Đây là địa bàn rộng lớn, có vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của thành phố cả trước mắt và lâu dài Theo số liệu của Sở Công Thương Hà Nội, đến năm 2011 thành phố Hà N
Trang 1Lý do chọn đề tài
Mười thế kỷ đã trôi qua, Hà Nội – trung tâm chính trị văn hóa xã hội lớn của đất
nước Việt Nam, với ngần ấy năm lịch sử luôn biết tiếp nhận những ti đã chứng kiến bao thăng trầm đổi thay về kinh tế văn hóa xã hội Và không nằm ngoài tiến trình phát triển đó các làng nghề đã có những bước chuyển mình để sự tồn tại và phát triển để Hà Nội ngày nay là nơi hội tụ nhiều làng nghề nhất trên cả nước, nó luôn gắn bó với người dân Thủ đô trong quá trình sản xuất và sinh hoạt Sản phẩm của các làng nghề vừa có giá trị cao về mặt kinh tế vừa mang đậm bản sắc truyền thống của dân tộc vừa là cầu nối của quan hệ giữa đất nước ta và các nước trên thế giới
Thực hiện Nghị quyết số 15/2008/QH12, ngày 29/5/2008 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Địa giới hành chính của Thành phố Hà Nội được
mở rộng ( Sát nhập tỉnh Hà Tây, một huyện của tỉnh Vĩnh Phúc và một số xã của tỉnh Hòa Bình) có diện tích tự nhiên 3.348,5km2, dân số là 6,45 triệu người Trong đó, khu vực nông thôn Hà Nội có diện tích tự nhiên là 2.841 km2 , chiếm 84,9% và dân
số là 4,07 triệu người chiếm 63,1%(1)1 Đây là địa bàn rộng lớn, có vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của thành phố cả trước mắt và lâu dài
Theo số liệu của Sở Công Thương Hà Nội, đến năm 2011 thành phố Hà Nội hiện
có 1.350 làng có nghề, chiếm 58,8% tổng số làng nghề của cả nước trong đó có 277 làng nghề đã được UBND thành phố Hà Nội công nhận với 244 làng nghề truyền thống Số làng có nghề và làng nghề tập trung chủ yếu ở một số quận , huyện của tỉnh Hà Nội với những sản phẩm đặc sắc và được nhiều người ưa chuộng, như: lụa Vạn Phúc, sơn mài – Duyên thái, tiện gỗ - Nhị Khê, thêu – Quất Động, nón Chuông, quạt Vác, khảm trai Chuyên Mỹ, hàng mây tre đan Phú Vinh, đồ mộc Chàng Sơn, Sơn Đồng, may Trạch Xá, đàn Đào Xá, gốm sứ Bát Tràng… đáp ứng nhu cầu thị trường, đóng góp vào sự phát triển của Thủ đô
Thực tế cho thấy sự phát triển làng nghề có nghề và làng nghề ở Hà Nội đã góp phần tích cực vào tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa thủ đô nói riêng và cả nước nói chung… Tuy nhiên, làng nghề tại Hà Nộ lại đang phải đối mặt với rất nhiều vấn đề như khả năng tổ chức quản lý, thiết bị và nguồn lực tài chính, kiến thức thị trường, kỹ năng marketing, cơ sở hạ tầng và kỹ thuật công nghệ Bên cạnh đó, chất lượng sản phẩm tại các làng nghề còn chưa đồng đều, mẫu mã sản phẩm không phù hợp với phong cách hiện đại… làm giảm tính cạnh tranh của sản
Trang 2phẩm trên thị trường, nhất là thị trường quốc tế Hơn thế với gần 80% dân số hoạt động trong nông nghiệp và sống ở nông thôn với mức thu nhập đầu người rất thấp cùng với việc tỷ lệ sinh đẻ cao, đất canh tác ngày càng có xu hướng co hẹp lại tạo ra một sức ép rất lớn cho môi trường cũng như hệ sinh thái.Ô nhiễm nguồn nước, không khí, hóa chất công nghiệp…đang là vấn đề nghiêm trọng cần phải được giải quyết ngay Do vậy nghiên cứu việc phát triển bền vững các làng nghề truyền thống gắn liền với bảo vệ
môi trường ô nhiễm môi trường làng nghề hiện rất cần được quan tâm và nghiên cứu
Nhận thức rõ được tầm quan trọng của vấn đề này, trong quá trình thực tập tại Phòng Tiểu thủ công nghiệp và làng nghề Sở Công Thương Hà Nội, em đã có cơ hội tìm hiểu và đi sâu vào nghiên cứu, hoàn thiện chuyên đề tốt nghiệp của mình với đề tài:
“Phát triển bền vững các làng nghề truyền thống trên đại bàn Thành phố Hà Nội”
Với mong muốn có thể vận dụng được những kiến thức chuyên ngành Kế hoạch đã được học ở trường và qua thời gian tìm hiểu thực tế qua đợt thực tập tại Sở Công Thương Hà Nội, em có thể đưa ra những ý kiến những nhận xét của bản thân mình nhằm góp một phần nhỏ để có một cái nhìn toàn diện hơn về sự phát triển của làng nghề truyền thống Hà Nội phat huy tối đa tiềm năng thế mạnh của mình tiến tới phát triển bền vững thân thiện với môi trường góp phần phát triển kinh tế xã hội trong thời
kì đổi mới và hội nhập của thành phố
Mục đích nghiên cứu
Đề tài được thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu chủ yếu sau:
- Hệ thống hóa và hoàn thiện những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến phát triển bền vững làng nghề truyền
- Đánh giá sự phát triển làng nghề truyền thống Hà Nội theo góc độ bền vững
- Đề xuất một số giải pháp nhằm gắn kết giữa phát triển kinh tế, nâng cao chất lượng cuộc sống người dân và bảo vệ môi trường, bảo tồn văn hóa nhằm hướng tới sự phát triển bền vững của làng nghề truyền thống trên đại bàn thành phố Hà Nội
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Để đạt được những mục đích nghiên cứu trên, chuyên đề hướng tới đối tượng và phạm vi nghiên cứu sau:
- Đối tượng nghiên cứu: Sự phát triển của làng nghề truyền thống trên địa bàn Thành phố Hà Nội theo ba góc độ kinh tế, xã hội và môi trường
- Phạm vi nghiên cứu:
Về nội dung: Tập trung nghiên cứu thực trạng phát triển làng nghề thao hướng bền vững trên địa bàn Thành phố Hà Nội hiện nay
Trang 3 Về không gian: Nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Hà Nội, cụ thể là các quận, huyện có nhiều làng nghề, như: Phú Xuyên, Thường Tín, Chương
Mỹ, Ứng Hòa, Thanh Oai, Ba Vì, Đông Anh, Hà Đông…
Mốc thời gian để thu thập dữ liệu, đưa vào phân tích tình hình phát triển làng nghề: số liệu thứ cấp thu thập từ năm 2006 đến nay, số liệu sơ cấp thu thập năm 2011
Phương pháp nghiên cứu
- Chuyên đề sử dụng đồng bộ, hài hòa thích hợp các phương pháp phân tích nghiên cứu: phương phấp phân tích tổng hợp, phương pháp thống kê, so sánh…
- Tiến hành thu thập, tham khảo những tài liệu báo cáo của các cơ quan quản lý Thành phố Hà Nội có liên quan như Sở Công Thương,… Bên cạnh đó tham khảo những nghiên cứu, báo cáo đã công bố trên các tạp chí và các trang báo đánh giá
sự phát triển của làng nghề truyền thống theo hướng bền vững Qua đó phân tích
và đánh giá phát triển làng nghề cùng với đường lối và chính sách văn bản của Nhà nước và Thành phố Hà Nội để đưa ra những giải pháp phát triển làng nghề theo hướng bền vững
- Chuyên đề sử dụng các phương pháp phân tích tổng hợp thống kê và dự báo, tiến hành phân loại, xây dựng bảng tổng hợp số liệu chung đánh giá mặt hạn chế cân bổ sung và hoàn thiện
Kết cấu của chuyên đề
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục nội dung Chuyên đề gồm 3 chương:
Chương 1: Khung lý thuyết về phát triển bền vững làng nghề truyền thống
Chương 2: Thực trạng phát triển bền vững làng nghề truyền thống trên địa bàn Hà Nội Chương 3: Quan điểm, định hướng và giải pháp phát triển bền vững làng nghề truyền thống trên đại bàn Hà Nội
CHƯƠNG 1 : KHUNG LÝ THUYẾT VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CÁC LÀNG NGHỀ
1.1.Khái niệm và phân loại làng nghề
1.1.1 Khái niệm làng nghề
Trang 4Từ xa xưa, người nông dân Việt Nam đã biết sử dụng thời gian nông nhàn để sản xuất những sản phẩm thủ công, phi nông nghiệp phục vụ cho nhu cầu đời sống như: các công cụ lao động nông nghiệp, giấy, lụa, vải, thực phẩm qua chế biến… Các nghề này được lưu truyền và mở rộng qua nhiều thế hệ, dẫn đến nhiều hộ dân có thể cùng sản xuất một loại sản phẩm Bên cạnh những người chuyên làm nghề, đa phần lao động vừa sản xuất nông nghiệp, vừa làm nghề, hoặc làm thuê (nghề phụ) Nhưng do nhu cầu trao đổi hàng hóa, các nghề mang tính chất chuyên môn sâu hơn, được cải tiến kỹ thuật hơn và thường được giới hạn trong quy mô nhỏ (làng), dần dần tách hẳn nông nghiệp
để chuyển hẳn sang nghề thủ công Như vậy, làng nghề đã xuất hiện
Có thể hiểu làng nghề “là làng nông thôn Việt Nam có ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, phi nông nghiệp chiếm ưu thế về số lao động và thu nhập so với nghề nông” [Đặng Kim Chi, 2005]
Có rất nhiều ý kiến và quan điểm khác nhau khi đề cập đến tiêu chí để một làng
ở nông thôn được coi là một làng nghề Nhưng nhìn chung, các ý kiến thống nhất ở một số tiêu chí sau:
- Giá trị sản xuất và thu nhập của từ phi nông nghiệp ở làng nghề đạt trên 50%
so với tổng giá trị sản xuất và thu nhập chung của làng nghề trong năm; hoặc doanh thu hàng năm từ ngành nghề ít nhất đạt trên 300 triệu đồng, hoặc:
- Số hộ và số lao động tham gia thường xuyên hoặc không thường xuyên, trực tiếp hoặc gián tiếp đối với nghề phi nông nghiệp ở làng ít nhất đạt 30% so với tổng số
hộ hoặc lao động ở làng nghề có ít nhất 300 lao động
- Sản phẩm phi nông nghiệp do làng sản xuất mang tính đặc thù của làng và do người trong làng tham gia
Theo Báo cáo môi trường quốc gia năm 2008, tiêu chí công nhận làng nghề gồm
- Chấp hành tốt chính sách Pháp luật của Nhà nước
1.1.2.Vai trò của các làng nghề truyền thống
Với hơn 2000 làng nghề trong cả nước, gồm 11 nhóm ngành nghề, sử dụng hơn
10 triệu lao động, đóng góp hơn 40 ngàn tỷ đồng cho thu nhập quốc gia… các làng nghề truyền thống đã và đang đóng một vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế
xã hội Việt Nam, đặc biệt là khu vực kinh tế nông thôn
Trang 5- Sản xuất tiểu thủ công nghiệp tận dụng nguồn nguyên liệu phong phú với giá thành rẻ Các nghề truyền thống chủ yếu sử dụng các nguyên liệu sẵn có trong nước, vốn là các tài nguyên thiên nhiên điển hình của miền nhiệt đới: tre nứa, gỗ, tơ tằm, các sản phẩm của nông nghiệp nhiệt đới (lúa gạo, hoa quả, ngô, khoai, sắn…), các loại vật liệu xây dựng…
- Mặt khác, sản phẩm từ các làng nghề không chỉ đáp ứng các thị trường trong nước với các mức độ nhu cầu khác nhau mà còn xuất khẩu sang các thị trường nước bạn với nhiều mặt hàng phong phú, có giá trị cao Trong đó, điển hình nhất là các mặt hàng thủ công mỹ nghệ (hiện nay, mặt hàng này xuất khẩu đạt giá trị gần 1 tỷ USD/năm) Giá trị hàng hóa từ các làng nghề hàng năm đóng góp cho nền kinh tế quốc dân từ 40 – 50 ngàn tỷ đồng Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đẩy nhanh quá trình CNH - HĐH nông thôn
- Đặc biệt, phát triển các nghề truyền thống đang góp phần giải quyết công ăn việc làm cho hơn 11 triệu lao động chuyên và hàng ngàn lao động nông nhàn ở nông thôn, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân
- Hơn nữa, nhiều làng nghề hiện nay có xu hướng phát triển theo hướng phục
vụ các dịch vụ du lịch Đây là hướng đi mới nhưng phù hợp với thời đại hiện nay và mang lại hiệu quả kinh tế cao, đồng thời có thể giảm thiểu tình trạng ô nhiễm môi trường, nâng đời sống vật chất và tinh thần cho người dân, phục vụ mục tiêu phát triển bền vững
1.1.3.Phân loại làng nghề
Làng nghề với những hoạt động và phát triển đã có những tác động tích cực và tiêu cực đến nền kinh tế, đời sống xã hội và môi trường với những nét đặc thù rất đa dạng Vấn đề phát triển bền vững của các làng nghề hiện nay đang có nhiều bất cập và đang được chú ý nghiên cứu Bởi vậy, hệ thống phân loại các làng nghề dựa trên các số liệu thông tin điều tra, khảo sát là cơ sở khoa học cho nghiên cứu, quản lý hoạt động sản xuất cũng như việc quản lý, bảo vệ môi trường làng nghề Cách phân loại làng nghề phổ biến nhất là phân theo loại hình sản xuất, loại hình sản phẩm và thời gian hình thành của làng nghề
1.1.3.1.Theo loại hình sản xuất
Có thể phân thành 6 nhóm ngành sản xuất gồm:
+ Ươm tơ, dệt vải và may đồ da
+ Chế biến lương thực thực phẩm, dược liệu
+ Tái chế phế liệu (giấy, nhựa, kim loại…)
+ Thủ công mỹ nghệ, thêu ren
Trang 6+ Vật liệu xây dựng, khai thác và chế tác đá
+ Nghề khác (mộc gia dụng, cơ khí nhỏ, đóng thuyền, quạt giấy, đan vó, lưới )
1.1.3.2.Theo thời gian hình thành
Cùng với xu thế phát triển của thời đại các làng nghề cũng tuân theo quy luật đào thải và phát triển, những làng nghề phù hợp thì tồn tại ngược lại sẽ bị mai một và dần biến mất Mặt khác cũng có rất nhiều làng nghề mới xuất hiện Vì vậy phân loại theo tiêu chí này có thể chia thành 2 loại: làng nghề truyền thống và làng nghề mới
- Làng nghề truyền thống là những làng nghề tồn tại lâu đời, sản phẩm của chúng vẫn được ưa chuộng cho tới tận bây giờ Chúng ta có thể thấy được giá trị văn hoá to lớn của nó, vì vậy cần phải giữ gìn nét văn hoá này để không bị mai một Đồng thời cũng thấy được từ đó những tiềm năng to lớn trong việc phát triển du lịch
- Làng nghề mới là các làng nghề mới xuất hiện do tác động lan toả của các làng nghề khác hoặc xuất hiện nhằm thoả mãn các nhu cầu mới của thị trường
Ngoài ra còn có thể phân loại theo quy mô sản xuất (lớn, nhỏ, trung bình); phân loại theo nguồn thải và mức độ ô nhiễm; theo lịch sử phát triển; theo mức độ sử dụng nguyên liệu, theo thị trường tiêu thụ sản phẩm hoặc theo tiềm năng tồn tại và phát triển…
1 2 Khái quát chung về phát triển bền vững
1.2.1 Khái niệm về phát triển bền vững
1.2.1.1 Khái niệm
Phát triển là quy luật của cuộc sống, là quy luật tất yếu của tiến hoá đã và đang diễn ra trên khắp hành tinh từ khi nó được hình thành Nhưng phát triển như thế nào là vấn đề mà chúng ta cần phải quan tâm Xuất phát từ những yêu cầu của thực tế khái niệm phát triển bền vững được hình thành Vậy phát triển bền vững là gì ?
Phát triển bền vững là một thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới, mặc dù quan niệm này còn tương đối mới mẻ và chưa có sự thống nhất trong cách diễn giải Do tầm quan trọng của mình, khái niệm phát triển bền vững vẫn đang được xây dựng và định nghĩa về thuật ngữ này liên tục được sửa đổi, mở rộng và sàng lọc
- Xuất phát từ góc độ bảo vệ môi trường, cũng là bảo vệ sự sống, vấn đề phát triển bền vững được đề cập lần đầu tiên vào năm 1987 trong Báo cáo của Uỷ ban thế giới về Môi trường và Phát triển của Liên Hợp Quốc năm 1987: Phát triển bền vững là
“sự phát triển có thể đáp ứng được các nhu cầu của hiện tại mà không gây hại tới khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai.” Định nghĩa này được sử dụng phổ biến nhất tại hầu hết các quốc gia trên thế giới
Trang 7- Hiện nay, quan niệm về phát triển bền vững được hiểu là quá trình đảm bảo thực hiện đồng thời 3 lĩnh vực quan trọng và có mối quan hệ qua lại với nhau: Kinh tế -
Xã hội - Môi trường
- Theo một định nghĩa mang tính thực tiễn hơn (định hướng thực tiễn), thì phát triển bền vững là “ một quá trình quản lý danh mục các tài sản để duy trì và cải thiện các cơ hội mà con người gặp được” Phát triển bền vững bao gồm tính bền vững về kinh tế, môi trường và xã hội, có thể đạt được bằng cách quản lý một cách hợp lý các vốn vật chất, tự nhiên và con người
- Ở Việt Nam, phát triển bền vững được hiểu một cách toàn diện: “Phát triển bền vững bao trùm các mặt của đời sống xã hội, nghĩa là phải gắn kết sự phát triển kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, gìn giữ và cải thiện môi trường, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh” Như vậy, phát triển bền vững là
sự phát triển trong mối liên hệ gắn kết chặt chẽ thực hiện 4 nhóm mục tiêu lớn: mục tiêu kinh tế, mục tiêu xã hội, mục tiêu môi trường và mục tiêu an ninh - quốc phòng Nếu không tính đến nhóm mục tiêu an ninh quốc gia thì mối quan hệ qua lại giữa 3 nhóm mục tiêu lớn của phát triển bền vững có thể được mô tả như sau:
Hình 1.1: Mối quan hệ giữa các nhóm mục tiêu phát triển bền vững
Phát triển bền vững
Mục tiêu kinh tế Tăng trưởng cao,ổn
định tăng trưởng cao,
Cải thiện chất lượng
MT, bảo vệ MT, TNTN
Trang 81.2.1.2 Các nội dung của phát triển bền vững
Bền vững về mặt kinh tế: Đòi hỏi nền kinh tế phải tăng trưởng GDP và GNI bình
quân đầu người cao, cơ cấu kinh tế hợp lý, đảm bảo cho tăng trưởng ổn định, lấy hiệu quả kinh tế - xã hội làm tiêu chí phấn đấu cho tăng trưởng
Bền vững về xã hội: Phát triển phải mang tính nhân văn, quá trình đó bao gồm
việc mở rộng cơ hội lựa chọn cho mọi người; nâng cao năng lực lựa chọn cho mọi người; mọi người cùng tham gia vào quá trình phát triển và mọi người cùng được hưởng lợi từ quá trình phát triển này
Bền vững về môi trường: Đối với từng cá nhân cũng như cả loài người, môi
trường có 3 chức năng là không gian sinh tồn của con người; là nơi cung cấp tài nguyên cần thiết cho cuộc sống và hoạt động sản xuất của con người; là nơi chứa đựng,
xử lý, tái chế các phế thải của con người Vì thế môi trường bền vững là môi trường luôn luôn thay đổi nhưng đảm bảo thực hiện cả 3 chức năng nói trên Xã hội phát triển bền vững là xã hội mà con người có cuộc sống chất lượng cao trên nền tảng sinh thái bền vững
Như vậy phát triển bền vững cũng có thể được gọi bằng một cách khác là phát triển “bình đẳng và cân đối”, có ý nghĩa là duy trì sự phát triển mãi mãi cần cân bằng giữa lợi ích của các nhóm người trong cùng một thế hệ và giữa các thế hệ, và thực hiện điều này đồng thời trên cả 3 lĩnh vực quan trọng có mối liên hệ qua lại với nhau – kinh
tế, xã hội và môi trường Phát triển bền vững là về sự bình đẳng, được định nghĩa là sự bình đẳng về cơ hội làm giàu cũng như là về tính toàn diện của các mục tiêu
1.2.1.3.Các thước đo phát triển bền vững
Trong những năm qua khái niệm phát triển bền vững đã trở nên toàn diện và dễ
đo lường hơn Nội dung của phát triển bền vững bao gồm bền vững trên cả 3 mặt kinh
tế, xã hội, môi trường, vì vậy chúng ta cần phải đánh giá trên cả 3 phương diện
- Về mặt kinh tế, tính bền vững được đo lường thông qua chỉ tiêu: Tổng sản phẩm quốc nội (GDP); Tổng sản phẩm quốc dân (GNI); cơ cấu đóng góp trong GDP và GNI; Thu nhập bình quân đầu người (GDP/người; GNI/người) Quy mô và tốc độ tăng thu nhập bình quân đầu người là những chỉ báo quan trọng phản ánh và là tiền đề
để nâng cao mức sống dân cư nói chung Sự gia tăng liên tục với tốc độ ngày càng cao của chỉ tiêu này là dấu hiệu thể hiện sự tăng trưởng bền vững
- Về mặt xã hội, cần đo lường các yếu tố tiêu cực gây thương hại cho tính bền vững xã hội như thất nghiệp, bất bình đẳng thu nhập, nghèo đói, tình trạng giáo dục và
Trang 9sức khỏe của người dân Hiện nay thường sử dụng các chỉ tiêu như chỉ số phát triển con người HDI; tỉ lệ thất nghiệp; hệ số bất bình đẳng về thu nhập; tỷ lệ nghèo đói; chỉ tiêu phản ánh giáo dục và trình độ dân trí (tỷ lệ người lớn biết chữ, tỷ lệ nhập học các cấp, số năm đi học trung bình,…); nhóm chỉ tiêu về tuổi thọ bình quân và chăm sóc sức khoẻ (tuổi thọ bình quân tính từ thời điểm mới sinh, tỷ lệ trẻ em chết yểu tính cho trẻ
em chết trong vòng 1 năm hoặc trong thời gian 5 năm, tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng); …
- Về mặt môi trường, sử dụng các chỉ tiêu sau để đo lường: mức độ ô nhiễm môi trường, mức độ cạn kiệt tài nguyên, mức độ che phủ rừng,…
1.2.2 Phát triển bền vững các làng nghề truyền thống
1.2.2.1 Khái niệm về phát triển bền vững làng nghề truyền thống
Xuất phát từ khái niệm phát triển bền vững, khai thác vào một bộ phận nhỏ của nền kinh tế đó là làng nghề, chúng ta có thể hiểu phát triển bền vững làng nghề như sau:
“Phát triển bền vững làng nghề là việc cân đối các mục tiêu kinh tế - xã hội – môi trường tại các làng nghề nhằm đáp ứng được các nhu cầu hiện tại cũng như trong tương lai của cộng đồng dân cư sinh sống trong các làng nghề đó Cụ thể hơn thì đó là việc đảm bảo tăng trưởng kinh tế cao và ổn định, gắn liền với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và việc bảo vệ, nâng cao chất lượng môi trường sống tại các làng nghề”
Để đảm bảo phát triển bền vững làng nghề phải xem xét trên hai góc độ:
- Một là đảm bảo duy trì tính chất bền vững và hiệu quả trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và dịch vụ trong bản than các làng nghề
- Hai là những tác động lan tỏa tích cực của làng nghề đến hoạt động kinh tế,
xã hội và môi trường của địa phương, khu vực có làng nghề
1.2.2.2.Các tiêu trí đánh giá phát triển bền vững các làng nghề truyền
thống
Theo kết quả công trình nghiên cứu “Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá phát triển bền vững tại một số làng nghề truyền thống đồng bằng Bắc Bộ” của nhóm tác giả TS Đào Ngọc Tiến, Th.s Vũ Phương Huyền, Đào Quang Hưng, cho thấy hệ thống tiêu chí để đánh giá mức độ phát triển bền vững của các LNTT của Việt Nam được nhóm các tác giả đề xuất với các chỉ tiêu cụ thể để đánh giá cả
ba khía cạnh của phát triển bền vững là kinh tế, xã hội và môi trường được tổng hợp lại như sau:
Trang 10Biểu 1.1: Các chỉ tiêu đánh giá phát triển bền vững của LNTT
- Nguồn nguyên liệu
- Hoạt động thương mại (Các kênh tiêu thụ)
- Thu nhập của người lao động
- Đào tạo cho người lao động
( Nguồn: Tạp chí Kinh tế & Phát triển số 176)
1.3 Tiêu chí đánh giá phát triển bền vững đối với làng nghề truyền thống trên địa bàn Hà Nội
Trong những năm qua phát triển làng nghề truyền thống của Thành phố đã có dự chuyển biến tích cực không chỉ về nhận thức của các cấp, các ngành mà còn có dự tham gia tích cực của các tổi chức chính trị- xã hội, các Hiệp hội ngành nghề cùng với sự năng động, cần cù sáng tạo của nhân dân, nên nhiều làng nghề truyển thống
Trang 11được khôi phục củng cố và ngày càng phát triển Nhiều nghề, làng nghề được khôi phục và phát triển nhanh, đáp ứng nhu cầu thị trường như: nghề thêu, ren, gốm
sứ, sơn mài, khảm trai, mây tre đan, gỗ mỹ nghệ, chạm khắc đá Sự biến đổi
đó đã góp phần đem lại bộ mặt mới cho khu vực nông thôn, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn Thành phố, đời sống của người lao động được nâng cao, tạo việc làm ổn định, tăng thu nhập cho người lao động, giảm sự khác biệt giữa thành thị và nông thôn, giữ vững trật tự an ninh xã hội, giảm tỷ lệ hộ nghèo, góp phần phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương, hạn chế di dân tự do và bảo tồn các giá trị văn hoá dân tộc
Để có thể đánh giá sự phát triển làng nghề truyền thống Hà Nội theo hướng bền vững căn cứ vào các định hướng ưu tiên của Chiến lược phát triển bền vững Việt Nam thao các giai đoạn; hệ thống tiêu chí đánh giá phát triển bền vững tại một số làng nghề truyền thống đồng bằng Bắc Bộ của nhóm tác giả TS Đào Ngọc Tiến Ths Vũ Phương Huyền, Đào Quang Hưng và thực tiễn hoạt động sản xuất kinh doanh tại các làng nghề truyền thống trên địa bàn Hà Nội, chuyên đề đề xuất
bộ tiêu chí đánh giá phát triển làng nghề truyền thốn theo hướng bền vững như sau:
- Tiêu chí xét trên khía cạnh kinh tế
Số lượng làng nghề, giá trị sản xuất, vốn đầu tư cho sản xuất: Tiêu chí
này có thể đánh giá thông qua sự gia tăng về số lượng các làng nghề, gia tăng giá trị sản xuất, gia tăng về vốn huy động để đầu tư cho sản xuất Chỉ tiêu này có thể đánh giá thông qua giá trị tuyệt đối hoặc tốc độ tăng trưởng bình quân
Tổ chức sản xuất: Chỉ tiêu này có thể được đánh giá thông qua hoạt động
sản xuất của các hộ gia đình và các chủ thể sản xuất khác tại các làng nghề, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu, thay đổi mô hình sản xuất tại các làng nghề, kích thích sự ra đời và phát triển các ngành nghề như dịch vụ, thương mại, vận tải, thông tin liên lạc có liên quan mật thiết đến sự phát triển của làng nghề Chỉ tiêu này có thể đánh giá thông qua giá trị tuyệt đối hoặc giá trị tương đối, tỷ lệ doanh nghiệp trong cơ cấu chủ thể sản xuất của làng nghề
Trình độ công nghệ, cơ sở hạ tầng kĩ thuật chung và mặt bằng sản xuất:
Chỉ tiêu này được đánh giá thông qua tình trạng kỹ thuật công nghệ, khả năng ứng dụng công nghệ vào quá trình sản xuất, gia tăng hàm lượng chất xám trong trong việc sản xuất sản phẩm, nâng cao hiệu suất sử dụng tư
Trang 12liệu sản xuất giảm bớt sự phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên trong quá trình sản xuất Tình trạng đầu tư nâng cấp cải tạo hệ thống cơ sở hạ tầng chung của các làng nghề ( đường giao thông, điện, nước, viễn thông, ) diện tích mặt bằng sản xuất kinh doanh của các cơ sở sản xuất Chỉ tiêu này có thể đánh giá thông qua giá trị tuyệt đối hoặc giá trị tương đối của các tiêu chí
Nguồn nguyên liệu: Chỉ tiêu này có thể được đánh giá thông qua hoạt
động thu mua và cung cấp nguyên liệu cho các cơ sở sản xuất trong làng nghề nhằm bảo đảm có nguồn nguyên liệu dầy đủ, ổn định và lâu dài
Thị trường và hệ thống phân phối sản phẩm: Chỉ tiêu này có thể được
đánh giá thông qua việc bán sản phẩm tại thị trường nội địa hay thị trường nước ngoài Trên thực tế, các cơ sở sản xuất tại các làng nghề đã
sử dụng nhiều kênh tiêu thụ sản phẩm khác nhau, có thể chia các kênh tiêu thụ thành hai nhóm lớn là các kênh chủ động, trực tiếp (bán tại làng nghề, bán qua cửa hàng của cơ sở ở địa phương khác, xuất khẩu trực tiếp) và các kênh bị động, gián tiếp (bán cho các công ty thương mại, xuất khẩu ủy thác) Chỉ tiêu này có thể đánh giá thông qua tỷ trọng các kênh tiêu thụ
Du lịch : Du lịch làng nghề là sản phẩm du lịch khai thác các giá trị văn hóa
truyền thống của dân tộc Các sản phẩm của làng nghề tạo ra là một đối tượng tài nguyên du lịch có giá trị, được khai thác để phục vụ nhu cầu nghiên cứu tìm hiểu văn hóa, tham quan du lịch của du khách, mang lại lợi ích kinh tế, góp phần tôn vinh, bảo tồn giá trị truyền thống văn hóa dân tộc, khôi phục phát triển làng nghề Chỉ tiêu này được đánh giá qua giá trị tuyệt đối hoặc giá trị tương đối của lượng khách du lịch và tổng doanh thu từ hoạt động du lịch làng nghề
- Tiêu chí trên khía cạnh xã hội
Giải quyết việc làm: Chỉ tiêu này có thể được đánh giá thông qua tiêu
chí lao động thường xuyên và lao động thời vụ của các cơ sở sản xuất kinh doanh sản phẩm làng nghề; thời gian làm việc của người lao động tại các cơ sở sản xuất; khả năng thu hút lao động tại làng nghề và các vùng lân cận, tạo thêm nhiều việc làm mới
HÌnh thức tham gia nghề: Đánh giá thông qua việc người dân tham gia
vào hoạt động sản xuất tại làng nghề theo các hình thức khác nhau
Thu nhập người lao động: Đánh giá thông qua mức độ tăng thu nhập bình
Trang 13quân của người lao động, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo, khả năng mua của người lao động trong làng nghề tăng lên; tăng quỹ phuc lợi xã hội, nâng cao chất lwuongj cuộc sống người dân làng nghề
Đào tạo cho người lao động: Chỉ tiêu này được đánh giá thông qua trình
độ học vấn của người lao động được nâng lên, trình độ dân trí văn minh hơn; công tác hướng nghề giáo dục nghề, truyền nghề cho người lao động được thực hiện thường xuyên đảm bảo chất lượng hiểu quả nhằm nâng cao trình độ , tay nghề và kĩ năng người lao động; các chủ thể sản xuất kinh doanh trong các làng nghề được trang bị các kiến thức tiếp thị, marketing, quản lý và kĩ năng kinh doanh hiện đại
An toàn lao động: Chỉ tiêu này được đánh giá thông qua trình độ đảm bảo
an toàn lao động đối với người lao động tại các cơ sở làng nghê Mức độ trang bị các vật dụng đồ dùng an toàn khi tham gia hoạt động sản xuất
Phong tục tập quán và bản sắc văn hóa địa phương: Chỉ tiêu này có thể
đánh giá qua giữ gì và phát huy bản sắc dân tộc, các phong tục tập quán giá trị văn hóa truyền thống tôn vinh các nghệ nhân của làng nghề
- Tiêu chí trên khía cạnh môi trường:
Các chỉ tiêu kĩ thuật: Chỉ tiêu này được đánh giá dựa trên việc so sánh việc thực hiện các mức kĩ thuật với giới hạn cho phép chuẩn theo quy định của Nhà nước cho phép về môi trường đảm bảo các yếu tố không làm ảnh hưởng đến môi trường
Chính sách quản lý môi trường tại làng nghề: Chỉ tiêu này được đánh
giá thông qua việc áp dụng Luật Bảo vệ môi trường; nhận thức về vấn đề môi trường của đội ngũ cán bộ xã trong các ban ngành; việc ban hành các Nghị quyết chuyên đề nhằm giải quyết các vấn đề về môi trường tại các làng nghề
Nhận thức của người dân về ô nhiễm môi trường: Chỉ tiêu này được
đánh giá thông qua nhận thức của người dân làng nghề trong việc giảm thiểu tác hại ô nhiễm môi trường do quá trình sản xuất kinh doanh gây ra; có kế hoạch, quy hoạch trong việc khai thác, sử dụng tiết kiệm nguồn nguyên liệu và sử dụng nguồn nguyên liệu thay thế;
ý thức nâng cao chất lượng môi trường sinh thái làng nghề, phòng ngừa, hạn chế các bệnh nghề nghiệp
Trang 141.4.Các nhân tố tác động đến phát triển bền vững làng nghề
1.4.1.Kết cấu hạ tầng kỹ thuật
Hệ thống giao thông đường bộ là một trong những nguyên nhân quan trọng nhất dẫn đến quy mô của các làng nghề chậm hay không mở rộng Từ xưa đến nay, các làng nghề thường được hình thành ở những nơi có hệ thống giao thông thuậ lợi để sản phẩm của làng nghề được lưu thông một cách hiệu quả Ngày nay khi giao lưu kinh tế ngày càng phát triển, sản phẩm của làng nghề không chỉ lưu thông trong phạm vị bó hẹp mà còn vươn ra toàn quốc, hay xuất khẩu nước ngoài Nguồn nguyên vật liệu tại chỗ cũng không thể đáp ứng hết nhu cầu của sản xuất vì vậy phải vận chuyển từ các địa phương khác về Có thể nói, hệ thống giao thông vận tại càng thuận tiện thì càng tạo điều kiện cho làng nghề được phát triển mạnh
Hệ thống điện, nước sạch không chỉ ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người dân mà còn ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh Hệ thống điện nước
có tốt mới đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra liên tục, nhịp nhàng Ngoài ra, hệ thống thông tin cũng có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của làng nghề nhất là trong thời đại công nghệ thông tin, mọi giao dịch đàm phán kinh doanh được tiến hành khá nhiều thông qua điện thoại, internet và hơn thế thông qua hệ thống thông tin các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh mới có thể nắm bắt kịp thời những thay đổi về nhu cầu, thị hiếu, giá cả, chất lượng mẫu mã sản phẩm từ đó mới có thể điều chỉnh hoạt động sản xuất kinh doanh để phù hợp với nhu cầu thị trường
1.4.2.Yếu tố truyền thống, phong tục tập quán của địa phương
Đây là các nhân tố chi phối nhu cầu tiêu dùng và cả đời sống của dân cư, từ đó ảnh hưởng đến các hoạt động sản xuất Mặt khác, yếu tố truyền thống, phong tục tập quán của địa phương cũng được phản ánh trong các sản phẩm của làng nghề tạo nên nét độc đáo riêng và mang lại giá trị cao hơn cho sản phẩm làng nghề, từ đó thúc đẩy
sự phát triển của các làng nghề Tuy nhiên, ngày nay tại các làng nghề còn tồn tại một
số quy định không văn tự, đó là các luật lệ làng nghề khá khắt khe cản trở việc mở rộng quy mô sản xuất của các doanh nghiệp làng nghề, từ đó kìm hãm sự phát triển của làng nghề Như vậy đây là yếu tố có tác động không nhỏ đến sự phát triển làng nghề
1.4.3.Nguyên liệu
Là yếu tố đầu vào quan trọng đối với mọi quá trình sản xuất, nó quyết định đến chất lượng sản phẩm và chi phí sản xuất Trước đây nguồn nguyên liệu cho các làng nghề thường là nguồn tại chỗ nhưng ngày nay nguồn này dần bị cạn kiệt và khan hiếm, dẫn đến phải nhập nguyên liệu từ nơi khác làm tăng thêm chi phí vận chuyển mà giá nguyên vật liệu lại không ổn định, gây khó khăn cho hoạt động kinh doanh của doanh
Trang 15nghiệp, ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển của các làng nghề Vì vậy cần thiết phải
ổn định nguồn nguyên liệu cho các làng nghề
1.4.4.Lao động
Là nguồn lực sản xuất chính và không thể thiếu trong các hoạt động kinh tế, nó
có ý nghĩa quyết định tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của làng nghề Một nguồn lao động tham gia sản xuất tại các làng nghề có ổn định thì mới đảm bảo cho các hoạt động sản xuất ổn định Đặc biệt người lao động tại các làng nghề phải làm hầu hết các công đoạn của quá trình sản xuất, quan trọng là sự khéo léo, sáng tạo của người thợ vì vậy càng tỏ rõ tầm quan trọng của người lao động đối với sự phát triển của làng nghề Hiện nay, nguồn lao động nông thôn khá dồi dào, tuy nhiên do phương thức đào tạo theo kiểu truyền nghề nên khối lượng lao động có kỹ năng, lành nghề lại rất ít vì vậy hạn chế sự phát triển của các làng nghề Ngoài ra đối với người quản lý hoạt động của cơ
sở sản xuất kinh doanh phải có kiến thức về kinh doanh, quản lý Vì vậy phải đảm được nguồn lao động cả về số lượng và chất lượng là điều kiện cần thiết cho phát triển bền vững các làng nghề
1.4.5.Vốn sản xuất kinh doanh
Là yếu tố vật chất đầu vào quan trọng, nó quyết định quy mô sản xuất, năng lực sản xuất của các doanh nghiệp, đối với các doanh nghiệp trong các làng nghề cũng không phải là ngoại lệ Trước kia, vốn sản xuất của các hộ gia đình tại các làng nghề thường là vốn tự có, rất nhỏ bé, nên quy mô sản xuất cũng rất nhỏ Ngày nay, do yêu cầu mở rộng quy mô sản xuất và đầu tư sản xuất theo chiều sâu nên có nhiều cách để tăng nguồn vốn của doanh nghiệp như tiếp cận với nguồn vốn tín dụng của các ngân hàng, hay liên kết hợp tác giữa các cơ sở sản xuất,…từ đó đảm bảo cho sự phát triển của các làng nghề
1.4.6.Thị trường tiêu thụ
Cầu thị trường phụ thuộc vào thị hiếu của người tiêu dùng cũng như các yêu cầu
về chất lượng, giá cả,… của họ Sản phẩm đáp ứng được thị hiếu và các yêu cầu của khách hàng thì sẽ được chấp nhận và có chỗ đứng trên thị trường, còn ngược lại làng nghề đó sẽ dần bị mai một và lãng quên Ngày nay, thu nhập của người tiêu dùng ngày một tăng, yêu cầu của họ cũng khắt khe hơn, đặc biệt có rất nhiều sản phẩm được sản xuất bằng công nghệ hiện đại có thể thay thế cho các sản phẩm làng nghề, sự lựa chọn của người tiêu dùng ngày càng được mở rộng, vì thế sản phẩm của làng nghề phải nổi trội hơn các sản phẩm khác thì mới có thể giữ vững vị trí của mình trong lòng người tiêu dùng và khẳng định vị thế của mình trên thị trường Muốn vậy các doanh nghiệp
Trang 16làng nghề phải đổi mới mẫu mã, vẫn giữ được những nét đặc trưng riêng, phát huy giá trị truyền thống kết hợp với giá trị hiện đại nhằm nâng cao giá trị của sản phẩm
1.4.7.Sự quản lý của cấp chính quyền địa phương đối với hoạt động của làng nghề
Sự quan tâm của chính quyền, địa phương đối với hoạt động cảu các làng nghề
là rất quan trọng vì một phần nào đó ảnh hưởng đến tồn tại phát triển của làng nghề nếu sự quan tâm đó là đúng mực Trong trường hợp các cấp chính quyền địa phương không ưu tiên cho sự phát triển của làng nghề có thể sẽ làm cho làng nghề mai một đi, bởi lẽ sự tồn tại của làng nghề đem lại cái hồn cho địa phương đó, bản sắc riêng của địa phương đó
Cấp chính quyền đại phương quản lý hoạt động của làng nghề trên cơ sở các chính sách, quyết định mang tính điều hành, định hướng, khuyến khích các làng nghề phát triển hay khuyến cáo không cho phép một số hoạt động của làng nghề có ảnh hưởng không tốt đến sự phát triển của địa phương và cuộc sống dân cư
1.4.8.Công nghệ sản xuất
Công nghệ sản xuất ảnh hưởng quan trọng tới bất kể các ngành, nó ảnh hưởng trực tiếp tới năng suất lao động, chất lượng sản phẩm…nó quyết định đến việc phát triển hay suy vong của một làng nghề
Hiện nay đa số các cơ sở sản xuất ở làng nghề đều sử dụng thiết bị thủ công, công nghệ lạc hậu, mang tính cổ truyền Vấn đề này làm cho các làng nghề không thể sản xuất với số lượng lớn, chất lượng sản phẩm đồng đều, giá thành thấp dẫn đến khả năng cạnh tranh giảm, hạn chế sự phát triển của làng nghề Để phát triển bền vững làng nghề, chúng ta cần thay đổi máy móc, thiết bị, cải tiến và áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, nâng cao năng lực cạnh tranh, hướng đến sự phát triển bền vững
1.4.9.Chính sách, pháp luật của nhà nước ảnh hưởng đến hoạt động của làng nghề
Cũng như bất kỳ một lĩnh vực kinh tế nào, việc phát triển làng nghề chịu rất nhiều tác động từ những chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước Chỉ một sự thay đổi nhỏ từ chính sách của nhà nước có thể ảnh hưởng đến việc tần tại phát triển hay suy vong của các làng nghề
Từ khi đất nước bước vào công cuộc đổi mới với nền kinh tế tư nhân, các hộ gia đình được thừa nhận là hộ kinh tế độc lập thì làng nghề nhanh chóng được khôi phục
và phát triển mạnh mẽ Đại hội Đảng lần thứ IX đề ra “ …mở mang các làng nghề, phát triển các công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp sản xuất hàng
Trang 17thu công mỹ nghệ, đưa công nghiệp sơ chế và chế biến về nông thôn và vùng nguyên liệu…” đã tạo tiền đề cho các làng nghề phát triển nhanh hơn, mạnh hơn
Chính sách mở cửa hội nhập vào nền kinh tế quốc tế làm cho sản phẩm làng nghế có điều kiện phát triển vì mở rộng thị trường, tuy nhiên các làng nghề cũng chịu không ít khó khắn khi gặp phải sự cạnh tranh từ các sản phậm từ nước ngoài
1.5.Kinh nghiệm phát triển làng nghề tại một số quốc gia và địa phương khác
1.5.1.Mô hình OVOP của Nhật Bản
a Giới thiệu mô hình OVOP của Nhật Bản
Các quốc gia khu vực Châu Á Thái Bình Dương như Thái Lan, Nhật Bản, Philippines, Malaysia, Indonesia, Campuchia, Lào đã có những bước phát triển đáng
kể về mô hình, quy hoạch kinh tế làng nghề theo hướng bền vững Ngay từ những năm
1979, Nhật Bản đã đưa ra mô hình mỗi làng một sản phẩm (OVOP) Mục tiêu là phát triển các làng nghề theo hướng chuyên nghiệp, khuyến khích người dân trong việc tận dụng nguồn lực địa phương, phát huy sức mạnh cộng đồng và bảo tồn làng nghề truyền thống Mô hình “Mỗi làng, Một sản phẩm” (One Village, One Product – OVOP) là một trong những hoạt động phong trào phát triển nông thôn trong thời kỳ công nghiệp hóa đất nước rất thành công tại Nhật Bản Phong trào này đã đạt được những thành công vang dội trong phát triển nông thôn không chỉ trong phạm vi Nhật Bản mà còn lan tỏa
ra rất nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ trên toàn thế giới Đây là mô hình được xem là hữu hiệu cho phát triển kinh tế xã hội vùng nông thôn, phát huy lợi thế và duy trì được nền tảng phát triển nông nghiệp Mô hình đã góp phần không nhỏ trong phát triển khu vực nông thôn của các nước đang phát triển, cũng như của một số nước phát triển Sau hơn 30 năm hình thành và phát triển, phong trào đã thu được kết quả thắng lợi rực rỡ
và lôi cuốn nhiều khu vực, quốc gia khác nhau trên thế giới quan tâm tìm hiểu và áp dụng Một số quốc gia, nhất là những nước trong khu vực châu Á như Lào, Thái Lan, Philippine, Việt Nam, Đài Loan, Campuchia, Thượng Hải (Trung Quốc), Đông Java (Indonesia), Koh Dach (Campuchia) thậm chí các nước châu Phi như Tuynizi, Kenya hay các tiểu bang của Mỹ như Los Angeles, Lousiana… cũng đã và đang ứng dụng và thu được những thành công nhất định trong phát triển nông thôn của đất nước Chính vì vậy, hàng năm các quốc gia thường xuyên phối hợp tổ chức các cuộc hội thảo về phong trào này nhằm phổ biến những kinh nghiệm và thành công của Phong trào đến nhiều vùng nông thôn khác nhau, góp phần vào thực hiện mục tiêu Thiên niên kỷ của Liên Hiệp quốc - xóa đói, giảm nghèo trên bình diện toàn cầu
Giá trị cốt lõi của phong trào là tăng thu nhập, xây dựng niềm tin cho người dân địa phương, tạo ra sản phẩm đặc biệt bao gồm cả văn hoá, du lịch ngay tại vùng
Trang 18nông thôn OVOP chính là mô hình lý tưởng để phát triển làng nghề, phát triển sản
phẩm nhằm phát huy tiềm năng, lợi thế, truyền thống văn hóa của mỗi địa phương trong chính sách phát triển nông nghiệp nông thôn, xuất khẩu hàng hóa Sức sống và
sự lan tỏa của OVOP dựa trên các cộng đồng, các quốc gia đã thực hiện đúng 3 nguyên tắc của phong trào: (Năng lực) Địa phương hướng tới (thị trường) toàn cầu; Độc lập và sáng tạo; và Phát triển nguồn nhân lực
b Kinh nghiệm từ Nhật Bản
- Định hướng chiến lược: Điểm cốt lõi của mô hình là mỗi làng cần chọn cho mình một sản phẩm vừa độc đáo, vừa khác biệt –Sản vật– nhưng vừa phù hợp với khả năng của làng Thường đó là những sản phẩm truyền thống, đã được sản xuất từ lâu và
đã được đánh giá cao ở một phạm vi nào đó Chính quyền sẽ tham gia một phần vào quá trình thiết kế và sản xuất sản phẩm, đầu tư vào công nghệ, làm thị trường, làm thương hiệu cho sản phẩm Địa phương sẽ bằng thế mạnh truyền thống, kinh nghiệm,
kỹ năng cũng như nhiệt huyết của mình, tham gia nhiệt tình vào công cuộc hoàn thiện sản phẩm và duy trì chất lượng sản phẩm ở mức cao Tất cả mọi người sẽ cùng tạo ra các sản phẩm có chất lượng cao và nâng cao giá trị lợi ích của sản phẩm bằng chiến lược thị trường tốt nhất; lãnh đạo địa phương sẽ là người tiên phong cho hoạt động truyền thông và bán hàng, qua đó đảm bảo mang lại lợi ích cho cả khách hàng, cho nhà cung cấp và bảo đảm lợi ích cho toàn xã hội
Mỗi địa phương cần chọn được sản phẩm có cá tính, đặc biệt nổi trội có tính cạnh tranh nhất mà địa phương khác không có "Một sản phẩm địa phương thực sự đặc sắc sẽ có thể đưa ra thị trường toàn cầu nhờ cá tính riêng có đó” Chính quyền sẽ hỗ trợ
về chính sách, kỹ thuật, vốn và hoạt động thị trường nhằm giúp những người tham gia được hưởng lợi ích gia tăng nhiều nhất
Thực tế cho thấy, bất chấp khủng hoảng kinh tế, hầu hết các sản phẩm nông sản không bị ảnh hưởng nhiều, tất nhiên nguồn thu không lớn nhưng ổn định và đều đặn Chính vì vậy, sau khi chương trình triển khai trên quy mô rộng từ năm 1980, đến nay, Oita đã có 336 sản phẩm được lựa chọn vào chương trình, đem lại cuộc sống ổn định
và bền vững có người dân toàn tỉnh
- Thi trường mục tiêu: Đối tượng khách hàng mục tiêu của chương trình OVOP trong giai đoạn đầu tiên được xác định rất rõ ràng: Du khách Những người đi
du lịch, khi tới một địa phương nào đó, họ luôn chờ đợi và mong muốn được thưởng thức và chiêm ngưỡng những gì độc đáo, đẹp đẽ và riêng có của địa phương đó và họ
Trang 19cũng muốn có một chút gì để nhớ, để mang về chia sẻ với người thân Thông thường,
du khách sẽ lựa chọn những sản phẩm có chất lượng cao và mang theo mình những giá trị lợi ích truyền thống
- Giá cả: Hầu hết các sản phẩm địa phương đó đều không bị ảnh hưởng do khủng hoảng kinh tế, nguồn thu tuy không lớn nhưng rất ổn định, đều đặn Vì vậy cần thuyết phục người dân địa phương phát triển sản phẩm đã được lựa chọn, nâng cao chất lượng và tạo lợi thế cạnh tranh
- Kênh phân phối: Kênh phân phối cũng là vấn đề không kém phần quan trọng Cần để người dân sản xuất rồi tự chế biến, tự đem đi bán mà không phải qua thương lái Họ được hưởng toàn bộ thành quả chứ không phải chia sẻ lợi nhuận qua khâu trung gian nào Kênh phân phối chính của các sản phẩm OVOP với khách hàng trong nước chính là kênh siêu thị qua các nhà phân phối Ở các siêu thị, các sản phẩm OVOP có một khu bán hàng riêng Hàng ngày, sản phẩm OVOP sẽ được giao trực tiếp tới siêu thị và ở siêu thị đó, người ta còn mở một nhà hàng để chế biến các món ăn theo kiểu truyền thống nhằm phục vụ khách hàng theo một cách truyền thống nhất Ngoài bán hàng qua hệ thống các siêu thị, các sản phẩm OVOP còn được bán ở hệ thống các trạm nghỉ dọc đường Với các sản vật của địa phương, việc bán hàng được tổ chức rất tốt thông qua hệ thống trạm dừng chân bên đường ở địa phương cửa hàng bán sản phẩm ngay tại địa phương
- Truyền thông: Truyền thông các sản phẩm OVOP được thực hiện bởi chính người dân địa phương Mỗi cá nhân ở địa phương cần tự tin, tự chủ, tự lập, sáng tạo
để đưa sản phẩm của mình tới thị trường tiêu dùng Người dân Nhật Bản nói chung ở
mỗi địa phương dường như rất tự hào và tôn sùng sản phẩm của địa phương mình Thêm nữa, các sản phẩm trong chương trình OVOP được truyền thông qua WOM (truyền miệng) qua các công ty lữ hành, tài liệu du lịch, qua PR và qua chính hành vi của người lãnh đạo Lãnh đạo địa phương, với vai trò của người định hướng dư luận có ảnh hưởng quyết định tới giá trị và hình ảnh của sản phẩm, tạo nên sức mua lớn, tạo điều kiện phát triển sản xuất quy mô lớn
- Con người: Bên cạnh việc nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ cung ứng, việc nghiên cứu phát triển và đào tạo nguồn nhân lực, được xem là yếu tố thúc
đẩy sự phát triển bền vững Một nguyên tắc rất căn bản để mô hình phát triển bền vững
đó chính là phát triển nhân lực Trong quá trình thực hiện phong trào OVOP tại Oita,
việc phát triển nhân lực cũng rất được chú trọng Ông Hiramatsu đã xây dựng 6 trường học để dạy nông dân cách làm ăn Ông mời đến lớp những người làm thủ công, trồng nấm, nấu rượu để chia sẻ cho bà con thành công và cả những thất bại
Trang 20Có thể thấy, để thay đổi tư duy và nhận thức của người dân, nâng cao chính trách nhiệm của họ, cần có một người lãnh đạo "cầm cân nảy mực", có tâm huyết và có sự kết nối, tìm và khơi đúng tài năng của người làm nghề là bí quyết thành công của Oita Việc đào tạo con người cho phát triển bền vững không chỉ quan tâm tới kiến thức, kỹ năng mà còn nuôi dưỡng sự sáng tạo và tinh thần, đạo đức kinh doanh, trên cơ sở duy trì giá trị văn hóa truyền thống luôn được xem là công việc không thể bỏ qua khi phát triển mô hình này
1.5.2.Kinh nghiệm của các quốc gia khác
Đến nay, Phong trào OVOP đã được áp dụng ở nhiều quốc gia trên thế giới như:
Mỹ, Anh, Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia, Malawi, Cameroon… với các tên gọi khác nhau, nhưng có đặc trưng là tạo ra các sản phẩm, các dịch vụ mang tính toàn cầu từ nguyên liệu địa phương Malaysia triển khai từ năm 1991; Philippines từ 1995 với tên gọi “Mỗi làng một sản phẩm”, “Mỗi thị trấn một sản phẩm”; Indonesia 1995 với tên gọi “Trở lại làng quê”; Campuchia từ 2002, Thái Lan (2001) với tên gọi Mỗi vùng một sản phẩm; Trung Quốc có nhiều tên gọi ở các vùng khác nhau, như “Mỗi nhà máy một sản phẩm”, “Mỗi làng một báu vật”, “Mỗi thành phố một sản phẩm”; bang Louisiana (Mỹ) triển khai “Mỗi xứ một sản phẩm”; Peru (2006), khu vực Mỹ Latinh và các quốc gia ở châu Phi như Kenya, Ethiopia, Mozambique, Uganda, Tanzania, Nigeria, Zambia, Madagascar, Nam Phi, Senegal
- Kinh nghiệm của Thái Lan
Bắt đầu từ 2001, thủ tướng Thái Lan Thạc Xỉn đã khởi động phong trào Mỗi vùng một sản vật OTOP Sản phẩm của dự án OTOP được sàng lọc, phân loại dựa theo
4 tiêu chí: có thể xuất khẩu với giá trị thương hiệu; sản xuất liên tục và nhất quán; tiêu
chuẩn hóa; và đặc biệt, mỗi sản phẩm đều có một câu chuyện riêng Vì vậy, khi du
khách và người tiêu dùng đến thăm quan cộng đồng OTOP ở Thái Lan, ngoài các sản phẩm được bày bán trên kệ thì họ được xem và nghe bối cảnh lịch sử của mỗi sản phẩm có thể là vị trí sản xuất, quá trình sản xuất, câu chuyện về sản phẩm, lối sống của cộng đồng Đó chính là một phần giá trị gia tăng, tăng thêm sức và sự hấp dẫn đối với
du khách thay vì chỉ thấy mức giá trên sản phẩm Nơi bán hàng thủ công địa phương được chính phủ giảm miễn thuế
Mô hình OTOP đã giúp nghề thủ công truyền thống của Thái Lan được bảo vệ duy trì, giúp cho người dân Thái giải quyết được công ăn việc làm, giữ được giá trị tri thức trong văn hóa lâu đời của họ Cho tới nay, Chính phủ Thái Lan vẫn tiếp tục
Trang 21chương trình và đang tìm cách gia tăng giá trị cho các sản phẩm truyền thống và đưa ra thị trường thế giới, minh chứng là vấn đề này đã được thảo luận tại Ủy ban OTOP quốc gia, nơi hoạch định đường hướng phát triển cho các dự án làng nghề, để các sản phẩm OTOP của Thái Lan được biết đến nhiều hơn trong cả thị trường khu vực và quốc tế
- Kinh nghiệm của Trung Quốc
Trung Quốc cũng áp dụng OVOP của Nhật Bản nhưng với một số tên gọi khác nhau ở các khu vực khác nhau Tại Thượng Hải, dị bản của mô hình có tên gọi “Mỗi nhà máy một sản phẩm” – One Factory, One Product; ở Thượng Hải, mang tên gọi
“Mỗi thành phố một sản phẩm” – One City, One Product, Ở Jiangsu, nó giữ nguyên tên gọi “Mỗi làng một sản phẩm” - One Village One Product” Cho dù mang các tên gọi khác nhau nhưng chúng đều mang ý nghĩa kinh tế xã hội sâu sắc, mang lại nhiều lợi ích cho dân cư địa phương đồng thời với việc tạo cơ hội duy trì giá trị văn hóa truyền thống vốn có và phát huy đặc điểm tự nhiên của mỗi địa phương “Việc áp dụng mô hình OVOP đã giúp các làng nghề từ hoạt động tự phát, phân tán sang hoạt động chuyên sâu, quy mô lớn theo nhu cầu của thị trường trong và ngoài nước Thành công của OVOP Trung Quốc là đề cao sự sáng tạo của nông dân, thợ thủ công ” Ở Trung Quốc, sáng tạo chính là động lực cho phát triển OVOP một cách chiến lược
Một điều nhận thấy là các Hiệp hội nghề và bán hàng của ngành nông nghiệp có thể làm rất tốt vai trò của mình khi phát triển OVOP Kinh nghiệm thành công này đã minh chứng cho việc các tổ chức chuyên môn hóa là không thể thiếu cho người nông dân tại các khu dự án OVOP
1.5.3.Tại Việt Nam
a Kinh nghiệm phát triển bền vững làng nghề đá mĩ nghệ tỉnh Đà Nẵng
Làng đá Non Nước là một làng nghề tiêu biểu nhất, độc đáo nhất của thành phố
du lịch Đà Nẵng Hiện nay, làng nghề đá mỹ nghệ Non Nước có hơn 20 doanh nghiệp,
430 cơ sở sản xuất kinh doanh lớn, nhỏ với hơn 5000 lao động Quy mô và tốc độ phát triển sản xuất làng nghề không ngừng gia tăng, giải quyết được việc làm cho nhiều người, đặc biệt là nông dân trên địa bàn bị thu hồi đất Chỉ riêng năm 2008, giá trị sản xuất làng nghề đạt 76,5 tỷ đồng, chiếm 27,1% tổng giá trị sản xuất của các ngành kinh
tế do Q Ngũ Hành Sơn quản lý Đến năm 2010, giá trị sản xuất đạt bình quân 196 tỷ đồng Đạt được những thành tựu đáng khích lệ như vậy là nhờ các biện pháp sau:
Làng nghề đã chủ động mở rộng vùng nguyên liệu: Hình thành và phát triển đã hơn 400 năm, làng đá mỹ nghệ Non Nước nằm trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn, TP
Trang 22Đà Nẵng Những người thợ từ miền Bắc vào đã sử dụng nguồn nguyên liệu đá có sẵn
để đục đẽo, chạm khắc, tạo ra những mặt hàng thủ công mỹ nghệ với quy mô nhỏ, đáp ứng được nhu cầu phục vụ đời sống Tuy nhiên, kể từ năm 1990 đến nay, làng nghề điêu khắc đá không còn khai thác nguyên liệu tại chỗ mà chủ yếu mua nguyên liệu từ các tỉnh phía Bắc như: Thái Nguyên, Thanh Hóa, Quảng Ninh, Bắc Kạn…, một số cơ
sở lớn bắt đầu mua nguyên liệu nhập từ nước ngoài như: Ấn Độ, Pakistan nhưng tỷ lệ nguyên liệu này rất thấp (5% tổng nguyên liệu) Trung bình mỗi tháng các cơ sở sản xuất của làng nghề tiêu thụ 50.000-55.000 tấn các loại đá sa thạch và cẩm thạch
Chú trọng đến việc đổi mới kỹ thuật, kết hợp kỹ thuật hiện đại và công nghệ truyền thống Về máy móc thiết bị, những năm gần đây, làng đá mỹ nghệ Non Nước đã chú trọng đầu tư máy móc thiết bị để giảm bớt sức lao động thủ công, tăng năng suất
và chất lượng sản phẩm, hầu hết là đầu tư thiết bị ở công đoạn phôi, thiết kế tạo hình, mài bóng… Việc kết hợp giữa kỹ thuật hiện đại và công nghệ truyền thống luôn được làng nghề quan tâm, từng bước nâng cao chất lượng và đa dạng mẫu mã sản phẩm cung cấp cho thị trường trong và ngoài nước
Thành lập Hiệp hội làng đá thủ công mỹ nghệ đã quy tụ được các hộ kinh doanh, sản xuất đá thủ công mỹ nghệ tại làng nghề
Đa dạng hoá sản phẩm của làng nghề, đáp ứng nhu cầu của khách du lịch Đến với làng nghề đá mỹ nghệ, có thể thấy các tác phẩm thường có đủ loại hình thù của vạn vật, đặc sắc nhất là tượng các vị phật, vị thánh, chúa, thần vệ nữ, các con vật như kỳ lân, rồng, sư tử và các đồ lưu niệm, trang sức bằng đá
Đặc biệt, tỉnh Đà Nẵng đã tiến hành quy hoạch làng nghề đá mỹ nghệ thành làng nghề sinh thái Theo quy định của Luật Bảo vệ môi trường năm 2005, đến nay, TP Đà Nẵng đã tiến hành quy hoạch làng nghề tập trung để đảm bảo các vấn đề môi trường lâu dài, xúc tiến triển khai dự án xây dựng cơ sở hạ tầng và giao các đơn vị liên quan
để lập báo cáo đánh giá tác động môi trường theo quy định hiện hành Đây là cơ sở để sắp xếp, ổn định sản xuất làng đá gắn với phát triển bền vững và bảo vệ môi trường theo xu hướng xây dựng thành phố thân thiện với môi trường
Cụ thể, từ ngày 26/12/2006, UBND TP Đà Nẵng đã ban hành Quyết định số 9138/QĐ-UBND phê duyệt Quy hoạch xây dựng và phát triển các làng nghề TP Đà Nẵng đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020 Cho đến nay, làng nghề mới được quy hoạch tập trung, được đầu tư xây dựng đồng bộ giao thông, hạ tầng kỹ thuật bao gồm san nền, thoát nước, giao thông cấp nước, cấp điện, cây xanh, vệ sinh môi trường với tổng diện tích 374.156m2 nằm trên địa bàn 2 phường Hòa Hải và Hòa Quý, đồng thời tách hoàn toàn việc sản xuất và kinh doanh đá mỹ nghệ
Trang 23Bên cạnh đó, chính quyền TP Đà Nẵng đã tập trung tổ chức bộ máy, tăng năng lực quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường các cấp đối với làng nghề, tăng cường đầu
tư, sử dụng ngân sách cho công tác quản lý môi trường tại làng nghề cũng như mở các lớp tập huấn về môi trường Năm 2010, được sự hỗ trợ của dự án “Quản lý nhà nước
về môi trường cấp tỉnh” (VPEG), UBND TP Đà Nẵng đã tổ chức 2 lớp tập huấn “Sản xuất sạch hơn và bảo vệ môi trường làng nghề” cho gần 100 cơ sở trên địa bàn cùng tham gia…
b Kinh nghiệm phát triển bền vững làng nghề tại Thái Bình
Là một tỉnh nằm ở đồng bằng ven biển phía Nam châu thổ sông Hồng, Thái Bình được biết đến không chỉ là "vựa lúa" của miền bắc Việt Nam mà còn là tỉnh có nhiều làng nghề truyền thống được hình thành và phát triển từ nhiều đời nay Trải qua hàng trăm, hàng ngàn năm, nghề và làng nghề đã tồn tại và phát triển ở Thái Bình như một phần không thể tách rời lịch sử mỗi làng quê, thôn xóm của vùng đất này Thái Bình có khoảng 290 làng nghề được cấp bằng công nhận, 100% số xã, phường không nơi nào "trắng nghề" Mỗi năm, các làng nghề giải quyết việc làm cho từ 15 nghìn đến
20 nghìn lao động với thu nhập từ 600 nghìn đến hai triệu đồng/người/tháng Sản phẩm của làng nghề chiếm khoảng 30% giá trị sản xuất công nghiệp của toàn tỉnh Các làng nghề phát triển ổn định, trở thành những thương hiệu làng nghề nổi tiếng như thêu Minh Lãng, dệt đũi Nam Cao, chạm bạc Ðồng Xâm, đúc đồng An Lộc Nhiều nơi dần trở thành vùng nghề như dệt chiếu Quỳnh Phụ, Hưng Hà, Ðông Hưng Đạt được những thành công này là nhờ tỉnh Thái Bình đã có những biện pháp sau:
Chính sách thúc đẩy phát triển làng nghề truyền thống như ưu đãi về mặt bằng sản xuất, vốn, thuế, công tác bảo vệ môi trường, quảng bá sản phẩm… Có thể như nhằm giúp các làng nghề trong tỉnh giải quyết vấn đề thiếu mặt bằng sản xuất, Sở Công Thương tỉnh còn chú trọng công tác quy hoạch cụm, điểm công nghiệp làng nghề Đến năm 2010, Thái Bình đã quy hoạch được 19 cụm công nghiệp với diện tích 739,8ha và đạt 81,63% tỷ lệ lấp đầy
Ngoài ra, Thái Bình cũng hỗ trợ các DN làng nghề áp dụng hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến theo tiêu chuẩn ISO 9001:2008, SA 8000 để sản phẩm làng nghề
có chỗ đứng vững chắc trên thị trường
Được biết, dấu ấn thành công của họ là việc xây dựng doanh nghiệp đứng chân ngay trong những làng xã có nghề truyền thống Đồng thời cũng tổ chức hướng nghiệp cho người lao động Lãnh đạo tỉnh đã xây dựng chính sách khuyến công, lập quỹ khuyến công và xây dựng mạng lưới khuyến công Tại mỗi xã đều có cán bộ khuyến công chuyên trách trực tiếp theo dõi, hỗ trợ phát triển làng nghề Quỹ khuyến công
Trang 24thông qua doanh nghiệp đào tạo tại chỗ và bố trí việc làm cho người lao động tại chính những doanh nghiệp đó
c Kinh nghiệm phát triển bền vững làng nghề tại Bắc Ninh
Bắc Ninh cũng là một tỉnh đi đầu trong việc đưa ra mô hình phát triển làng nghề theo hướng bền vững Tỉnh đã xây dựng đực 21 khu công nghiệp làng nghề và lập ra các ban quản lý khu công nghiệp làng nghề này Ban quản lý các khu công nghiệp làng nghề chịu sự lãnh đạo trực tiếp của Uỷ ban nhân dân huyện, thị xã dưới sự chỉ đạo về chuyên môn nghiệp vụ của các ngành chức năng thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh Cơ quan này là đầu mối triển khai, thực hiện các văn bản qui phạm pháp luật có liên quan, trực tiếp xây dựng điều lệ quản lý các khu công nghiệp làng nghề, trực tiếp triển khai qui hoạch chi tiết, được Uỷ ban nhân dân huyện uỷ quyền quản lý trước, trong và sau khi đầu tư đối với các khu công nghiệp làng nghề
Để giải quyết vấn đề khó khăn về vốn cho sản xuất kinh doanh của các làng nghề, Bắc Ninh đã chú trọng đến hệ thống ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Với 7 chi nhánh cấp huyện, thị của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và nhiều chi nhánh liên xã hầu hết nằm ở khu vực kinh tế phát triển (bán kính bình quân 7 km có một chi nhánh) Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bắc Ninh thực hiện chủ trương tất cả các dự án khả thi của các hộ sản xuất đều được Ngân hàng cho vay 70% giá trị mua sắm tài sản cố định bằng nguồn vốn vay trung hạn và hỗ trợ cho vay từ 30-50% vốn lưu động Nhiều làng nghề được Ngân hàng cho vay đã nhanh chóng nâng cao được năng lực sản xuất, kinh doanh, có doanh thu hàng trăm tỷ đồng/năm, như làng mộc mỹ nghệ Đồng Kỵ, sắt Đa Hội… Đặc biệt, sự đầu tư của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã góp phần khôi phục làng nghề dâu tằm tơ truyền thống Vọng Nguyệt xã Tam Giang huyện Yên Phong Nhờ được khôi phục, làng nghề này đã thu hút trên 1.000 lao động, gồm 120 xưởng sản xuất
và làm ra gần 40 tấn kén/năm
Bên cạnh đó, tỉnh Bác Ninh cũng chú trọng vào công tác đào tạo nguồn nhân lực cho làng nghề.Việc đào tạo nghề được thực hiện theo nhu cầu của mỗi địa phương Đa dạng hóa hình thức dạy nghề, truyền nghề và ứng dụng một số hình thức dạy nghề linh động, thực hành là chính, ứng dụng ngay tại công xưởng, nhằm giúp học viên tiếp cận nhanh, vững tay nghề Việc truyền và dạy nghề tập trung chủ yếu ở các nghề truyền thống như nghề gốm, nghề đúc đồng, nghề mây tre đan, nghề may, thêu ren, mộc dân dụng, cơ khí…Thực hiện chương trình đào tạo nghề, cấy nghề, 5 năm qua, với 5,6 tỷ đồng từ nguồn Quỹ khuyến công, Trung tâm khuyến công và tư vấn phát triển công nghiệp của Bắc Ninh đã đào tạo, truyền nghề cho hơn 12.000 lao động bằng hình thức
Trang 25đào tạo tại chỗ, ngắn hạn tại các cơ sở sản xuất, các làng nghề truyền thống có nhiều thế mạnh như đúc đồng, gốm, mây tre đan, cơ khí, mộc, may… Sau khi được đào tạo
và cấp chứng chỉ, đã có 70% số lao động làm việc tại các doanh nghiệp, số còn lại làm việc tại hộ gia đình với mức thu nhập bình quân từ 1,5 đến 3,5 triệu đồng/người/tháng, nâng tổng số lao động tại các cơ sở công nghiệp nông thôn lên 38.000 người.Chất lượng nguồn lao động được nâng cao đáp ứng nhu cầu tuyển dụng lao động tại các cơ
sở sản xuất công nghiệp nông thôn, doanh nghiệp Bắc Ninh hiện có hơn 60 làng nghề thủ công truyền thống, trong đó có nhiều làng nghề đã được khôi phục và phát triển như nghề gốm Phù Lãng, nghề đúc đồng ở Đại Bái, nghề mây tre đan ở Lạc Vệ Một số nghề mới được hỗ trợ và phát triển từ chương trình khuyến công góp phần phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập từ các địa phương vốn trước đây chỉ là vùng đất thuần nông
d Kinh nghiệm phát triển làng nghề ở tỉnh Phú Yên
Phú Yên đã tập trung nhiều nguồn lực để phát triển các ngành nghề truyền thống
và xây dựng các làng nghề Trong những năm qua các làng nghề trên địa bàn tỉnh Phú Yên có nhiều khởi sắc, các làng nghề được khôi phục sau những năm có thể nói là không thành công đối với các làng nghề Hiện nay, toàn tỉnh hiện có khoảng 20 làng nghề truyền thống, thu hút trên 2.600 hộ tham gia, giải quyết việc làm cho trên 6.600 lao động có thu nhập ổn định trong đó có 7 làng nghề được công nhận theo tiêu chí mới của Bộ Công Thương là: Làng nghề bó chổi Mỹ Thành (xã Hòa Thắng, huyện Phú Hòa), sản xuất bánh tráng Đông Bình (xã Hòa An, huyện Phú Hòa), đan đát Vinh Ba (xã Hòa Đồng, huyện Tây Hòa), trồng dâu nuôi tằm (xã Hòa Phong, huyện Tây Hòa), sản xuất muối Tuyết Diêm (xã Xuân Bình, TX Sông Cầu), chế biến nước mắm Gành
Đỏ (xã Xuân Thọ II, TX Sông Cầu) và làng nghề nước mắm, phơi sấy cá cơm (xã Xuân Hòa, TX Sông Cầu) Để được kết quả như ngày hôm nay là nhờ vào các giải pháp mà chính địa phương và người dân nơi đây đã tiến hành:
- Nuôi dưỡng những hạt nhân của làng nghề, có tâm huyết với làng nghề và quyết sống với nghề Trung tâm khuyến nông Phú Yên đã cử ra một số người có tâm huyết với nghề đi học nghề tại một số địa phương khác để học hỏi kinh nghiệm tổ chức sản xuất cho làng nghề Hiện nay các làng nghề phát triển đã có được 3 đến 4 lớp thợ, mỗi lớp khoảng 100 người Nhờ vậy, khi làng nghề sản xuất không bị lo thiếu hụt về lao động có tay nghề
- Các làng nghề không chỉ sản xuất các sản phẩm truyền thống mà đã thiết kế, sản xuất ra các sản phẩm đa dạng về chủng loại, phong phú về mẫu mã trên cùng chất liệu truyền thống Do vậy vừa đảm bảo được nguyên liệu sản xuất vừa mở rộng được nguồn hàng đầu ra tránh được sự nhàm chán
Trang 26- Yêu cầu công nhận thương hiệu đối với các làng nghề đã tồn tại từ lâu đời Đến nay, hai sản phẩm là Nước mắm Phú Yên và Bánh tráng Phú Yên đã được Cục sở hữu trí tuệ cấp giấy chứng đăng ký nhãn hiệu tập thể Nhãn hiệu nước mắm Phú Yên trao cho các doanh nghiệp và cơ sở sản xuất nước mắm thuộc thành viên Hội nghề cá Phú Yên Chỉ riêng tại khu vực Gành Đỏ thuộc thị xã Sông Cầu có gần 50 hộ chuyên chế biến nước mắm chất lượng, mỗi năm sản xuất không dưới 2 triệu lít với những thương hiệu có tiếng trên thị trường như nước mắm: Bà Mười, Ông Già, Thanh Hương… Với bánh tráng Phú Yên, đầu tháng 4 vừa qua, thông qua sự tài trợ của tổ chức JBIC và do Liên minh HTX Phú Yên thực hiện, bước đầu đã công nhận và trao giấy chứng nhận nhãn hiệu bánh tráng Phú Yên cho 40 hộ ở các làng nghề Đông Bình (huyện Phú Hòa), Hòa Đa (huyện Tuy An), Mỹ Lệ (huyện Tây Hòa) và Bình Thạnh (thị xã Sông Cầu) Liên minh HTX Phú Yên đang tiếp tục kiểm tra để cấp giấy chứng nhận cho 700 hộ sản xuất bánh tráng đạt tiêu chuẩn
- Tiến hành quy hoạch và xây dựng khu trưng bày sản phẩm để quảng bá sản phẩm, xây dựng trang thông tin điện tử sở hữu trí tuệ địa phương, lập công bố bản đồ địa danh, đặc sản Phú Yên
- Một số làng nghề địa phương tiến hành liên kết với các làng nghề ở địa phương khác để đào tạo lao động, liên kết thành lập hợp tác xã hoặc các doanh nghiệp
có uy tín để làm các dịch vụ phục vụ sản xuất, quảng bá, tiêu thụ sản phẩm của mình
- Chính quyền địa phương hết sức quan tâm đến sự phát triển của các làng nghề tiểu thủ công nghiệp, năm 2003 UBND tỉnh Phú Yên đã ban hành “ quy định về chính sách khuyến khích đầu tư phát triển làng nghề tiểu thủ công nghiệp và làng nghề” Mới đây tỉnh còn đề ra chương trình hoạt động về bảo tồn và phát triển làng nghề giai đoạn 2007-2010 nhằm giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong phát triển làng nghề Từ nhiều nguồn vốn, những năm qua các làng nghề ở tỉnh Phú Yên được hỗ trợ gần 6 tỷ đồng để thực hiện hàng chục dự án bao gồm các hoạt động đào tạo nghề, tạo sản phẩm mới, xây dựng và quảng bá thương hiệu, tìm thị trường tiêu thụ…
- Hiện nay, Phú Yên định hướng phát triển làng nghề truyền thống kết hợp với
du lịch UBND tỉnh vừa ban hành Quyết định 28/2012/QĐ-UBND Quy định một số chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất các sản phẩm lưu niệm, đặc sản phục vụ du lịch trên địa bàn tỉnh Quyết định này mở ra cơ hội thúc đẩy làng nghề phát triển, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người dân làng nghề
Tuy nhiên trong quá trình phát triển làng nghề của tỉnh Phú Yên còn gặp phải một số khó khăn Sự xuất hiện về cạnh tranh không lành mạnh giữa các gia đình, đơn
Trang 27vị sản xuất cùng một loại mặt hàng tại địa phương với nhau Cạnh tranh nội bộ theo kiểu “ mở đầu vô, bó đầu ra” Chỉ có những doanh nghiệp sản xuất kinh doanh lớn mới chú trọng vào làm thương hiệu, marketing, tìm kiếm thị trường…còn nghề truyền thống chủ yếu xây dựng tại các hợp tác xã và người dân Chưa có tổ chức nào, một hợp tác xã nào hết hợp với nhau để sản xuất theo quy mô lớn
1.6 Bài học kinh nghiệm
Từ thực tiễn phát triển bền vững làng nghề của các quốc gia và các tỉnh, thành phố của Việt Nam, có thể rút ra được một số kinh nghiệm để có thể phát triển làng nghề một cách bền vững như sau:
Chuyên môn hóa hoạt động sản xuất của làng nghề, tập trung mọi nguồn lực để sản xuất sản phẩm có cá tính, đặc điểm nổi trội, có tính cạnh tranh nhất so với các địa phương, làng nghề khác dựa trên đặc điểm tự nhiên, văn hóa, xã hội của từng làng nghề
Không ngừng đổi mới mẫu mã, nâng cao chất lượng sản phẩm của làng nghề để đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng, phong phú của người tiêu dùng, bắt kịp với xu hướng tiêu dùng hiện đại nhưng mang những nét riêng đặc trưng của địa phương, làng nghề, “ hòa nhập chứ không hòa tan”
Đảm bảo thị trường đầu ra cho sản phẩm để khuyến khích sản xuất của làng nghề phát triển, tìm kiếm các thị trường mới, tiềm năng cho sản phẩm của làng nghề, thiết lập các kênh phân phối sản phẩm để sản phẩm của làng nghề có thể được phân phối rộng rãi Quan tâm, chú trọng phát triển nguồn nhân lực của làng nghề, tôn vinh những nghệ nhân của làng nghề, nâng cao lòng yêu nghề của những lao động trong làng nghề và quan trọng là truyền lòng yêu nghề tới thế hệ trẻ, thế hệ kế cận, những người sẽ giữ gìn
và phát triển làng nghề, đồng thời có các chương trình hướng nghiệp dạy nghề cho thế
Chương 2: Thực trạng phát triển bền vững làng nghề truyền thống trên địa bàn Hà Nội
Trang 282.1 Hiện trạng phát triển kinh tế xã hội của Thành phố Hà Nội
2.1.1 Vị trí của Hà Nội so với các tỉnh trong quy hoạch xây dựng vùng thủ đô Hà Nội, vùng Đồng bằng sông Hồng và cả nước
2.1.1.1 So với các tỉnh vùng thủ đô Hà Nội :
Theo Quyết định số 490/QĐ - TTg ngày 05/5/2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt quy hoạch xây dựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2050 Vùng Thủ đô Hà Nội bao gồm các tỉnh Vĩnh Phúc, Hưng Yên, Bắc Ninh, Hải Dương, Hà Nam và Hòa Bình đến năm 2050 sẽ là vùng kinh tế tổng hợp lớn của Quốc gia và khu vực châu Á - Thái Bình Dương Là khu vực phát triển năng động,
có chất lượng đô thị cao, môi trường đầu tư thuận lợi, phát triển bền vững Đồng thời là trung tâm chính trị, văn hóa - lịch sử, khoa học, giáo dục - đào tạo và du lịch lớn của cả nước
Định hướng và tổ chức phát triển không gian vùng Thủ đô có tác động lớn tới phát triển nghề, làng nghề truyền thống của thành phố Hà Nội, cụ thể:
- Vùng phụ cận trong phạm vi 25 - 30 km có chức năng hỗ trợ phát triển và mở rộng đô thị trung tâm, là các vùng giao thoa, lan tỏa sự phát triển giữa thủ đô Hà Nội và các tỉnh lân cận Vai trò của khu vực này là tạo các vành đai xanh cung cấp các sản phẩm nông nghiệp, thực phẩm cho thủ đô, đồng thới phát triển các ngành tiểu thủ công nghiệp, làng nghề truyền thống và dịch vụ du lịch, văn hóa sinh thái…
- Các đô thị, thị trấn cấp huyện là trung tâm công nghiệp vừa và nhỏ, dịch vụ dân cư nông nghiệp - nông thôn Các vùng dân cư nông thôn trong xu hướng đô thị hóa tăng dần hoạt động phi nông nghiệp, phát triển nghề thủ công và thương mại, công nghiệp nông thôn quy mô nhỏ và vừa, nâng cao chất lượng dịch vụ công cộng và cải thiện hệ thống hạ tầng nông thôn
- Đối với Thủ đô Hà Nội: Di chuyển kết hợp cải tạo nâng cấp cơ sở các ngành sản xuất công nghiệp, các nghề, làng nghề có nguy cơ gây ô nhiễm ra xa nội thành, khi
di chuyển cần có biện pháp đồng bộ nhằm bảo vệ môi trường như nghề chế biến NSTP thuộc huyện Hoài Đức, Quốc Oai, Thanh Oai; nghề cơ, kim khí thuộc huyện Thạch Thất, Thanh Oai…
- Tổ chức không gian du lịch vùng Hà Nội nằm trong quy hoạch trung tâm du lịch Hà Nội và phụ cận được xác định trong quy hoạch phát triển du lịch vùng du lịch bắc bộ, bao gồm thủ đô Hà Nội và các tỉnh phụ cận thuộc vùng Hà Nội và các vùng
Trang 29bao quanh là Phú Thọ, Bắc Giang, Ninh Bình, Nam Định, Thái Bình, Thanh Hóa là điều kiện thuận lợi cho việc xuất khẩu và xuất khẩu tại chỗ các sản phẩm thủ công mỹ nghệ truyền thống
- Phát triển hệ thống giao thông vận tải một cách thống nhất, cân đối, đồng bộ về đường bộ, đường sắt, hàng không, giao thông đô thị, nông thôn và các hệ thống cung cấp điện, nước, cấp thoát nước, xử lý nước thải và bảo vệ môi trường… là cơ sở để đẩy mạnh phát triển nghề, làng nghề truyền thống của Hà Nội
Làng nghề Hà Nội chiếm số lượng lớn so với cả nước Theo số liệu điều tra của
Bộ Nông nghiệp & PTNT cả nước có 8.852 làng có nghề và 965 làng nghề được công nhận, trong đó Hà Nội có 1.350 làng có nghề chiếm 15,25% và 277 làng nghề được công nhận chiếm 28,7%
Biểu 2.1: Tốc độ tăng trưởng của Hà Nội so với cả nước năm 2010
5 Kim ngạch xuất khẩu (USD/người) 1.230 856,43
6 Thu ngân sách/người (Triệu đồng) 13,57 6,34
Trang 307 Tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề (%) 23 20
8 Tỷ lệ đói nghèo (% theo tiêu chuẩn quốc gia) 6,09 12,3
(Nguồn: Cục thống kê Hà Nội và Tổng Cục thống kê)
2.1.2 Hiện trạng dân số, lao động và cơ cấu lao động
2.1.2.1 Dân số và lực lượng lao động:
Năm 2010, dân số Thành phố Hà Nội là 6,618 triệu người, tăng 2,1% so với năm
2009, trong đó nam có 3,219 triệu người chiếm 48,64%, nữ có 3,399 triệu người chiếm 51,36% Dân số sống ở thành thị chiếm 42,55%, ở nông thôn chiếm 57,45% Giai đoạn 2006 -
2010 trung bình mỗi năm có trên 120.000 người được giải quyết việc làm Cơ cấu lao động có
sự thay đổi, tỷ trọng thu hút lao động vào các khu vực công nghiệp, xây dựng và dịch vụ tăng, lao động trong ngành nông, lâm, thuỷ sản giảm Năm 2006 tỷ trọng lao động công nghiệp, xây dựng - dịch vụ chiếm 78,4%, nông lâm, thuỷ sản là 23,6% Đến năm 2010 tỷ trọng lao động công nghiệp, xây dựng - dịch vụ chiếm 88,5%; nông, lâm, thuỷ sản là 11,5% Tỷ lệ thất
nghiệp ở thành thị giảm từ 6,06% năm 2006 xuống còn 2,59% năm 2010 (Nguồn Niên giám thống kê - Cục thống kê Thành phố Hà Nội năm 2010)
Theo số liệu điều tra: Cơ cấu số hộ và số lao động trong các làng có nghề có sự thay đổi Năm 2006 số hộ thuần nông chiếm tỷ lệ là 56,98%,đến năm 2010 còn 47,60%; số hộ sản xuất công nghiệp - TTCN năm 2006 chiếm tỷ lệ 20,71%, đến năm
2010 là 21,7% Số hộ dịch vụ, thương mại năm 2006 chiếm 22,30%, đến năm 2010 là 30,5%
Số lao động thuần nông giảm dần Năm 2006 lao động thuần nông chiếm 52,6%, đến năm 2010 còn 45,88% Số lao động sản xuất công nghiệp, xây dựng và dịch vụ năm 2006 chiếm 47,4%, đến năm 2010 là 54,12%
Hiện nay, Hà Nội là địa phương có tốc độ đô thị hoá nhanh, năm 2005 đất đô thị
là 39,6%, đến năm 2010 đã đạt 40,8% Theo kế hoạch sử dụng đất thời kỳ 2001 - 2010 được HĐND Thành phố khoá XII, kỳ họp thứ 4 thông qua việc chuyển đổi 22.000 ha đất nông nghiệp sang phát triển công nghiệp và đô thị, trong đó có 11.900 ha được quy hoạch các khu, cụm công nghiệp và cụm tiểu thủ công nghiệp Theo đó cơ cấu lao động của Thành phố sẽ thay đổi theo hướng: Lao động nông nghiệp giảm, lao động công nghiệp - dịch vụ tăng
2.1.2.2 Dạy nghề, đào tạo nghề:
Ở các làng nghề việc dạy nghề, đào tạo nghề chủ yếu là truyền nghề; Vì vậy có điều kiện để bảo tồn nghề truyền thống Đến nay, việc đào tạo nghề với nhiều hình thức,
Trang 31đa dạng, phong phú Trên địa bàn Thành phố đã đầu tư mở rộng, quy mô một số cơ sở đào tạo nghề như: Trường Cao đẳng công nghiệp Việt Hung; Trường Trung cấp nghề tổng hợp tại Hà Đông và Xuân Mai; Trường Trung cấp dạy nghề số 1 Phú Xuyên và các trung tâm dạy nghề ở các quận, huyện, thị xã Các trường này đã đào tạo lao động phục vụ cho các doanh nghiệp thuộc các khu, cụm công nghiệp, cụm tiểu thủ công nghiệp và các làng nghề, góp phần cung cấp công nhân kỹ thuật có trình độ trong đó có nhiều công nhân tham gia sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ truyền thống Ngoài ra còn huy động các tổ chức, cá nhân tham gia, đào tạo theo phương pháp truyền nghề, cấy nghề với hình thức dạy nghề, đào tạo nghề phong phú đã đem lại cho người lao động việc làm phù hợp Tuy nhiên việc dạy nghề, đào tạo nghề chưa đáp ứng nhu cầu lao động cho các làng nghề trên địa bàn Thành phố
2.1.2.3 Trình độ lao động:
Theo kết quả đánh giá năm 2010, Hà Nội đã được công nhận đạt phổ cập giáo dục trung học cơ sở Ở các làng có nghề số người được đào tạo từ sơ cấp trở lên đã chiếm 36,7%, trình độ trên đại học là 0,7%, đại học 7%, cao đẳng 11%
Nguồn nhân lực của các làng nghề chủ yếu là lao động trẻ, có khả năng thích ứng với nền kinh tế thị trường, là nhân tố quyết định đến hoạt động sản xuất kinh doanh khu vực làng nghề Tuy nhiên chất lượng nguồn lao động chưa cao, các chủ cơ
sở sản xuất và chủ doanh nghiệp chưa qua đào tạo nghiệp vụ quản lý và chuyên môn
kỹ thuật chiếm khoảng 70%, các chủ hộ sản xuất tiểu thủ công nghiệp chưa được trang
bị kiến thức quản trị doanh nghiệp và chính sách liên quan đến sản xuất kinh doanh nên hạn chế đến việc hoạch định chiến lược phát triển
2.1.3 Tình hình tăng trưởng và phát triển các ngành kinh tế của Thành phố
2.1.3.1 Tốc độ tăng trưởng kinh tế của các ngành:
Tốc độ tăng trưởng kinh tế và giá trị sản xuất các ngành kinh tế của Thành phố
Hà Nội ngày càng tăng Tuy nhiên, từ cuối năm 2008 đến đầu năm 2009 do khủng hoảng tài chính toàn cầu, nền kinh tế thế giới giảm sút nghiêm trọng đã ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng kinh tế ở nước ta nói chung và Thành phố Hà Nội nói riêng Nhịp
độ tăng GDP của Thành phố đã chậm lại Năm 2006 - 2007 có nhịp độ tăng GDP là 12,2 - 12,5%/năm Đến năm 2008 còn 10,7%, năm 2009 là 7,3%, năm 2010 là 11%
Theo đó nhịp độ tăng giá trị sản xuất công nghiệp và giá trị sản xuất nông nghiệp cũng chậm lại Năm 2006 nhịp độ tăng giá trị sản xuất công nghiệp là 21,01% đến năm 2008 là 13,74%, năm 2009 là 9,4%, năm 2010 là 14,4% Nhịp độ tăng giá trị
Trang 32sản xuất nông nghiệp năm 2006: 2,74%, năm 2008: 9,84%, năm 2009: 0,39%, năm 2010: 8,78%
Tổng vốn đầu tư phát triển tăng hàng năm Năm 2006 đạt 67.180 tỷ đồng, đến năm 2010 là 173.488 tỷ đồng, trong đó vốn nhà nước là 51.322 tỷ đồng chiếm 29,58%, vốn ngoài nhà nước là 105.154 tỷ đồng chiếm 60,61% và vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài là 17.013 tỷ đồng chiếm 9,81%
Tổng mức bán lẻ hàng hoá tăng dần qua các năm Năm 2006 đạt 74.687 tỷ đồng, năm 2010 đạt 206.261 tỷ đồng
Tổng kim ngạch xuất khẩu của Thành phố tăng nhanh, năm 2006 đạt 3.947 triệu USD, năm 2008 đạt 6.904 triệu USD Năm 2009 kim ngạch xuất khẩu đạt 6.328 triệu USD Năm 2010 kim ngạch xuất khẩu đạt 8.109 triệu USD
Tổng lượt khách du lịch năm 2006 là 8.830.000 lượt khách, năm 2008 là 7.852.000 người Năm 2009 là 7.737.000 lượt người Đến năm 2010 là 8.620.000 lượt người
Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn Thành phố Hà Nội tăng qua các năm Năm
2006 đạt 41.031 tỷ đồng, năm 2009 đạt 85.448 tỷ đồng Năm 2010 ước đạt 100.00 tỷ đồng
(Nguồn Niên giám thống kê - Cục thống kê Thành phố Hà Nội năm 2010)
2.1.3.2 Xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế:
Cơ cấu kinh tế có chuyển biến tích cực theo hướng tăng tỷ trọng GDP về dịch
vụ - công nghiệp, xây dựng và giảm dần về nông, lâm, thuỷ sản Năm 2006 cơ cấu kinh
tế của Thành phố: nông, lâm, thuỷ sản - công nghiệp, xây dựng - dịch vụ: 8,2% - 41% - 50,8%; năm 2010 chuyển dịch tương ứng là 6,2% - 43,1% - 50,7% Tỷ lệ ngành công nghiệp chiếm cao trong cơ cấu kinh tế và đạt 43,1% năm 2010 Trong đó các ngành tiểu thủ công nghiệp được coi là hướng ưu tiên song song với các ngành công nghiệp hiện đại Với xu hướng này, ngành tiểu thủ công nghiệp, đặc biệt là các làng nghề cũng
có lợi thế phát triển tại địa phương
Biểu 2.2: Một số chỉ tiêu kinh tế chủ yếu Thành phố Hà Nội đến năm 2010
TT Chỉ tiêu Đơn vị Năm
Trang 33- Nông lâm thuỷ
6 Tổng mức bán lẻ
HH
Tỷ đồng 25.272 74.687 103.458 133.312 157.218 206.261
10 GDP bình quân
đầu người
Triệu đồng 7,4 18,4 22,4 28,1 32,4 37,3
(Nguồn: Niên giám thống kê - Cục thống kê Thành phố Hà Nội năm 2010)
2.1.3.3 Quy mô, tăng trưởng:
Tính đến thời điểm năm 2009, tổng GDP của Hà Nội đạt 66.175 tỷ đồng (theo giá so sánh) tăng 7,3% so với năm 2008, chiếm hơn một nửa tổng GDP vùng đồng bằng sông Hồng và 12,1% cả nước, đưa Hà Nội lên vị trí thứ hai sau TP Hồ Chí Minh
Biểu 2.3: Tốc độ tăng trưởng và đóng góp vào tăng trưởng của các ngành
Trang 34Dịch vụ 10,7 10,3 11,5 11,1 10,5 Công nghiệp - xây dựng 13,4 17,2 11,2 11,6 11,6
2 Đóng góp cho tăng trưởng 100,0 100,0 100,0 100,0 100,0
Công nghiệp - xây dựng 45,2 55,3 41,2 41,8 41,5
(Nguồn: Niên giám thống kê - Cục thống kê Thành phố Hà Nội năm 2010)
Cơ cấu kinh tế theo ngành của Hà Nội có sự dịch chuyển khá nhanh đóng góp cho các ngành theo hướng tích cực, khi tỷ trọng ngành dịch vụ là 52,2% và tỷ trọng ngành nông nghiệp chỉ còn 6,6% trong năm 2008 Đến năm 2010 tỷ trọng ngành dịch
vụ đạt 52,4%, tỷ trong ngành nông - lâm - thủy sản là 5,8% Với cơ cấu này Hà Nội trở thành một trong số ít địa phương có tỷ trọng dịch vụ cao hơn ngành công nghiệp (41,8%)
Việc điều chỉnh địa giới hành chính của Thủ đô Hà Nội sẽ thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng ngoại thành theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá
2.1.4 Cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
2.1.4.1 Mạng lưới giao thông:
* Hệ thống đường bộ: Mạng lưới giao thông ở Hà Nội phát triển đồng bộ
trên địa bàn Hệ thống đường bộ xuất phát từ Hà Nội đi khắp mọi miền cả nước theo Quốc lộ 1A (theo hướng Bắc - Nam) Quốc lộ 2 đi Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Tuyên Quang, Hà Giang Quốc lộ 3 đi Thái Nguyên, Bắc Cạn, Cao Bằng Quốc lộ 5 đi Hải Phòng, Quảng Ninh Quốc lộ 6 đi Hoà Bình, Sơn La, Lai Châu Đường giao thông nông thôn của Hà Nội có tổng chiều dài 9.845,16 km, trong đó đường nhựa và bê tông 6.101,71 km chiếm 62%, còn lại là đường cấp phối, đường đất Ô tô đã đến trung tâm các xã, thị trấn và làng nghề
* Đường sắt: Ga Hà Nội là đầu mối của 6 tuyến đường sắt quốc gia là Hà Nội -
Thành phố Hồ Chí Minh; Hà Nội - Lạng Sơn; Hà Nội - Lào Cai; Hà Nội - Hải phòng;
Hà Nội - Thái Nguyên; Hà Nội - Uông Bí Có 2 tuyến đường sắt quốc tế: đường liên vận Bắc Kinh Trung Quốc và tuyến đường sắt đi các nước Châu Âu
Trang 35* Đường sông: Hà Nội có hệ thống sông chảy qua như sông Hồng, sông Đà,
sông Tích, sông Bùi, sông Nhuệ dài 207 km Trên địa bàn Thành phố còn có các cảng trên sông Hồng như: cảng Hà Nội, cảng Sơn Tây, cảng Hồng Vân và các cảng nhỏ, các bến bốc xếp hàng hoá trên các dòng sông
* Đường hàng không: Thành phố Hà Nội có cảng hàng không quốc tế Nội Bài là
sân bay lớn nhất Miền Bắc, có khả năng tiếp nhận 10 triệu hành khách/năm Sân bay Gia Lâm chủ yếu phục vụ quân sự và dịch vụ vận tải hàng hoá Ngoài ra có 3 sân bay: Bạch Mai, Hoà Lạc, Miếu Môn do quân đội quản lý
Nhìn chung mạng lưới giao thông của Thành phố phát triển khá, thông qua hệ thống đường bộ, đường sắt, đường hàng không tạo điều kiện cho lưu thông vận chuyển hành khách, hàng hoá (nguyên vật liệu, nông sản thực phẩm, gỗ tre nứa ) để sản xuất
và tiêu thụ sản phẩm ở trong nước và xuất khẩu đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế trong đó có phát triển làng nghề
Nhìn chung việc cung cấp điện đã cơ bản đảm bảo cho nhu cầu sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và sinh hoạt của nhân dân Điện đã cung cấp đến các khu, cụm tiểu thủ công nghiệp, các điểm du lịch Tuy nhiên, hệ thống lưới điện còn nhiều bất cập, nhiều địa phương hệ thống đường dây tải điện xuống cấp chưa được cải tạo, nâng cấp, tỷ lệ tổn hao lớn (có nơi đến 30%) gây lãng phí và thiếu điện cho sản xuất và sinh hoạt, đường dây tải điện đi trên không gây mất cảnh quan đô thị, việc tổ chức quản lý của các tổ chức bán điện nông thôn còn yếu nên ảnh hưởng đến chất lượng điện trong các làng nghề
2.1.4.3 Hệ thống cấp, thoát nước:
Hệ thống cấp nước sạch ở Hà Nội có 18 nhà máy với 127 trạm bơm tăng áp, đường ống dẫn nước tăng thêm 3592 km, tuyến ống phân phối tăng thêm 75.515 km, sản lượng nước bình quân ngày đạt 606.000 m3/ngày
Trang 36Hiện nay tình hình cung cấp nước sạch phục vụ cho Thành phố có 16 nhà máy ở khu vực phía bắc sông Hồng gồm 3 nhà máy nước (Gia Lâm, sân bay Gia Lâm, Đông Anh) do công ty kinh doanh nước sạch số 2 Hà Nội quản lý với tổng công suất 98000
m3/ngày đêm Khu vực phía Nam sông Hồng có 10 nhà máy tổng công suất 545000
m3/ngày đêm và một số trạm cấp nước nhỏ trong Thành phố do công ty kinh doanh nước sạch Hà Nội và cơ sở tư nhân quản lý Quận Hà Đông có 2 cơ sở thuộc Công ty TNHH Một thành viên cấp nước Hà Đông với tổng công suất cấp nước chỉ đạt 14500
m3/36000m3/ngày đêm thiết kế Tỷ lệ dân số được cấp nước khoảng 85% Tại thị xã Sơn Tây có 2 cơ sở thuộc Công ty CP cấp nước Sơn Tây với công suất cấp nước đạt 20.000m3/ngày đêm, khoảng 70% dân số dùng nước sạch Huyện Mê Linh có 1 nhà máy công suất 40000m3/ngày đêm để cấp nước cho khu công nghiệp và khu đô thị Quang Minh Tuy nhiên việc cung cấp nước sạch còn hạn chế, tỷ lệ thất thoát nước lớn
từ 20 - 35%
Nguồn nước mặt sông Đà đã được công ty VINACONEX xây dựng hệ thống xử
lý và ống dẫn, khai thác và cung cấp nước cho một số quận, huyện như: Thạch Thất, Quốc Oai, Hoài Đức, Từ Liêm
Hệ thống thoát nước cơ bản đã hoàn chỉnh, một số trạm bơm đang được xây dựng và nâng cấp để tăng thêm năng lực tiêu thoát nước cho trung tâm Thành phố và các khu vực ngoại thành nhằm đáp ứng tình hình thời tiết mưa úng xảy ra
2.1.4.4 Bưu chính viễn thông:
Mạng lưới bưu chính viễn thông và thông tin liên lạc của Thành phố Hà Nội phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng Mạng thông tin di động phát triển mạnh với nhiều loại hình đa dạng, sôi động trên thị trường, cáp quang được nối theo cấu hình mạng vòng nên có độ an toàn cao Hiện nay (tính đến hết năm 2009) trên địa bàn Hà Nội có 477 điểm bưu điện văn hoá xã, có 1.700.000 máy điện thoại cố định đạt 26,15 máy/100 dân, khoảng 12 triệu thuê bao di động, đạt 184,5máy/100 dân; 100% số xã có điện thoại và các loại dịch vụ bưu chính viễn thông, trên 753.000 người sử dụng internet tăng gần 19% so với năm 2008 Nhìn chung bưu chính viễn thông đã đáp ứng yêu cầu của nhân dân và hội nhập kinh tế quốc tế như: chuyển tiền nhanh, chuyển phát nhanh EMS, thư chuyển tiền dịch vụ Fax công cộng, dịch vụ tiết kiệm đã góp phần thuận lợi cho sản xuất kinh doanh phát triển trong đó có các làng nghề Tuy nhiên việc
sử dụng kết nối internet chiếm tỷ lệ thấp nên hạn chế việc thông tin cho các nhà sản xuất kinh doanh
2.1.4.5 Du lịch - thương mại:
Trang 37Hà Nội có vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên đa dạng, đặc biệt có nền văn hoá lâu đời, có nhiều di tích được xếp hạng cấp quốc gia, một số di tích được công nhận là di sản văn hóa thế giới, nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng nên có tiềm năng lớn về du lịch đã tạo ra cho du lịch Hà Nội trở nên hấp dẫn đối với du khách trong, ngoài nước Các loại sản phẩm du lịch trên địa bàn như: du lịch tâm linh, lễ hội, du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, nghỉ cuối tuần, vui chơi giải trí, du lịch các làng nghề Năm 2008 cả Thành phố có 480 tổ chức
du lịch trong, ngoài nước, 626 đơn vị kinh doanh khách sạn lữ hành Những năm qua Thành phố Hà Nội đang tập trung nâng cấp các điểm ở trung tâm Thành phố Hà Nội (Hồ Tây, hồ Hoàn Kiếm, phố cổ Hà Nội, khu di tích Hoàng thành Thăng Long ), các khu du lịch trọng điểm ngoại thành như: Sơn Tây - Ba Vì, Hương Sơn - Mỹ Đức, quận Hà Đông, các làng nghề gốm sứ Bát Tràng, dệt lụa Vạn Phúc, khảm trai Chuyên Mỹ, mộc mỹ nghệ Vân Hà, đúc đồng Ngũ Xã, mây tre đan Phú Vinh, tre đan Ninh Sở, thêu Quất Động, tiện Nhị Khê đang là điểm đến du lịch tìm hiểu ngành nghề truyền thống gắn với lịch sử lâu đời của làng nghề Việt Nam
Thông qua các sản phẩm thủ công tinh xảo được chế tác khéo léo, mang phong cách văn hoá riêng của từng địa phương, các sản phẩm xuất khẩu đã góp phần củng cố và phát huy giá trị truyền thống của Việt Nam với du khách thế giới
Hoạt động thương mại Hà Nội tiếp tục phát triển với nhiều loại hàng hoá đa dạng phong phú trong đó có nhiều sản phẩm làng nghề truyền thống Hà Nội có mức luân chuyển hàng hoá bán lẻ lớn Năm 2010 Thành phố có 4228 cơ sở kinh doanh thương mại và 386 chợ nông thôn, diện tích bình quân 1 chợ gần 3000m2, số hộ kinh doanh bình quân 133 hộ/chợ, trong đó có 143 chợ đạt tiêu chuẩn do Bộ Công Thương quy định chiếm 37,05% và 243 chợ không đạt chuẩn chiếm 62,95%, trong đó có 175 chợ có thể cải tạo, nâng cấp đạt chuẩn, còn lại 68 chợ không có khả năng nâng cấp để đạt chuẩn Cần đầu tư xây dựng 69 chợ mới để đáp ứng nhu cầu mua bán, trao đổi hàng hóa vật tư cho sản xuất đời sống nhân dân Mạng lưới kinh doanh xăng dầu phân bố đều khắp trên các trục đường giao thông, trên địa bàn Thành phố có 418 cửa hàng kinh doanh xăng dầu được cấp giấy phép
Nhìn chung hệ thống mạng lưới kinh doanh thương mại phát triển song vẫn theo phương thức truyền thống, các siêu thị Trung tâm thương mại phát triển chưa đều theo vùng chủ yếu tập trung ở các quận nội thành và các vùng ven đô Cơ sở vật chất các chợ xuống cấp chưa đáp ứng việc trao đổi hàng hoá
Thành phố Hà Nội có tiềm năng lớn về xuất khẩu hàng nông sản, chế biến nông sản thực phẩm, hàng thủ công mỹ nghệ truyền thống, hàng may mặc, da giầy, tơ tằm,
Trang 38chè đen, thịt lợn sữa các sản phẩm chủ yếu xuất sang các nước EU, Đài Loan, Trung Quốc, Nhật, một số nước ASEAN Tuy nhiên chất lượng hàng hoá xuất khẩu còn hạn chế, chủ yếu là sản phẩm thô chưa qua chế biến, một số nhóm sản phẩm làm gia công, sức cạnh tranh hạn chế chưa có nhiều sản phẩm làng nghề có thương hiệu; khó khăn thâm nhập thị trường nước ngoài, đặc biệt là những thị trường „khó tính”, giá trị xuất khẩu chưa tương xứng với năng lực sản xuất của các làng nghề; chưa quy hoạch phát triển vùng nguyên liệu phục vụ cho sản xuất trong làng nghề; việc áp dụng thuế chống bán phá giá của EU đối với một số mặt hàng của Việt Nam đã ảnh hưởng đến việc làm
và đời sống của người lao động ở một số ngành, lĩnh vực thuộc khu vực làng nghề
2.2 Thực trạng phát triển làng nghề truyền thống Hà Nội theo hướng bền vững
2.2.1 Bền vững trên khía cạnh kinh tế
2.2.1.1 Số lượng, cơ cấu, giá trị sản xuất, hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh tại các làng nghề
a,Quy mô, số lượng và phân bố làng nghề:
Trong nền kinh tế nước ta hiện nay, làng nghề giữ vị trí quan trọng, vừa trực tiếp giải quyết việc làm cho lực lượng lao động ở nông thôn, vừa góp phần gìn giữ và phát triển văn hóa truyền thống, tạo ra diện mạo đô thị hóa mới cho nông thôn, giúp nông dân “ly nông bất ly hương” và làm giàu trên chính quê hương mình Làng nghề Hà Nội chiếm số lượng lớn so với cả nước Theo số liệu điều tra của Bộ Nông nghiệp & PTNT, năm 2010 cả nước có 8.852 làng có nghề và 965 làng nghề được công nhận, trong đó Hà Nội có 1.350 làng có nghề chiếm 15,25% và 274 làng nghề được công nhận chiếm 28,39% Theo kết quả điều tra của tổ chức Jica( Nhật Bản) hiện cả nước có 52 nghề thủ công truyền thống trong đó Thành phố Hà Nội có 47 nghề chiếm 90% nghề truyền thống của cả nước, được phân bố rộng khắp các quận, huyện, thị xã của Thành phố đã góp phần phục vụ cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu Dựa trên các yếu tố tương đồng về ngành nghề sản xuất, đặc trưng của sản phẩm làng nghề Hà Nội
Trang 39Hình 2.1: Tỷ lệ giữa các làng nghề và làng có nghề trên địa bàn Hà Nội
(Nguồn: Dự thảo Quy hoạch tổng thể phát triển nghề, làng nghề Thành phố Hà Nội đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030)
Làng có nghề phân bố ở hầu hết các huyện ngoại thành Hà Nội, tập trung chủ yếu ở các huyện Chương Mỹ 174 làng, Thường Tín 125 làng, Phú Xuyên 124 làng, Ứng Hoà 113 làng, Ba Vì 101 làng, Thanh Oai 87 làng, Sóc Sơn 54 làng, Đông Anh 32 làng, Mê Linh 27 làng, Gia Lâm 22 làng trong đó nghề mây tre giang đan 365 làng chiếm gần 27,04% làng có nghề, tập trung ở huyện Chương Mỹ 141 làng, Ứng Hoà 55 làng, Phú Xuyên 25 làng, Thạch Thất 19 làng, Ba Vì 17 làng Ít nhất là ngành nghề Dát vàng, bạc, quỳ 4 làng, gốm sứ 5 làng (Gia Lâm), nghề đan tơ lưới 5 làng (Phú Xuyên), nghề làm giấy 5 làng (Ba Vì, Thanh Trì)
- Quy mô số lượng làng nghề: UBND Thành phố đã công nhận 277 làng đạt tiêu chuẩn làng nghề chiếm 20,52% tổng số làng có nghề của Thành phố trong đó có 244 làng nghề truyền thống Huyện Thanh Oai có 51 làng, Thường Tín có 44 làng, Phú Xuyên 39 làng, Chương Mỹ 33 làng, Ứng Hoà 20 làng, Ba Vì 14 làng, Quốc Oai 15 làng, Hoài Đức 12 làng, quận Hà Đông 6 làng, Phúc Thọ 5 làng, Gia Lâm 5 làng, thị xã
Trang 40Sơn Tây 2 làng, Sóc Sơn 2 làng, Từ Liêm 2 làng, Thanh Trì 2 làng, quận Long Biên 1 làng, Mê Linh 1 làng
Biểu 2.4: Tổng số làng nghề UBND TP Hà Nội công nhận đến năm 2011
STT Tên quận, huyện