SỰ CẦN THIẾT PHẢI XÂY DỰNG ĐỀ ÁN Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, nông nghiệp, nông thôn Nghệ An đã đạt được nhiều thành tựu khá toàn diện và to lớn, như: Tốc độ tăng trưởngkhá cao
Trang 1ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
I SỰ CẦN THIẾT PHẢI XÂY DỰNG ĐỀ ÁN 1
II CĂN CỨ LẬP ĐỀ ÁN 1
III TÊN GỌI VÀ TỔ CHỨC QUẢN LÝ ĐỀ ÁN 2
PHẦN I: THỰC TRẠNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN TỈNH NGHỆ AN 2003 - 2013 3
I NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC 3
1 Về phát triển sản xuất 3
2 Phát triển kết cấu hạ tầng nông nghiệp phục vụ sản xuất và ứng phó với biến đổi khí hậu 7
4 Các hình thức tổ chức sản xuất, quản lý trong nông nghiệp 9
5 Về phát triển nông thôn và xây dựng nông thôn mới 12
6 Về ứng dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ vào sản xuất và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực13 7 Về chế biến và tiêu thụ nông sản 14
8 Về cải cách hành chính 15
II TỒN TẠI HẠN CHẾ VÀ NGUYÊN NHÂN 15
1 Tồn tại, hạn chế 15
2 Nguyên nhân của tồn tại hạn chế 17
PHẦN II: ĐỊNH HƯỚNG VÀ NỘI DUNG TÁI CƠ CẤU 19
I MỤC TIÊU, QUAN ĐIỂM 19
1 Quan điểm tái cơ cấu 19
2 Mục tiêu phát triển ngành 19
II ĐỊNH HƯỚNG VÀ NỘI DUNG TÁI CƠ CẤU 20
1 Về nông nghiệp 20
2 Về thủy sản 23
3 Về lâm nghiệp 24
4 Sản xuất muối 25
6 Xây dựng kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn thích ứng với biến đổi khí hậu 27
III NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP 27
1 Rà soát, điều chỉnh quy hoạch, lựa chọn một số sản phẩm chính là lợi thế để lập dư án làm cơ sở chỉ đạo triển khai thực hiện; tăng cường quản lý giám sát, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đối với quy hoạch 27
2 Gắn tái cơ cấu ngành với đẩy mạnh thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới 28
3 Khuyến khích, thu hút nguồn lực đầu tư vào phát triển nông nghiệp, nông thôn 29
4 Nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng đầu tư công 30
5 Đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng khoa học công nghệ và đào tạo nghề 30
6 Tăng cường xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu và quản lý chất lượng sản phẩm nâng cao giá trị gia tăng 32
7 Củng cố, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả các hình thức tổ chức sản xuất, quản lý trong nông nghiệp, nông thôn 32
8 Về phát triển dịch vụ nông nghiệp 33
9 Cải cách hành chính và nâng cao hiệu lực hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước 33
10 Tiếp tục nghiên cứu, sửa đổi, hoàn thiện hệ thống chính sách 34
11 Tăng cường quản lý, sử dụng đất theo quy hoạch, kế hoạch 34
IV TỔ CHỨC THỰC HIỆN 34
1 Phân công tổ chức thực hiện đề án 34
2 Chế độ báo cáo 37
PHẦN III: KIẾN NGHỊ 38
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
I SỰ CẦN THIẾT PHẢI XÂY DỰNG ĐỀ ÁN
Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, nông nghiệp, nông thôn Nghệ An
đã đạt được nhiều thành tựu khá toàn diện và to lớn, như: Tốc độ tăng trưởngkhá cao và ổn định; đảm bảo an ninh lương thực; tạo việc làm và thu nhập chodân cư nông thôn, góp phần xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế - xã hội củatỉnh Bước đầu đã hình thành được các vùng sản xuất hàng hóa gắn với chế biến
và tiêu thụ sản phẩm như chè, mía, cao su, thủy sản, rừng trồng nguyên liệu, ;phát triển chăn nuôi tập trung theo hướng trang trại, gia trại, công nghiệp, ứngdụng công nghệ cao
Tuy nông nghiệp phát triển, nhưng thu nhập và đời sống của nông dân vànhững người làm nông nghiệp còn thấp, nông dân vẫn còn nghèo Nguyên nhânchính là do sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, thiếu ổn định và dễ bị tổn thương do thiêntai, dịch bệnh và biến động của thị trường; các hình thức liên kết trong sản xuấtcòn lỏng lẻo, thiếu tính ràng buộc, quy mô, phạm vi liên kết còn ở dạng mô hình
Mô hình tăng trưởng nông nghiệp hiện nay chủ yếu theo chiều rộng thôngqua tăng diện tích, tăng vụ và dựa trên mức độ thâm dụng các yếu tố vật chất đầuvào cho sản xuất (lao động, vốn, vật tư) và nguồn lực tự nhiên Mô hình tăngtrưởng này mới chỉ tạo ra được khối lượng nhiều và rẻ nhưng giá trị thấp, hiệuquả sử dụng đất đai, tài nguyên chưa cao
Trước thực trạng trên, việc xây dựng Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệptỉnh Nghệ An theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững là hếtsức cần thiết Qua đó, xây dựng và phát triển nền sản xuất nông nghiệp toàn diệntheo hướng hiện đại, bền vững, sản xuất hàng hóa lớn, có năng suất, chất lượng,hiệu quả và khả năng cạnh tranh, góp phần thực hiện thành công Đề án tông thểtái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo Quyết định số339/QĐ-TTg và Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo Quyết định số899/QĐ-TTg
- Quyết định 197/2007/QĐ-TTg ngày 28/12/2007 của Thủ tướng Chính phủ
về việc phê duyệt quy hoạch Tổng thể kinh tế - xã hội tỉnh Nghệ An đến năm 2020
- Quyết định số 339/QĐ-TTg ngày 19/02/2013 của Thủ tướng Chính phủ
về phê duyệt Đề án tổng thể tái cơ cấu nền kinh tế gắn với chuyển đổi mô hìnhtăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh giaiđoạn 2013 - 2020
Trang 4- Quyết định số 899/QĐ-TTg ngày 10/6/2013 của Thủ tướng Chính phủ vềphê duyệt Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị giatăng và phát triển bền vững.
- Quyết định số 1384/QĐ-BNN-KH ngày 18/6/2013 của Bộ Nông nghiệp &PTNT về việc ban hành Chương trình hành động thực hiện Đề án tái cơ cấu ngànhnông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững theoQuyết định số 899/QĐ-TTg ngày 10/6/2013 của Thủ tướng Chính phủ
- Chỉ thị số 2039/CT-BNN-KH ngày 20/6/2013 của Bộ Nông nghiệp &PTNT về việc triển khai Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng caogiá trị gia tăng và phát triển bền vững
- Quyết định số 1565/QĐ-BNN-TCLN ngày 08/7/2013 của Bộ Nôngnghiệp & PTNT về việc phê duyệt Đề án tái cơ cấu ngành lâm nghiệp
- Thông báo số 4914/TB-BNN-VP ngày 23/10/2013 của Bộ Nông nghiệp
và PTNT về việc Thông báo kết luận của Bộ trưởng Cao Đức Phát tại Hội nghịtriển khai Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị giatăng và phát triển bền vững
- Quyết định số 3278/QĐ-UBND ngày 30/7/2013 của UBND tỉnh về việcban hành Chương trình hành động thực hiện Đề án tổng thể tái cơ cấu kinh tế gắnchuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nông cao chất lượng, hiệu quả vànăng lực cạnh tranh giai đoạn 2013 - 2020
- Quyết định số 3875/QĐ-UBND-NN ngày 31/8/2010 của UBND tỉnh vềban hành kế hoạch thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nôngthôn mới tỉnh Nghệ An giai đoạn 2010 - 2020
- Căn cứ Quyết định số 62/2013/QĐ-TTg ngày 25/10/2013 của Thủ tướngChính phủ về chính sách khuyến khích hợp tác, liên kết sản xuất gắn với tiêu thụsản phẩm, xây dựng cánh đồng lớn
- Các quy hoạch phát triển các cây trồng, vật nuôi, lâm nghiệp, NTTS trên địabàn tỉnh Nghệ An đã được phê duyệt
- Từ thực trạng, tiềm năng thực tế của tỉnh hiện nay, xu thế phát triển chungcủa cả nước và thế giới
III TÊN GỌI VÀ TỔ CHỨC QUẢN LÝ ĐỀ ÁN
1 Tên đề án: Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Nghệ An theo
hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững, giai đoạn 2013 - 2020
2 Cơ quan chủ quản: UBND tỉnh Nghệ An.
3 Cơ quan lập đề án: Sở nông nghiệp và PTNT.
Trang 5PHẦN I THỰC TRẠNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2003 - 2013 đạt từ 4,5 - 5,0% Cơcấu kinh tế nội ngành có bước chuyển dịch theo hướng tích cực Dự kiến năm2013: Nông nghiệp: 83,09%, Lâm nghiệp: 7,63%, Thủy sản: 9,28% Trong nôngnghiệp thuần có sự chuyển dịch theo hướng giảm dần tỷ trọng trồng trọt, tăng dần
tỷ trọng chăn nuôi và dịch vụ
1.2 Hoàn thành phê duyệt các quy hoạch, chương trình, đề án, dự án lớn vềphát triển sản xuất nông nghiệp, nông thôn làm cơ sở để quản lý, chỉ đạo pháttriển sản xuất
Trong 10 năm qua, Sở Nông nghiệp & PTNT đã xây dựng và tham mưuUBND tỉnh phê duyệt các quy hoạch, chương trình, đề án, dự án lớn về phát triểncác lĩnh vực, các loại cây, con chủ yếu, phát triển nông nghiệp ứng dụng côngnghệ cao đến năm 2015, 2020 và tầm nhìn đến năm 2030, làm căn cứ để quản
lý, chỉ đạo phát triển nông nghiệp, nông thôn của tỉnh Cụ thể:
- Về nông nghiệp: Gồm các quy hoạch như: Phát triển đàn trâu, bò; pháttriển vùng mía nguyên liệu, cây chè, cây cao su, mía, dứa ; phát triển vùng nôngnghiệp ứng dụng công nghệ cao Phủ Quỳ Nghệ An đến năm 2020 ; Vùng sảnxuất rau, củ, quả và hoa theo công nghệ cao; vùng nguyên liệu chế biến gỗ MDF;vùng sản xuất cây thức ăn phục vụ chăn nuôi bò sữa, ; Các chương trình pháttriển giống cây, con đến năm 2015 và 2020, các đề án như: phát triển chăn nuôitrâu bò hàng hóa , dự án Phát triển công nghệ sinh học và sản xuất nông nghiệpđến 2015 v.v
- Về lâm nghiệp: Hoàn thành quy hoạch 3 loại rừng; quy hoạch bảo vệ vàphát triển rừng tỉnh Nghệ An đến năm 2020,
- Về thủy sản: Quy hoạch nuôi trồng thuỷ sản trên các hồ thuỷ lợi, thuỷđiện tỉnh Nghệ An; Quy hoạch nuôi trồng thuỷ sản mặn lợ đến năm 2020; Quyhoạch khu chế biến thuỷ sản tập trung,
Trang 6- Về thủy lợi, gồm các quy hoạch: Bổ sung Quy hoạch thuỷ lợi tỉnh Nghệ
An, thời kỳ 2003-2010; Rà soát quy hoạch thủy lợi tỉnh Nghệ An đến năm 2020;Quy hoạch phòng chống lũ sông Cả (là tỉnh đầu tiên của cả nước hoàn thành quyhoạch chống lũ đê cấp III) Quy hoạch đê sông Cả (2008) với việc nâng cấp tầnsuất chống lũ của hệ thống đê tả, hữu sông Cả và xóa bỏ các vùng chậm lũ NămNam (Nam Đàn), Bích Hào (Thanh Chương), Quy họach sử dụng tổng hợp tàinguyên nước lưu vực Sông Cả với sự ra đời công trình thủy điện Bản Vẽ, Khe Bố,Bản Mồng; Quy họach đê biển (2004 Điều chỉnh quy họach thủy lợi chi tiết lưuvực sông Hiếu (2009) để điều chỉnh dự án hồ Bản Mồng; Quy hoạch chi tiết thủylợi lưu vực sông Hoàng Mai (2011) để xây dựng cống ngăn mặn trên sông Mơ(sông Hoàng Mai) Rà soát quy hoạch Sông Cả để xây dựng công trình cống ngănmặn, giữ ngọt trên Sông Lam
- Về phát triển nông thôn: Các quy hoạch: Bố trí dân cư thuộc khu vựcnông thôn; ổn định dân cư các xã biên giới Việt - Lào trên địa bàn tỉnh Nghệ An;Phát triển cơ khí phục vụ sản xuất nông nghiệp đến năm 2020 ;
1.3 Về sản xuất nông nghiệp
Sản xuất nông nghiệp chuyển nhanh sang nông nghiệp hàng hóa, nâng caogiá trị trên đơn vị diện tích, đảm bảo an ninh lương thực và nguyên liệu cho côngnghiệp chế biến, xuất khẩu; phát triển chăn nuôi tập trung theo hướng trang trại,gia trại, công nghiệp, ứng dụng công nghệ cao
Đến năm 2013, sản lượng lương thực ước đạt 1.183.000 tấn, tăng 20,6% sovới năm 2003; Nhờ áp dụng nhanh các tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệtiên tiến vào sản xuất, nên năng suất các loại cây trồng tăng cao so với năm 2003như: Năng suất lúa bình quân đạt 52,00 tạ/ha, tăng 15,9%; năng suất ngô đạt 38,8tạ/ha, tăng 23,5 %; năng suất chè búp tươi đạt 107 tạ/ha, tăng 75,4%; năng suấtlạc đạt 22,74 tạ/ha, tăng 42,1% ; giá trị thu nhập trên đơn vị diện tích tăng từ 35triệu đồng/ha năm 2003, lên trên 55 triệu đồng/ha năm 2013,
Đến nay, Nghệ An đã hình thành được nhiều vùng nguyên liệu tập trungcho công nghiệp chế biến và xuất khẩu như: vùng nguyên liệu chè khoảng 8.000
ha ở các huyện: Thanh Chương, Anh Sơn, Con Cuông, chè Tuyết shan chất lượngcao ở Kỳ Sơn; vùng cao su ở Nghĩa Đàn, Tân Kỳ, Thái Hòa, Quỳ Hợp, AnhSơn, với diện tích trên 9.900 ha; vùng mía nguyên liệu 26.000 ha ở các huyện:Quỳ Hợp, Nghĩa Đàn, Tân Kỳ, Anh Sơn, thị xã Thái Hòa , vùng lạc xuất khẩu ởcác huyện: Diễn Châu, Nghi Lộc, Nam Đàn ; vùng nuôi trồng thủy sản tập trunggần 2.000 ha ở Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Nghi Lộc, thành phố Vinh,
Các dự án trọng điểm về phát triển một số loại cây trồng chính được triểnkhai thực hiện có hiệu quả Đến năm 2013, cây chè đạt diện tích khoảng 8.000 habằng các giống có năng suất, chất lượng cao như LDP1, LDP2, Tuyết shan, chếbiến mỗi năm trên 12.000 tấn chè khô các loại Diện tích cao su đạt trên 9.900 ha,sản lượng mủ khô đạt gần 6.000 tấn/năm Diện tích vùng nguyên liệu mía đạt26.000 ha, đảm bảo nguyên liệu chế biến cho 3 nhà máy đường của tỉnh có côngsuất 12.000 tấn/ngày
Trang 7Chăn nuôi có bước phát triển toàn diện, chuyển dịch theo hướng tập trung,quy mô trang trại, gia trại, công nghiệp, ứng dụng công nghệ cao, tăng năng suất,hiệu quả: Đến năm 2013, tổng đàn trâu, bò ước đạt 720.000 con (trong đó, đàntrâu: 310.000 con, bò: 410.000 con), tỷ lệ bò lai đạt trên 53,03% tổng đàn Tổngđàn lợn : 1,3 triệu con, đàn gia cầm đạt trên 17,3 triệu con, tăng 64,4% so với năm
2003 Tổng sản lượng thịt hơi xuất chuồng tăng khá, năm 2013 đạt 208.500 tấn,tăng 122,7% so với năm 2003
Chăn nuôi bò sữa phát triển nhanh, đến nay, tổng đàn bò, bê sữa đạt khoảng35.000 con, trong đó số con vắt sữa: 13.500 con, sản lượng sữa đạt trên 60.000tấn/năm, năng suất cho sữa con cao nhất đạt 56 kg/ngày
Công tác thú y luôn được chú trọng, chủ động trong phòng chống dịchbệnh, hạn chế thiệt hại cho nông dân, đảm bảo an toàn thực phẩm
Đến nay, Nghệ An đã hình thành được một số vùng nông nghiệp ứng dụngcông nghệ cao như: Vùng trồng rau, hoa ở Nghĩa Đàn, chăn nuôi bò sữa của Công
ty CP thực phẩm sữa TH, trong 2 năm 2011 – 2013, toàn tỉnh đã xây dựng được
55 cánh đồng mẫu và mẫu lớn trong sản xuất lúa, ngô, lạc, chè, mía , đạt hiệuquả kinh tế cao, năng suất, chất lượng tăng tối thiểu 10%, tạo bước đột phá, thựchiện tốt mối liên kết giữa các “nhà”, củng cố khối liên minh công nông trong sảnxuất nông nghiệp, nông thôn
Nhiều mô hình sản xuất có hiệu quả đã thành công, nhân ra diện rộng gópphần chuyển dịch cơ cấu sản xuất, tăng thu nhập cho người dân, nhất là đồng bàovùng cao như: Trồng chè Tuyết shan ở Kỳ Sơn, chanh leo ở Quế Phong , chănnuôi trâu bò hàng hóa, các loại đặc sản như vịt bầu Quỳ, gà ác, lợn đen ở cáchuyện miền núi
1.4 Về lâm nghiệp
Lâm nghiệp Nghệ An đã có những chuyển biến tích cực, từ sản xuất theotruyền thống lấy quốc doanh làm nòng cốt, khai thác rừng tự nhiên là chủ yếusang sản xuất lâm nghiệp nhân dân mang tính xã hội hoá nghề rừng ngày càngcao, đa thành phần, đa nguồn lực đầu tư cho bảo vệ, phát triển rừng
Đến năm 2012, diện tích có rừng toàn tỉnh đạt 888.695,75 ha, tăng độ chephủ 53,9% tăng 26,5% so với năm 2003, góp phần bảo vệ môi trường sinh thái,hạn chế thiên tai lũ lụt, giải quyết việc làm, cải thiện thu nhập, giảm nghèo chohàng vạn hộ nông dân, nhất là đồng bào các dân tộc miền núi
Nghệ An đã tranh thủ tối đa các nguồn lực từ Trung ương và các chươngtrình, dự án quốc tế phục vụ cho công tác bảo vệ và phát triển rừng của tỉnh.Trong đó, dự án trồng mới 5 triệu ha rừng, với tổng vốn đầu tư 412,03 tỷ đồng,các dự án nước ngoài khoảng 30 triệu USD
Nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ sinh học được áp dụng thànhcông như nhân giống cây bằng dâm hom; hạt tuyển chọn, ghép; nuôi cấy mô
Trang 8Sản xuất cây giống lâm nghiệp các loại hàng năm đạt trên 20 triệu cây/năm, đảmbảo tiêu chuẩn, chất lượng Nhiều khu rừng trồng thâm canh Keo cho năng suất120-135 tấn/chu kỳ kinh doanh 6-7 năm, tăng 20- 30% so với năm 2003; diện tíchrừng trồng nguyên liệu đạt trên 160.000 ha, trữ lượng gỗ hơn 5,5 triệu m3; sảnlượng gỗ hàng năm khai thác đạt 400 - 500 nghìn m3/năm đáp ứng nguyên liệucho công nghiệp chế biến gỗ trên địa bàn
1.5 Về thủy sản
Tổng sản lượng thuỷ sản có sự tăng trưởng khá, năm 2013 ước đạt trên113.000 tấn, tăng 96,68% so với năm 2003 Trong đó: Sản lượng khai thác đạt trên71.000 tấn tăng 85%; nuôi trồng đạt trên 42.000 tấn tăng 128% so với năm 2003
Đến năm 2013, diện tích nuôi trồng thủy sản ước đạt 23.200 ha, tăng 57,8%
so với năm 2003, trong đó diện tích nuôi mặn lợ 2.200 ha (1.750 ha nuôi tômthâm canh) Phong trào nuôi thủy sản nước ngọt phát triển rộng khắp, nhất là nuôi
cá tôm xen lúa, 2 vụ lúa 1 vụ cá, nuôi các loại cá đặc sản như cá chình, cá rô đầuvuông, cá Lóc đen đem lại hiệu quả kinh tế cao Năng suất nuôi, nhất là nuôitôm đạt khá cao, năng suất nuôi tôm sú thâm canh đạt bình quân trên 1,5 tấn/ha,
có nhiều hộ nuôi đạt năng suất từ 3- 4 tấn/ha; đối với tôm chân trắng, năng suấtnuôi bình quân đạt 6 tấn/ha, nhiều hộ nuôi đạt từ 15-18 tấn/ha, đặc biệt có hộ nuôiđạt 22 tấn/ha
Đến năm 2013, toàn tỉnh đã có 51 cơ sở sản xuất giống thủy sản mặn lợ.Đặc biệt cho sinh sản thành công tôm sú, cá rô phi đơn tính, cá tra và tôm he chântrắng Nghệ An được coi là trung tâm giống thuỷ sản của khu vực Bắc Trung bộ
Khai thác thủy sản phát triển mạnh, chuyển dịch đúng hướng: Toàn tỉnhhiện có 3.981 chiếc tàu thuyền đánh cá (30/9/2013) Trong đó loại tàu công suấttrên 90 CV tăng nhanh, năm 2013 có 1.108 chiếc tăng trên 505% so với năm
2003 Đồng thời du nhập nghề mới vào khai thác thủy sản như nghề chụp mực 4tăng gông, rê xù, rê khơi… với trang thiết bị hiện đại như máy định vị, thông tinliên lạc, máy ra đa, máy dò đứng, máy dò ngang
Công tác bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản có nhiều tiến bộ: Hiện tượng khai thácbằng chất nổ, xung điện… từng bước được kiểm soát và hạn chế, công tác đăng kýđăng kiểm, cấp giấy phép hoạt động tàu cá được triển khai khá đồng bộ và đạt hiệuquả cao (trên 90% phương tiện được đăng ký đăng kiểm) Việc tái tạo nguồn lợi,như thả cá xuống hồ nước lớn, tôm, ngao giống ra biển được tiến hành hàng năm
Chế biến thủy sản phục vụ nội địa và xuất khẩu tiếp tục phát triển khá, hàngnăm cung ứng cho thị trường gần 20 triệu lít nước mắm các loại, trên 15.000 tấnbột cá, 3.000 tấn mắm các loại; chế biến xuất khẩu đạt 26.000 tấn
Trang 92 Phát triển kết cấu hạ tầng nông nghiệp phục vụ sản xuất và ứng phó với biến đổi khí hậu
2.1 Đầu tư xây dựng, phát triển hạ tầng thủy lợi
Công tác thủy lợi tiếp tục được quan tâm đầu tư, đặc biệt trong bối cảnhbiến đổi khí hậu ngày càng rõ nét và tác động mạnh đến sản xuất, đời sống ngườidân Từ năm 2003 đến nay đã kêu gọi đầu tư các dự án với tổng mức đầu tư hơn20.000 tỷ đồng cho công tác đầu tư xây dựng công trình thủy lợi phục vụ sản xuất
và dân sinh Trong đó, làm mới và tu sửa nâng cấp hơn 200 công trình Nhiềucông trình lớn như: Sửa chữa, nâng cấp hồ chứa nước Vực Mấu (vốn vay WB),các dự án sửa chữa, nâng cấp các cụm hồ đập từ nguồn vốn TPCP: cụm hồ đậpThanh Chương, Đô Lương, Anh Sơn, các trạm bơm tả ngạn Thanh Chương, hồ
Vệ Vừng - Quán Hài , nâng cấp hồ Xuân Dương, Sửa chữa, nâng cấp các hồchứa: Đồng Sằng, Tân Thắng, Khe Canh , xây dựng mới hồ Sông Sào, đặc biệt
là các công trình trọng điểm như hồ Bản Mồng, cống Nam Đàn mới, hồ Khe Lại Vực Mấu, hệ thống tiêu thoát lũ Vách Nam - Sông Bùng
-Nhiều công trình tưới cho cây công nghiệp, cây trồng cạn và tiêu úng chocác vùng màu đã được xây dựng như các trạm bơm: Phú Tân, 1/5, Đông Hiếu,Tây Hiếu , hệ thống tiêu vùng màu Nghi Lộc, Diễn Châu, Quỳnh Lưu v.v , đảmbảo tưới cho gần 90.000 ha cây công nghiệp, tiêu úng cho 19.476 ha hoa màu cácloại với năng suất cao, chất lượng sản phẩm tốt Trước năm 2003 toàn tỉnh chỉ có
67 km kênh được kiên cố hóa, đến năm 2012 đã có hơn 4.700 km kênh mươngcác loại được kiên cố hóa, đạt tỷ lệ 78%, là 1 trong 2 tỉnh dẫn đầu của cả nước vềkiên cố hóa kênh mương Thực hiện có hiệu quả chương trình nâng cấp “đảm bảo
an toàn hồ chứa”, đến nay gần 150 hồ chứa lớn nhỏ đã được sữa chữa, nâng cấp,hàng trăm tràn xả lũ đã được mở rộng đảm bảo an tòan theo tiêu chuẩn hiện hành
Hiện nay đang triển khai đầu tư nhiều dự án thủy lợi lớn, trọng điểm, góp
phần chống biến đổi khí hậu và nước biển dâng như: Dự án sửa chữa, nâng cấp hệthống Thủy lợi Bắc với tổng mức đầu tư 5.300 tỷ đồng (nguồn vốn vay JICA),cống ngăn mặn giữ ngọt sông Lam 3000 tỷ đồng, cống ngăn mặn sông Hoàng Mai
700 tỷ đồng, hệ thống thủy lợi kênh Lam Trà: 174 tỷ đồng, Hệ thống thủy lợiNậm Việc: 150 tỷ đồng
- Về đê biển: Toàn tỉnh có 61 km đê biển, trước năm 2003, chủ yếu là đêcon chạch, nhỏ, thấp và các tuyến chưa khép kín Từ năm 2003 đến nay đã đầu tưxây dựng được 35,6 km với kinh phí 743 tỷ đồng; đảm bảo chống triều cường gặpbão cấp 10 với tần suất 5% Các huyện có đê biển gồm: Quỳnh Lưu, Diễn Châu,Nghi Lộc và Thị xã Cửa Lò
- Đê cửa sông: Tổng chiều dài 93 km, đến năm 2012 đã kiên cố được 25 kmvới kinh phí 250 tỷ đồng, đảm bảo chống triều cường gặp bão cấp 10 với tần suất5% Các huyện có đê cửa sông: Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Nghi Lộc
Trang 10- Đê sông, đê nội đồng: Tổng chiều dài: 319 km, đến năm 2012 đã đầu tư
nâng cấp được khoảng 90km, với kinh phí 300 tỷ đồng, đảm bão chống lũ hè thuvới tần suất 10% Các huyện có đê sông, đê nội đồng : Đô Lương, Thanh Chương,Nam Đàn, Hưng Nguyên, thành phố Vinh, huyện Nghi Lộc Diễn Châu, QuỳnhLưu, Yên Thành
Trong 10 năm qua, Nghệ An đã triển khai hơn 30 dự án đê điều, trong đó
đã hoàn thành 13 công trình, gồm: kè Cẩm Thái, Hồng Long, Hiệu Mỹ, HưngXuân; Hưng Mỹ; Tràng Sơn; kè sông Hiếu, các tuyến đê biển Kim - Hải - Hùng,
đê Quỳnh Lộc, đê Diễn Thành, kè Nghi Tân, Nghi Hải, Sơn Hải
Các công trình đang triển khai thi công: 19 dự án, gồm: đê biển Bãi Ngang(Quỳnh Lưu); đê biển Nghi Yên, đê biển Quỳnh Lập, đê Trung - Thịnh - Thành( Diễn Châu), đê Long - Thuận - Thọ ( Quỳnh Lưu), đê Long - Thuận - Phương( Nghi Lộc), đê Tả, Hữu Sông Cấm ( Nghi Lộc); các tuyến kè Bích - Vạn - Ngọc,Kim - Vạn - Kỷ (Diễn Châu); kè chống sạt lở Hưng Khánh - Hưng Nhân ( HưngNguyên); kè Bồi Sơn, kè Lam Sơn (Đô Lương), nâng cấp tuyến đê Lương-Yên-Khai (Thanh Chương), Tu sửa, nâng cấp kè và một số đoạn trọng điểm thuộc đê
Tả Lam, tuyến đê sông huyện Yên Thành, đê Cầu Dâu ( Đô Lương),
Đến nay, toàn tỉnh có hơn 624 hồ chứa, 559 trạm bơm điện, 400 đập dâng vàgần 6.000 km kênh mương các loại Thực hiện tốt công tác quản lý khai thác bảo
vệ các công trình thủy lợi, vận hành kịp thời và tuân thủ các quy trình, quy phạmcông trình; hệ thống công trình đảm bảo tưới tiêu, phòng chống hạn có hiệu quả,nhất là các đợt hạn hán và lũ lụt lớn; Trước năm 2003 tổng diện tích tưới là192.624 ha, trong đó lúa 129.150 ha thì đến năm 2012 tổng diện tích tưới đạt248.291 ha (trong đó lúa 165.602 ha) tăng gần 30% so với năm 2003
2.2 Phát triển hạ tầng nghề cá
- Về hạ tầng kỹ thuật vùng nuôi - sản xuất giống: Bình quân hàng năm nhànước đầu tư khoảng 17 tỷ đồng và những người nuôi đầu tư trên 20 tỷ đồng vàoxây dựng hệ thống ao nuôi, trại sản xuất giống Đến nay, đã có trên 1.000 ha nuôitôm thâm canh, 51 trại sản xuất tôm, hệ thống trại cá cấp 1 được đầu tư nâng cấp
- Về cảng cá, bến cá, khu neo đậu tránh trú bão: Đến 2013, Nghệ An đã xâydựng được 3 khu neo đậu tránh trú bão; 3 cảng cá và 3 bến cá nhân dân tạo điềukiện thuận lợi cho quá trình trao đổi, nâng cao giá trị sản phẩm, giảm thời gian lênhàng, tăng thời gian sản xuất trên biển của đội tàu khai thác
2.3 Hệ thống các cơ sở nghiên cứu khoa học,chọn tạo và nhân giống câytrồng, vật nuôi:
Các cơ sở khảo, kiểm nghiệm, kiểm soát chất lượng và vệ sinh an toàn thựcphẩm, vật tư nông nghiệp và hàng nông, thủy sản từng bước được trang bị cơ sởvật chất hiện đại,… đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu quản lý, phục vụ sản xuấtcủa ngành Đến nay, Nghệ An đã được đầu tư xây dựng Trạm giống cây trồngcông nghệ cao Hưng Đông, với tổng mức đầu tư 5,35 tỷ đồng, trạm Thực nghiệm
và sản xuất giống cây trồng Đô Thành, vốn đầu tư 9,0 tỷ đồng , nhiều Công ty đãđầu tư trang thiết bị phục vụ nghiên cứu, kiểm nghiệm chất lượng giống câytrồng, vật nuôi góp phần tạo điều kiện để làm tốt công tác giống
Trang 112.4 Xây dựng các công trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn:Đến 2013, toàn tỉnh đã đầu tư xây dựng 451 công trình nước sạch nông thôn,với tổng kinh phí đầu tư trên 700 tỷ đồng Tính đến năm 2013 số người dân đượcdùng nước hợp vệ sinh theo tiêu chí tại Quyết định 40/QĐ-UBND của tỉnh đạtkhoảng 92,0%; theo tiêu chí 51/QĐ-BNN là 70%, theo tiêu chí 02/BYT là 31% Tỷ
lệ số hộ dân nông thôn có nhà vệ sinh hợp chuẩn theo tiêu chí 08/BYT đạt 43,5%
3 Về phát triển phát triển ngành nghề nông thôn
Đến năm 2013 toàn tỉnh đã xây dựng và công nhận được 315 làng có nghề
và 119 làng nghề Hoạt động của các làng nghề, làng có nghề sản xuất theo quy
mô nhóm hộ, thôn, bản, xã đã có nhiều nơi sản xuất tập trung tại khu công nghiệpnhỏ, khu chế biến hải sản tập trung, cụm làng nghề nông thôn, sản phẩm làngnghề tiêu thụ trong và ngoài tỉnh Năm 2013, giá trị kim ngạch xuất khẩu của sảnphẩm làng nghề đạt khoảng 10 triệu USD, thu hút và đào tạo nghề được gần61.900 lao động
- Toàn tỉnh có 26 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực chế biến và bảoquản nông lâm thủy sản, trong đó có 21 doanh nghiệp hoạt động ổn định và cókhả năng phát triển
- Số lượng HTX tiếp tục được nhân rộng, đến thời điển hiện tại, tỉnh Nghệ
An có 32 HTX hoạt động trong lĩnh vực chế biến và bảo quản nông lâm thủy sản,lĩnh vực chế biến và có 28 HTX hoạt động trong lĩnh vực bảo quản lâm sản,chiếm 87% số lượng HTX
Mô hình làng có nghề, làng nghề được các địa phương trong tỉnh xây dựng
đã phát triển với quy mô ngày càng lớn Các làng có nghề sản xuất theo quy mônhóm hộ, làng nghề sản xuất theo quy mô thôn, bản, xã đã có nhiều nơi sản xuấttập trung tại khu công nghiệp nhỏ, khu chế biến hải sản tập trung, cụm làng nghềnông thôn Tổng giá trị sản xuất làng nghề 6 tháng đầu năm 2013 đạt 489,475 tỷđồng, trong đó: Chế biến và bảo quản nông sản: 224,055 tỷ đồng; chế biến và bảoquản lâm sản: 204,215 tỷ đồng; chế biến và bảo quản thủy sản: 61, 205 tỷ đồng
- Mạng lưới tổ chức đào tạo nghề cho nông dân (43 cơ sở) phục vụ cho sảnxuất làng nghề được tổ chức hầu hết các huyện trong tỉnh, sản phẩm làng nghềđược cung ứng, xuất khẩu cho ngoại tỉnh và xuất khẩu ngoài nước
- Thu nhập bình quân từ nghề chế biến và bảo quản nông sản bình quân 1,0triệu đồng/lao động/tháng; chế biến và bảo quản lâm sản và thủy sản bình quân1,5 triệu đồng/lao động/tháng
4 Các hình thức tổ chức sản xuất, quản lý trong nông nghiệp
a) Các hình thức tổ chức sản xuất trong nông nghiệp
Các hình thức tổ chức sản xuất, quản lý hiện nay tại Nghệ An, bao gồm:
- Các doanh nghiệp nhà nước thực hiện giao khoán và tổ chức sản xuất theoNghị định 01/1995/NĐ-CP ngày 04/01/1995 và Nghị định số 135/2005/NĐ-CPngày 08/11/2005 Chính phủ
Trang 12Ưu điểm của các hình thức khoán này là người nhận khoán được giao đất
để sản xuất, yên tâm đầu tư thâm canh tăng năng xuất, chất lượng sản phẩm; đượcdoanh nghiệp hướng dẫn về quy trình sản xuất, được cho vay vốn để đầu tư vàbán sản phẩm lại cho doanh nghiệp; sản xuất theo quy hoạch, kế hoạch và sảnxuất hàng hóa
Hạn chế của các hình thức khoán này đó là: Hợp đồng giao khoán thiếuràng buộc chặt chẽ và chưa phân rõ trách nhiện và quyền lợi của các bên liênquan, năng suất lao động chưa cao do hợp đồng giao khoán thường theo chu kỳ,giai đoạn nên một bộ phận hộ nhận khoán chưa chú trọng đến đầu tư thâm canh
xã còn lỏng lẻo thiếu tính ràng buộc Quy mô của các HTX nông nghiệp, tổ hợptác còn nhỏ; trình độ, năng lực quản lý của nhiều cán bộ HTX còn yếu; chấtlượng, hiệu quả hoạt động của nhiều HTX, tổ hợp tác thấp Nhìn chung Hợp tác
xã chưa thể hiện rõ vai trò trong hỗ trợ nông dân sản xuất
- Hiện nay, ở Nghệ An đã hình thành, phát triển liên kết trong sản xuấtthông qua mô hình cánh đồng mẫu lớn, trung tâm của sự liên kết là doanh nghiệpthông qua tổ hợp tác, hoặc hợp tác xã để liên kết với nông dân Bước đầu mô hìnhliên kết này đã thu được những kết quả khả quan: năng suất, chất lượng, hiệu quảtrong các mô hình liên kết này tăng lên rõ rệt; thu nhập và tính chủ động trong sảnxuất của doanh nghiệp và nông dân tăng lên
Tuy nhiên, hình thức liên kết này vẫn bộc lộ nhiều hạn chế đó là: Các chếtài ràng buộc sự liên kết còn lỏng lẻo; quy mô liên kết còn nhỏ, phạm vi liên kếtcòn hẹp chỉ đang dừng ở mức độ "mô hình"; một số doanh nghiệp quá chú trọngvào lợi ích của của mình mà chưa thực sự quan tâm, hỗ trợ, chia sẻ lợi ích vớinông dân; phân chia lợi ích chưa rõ ràng, thua thiệt vẫn còn thuộc về nông dân,
b) Phát triển kinh tế hợp tác (HTX và Tổ hợp tác)
Tính đến 31/12/2012, toàn tỉnh có 466 hợp tác xã nông nghiệp (năm 2003
là 367 HTX ( tăng 27%); 450/2850 tổ hợp tác thực tế có hoạt động, trong đó có
159 tổ hợp tác có chứng thực của UBND cấp xã (năm 2003 chưa có tổ hợp tácnào trong lĩnh vực nông nghiệp được UBND xã xác nhận); thu hút hơn 68% số hộdân nông thôn tham gia vào các HTX, tổ hợp tác Góp phần tăng năng suất, nângcao chất lượng nông sản hàng hóa, giải quyết việc làm cho lao động nông thôn vàphát triển kinh tế - xã hội địa phương
Trang 13Khu vực kinh tế tập thể tạo thêm 85.394 việc làm không thường xuyên và14.952 việc làm thường xuyên cho người lao động và trong số đó có gần 50%được đào tạo nghề.
Tỷ lệ nghèo đói khu vực nông thôn có HTX hạ xuống còn 12,5 % (năm
2005 là 27,14%);
Các loại hình dịch vụ chủ yếu hiện nay của HTX gồm: Cung ứng giống câytrồng, vật nuôi, thủy sản; cung ứng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thủy lợi, điệnnăng, tiêu thụ sản phẩm, vệ sinh môi trường, chế biến nông lâm sản Ngoài ra một
số loại hình dịch vụ mới được hình thành có tính chất phi nông nghiệp nhưngmang lại hiệu quả cao, tạo cho HTXNN có diện mạo mới, đa dạng như: Dịch vụ
vệ sinh môi trường, sản xuất vật liệu xây dựng, làm đất,
Công tác tập huấn, đào tạo cho cán bộ quản lý nhà nước về kinh tế tập thểcác cấp, cho cán bộ quản lý các hợp tác xã; tập huấn, đào tạo nghề cho xã viênhợp tác xã đã được tăng cường và hiệu quả cao
Hàng năm ngân sách Trung ương và ngân sách tỉnh đều bố trí kinh phí chocông tác tập huấn, bồi dưỡng các kiến thức chuyên môn, quản lý kinh tế - nghiệp
vụ cho cán bộ quản lý chủ chốt hợp tác xã Đến nay các HTX đã gửi 72 cán bộchủ chốt đào tạo đại học, cao đẳng và 361 cán bộ đào tạo trung cấp tại các trườngtrong và ngoài tỉnh; mở được 63 lớp tập huấn cho 3009 lượt cán bộ quản lý HTXcác HTX Cấp huyện đều bố trí từ 1 đến 2 cán bộ chuyên trách theo dõi, chỉ đạomảng kinh tế tập thể, hợp tác xã và xây dựng nông thôn mới
c) Phát triển kinh tế trang trại:
Tính đến 31/12/2012 theo thống kê từ các địa phương, toàn tỉnh có 230trang trại đạt tiêu chí theo thông tư 27/2011/TT-BNN ngày 13/4/2011 của Bộnông nghiệp&PTNT, trong đó 128 trang trại được cấp Giấy chứng nhận KTTTmới và hàng ngàn gia trại đạt tiêu chí trang trại theo tiêu chuẩn cũ So với năm
2003, trang trại có bước phát triển vượt bậc, trong đó có những trang trại có quy
mô lớn, với quy mô diện tích hàng chục ha, chăn nuôi gia súc, gia cầm với quy
mô lớn
d) Về đổi mới, sắp xếp các nông, lâm trường quốc doanh:
Từ năm 2002, Nghệ An đã thực hiện rà soát quỹ đất, cấp giấy CNQSD đấtcho các doanh nghiệp, chuyển giao diện tích đất sử dụng không hiệu quả cho địaphương quản lý, sử dụng Trong 10 năm, đã chuyển giao trên 310 nghìn ha đấtcủa các nông, lâm trường cho chính quyền địa phương quản lý, sử dụng Đồngthời, hoàn thành chuyển giao chức năng quản lý hành chính - xã hội từ các nông,lâm trường quốc doanh về địa phương quản lý
Trang 14Trước năm 2003, Nghệ An có 22 doanh nghiệp nông, lâm nghiệp, với 37nông, lâm trường quốc doanh và 7 doanh nghiệp thủy nông Đến nay, toàn tỉnhchỉ còn 12 công ty TNHH MTV nông, lâm nghiệp, trong đó: 07 Công ty TNHHMTV nông nghiệp, 05 công ty TNHH MTV lâm nghiệp; 03 Ban quản lý Rừngđặc dụng và 12 Ban quản lý RPH; 07 công ty TNHH MTV Thủy lợi Sau chuyểnđổi, hoạt động của công ty đã có chuyển biến tốt, sản xuất kinh doanh ngày cànghiệu quả, đời sống của người lao động không ngừng được nâng lên.
5 Về phát triển nông thôn và xây dựng nông thôn mới
a) Xây dựng nông thôn mới:
Xây dựng nông thôn mới đã được Tỉnh ủy, UBND tỉnh quan tâm từ rấtsớm Năm 2002 - 2005, Nghệ An đã triển khai xây dựng thí điểm mô hình nôngthôn mới tại 3 xã: Diễn Xuân, Nghĩa Mỹ, Nghĩa Xuân Năm 2008 - 2009, xâydựng thí điểm 2 mô hình nông thôn mới cấp thôn, bản tại Xóm 2 (xã Diễn Xuân)
và Phú Tập (xã Khánh Thành) Đây là cơ sở để Nghệ An rút kinh nghiệm trongviệc tổ chức, triển khai thực hiện có hiệu quả Chương trình MTQG Xây dựngNTM
Sau 3 năm thực hiện Chương trình MTQG xây dựng NTM, Nghệ An đãđạt được nhiều kết quả bước đầu quan trọng, bộ mặt nông thôn ngày càng khởisắc, nhiều địa phương, đơn vị đã có cách làm hay, sáng tạo, huy động nội lực đểxây dựng hạ tầng, dồn điền đổi thửa, phát triển sản xuất, xây dựng “cánh đồngmẫu lớn”
Đến 30/7/2012, Nghệ An đã hoàn thành phê duyệt quy hoạch NTM của435/435 xã, đạt 100% kế hoạch, vượt trước 5 tháng so với yêu cầu của Trungương Đến nay, đã có 435/435 xã hoàn thành việc phê duyệt đề án Xây dựngNTM cấp xã, đạt 100% KH Các địa phương đang tập trung phát triển sản xuất,nâng cao thu nhập cho người dân, hoàn thành mục tiêu cốt lõi của Chương trình
Tổng nguồn vốn huy động, lồng ghép thực hiện Chương trình trong 3 năm(2011 - 2013) là 9.881 tỷ đồng Trong đó: Vốn ngân sách là 4.188 tỷ đồng; Vốnlồng ghép từ các chương trình, dự án 941 tỷ đồng; Vốn tín dụng 1.090 tỷ đồng;Vốn doanh nghiệp 393 tỷ đồng; Vốn dân góp 3.269 tỷ đồng
Đến 30/6/2013, Nghệ An đã có: Trong đó: 01 xã đạt 19/19 tiêu chí NTM(xã Sơn Thành, huyện Yên Thành), 2 xã đạt 16 tiêu chí (xã Nghi Liên, thành PhốVinh và xã Phúc Thành, huyện Yên Thành); 18 xã đạt từ 13-15 tiêu chí, tăng 17xã; 62 xã đạt từ 9-12 tiêu chí, tăng 40 xã; 240 xã đạt từ 5-8 tiêu chí, tăng 114 xã;
112 xã đạt từ 1- 4 tiêu chí, giảm 176 xã so với năm 2010
Trang 15b) Sắp xếp, bố trí dân cư và thực hiện các chương trình, dự án phát triểnnông thôn
Trong 10 năm qua, Nghệ An đã xây dựng được 27 dự án bố trí dân cư ở cáchuyện, gồm: 08 dự án di dân xây dựng vùng kinh tế mới, 05 dự án định canh định
cư xã nghèo, 04 dự án bố trí dân cư vùng đặc biệt khó khăn và vùng biên giới, 09
dự án di dân khẩn cấp vùng thiên tai, sạt lở đất, 01 dự án tái định cư cho các hộvạn chài trên sông Lam…, với tổng vốn đầu tư: 250,44 tỷ đồng Đến nay, đã hoànthành đưa vào sử dụng 06 dự án; Trong giai đoạn 2003 - 2013, đã bố trí dân cưđược trên 2.789 hộ, trong đó tập trung 2.090 hộ, xen ghép: 699 hộ góp phần ổnđịnh cuộc sống cho người dân, đảm bảo an sinh xã hội
Các chương trình, dự án giảm nghèo khác như: Hỗ trợ phát triển sản xuấtthuộc các chương trình: 135, 30a, chương trình giảm nghèo đều được triển khaithực hiện có hiệu quả, góp phần xóa đói giảm nghèo bền vững, nhất là đối vớiđồng bào dân tộc vùng cao, biên giới, vùng bãi ngang ven biển
6 Về ứng dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ vào sản xuất và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực
a) Về ứng dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ vào sản xuất
Các hoạt động chuyển giao và ứng dụng khoa học kỹ thuật, khuyến nôngkhuyến lâm tiếp tục được đẩy mạnh Sở đã cùng với các địa phương hướng dẫnđẩy mạnh ứng dụng KHKT, từng bước ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất cácsản phẩm nông nghiệp có giá trị kinh tế cao, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.Trong đó:
- Về Xây dựng mô hình: Triển khai xây dựng các mô hình, đảm bảo thời vụ,
đúng yêu cầu kỹ thuật, đạt kết quả tốt, như: Thâm canh lúa cải tiến SRI; sản xuấtrau an toàn, chăn nuôi lợn thịt theo hướng Vietgap; chuyển đổi cơ cấu cây trồngvật nuôi; nông lâm kết hợp trên đất dốc; các mô hình thủy sản; mô hình tổ hợp tác
và ứng dụng TBKT trong sản xuất muối sạch
- Công tác nghiên cứu khoa học, khảo kiểm nghiệm giống
+ Các hoạt động sự nghiệp khoa học: Đạt được nhiều kết quả như: Khảokiểm nghiệm cơ bản, tuyển và thử nghiệm, khảo nghiệm các loại giống cây trồng
vụ Xuân 2013; tổ chức các cuộc hội thảo kiểm tra đánh giá mô hình cây lúa; điềutra cơ cấu giống cây trồng trên địa bàn tỉnh v.v… Một số giống cây trồng quakhảo nghiệp cho kết quả bước đầu tốt, làm căn cứ đề xuất bổ sung vào cơ cấugiống sản xuất năm 2013 của tỉnh, gồm các giống lúa: LC25, Thiên Nguyên Ưu
16, 9
+ Thực hiện các đề tài, dự án: Tiếp tục thực hiện một số dự án đầu tư vàứng dụng tiến bộ KHKT như: Sản xuất hạt giống F1 giống lúa lai LC25; xây dựngTrạm TN và SX giống cây trồng tại xã Đô Thành; xây dựng mô hình trồng chuốiTiêu hồng tập trung,
Trang 16- Phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao: Triển khai thực hiện
Chương trình hành động Nghị quyết 07-NQ/TU ngày 04/2/2012 của BCH Đảng
bộ tỉnh khóa XVII về việc ứng dụng và phát triển công nghệ cao giai đoạn 2011
- 2020 Trong đó từng bước thu hút các dự án nông nghiệp ứng dụng công nghệcao vào khu nông nghiệp CNC Phủ Quỳ Trong năm 2013, tiếp tục triển khai các
dự án chăn nuôi bò sữa quy mô công nghiệp của Công ty CP thực phẩm sữa TH,Vinamilk; dự án sản xuất rau, củ, quả CNC tại Nghĩa Đàn Hoàn thành quyhoạch ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất lúa, lạc, chè và mía Hiện nayđang triển khai xây dựng đề án thành lập khu nông nghiệp ứng dụng công nghệcao Nghĩa Đàn
b) Công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực và thông tin truyên truyềnCông tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, tập huấn và thông tin tuyêntruyền luôn được quan tâm chỉ đạo thực hiện Tiếp tục triển khai các chương trìnhđào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực nông nghiệp & PTNT như:
- Chương trình thông tin tuyên truyền: Hàng tháng thường xuyên có cáctrang chuyên đề trên các phương tiến thông tin đại chúng như Đài PTTH, BáoNghệ An và mỗi năm phát hành 7 -8.000 tập chí thông tin KNKN,
- Chương trình tập huấn, đào tạo: Năm 2012 đã tổ chức 1.115/KH1.115 lớptập huấn, với 56.109 học viên tham gia Về nội dung phù hợp với đối tượng họcviên và đặc điểm của từng địa phương; áp dụng phương pháp tập huấn mới nhằmnâng cao chất lượng, hiệu quả tập huấn
- Tiếp tục triển khai thực hiện Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thônđến 2020” (theo Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 của Thủ tướngChính phủ) theo hướng chất lượng và hiệu quả hơn Năm 2012, đã mở được 45lớp với 8 nghề, 1.429 lao động tham gia ở các huyện, thành, thị
Triển khai công tác đào tạo nghề cho hàng nghìn xã viên HTX, lao độngnông thôn, tập huấn sử dụng máy nông nghiệp; hoàn thành các lớp tập huấn nghề
do dự án Thương mại xanh tài trợ,
7 Về chế biến và tiêu thụ nông sản
Chỉ đạo thực hiện tốt quy hoạch chế biến nông lâm thủy sản Tổ chức kiểmtra các cơ sở sản xuất, chế biến nông sản về điều kiện sản xuất đáp ứng quy định
về chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm, trên cơ sở đó có giải pháp xử lý các
cơ sở chưa chấp hành nghiêm
Tiếp tục triển khai thực hiện quyết định số 63/2010/QĐ-TTg và65/2011/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ nhằm giảm tổnthất sau thu hoạch đối với nông, thuỷ sản
Trang 17Tuy có sự khó khăn của kinh tế thế giới cũng như trong nước, nhưng nhờlàm tốt công tác xúc tiến thương mại cùng với sự năng động của các doanhnghiệp nên hầu hết các mặt hàng nông sản được tiêu thụ tốt, khuyến khích pháttriển sản xuất
Năm 2012, sản lượng chế biến nông lâm thủy sản: Đường 100.000 tấn; Chèbúp khô 12.000 tấn, cà phê nhân khô 1.000 tấn, cao su mủ khô 5.500 tấn Gỗ xẻcác loại 20.000 m3, chế biến đồ mộc 5.000 m3, dầu nhựa thông: 1000 tấn Chếbiến thủy sản đạt 25.000 tấn, mước mắm đạt quy loại 2 đạt 19 triệu lít, mắm cácloại 6.500 tấn, bột cá 3.500 tấn Sản xuất thức ăn chăn nuôi 10.000 tấn; Phân bónNPK 160.000 tấn Giá trị xuất khẩu năm 2012 đạt trên 93 triệu USD Trong đó giátrị xuất khẩu thủy sản đạt 18 triệu USD; chè khô các loại đạt 10,6 triệu USD; càphê nhân khô đạt 1,2 triệu USD; cao su mủ khô đạt 7,5 triệu USD; gỗ chế biến đạt
3 triệu USD và dăm bột giấy đạt trên 25 triệu USD,
8 Về cải cách hành chính
Đến năm 2013, các đơn vị thuộc Sở đã cơ bản hoàn thành việc sắp xếp lại
tổ chức bộ máy và lao động theo hướng tinh giản, gọn nhẹ, nâng cao hiệu quả,hiệu suất làm việc của cán bộ, công chức, viên chức
Toàn ngành đã thực hiện tốt quản lý hành chính theo tiêu chuẩn ISO
9001-2000, đồng thời thường xuyên rà soát lại và tổ chức niêm yết, công khai quy trình,thủ tục hành chính, các hồ sơ, mẫu biểu của các thủ tục hành chính tại Bộ phậnmột cửa, trên các trang thông tin điện tử của Sở và các Đơn vị trực thuộc
Đưa công nghệ thông tin vào công tác quản lý, chỉ đạo điều hành của Sở vàcác đơn vị thuộc ngành một cách có hiệu quả, như: Sử dụng hệ thống văn phòngđiện tử M-office, Website của ngành Nông nghiệp & PTNT, sử dụng hộp thư điệntử,… từ Sở đến các địa phương, đơn vị; thường xuyên cập nhật, cung cấp thôngtin hai chiều một cách kịp thời
Từ năm 2012 đến nay triển khai thực hiện có hiệu quả đề án nâng cao chỉ
số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) trong lĩnh vực nông nghiệp và PTNT, gópphần nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh của tỉnh
II TỒN TẠI HẠN CHẾ VÀ NGUYÊN NHÂN
Tuy tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2003 - 2013, đạt bình quân ở mức 4 - 5
%/năm, nhưng dễ bị ảnh hưởng do thiên tai, dịch bệnh và biến động của thịtrường Cơ cấu kinh tế đã có chuyển biến nhưng còn chậm, trồng trọt vẫn cònchiếm tỷ lệ cao trong cơ cấu chung
Trang 18Năng suất, chất lượng, khả năng cạnh tranh của nhiều sản phẩm nôngnghiệp còn thấp; bảo quản, chế biến sau thu hoạch còn kém phát triển, nên chấtlượng nhiều loại nông sản còn thấp Phần lớn nông sản tiêu thụ và xuất khẩu ởdạng sơ chế, thô nên giá trị gia tăng rất thấp, chưa có thương hiệu.
Chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm thấp, việc áp dụng các tiêu chuẩn,quy chuẩn kỹ thuật vệ sinh ATTP chưa được coi trọng; tổn thất sau thu hoạch cả
về số lượng và chất lượng còn lớn
Kết cấu kinh tế nông thôn vẫn chủ yếu là thuần nông (sản xuất nông nghiệpchiếm trên 80%), sản xuất nông nghiệp vẫn nặng về trồng trọt (chiếm tỷ trọng52%) Các hoạt động phi nông nghiệp, công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp cònchiếm tỷ lệ nhỏ, chưa đủ sức thu hút tạo việc làm để thúc đẩy chuyển dịch laođộng nông thôn
b) Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng được yêu cầu chuyển đổi
cơ cấu sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn; nhiều nơi còn yếu kém
Nguồn vốn đầu tư phát triển nông nghiệp và xây dựng công trình kết cấu hạtầng nông thôn còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu chuyển đổi cơ cấu kinh tế,nâng cao đời sống của người dân, nhất là ở các vùng miền núi Đặc biệt là giaothông vùng nguyên liệu và giao thông nội đồng; các công trình thủy lợi,
c) Quan hệ sản xuất chậm đổi mới, các hình thức tổ chức sản xuất thiếuhiệu quả
- Các nông, lâm trường triển khai chương trình sắp xếp, đổi mới và nângcao hiệu quả trên tinh thần Nghị quyết 28 của Bộ Chính trị, Nghị định của Chínhphủ và của UBND tỉnh còn chậm Kinh tế hợp tác phát triển rất chậm, chưa đóngvai trò mong đợi trong hỗ trợ hoạt động sản xuất của nông hộ
- Luật HTX năm 2003 tuy đã thực hiện được 10 năm, nhưng nhiều HTXnông nghiệp vẫn hoạt động và tổ chức theo kiểu cũ Vốn góp của các xã viên rất
ít, nhiều xã viên trên danh nghĩa nhưng không có vốn góp; việc huy động vốn chohoạt động dịch vụ, kinh doanh gặp nhiều khó khăn; Ngân hàng ít cho vay vốn vìlòng tin đối với các HTX nông nghiệp thấp; xã viên chưa quen với việc trả phídịch vụ do ảnh hưởng từ thói quen được phục vụ và tâm lý trông chờ ỷ lại Quy
mô của các HTX nông nghiệp, tổ hợp tác còn nhỏ; trình độ, năng lực quản lý củanhiều cán bộ HTX còn yếu; chất lượng, hiệu quả hoạt động của nhiều HTX, tổhợp tác thấp; chưa bảo đảm các nguyên tắc của Luật Hợp tác xã
- Kinh tế trang trại tuy tăng nhanh về số lượng nhưng quy mô còn nhỏ, vàchiếm một tỷ lệ không đáng kể trong hoạt động sản xuất nông nghiệp cũng nhưkinh tế nông thôn
Trang 19- Các hình thức liên kết trong sản xuất còn lỏng lẻo, thiếu ràng buộc, chưahiệu quả và còn nhiều hạn chế.
d) Nông thôn chưa có chuyển biến rõ nét, đời sống một bộ phận nông dânchậm được cải thiện
Tuy đời sống của đại bộ phận dân cư nông thôn đã được nâng cao, nhưng
so với mặt bằng chung thì nông thôn vẫn nghèo và phát triển chậm; thu nhập củangười dân nông thôn vẫn cón thấp so với các lĩnh vực khác; khoảng cách chênhlệch giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn ngày càng lớn; yêu cầu về việc làmngày càng bức xúc
Mặc dù tỷ lệ người nghèo giảm nhanh và đáng kể trong thời gian quanhưng vẫn còn tỷ lệ cao (năm 2012 còn 15,5 %) và thiếu bền vững, dễ tái nghèo,đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc
e) Ô nhiễm môi trường tăng, nhiều tài nguyên bị khai thác quá mức
Tình trạng sản xuất thâm canh, sử dụng quá nhiều phân bón, hóa chất,thuốc bảo vệ, chất kích thích sinh trưởng và tạo ra nhiều chất thải của các vùngchăn nuôi tập trung, nuôi thủy sản tập trung, tạo ra dư lượng các chất độc hạitrong nông sản thực phẩm, làm tăng khả năng chống chịu và đột biến của sâubệnh; tình trạng ô nhiễm môi trường đang gia tăng, đặc biệt ở các làng nghề vàchưa có giải pháp hữu hiệu để khắc phục
2 Nguyên nhân của tồn tại hạn chế
a) Nguyên nhân khách quan:
- Xuất phát điểm nông nghiệp, nông thôn của tỉnh thấp, trong khi nguồn lựccủa Nhà nước và nhân dân còn rất hạn hẹp:
Nông nghiệp, nông thôn của tỉnh trong những năm qua đã có nhiều tiến bộ,nhưng nhìn chung vẫn còn mang nặng tính chất của một nền sản xuất tiểu nông,nhỏ lẻ, phân tán; công nghệ, cơ sở hạ tầng lạc hậu; nhân lực được đào tạo, có taynghề chiếm tỷ lệ thấp Mặt khác, chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp phảituân theo các quy luật sinh học của cây trồng, vật nuôi nên phải có thời gian mớiđem lại kết quả
- Bên cạnh đó, do biến đổi khí hậu nên thời tiết ngày càng diễn biến phức tạpkhó lường như: Mưa lụt lớn năm 2005, 2008, lũ quét năm 2007, bão số 3 năm
2010, bão số 2 năm 2011, bão số 10, 11 năm 2013, lốc, tố, mưa đá,… gây thiệt hạicho sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp và ảnh hưởng đến đời sống của người dân
- Dịch bệnh gia súc (trâu, bò, lợn) gia cầm (gà, vịt); thủy sản (tôm); câytrồng như chồi cỏ mía, greening (cam), lùn sọc đen trên lúa… ảnh hưởng lớn đếntiến độ phát triển về số lượng, chất lượng của các loại cây trồng, vật nuôi
Trang 20- Khủng hoảng tài chính, lạm phát kinh tế, suy thoái kinh tế thế giới, trongnước ảnh hưởng bất lợi cho sản xuất, kinh tế xã hội, tác động đến nông nghiệp vàphát triển nông thôn của tỉnh
b) Nguyên nhân chủ quan
- Ý thức sản xuất của người dân một số vùng còn mang tính sản xuất nhỏ,phong tục tập quán còn lạc hậu, sớm thỏa mãn về kết quả thu nhập hiện tại và còn
có tư tưởng trồng chờ, ỉ lại; phong cách làm việc của một số cán bộ chậm đổi mới
- Cơ chế, chính sách thiếu đột phá, chậm được điều chỉnh cho phù hợp vớiyêu cầu của sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn, việc tổ chức thực hiệncòn nhiều yếu kém Nhìn chung, chủ trương chính sách ban hành nhiều nhưngthực hiện chưa triệt để do thiếu nguồn lực tài chính, thiếu quyết liệt trong triểnkhai thực hiện, kiểm tra, đôn đốc Trách nhiệm của các cấp uỷ và chính quyền cáccấp còn hạn chế
- Đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn còn hạn chế, so với vị trí, vai trò vàyêu cầu phát triển, hiệu quả đầu tư chưa cao:
+ Đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn thời gian qua còn ít, thấp hơn nhiều
so với vị trí, tiềm năng và nhu cầu phát triển trong khi hiệu quả đầu tư lại chưacao Cơ cấu đầu tư cho nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản phân theo ngànhkinh tế có xu hướng giảm dần, cụ thể: Năm 2010 chiếm 14,41 %, năm 2011 là12,12 % và năm 2012 là 11,82% Việc huy động các nguồn vốn đầu tư của cácthành phần kinh tế khác vào nông nghiệp, nông thôn còn rất hạn chế
+ Việc phân bổ vốn đầu tư công trong nội bộ ngành tập trung chủ yếu cho
hạ tầng cơ bản có tính chất phi sản xuất hoặc chậm sinh lời chiếm tỷ trọng lớn.Trong khi vốn đầu tư trực tiếp cho sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp và các chươngtrình, dự án mang tính chất hỗ trợ sản xuất và sinh lợi còn thấp
+ Chất lượng kết cấu hạ tầng và dịch vụ phục vụ nông nghiệp, nông thôncòn thấp Cơ sở hạ tầng yếu kém, thiếu đồng bộ, chưa đảm bảo phục vụ đắc lựccho sản xuất nông nghiệp hàng hóa và chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn, nhất
là giao thông nội đồng, giao thông và thủy lợi ở các vùng nguyên liệu
- Công tác nghiên cứu, chuyển giao khoa học công nghệ còn chậm, chưatạo bước đột phá trong nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị tăng thêm chosản phẩm Phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao còn hạn chế và chưa