1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển bền vững làng nghề sản xuất vôi sống tại thôn trại mới, xã văn an, thị xã chí linh, tỉnh hải dương

87 462 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 717 KB
File đính kèm Xã Văn An.rar (102 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1.2.1 Mục tiêu tổng quát Tìm hiểu thực tế tình hình sản xuất, các nhân tố ảnh hưởng và tác động của việc sản xuất vôi sống đến kinh tế xã hội môi trường của làng nghề. Từ đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển bền vững làng nghề sản xuất vôi sống tại thôn Trại Mới, xã Văn An, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương. 1.2.2 Mục tiêu cụ thể Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về làng nghề và phát triển làng nghề; Tìm hiểu thực tế tình hình sản xuất vôi sống, các nhân tố ảnh hưởng và những cơ hội, thách thức trong quá trình sản xuất và phát triển của làng nghề; Tìm hiểu tác động của việc sản xuất và phát triển làng nghề sản xuất vôi sống ở thôn Trại Mới tới kinh tế xã hội môi trường của làng nghề nói riêng và của địa phương nói chung; Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển bền vững làng nghề sản xuất vôi sống thôn Trại Mới Văn An Chí Linh Hải Dương.

Trang 1

PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Làng nghề ở nước ta đã được hình thành từ rất lâu Cùng với sự tồn tại hàngnghìn năm của nền văn minh lúa nước thì nhiều nghề thủ công cũng đã ra đời tại cácvùng nông thôn Việt Nam, việc hình thành các làng nghề bắt đầu từ những nghề banđầu được cư dân tranh thủ làm lúc nông nhàn, những lúc không phải là mùa vụ chính.Qua thời gian, các làng nghề từng bước khẳng định vai trò của mình trong việc tạo racông ăn việc làm, tăng thu nhập cho người dân, cũng từ đó mà giúp người dân thoátkhỏi cảnh nghèo đói, giảm dần sự chênh lệch thu nhập giữa thành thị và nông thôn,đặc biệt là làm giảm áp lực lao động ở nông thôn di cư lên thành phố tìm việc làmkhiến nhiều vấn đề này sinh như nhà ở, môi trường, y tế, tệ nạn xã hội Sự phát triểnlàng nghề còn góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướnggiảm nhanh tỷ trọng giá trị sản xuất nông nghiệp, tăng giá trị sản xuất công nghiệp vàdịch vụ nông thôn, làm thay đổi bộ mặt ở nông thôn và thúc đẩy quá trình hình thànhkinh tế thị trường Nhận thấy vai trò của việc phát triển làng nghề là rất to lớn vàkhông thể phủ nhận, chính vì vậy trong mục tiêu và chương trình phát triển năm 2006của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn có đưa ra: "Triển khai chương trình mỗilàng một nghề, hỗ trợ tích cực để phát triển các làng nghề, khuyến khích các hộ giađình, hợp tác xã, doanh nghiệp vừa và nhỏ đầu tư phát triển các ngành nghề tiểu thủcông nghiệp và dịch vụ đa dạng như chế biến nông - lâm sản, gốm sứ, rèn đúc, cơ khí,may mặc đáp ứng nhu cầu tại chỗ và tham gia xuất khẩu" [23]

Với chương trình "mỗi làng một nghề" Nhật Bản đã rất thành công, đem lạinguồn thu đáng kể cho người dân Nhật Bản Ở Việt Nam, sau khi có sự chuyển đổi từ

cơ chế tập trung bao cấp sang cơ chế kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước,

đã có rất nhiều làng nghề được khôi phục và hình thành mới, góp phần cải thiện đờisống cho người dân Trong những thời gian gần đây, tốc độ phát triển làng nghề tươngđối cao, hiện nay cả nước đã có trên 2000 làng nghề, sản phẩm của nhiều làng nghề đãtrở lên nổi tiếng, có mặt ở nhiều nơi từ trong nước đến ngoài nước như gốm BátTràng, tranh Đông Hồ, lụa Vạn Phúc, chiếu Nga Sơn nhưng sự phát triển của cáclàng nghề mới chỉ dừng lại ở loại hình kinh tế hộ gia đình với quy mô nhỏ là chủ yếu

Trang 2

(97%) nên sức cạnh tranh kém, hạn chế khả năng phát triển theo hướng công nghiệphóa Mặt trái của phát triển các làng nghề còn dẫn tới hậu quả tai hại là môi trường bị

ô nhiễm nghiêm trọng; không gian bị thu hẹp do đất bị chiếm dụng để xây dựng cơ sởsản xuất, để chứa nguyên vật liệu, chất đốt, chất thải; đất và nước ngầm bị ô nhiễmnặng đã góp phần ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ cộng đồng thôn xóm Tỷ lệngười mắc bệnh thông thường có nơi xấp xỉ 50%, đặc biệt cao là tỷ lệ các bệnh ungthư, ngoài da, mắt hột, đường ruột Không ít địa phương khi làm nghề người ta đã quátận dụng sức lao động giá rẻ thay vì phải đầu tư đổi mới công nghệ Điều này cũnggóp phần tăng thêm hậu quả xấu về ô nhiễm môi trường lao động và môi trường nôngthôn

Từ những năm của thập niên 90 cho đến nay cuộc sống của người dân thônTrại Mới, xã Văn An, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương đã có được rất nhiều thay đổi,trong nhà bắt đầu có của ăn của để, đời sống của người dân cũng bớt khó khăn hơn

Có được sự thay đổi đó chính là nhờ sự chăm chỉ, sáng tạo của người dân nơi đây, họ

đã tận dụng xỉ than dư thừa của nhà máy Nhiệt điện Phả Lại, thải ra con sông thuỷnông chạy qua cơ sở để sản xuất vôi sống và gạch không nung, phục vụ nguyên vậtliệu cho ngành xây dựng, biến lượng xỉ than dư thừa này trở thành bạc triệu, nuôisống gia đình và bắt đầu có tích luỹ Từ vài nhà ban đầu làm rồi họ bảo nhau, giúpnhau sản xuất dần dần lan ra cả làng cùng làm, cộng với vị trí địa lý khá thuận lợi choviệc giao thương, việc sản xuất của người dân cũng khá thuận lợi, sản phẩm làm rađược các tư thương mang đi bán ở khắp nơi Việc sản xuất của người dân cũng từ đó

mà ngày càng phát triển, giải quyết việc làm cho người dân trong thôn và các vùng lâncận, nâng cao thu nhập cho người lao động, tăng nhanh tốc độ phát triển của thôn.Tuy nhiên, sự phát triển của làng nghề thôn Trại Mới cũng dẫn tới những hậu quả vềkinh tế - xã hội - môi trường

Để tìm hiểu sâu hơn về những tác động của việc phát triển làng nghề thôn TrạiMới tới kinh tế - xã hội - môi trường của địa phương, tôi tiến hành thực hiện đề tài

"Thực trạng và một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển bền vững làng nghề sản xuất vôi sống tại thôn Trại Mới, xã Văn An, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương"

Trang 3

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu tổng quát

Tìm hiểu thực tế tình hình sản xuất, các nhân tố ảnh hưởng và tác động củaviệc sản xuất vôi sống đến kinh tế - xã hội - môi trường của làng nghề Từ đó đề xuấtmột số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển bền vững làng nghề sản xuất vôi sống tạithôn Trại Mới, xã Văn An, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

- Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về làng nghề và phát triển làng nghề;

- Tìm hiểu thực tế tình hình sản xuất vôi sống, các nhân tố ảnh hưởng và những

cơ hội, thách thức trong quá trình sản xuất và phát triển của làng nghề;

- Tìm hiểu tác động của việc sản xuất và phát triển làng nghề sản xuất vôi sống

ở thôn Trại Mới tới kinh tế - xã hội - môi trường của làng nghề nói riêng và của địaphương nói chung;

- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển bền vững làng nghề sảnxuất vôi sống thôn Trại Mới - Văn An - Chí Linh - Hải Dương

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài

Đối tượng tiếp cận của đề tài là những hộ trong thôn đang tham gia sản xuất và

cả những hộ không tham gia sản xuất vôi sống, đồng thời đề tài cũng tiếp cận tớinhững người lao động làm thuê cho thôn để nghiên cứu về quá trình hình thành làngnghề, tình hình sản xuất, những yếu tố ảnh hưởng và tác động của việc sản xuất vàphát triển làng nghề sản xuất vôi sống tới kinh tế - xã hội - môi trường của thôn TrạiMới, xã Văn An, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

- Phạm vi về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu tình hình sản xuất vôi sống

của làng nghề, tác động của việc sản xuất vôi sống và sự phát triển của làng nghề tớikinh tế - xã hội - môi trường của địa phương

- Phạm vi về không gian: Đề tài được tiến hành nghiên cứu trên địa bàn thôn

Trại Mới, xã Văn An, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương

- Phạm vi về thời gian: Đề tài dự kiến sẽ được tiến hành từ ngày 23/1/2010 đến

ngày 23/5/2010 Số liệu chủ yếu được thu thập qua 3 năm từ 2007 đến 2009

Trang 4

PHẦN II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI2.1 Cơ sở lý luận của đề tài

2.1.1 Cơ sở lý luận về làng nghề

2.1.1.1 Một số khái niệm

* Làng: là một đơn vị cư trú và một hình thức tổ chức xã hội quan trọng của

nông thôn các quốc gia ở châu Á Ở Việt Nam, qua nhiều thế kỷ, làng là đơn vị tụ cư

cổ truyền lâu đời của những người dân sống ở nông thôn và là nhân tố cơ sở cho hệthống nhà nước quân chủ Từ thời Hùng Vương, làng được gọi là chạ Đơn vị này cóthể coi tương đương với sóc của người Khơme, bản, mường (của các dân tộc thiểu sốphía Bắc), buôn (của các dân tộc thiểu số Tây Nguyên - Trường Sơn) Làng củanhững người làm nghề chài lưới được gọi là vạn hay vạn chài [27]

Làng truyền thống điển hình thời trung và cận đại là một tập hợp những người

có thể có cùng huyết thống, cùng phương kế sinh nhai trên một vùng nhất định Làng

̣được xem có tính tự trị, khép kín, độc lập, là một vương quốc nhỏ trong vương quốclớn nên mới có câu "hương đảng, tiểu triều đình"

* Nghề: là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó nhờ được đào tạo, con

người có được những trí thức những kỹ năng để làm ra các sản phẩm vật chất hay tinhthần nào đó, đáp ứng được những nhu cầu của xã hội Nghề bao gồm nhiều chuyênmôn

Chuyên môn là một lĩnh vực lao động sản xuất hẹp mà ở đó, con người bằngnăng lực thể chất và tinh thần của mình làm ra những giá trị vật chất (thực phẩm,lương thực, công cụ lao động ) hoặc giá trị tinh thần (sách báo, phim ảnh, tranh vẽ,

âm nhạc ) với tư cách là những phương tiện sinh tồn và phát triển của xã hội

Trên thế giới hiện nay có trên dưới 200 nghề với hàng chục nghìn chuyên môn

Ở Liên Xô trước đây, người ta đã thống kê được 15000 chuyên môn, còn ở nước Mỹcon số đó lên tới 40000 Nhiều nghề chỉ thấy có ở nước này nhưng lại không thấy có

ở nước khác Hơn nữa, các nghề trong xã hội luôn ở trong trạng thái biến động do sựphát triển của khoa học và công nghệ Nhiều nghề cũ mất đi hoặc thay đổi về nộidung cũng như về phương pháp sản xuất Nhiều nghề mới xuất hiện rồi phát triển theohướng đa dạng hoá Theo thống kê gần đây, trên thế giới mỗi năm có tới 500 nghề bị

Trang 5

đào thải và khoảng 600 nghề mới xuất hiện Ở nước ta, mỗi năm ở cả 3 hệ trường (dạynghề, trung cấp và cao đẳng - đại học) đào tạo trên dưới 300 nghề bao gồm hàngnghìn chuyên môn khác nhau.

* Làng nghề:

Làng nghề ở nước ta được hình thành từ rất lâu Cùng với sự phát triển của nềnvăn minh nông nghiệp từ hàng ngàn năm trước đây, nhiều nghề thủ công cũng đã rađời tại các vùng nông thôn Việt Nam, việc hình thành các làng nghề bắt đầu từ nhữngnghề ban đầu được cư dân tranh thủ làm lúc nông nhàn, những lúc không phải là mùa

vụ chính Theo thời gian, những nghề phụ ban đầu đã thể hiện vai trò to lớn của nó,mang lại lợi ích thiết thân cho cư dân Từ chỗ một vài nhà trong làng làm, nhiều giađình khác cũng học làm theo, nghề từ đó mà lan rộng ra phát triển trong cả làng, haynhiều làng gần nhau.Và cũng chính nhờ những lợi ích khác nhau do các nghề thủ côngđem lại mà trong mỗi làng bắt đầu có sự phân hóa Nghề đem lại lợi ích nhiều thì pháttriển mạnh dần, ngược lại những nghề mà hiệu quả thấp hay không phù hợp với làngthì dần dần bị mai một Từ đó bắt đầu hình thành nên những làng nghề chuyên sâuvào một nghề duy nhất nào đó, như làng gốm, làng làm chiếu, làng làm lụa, làng làm

đồ đồng [28]

Lâu nay khái niệm làng nghề thường được hiểu theo nhiều cách khác nhau Cónhà nghiên cứu cho rằng "Làng nghề là một thiết chế kinh tế- xã hội ở nông thôn,được cấu thành bởi hai yếu tố làng và nghề, tồn tại trong một không gian địa lý nhấtđịnh trong đó bao gồm nhiều hộ gia đình sinh sống bằng nghề thủ công là chính, giữa

họ có mối liên kết về kinh tế, xã hội và văn hóa" (Trần Minh Yến, 2004) Có nhànghiêu cứu định nghĩa "Làng nghề truyền thống là làng nghề cổ truyền làm nghề thủcông Ở đấy không nhất thiết tất cả dân làng đều sản xuất hàng thủ công Người thợthủ công nhiều trường hợp cũng đồng thời làm nghề nông Nhưng yêu cầu chuyênmôn hóa cao đã tạo ra những người thợ chuyên sản xuất hàng truyền thống ngay tạilàng quê của mình" (Bùi Văn Vượng, 2002) Cũng có người lại định nghĩa "Làngnghề (Làng nghề Việt Nam, làng nghề thủ công, làng nghề truyền thống, hoặc làngnghề cổ truyền ) là những làng mà tại đó hầu hết dân cư tập trung vào làm một nghề

Trang 6

duy nhất nào đó; nghề của họ làm thường có tính chuyên sâu cao và mang lại nguồnthu nhập cho dân làng" [28]

Thế nhưng, trải qua nhiều bước phát triển, đặc biệt khi khoa học kỹ thuật vàcông nghệ cùng với sự phân công lao động đã phát triển ở mức độ cao hơn thì kháiniệm làng nghề cũng được mở rộng hơn, nó không chỉ bó hẹp ở những làng chỉ có các

hộ chuyên làm nghề thủ công Điều này có thể thấy dưới hai giác độ: Thứ nhất là,làng nghề không còn bó hẹp trong khuôn khổ công nghệ thủ công, tuy thủ công vẫn làchính, mà một số công đoạn đã được cơ khí hóa hoặc bán cơ khí hóa Thứ hai là,trong các làng nghề, không chỉ có các cơ sở sản xuất hàng thủ công, mà đã có những

cơ sở dịch vụ và ngành nghề phục vụ cho sản xuất, như các doanh nghiệp kinh doanhdịch vụ phân phối hàng hóa, cung ứng đầu vào và đầu ra cho sản phẩm làng nghề [10,Tr.15]

Qua các tài liệu thu thập ở trên thì chúng ta có thể hiểu: làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị trấn, có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau Các sản phẩm của làng nghề làm

ra đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng, đã trở thành hàng hóa trên thị trường

và đem lại nguồn thu nhập chiếm phần chủ yếu của người dân trong làng.

2.1.1.2 Tiêu chí xác định làng nghề

Khi xem xét sự phát triển của làng nghề, chúng ta xem xét trên cả ba phưongdiện kinh tế - xã hội - môi trường Hiện nay có rất nhiều tiêu chí để xác định làngnghề, Lê Vũ Tiên (2002) đã đưa ra các tiêu chí sau:

- Làng nghề đó phải là những làng quê nông nghiệp phát triển đến một mức độnhất định, nhưng do điều kiện ruộng đất có hạn, dân cư ngày càng đông đúc hơn nên

số lao động dư thừa ngày càng nhiều Nhu cầu giải quyết việc làm để tạo thu nhập chongười lao động là đòi hỏi cấp bách của làng;

- Làng nghề đó phải có ít nhất một người, một gia đình, một doanh nghiệp haymột dòng tộc làm nghề đó, sản xuất kinh doanh phát triển nghề đó làm hạt nhân;

- Làng nghề đó phải tìm được nguồn nguyên vật liệu ổn định, đáp ứng đượcnhu cầu sản xuất của làng nghề;

Trang 7

- Làng nghề phải có sản phẩm đã trở thành hàng hoá, giao lưu đáp ứng đượcnhu cầu thị trường và công nghệ sản xuất của làng nghề;

- Làng nghề phải có thị trường tiêu thụ độc lập hoặc thị trường giao lưu quacác doanh nghiệp thương mại;

- Làng nghề phải có vốn để dự trữ nguyên vật liệu sản xuất và chuẩn bị cácđiều kiện cho sản xuất;

- Làng nghề phải có cơ sở hạ tầng, kỹ thuật tối thiểu thuận tiện như đường giaothông, điện, nước, công cụ sản xuất ;

- Làng nghề phải có nguồn lao động trong làng ổn định và tạo ra công ăn việclàm cho người lao động ở các địa phương lân cận để đáp ứng nhu cầu lao động khicần thiết;

- Làng nghề phải có sự quan tâm hỗ trợ về các mặt hàng của các cấp uỷ Đảng

và chính quyền địa phương [7]

Theo Thông tư số 116/2006/TT- BNN ngày 18/12/ 2006 của Bộ Nông nghiệp

và phát triển nông thôn hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định số66/2006/NĐ-CP ngày 07/7/2006 của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thônthì để được coi là một làng nghề thì làng đó phải đạt 03 tiêu chí sau:

- Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghềnông thôn;

- Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm đềnghị công nhận;

- Chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nước [13]

Ở nước ta, mỗi tỉnh cũng lại có những tiêu chí xác định làng nghề riêng Ví dụtiêu chí xác định làng nghề của tỉnh Hưng Yên:

- Chấp hành tốt các đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước,chịu sự quản lý Nhà nước của chính quyền địa phương;

- Số lao động sản xuất công nghiệp và TTCN đạt từ 50% trở lên so với tổng sốlao động của làng hoặc số hộ sản xuất công nghiệp và TTCN đạt từ 30% trở lên so vớitổng số hộ của làng

Trang 8

- Giá trị sản xuất và thu nhập từ sản xuất công nghiệp và TTCN chiếm tỷ trọng

từ 50% trở lên so với tổng giá trị sản xuất và thu nhập của làng trong năm;

- Bảo đảm vệ sinh môi trường theo quy định hiện hành [19]

Tiêu chuẩn công nhận làng nghề của tỉnh Hà Nam:

- Chấp hành tốt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhànước, các quy định của địa phương;

- Số lao động làm các nghề TTCN của làng nghề đạt trên 50% lao động củalàng (tối thiểu là 50 hộ trở lên);

- Giá trị sản xuất của làng nghề chiếm tỷ trọng trên 70% trở lên so với tổng giátrị sản xuất của làng [17]

Tiêu chuẩn công nhận làng nghề của tỉnh hải Dương:

- Chấp hành tốt các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước,các quy định của chính quyền địa phương, có hình thức tổ chức phù hợp; phát triểnngành nghề gắn với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng làng văn hoá củađịa phương, giữ gìn vệ sinh môi trường

- Số gia đình hoặc lao động làm nghề công nghiệp và TTCN ở làng đạt từ 25%trở lên so với tổng số hộ hoặc lao động của làng Doanh thu từ sản xuất công nghiệp

và TTCN ở làng chiếm tỷ trọng từ 30% trở lên so với tổng doanh thu của làng trongnăm Thu nhập bình quân một năm của một lao động ở làng nghề sản xuất côngnghiệp và TTCN phải cao hơn thu nhập bình quân của lao động trong xã từ 10% trởlên

- Hoạt động sản xuất kinh doanh phải bảo đảm vệ sinh môi trường chung, nhất

là về hệ thống thoát nước, hệ thống xử lý rác thải và nước thải

Các tiêu chuẩn trên của làng đạt ổn định từ 3 năm trở lên sẽ được UBND tỉnhxem xét công nhận làng nghề [18]

2.1.1.3 Phân loại làng nghề

Sự phát triển đa dạng và phong phú của làng nghề đã hình thành lên rất nhiềucách phân loại làng nghề khác nhau Hiện nay, việc phân loại làng nghề thường đượctiến hành theo cách các sau:

Trang 9

* Theo lịch sử hình thành (tính chất nghề):

- Làng nghề truyền thống: là những làng nghề có lịch sử phát triển từ lâu đờivới những sản phẩm độc đáo riêng có của mình và còn tồn tại cho đến ngày nay Sảnphẩm của làng nghề truyền thống rất nổi tiếng được nhiều người biết đến, tiêu thụ ởcác trung tâm kinh tế lớn của đất nước (Hà Nội, Huế, Thành phố Hồ Chí Minh ) và

cả nước ngoài Mẫu mã, chủng loại của các sản phẩm trong làng nghề truyền thốngthường được xuất hiện với quá trình hình thành làng nghề và được hoàn thiện qua cácthế hệ Giá trị của sản phẩm truyền thống không những bao gồm các chi phí vật chất,chi phí lao động sống mà còn chứa đựng cả những yếu tố tinh thần Những thiết kế,hoạ tiết trên các sản phẩm truyền thống thường được phác theo những điển tích cổ nào

đó và thú vui của người chơi là muốn có những bình phẩm và giá trị tinh thần của sảnphẩm Ngày nay một số sản phẩm cổ được cất giữ trong các viện bảo tàng, một sốtrong các nhà thờ của các dòng họ, một số ở các gia đình quyền quý thượng lưu Tuynhiên những sản phẩm phục chế và sản phẩm cổ chỉ có thể phân biệt ở những ngườisành chơi hoặc ở các cơ quan khoa học chuyên ngành Làm việc trong các làng nghềtruyền thống là các nghệ nhân và đội ngũ thợ lành nghề với nhiều năm kinh nghiệm.Cùng với sự phát triển chung, trong các làng nghề truyền thống xuất hiện hệ thốngcông cụ sản xuất hiện đại Tuy nhiên, lao động vẫn sử dụng phần lớn là lao động thủcông

- Làng nghề mới hình thành gần đây: là những làng nghề xuất hiện do sự pháttriển lan toả của các làng nghề truyền thống hoặc do du nhập từ các địa phương khác;

do yêu cầu phát triển kinh tế nhằm nâng cao đời sống trên cơ sở vận dụng các tiềmnăng sản xuất của địa phương Là làng nghề mới hình thành, các điều kiện sản xuấtcòn thiếu và yếu nên các sản phẩm của làng nghề thường là sản phẩm cấp thấp hoặc ởcác công đoạn thô Những người thợ mới trong các làng nghề trước đây thường là thợlàm thuê ở các làng nghề truyền thống Sau nhờ có kiến thức về một số tay nghề, với

số vốn ít ỏi đã nhen nhóm lên nghề mới ở quê mình Tuy nhiên, cá biệt có một số làngnghề mới được hình thành do yêu cầu giải quyết những vấn đề bức xúc của xã hội.Một điều dễ thấy là các làng nghề phát triển và lan toả rất nhanh nhưng không bềnvững Tác động cạnh tranh của làng nghề mới đối với làng nghề truyền thống không

Trang 10

có ý nghĩa thúc đẩy nghề truyền thống lắm vì quy mô sản xuất sản phẩm cấp thấp củalàng nghề truyền thống hầu như bão hoà Vì vậy, điều quan trọng là không nên để cholàng nghề mới phát triển tự phát.

* Theo sản phẩm làm ra:

- Làng nghề sản xuất ra công cụ thủ công và nguyên vật liệu cho ngành côngnghiệp: Công cụ thủ công được tạo ra chủ yếu từ nghề rèn và nghề này có ở hầu hếtcác vùng nông thôn, các làng nghề chuyên sản xuất công cụ này có nguy cơ phải thuhẹp quy mô sản xuất Các loại nguyên vật liệu như vật liệu xây dựng (gạch, ngói, vôi,

xi măng ), thép cán, thép thỏi cũng được thực hiện ở nhiều làng nghề, ngay cả làngnghề truyền thống

- Làng nghề sản xuất hàng tiêu dùng dân dụng như hàng đồ đồng (đồ thờ cúng,

ấm, nồi ), hàng đồ mộc (giường, tủ, bàn, ghế ), hàng nhựa tái chế (nhựa thỏi, nhựaxay, hạt nhựa ) Chất lượng các sản phẩm trong các làng nghề thuộc rất nhiều cấp độkhác nhau từ cấp thấp dân dụng đến cao cấp mỹ nghệ Những hàng này tiêu thụ cảtrong nước và ngoài nước

- Làng nghề chế biến nông lâm thuỷ sản và dược liệu: nguyên liệu của làngnghề này là sản phẩm của hàng nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ - hải sản Vai trò củacông nghệ chế biến đặc biệt quan trọng và đi liền với công nghệ bảo quản Sản phẩmchế biến cũng rất đa dạng, trên thực tế hình thành nên các làng nghề với cơ sở chếbiến là vấn đề tương đối khó khăn Hiện nay, trong vấn đề chế biến nổi lên vấn đềnguyên liệu sạch (rau, quả) và các chất phụ phẩm (trước hết là các chất hoá học bị sửdụng tuỳ tiện trong việc chế biến và bảo quản các sản phẩm) [21]

Trang 11

2.1.1.4 Vai trò của phát triển làng nghề

* Góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hoá

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn là nhằm phát triển kinh tế nông thôn lênmột bước mới về chất, làm thay đổi cơ cấu sản xuất, cơ cấu lao động, cơ cấu việc làm,

cơ cấu giá trị sản lượng và cơ cấu thu nhập của cư dân nông thôn bằng các nguồn lợi

từ các lĩnh vực trong nông nghiệp và phi nông nghiệp Với mục tiêu như vậy, quátrình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn ngày càng được thúc đẩy, nó diễn ra ngaytrong nội bộ ngành nông nghiệp và cả các bộ phận hợp thành khác của cơ cấu kinh tếnông thôn Sự phát triển của các làng nghề đã tạo ra một nền kinh tế đa dạng ở nôngthôn, với sự thay đổi về cơ cấu, phong phú đa dạng về loại hình sản phẩm Nghĩa là,khi nghề thủ công xuất hiện thì nền kinh tế nông thôn không chỉ có ngành nôngnghiệp thuần nhất mà bên cạnh đó còn có các ngành thủ công nghiệp, thương mại,dịch vụ cùng tồn tại và phát triển Sự phát triển của làng nghề đã mở rộng quy mô sảnxuất và địa bàn sản xuất, thu hút nhiều lao động Cho đến nay cơ cấu kinh tế ở nhiềulàng nghề đạt từ 60 - 80% cho công nghiệp và dịch vụ, 20 - 40% cho nông nghiệp.[10]

* Góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động nông thôn

Nước ta là một nước sản xuất nông nghiệp là chính, dân số tập trung vào mộtvài tháng vụ mùa, còn những lúc nông nhàn thì họ không có việc làm Những nămgần đây, phát triển làng nghề đã giải quyết việc làm cho gần 10 triệu lao động, chiếm29,5% lực lượng lao động nông thôn Việc phát triển làng nghề không chỉ giải quyếtviệc làm cho lao động địa phương mà còn tạo việc làm cho lao động tại các địaphương khác Ví dụ các làng nghề ở Bắc Ninh năn 2002 đã thu hút 42000 lao độngthường xuyên và 10000 lao động thời vụ Làng gốm Bát Tràng (Hà Nội) ngoài giảiquyết việc làm cho gần 2430 lao động của xã, còn giải quyết thêm việc làm chokhoảng 5500 đến 6000 lao động của các khu vực lân cận đến làm thuê [10]

Việc phát triển làng nghề tạo ra một khối lượng lớn hàng hoá mỗi năm nênviệc mở rộng thị trường xuất khẩu hàng hoá là cần thiết và là nhân tố quan trọng đểkích thích sản xuất, tạo việc làm, tăng thu nhập cho hàng triệu lao động thủ công

Trang 12

chuyên nghiệp và nông nhàn Người ta đã tính toán rằng, cứ xuất khẩu một triệu USDhàng thủ công thì tạo được việc làm và thu nhập cho khoảng 3000 - 4000 lao động,chủ yếu là lao động tại địa phương và các vùng lân cận Nếu so sánh với mức thunhập của lao động nông nghiệp thì thu nhập của lao động ngành nghề cao hơn khoảng

2 đến 4 lần, đặc biệt là so với chi phí về lao động và diện tích sử dụng đất thấp hơnnhiều so với sản xuất nông nghiệp Bình quân thu nhập của một lao động chuyênngành nghề phi nông nghiệp là 430000 - 450000 đồng/tháng, ở hộ kiêm nghề từ

190000 240000 đồng/tháng, trong khi đó ở các hộ thuần nông chỉ khoảng 70000

-100000 đồng/tháng [10] Như vậy, thu nhập ở các làng nghề đã tạo ra sự thay đổi khálớn trong cơ cấu thu nhập của hộ gia đình và của địa phương

* Đa dạng hoá kinh tế nông thôn, thúc đẩy quá trình đô thị hoá

Đa dạng hoá kinh tế nông thôn là một trong những nội dung quan trọng củacông nghiệp hoá nông thôn nhằm tạo việc làm, nâng cao thu nhập và cải thiện đờisống của người dân nông thôn Sự phát triển của làng nghề đã phá vỡ thế độc canhtrong các làng thuần nông, mở ra hướng phát triển mới với nhiều nghề trong một làngnông nghiệp Cùng với sự phát triển của nông nghiệp, sự phát triển của làng nghề đãđem lại hiểu quả cao trong việc sử dụng hợp lý các nguồn lực ở nông thôn như đấtđai, lao động, nguyên vật liệu, thị trường

Ở những vùng có nhiều ngành nghề phát triển, thường hình thành nên mộttrung tâm giao lưu buôn bán, dịch vụ và trao đổi hàng hoá những trung tâm này ngàycàng được mở rộng và phát triển, tạo nên một sự đổi mới trong nông thôn Hơn nữa,nguồn tích luỹ của người dân trong làng nghề cao hơn, có điều kiện để đầu tư xâydựng cơ sở hạ tầng như đường xá, nhà ở và mua sắm các tiện nghi sinh hoạt Dần dần

ở đây hình thành một cụm dân cư với lối sống đô thị ngày một rõ nét hơn Nông thônđổi thay và từng bước được đô thị hoá qua việc hình thành các thị trấn, thị tứ

* Cải thiện đời sống của nhân dân và xây dựng nông thôn mới

Ở những vùng có làng nghề phát triển đều thể hiện một sự văn minh, giàu có,dân trí cao hơn hẳn những vùng mà chỉ thuần tuý sản xuất nông nghiệp Ở các làngnghề, tỷ lệ hộ khá và giàu thường rất cao, tỷ lệ hộ nghèo thấp và hầu như không có hộđói Thu nhập từ nghề thủ công chiếm tỷ lệ lớn trong tổng thu nhập đã đem lại cho

Trang 13

người dân ở đây một cuộc sống đầy đủ, phong lưu hơn cả về vật chất và tinh thần.Nhà cao tầng của các hộ dân được xây dựng nhiều, tỷ lệ hộ có các loại đồ dùng tiệnnghi đắt tiền chiếm tỷ lệ khá Làng Tân Lễ (Thái Bình) tỷ lệ hộ khá, giàu chiếm gần80% tổng số hộ của địa phương Làng nghề Bát Tràng (Hà Nội) mức thu nhập bìnhquân của các hộ thấp cũng đạt tới 10 -20 triệu đồng/năm, của các hộ trung bình là 40 -

50 triệu đồng/năm, còn của các hộ cao thì đạt tới hàng trăm triệu đồng/năm

Cùng với việc tăng thu nhập của người dân, sự phát triển của làng nghề cũng

đã tạo ra một nguồn tích luỹ khá lớn và ổn định cho ngân sách địa phương Nguồnvốn được các địa phương dùng để cải tạo và xây dựng các hệ thống giao thông, hệthống điện, trạm y tế, trường học Đời sống vật chất và tinh thần của người dân đượccải thiện, sức mua tăng lên, tạo thị trường cho công nghiệp và dịch vụ phát triển

2.1.1.5 Ý nghĩa về phát triển làng nghề

Trong quá trình xây dựng và phát triển của đất nước, Đảng ta đã đặt ra mụctiêu CNH - HĐH nông nghiệp nông thôn lên hàng đầu Điều đó thể hiện rõ nội dungCNH - HĐH nông nghiệp nông thôn ở Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, đó là:

- Phát triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp phục vụ CNH

- Thực hiện thuỷ lợi hoá, điện khí hoá, cơ giới hoá, sinh học hoá vào sản xuấtnông nghiệp

- Phát triển chế biến nông, lâm, thuỷ - hải sản với công nghệ ngày càng cao,gắn với nguồn nguyên liệu và liên kết với công nghiệp ở đô thị

- Phát triển các ngành nghề và làng nghề truyền thống và các ngành nghề mớibao gồm cả tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, hàng xuấtkhẩu, công nghiệp khai thác và chế biến các nguồn nguyên liệu phi nông nghiệp, cácloại hình dịch vụ sản xuất và đời sống nhân dân

- Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội đồng bộ và hiện đại, xây dựngnông thôn mới giàu có và văn minh [15]

Chủ trương phát triển làng nghề được cụ thể hoá hơn ở Đại hội Đại biểu Đảngtoàn quốc lần thứ IX: "Tiếp tục phát triển và đưa nông nghiệp, lâm nghiệp, ngưnghiệp lên một trình độ mới bằng ứng dụng khoa học và công nghệ, nhất là công nghệsinh học; đẩy nhanh thuỷ lợi hóa, cơ giới hoá, điện khí hóa; quy hoạch sử dụng đất

Trang 14

hợp lý; đổi mới cơ cấu cây trồng, vật nuôi, tăng giá trị thu được trên đơn vị diện tích;giải quyết tốt vấn đề tiêu thụ nông sản hàng hoá Đầu tư nhiều hơn cho phát triển kếtcấu hạ tầng kinh tế và xã hội ở nông thôn Phát triển công nghiệp, dịch vụ, các ngành

đa dạng, chú trọng công nghệ chế biến, cơ khí phục vụ nông nghiệp, các làng nghề,chuyển một bộ phận quan trọng lao động nông nghiệp sang khu vực công nghiệp vàdịch vụ, tạo nhiều việc làm mới; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, cải thiện đờisống nông dân và cư dân ở nông thôn" [15, Tr.92, 279]

Đối với ngành nghề nông thôn, nhiệm vụ của nó đã được nhấn mạnh hơn trongphương hướng, nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2001 - 2005: "Mởmang các làng nghề, phát triển các điểm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp sản xuấthàng thủ công mỹ nghệ, đưa công nghiệp sơ chế và chế biến về nông thôn và vùngnguyên liệu; phát triển lĩnh vực dịch vụ cung ứng vật tư kỹ thuật, trao đổi nông sảnhàng hoá ở nông thôn , tăng nhanh việc làm cho khu vực phi nông nghiệp" [15.Tr179]

Từ đó ta thấy được, phát triển làng nghề có ý nghĩa rất quan trọng cả về kinh tế

đã cung cấp tư liệu sản xuất (công cụ sản xuất: cuốc, cày bừa ) và chuyển dịch cơcấu trong nội bộ ngành nông nghiệp Ví dụ như khi ngành chế biến phát triển yêu cầunguyên liệu từ nông nghiệp phải nhiều hơn, đa dạng hơn và chất lượng cao hơn Dovậy, trong nông nghiệp hình thành những khu vực nông nghiệp chuyên môn hoá, tạo

ra năng suất lao động cao hơn và khối lượng sản phẩm hàng hoá cũng phải nhiều hơn.Mặt khác, có thể thấy kết quả sản xuất ở các làng nghề cho thu nhập và giá trị sảnlượng cao hơn hẳn so với sản xuất nông nghiệp Do từng bước tiếp cận với nền kinh

tế thị trường, người lao động nhanh chóng chuyển sang đầu tư cho các ngành nghề phi

Trang 15

nông nghiệp, khu vực sản xuất nông nghiệp bị thu hẹp, khu vực sản xuất công nghiệp

và tiểu thủ công nghiệp được tăng lên, hoạt động dịch vụ ở nông thôn cũng được mởrộng về quy mô, địa bàn hoạt động đã thu hút được nhiều lao động

Ở nước ta, các làng nghề được phân bố rộng khắp ở các vùng nông thôn, hàngnăm sản xuất ra khối lượng sản phẩm hàng hoá khá lớn, đóng góp đáng kể cho nềnkinh tế quốc dân nói chung và cho từng địa phương nói riêng, làm tăng tổng giá trịsản phẩm hàng hoá của cả nước Ví dụ tỉnh Bắc Ninh, năm 1998 giá trị sản phẩmhàng hoá của các làng nghề là 210 tỷ đồng, chiếm 3/4 tổng giá trị sản xuất côngnghiệp ngoài quốc doanh Năm 1998, làng nghề ở Bắc Ninh đã nộp ngân sách nhànước là 21,350 tỷ đồng, trong khi các xí nghiệp quốc doanh chỉ thu được 3,4 tỷ đồng.Năm 2002 đạt khoảng 800 tỷ đồng, chiếm 50% giá trị công nghiệp của địa phương,đóng góp 62% kim ngạch xuất khẩu của tỉnh [25]

Giá trị công nghiệp ngành nghề của tỉnh Hải Dương đạt 560 tỷ đồng năm 1998,

637 tỷ đồng năm 2000 và đến năm 2007 là trên 900 tỷ đồng, chiếm 50% giá trị sảnxuất công nghiệp ngoài quốc doanh Các làng thu hút khoảng 80 nghìn lao động,chiếm trên 8% số lao động xã hội trong tỉnh; thu nhập bình quân một lao động từ 400đến 700 nghìn đồng/ tháng có cơ sở thu nhập của người lao động từ 1 triệu cho đến 3triệu đồng/tháng [31]

Sự phát triển của làng nghề đã kéo theo sự hình thành và phát triển của các nghề khác,

đã tạo thêm nhiều việc làm nhờ đó thu nhập của họ được tăng cao, đời sống bớt khókhăn hơn, mặt khác bản tính của người nông dân là tiết kiệm nên họ đã biết chi tiêuhợp lý và bắt đầu có tích luỹ Vì vậy, cuộc sống của người dân trong các làng nghềthường có mức sống cao hơn so với các làng chỉ sản xuất thuần nông

Khai thác có hiệu quả các nguồn lực sẵn có trong nông thôn: vốn, lao động.Một đặc điểm của sản xuất trong các làng nghề là quy mô nhỏ, cơ cấu vốn và cơ cấu

Trang 16

lao động ít nên rất phù hợp với khả năng huy động vốn và các nguồn lực vật chất củacác hộ gia đình Điều đó tạo điều kiện cho hộ tận dụng được vốn nhàn rỗi trong dânvào đầu tư sản xuất kinh doanh Mặt khác, việc sản xuất ở các làng nghề chủ yếu là ở

hộ gia đình nên đã tận dụng và thu hút nhiều loại lao động, từ lao động thời vụ nôngnhàn đến lao động trên độ tuổi hay dưới độ tuổi, lực lượng lao động này chiếm một tỷ

tế, xã hội, chính trị, địa lý, văn hóa riêng để hoạch định chiến lược phù hợp nhất vớiquốc gia đó

Thuật ngữ "phát triển bền vững" xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980 trong ấnphẩm Chiến lược bảo tồn Thế giới (công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và Tàinguyên Thiên nhiên Quốc tế - IUCN) với nội dung rất đơn giản: "Sự phát triển củanhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng nhữngnhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học"

Khái niệm này được phổ biến rộng rãi vào năm 1987 nhờ Báo cáo Brundtland(còn gọi là Báo cáo Our Common Futur) của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thếgiới - WCED (nay là Ủy ban Brundtland) Báo cáo này ghi rõ: Phát triển bền vững là

"sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổnhại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai " Nói cách khác,phát triển bền vững phải bảo đảm có sự phát triển kinh tế hiệu quả, xã hội công bằng

và môi trường được bảo vệ, gìn giữ Để đạt được điều này, tất cả các thành phần kinh

tế - xã hội, nhà cầm quyền, các tổ chức xã hội phải bắt tay nhau thực hiện nhằmmục đích dung hòa 3 lĩnh vực chính: kinh tế - xã hội - môi trường [29]

Đến nay, có rất nhiều quan niệm khác nhau về phát triển bền vững TheoHerman Daly (World Bank): "Một thế giới bền vững là một thế giới không sử dụng

Trang 17

các nguồn nguyên liệu tái tạo như nước, thổ nhưỡng, sinh vật nhanh hơn sự tái tạocủa chúng Một xã hội bền vững cũng sử dụng các tài nguyên không tái tạo như nhiênliệu hoá thạch, khoáng sản nhanh hơn quá trình tìm ra loại thay thế chúng và khôngthải ra môi trường các chất độc hại nhanh hơn quá trình trái đất hấp thụ và vô hiệu hoáchúng" Bumetland cho rằng: "Phát triển bền vững là một loại phát triển lành mạnhvừa đáp ứng được nhu cầu hiện tại đồng thời không xâm phạm đến lợi ích của thế hệtương lai"

Tóm lại: Phát triển bền vững là một sự phát triển lành mạnh trong đó sự phát

triển của cá nhân này không làm thiệt hại đến lợi ích của các nhân khác, sự phát triểncủa cá nhân không làm thiệt hại đến sự phát triển của cộng đồng, sự phát triển củacộng đồng người này không làm ảnh hưởng thiệt hại đến lợi ích của cộng đồng ngườikhác và sự phát triển của thế hệ hôm nay không xâm phạm đến lợi ích của thế hệ maisau và sự phát triển của loài người không đe doạ sự sống còn hay làm suy giảm điềukiện sống của các loài sinh vật khác trên hành tinh [6]

2.1.2.3 Điều kiện về phát triển bền vững

* Vai trò của Nhà nước:

Vai trò của Nhà nước ở tầm vĩ mô có ảnh hưởng quan trọng đặc biệt, thông quacác đường lối, chủ trương chính sách phát triển kinh tế - xã hội tác động đến môitrường sống Do vậy khi đề ra một chủ trương, đường lối, chính sách nào đó cần phải

có sự tính toán, cân nhắc về khía cạnh đảm bảo môi trường được ổn định và cải thiện

Một quốc gia có nền kinh tế chính trị ổn định, có phương hướng phát triểnđúng đắn, hợp quy luật, thì thường có bộ máy điều hành mọi hoạt động của Nhà nướcmạnh, có năng lực giải quyết mọi vấn đề do đời sống kinh tế - xã hội và bảo vệ môitrường đặt ra một cách thoả đáng và có hiệu quả

* Xây dựng lối sống và sản xuất thích hợp

Xây dựng một lối sống thích hợp với phát triển bền vững: lối sống tiết kiệmlành mạnh biết chăm lo cho môi trường sống Xây dựng một lối sản xuất thích hợp,tiết kiệm gắn liền với việc không ngừng nâng cao trình độ kỹ thuật, công nghệ và đổimới tổ chức quản lý kinh tế - cải tiến các hoạt động, phải kết hợp hợp lý, thống nhất,

Trang 18

cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất và tiêu thụ sảnphẩm.

* Kế hoạch hoá và quản lý một cách tổng hợp quá trình phát triển

Mỗi thành tựu của sự phát triển đều phải là sự thừa kế của quá khứ một cách cóchọn lọc và là sự định hướng cho tương lai phát triển sau này Phát triển bền vững chỉ

có thể đạt được khi mọi hoạt động kinh tế - xã hội đều phải được quản lý chặt chẽ,toàn diện, được lập kế hoạch thống nhất và khoa học, đảm bảo kết hợp tốt nhất giữamôi trường và phát triển

* Đưa hao tổn tài nguyên và môi trường vào hệ thống hạch toán quốc gia

Nguồn tài nguyên được sử dụng và sinh lợi cho ai thì người đó phải có tráchnhiệm góp phần bù đắp lại sự thiếu hụt, suy giảm trữ lượng và chất lượng nguồn tàinguyên, môi trường đã khai thác Nhà nước phải xây dựng và hoàn thiện hệ thốnghạch toán để xác định đầy đủ mọi chi phí trong các hoạt động phát triển, trong đó cócác chi phí về khai thác, sử dụng các tài nguyên và thành phần môi trường [6]

2.1.2.2 Mục tiêu về phát triển bền vững ở Việt Nam

Mục tiêu tổng quát trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010 củaĐại hội đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ IX là: "Đưa đất nước rakhỏi tình trạng kém phát triển; nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hoá, tinh thầncủa nhân dân; tạo nền tảng để đến năm 2020 Việt Nam cơ bản trở thành một nướccông nghiệp Nguồn lực con người, năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng,tiềm lực kinh tế, quốc phòng, an ninh được tăng cường; thể chế kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa được hình thành về cơ bản; vị thế của đất nước trên trườngquốc tế được nâng cao" Quan điểm phát triển trong Chiến lược trên được khẳng định:

"Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến

bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường"; "Phát triển kinh tế - xã hội gắn chặt vớibảo vệ và cải thiện môi trường, bảo đảm sự hài hoà giữa môi trường nhân tạo với môitrường thiên nhiên, giữ gìn đa dạng sinh học"

Mục tiêu tổng quát của phát triển bền vững là đạt được sự đầy đủ về vật chất,

sự giàu có về tinh thần và văn hóa, sự bình đẳng của các công dân và sự đồng thuậncủa xã hội, sự hài hòa giữa con người và tự nhiên; phát triển phải kết hợp chặt chẽ,

Trang 19

hợp lý và hài hoà được ba mặt là phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môitrường

Mục tiêu phát triển bền vững về kinh tế là đạt được sự tăng trưởng ổn định với

cơ cấu kinh tế hợp lý, đáp ứng được yêu cầu nâng cao đời sống của nhân dân, tránhđược sự suy thoái hoặc đình trệ trong tương lai, tránh để lại gánh nặng nợ nần lớn chocác thế hệ mai sau

Mục tiêu phát triển bền vững về xã hội là đạt được kết quả cao trong việc thựchiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm chế độ dinh dưỡng và chất lượng chăm sócsức khoẻ nhân dân ngày càng được nâng cao, mọi người đều có cơ hội được học hành

và có việc làm, giảm tình trạng đói nghèo và hạn chế khoảng cách giàu nghèo giữacác tầng lớp và nhóm xã hội, giảm các tệ nạn xã hội, nâng cao mức độ công bằng vềquyền lợi và nghĩa vụ giữa các thành viên và giữa các thế hệ trong một xã hội, duy trì

và phát huy được tính đa dạng và bản sắc văn hoá dân tộc, không ngừng nâng caotrình độ văn minh về đời sống vật chất và tinh thần

Mục tiêu của phát triển bền vững về môi trường là khai thác hợp lý, sử dụngtiết kiệm và có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên; phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý và kiểmsoát có hiệu quả ô nhiễm môi trường, bảo vệ tốt môi trường sống; bảo vệ được cácvườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, khu dự trữ sinh quyển và bảo tồn sự đa dạngsinh học; khắc phục suy thoái và cải thiện chất lượng môi trường

2.1.2.4 Nguyên tắc về phát triển bền vững ở Việt Nam

Để đạt được mục tiêu nêu trên, trong quá trình phát triển chúng ta cần thựchiện những nguyên tắc chính sau đây:

Thứ nhất: con người là trung tâm của phát triển bền vững Đáp ứng ngày càng

đầy đủ hơn nhu cầu vật chất và tinh thần của mọi tầng lớp nhân dân, xây dựng đấtnước giàu mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh là nguyên tắc quán triệt nhấtquán trong mọi giai đoạn phát triển

Thứ hai: coi phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm của giai đoạn phát triển

sắp tới, bảo đảm an ninh lương thực, năng lượng để phát triển bền vững, bảo đảm vệsinh và an toàn thực phẩm cho nhân dân; kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa với pháttriển xã hội; khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên thiên nhiên

Trang 20

trong giới hạn cho phép về mặt sinh thái và bảo vệ môi trường lâu bền Từng bướcthực hiện nguyên tắc "mọi mặt: kinh tế, xã hội và môi trường đều cùng có lợi".

Thứ ba: bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường phải được coi là một yếu tố

không thể tách rời của quá trình phát triển Tích cực và chủ động phòng ngừa, ngănchặn những tác động xấu đối với môi trường do hoạt động của con người gây ra Cần

áp dụng rộng rãi nguyên tắc "người gây thiệt hại đối với tài nguyên và môi trường thìphải bồi hoàn" Xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ và có hiệu lực về công tác bảo

vệ môi trường; chủ động gắn kết và có chế tài bắt buộc lồng ghép yêu cầu bảo vệ môitrường trong việc lập quy hoạch, kế hoạch, chương trình và dự án phát triển kinh tế -

xã hội, coi yêu cầu về bảo vệ môi trường là một tiêu chí quan trọng trong đánh giáphát triển bền vững

Thứ tư: quá trình phát triển phải bảo đảm đáp ứng một cách công bằng nhu cầu

của thế hệ hiện tại và không gây trở ngại tới cuộc sống của các thế hệ tương lai Tạolập điều kiện để mọi người và mọi cộng đồng trong xã hội có cơ hội bình đẳng để pháttriển, được tiếp cận tới những nguồn lực chung và được phân phối công bằng nhữnglợi ích công cộng, tạo ra những nền tảng vật chất, tri thức và văn hoá tốt đẹp chonhững thế hệ mai sau, sử dụng tiết kiệm những tài nguyên không thể tái tạo lại được,gìn giữ và cải thiện môi trường sống, phát triển hệ thống sản xuất sạch và thân thiệnvới môi trường; xây dựng lối sống lành mạnh, hài hoà, gần gũi và yêu quý thiênnhiên

Thứ năm: khoa học và công nghệ là nền tảng và động lực cho công nghiệp hóa,

hiện đại hóa, thúc đẩy phát triển nhanh, mạnh và bền vững đất nước Công nghệ hiệnđại, sạch và thân thiện với môi trường cần được ưu tiên sử dụng rộng rãi trong cácngành sản xuất, trước mắt cần được đẩy mạnh sử dụng ở những ngành và lĩnh vực sảnxuất có tác dụng lan truyền mạnh, có khả năng thúc đẩy sự phát triển của nhiều ngành

và lĩnh vực sản xuất khác

Thứ sáu: phát triển bền vững là sự nghiệp của toàn Đảng, các cấp chính quyền,

các bộ, ngành và địa phương; của các cơ quan, doanh nghiệp, đoàn thể xã hội, cáccộng đồng dân cư và mọi người dân Phải huy động tối đa sự tham gia của mọi người

có liên quan trong việc lựa chọn các quyết định về phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ

Trang 21

môi trường ở địa phương và trên quy mô cả nước Bảo đảm cho nhân dân có khả năngtiếp cận thông tin và nâng cao vai trò của các tầng lớp nhân dân, đặc biệt của phụ nữ,thanh niên, đồng bào các dân tộc ít người trong việc đóng góp vào quá trình ra quyếtđịnh về các dự án đầu tư phát triển lớn, lâu dài của đất nước.

Thứ bảy: gắn chặt việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với chủ động hội

nhập kinh tế quốc tế để phát triển bền vững đất nước Phát triển các quan hệ songphương và đa phương, thực hiện các cam kết quốc tế và khu vực; tiếp thu có chọn lọcnhững tiến bộ khoa học công nghệ, tăng cường hợp tác quốc tế để phát triển bềnvững Chú trọng phát huy lợi thế, nâng cao chất lượng, hiệu quả, năng lực cạnh tranh.Chủ động phòng ngừa, ngăn chặn những tác động xấu đối với môi trường do quá trìnhtoàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế gây ra

Thứ tám: kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ

môi trường với bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội [24]

2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài

2.2.1 Tình hình phát triển làng nghề trên thế giới

Trên thế giới sự phát triển của các làng nghề thể hiện ở sự tăng lên cả về quy

mô và số lượng Đặc biệt ở các nước có nền kinh tế phát triển, số lượng các làng nghềtăng lên nhanh chóng như Trung Quốc, sự phát triển của các làng nghề thể hiện quacác mô hình xí nghiệp hương trấn, ở Ấn Độ các làng nghề phát triển mạnh đã tạo ranhiều sản phẩm có chất lượng cao không chỉ phục vụ tiêu dùng trong nước mà cònxuất khẩu đến nhiều nơi trên thế giới như sản phẩm hàng tơ lụa, đồ trang sức, kimcương, gốm mỹ nghệ , đặc biệt hai mặt hàng tơ lụa và đồ trang sức là hai trong 14mặt hàng mũi nhọn xuất khẩu của ngoại thương Ấn Độ Sự phát triển làng nghề ởcác nước đã giải quyết việc làm cho phần lớn lao động ở nông thôn, nâng cao thunhập, cải thiện đời sống của người dân, góp phần thúc đẩy tiến bộ xã hội ở nông thôn.Ngoài chú ý đến phát triển các làng nghề truyền thống, các nước còn mở rộng cáclàng nghề mới Nhật Bản là nước đi đầu trong việc mở rộng nghề thủ công, là cái nôicủa phong trào mang tên "mỗi làng một sản phẩm", và các nghề này đã tạo cho NhậtBản nguồn thu khá cao Nhật Bản là một trong những nước có nền công nghiệp pháttriển vào loại bậc nhất trên thế giới, Nhật Bản cũng là nước đầu tiên ở châu Á từ một

Trang 22

nước nông nghiệp lạc hậu thực hiện quá trình công nghiệp hoá đất nước Thành côngcủa quá trình này đã giúp cho Nhật Bản trở thành một cường quốc kinh tế với nềnkinh tế nông nghiệp và công nghiệp hiện đại thành thị và nông thôn đều rất phát triển.Bên cạnh những ngành kinh tế hiện đại với khu công nghiệp tập trung quy mô lớn thì

ở các vùng thị trấn, thị tứ, làng xã ở nông thôn, một mạng lưới các cơ sở công nghiệpvừa và nhỏ đã được xây dựng và đặc biệt các cơ sở công nghiệp gia đình ở nông thôn,các hộ gia đình làm nghề thủ công được chú trọng phát triển Đây là cơ sở để hìnhthành và phát triển các làng nghề của Nhật Bản, với các nghề thủ công đa dạng vàphong phú Sự phát triển các làng nghề ở Nhật Bản đã góp phần giải quyết việc làmcho một bộ phận nông dân lúc nhàn rỗi và các thợ thủ công chuyên nghiệp, làm ramột khối lượng đáng kể hàng tiêu dùng và một số tư liệu sản xuất: nghề đan lát, dệtlụa, loại công cụ cầm tay, chế biến lương thực thực phẩm

Sự phát triển của các làng nghề tuy không phải là rộng khắp ở các vùng nôngthôn Nhật Bản, song lợi ích mà nó đạt được đã có những tác động quan trọng tới sựphát triển kinh tế, xã hội nông thôn Nhật Bản Năm 1993, các nghề thủ công và cáclàng nghề đã đạt giá trị sản lượng tới 8,1 tỷ USD, đồng thời thu nhập từ các nghề nàycũng được tăng lên

Sự phát triển của làng nghề ở Nhật Bản đã làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế từthuần nông sang phi nông nghiệp Số hộ thuần nông giảm từ 50% (1950) xuống còn12% (1990), số hộ kiêm tăng từ 50% (1950) lên tới 80% (1990) Thu nhập của các hộcũng có sự thay đổi mạnh: thu nhập của hộ từ nông nghiệp giảm từ 79% (1950) xuốngcòn 16% (1990) và thu nhập của hộ ngoài nông nghiệp tăng từ 29% (1950) đến 84%(1990) [3] Như vậy, sự phát triển của làng nghề đã có tác động tích cực tới kinh tếnông thôn Nhật Bản nói riêng và kinh tế quốc tế nói chung

Nhật Bản từ một nước tiêu thụ hàng loạt và vứt bỏ hàng loạt các sản phẩm cũng đãxúc tiến những biện pháp để thực hiện tái chế nhựa với ý tưởng vứt đi là uổng phí, táichế là sinh lợi Bắt đầu từ năm 1990, Nhật Bản đã thay đổi cùng với việc thông quamột số đạo luật như Luật xúc tiến việc sử dụng những nguồn tài nguyên có thể tái chếnăm 1991, Luật cơ bản về môi trường năm 1993 và Luật xúc tiến việc thu gom, phân

Trang 23

Bảng 2.1: Cơ cấu kinh tế và cơ cấu thu nhập của hộ nông dân Nhật Bản từ

1950 - 1990

n v : %Đơn vị: % ị: %Loại hộ và loại thu nhập 1950 1960 1970 1980 1990

Tỷ lệ số hộ thuần nông 50,0 34,0 15,6 13,0 12,0

Tỷ lệ thu nhập của hộ từ nông nghiệp 79,0 54,0 33,0 18,0 16,0

Tỷ lệ thu nhập của hộ từ phi nông nghịêp 29,0 46,0 67,0 82,0 84,0

Nguồn: Nguyễn Điền, "công nghiệp hoá nông thôn Nhật Bản" [2]

loại và tái chế bao bì vào năm 1995 Thêm vào đó Luật về việc thải rác và vệ sinh

công cộng được tu chỉnh vào năm 1991 và được tu chỉnh lại vào năm 1997 Những

biện pháp này đã góp phần phát triển hệ thống tái chế vật dụng và rác thải của NhậtBản Họ đã tìm ra trong đống phế thải những nguyên liệu quý giá có thể tái chế sửdụng làm sợi polyeste và nhựa tổng hợp để chế tạo ra nhiều hàng hoá phong phú như

từ nhựa chế tạo thành thảm, làm túi xách, thú nhồi bông, mũ thể thao, khăn trải bàn,bút bi [22] Đến đầu những năm 2000, Bộ Kinh tế - Thương mại - Công nghiệp NhậtBản (METI), Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA), Tổ chức Xúc tiến ngoạithương Nhật Bản (JETRO) phối hợp triển khai một kế hoạch chung về phát triểnphong trào “Mỗi làng Một sản phẩm” Ba cơ quan này cũng là đầu mối tăng cườnghợp tác và quảng bá phong trào này ra nước ngoài, đặc biệt là các nước đang pháttriển [30]

2.2.2 Tình hình phát triển làng nghề ở Việt Nam

2.2.2.1 Thời kỳ trước đổi mới (trước năm 1986)

Các làng nghề ở nước ta đã phát triển rất đa dạng và phong phú Hầu hết cáclàng nghề được gắn với tên làng, tên xã ở nông thôn Việt Nam như gốm Bát Tràng,tranh Đông Hồ, chiếu Nga Sơn, lụa Vạn Phúc Với hàng trăm mặt hàng thủ công đặcsắc của Việt Nam đã thể hiện rõ sự tài năng, trí thông minh sáng tạo trong kỹ thuậttruyền thống của ông cha ta Nổi trội hơn cả là ngành dệt và sản xuất gốm sứ, pháttriển mạnh mẽ nhất ở các tỉnh: Hà Nội, Sơn Tây, Hưng Yên, Bắc Ninh, Hải Dương Lúc này các làng nghề có xu thế phát triển theo hướng tách khỏi nông nghiệp đểchuyên làm các nghề thủ công và thu hút số người tham gia từ 80 - 90%, chỉ còn 10 %dân số trong các làng tham gia làm ruộng [4] Các hàng thủ công mỹ nghệ đã đượcxuất khẩu ra nước ngoài, ở Đông Âu và Liên Xô cũ, điều này đã thúc đẩy các làng

Trang 24

nghề phát triển ngày một mạnh mẽ và rộng khắp ở miền Bắc Quy mô trung bình củacác hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp ở miền Bắc có hàng trăm xã viên, có nơi lên tớihàng nghìn người, nhiều hợp tác xã được tập thể hoá hoàn toàn và phát triển thành xínghiệp quốc doanh địa phương Năm 1975, toàn miền Bắc có 4000 đơn vị sản xuấtthủ công nghiệp tập trung với hơn 800000 lao động, giá trị sản lượng tiểu thủ côngnghiệp toàn quốc năm 1979 đạt 27080,9 triệu đồng (giá cố định năm 1970), chiếm31,4% sản lượng công nghiệp toàn quốc [5]

2.2.2.2 Thời kỳ từ năm 1986 cho đến nay

* Giai đoạn từ 1986 - 1992: Đây là giai đoạn quan trọng của làng nghề Giai

đoạn này được đánh dấu bằng bước ngoặt chuyển đổi từ cơ chế quản lý bao cấp sang

cơ chế thị trường có sự quản lý vĩ mô của Nhà nước Các chính sách đổi mới quản lýtrong nông nghiệp và chính sách phát triển các thành phần kinh tế đã có tác động trựctiếp và mạnh mẽ đến sự phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn nói chung và làngnghề nói riêng

Trong giai đoạn này nhiều làng nghề truyền thống được khôi phục và pháttriển, trong mỗi làng nghề quy mô sản xuất được mở rộng, đầu tư về vốn, kỹ thuậtđược tăng cường Đặc biệt đã hình thành nhiều cơ sở sản xuất kinh doanh, sản lượngsản phẩm ngày càng lớn, giá trị kim ngạch xuất khẩu ngày càng tăng, thu hút một sốlượng lớn lao động chuyên và không chuyên nghiệp vào quá trình sản xuất và dịch vụsản xuất Trong giai đoạn này một số làng nghề điển hình có tốc độ khôi phục vàphát triển khá nhanh như gốm sứ Bát Tràng (Hà Nội), gốm sứ Đồng Nai, chạm khảmđiêu khắc ở Hà Tây

Các sản phẩm truyền thống của các làng nghề Việt Nam đã có thị trường tiêuthụ tương đối ổn định ở Đông Âu, Liên Xô cũ Chính sự ổn định này đã cho phép cáclàng nghề duy trì được sự phát triển và thu hoạch được những nguồn thu đáng kể từcác sản phẩm xuất khẩu Năm 1996 kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ đạtgiá trị cao trên 46 triệu rúp Ở nhiều địa phương việc phát triển làng nghề đã thu hút

và giải quyết việc làm cho nhiều lao động, đồng thời làm tăng nhanh sản phẩm phục

vụ cho tiêu dùng và xuất khẩu Làng nghề Đồng Xâm (Thái Bình), chỉ riêng hợp tác

xã Việt Hồng năm 1987 giá trị tổng sản lượng đã đạt hơn 7 tỷ đồng, gấp 10 lần so với

Trang 25

năm 1981 Tỉnh Hà Tây, trong những năm 1988 - 1990 các làng nghề truyền thống đãđưa kim ngạch xuất khẩu của tỉnh lên mức 8,6 - 12,6 triệu rúp/năm Tuy nhiên sự pháttriển trên không duy trì được lâu do bị ảnh hưởng trực tiếp của những biến động vềchính trị - xã hội trên thế giới Sự sụp đổ của các nước XHCN Đông Âu và Liên Xô

cũ vào đầu những năm 90 đã làm cho thị trường tiêu thụ hàng xuất khẩu chủ yếu gầnnhư không còn nữa Trước những khó khăn lớn, sản xuất ở nhiều làng nghề bị đìnhtrệ, sa sút thậm chí bế tắc Thu nhập và đời sống của người làm nghề giảm rất nhanh

do việc làm ít hoặc không có việc làm Lực lượng lao động tại các làng nghề bị giảmmạnh

Giai đoạn 1993 đến nay: Khi thị trường Đông Âu và Liên Xô cũ không còn,

sản xuất ở các làng nghề truyền thống thực sự lâm vào tình trạng khủng hoảng Sốngười lao động không có việc làm tăng lên rất nhanh, nhiều người quay lại với sảnxuất nông nghiệp Tuy nhiên, tình trạng này kéo dài không lâu Một hướng đi mới cho

sự phát triển của làng nghề dần được xác lập do bước đầu đã tìm kiếm được thị trườngcác nước trong khu vực châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan là thị trườngtiêu thụ tương đối lớn cho hàng thủ công mỹ nghệ

Nghị quyết TW V của Đảng (tháng 6/1993) về tiếp tục đổi mới nông nghiệpnông thôn, với trọng tâm là chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn đã mở ra thời kỳmới để khôi phục các ngành nghề truyền thống Nhiều địa phương có làng nghềtruyền thống đã chủ động tìm kiếm thị trường mới, tổ chức sản xuất và khôi phục lạicác ngành nghề truyền thống Từ năm 1993 trở lại đây, đã có khá nhiều ngành nghề

và làng nghề truyền thống được khôi phục và phát triển Ví dụ như làng nghề chạmbạc Đồng Xâm (Thái Bình), làng nghề thêu Quất Động (Hà Tây) Cũng trong thờigian này, trước nhu cầu đòi hỏi của thị trường và giải quyết việc làm trong nông thôn,nhiều làng nghề mới xuất hiện Các làng nghề mới này có thể làm nghề của làng nghềtruyền thống, như làng nghề gốm Xuân Quan được hình thành và phát triển từ sự dunhập nghề gốm Bát Tràng, nhưng cũng có nhiều làng làm nghề mới bằng các côngnghệ cổ truyền hoặc hiện đại như làng nghề Đồng Kỵ trước đây chuyên sản xuất pháonay chuyển hoàn toàn sang sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ [1]

Trang 26

Đầu năm 2006, khi Chương trình "Mỗi làng một nghề" của Bộ Nông nghiệp vàPTNT được xúc tiến thì cả nước đã có trên 2000 làng nghề, thu hút hơn 11 triệu laođộng, có 40% sản phẩm từ các làng nghề được xuất khẩu sang khoảng 100 nước trênthế giới, đem về cho đất nước hơn nửa tỉ Mỹ kim Dự kiến sau 10 năm thực hiện(2006 - 2015) sẽ xây dựng trên cả nước thêm 1.000 làng nghề đúng tiêu chuẩn: có ítnhất 30% số hộ hoặc lao động trong làng tham gia làm nghề Chương trình "Mỗi làngmột nghề" cũng đã được thực hiện khá thành công ở Nhật Bản và đang được nhânrộng ra nhiều quốc gia trên thế giới Với Chương trình mỗi làng một nghề bộ mặtnông thôn Việt Nam sẽ nhanh chóng thay đổi, kim ngạch xuất khẩu hàng hoá từ cáclàng nghề sẽ tăng mạnh, góp phần nâng cao đời sống những người nông dân - nghệnhân thời đổi mới và hội nhập [30]

Trang 27

PHẦN III ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG

PHÁP NGHIÊN CỨU3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

3.1.1 Điều kiện tự nhiên của thôn Trại Mới

và phát triển kinh tế xã hội Thôn Trại Mới có vị trí địa lý sau:

Phía Bắc giáp thôn Trại Sen;

Phía Đông giáp thôn Núi Đá;

Phía Tây giáp thôn Trại Thượng;

Phía Nam giáp thôn Kiệt thượng và thôn Kiệt Đoài

Không những vậy, thôn Trại Mới còn nằm gần vùng nguyên liệu phục vụ choviệc sản xuất của làng như gần vùng núi đá vôi Kinh Môn, gần Nhà máy Nhiệt điệnPhả Lại, gần xã Cộng Hoà do vậy cũng rất thuận lợi cho việc cung cấp nguyên vậtliệu cho quá trình sản xuất

3.1.1.2 Điều kiện thời tiết khí hậu

Thôn Trại Mới nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, nên mang đặc trưng của tínhchất khí hậu nhiệt đới gió mùa của vùng đồng bằng Bắc Bộ với hai mùa rõ rệt Mùakhô từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 9

Nhiệt độ trung bình năm từ 22 - 23oC

Trang 28

Bão lụt thường xảy ra vào các tháng 8; 9; 10 và gây ảnh hưởng xấu tới các hoạtđộng sản xuất toàn thôn.

1.1.3 Địa hình thổ nhưỡng

Thôn Trại Mới nằm trong vùng đồng bằng phía nam của xã Văn An nên địahình của thôn cũng khá bằng phẳng Mặt khác, thôn Trại Mới có dòng kênh thải củanhà máy Nhiệt điện Phả Lại chạy qua nên việc tưới tiêu phục vụ cho sản xuất nôngnghiệp của thôn cũng khá thuận lợi

Tuy nhiên, đất đai của thôn do được hình thành từ đất phù sa cũ của hệ thốngsống Thái Bình, do nhiều lần vỡ đê lụt lội cổ xưa tạo thành, nên chủ yếu là đất bạcmàu, nghèo dinh dưỡng

3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội của thôn Trại Mới

3.1.2.1 Tình hình phân bố và sử dụng đất đai

Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế, nó là nhân tố quan trọng

để tiến hành sản xuất Mỗi một vùng địa lý khác nhau thì đất đai lại có tính chất khácnhau phù hợp với từng loại cây trồng khác nhau Mặt khác, diện tích đất đai thì có hạn

mà dân số ngày càng đông cùng với quá trình đô thị hoá, diện tích đất nông nghiệpngày càng bị thu hẹp Vì vậy trong sử dụng đất đai cần sử dụng một cách đầy đủ, hợp

lý, đem lại hiệu quả cao

Thôn Trại Mới nằm trong vùng đồng bằng phía nam của xã và có con kênh thảicủa nhà mày Nhiệt điện Phả Lại chạy qua nên việc tưới tiêu phục vụ cho sản xuấtnông nghiệp của thôn là khá thuận lợi Tuy nhiên do diện tích nhỏ hẹp, cả thôn mới có22,9 Ha, trong đó: diện tích đất thổ cư là 4,4 Ha và đất canh tác là 18,5 Ha; trung bìnhmỗi khẩu chỉ có 600 m2 (0.06 Ha) đất canh tác, nên toàn bộ diện tích đất canh tác củathôn được người dân sử dụng hết cho việc trồng lúa, nhằm cung cấp lương thực chongười dân Cũng không có gì làm lạ khi trong thôn không có lấy một hộ có thể triểnkhai thực hiện mô hình VAC trong việc sản xuất nông nghiệp của gia đình bởi diệntích chật hẹp, tính trung bình mỗi hộ chỉ có 400 m2 (0,04 Ha) diện tích đất thổ cư, điềunày cho thấy việc phát triển nghề phụ để giúp người dân tăng thu nhập, cải thiện đờisống là việc làm hết sức cần thiết

Trang 29

Qua bảng 3.1 ta thấy, tình hình dân số của thôn Trại Mới qua 3 năm từ

2007 - 2009 là khá ổn định Tỷ lệ gia tăng dân số của thôn là không cao, cóđược kết quả này là nhờ hoạt động có hiệu quả của công tác kế hoạch hoá giađình của địa phương Tỷ lệ người ăn theo một lao động đang có xu hướng giảm,điều này cho thấy một kết cấu dân số trẻ đang dần được hình thành ở thôn, vàđây là một tín hiệu đáng mừng bởi kết cấu dân số trẻ là nguồn lao động dồi dào

và là nguồn lực chính thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của địa phương

Tổng số hộ của thôn tăng qua 3 năm là do sự tách hộ Mặc dù mức độ tăng

là không lớn tuy nhiên qua bảng 3.1 ta cũng thấy: tỷ lệ số lao động/hộ và sốnhân khẩu/hộ lại có xu hướng giảm, trong khi đó số hộ và lao động tham giavào làm nghề là không tăng Đây là một điều đáng lo ngại bởi tỷ lệ số lao động/

hộ giảm sẽ là nguy cơ dẫn đến sự trì trệ trong phát triển kinh tế - xã hội của địaphương

Nhìn chung, tốc độ tăng dân số, sự biến đổi về cơ cấu lao động của thônvẫn đang ở mức trung bình, để duy trì được mức độ tăng dân số mà vẫn pháttriển được kinh tế - xã hội trong những năm tới thì thôn cần phải có những biệnpháp, phương hướng cụ thể trong việc nâng cao nhận thức cho người dân

Trang 30

Bảng 3.1: Tình hình nhân khẩu và lao động của thôn từ 2007 - 2009

Khẩu tham gia làm nghề Người 138 39,43 140 39,44 140 38,89 101,45 100,00 100,72

Nguồn: Số liệu quản lý của Chính quyền thôn Trại Mới

Trang 31

3.1.2.3 Cơ sở hạ tầng

Cơ sở hạ tầng là thước đo để đánh giá sự phát triển kinh tế - xã hội, vì vậy khitiến hành điều tra về kinh tế của một địa phương hay vùng miền nào đó, ta chỉ cầnnhìn vào cơ sở hạ tầng sẽ đánh giá được phần nào sự phát triển kinh tế - xã hội của địaphương đó Cơ sở hạ tầng của địa phương mà tốt thì điều đó chứng tỏ phần nào nhậnthức của người cán bộ cũng như người dân địa phương về vai trò và tầm quan trọngcủa nó

Thôn Trại Mới là địa bàn của hai trung tâm giáo dục đó là trường tiểu học vàtrung học cơ sở xã Văn An, do vậy, hệ thống giao thông của thôn rất thuận lợi choviệc đi lại Năm 2005, thôn đã trải được 550 m đường bê tông kiên cố, 1700 m đường

xỉ từ nguyên liệu sản xuất của làng, phục vụ giao thông cho việc đi lại, chuyên chởhàng hoá và tiêu thụ sản phẩm Đến nay, thôn đã nâng cấp trải vật liệu cứng đườnglàng ngõ xóm được 96%, trong đó 60% được trải bê tông

Hiện nay, các hộ trong thôn đều có phương tiện nghe nhìn, 100% các hộ đượcdùng nước hợp vệ sinh và điện sinh hoạt, 62,7% nhà mái bằng cao tầng, 37,3% nhàxây lợp ngói Thôn Trại Mới cũng đã có nhà văn hoá, có sân thể thao và sân khấu vănnghệ, là trung tâm hội họp và sinh hoạt văn hoá văn nghệ của làng Có thể nói thôn có

hệ thống cơ sở hạ tầng khá khang trang và đầy đủ Đây cũng chính là một điều kiệnthuân lợi cho việc phát triển kinh tế - xã hội của thôn [12]

3.2 Phương pháp nghiên cứu

3.2.1 Phương pháp thu thập thông tin (số liệu)

3.2.1.1 Phương pháp thu thập thông tin (số liệu) thứ cấp

Thông tin thứ cấp được thu thập từ các nguồn sau:

Cở sở lý luận và cơ sở thực tiễn

Đặc điểm địa bàn nghiên cứu Kết quả tổng hợp của cán bộ

thôn, xã

Trang 32

3.2.1.2 Phương pháp thu thập thông tin (số liệu) sơ cấp

Để thu thập được thông tin sơ cấp cho đề tài tôi sử dụng các phương pháp thuthập thông tin sau:

* Phương pháp phỏng vấn người dân và cán bộ: Thông qua việc phỏng vấn

những cán bộ và những người dân trong thôn ta có thể kiểm tra chéo mức độ tin cậycủa thông tin mà những người được phỏng vấn cung cấp Đó là những thông tin vềquá trình hình thành làng nghề, tình hình sản xuất của làng nghề (hình thức sản xuất,kết quả sản xuất, số lao động tham gia sản xuất )

* Phương pháp điều tra bảng hỏi: Bảng hỏi được thiết kế với những nội dung

liên quan đến việc tìm hiểu tình hình sản xuất của làng nghề (hình thức sản xuất của

hộ, số lao động tham gia sản xuất của hộ, ), tác động của việc sản xuất và phát triểnlàng nghề đến kinh tế - xã hội - môi trường của địa phương (bao gồm cả tác động tíchcực và tiêu cực)

* Phương pháp thảo luận nhóm: Thành lập một nhóm từ 5 đến 7 người dân

trong thôn, gồm cả những người đang tham gia sản xuất vôi sống và không tham giasản xuất vôi sống Sau đó đưa ra vấn đề và đặt câu hỏi để cho nhóm người tự thảoluận với nhau Thông qua quá trình thảo luận của nhóm người dân này ta sẽ thu thậpđược một số thông tin về tác động của việc sản xuất và phát triển của làng nghề đếnkinh tế - xã hội - môi trường của địa phương, đồng thời thông qua việc thảo luận củanhóm này ta cũng sẽ thu thập được một số thông tin về các nhân tố có ảnh hưởng tớihoạt động sản xuất của làng nghề

* Sơ đồ VENN: Sử dụng sơ đồ VENN để tìm hiểu những nhân tố ảnh hưởng

đến hoạt động sản xuất vôi sống của làng nghề Thực chất đây là sơ đồ thể hiện mốiquan hệ ảnh hưởng của các nhân tố (vốn, lao động, thị trường ) đến hoạt động sảnxuất của làng nghề Để tiến hành thu thập thông tin bằng phương pháp này cần thànhlập một nhóm từ 5 đến 7 người dân đang tham gia sản xuất vôi sống ở trong thôn, cần

có giấy, bút, kéo Sau đó đưa ra vấn đề và đặt câu hỏi để người dân thảo luận và đưa

ra kết luận cuối cùng

Trang 33

3.2.2 Phương pháp tổng hợp và xử lý thông tin

Những thông tin thu thập được sẽ được tổng hợp, xử lý bằng phần mềm Excel

và kết quả được trình bày trên trang bản Word

3.2.3 Phương pháp phân tích thông tin

3.2.3.1 Phương pháp thống kê mô tả

Phương pháp này được sử dụng để mô tả, chụp lại các hiện tượng trong quátrình sản xuất của các hộ Sử dụng các số tuyệt đối, số tương đối để xác định sự biếnđộng của hiện tượng kinh tế - xã hội trong một thời gian, không gian nhất định đểphân tích, đánh giá thực trạng phát triển của các hộ tham gia sản xuất vôi sống nóiriêng và của làng nghề nói chung

3.2.3.2 Phương pháp so sánh

Phương pháp so sánh là phương pháp được sử dụng phổ biến và cơ bản nhấttrong nghiên cứu kinh tế Đề tài sử dụng phương pháp so sánh để tìm ra mối quan hệgiữa các sự vật, hiện tượng Điều kiện sản xuất, kết quả và hiệu quả của quá trình sảnxuất được tính toán, lượng hóa, sau đó được so sánh trong khoảng thời gian, khônggian nhất định, có thể được so sánh với các vùng cùng sản xuất vôi sống khác trên đấtnước để từ đó làm cơ sở để đánh giá và kết luận

3.2.3.3 Phương pháp phân tích SWOT

Phương pháp phân tích SWOT là một công cụ được sử dụng nhiều trong phântích các hiện tượng dưới dạng định tính - xã hội Phương pháp này dùng để phân tíchmột hiện tượng dưới quan điểm hệ thống từ bên trong (S, W) ra bên ngoài (O, T) hayđồng thời kết hợp cả trong và ngoài Đề tài sử dụng phương pháp phân tích SWOT đểtìm hiểu những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của làng nghề trong quátrình phát triển Từ đó, kết hợp với kết quả sản xuất và nghiên cứu về làng nghề ta cóthể đề xuất ra những giải pháp phù hợp cho làng nghề, giúp làng nghề có thể pháttriển bền vững Khi tiến hành cần thành lập một nhóm từ 5 đến 7 người dân trong thônđang tham gia sản xuất vôi sống, cần có giấy, bút Sau đó đưa ra vấn đề và đặt câuhỏi để người dân tự thảo luận và trả lời

Trang 34

3.2.4 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu

* Nhóm chỉ tiêu chung phản ánh tình hình sản xuất và phát triển của làng nghề

- Số hộ tham gia sản xuất vôi sống;

- Số lao động tham gia vào sản xuất vôi sống;

- Diện tích đất sử dụng cho sản xuất của các hộ;

- Số máy móc phục vụ sản xuất;

-

* Nhóm chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất

- Giá trị sản xuất (GO): Là toàn bộ giá trị bằng tiền của các loại sản phẩm sảnxuất ra trong một đơn vị thời gian

i n

i i Q P

GO (i=0 ,n)Trong đó: Pi: Giá trị sản phẩm loại i

- Lợi nhuận (TPr) = Tổng doanh thu - Tổng chi phí

* Nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sản xuất

- Go/TC: Chỉ số này cho biết các hộ thu được bao nhiêu đồng giá trị sản xuấtkhi bỏ ra một đồng chi phí;

- TR/TC: Chỉ số này cho biết các hộ đạt được bao nhiêu đồng doanh thu khi bỏ

Trang 35

PHẦN IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN4.1 Thực trạng sản xuất vôi sống ở thôn Trại Mới

4.1.1 Quá trình hình thành và phát triển làng nghề sản xuất vôi sống ở thôn Trại Mới

Năm 1962 thực hiện chủ trương dãn dân của xã Văn An, thôn Trại Mới đượcthành lập trên cơ sở tách ra từ thôn Kiệt Đoài Ban đầu cả thôn chỉ có 18 hộ vớikhoảng 80 nhân khẩu nên mọi hoạt động sinh hoạt vẫn chung với cơ sở Kiệt Đoài

Sau trận lũ lịch sử năm 1971 nhiều hộ gia đình sống tại thôn Kiệt Đoài do thiêntai nhà cửa bị lũ cuốn mất đã chuyển đến cơ sở, tăng số hộ lên 49 hộ và 170 nhânkhẩu Đủ điều kiện thành lập làng mới có chi bộ và chính quyền riêng

Với những khó khăn của cơ sở mới thành lập, đất đai bạc màu, người dân chủyếu làm nông nghiệp, không có thu nhập thêm, tất cả đều trong chờ vào cây lúa nêntrong thập niên 80 trở về trước, cuộc sống của nhân dân trong thôn gặp rất nhiều khókhăn, 80% số hộ gia đình thiếu ăn phải đi vay chạy, ăn độn qua ngày chờ đến vụ thuhoạch Nhà cửa chủ yếu là tranh tre vách đất Lao động trong thôn phải đi làm thuêlàm mướn các nơi

Từ những năm 90 sau khi nhà máy Nhiệt điện Phả Lại đi vào hoạt động, tậndụng lượng xỉ than dư thừa của nhà máy thải ra con mương thuỷ nông chạy qua cơ sở.Với những con người cần cù chịu khó và giàu trí sáng tạo, một số hộ đã học hỏi kinhnghiệm thực tiễn các nơi, dùng lượng xỉ than thải đưa vào thử nghiệm trong sinh hoạtcuộc sống hàng ngày Qua thực tế thí điểm từ việc phục vụ trong gia đình, đúc rútnhiều kinh nghiệm, tiếp tục thử nghiệm vào việc sản xuất ra vôi, lượng xỉ vôi dư thừa,các hộ đã tận dụng tạo ra sản phẩm gạch không nung có chất lượng phục vụ xây dựngkiến thiết cho gia đình và xã hội

Ban đầu do còn ít kinh nghiệm trong việc sản xuất kinh doanh, các hộ làmnghề còn ít, lao động và công cụ còn thô sơ, chủ yếu làm bằng thủ công, không tậndụng được hết vật liệu trong quá trình sản xuất, phương tiện vận chuyển còn nhỏ vàhạn chế, hoàn toàn bằng thủ công, số lượng vận chuyển ít, sản phẩm ra gạch còn thấp,mỗi lao động đóng gạch chỉ đạt 200 viên/ngày, chất lượng còn kém, khó tiêu thụ, nên

Trang 36

sản phẩm của cơ sở chủ yếu phục vụ trong các xã lân cận Nguyên liệu sản xuất cònphụ thuộc vào bến bãi, chuyên chở nên không chủ động được việc sản xuất.

Sau nhiều lần sản xuất, người dân đã tự đúc rút ra nhưng kinh nghiệm sản xuất,các hộ khác trong thôn nhận thấy đây là con đường để giúp họ thoát khỏi nghèo đói,rồi họ học hỏi những hộ đã làm trước và rồi từ 5 hộ đến 20 hộ và được nhân rộngtrong toàn cơ sở, các sản phẩm làm ra có chất lượng được người tiêu dùng chấp nhận.Qua bao thăng trầm của làng nghề đến năm 2007, thôn đã có 80% các hộ gia đình trựctiếp tham gia sản xuất, nhiều hộ gia đình trong cơ sở đã mạnh dạn đầu tư mở rộng sảnxuất, trang bị máy móc phát triển sản xuất, từ chỗ đóng gạch thủ công nay đã thay thếhoàn toàn bằng máy móc, tạo ra sản phẩm có chất lượng cao, số lượng được nâng lêngấp 2 lần so với thủ công Bình quân một lao động đứng máy có thể đạt 500viên/ngày, số lượng gạch ra hàng ngày trong lò đạt từ 20000 - 25000 viên Tạo điềukiện giải quyết công ăn việc làm cho gia đình, tăng thu nhập đồng thời tạo việc làmcho gần 100 nhân công các thôn khác đến làm việc, chất lượng và số lượng sản phẩmngày càng được đảm bảo, được người tiêu dùng chấp nhận Mỗi ngày có hàng chụcchuyến xe ra vào thôn để lấy hàng chuyên chở đi các nơi tiêu thụ Sản phẩm được các

tư thương đưa đi tiêu thụ ở nhiều huyện và các tỉnh lân cận như Quảng Ninh, HảiPhòng, Bắc Giang, Bắc Ninh

Cùng với sự chỉ đạo của UBND xã và các cấp ban ngành đoàn thể chăm lo tạođiều kiện cho nhân dân trong cơ sở phát triển ngành nghề phụ nhằm tăng thu nhập,giải quyết công ăn việc làm, xoá đói giảm nghèo Đây là chủ trương của Đảng khuyếnkhích các tổ chức, cá nhân tham gia phát triển ngành nghề góp phần giải quyết cho laođộng tại địa phương, sự quan tâm của các cấp là nguồn động viên đến mọi gia đình,lao động trong thôn không phải đi làm thuê xa Năm 2007 thôn Trại Mới đã vinh dựđược đón bằng chứng nhận làng nghề do UBND tỉnh Hải Dương ký duyệt

Do yêu cầu về môi trường, việc sản xuất vôi của người dân ban đầu so với hiệntại giảm đáng kể (từ 77,78% năm 2007 xuống 63,64% năm 2009), hiện nay các hộchủ yếu tập trung vào việc sản xuất gạch nhờ lượng lớn vôi xỉ từ lô chuyền của MạoKhê, Kinh Môn và Đông Triều được chuyển về Việc làm này không những hạn chế

Trang 37

được sự ô nhiễm môi trường mà người dân vẫn đảm bảo cung cấp đủ số lượng chocác tư thương, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm

Từ khi phát triển làng nghề, người dân có thu nhập thêm, công ăn việc làm ổnđịnh, các chủ trương chính sách pháp luật của Nhà nước được toàn dân trong cơ sởchấp hành nghiêm chỉnh, cơ cấu kinh tế trong thôn đang được chuyển dịch từ tăng tỷtrọng của công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng của ngành nôngnghiệp Tuy nhiên, việc sản xuất vôi và gạch không nung từ lượng xỉ than dư thừa làmột việc làm nặng nhọc, gây ô nhiễm môi trường và có khả năng gây ra các căn bệnhcho những người lao động như các bệnh ngoài da, ung thư, đường hô hấp Bởi vậy,những người lao động cần phải được trang bị dụng cụ và đồ bảo hộ lao động đầy đủ.Làng nghề cần có sự quan tâm và chỉ đạo của các cấp có thẩm quyền để làng nghề cóthể phát triển một cách bền vững [11]

4.1.2 Tình hình sản xuất vôi sống của làng nghề

4.1.2.1 Tình hình tổ chức sản xuất vôi sống của làng nghề

4.1.2.1.1 Hình thức tổ chức sản xuất vôi sống của làng nghề

Trước đây cũng như các thôn khác trong xã, người dân thôn Trại Mới cũng chỉsản xuất nông nghiệp mang tính thuần nông, tự cấp tự túc Do nhu cầu về việc làm vàthu nhập từ nghề nông thấp, cuộc sống gặp nhiều khó khăn nên người dân trong thôn

đã lấy xỉ than trên con mương thuỷ nông chạy qua cơ sở, do nhà máy Nhiệt điện PhảLại thải ra, để sản xuất vôi và đóng gạch Ban đầu chỉ có vài hộ tham gia sản xuất,nhưng dần dà người dân nhận thấy lợi ích từ việc sản xuất vôi nên đã được nhân rộng

ra cả thôn Vì việc sản xuất vôi không cần nhiều lao động, mỗi hộ đều có thể tự lập lòriêng, tự sản xuất và tự tìm đầu ra cho sản phẩm của mình một cách dễ dàng, do vậyđến nay, hình thức sản xuất ở thôn vẫn chỉ dừng lại ở quy mô hộ gia đình, cùng lắm làhình thức "kết thân" giữa chủ hộ sản xuất với những tư thương để bao tiêu đầu ra chochủ hộ, ngoài ra không có một hình thức tổ chức nào khác như tổ hợp tác hayHTX Tất cả các hộ tham gia sản xuất đều là những hộ kiêm, họ vừa sản xuất nôngnghiệp để đáp ứng nhu cầu lương thực của gia đình, vừa tham gia sản xuất vôi sống

để có thêm thu nhập Sự hạn chế về loại hình tổ chức sản xuất, đặc biệt là những tổchức sản xuất có quy mô lớn như các cơ sở sản xuất, HTX, cho thấy việc sản xuất của

Trang 38

những người dân nơi đây vẫn còn nhỏ lẻ, manh mún và mang tính tự phát cao Sự nhỏ

lẻ và manh mún sẽ dẫn tới sự lạc hậu trong việc đầu tư trang thiết bị và cơ sở vật chất

kỹ thuật, thiếu sự đồng bộ và khó khăn trong việc quy hoạch sản xuất

4.1.2.1.2 Tình hình tổ chức sử dụng nguồn lực cho sản xuất vôi sống của làng nghề

* Tình hình sử dụng lao động

Việc sản xuất vôi sống của các hộ không có yêu cầu khắt khe đối với các laođộng và cũng không đòi hỏi phải có nhiều lao động cho một lò sản xuất Do vậy mànghề này luôn được người dân công nhận là nghề phụ của địa phương, vừa giúp ngườidân có thêm thu nhập đồng thời tạo thêm việc làm cho người dân trong những lúcnông nhàn Hoạt động sản xuất của làng nghề đã tạo công ăn việc làm cho hơn 70%lao động của địa phương và thu hút gần 100 lao động nhàn rỗi từ các thôn lân cận đếnlàm thuê, lượng lao động làm thuê của địa phương ngày càng nhiều khi nhu cầu về laođộng của một số hộ sản xuất tăng lên Nhìn vào bảng 4.1 ta thấy, mặc dù số lao động

tự có tham gia vào làm nghề là không có sự thay đổi qua các năm nhưng tổng số laođộng và số ngày công làm nghề đều tăng, đó là do sự tăng thêm của lao động làmthuê Có sự gia tăng này là do sự chuyển hướng sản xuất của một số hộ làm nghề.Trước kia, khi mới bắt đầu sản xuất thì các hộ thường sản xuất vôi và tận dụng xỉ vôi

để đóng gạch, sau một thời gian, khi đã có tích luỹ và nhận thấy những tác động tiêucực từ việc sản xuất vôi, một số hộ đã chuyển hướng sản xuất, không sản xuất vôi nữa

mà chỉ tập trung vào sản xuất gạch Do vậy, lượng lao động mà hộ cần thuê cũng tănglên và số ngày công lao động cũng tăng theo

Trong tổng số các hộ được điều tra, trung bình mỗi hộ có 2 lao động chínhtham gia làm nghề, số lao động của gia đình chiếm 56 - 57% trong tổng số lao độngcủa hộ, còn lại là lao động thuê ngoài chiếm 43 - 44% Việc thuê lao động nhiều hay

ít tuỳ thuộc vào tình hình và quy mô sản xuất của mỗi hộ, trung bình một tháng mỗi

hộ cần thuê khoảng 2 lao động, những lao động này chủ yếu được thuê để đóng gạchcay, xếp gạch lên kiêu hay bốc gạch lên xe cho tư thương Những lao động này đượccác chủ hộ thuê theo ngày với mức tiền công dao động từ 70000 - 90000 đồng/ngày.Các công việc như quai đá, đốt vôi, vào lò là do những lao động gia đình thực hiện,

Trang 39

Bảng 4.1 : Tình hình sử dụng lao động cho sản xuất vôi gạch của thôn Trại Mới từ 2007 - 2009

II TỔNG NGÀY CÔNG LÀM NGHỀ Ngày 320 100 327 100 336 100 102,19 102,75 102,47

Số ngày công thuê Ngày 140 43,75 144 44,04 150 44,64 102,86 104,17 103,51

Nguồn: Tổng hợp kết quả điều tra, 2010

Trang 40

những lao động gia đình chủ yếu là những chủ hộ, những người có trình độ văn hoáthấp và đã có tuổi (tầm tuổi 35 trở đi), còn những người trẻ tuổi (thanh niên từ 20 đến

35 tuổi) thì hầu như họ không tham gia vào làm nghề, mà chủ yếu là họ đi làm công

ty Điều này cho thấy một hướng đi mới của người dân nơi đây

* Tình hình sử dụng vốn

Vốn là nhân tố quan trọng trong quá trình sản xuất kinh doanh, là điều kiện đểđảm bảo sự hoạt động của các ngành nghề và quy mô sản xuất của các đơn vị sản xuấtkinh doanh Do công việc sản xuất là nhỏ lẻ, các hộ chủ yếu chỉ mua những công cụnhỏ và thô sơ, chi phí của nguyên liệu phục vụ cho sản xuất của các hộ là không lớn(trung bình để sản xuất được 5 tấn vôi chủ hộ chỉ cần một lượng vốn từ 5 triệu đến 7triệu đồng) nên nhu cầu về vốn của các hộ sản xuất vôi sống là không nhiều Quabảng 4.2 ta thấy, lượng vốn mà các hộ cần dùng là không lớn (từ 18 - 23 triệu đồng)trong đó vốn cố định chiếm phần lớn (từ 13 - 16 triệu đồng), lượng vốn cố định chỉđược sử dụng để mua máy móc và công cụ SX tuy nhiên lượng vốn cố định có thểgiảm xuống chỉ còn từ 4 - 7 triệu với những hộ không đầu tư mua máy nồng Do vậy,nguồn vốn của hộ chủ yếu là vốn tự có, phần vốn này là thu nhập từ hoạt động sảnxuất kinh doanh mà hộ tích luỹ được

Bảng 4.2: Tình hình đầu tư vốn tính bình quân/hộ sản xuất năm 2009

Chỉ tiêu Hộ SX cả vôi & gạch Hộ chỉ SX gạch

Nguồn: Tổng hợp kết quả điều tra, 2010

Mặt khác, khi hộ sản xuất ra vôi và gạch thành phẩm, bán hàng hộ lại có đượcnguồn vốn để quay vòng trong thời gian ngắn Hộ chỉ vay vốn trong những trường

Ngày đăng: 29/07/2016, 20:23

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1: Tình hình nhân khẩu và lao động của thôn từ 2007 - 2009 - Thực trạng và một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển bền vững làng nghề sản xuất vôi sống tại thôn trại mới,  xã văn an, thị xã chí linh, tỉnh hải dương
Bảng 3.1 Tình hình nhân khẩu và lao động của thôn từ 2007 - 2009 (Trang 30)
Bảng 4.1 : Tình hình sử dụng lao động cho sản xuất vôi gạch của thôn Trại Mới từ 2007 - 2009 - Thực trạng và một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển bền vững làng nghề sản xuất vôi sống tại thôn trại mới,  xã văn an, thị xã chí linh, tỉnh hải dương
Bảng 4.1 Tình hình sử dụng lao động cho sản xuất vôi gạch của thôn Trại Mới từ 2007 - 2009 (Trang 39)
Bảng 4.2: Tình hình đầu tư vốn tính bình quân/hộ sản xuất năm 2009 - Thực trạng và một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển bền vững làng nghề sản xuất vôi sống tại thôn trại mới,  xã văn an, thị xã chí linh, tỉnh hải dương
Bảng 4.2 Tình hình đầu tư vốn tính bình quân/hộ sản xuất năm 2009 (Trang 40)
Bảng 4.3: Tình hình sử dụng CSVC, trang thiết bị cho sản xuất của các hộ - Thực trạng và một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển bền vững làng nghề sản xuất vôi sống tại thôn trại mới,  xã văn an, thị xã chí linh, tỉnh hải dương
Bảng 4.3 Tình hình sử dụng CSVC, trang thiết bị cho sản xuất của các hộ (Trang 41)
Bảng 4.5: Chi phí sản xuất 5 tấn vôi sống của các hộ làm nghề - Thực trạng và một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển bền vững làng nghề sản xuất vôi sống tại thôn trại mới,  xã văn an, thị xã chí linh, tỉnh hải dương
Bảng 4.5 Chi phí sản xuất 5 tấn vôi sống của các hộ làm nghề (Trang 47)
Sơ đồ 4.1: Quá trình sản xuất gạch cay của người dân thôn Trại Mới - Thực trạng và một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển bền vững làng nghề sản xuất vôi sống tại thôn trại mới,  xã văn an, thị xã chí linh, tỉnh hải dương
Sơ đồ 4.1 Quá trình sản xuất gạch cay của người dân thôn Trại Mới (Trang 47)
Bảng 4.6: Chi phí  một lần sản xuất gạch cay của các hộ sản xuất vôi - Thực trạng và một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển bền vững làng nghề sản xuất vôi sống tại thôn trại mới,  xã văn an, thị xã chí linh, tỉnh hải dương
Bảng 4.6 Chi phí một lần sản xuất gạch cay của các hộ sản xuất vôi (Trang 48)
Bảng 4.8: Kết quả sản xuất trong một tháng của làng nghề - Thực trạng và một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển bền vững làng nghề sản xuất vôi sống tại thôn trại mới,  xã văn an, thị xã chí linh, tỉnh hải dương
Bảng 4.8 Kết quả sản xuất trong một tháng của làng nghề (Trang 50)
Sơ đồ 4.3: Sự ảnh hưởng của các yếu tố tới hoạt động sản xuất vôi và gạch - Thực trạng và một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển bền vững làng nghề sản xuất vôi sống tại thôn trại mới,  xã văn an, thị xã chí linh, tỉnh hải dương
Sơ đồ 4.3 Sự ảnh hưởng của các yếu tố tới hoạt động sản xuất vôi và gạch (Trang 55)
Bảng 4.10: Tác động và ảnh hưởng của các yếu tố đến hoạt động SX vôi & gạch - Thực trạng và một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển bền vững làng nghề sản xuất vôi sống tại thôn trại mới,  xã văn an, thị xã chí linh, tỉnh hải dương
Bảng 4.10 Tác động và ảnh hưởng của các yếu tố đến hoạt động SX vôi & gạch (Trang 56)
Đồ thị 4.2: Cơ cấu giá trị sản xuất của nghề vôi & gạch trong tổng giá trị - Thực trạng và một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển bền vững làng nghề sản xuất vôi sống tại thôn trại mới,  xã văn an, thị xã chí linh, tỉnh hải dương
th ị 4.2: Cơ cấu giá trị sản xuất của nghề vôi & gạch trong tổng giá trị (Trang 62)
Đồ thị 4.2: Tải lượng các chất ô nhiễm do hoạt động ngành nghề vật liệu - Thực trạng và một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển bền vững làng nghề sản xuất vôi sống tại thôn trại mới,  xã văn an, thị xã chí linh, tỉnh hải dương
th ị 4.2: Tải lượng các chất ô nhiễm do hoạt động ngành nghề vật liệu (Trang 64)
Đồ thị 4.3: Kết quả điều tra tình hình mặc bệnh của người dân thôn Trại Mới - Thực trạng và một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển bền vững làng nghề sản xuất vôi sống tại thôn trại mới,  xã văn an, thị xã chí linh, tỉnh hải dương
th ị 4.3: Kết quả điều tra tình hình mặc bệnh của người dân thôn Trại Mới (Trang 65)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w