục, các công trình văn hóa công cộng,… có ảnh hưởng rất lớn quy mô làng nghề được mở rộng nhanh hay chậm, ngoài ra, vốn là một nhân tố đóng vai trò quan trọng, tham gia trực tiếp và quá trình sản xuất kinh doanh của các cơ sở trong làng nghề

- Nhóm nhân tố môi trường:

Môi trường là nơi cung cấp nguyên liệu- gắn liền với sản phẩm và chất lượng sản phẩm, để có thể đáp ứng nhu cầu tiêu dùng đa dạng cần phải có nguồn nguyên liệu đáp ứng được nhu cầu sản xuất, kinh doanh Phát triển kinh tế làng nghề mà vẫn bảo vệ môi trường sẽ là một sự phát triển bền vững lâu dài

1.4.Sự cần thiết phát triển bền vững làng nghề truyền thống

1.4.1.Vai trò phát triển bền vững làng nghề đối với sự phát triển kinh

tế

“Tận dụng nhân lực, tăng thu nhập, gia tăng giá trị sản xuất:Sau hơn

300 năm tồn tại và phát triển, các sản phẩm từ làng nghề truyền thống ở Phúc Túc có khoảng hơn 1000 sản phẩn, nguyên vật liệu chủ yếu là cỏ tế (một loại cây mọc hoang dại tại các vùng rừng núi phía Bắc và một số tỉnh miền Trung)

và các nguyên liệu khác như: bẹ ngô, bộ chuối, bèo, mây, tre,…Các mặt hàng được làm theo mẫu có sẵn theo đơn đặt hàng, các hộ gia đình đều có lao động làm nghề Đặc điểm của nghề cỏ tế là các lứa tuổi, các giới tính đều có làm được Người già nhất làm nghề đến nay khoảng một trăm tuổi, còn trẻ nhất là các cháu thiếu nhi khoảng lên 6, lên 7 Thu nhập từ nghề đan cỏ tế bình quân

từ 20.000-30.000 đồng/người/ngày Hiện nay các hộ sản xuất thường làm theo

Trang 24

đơn đặt hàng của các doanh nghiệp; theo hình thức được cung cấp nguyên vật liệu về làm tại gia đình Nghề mây tre đan cỏ tế truyền thống đóng góp một phần không nhỏ vào GDP của xã Phú Túc, lãnh đạo xã đang phấn đấu đẩy mạnh nghề truyền thống mây tre đan cỏ tế, nâng thu nhập bình quân của người dân lên 12 triệu/người/năm.”

“Gia tăng giá trị hàng xuất khẩu:Đối với thị trường thế giới thì sản phẩm của các làng nghề truyền thống được xếp vào nhóm hàng có khả năng cạnh tranh cao, bơi tính độc đáo, mang đậm bản sắc dân tộc, sự kết hợp hoàn hảo giữa kĩ thuật và thẩm mỹ Hiện nay hàng thủ công mỹ nghệ được xếp vào 6 mặt hàng có tiềm năng xuất khẩu lớn tại Việt Nam.”

Phát triển làng nghề góp phần thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Góp phần hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý, phân công lao động theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa

“Nghề đan cỏ tế đã mang lại cho nhân dân trong địa bàn một diện mạo mới, nâng cao mức sống của người dân, góp phần xây dựng nông thôn mới Cây cỏ tế và làng nghề truyền thống đã và đang biến 1 vùng quê thuần nông, nghèo trở thành một điểm sáng trong phát triển kinh tế của thủ đô, với những thay đổi về mặt cơ cấu kinh tế, và cơ cấu lao động, nâng cao thu nhập người lao động.”

1.4.2.Vai trò giữ gìn bản sắc văn hóa làng nghề truyền thống

“Mỗi làng nghề lại thể hiện một đặc trưng văn hóa khác nhau, nó được thể hiện rõ nét qua các hoạt động như: lễ hội, hoạt động mua, bán sản phẩm,phong cảnh làng nghề,… sự tương trợ lẫn nhau giữa những người sản xuất làng nghề và cá hoạt động mua bán phường hội hằng ngày tạo nên nết đặc sắc riêng của làng nghề.”

“Nghề truyền thống có vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc phát tiển kinh tế - xã hội ở địa phương Nó không chỉ là nơi sản xuất hàng hóa tiêu dùng mà còn là môi trường phất triển, giao lưu văn hóa- kinh tế - xã hội, đồng thời nó còn là chiếc nôi của công nghệ truyền thống Ngành nghề truyền thống đặc biệt là ngành nghề thủ công chính là những tài sản quý giá mà cha

Trang 25

ông ta để lại Làng nghề là nơi bảo tồn và lưu giữ những bí quyết, tinh hoa nghề truyền thống của những lớp nghệ nhân tài hoa trong nghề Ở một số làng nghề truyền thống ngày hội làng chính là ngày giỗ tổ nghề, trong đó lòng tôn kính tổ nghề đã trở thành sinh hoạt văn hoá cộng đồng Ngoài ra có nhiều nghi lễ, phong tục xuất hiện từ văn hóa nghề Cùng với những nghi lễ đó thì các công trình kiến trúc để suy tôn, tưởng niệm, biết ơn các vị tổ nghề đã ra đời như: đình, chùa, miếu mạo, đền Nếu LNTT đó phát triển, kinh tế tăng trưởng thì diện mạo của các công trình trên càng được tu bổ giữ gìn.”

đầu là để phục vụ cuộc sống sinh hoạt hàng ngày và các sản phẩm được làm

ra đa dạng,phong phú, phổ biến và gần gũi với người dân Mỗi sản phẩm đều phản ánh một cách sinh động sinh hoạt của dân cư, phong cảnh sinh hoạt hay phong tục tập quán của địa phương Làng nghề gắn với gắn với giá trị văn hóa

và lịch sử nên có thể phát triển kinh tế - xã hội như phát triển theo hướng du lịch.”

“Trong quá trình hội nhập hiện nay, người ta coi sản phẩm của làng nghề truyền thống là di sản văn hóa vật thể của các dân tộc trên thế giới Vì vậy phát triển bền vững làng nghề truyền thống chính là giữ gìn văn hóa vật thể ngược lại giữ gìn bảo vệ văn hóa vật thể là cơ sở để làng nghề truyền thống được phát triển.Đó chính là hai mặt của vấn đề giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kì định hướng xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở nước ta.”

“Như vậy, làng nghề truyền thống là một bộ phận quan trọng trong kho tàng văn hóa dân tộc, là nơi lưu trữ truyền thống một cách cụ thể bền vững nhất Bản sắc dân tộc được thể hiện qua các sản phẩm thủ công, nó thể hiện giá trị thẩm mỹ, giá trị kinh tế và kỹ thuật Chính vì thế các du khách nước ngoài đều chọn tour du lịch làng nghề truyền thống trong lịch trình tìm hiểu văn hóa Việt Nam.”

1.4.3.Bảo vệ môi trường làng nghề truyền thống

“Làng nghề và làng nghề truyền thống nói riêng có vai trò quan trọng về kinh tế- xã hội và gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc, trong quá trình đô thị hóa nông thôn thì các làng nghề truyền thống ngày càng khẳng định vị thế của

Trang 26

chúng Tuy nhiên, sự phát triển làng nghề truyền thống hiện nay đã bộc lộ nhiều bất cập về sự xuống cấp của môi trường Sự ô nhiễm môi trường ở các làng nghề đã đến mức báo động.”

“Tại Hội thảo “Môi trường và những tồn tại trong hoạt động sản xuất làng nghề Việt Nam” do Viện Khoa học Công nghệ và môi trường, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội và Bộ Khoa học và công nghệ tổ chức, các chuyên gia đã đưa ra các con số đáng báo động về hiện trạng môi trường tại các làng nghề:”

“100% mẫu nước thải tại làng nghề đều có thông số vượt qua tiêu chuẩn cho phép, nước mặt, nước ngầm đều Các con sông như: Sông Nhuệ, chảy qua làng nghề cũng bị ô nhiễm nặng Nhiều cánh đồng lúa, cây trồng bị giảm năng suất do nguồn nước từ các làng nghề có dấu hiệu ô nhiễm.”

“Phát triển bền vững là quan điểm chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong đó có LN và LNTT Đối với phát triển ngành nghề nông thôn, yêu cầuphát triển bền vững được cụ thể trong Nghị định 66/2006/NĐ-CP ngày 07/7/2006 của Chính phủ Làng nghề truyền thống phải thực hiện các mục tiêu kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội và bảo vệ môi trường, phát triển bền vững Đó là sự kết hợp hài hòa: Không vì lợi ích kinh tế trước mắt mà hủy hoại môi trường sống, chia sẻ lợi ích kinh tế cho các hoạt động bảo vệ môi trường vì sự phát triển bền vững của chính làng nghề và cộng đồng xung quanh.”

“Hầu hết các chất thải ở các làng nghề chưa được thu gom, xử lý mà xả thẳng vào môi trường Tác động vào vào nguồn nước và không khí bị ô nhiễm nghiêm trọng, tình hình sức khỏe người lao động ảnh hưởng Các bệnh nghề nghiệp như hô hấp, đau mắt,… và tai nạn lao động có xu hướng tăng.”

“Bên cạnh những đóng góp quan trọng vào nền kinh tế, bảo tồn văn hóa dân tộc là sự xuống cấp nghiêm trọng về môi trường trong các làng nghề truyền thống Thực tiễn đã đặt ra yêu cầu cấp bách là phải phát triển bền vững làng nghề và làng nghề truyền thống.”

Có thể nói phất triển bền vững làng nghề truyền thống là mục tiêu quan trọng của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn Sự biến đổi bộ

Trang 27

mặt nông thôn mới là một trong những minh chứng quan trọng về vai trò của việc phát triển bền vững làng nghề truyền thống trong đời sống xã hội và còn

là động lực phát triển kinh tế - xã hội đồng thời tạo ra bản sắc văn hóa riêng của đại phương.”

Như vậy, vai trò của làng nghề truyền thống đối với sự phát triển chung

là vô cùng quan trọng Bởi nó là sợi dây kết nối cộng đồng, là cơ sở mđể nhân dân trong địa phương hiểu rõ hơn về trách nhiệm gìn giữ và phát huy giá trị của làng nghề truyền thống ngày càng sâu rộng cùng với đà hội nhập của kinh

tế đất nước

Trang 28

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG PHÚ TÚC (HUYỆN PHÚ XUYÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI)

2.1 Vài nét về làng nghề truyền thống xã Phú Túc

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

“Xã Phú Túc - một xã nghề có vị trí địa lý nằm ở phía tây huyện Phú Xuyên, xã có vị trí địa lý quan trọng về an ninh – quốc phòng, thuận lợi về giao lưu và phát triển kinh tế- xã hội Phía nam giáp với xã Hoàng Long, Phía Đông giáp với xã Tri Trung, phía Tây giáp với xã Quảng Phú Cầu – huyện Ứng Hòa, phía Bắc giáp với xã Hông Dương – Huyện Thanh Oai Phú Túc là một xã có vị trí địa lý tương đối thuận lợi, là một trong những trung tâm giao lưu kinh tế - văn hóa - xã hội của 3 huyện: Phú Xuyên, Ứng Hòa, Thanh Oai”

“Xã có 8 thôn: Trình Viên, Đương La, Phú Túc, Tư Sả, Lưu Thượng, Lưu Đông, Lưu Xá, Hoàng Xá Cả 8 thôn đều được UBND thành phố Hà Nội công nhận làng nghề, trong đó có làng Lưu Thượng là làng nghề truyền thống

- mây tre đan cỏ tế Các thôn nằm trải dài trên đường trục chính của xã với chiều dài khoảng 4,2 km, chiều rộng khoảng 2,5 km Toàn xã có khoảng 2527

hộ với khoảng 9525 nhân khẩu, xã có một Đảng bộ với 307 đảng viên và sinh hoạt ở 15 chi bộ, trong đó gồm: 8 chi bộ nông thôn, 1 chi bộ cơ quan, 1 chi bộ

y tế, 1 chi bộ tím dụng, 3 chi bộ nhà trường, 1 chi bộ quân sự.[9]”

“Trước kia xã Phú Túc là một xã thuần nông chuyên sản xuất nông nghiệp lúa nước với tổng diện tích đất tự nhiên là 752,16 ha, trong đó diện tích đất canh tác trồng lúa nước là 5560 ha Trong những năm những năm gần đây xã đã thu được nhiều kết quả trên các lĩnh vực: cơ cấu kinh tế có bước phát triển rõ rệt, đúng hướng và bước đầu vững chắc Cơ cấu lao động có sự chuyển dịch mạnh từ lao động nông nghiệp sang lao động công nghiệp tiểu thủ công nghiệp, số lượng hộ gia đình, số lao động tham gia sản xuất công nghiệp tiểu thủ công nghiệp tăng lên nhanh chóng cả về số lượng và chất lượng [9]”

“Sự phát triển của làng nghề gắn với sự phát triển của văn hóa dân tộc, sản phẩm của làng nghề thủ công truyền thống được tạo lên bằng những bàn

Trang 29

tay tài hoa và óc sáng tạo của các nghệ nhân làng nghề và của cá thợ thủ công

mỹ nghệ Nhiều sản phẩm của làng nghề có giá trị kinh tế cao, có giá trị về mặt nghệ thuật, các sản phẩm mang những nét đặc sắc riêng của làng nghề truyền thống xã Phú Túc.”

“Giao thông nông thôn xã Phú Túc ngày càng được cải thiện, hệ thống đường đều được bê tông hóa, các hộ dân trên đia bàn xã đa số đều có được cơ ngơi khang trang, tiện nghi đầy đủ Cây cỏ tế đã trải qua hàng trăm năm thăng trầm cùng xã Phú Túc, đang ngày một biến đổi vùng quê nghèo khó trước đây trở thành một vùng quê có nền kinh tế hoàng hóa phong phú, sầm uất, sôi động và giàu có, góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển,văn hóa địa phương, nâng cao mức sống các hộ gia đình, ”

2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

“Kinh tế xã Phú Túc ngày một phát triển Về lĩnh vực phát triển kinh tế nông nghiệp, được xác định là ngành kinh tế trọng yếu, thường xuyên được quan tâm phát triển, xã đã đầu tư 6 máy làm đất MTZ và 9 máy cấy, do vậy năng suất hàng năm là 1,8 đến 12,6 tấn/ ha, thu nhập bình quân đầu người đạt 22,5 triệu đồng/ người/ năm Tuy nhiên trong những năm qua xã đã chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ sản xuất nông nghiệp sang công nghiệp tiểu thủ công nghiệp.[9]”

“Dân số và lao động là yếu tố có vai trò dặc biệt quan trọng trong mọi quá trình sản xuất Hiện nay xã Phú túc gồm 8 thôn, phân bó dân cư khá đồng đều Trong cơ cấu lao động thì tổng số nhân khẩu nữ chiếm 60,59%, nhân khẩu nam chiếm 39,41% vào năm 2015 Về cơ cấu dân số nam thấp hơn nữ điều này tạo điều kiện cho địa phương phát triển ngành công nghiệp – xây dựng và tiểu thủ công nghiệp và công nghiệp nhẹ như: mây tre đan cỏ tế.”

“Số lao động hằng năm tăng, trong đó lao động trong nông nghiệp có xu hướng giảm thay vào đó lao động các ngành công nghiệp nhẹ, tiểu thủ công nghiệp tăng Đồng thời các ngành dịch vụ, thương mại kinh doanh ngày 1 đa dạng và phát triển phong phú đã thu hút rất nhiều lao động vào những lĩnh vực này.”

Trang 30

“Xã Phú túc có 8/8 làng làm nghề cỏ tế, sản phẩm cỏ tế được xuất đi nhiều nước Ngoài nghề có tế, trong những năm gần đây xã còn khuyến khích phát triển thêm 1 số ngành nghề khác như: tăn hương, giày da, nghề mộc dân dụng đõ góp phần cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân trong đia bàn xã

“Nằm gần thủ đô Hà Nội (cách thủ đô Hà Nội khoảng 30 km) – trung tâm chính trị, văn hóa của cả nước, có điều kiện tiếp cận và giao lưu văn hóa với nhiều vùng đã tạo nên 1 xã với nhiều truyền thống tốt đẹp: tôn trọng đạo

lý, lá lành đùm lá rách, uống nước nhớ nguồn, tôn sư trọng đạo, hiếu học, ”

“Nhân dân xã Phú Túc từ buổi đầu xây dựng làng nghề, dựa vào tự nhiên

để sinh tồn nên cộng đồng dân cư sáng tạo từ đó đã xây dựng được những đặc trưng văn hóa riêng biệt Phong tục tập quán, tín ngưỡng và hệ thống lễ hội hình thành và phát triển, cho đến nay nó vẫn được bảo tồn và phát triển phù hợp với sự phát triển của xã hội.”

“Xã Phú Túc hiện có 2 tôn giáo cùng tồn tại và phát triển: Phật giáo và Thiên chúa giáo Địa bàn xã bao gồm 8 thôn, từ năm 2012 xã đã chỉ đạo 8 thôn xây dựng song quy ước nông thôn mới, toàn xã gồm có 9 đình, 9 chùa và

4 miếu, trong đóa có 5 đình và 2 miếu đã được nhận chứng nhận là di tích văn hóa cấp tỉnh 8/8 làng đều đạt và giữ vững tiêu chuẩn làng văn hóa, số hộ sử dụng nước sạch hợp vệ sinh trên đia bàn đạt 71,6%, rác thải sinh hoạt được thu gom [9]”

“Xã có 2 trường: trung học Cơ Sở và Mầm non đạt chuẩn quốc gia Trong những năm gần đây học sinh giỏi các cấp, đoạt giải cao trong các cuộc

Trang 31

thi ngày càng tăng cụ thể: trong 3 gần đây xã có 3 em đỗ thủ khoa vào các trường đại học tốp đầu, 3 học sinh giỏi cấp quốc gia.”

“Đội ngũ cán bộ xã được chuẩn hóa có trình độ chuyên môn từ cao đẳng

và đại học Nhờ có sự đoàn kết đồng lòng, thống nhất cao giữa người dân, cán

bộ và Đảng viên trong công cuộc xây dựng nông thôn mới nên toàn xã đã có nhưng khởi sắc nhất định, cụ thể: địa phương đã quan tâm đầu tư xây dựng cơ

sở vật chất cho trường mầm non, nâng cấp cải tạo hệ thống giao thông trục xã, giao thông nội đồng, ”

Đến nay xã đạt và cơ bản đạt 19/19 tiêu chí về xây dựng nông thôn mới

và được Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội công nhận xã đạty chuẩn nông thôn mới năm 2017

2.1.3 Các chính sách về phát triển bền vững

“Trong những năm qua, Nhà nước đã có nhiều chính sách, văn bản pháp luật, tạo điều kiện cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của các làng nghề truyền thống Bao gồm: Luật đất đai với những đổi mới đã tạo điều kiện cho các tổ chức, hộ gia đình trong các làng nghề được giao hoặc thuê đất ổn định lâu dài phục vụ cho quy hoạch sản xuất; Chính sách đầu tư của Nhà nước đã tác động đến các chủ thể trong mở rộng kinh doanh, đầu tư xây dựng kết cấu

hạ tầng nông thôn.”

“Quyết định 132 đã đề ra chính sách hỗ trợ đầu tư hình thành và phát triển các cụm công nghiệp làng nghề, tạo ra môi trường thông thoáng, thuận lợi cho sự ra đời các khu công nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn.”

“Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội, vừa ban hành Quyết định số 2954/QĐ – UBND, thành lập cụm công nghiệp làng nghề Phú Túc,huyện Phú Xuyên, nhằm đầu tư xây dựng đồng bộ kết cấu cơ sở hạ tầng, kỹ thuật và cảnh quan làng nghề phục vụ nhu cầu sản xuất, khắc phục ô nhiễm môi trường, phát triển làng nghề địa phương.”

“Theo Quyết định 132/ TTg, các cơ sở làng nghề được hưởng mức thuế

ưu đãi, chính sách hỗ trợ phát triển ngành nghề, kích thích, hỗ trợ cạnh tranh giữa các sản phẩm cấc làng nghề.”

Trang 32

“Quyết định số 132/2000 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách phát triển ngành nghề nông thôn, đã có phần riêng về chính sách khoa học công nghệ và môi trường.”

“Quyết định số 132/2000/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ còn xác định chính sách khuyến khích nhập khẩu máy móc thiết bị hiện đại tiên tiến

và trồng cây nguyên liệu tạicác cơ sở ngành nghề nông thôn nói chung, các làng nghề nói riêng,ưu tiên đào tạo và sử dụng lao động với những hộ gia đình mà Nhà nước thu hồi đất để phát triển ngành nghề, lao động là người địa phương Khuyến khích các nghệ nhân, hợp tác xã, tổ chức hiệp hội mở các lớp truyền nghề, dạy nghề Nhà nước ưu tiên đào tạo nghề cho các cơ sở ngành nghề nông thôn.”

Tóm lại, hệ thống các văn bản pháp luật, chính sách đã ra đời và ngày càng hoàn thiện hơn tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển bền vững làng nghề truyền thống

2.2 Thực trạng phát triển bền vững làng nghề truyền thống ở Phú Túc (Huyện Phú Xuyên, Thành phố hà Nội)

2.2.1 Tình hình sản xuất kinh doanh trong làng nghề truyền thống

“Những năm gần đây Hà Nội được coi là một trong những thành phố lớn phát triển mạnh kinh tế công nghiệp tập trung Bên cạnh đó Hà Nội cũng có thế mạnh về phát triển kinh tế địa phương, với nhiều làng nghề và làng nghề truyền thống với những sản phẩm hết sức đa dạng, phong phú phục vụ cho tiêu dùng và xuất khẩu.”

Theo báo cáo sở Công thương sau khi Hà Tây sát nhập vào Hà Nội thì

ở Hà Nội có nhiều làng nghề nói chung và làng nghề truyền thống nói riêng nhiều nhất nước với 244 làng với 47 nhóm nghề

Ngoài ra còn có các phố nghề tập trung tại nội thành Hà Nội song đa số chỉ hoạt động theo hộ gia đình như: nghề mây tre đan, nghề kim hoàn, nghề mây tre đan

“Tốc độ tăng GDP năm 2007 của Hà Nội đạt 12,08% Trong đó sản xuất

LN đã phát triển khá nhanh Về tỷ trọng doanh thu sản xuất LN năm 2007

Trang 33

chiếm tỷ trọng 44% so với sản xuất công nghiệp ngoài quốc doanh huyện ngoại thành, bằng 8% so với sản xuất công nghiệp ngoài quốc doanh cả thành phố Tại các LN phát triển như Bát Tràng, Kiêu Kỵ, Vân Hà, Tân Triều giá trị sản xuất LN chiếm trên 80% giá trị sản xuất địa phương [16] Năm 2009, LNTT ở Hà Nội giải quyết việc làm 627.000 lao động chiếm 65% dân số nông thôn và 42% tổng số lao động công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp toàn thành phố (Báo cáo Sở Công thương Hà Nội năm 2009).”

Để có được sự tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu nhanh như vật thì làng nghề truyền thống xã Phú Túc cũng đóng vai trò không nhỏ

“Xã Phú Túc có 8 thôn thì các thôn đều làm kinh tế làng nghề - tiểu thủ công nghiệp,nhưng hoạt động hầu hết và chủ yếu là nghề mây tre đan cỏ tế Làng nghề - tiểu thủ công nghiệp đã đóng góp một phần quan trọng và sự phát triển kinh tế - xã hội của xã nói riêng của thành phố Hà Nội nói chung Sản phẩm làng nghề đa dạng phong phú đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân trong vùng và một phần xuất khẩu Hiện nay xã có 9 doanh nghiệp lớn, 20 tổ hợp sản xuất và hàng trăm hộ sản xuất thu hút trên 70% lao động trong làng, ngoài ra nghề còn thu hút hàng trăm lao động ở các vùng lân cận.[5]”

“Năm 2008, GDP toàn xã Phú Túc đạt khoảng 98 tỷ đồng, thu nhập bình quân người dân 12 triệu/ người/ năm Đến nay, tình hình kinh tế của xã liên tục tăng trưởng và phát triển Năm 2018, tổng thu nhập toàn xã đạt trên 438 tỷ đồng, thu nhập bình quân đầu người đạt 44 triệu/ người/ năm Trong đó giá trị sản xuất tiểu thủ công nghiệp làng nghề ước đạt 237,6 tỷ đồng, tăng 14% so với năm 2017 [18] Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi chiếm 25,9%, công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp – xây dựng chiếm 61,3%, thương mại – dịch vụ chiếm 12,8% Đời sống vật chất người dân được cải thiện, trật tự an toàn xã hội được ổn định, cơ sở hạ tầng được củng cố Đặc biệt, năm 2017, xã đạt 19 chỉ tiêu về xây dựng nông thôn mới và được Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội công nhận là xã đạt chuẩn nông thôn mới.[19]”

“Trong những năm gần đây Ủy ban nhân dân xã Phú Túc tập trung chỉ đạo, tổ chức thực hiện công tác quy hoạch xây dựng cụm công nghiệp ở khu

Trang 34

17 mẫu cánh đồng Soi thôn Lưu Thượng, theo quyết định số 2954/QĐ- UBND về việc thành lập cụm công nghiệp làng nghề xã Phú Túc Chú trọng phát triển làng nghề theo hướng du lịch làng nghề Từ năm 2016 đến nay, số lượng khách thăm quan và đến mua sắm sản phẩm làng nghề tăng, thu hút trên 150 đoàn khách trong nước và quốc tế, với tổng số gần 2000 lượt người đến thăm quan, tìm hiểu lịch sử, du lịch tập trung làng nghề.[19]”

Qua các số liệu tại xã ta thấy giá trị sản phẩm hàng hóa trong các làng nghề đạt được là rất to lớn và tốc độ tăng trưởng được tăng lên qua các năm

2.2.2 Về mặt xã hội trong làng nghề truyền thống

“Xã Phú túc đã và đang chuyển hướng cơ cấu kinh tế sang kinh tế công nghiệp Một trong những nguyên nhân quan trọng làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ là tốc độ tăng trưởng của công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn trong vùng chủ yếu là công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp của các làng nghề.”

“Tương ứng sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, số lượng lao động thu hút vào nghề truyền thống chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu lao động trong làng nghề Làng nghề truyền thống do phát triển nghề thủ công đã tăng tỷ trọng công nghiệp tiểu thủ công nghiệp Từ đó có tác động tích cực tới sản xuất nông nghiệp, giảm tỷ trọng nông nghiệp, chuyển dịch lao động nông nghiệp sang các ngành phi nông nghiệp tăng dần Hình thành khu vực nông nghiệp tập trung chuyên môn hóa cao Vì vậy, cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp đã

có sự biến đổi Bên cạnh đó tại các tỉnh trong vùng sự phát triển của các làng nghề truyền thống kéo theo nhiều nghề dịch vụ khác có liên quan.”

Sản phẩm đa dạng ,phong phú về chủng loại, chất lượng, hình thức, với trên 1000 các loại mẫu mã, ngoài ra, làng nghề còn đáp ứng các mẫu mã do khách hàng đặt ra

“Thu nhập nâng cao thì tất yếu ở làng nghề truyền thống có sự gia tăng giá trị sản phẩm, tạo ra một khối lượng sản phẩm đóng góp vào nền kinh tế chung và trên từng địa phương Giá trị sản xuất công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp làng nghề tăng trưởng bình quân 21- 25%/năm.”

Trang 35

“Chính sách phát triển ngành nghề nông thôn, làm tăng cơ sở nghề truyền thống Qua đó, tạo việc làm ổn định cho hàng vạn người lao động Ngoài lao động thường xuyên, các hộ, cơ sở ngành nghề còn thu hút lao động nhàn rỗi trong nông thôn Nhiều địa phương có nghề truyền thống phát triển thu hút 100% lao động tại các địa phương đó.”

Các ngành nghề truyền thống phát triển, kéo theo sự phát triển thêm nhiều ngành nghề khác, nhiều hoạt động dịch vụ liên quan như tín dụng, giao thông tạo việc làm mới, thu hút thêm lao động

“Vai trò tạo việc làm của các làng nghề truyền thống còn thể hiện rất lớn

ở sự phát triển lan toả sang các làng khác, vùng khác Đã giải quyết việc làm cho nhiều lao động, tạo ra động lực phát triển kinh tế - xã hội ở trên địa bàn

xã Tuy nhiên những hạn chế là các tệ nạn xã hội Đặc biệt làng nghề truyền thống ở xã Phú Túc đã có vai trò mới, rất quan trọng trong giai đoạn hiện nay là thu hút nông dân trong quá trình đô thị hóa; Tạo nhiều cơ hội kiếm việc làm cho thanh niên trong độ tuổi lao động, lao động dôi dư trong quá trình sắp xếp lại doanh nghiệp trên địa bàn xã.”

“Theo báo cáo Bộ nông nghiệp phát triển nông thôn, ngoài lao động thường xuyên trung bình mỗi hộ thu hút thêm 2-5 lao động, mỗi cơ sở ngành nghề thu hút 8-10 lao động thời vụ lao động tại làng nghề ảnh hưởng do tính chất mùa vụ.”

“Ở làng nghền truyền thóng mây tre đan cỏ tế, không chỉ có cơ cấu lao động làng xã biến đổi, mà cơ cấu lao động ngay trong một gia đình cũng biến đổi sâu sắc Không ít hộ kiêm cả nghề nông, tiểu thủ công nghiệp, do đó số lao động trong gia đình cũng phải phân công cho hợp lý mỗi người một việc phù hợp với từng công việc trong nghề đó Thậm chí cơ cấu lao động của vùng xung quanh làng nghề cũng biến đổi theo nhu cầu lao động của làng nghề, vì doanh nghiệp làng nghề đã thuê lao động ở vùng phụ cận khác về làm nông nghiệp còn họ tập trung vào làm nghề thủ công có thu nhập cao và

ổn định Sự chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng tiến bộ đó, đã tạo điều kiện, động lực trực tiếp giải quyết việc làm cho lao động nông thôn, đồng thời được coi như là động lực làm chuyển dịch cơ cấu xã hội nông thôn theo

Trang 36

hướng tăng hộ giàu, giảm hộ nghèo,giảm sự chênh lệch giàu nghèo, nâng cao đời sống, nâng cao phúc lợi cho người dân.”

“Tuy có đóng góp quan trọng vào việc tạo việc làm và tăng thu nhập cho người dân nông thôn Song công nghiệp nông thôn và kinh tế làng nghề truyền thống đã phá vỡ hệ thống phân phối thu nhập vốn có rất ít sự chênh lệch của cộng đồng các hộ nông dân tự chủ như nhau Thay vào đó bằng hệ thống phân phối giữa chủ kinh doanh và người làm thuê.”

“Sức ép về thu nhập và việc làm thúc đẩy người nông dân di chuyển tìm việc, từ nơi ít việc làm sang nơi có nhiều nhu cầu lao động và thu nhập cao hơn Quá trình này hình thành một cách tự phát và tự điều tiết bởi tác động của quy luật cung cầu lao động.quá trình này, diễn ra theo hướng di chuyển từ nơi thừa lao động và giá nhân công rẻ sang nơi thiếu lao động và giá nhân công cao hơn,từ làng này sang này kia và từ khu sản xuất sang doanh nghiệp trên địa bàn xã Phú Túc Quá trình di dân xét trên góc độ kinh tế - xã hội nó cũng có tác động tích cực là làm giảm sức ép việc làm.Bên cạnh đó nó còn làm tăng thu nhập, nâng cao đời sống xã hội, giảm bớt đói nghèo cho người dân Nhưng việc di chuyển tự do dderr kiếm việc làm này cũng có những tác động tiêu cực tới đời sống kinh tế - xã hội Nó làm nảy sinh các vấn đề xã hội, đồng thời làm ảnh hưởng tới kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, gây ra bài toán khó trong việc sắp xếp, giải quyết việc làm Làng nghề truyền thống phát triển đã tạo điều kiện cho việc thu hút vốn nhàn rỗi, tận dụng thời gian và lực lượng lao động Thu nhập của người lao động được đa dạng hóa.”

“Thực tiễn ở xã Phú Túc cho thấy việc phát triển mạnh mẽ làng nghề truyền thống đã góp phần tích cực, từng bước làm thay đổi bộ mặt nông thôn, kết cấu hạ tầng cơ sở ở nông thôn được xây dựng và hoàn thiện hơn, ngày càng khang trang, hiện đại hơn, tập quán sinh hoạt có sự thay đổi Làng nghề truyền thống thúc đẩy mạnh mẽ quá trình đô thị hóa và hiện đại hóa nông thôn.”

“Những địa phương có làng nghề phát triển, đời sống kinh tế-xã hội của nhân dân được cải thiện vàkhông ngừng nâng lên rõ rệt, đời sống văn hoá tinh thần cũng được thay đổi theo hướng tích cực, an ninh trật tự được đảm bảo,

Trang 37

nhiều tập quán truyền thống tốt đẹp của nhân dân được khôi phục Các làng nghề trên địa bàn xã đã xây dựng được quy ước làng, xã và chú trọng việc giáo dục truyền thống, định hướng nghề nghiệp cho con cháu họ Hạn chế các

tệ nạn xã hội.”

“Dưới góc nhìn văn hoá, làng nghề truyền thống còn hàm chứa tinh hoa văn hoá và trở thành di sản văn hoá dân tộc Ông cha ta đã để lại một kho tàng nghề truyền thống quý giá đang tồn tại và phát triển trong cuộc sống hiện đại hôm nay vừa phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước vừa cho xuất khẩu Các làng nghề truyền thống thường là những làng có lịch sử lâu đời với kiến trúc nghệ thuật độc đáo Lễ hội đã trở thành sinh hoạt cộng đồng, mang đậm tính văn hóa riêng của làng nghề Truyền thống văn hóa đó đang được nhiều làng nghề tiếp tục phát huy Tiềm năng du lịch làng nghề truyền thống xã Phú Túc rất lớn.”

“Như vậy, có thể thấy làng nghề truyền thống xã Phú Túc có cơ sở hạ tầng xã hội khá vững chắc và tạo tiền đề bảo đảm sự phát triển bền vững Góp phần rút ngắn sự cách biệt giữa thành thị nông thôn trong vùng, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo, cùng với sự hình thành cụm điểm công nghiệp nông thôn đẩy nhanh quá trình đô thị hóa, giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo.”

2.2.3 Môi trường trong làng nghề truyền thống

“Vì cuộc sống và lợi nhuận, làng nghề buộc phải chấp nhận mọi loại đầu

tư, kể cả đầu tư vào các ngành nghề có thể làm ô nhiễm môi trường và làm tổn hại tới sức khoẻ con người Trong quá trình sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp và các hộ gia đình tìm mọi cơ hội giảm chi phí, đặc biệt các chi phí xử lý chât thải làng nghề Vì vậy chi phí cho phòng ngừa ô nhiễm môi trường và bảo đảm môi trường lao động an toàn là những chi phí thường bị cắt giảm, thậm chí không được dự tính đến trong khi lập kế hoạch kinh doanh.”

“Dưới sự chỉ đạo của chính quyền, Đảng ủy nhân dân xã Phú Túc đã phối hợp xây dựng các giải pháp nhằm giảm thiểu ảnh hưởng của hoạt động sản xuất, hạn chế và khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường từ các làng

Ngày đăng: 28/08/2020, 10:02

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w