Đánh giá hiện trạng môi trường và định hướng phát triển bền vững làng nghề chạm bạc ở xã Lê Lợi tỉnh Thái Bình
Trang 1CHƯƠNG I: MỞ ĐẦU
1 1 Đặt vấn đề
Kinh tế nông thôn có vị trí quan trọng hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế
xã hội ở nước ta, bởi vì nông thôn Việt Nam chiếm hơn 70% lao động và gần 80% dân
số Một trong những nội dung định hướng phát triển kinh tế nông thôn do đại hôi IX đề ra là: mở mang các làng nghề (LN), phát triển các điểm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ
Phát triển các làng nghề nhằm tạo việc làm, tăng thu nhập ở nông thôn, góp phần xoá đói giảm nghèo, góp phần thực hiện chiến lược kinh tế hướng ngoại với sản phẩm mũi nhọn là các mặt hàng thủ công mỹ nghệ, chế biến nông sản và cũng là thực hiện mục tiêu
“ly nông bất ly hương” ở nông thôn LN ở Việt Nam trong đó một bộ phận quan trọng là làng nghề thủ công truyền thống với sản phẩm đặc trưng là hàng thủ công mỹ nghệ tinh xảo
Theo số liệu điều tra hiện nay, tỉnh Thái Bình có hơn 200 làng nghề, xã nghề Trước đây, do hoạt động manh mún, nhỏ lẻ, khối lượng hàng hóa làm ra không nhiều, làm ăn theo kiểu tự cung, tự cấp nên môi trường làng nghề ít chịu ảnh hưởng bởi sản xuất Trong thời kỳ đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, nhiều làng nghề Thái Bình nói riêng và trong cả nước nói chung, nhiều làng nghề được khôi phục và phát triển với quy mô ngày càng lớn Bên cạnh thành tựu là tạo ra công ăn việc làm cho người nông dân địa phương trong lúc nhàn rỗi, phát triển kinh tế thay đổi bộ mặt nông thôn là các vấn đề môi trường phát sinh Vấn đề ô nhiễm môi trường khá nghiêm trọng và ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng cuộc sống trong các LN nói riêng và nông thôn nói chung Nhiều hoạt động sản xuất kinh doanh trong làng nghề đã và đang tạo sức ép không nhỏ đến môi trường sống của làng nghề và các cộng đồng xung quanh Các làng nghề cần được định hướng phát triển bền vững Tại Thái Bình, chạm bạc Đồng Xâm là một trong những làng nghề nổi tiếng nhất nước Làng Đồng Xâm nằm trong quần thể khu vực ba xã Lê – Hồng – Trà, chủ yếu ở xã Hồng Thái Tuy nhiên, làng nghề chạm bạc thuộc xã Lê Lợi hiện nay có quy mô lớn nhất và môi trường tự nhiên ở đây cũng ảnh hưởng nặng nhất Tại đây đang tồn tại một bài toán khó giải, đó là làm sao vừa phát triển kinh tế, ổn định xã hội mà không làm ô nhiễm môi trường làng nghề chạm bạc Lê Lợi?
Trang 2Vì vậy, người thực hiện chọn đề tài: "Đánh giá hiện trạng môi trường và định hướng phát triển bền vững cho làng nghề chạm bạc ở xã Lê Lợi tỉnh Thái Bình” làm
đồ án tốt nghiệp của mình
1.2 Nội dung nghiên cứu
Khảo sát hiện trạng chất lượng nước sông, ao hồ, mương dẫn và nước ngầm tại một số khu vực làng nghề chạm bạc xã Lê Lợi
Nghiên cứu áp dụng phát triển làng nghề chạm bạc theo hướng bền vững phù hợp với điều kiện cụ thể
Nghiên cứu các phương pháp xử lý nước thải chứa kim loại nặng như Crom, Cyanua
Điều tra, khảo sát tác động ô nhiễm nước đến con người và sinh vật trong làng vùng lân cận
Nghiên cứu phương pháp cải thiện môi trường nước hiện tại tại làng nghề
1.3 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu: Đánh giá được mức độ ô nhiễm môi trường (nước thải và không khí) tại
làng nghề Chạm bạc xã LL, qua đó đề xuất một số giải pháp nhằm bảo vệ và cải án thiện môi trường của làng nghề hướng tới sự phát triển bền vững
1.4 Đối tượng và quy mô
Đối tượng: Nước thải làng nghề chạm bạc khu vực HTX Phú Lợi xã Lê Lợi huyện Kiến Xương tỉnh Thái Bình
Quy mô: Hợp tác xã Phú Lợi và các các cơ sở sản xuất làng nghề trong xã Lê Lợi
1.5 Phương pháp nghiên cứu
Tóm tắt quy trình nghiên cứu:
Bước 1: Xác định mục tiêu và nội dung nghiên cứu
Bước 2: Tổng quan các vấn đề có liên quan đến đề tài
Bước 3: Phân tích hiện trạng sản xuất của làng nghề chạm bạc xã Lê Lợi và các
nguyên nhân chủ yếu gây ô nhiễm môi trường
Bước 4: Đánh giá hiện trạng ô nhiễm môi trường của làng nghề
Bước 5: Đề xuất một số giải pháp nhằm giảm thiểu tình trạng ô nhiễm, hướng tới sự
phát triển bền vững cho làng nghề
Các phương pháp nghiên cứu chính:
Trang 3 Phương pháp thu thập, phân tích, tổng hợp tài liệu Thu thập tài liệu sơ cấp: thu thập số liệu bằng cách quan sát, theo dõi, phân tích và số liệu phỏng vấn Thu thập tài liệu thứ cấp: báo cáo, điều tra, thống kê của các sở ban ngành như sở TNMT tỉnh Thái Bình, Sở công thương, các phòng TNMT, phòng công thương huyện Kiến Xương; các báo cáo tổng kết của xã Lê Lợi
Phương pháp phân tích hệ thống: Đây là phương pháp chung cho nhiều ngành khoa học Mỗi hệ thống tự nhiên và kinh tế xã hội đều bao gồm nhiều bộ phận cấu thành, chúng có mối liên hệ ràng buộc và tác động qua lại lẫn nhau Người làm đề tài
đã sử dụng phương pháp này để phân tích các mối quan hệ giữa các hoạt động sản xuất nghề chạm bạc với sự biến đổi của môi trường, với đời sống con người xung quanh nơi sản xuất
Phương pháp chuyên gia: Người làm đề tài tham khảo ý kiến của các vị nghệ nhân cao tuổi trong làng nghề chạm bạc
Phương pháp tham khảo ý kiến người dân: Nắm bắt được những suy nghĩ của người dân sống trong làng đối với môi trường, biết được sự quan tâm của chính quyền các ban ngành đối với môi trường nơi đây
Phương pháp thực địa: Phương pháp này được sử dụng phổ biến trong hầu hết các nghiên cứu khoa học, vì nó giúp thị sát tình hình thực tế, có cái nhìn khách quan khi tiến hành nghiên cứu Người làm đề tài đã tiến hành đi thực địa nhằm thu thập các thông tin, lấy mẫu phân tích
Phương pháp phỏng vấn nhanh: Phương pháp này giúp thu thập, cập nhật thêm những thông tin chưa có tài liệu thống kê, hoặc muốn lấy ý kiến từ cộng đồng hoặc các đối tượng có liên quan Người làm đề tài đã sử dụng phương pháp này để thu thập các thông tin liên quan đến sản xuất và vấn đề môi trường của xã Lê Lợi Sau khi phỏng vấn cần tiến hành phân tích, so sánh, tổng hợp các thông tin đã thu được
Phương pháp bản đồ, biểu đồ: Việc mô hình hóa các dữ liệu bằng các biểu đồ, sơ
đồ giúp các nội dung trình bày mang tính trực quan hơn, thể hiện rõ hơn mối liên hệ giữa các yếu tố được trình bày Phương pháp bản đồ được sử dụng để thể hiện một số nội dung về mặt không gian như sự phân bố sản xuất, lộ trình của nước thải, các mức
độ ô nhiễm, tình trạng bệnh tật và ý thức của người dân về vấn đề môi trường làng nghề
Trang 4 Phương pháp phân tích các thành phần môi trường: Người làm đề tài đã nhờ đến các biện pháp đo và phân tích các mẫu nước, các mẫu khí từ các nguồn đáng tin cậy nhằm thu thập kết quả về chất lượng các thành phần môi trường của làng nghề chạm bạc Lê Lợi Người làm đề tài đã tiến hành lấy 03 mẫu nước tại khu vực HTX Phú Lợi
để phân tích tại trung tâm Y tế dự phòng tỉnh Thái Bình với 11 chỉ tiêu chính Bên cạnh đó, mẫu không khí và mẫu đất thu thập tài liệu từ các báo cáo của cơ quan chuyên ngành
1.6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Các kết quả nghiên cứu của đề tài về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, hiện trạng xản xuất, hiện trạng ô nhiễm môi trường của làng nghề và một số giải pháp đề xuất là tài liệu tham khảo có giá trị cho công tác quản lý môi trường của làng nghề chạm bạc xã Lê Lợi
Việc nghiên cứu lý luận và gắn với thực tiễn của vùng nhằm hướng tới những giải pháp mang tính khả thi sẽ có những ý nghĩa đáng kể cho định hướng quy hoạch làng nghề nhằm bảo vệ môi trường
Qua đề tài này, người làm đề tài mong sẽ tích lũy được thêm nhiều kiến thức cũng như các bài học kinh nghiệm có liên quan đến việc đánh giá tác động môi trường, xác định mức độ ô nhiễm môi trường, quy hoạch bảo vệ môi trường, kiến thức về làng nghề cũng như các phương pháp nghiên cứu khoa học
Trang 5CHƯƠNG II: TỔNG QUAN VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
LÀNG NGHỀ VIỆT NAM
2.1 Một số vấn đề chung về phát triển bền vững
2.1.1 Quan niệm PTBV trên thế giới
Khái niệm phát triển bền vững (Sustainable development) xuất hiện lần đầu tiên
vào năm 1980 trong ấn phẩm Chiến lược bảo tồn thế giới được công bố bởi Hiệp hội
bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên Quốc tế với nội dung “Sự phát triển của nhân loại không chỉ chú trọng đến phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học”
Năm 1987 trong bài báo có tiêu đề Tương lai của chúng ta (Báo cáo Our Common Future) của Hội đồng thế giới về Môi trường và phát triển, phát triển bền
vững được định nghĩa cụ thể hơn, đó là “Sự phát triển đáp ứng được những nhu cầu hiện tại nhưng không trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu thế hệ mai sau” Như vậy, PTBV phải đảm bảo sự phát triển kinh tế có hiệu quả, xã hội phát triển công bằng, văn minh và môi trường được bảo vệ Để đạt được điều này, tất cả các chính quyền, các thành phần kinh tế, cá nhân, tổ chức phải cùng nhau có trách nhiệm thực hiện nhằm dung hòa giữa phát triển kinh tế – xã hội – bảo vệ môi trường [1]
Năm 1992, khái niệm PTBV được khẳng định tại Hội nghị thượng đỉnh trái đất Rio de Janeiro họp tại (Braxin) bàn về phát triển bền vững toàn cầu thông qua chương trình nghị sự 21 với 179 nước tham gia Hội nghị đã thông qua Tuyên bố Rio
de Janeiro về môi trường và phát triển bao gồm 27 nguyên tắc cơ bản và Chương trình nghị sự 21 (Agenda 21) về các giải pháp phát triển bền vững chung cho toàn thế giới trong thế kỷ
Mười năm sau, tại Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về Phát triển bền vững tổ chức năm 2002 ở Johannesburg (Cộng hoà Nam Phi), 166 nước tham gia Hội nghị đã thông qua Bản tuyên bố Johannesburg và Bản Kế hoạch thực hiện về phát triển bền vững Hội nghị đã khẳng định lại các nguyên tắc đã đề ra trước đây và tiếp tục cam kết thực hiện đầy đủ Chương trình nghị sự 21 về phát triển bền vững
Từ sau Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về Môi trường và phát triển được tổ chức tại Rio de Janeiro (Braxin) năm 1992 đến nay đã có 113 nước trên thế giới xây dựng
Trang 6Chương trình nghị sự 21 cấp địa phương, đồng thời tại các nước này đều đã thành lập các cơ quan độc lập để triển khai thực hiện chương trình này Các nước trong khu vực như Trung Quốc, Thái Lan, Singapore, Malaysia đều đã xây dựng và thực hiện Chương trình nghị sự 21 về phát triển bền vững
Các hội nghị đều khẳng định: “PTBV là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hoà giữa 3 mặt của sự phát triển Đó là: phát triển kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường” và một trong những nội dung cơ bản nhất là con người, trung tâm của sự phát triển Mối quan hệ giữa 3 yếu tố này có thể được mô hình hoá như sau:
Hình 2.1: Mô hình phát triển bền vững
PTBV về kinh tế: được hiểu là sự tiến bộ mọi mặt của nền kinh tế thể hiện ở quá trình tăng trưởng kinh tế cao, ổn định và sự thay đổi về chất của nền kinh tế, gắn với quá trình tăng năng suất lao động Mục tiêu của PTBV kinh tế là đạt được sự tăng trưởng ổn định, với cơ cấu hợp lý, đáp ứng được yêu cầu nâng cao đời sống của người dân, tránh được sự suy thoái trong tương lai, tránh gây nợ nần cho thế hệ mai sau
PTBV về xã hội: Là quá trình phát triển ạt được kết quả ngày càng cao trong việc thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội Đảm bảo chế độ dinh dưỡng và chăm sóc sức khoẻ cho người dân, mọi người đều có cơ hội trong giáo dục, có việc làm, giảm tình trạng đói nghèo, nâng cao trình độ văn minh về đời sống vật chất và tinh thần cho mọi đối tượng, tầng lớp nhân dân trong xã hội
PTBV về môi trường: Là khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý và kiểm soát có hiệu quả ô nhiễm môi trường
Trang 7Như vậy, điều kiện để PTBV là: Tăng trưởng kinh tế trong thời gian dài, tăng trưởng kinh tế đi đôi giải quyết các vấn đề xã hội, bảo vệ cải thiện môi trường và tăng trưởng kinh tế vì con người Tất cả các thế hệ đều có quyền như nhau trong việc thoả mãn các nhu cầu phát triển của mình Mọi người đều có quyền và nghĩa vụ như nhau trong việc bảo vệ môi trường sống.[1]
2.1.2 Phát triển bền vững ở Việt Nam
Phát triển bền vững trong điều kiện hội nhập kinh tế là vấn đề mang tính chất toàn cầu và là mục tiêu phấn đấu của mọi quốc gia Chiến lược phát triển bền vững ở mỗi nước được xây dựng dựa trên điều kiện hoàn cảnh lịch sử cụ thể của nước đó và phải được thực hiện bằng các chiến lược phát triển kinh tế xã hội với tổng thể các giải pháp và những bước đi phù hợp
Việt Nam là một trong 200 nước có tham gia hội nghị thượng đỉnh trái đất Rio de Janeiro Tháng 9 năm 2002, Việt Nam đã giới thiệu dự thảo lần đầu phát triển bền vững, tại hội nghị Thượng đỉnh về phát triển bền vững toàn cầu họp tại Johanesburg (Cộng hòa Nam Phi)
Thủ tướng Chính phủ Việt Nam đã ký Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg phê
duyệt Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam” (Chương trình Nghị sự
21) Đây là một chiến lược khung bao gồm những định hướng lớn làm cơ sở pháp lý
để các Bộ, ngành, địa phương, các tổ chức và cá nhân phối hợp hành động nhằm đảm bảo phát triển bền vững đất nước trong thế kỷ 21 Quyết định đã nêu ra 8 nguyên tắc phát triển bền vững của Việt Nam:
1 Con người là trung tâm của phát triển bền vững
2 Phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa với phát triển xã hội, với khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên thiên nhiên theo nguyên tắc : kinh tế, xã hội và môi trường cùng có lợi
3 Bảo vệ và cải thiện môi trường phải được coi là một yếu tố không thể tách rời của quá trình phát triển, phải áp dụng đồng bộ các công cụ pháp lý và kinh tế, kết hợp với tuyên truyền vận động
4 Phát triển phải đảm bảo đáp ứng một cách công bằng nhu cầu của thế hệ hiện tại và không gây trở ngại tới cuộc sống của các thế hệ tương lai
5 Khoa học và công nghệ là nền tảng và động lực cho công nghiệp hóa, hiện đại
Trang 86 Phát triển bền vững là sự nghiệp của toàn Đảng, các cấp chính quyền, các bộ, ngành và địa phương, của cơ quan, doanh nghiệp, đoàn thể xã hội, các cộng đồng dân
cư và mọi người dân
7 Gắn chặt việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với chủ động hội nhập kinh
tế quốc tế
8 Kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường với đảm bảo quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội
Trên cơ sở 8 nguyên tắc, định hướng phát triển bền vững ở Việt Nam gồm 5 phần:
Phần 1: Phát triển bền vững-con đường tất yếu của Việt Nam
Phần 2: Những lĩnh vực kinh tế cần ưu tiên nhằm phát triển bền vững
Phần 3: Những lĩnh vực xã hội cần ưu tiên nhằm phát triển bền vững
Phần 4: Những lĩnh vực sử dụng tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường và kiểm
soát ô nhiễm cần ưu tiên nhằm phát triển bền vững
Phần 5: Tổ chức thực hiện phát triển bền vững
Trong Luật bảo vệ môi trường của nước ta có quy định giải thích: Phát triển bền vững
là phát triển đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường.[4.2.3]
Từ thời Hùng Vương, đúc đồng đã trở thành một nghề phát triển
Khoảng 300 năm trước công nguyên chúng ta đã học được người Trung Quốc cách dựng bàn quay làm đồ gốm Đến khoảng thế kỷ II trước Công nguyên chúng ta đã biết chế tạo vật dụng bằng sắt Thời kỳ này đã có những người chuyên làm vũ khí, trống đồng (trống đồng Ngọc Lũ)
Từ thế kỷ II sau Công nguyên, người ta đã biết sản xuất đường thạch mật hay còn gọi đường giao chỉ Thế kỷ III, con người đã biết làm giấy bản tốt bằng gỗ mật
Trang 9hương gọi là mật hương chỉ Ngoài ra trong thời gian này còn xuất hiện nghề làm thủy tinh
Thế kỷ V, nghề rèn sắt phát triển át hẳn nghề đúc đồng, kỹ thuật đồ gốm có tiến
bộ hơn cùng với sự xuất hiện nghề chạm bạc, nghề nung gạch ngói Thế kỷ VII nghề thủ công phát triển đặc biệt nghề dệt tơ lụa
Thế kỷ X, nghề rèn sắt phát triển, vua Lê Hoàn đã cho mở xưởng đúc tiền đồng, vũ khí Ngoài ra cũng xuất hiện nghề đóng thuyền, nghề mộc phát triển, chạm bạc hưng thịnh
Dưới thời nhà Trần, tiểu thủ công nghiệp phát triển Nhân dân ở kinh đô Thăng Long chia thành 61 phường thợ thủ công, nhà buôn tùy theo nghề nghiệp Có nhiều tổ chức nghề nghiệp: kiến trúc, sơn, tô tượng, đúc chuông
Trong thời kỳ đô hộ, thực dân Pháp hạn chế nghề thủ công ở Việt Nam, nhằm đảm bảo lợi nhuận độc quyền Có những lúc nghề dệt lụa, chế biến rượu bị đình đốn trước các chính sách của thực dân Vị trí của những người thợ thủ công trong các chế
độ cũ được xác định trong câu: sĩ, nông, công, thương, nhưng thu nhập của họ rất thấp Từ sau hòa bình cho đến năm 1960, các làng nghề truyền thống của Việt Nam được phục hưng Hàng thủ công mỹ nghệ được mang đi nhiều nước, đặc biệt là Liên
Xô cũ và Đông Âu Thời kỳ này hình thành các hợp tác xã (HTX) tiểu thủ công nghiệp
Giai đoạn 1986 – 1992: Đây là giai đoạn quan trọng đối với sự phát triển của làng nghề, nó được đánh dấu bằng sự chuyển đổi từ cơ chế quản lý bao cấp sang cơ chế thị trường Do sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam thường gặp nhiều khó khăn, các sản phẩm nghề bị sa sút đáng kể về mẫu mã lẫn số lượng Vì vậy một số làng nghề
bị mất đi, giảm thị trường tiêu thụ Khi có cuộc cải tổ kinh tế (từ nền kinh tế tập trung quan lieu bao cấp sang nền kinh tế thị trường) các làng nghề dần đi vào thế ổn định và phát triển mạnh Từ chỗ chỉ có khoảng 150 làng nghề năm 1990 thì đến nay có khoảng hơn 2000 làng nghề Không chỉ phát triển về số lượng mà chất lượng sản phẩm cũng không ngừng tăng nhanh Các chính sách kinh tế, đặc biệt là chính sách đổi mới quản
lý trong nông nghiệp và phát triển các thành phần kinh tế đã có tác động mạnh mẽ đến
sự phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn nói chung và với làng nghề nói riêng Trong giai đoạn này, nhiều làng nghề truyền thống đã được khôi phục và phát triển,
Trang 10mới, thu hút ngày càng nhiều lao động, tăng dần sản lượng và kim ngạch xuất khẩu… Điển hình như làng gốm Bát Tràng, gốm Đồng Nai, chạm khắc Hà Tây, thêu ren Thái Bình…
Năm 2005 Nhà nước thành lập “Hiệp hội làng nghề Việt Nam” có nhiều chính sách nhằm khuyến khích làng nghề phát triển,bảo tồn, thúc đẩy sự phát triển làng nghề
Trong thời gian qua các làng nghề ở Việt Nam phát triển đáng kể cả về số lượng và chất lượng Làng nghề truyền thống chiếm khoảng 15% tổng số làng nghề (khoảng 228 làng) Các làng nghề sản xuất ra khối lượng càng lớn, đóng góp ngày càng nhiều cho nền kinh tế quốc dân
Phát triển các làng nghề ở một số địa phương đã góp phần đáng kể hạn chế hiện tượng di dân từ nông thôn ra thành phố, từ vùng này qua vùng khác Công việc ổ định, cuộc sống được đảm bảo, thu nhập làng nghề cao hơn làm nông nghiệp hay tranh thủ làm lúc nông nhàn làm cho người dân không muốn rời đi nơi khác Phương trâm “ly nông bất ly hương” đã phát huy tác dụng dưới sự tác động của làng nghề Đặc biệt, khu vực kinh tế làng nghề còn có thể sử dụng được lao động già cả, khuyết tật, trẻ em
mà khác khu vực kinh tế khác không nhận.[5]
2.2.1.2 Khái niệm về làng nghề
Làng nghề là cấu thành của hai yếu tố: “làng” và “nghề”, tồn tại trong một không gian địa lý nhất định Xuất phát từ nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của nhân dân, nghề thủ công xuất hiện với tư cách là nghề phụ trong các hộ gia đình nông dân và nhanh chóng phát triển ở nhiều làng quê Việt Nam Trong quá trình phát triển, các nghề thủ công của các hộ tiểu nông dần dần tách khỏi nông nghiệp nhưng gián tiếp hay trực tiếp vẫn liên quan đến nông nghiệp Xu thế chung hiện nay là các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp sẽ tách khỏi nông nghiệp và ngày càng trở thành ngành kinh tế độc lập, chuyên môn hóa cao Có nhiều định nghĩa về nghề và làng nghề truyền thống
Làng nghề tiểu thủ công nghiệp: là một thiết chế kinh tế xã hội ở nông thôn, cụ thể hơn là cụm những hộ dân cư sinh sống trong một thôn hoặc một làng, làm cùng một nghề công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm phục vụ tiêu dùng cũng như bán ra thị trường để tăng thu nhập cho người dân và giải quyết công ăn việc làm cho lao động nhàn rỗi
Trang 11Có rất nhiều ý kiến và quan điểm khác nhau khi đề cập đến tiêu chí để một làng
ở nông thôn được coi là một làng nghề Năm 2006, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành Thông tư số 116/2006/TT-BNN ngày 18 tháng 12 năm 2006 quy định nội dung và các tiêu chí công nhận nghề truyền thống, làng nghề, làng nghề truyền thống.Theo đó:
Nghề truyền thống là nghề đã hình thành từ lâu đời, tạo ra những sản phẩm độc đáo, có
tính riêng biệt, được lưu truyền và phát triển đến ngày nay hoặc có nguy cơ bị mai một, thất truyền
Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc
hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị trấn, có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau
Làng nghề truyền thống là làng nghề có nghề truyền thống được hình thành từ lâu đời
Cũng theo Thông tư nói trên, các tiêu chí dùng để công nhận nghề truyền thống, làng nghề và làng nghề truyền thống được quy định như sau:
Nghề được công nhận là nghề truyền thống phải đạt 03 tiêu chí sau:
1 Nghề đă xuất hiện tại địa phương từ trên 50 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận;
2 Nghề tạo ra những sản phẩm mang bản sắc văn hóa dân tộc
3 Nghề gắn với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi của làng nghề
Làng nghề được công nhận phải đạt 03 tiêu chí sau:
1 Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề nông thôn
2 Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 02 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận
3 Chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nước
Làng nghề truyền thống được công nhận phải đạt tiêu chí làng nghề và có ít nhất một nghề truyền thống theo quy định tại Thông tư này Đối với những làng chưa đạt tiêu chí công nhận làng nghề (theo tiêu chí 1 và 2 trên đây) nhưng có ít nhất một nghề truyền thống được công nhận theo quy định của Thông tư này thì cũng được công nhận là làng nghề truyền thống
Trang 122.2.1.3 Phân loại các làng nghề
Làng nghề với những hoạt động và phát triển đã có những tác động tích cực và tiêu cực đến nền kinh tế, đời sống xã hội và môi trường với những nét đặc thù rất đa dạng Vấn đề phát triển và môi trường của các làng nghề hiện nay đang có nhiều bất cập và đang được chú ý nghiên cứu Muốn có được những kết quả nghiên cứu xác thực, đúng đắn và có thể quản lý tốt các làng nghề thì cần có sự nhìn nhận theo nhiều khía cạnh, nhiều góc độ khác nhau đối với làng nghề Bởi vậy dựa trên một số tiêu chí khác nhau có thể phân loại làng nghề như sau:
Theo làng nghề truyền thống và theo làng nghề mới
Theo ngành sản xuất, loại hình sản phẩm
Theo quy mô sản xuất, quy trình công nghệ
Theo nguồn thải và mức độ ô nhiễm
Theo mức độ sử dụng nguyên/nhiên liệu
Theo thị trường tiêu thụ sản phẩm, theo tiềm năng tồn tại và phát triển
Mỗi cách phân loại trên có những đặc thù riêng và tùy theo lợi ích mà phân loại Trên cơ sở tiếp cận môi trường làng nghề, tùy theo loại hình sản xuất và loại hình sản phẩm là phù hợp Bởi vậy, hệ thống phân loại các làng nghề dựa trên các số liệu thông tin điều tra, khảo sát là cơ sở khoa học cho nghiên cứu, quản lý hoạt động sản xuất cũng như việc quản lý, bảo vệ môi trường làng nghề Thực tế cho thấy, mỗi ngành mỗi sản phẩm đều có những yêu cầu khác nhau về nguyên nhiên liệu, quy trình sản xuất, nguồn thải khác nhau dẫn đến tác động đến môi trường cũng khác nhau Dựa trên các yếu tố về ngành sản xuất, sản phẩm, thị trường, có thể chia hoạt động làng nghề nước ta thành sáu nhóm nghề chính, trong đó mỗi ngành lại có nhiều ngành nhỏ
1 Làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm chăn nuôi và giết mổ: Có số lượng làng nghề lớn, chiếm 20% tổng số các làng nghề, phân bố khác đều trên cả nước thời gian lao động là lúc nông nhàn, không yêu cầu trình độ cao và hình thức sản xuất còn thủ công Phần lớn các làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm nước ta là các làng nghề lớn như :nấu rượu, làm bánh đa nem, đậu phụ, bánh tráng, miến dong, bún, bánh đậu xanh, bánh gai với nguyên liệu chính là gạo, ngô, khoai, sắn và thường gắn liền với chăn nuôi trong gia đình
Trang 132 Làng nghề dệt nhuôm, ươm tơ, thuộc da: nhiều làng có từ lâu đời, có các sản phẩm mang tính lịch sử, đặc trưng của địa phương Những sản phẩm như lụa tơ tằm, dệt, thổ cẩm là những sản phẩm có giá trị nghệ thuật cao Quy trình sản xuất không thay đổi nhiều với nhiều thợ có tay nghề cao Tại các nhóm ngành nghề này, số lượng làm nghề nhiều hơn làm nông nghiệp
3 Làng nghề sản xuất vật liệu xây dựng và khai thác đá: Hình thành hàng trăm năm nay, tập trung ở vùng có nguyên liệu cho hoạt động xây dựng Lao động gần như thủ công hoàn toàn, công cụ lao động thô sơ Nghề khai thác đá cũng phát triển ở các vùng gần đá vôi được cấp giấy phép khai thác, cung cấp vật liệu làm sản phẩm thủ công mỹ nghệ và vật liệu xây dựng
4 Làng nghề tái chế phế liệu: Chủ yếu là các làng nghề mới hình thành, số lượng
ít nhưng lại phát triển nhanh về quy mô và loại hình tái chế: chất thải nhựa, kim loại, giấy… đa số các làng nghề này nằm ở phía bắc và đang được cơ giới hóa nhiều
5 Làng nghề thủ công mỹ nghệ: Bao gồm ngành nghề gốm, sành sứ, thủy tinh
mỹ nghệ, chạm khắc đá, mạ vàng độc, làm nón, dệt chiếu thêu ren Đây là nhóm nghề chiếm tý trọng lớn về số lượng với 39%, sản phẩm có độ tinh xảo và mang đậm nét văn hóa địa phương Quy trình sản xuất không thay đổi, nhưng đòi hỏi tay nghề cao, cần sự sáng tạo, đổi mới liên tục về mẫu mã
6 Các nhóm ngành khác: bao gồm các làng nghề chề tạo nông cụ thô sơ như cày bừa, mộc, đóng thuyền, đan dây thừng, đan vó, làm lưới, quạt giấy, đan vó, lưới Những nhóm này xuất hiện từ lâu, sản phẩm phục vụ trực tiếp cho nhu cầu của người dân trong sinh hoạt và sản xuất Lao động phần lớn là thủ công.[5]
Đồ thị 2.1: Phân loại làng nghề theo loại hình sản xuất
(Nguồn: Báo cáo hiện trạng môi trường 2008)
Trang 142.2.1.4 Phân bố làng nghề trên cả nước
Theo kết quả điều tra của Tổ chức JICA (Nhật Bản) hiện nay VN có 2.017 làng nghề, nhưng theo thống kê của Hiệp hội Làng nghề VN, cả nước có 2.790 làng nghề, nhiều làng nghề có bề dày lịch sử khoảng 300 năm Đặc biệt trong năm 2010 với cuộc vận động “Người VN ưu tiên dùng hàng Việt Nam”, đại lễ 1.000 năm Thăng Long –
Hà Nội, các sản phẩm làng nghề VN ngày càng được nhiều người biết đến và tin dùng
Hiện cả nước có 11 nhóm nghề chính như: sơn mài, gốm sứ, thêu ren, mây tre đan, cói, dệt, giấy, tranh dân gian, gỗ, đá trải dài từ Bắc vào Nam trong đó Bắc chiếm khoảng (1594 làng nghề) 79% tổng số Làng nghề phát triển chủ yếu ở hai bên sông Hồng và khu vực lân cận, thu hút khoảng 20 triệu LĐ, trong đó 30% số LĐ thường xuyên còn lại là LĐ thời vụ.[6]
Đồ thị 2.2: Hiện trạng phân bố làng nghề trên cả nước
(Nguồn: Số liệu từ Báo cáo Môi trường quốc gia 2008 –
Môi trường làng nghề)
Vùng đồng bằng Bắc Bộ có mật độ làng nghề truyền thống khá cao, chiếm 2/3 tổng số làng nghề cả nước với những sản phẩm nổi danh như: Lụa Vạn Phúc, đồ gỗ Đồng Kỵ, đồ đồng Đại Bái, tranh Đông Hồ, gốm Bát Tràng, cốm Vòng
Miền Trung có điêu khắc Mỹ Xuyên, tranh làng Sình, nón Phú Cam, đá Non Nước, gốm Thanh Hà ở các tỉnh phía Nam, ven các con sông và ngoại vi thành phố cũng hình thành những làng nghề, khu dân cư với các nghề thủ công lâu đời như đá Bửu Long, gốm Tân Vạn, sơn mài Tương Bình Hiệp, các làng nghề nhân giống, chiết cành, tạo dáng bonsai nổi tiếng ở Sài Gòn, Bến Tre, An Giang
Cả nước hiện có khoảng 13% số hộ nông dân chuyên sản xuất nghề, 27% hộ nông dân sản xuất nông nghiệp có tham gia nghề Trong số hơn 40 ngàn cơ sở sản xuất
ở các làng nghề, 80% là các hộ cá thể, gần 6% là các hình thức hợp tác xã
Trang 152.2.1.5 Đặc điểm phát triển nghề và làng nghề
Điều kiện sản xuất kinh doanh gắn bó với hộ gia đình nông thôn và ngành nông nghiệp Nghề thủ công truyền thống bắt nguồn từ nông nghiệp mà ra và gắn liền với sự phân công lao động ở nông thôn Các nghề thủ công truyền thống ra đời nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt tự cung tự cấp của người nông dân và chủ yếu phục vụ nông nghiệp Không những vậy, nghề truyền thống còn dựa vào nông nghiệp để phát triển Nông nghiệp là nguồn cung cấp nguyên liệu, nguồn nhân lực, nguồn vốn chủ yếu và là thị trường tiêu thụ rộng lớn
Lao động: Lao động trong các LN chủ yếu là những người nông dân, địa điểm
sản xuất là tại gia đình họ Họ tự quản lý, phân công lao động, thời gian cho phù hợp với cả việc sản xuất nông nghiệp những lúc mùa vụ và với nghề thủ công những lúc nông nhàn
Sản phẩm: Các sản phẩm làng nghề bộc lộ những nét tinh xảo điêu luyện, đạt tới
đỉnh cao nghệ thuật trang trí Các sản phẩm mang tính chủ quan sáng tạo, hoàn toàn phụ thuộc bàn tay người thợ Cũng vì thế ở các LN sản phẩm phụ thuộc trình độ người thợ, phụ thuộc thị hiếu, mức tiền người tiêu dùng Do đặc điểm điều kiện sản xuất kinh doanh, sản phẩm thủ công in đậm dấu ấn người thợ nên khó sản xuất đại trà, mà chỉ sản xuất đơn chiếc Nhược điểm về sản phẩm như vậy làm cho LN khó đáp ứng được những đơn hàng lớn, chất lượng sản phẩm không đồng đều
Kỹ thuật sản xuất: đặc trưng về kỹ thuật trong LN là công cụ thủ công, công
nghệ mang tính cổ truyền do lịch sử để lại và do chính người lao động trong làng nghề tạo ra Kỹ thuật đặc biệt nhất của LN là đôi bàn tay vàng của người thợ được tích luỹ qua nhiều thế hệ, giữ được tính chất bí truyền của nghề, không có máy móc nào thay thế bàn tay thợ lành nghề Nhược điểm kỹ thuật của LN không tổng kết thành
lý luận, không được ghi chép, truyền miệng trong gia đình, trong dòng họ, trong làng nên trong lịch sử nhiều bí quyết đã bị mai một
Trang 16B ả n g 2 1 : Trình độ kỹ thuật ở các làng nghề hiện nay
(Nguồn: Đặng Kim Chi, 2005)
Tổ chức sản xuất kinh doanh:
Hộ gia đình: là mô hình sản xuất truyền thống chiếm hơn 90% các mô hình tổ
chức sản xuất kinh doanh trong các làng nghề hiện nay Là mô hình tổ chức sản xuất phù hợp nhất với cơ sở vật chất ở làng nghề hiện nay: Tận dụng, tranh thủ mọi thời gian lao động, linh hoạt trong sản xuất kinh doanh, hiệu quả kinh tế được hạch toán cụ thể, kịp thời, kích thích sản xuất nhanh nhất và có sự phù hợp giữa qui mô, năng lực sản xuất với trình độ quản lý
Hạn chế: Các chủ hộ không có kiến thức về quản lý kinh tế, khó tiếp cận và chậm ứng dụng khoa học công nghệ; năng lực sản xuất hạn chế Một ưu điểm và cũng là nhược điểm là mọi độ tuổi đều có thể tham gia lao động tạo ra thu nhập cho gia đình nên hiện tượng bỏ học sớm để làm kinh tế là phổ biến ở một số làng nghề
Tổ sản xuất: Xuất hiện do các chủ thể kinh tế ñộc lập liên kết lại nhằm
nâng cao hiệu quả kinh tế, thỏa mãn lợi ích kinh tế chung Hợp đồng lao động giữa các bên lao động chủ yếu là truyền miệng
Hợp tác xã: Trước giai đoạn đổi mới, các hợp tác xã thủ công nghiệp là
mô hình sản xuất quan trọng nhất trong các làng nghề Các hợp tác xã thủ công nghiệp được thực hiện dựa trên nguyên tắc phân phối theo lao động bằng cách chấm công Hợp tác xã kết hợp lợi ích cá nhân với lợi ích tập thể, có đủ tư cách pháp nhân để giao dịch về xuất nhập khẩu
Trình độ
kỹ thuật
Chế biến nông – lâm – thủy sản
Thủ công mỹ nghệ và vật liệu xây dựng
Các ngành dịch vụ
Các ngành khác Thủ công bán
Trang 172.2.2 Vai trò của làng nghề trong phát triển kinh tế - xã hội
2.2.2.1 Vai trò làng nghề trong xóa đói giảm nghèo
Tại các làng nghề, đa số dân cư làm thủ công nhưng vẫn tham gia sản xuất nông nghiệp Tại nhiều làng nghề, trong cơ cấu kinh tế địa phương, tỷ trọng ngành công nghiệp dịch vụ đạt 60 – 80% còn ngành nông nghiệp đạt 20 – 40% Trong những năm gần đây, số hộ và cơ sở nghề ở nông thôn ngày càng tăng lên với tốc độ từ 8.8 – 9% Kinh ngạch xuất khẩu các làng nghề ngày càng tăng nhanh
Đối với các làng nghề sản xuất thời vụ thường chỉ sản xuất lúc nông nhàn Tuy nhiên ở các vùng sản xuất lớn hiện nay hầu như các lao động làm việc quanh năm và quy mô lớn hơn Hiện nay các làng nghề, trung bình mỗi cơ sở doanh nghiệp tư nhân chuyên làm nghề tạo việc làm ổn định cho hơn 27 lao động thường xuyên và 8 – 10 lao động thời vụ Hộ cá thể có 4 – 6 lao động thường xuyên và 2 – 5 lao động thời vụ Đặc biệt ở cơ sở mây tre đan, thêu, có thể tới 200 – 300 lao động Mức thu nhập người lao động cao hơn từ 3 – 4 lần so với thu nhập nghề nông Tỷ lệ hộ nghèo trung bình trong số hộ sản xuất thủ công nghiệp là 3.7% thấp hơn nhiều so với mức trung bình cả nước là 10.4%.[7.8]
2.2.2.2 Vai trò của làng nghề trong giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc
Trong tiến trình “công nghiệp hóa”, các nghề thủ công sử dụng máy móc đang
ít nhiều mất đi sự tinh xảo vốn có Phần lớn các sự kiện văn hóa lịch sử, được “gửi” vào sản phẩm và kỹ xảo độc đáo của nghề, của làng nghề mà ít được ghi chép, lưu giữ bằng văn bản Các bậc nghệ nhân với những bí quyết, kinh nghiệm dân gian, kỹ xảo truyền thống ngày càng ít dần, trong khi giới trẻ làng nghề ngày nay trong vòng quay của cơ chế thị trường, tổ chức sản xuất hàng loạt, nên sản phẩm mang dấu ấn riêng không còn được chú trọng Nhiều người thợ làng nghề hôm nay không hiểu rằng, hàng thủ công mỹ nghệ của làng được thị trường trong, ngoài nước ưa chuộng đã có độ tuổi hàng trăm năm, là bởi giá trị của nghệ thuật thủ công, ở bản sắc văn hóa, ở tính độc đáo, trở thành sản phẩm văn hóa chứ không đơn thuần là sản phẩm tiêu dùng
Ngày nay, cùng với thúc đẩy phát triển kinh tế, các làng nghề truyền thống còn
có trách nhiệm giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong công cuộc hội nhập quốc tế Chỉ có giữ gìn được thương hiệu đích thực của mỗi làng nghề thì làng nghề mới được củng cố và phát triển không ngừng.[9]
Trang 182.2.2.3 Vai trò của làng nghề trong phát triển du lịch
Lợi ích của việc phát triển làng nghề không chỉ ở kinh tế, giải quyết việc làm cho lao động địa phương mà còn góp phần bảo tồn giá trị văn hóa lâu dài Điểm chung của nhiều làng nghề là nằm trên trục giao thông đường bộ hay đường thủy Đây là điều kiện thuận lợi cho việc phát triển các tuyến hay điểm du lịch Theo tiến sĩ Nguyễn Trung Lương thì “Làng nghề truyền thống được xem như một dạng tài nguyên du lịch nhân văn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng”[27] Bởi các sản phẩm du lịch làng nghề luôn bao hàm trong nó cả những giá trị vật thể và phi vật thể” Ngoài những lợi thế như cảnh quan thiên nhiên, vị trí địa lý, nét đặc sắc văn hóa, đến với mỗi làng nghề khách tham quan còn được tận mắt theo dõi quá trình làm ra một sản phẩm thủ công, thậm chí tham gia một khâu sản xuất Chính điều này tạo nên sức hấp dẫn làng nghề
du lịch.[5]
2.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự PTBV LN
2.2.3.1 Khái niệm phát triển bền vững làng nghề (PTBV LN)
Khái niệm về phát triển bền vững LNTT không thể tách rời khái niệm về phát triển bền vững Theo đó:
Phát triển bền vững làng nghề truyền thống chính là quá trình phát triển sản xuất, kinh doanh của các LNTT Nhằm thoả mãn nhu cầu đa dạng và ngày càng phát triển của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai Trên cơ sở đó, một LN sẽ phát triển bền vững nếu đảm bảo được các nội dung:
a Phát triển bền vững làng nghề truyền thống về kinh tế
Phát triển LN, ngành nghề nông thôn được coi là giải pháp trực tiếp giải quyết việc làm tại các địa phương, đóng vai trò quyết định trong xóa đói giảm nghèo PTBV LN về kinh tế là tăng năng suất lao động, gia tăng giá trị sản lượng, thu hút lao động vào ngành nghề phi nông nghiệp, nâng cao thu nhập, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu, thay đổi mô hình sản xuất tiêu dùng theo hướng PTBV
b PTBV LNTT về xã hội
Là sự đóng góp cụ thể của làng nghề cho việc phát triển xã hội, đảm bảo sự công bằng trong phát triển Sự phát triển làng nghề tránh cho người dân dời bỏ thôn xóm đi làm ăn nơi khác PTBV làng nghề phải đảm bảo tạo công ăn việc làm cho mọi đối tượng, sử dụng diện tích đất cho nghề thủ công ít hơn cho nông nghiệp PTBV LN
Trang 19về xã hội là tạo việc làm, thu nhập ổn định cho người lao động, xóa đói giảm nghèo, tăng quỹ phúc lợi, nâng cao trình độ dân trí, xây dựng nông thôn mới, bảo tồn văn hóa vùng miền ở làng nghề, vùng nghề
c Phát triển bền vững làng nghề truyền thống về môi trường
PTBV LN về môi trường là giảm thiểu tác hại ô nhiễm môi trường do quá trình sản xuất kinh doanh nghề truyền thống gây ra Có kế hoạch, quy hoạch khai thác, sử dụng tiết kiệm nguồn nguyên liệu hoặc kiếm nguyên liệu thay thế, phòng ngừa các bệnh nghề nghiệp gây ra
2.2.3.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển bền vững làng nghề
Nhân tố thị trường
Nhân tố lao động
Nhân tố vốn và cơ sở thiết bị, hạ tầng
Khoa học kỹ thuật nâng cao tay nghề và giảm sức lao động
Nguồn nguyên liệu
Nhân tố thể chế kinh tế, chính sách kinh tế và sự quản lý của nhà nước
2.2.4 Kinh nghiệm phát triển bền vững làng nghề một số nước
2.2.4.1 Kinh nghiệm phát triển bền vững làng nghề các nước tiêu biểu
+ Nhật Bản
Nhật Bản tiến hành CNH từ một nước có nền nông nghiệp cổ truyền, sản xuất manh mún Trong quá trình CNH họ ñã có những sáng tạo, những ngành nghề tiểu thủ công truyền thống không bị mất ñi mà là một trong những nội dung của CNH là: duy trì các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp cổ truyền ở nông thôn Tại Nhật Bản có hơn 867 nghề truyền thống bao gồm nhiều ngành nghề khác nhau như chế tác kim hoàn, sơn mài, chế biến lương thực phẩm trong quá trình CNH đã hiện đại hoá
kỹ thuật công nghệ và tác ñộng của ñời sống văn minh công nghiệp đã làm thay đổi một số thói quen trong sinh hoạt của người dân Vì thế một số nghề thủ công truyền thống đã bị mất đi còn một số nghề được duy trì phát triển Nhật Bản đã chú trọng phát triển loại hình xí nghiệp công nghiệp vừa và nhỏ ở các gia đình làm nghề thủ công nghiệp
Nghề rèn có lịch sử phát triển hơn 700 - 800 năm, Nhà nước chú trọng khâu hiện
Trang 20nông cụ xuất khẩu ngày càng tăng và có uy tín trong khu vực
Vào những năm 70 của thế kỷ XX, ở tỉnh OITA (miền tây - nam Nhật Bản) đã
có phong trào "mỗi thôn làng một sản phẩm" do đích thân tỉnh trưởng phát động và tổ chức nhằm phát triển nghề thủ công truyền thống Kết quả ngay năm đầu tiên họ ñã tạo ra 143 loại sản phẩm, thu nhập 358 triệu USD Năm 1992 sản xuất được 1,2 tỷ USD trong đó có 378 triệu USD bán rượu đặc sản Sake của địa phương,114 triệu USD các mặt hàng thủ công mỹ nghệ Phong trào "mỗi thôn làng một sản phẩm"
đã lan rộng ra cả nước.[10]
+Thái Lan
Chương trình “Mỗi làng một sản phẩm” (One Tambon One Product viết tắt: OTOP) do Chính phủ Thái Lan thực hiện với mục tiêu nâng cao thu nhập, phát triển khả năng sáng tạo của cộng đồng Chương trình là cơ hội để các LNTT có lịch
sử hàng trăm năm khôi phục Tháng 11-2001 chính phủ lập ủy ban quốc gia Nhằm ban hành chính sách, vạch kế hoạch cụ thể, có các biện pháp trợ giúp kịp thời về kinh phí ban đầu, kỹ thuật, thuế ưu đãi Xây dựng ba nguyên tắc để thực hiện chương trình:
Thúc đẩy sản phẩm nổi bật của địa phương
Tăng cường sức sáng tạo và tính tự lập của cộng đồng
Phát triển nguồn nhân lực
Giai đoạn đầu tiên, chương trình tuyên truyền các hoạt động nhằm làm cho cộng đồng hiểu biết về mục tiêu chương trình, để họ lựa chọn quyết định sản phẩm nổi bật của địa phương mình tham gia chương trình
Giai đoạn tiếp theo lập danh sách các sản phẩm tham gia chương trình, dự tính kinh phí, tiến hành sản xuất và tiếp thị sản phẩm.Việc lựa chọn sản phẩm của các làng nghề không mấy khó khăn do nhân dân họp bàn quyết ñịnh
Khâu quản lý sản xuất và tiêu thụ sản phẩm mới là vấn đề cần có sự trợ giúp của Chính phủ Nhà chức trách địa phương đã tìm đến những người cao tuổi, nghệ nhân và nhất là những người tình nguyện đi đầu trong sản xuất
Chính phủ hỗ trợ một phần nguồn vốn và kết nối các địa phương với thị trường thế giới.Sau đó địa phương đó phải tự hình thành xưởng sản xuất, ban đầu tập hợp những người theo nghề tận dụng nguyên liệu và cơ sở vật chất có sẵn của địa phương Tiếp đó thu hút lao động trong làng chủ yếu là nữ
Từ xưởng sản xuất đã làm cho tình làng nghĩa xóm và trật tự cộng đồng được
Trang 21thiết lập và củng cố
Khó khăn là tiếp thị và tiêu thụ sản phẩm, sản xuất nhỏ, chất lượng sản phẩm chưa đáp ứng một số tiêu chuẩn, bao bì chưa được quan tâm đúng mức, chưa tỏ sức hấp dẫn Nên các sản phẩm của chương trình mới chỉ có mặt tại các cửa hàng tạp hóa nhỏ, quầy bán xăng dầu, bến xe, nhà ga, chưa đặt chân vào siêu thị, cửa hàng lớn
Chính phủ đã kêu gọi sự trợ giúp của các tổ chức nước ngoài trong nghiên cứu thiết kế, tiêu chuẩn hóa sản phẩm trong tiếp thị và tổ chức các kênh phân phối trong ngoài nước Ngoài ra còn có hàng loạt các cuộc hội thảo phục vụ chương trình “mỗi làng một sản phẩm” Giúp LNTT tiêu thụ sản phẩm, Thái Lan đã tìm ra giải pháp:
- Chính phủ Thái Lan đã tổ chức hội chợ quốc tế lần thứ nhất về sản phẩm truyền thống với sự có mặt của Thủ tướng ThakSin Shinawatra và sự tham gia của 16 quốc gia trong khu vực và thế giới Sau đó một thời gian một hội chợ tương tự như vậy được tổ chức tại Trung Quốc đã quảng bá mạnh mẽ các sản phẩm thủ công của Thái Lan Hàng hóa thủ công mỹ nghệ được bày bán phần lớn ở các chợ đêm., chú trọng xây dựng tuor du lịch LNTT
Khách tham quan các loại nguyên liệu, những loại cây, con để làm sản phẩm thủ công Tham quan công đoạn sản xuất, quan sát việc xử lý nguyên liệu, hoàn thiện sản phẩm, nếu du khách có nhu cầu có thể trực tiếp tham gia một số công đoạn Thợ thủ công ngồi đan hoặc hoàn thiện những công đoạn cuối cùng trên lối đi vào khu trưng bày sản phẩm nên du khách có thể xem, xin làm thử hoặc được hỏi ý nghĩa văn hóa tượng trưng của sản phẩm Quy định ở những khu vực này rất chặt chẽ nên tuyệt nhiên không có hiện tượng chèo kéo khách mua hàng
Tới khu trưng bày du khách được lịch sự hướng dẫn tìm hiểu mua các sản phẩm, giới thiệu lịch sử văn hóa, con người Thái Lan qua các nét văn hóa truyền thống trên sản phẩm
Tổng kết giai đoạn đầu chương trình đã thu lợi hơn 32,5% Doanh số bán sản phẩm thủ công năm 2003 của Thái Lan đạt trên 30 tỷ Bạt, tăng 13% so với năm 2002
2.2.4.2 Kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam
Một là: Tất cả các nước ở châu Á trong quá trình CNH, trong hoạch định chương trình phát triển kinh tế đất nước đều chú trọng phát triển LNTT Coi ngành nghề tiểu thủ công nghiệp là một nội dung phát triển kinh tế quan trọng
Trang 22tâm đến nghề truyền thống Khuyến khích giúp đỡ, hỗ trợ làng nghề dưới những hình thức, các lĩnh vực khác nhau như bằng cơ chế, chính sách tín dụng, kỹ thuật, marketing… kịp thời cho các ngành nghề, cho các hộ thủ công Các chính sách đã được xuyên suốt từ trung ương đến các địa phương, bao gồm tổng thể các giải pháp để hỗ trợ phục hồi, phát huy tiềm năng các làng nghề Trong đó thiết thực nhất
là trợ giúp tài chính
Ba là: Song song với hệ thống chính sách nhà nước còn hiện đại hoá kỹ thuật sản xuất nghề thủ công theo phương châm nhà nước hỗ trợ khoa học công nghệ, thành lập các trung tâm nghiên cứu trợ giúp kỹ thuật, còn vốn thì nhà nước và nhân dân cùng làm
Bốn là: Phân loại những ngành nghề truyền thống có khả năng tồn tại phát triển, lựa chọn tìm những sản phẩm đặc trưng để đầu tư, những ngành có nguy cơ đào thải có quyết sách phù hợp Tổ chức hội chợ, triển lãm, kết hợp làng nghề với các tuor
du lịch, phối hợp chặt chẽ ban ngành để tìm giải pháp cho đầu ra của sản phẩm
Năm là: Tôn vinh, đề cao các nghệ nhân trong làng nghề, mở lớp đào tạo dạy nghề với lớp trẻ
Sáu là: Tập trung, đột phá khâu thiết kế sản phẩm Coi đó là chiến lược cạnh tranh bền vững, bởi sự khác biệt với sản phẩm nước ngoài giúp bảo vệ thị trường sản phẩm LN
Bảy là: Giải pháp để phát triển bền vững môi trường trong sản xuất nghề thủ công là đa dạng hóa nguồn nguyên liệu, thay thế nguyên liệu tự nhiên bằng nguyên liệu tổng hợp (đá, gỗ, sợi nhân tạo…)
2.3 Tổng quan về ô nhiễm làng nghề Việt Nam
2.3.1 Các loại hình ô nhiễm trong làng nghề
Các chất thải phát sinh tại nhiều làng nghề đã và đang gây ô nhiễm và làm suy
thoái môi trường nghiêm trọng, tác động trực tiếp hay gián tiếp đến sức khoẻ người
dân và ngày càng trở thành vấn đền bức xúc Ô nhiễm môi trường làng nghề có một số đặc điểm sau:
Ô nhiễm môi trường làng nghề là dạng ô nhiễm phân tán trong phạm vi một khu vực (nông thôn, làng, xã…) Do quy mô sản xuất nhỏ, phân tán, đan xen với khu sinh hoạt nên đây là loại hình ô nhiễm khó quy hoạch và kiểm soát
Trang 23Ô nhiễm môi trường tại làng nghề mang đậm nét đặc thù của hoạt động sản xuất theo ngành nghề và loại hình sản phẩm và tác động trực tiếp đến môi trường nước, đất, khí trong khu vực
Ô nhiễm môi trường tại các làng nghề thường khá cao tại khu vực sản xuất và ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ của người lao động
Môi trường không khí ô nhiễm bụi, ô nhiễm mùi và khí SO2 Bụi phát sinh nhiều nhất ở các làng nghề gốm sứ, vật liệu xây dựng, khai thác đá, đồ gõ mỹ nghệ, và các làng nghề tái chế (đặc trưng nổi bật nhất là phát sinh một lượng lớn bụi kim loại nặng và bụi vật liệu độc hại) Ô nhiễm mùi tại các làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm, chăn nuôi và giết mổ Còn ô nhiễm khí độc SO2 xảy ra chủ yếu ở các làng nghề mây tre đan ở khâu tẩy màu
Về môi trường nước gồm ô nhiễm chất hữu cơ và ô nhiễm vô cơ Ô nhiễm chất hữu cơ tại các làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm, chăn nuôi và giết mổ là loại hình sản xuất có nhu cầu nước rất lớn và nước thải có độ nhiễm chất hữu cơ rất cao, nhất là sản xuất tinh bột từ sắn và dong giềng Ô nhiễm chất vô cơ tại các làng nghề dệt nhuộm, tái chế giấy tạo ra nước thải có hàm lượng kim loại nặng độc hại vượt TTCP hàng chục lần
Chất thải rắn: hầu hết các làng nghề vẫn chưa được thu gom và xử lý tập trung
mà do thói quen sinh hoạt nông thôn đều thải ra đường đi, bờ sông, bờ ao…
2.3.2 Những tồn tại của làng nghề tác động đến môi trường
Bên cạnh mặt tích cực, sự phát triển của làng nghề cũng đem lại nhiều khó khăn
về vấn đề môi trường và xã hội Sự tồn tại và phát triển nghề trong những năm qua cũng được coi là một trong những nguyên nhân làm cho ô nhiễm môi trường nông thôn ngày càng trở nên nghiêm trọng Nó không chỉ ảnh hưởng tới phát triển bền vững
mà còn ảnh hưởng đến nền kinh tế cả nước Các nguyên nhân dẫn đến tình trạng đó là:
Quy mô sản xuất nhỏ, phần lớn ở quy mô hộ gia đình (chiếm 72% số cơ sở sản xuất): quy mô sản xuất tại nhiều làng nghề là quy mô sản xuất nhỏ, khó phát triển
vì mặt bằng sản xuất chật hẹp xen kẽ với khu vực sinh hoạt Sản xuất càng phát triển thì nguy cơ lấn chiếm khu vực sinh hoạt, phát thải ô nhiễm tới khu dân cư ngày càng lớn, dẫn đến chất lượng môi trường khu vực ngày càng xấu đi
Nếp sống tiểu nông của người sản xuất nhỏ có nguồn gốc nông dân đã ảnh
Trang 24được tại hại ô nhiễm, chỉ quan tâm đến lợi nhuận trước mắt, các chủ sản xuất thường chọn quy trình sản xuất thô sơ, tập trung nhiều lao động trình độ thấp Hơn thế nhằm cạnh tranh, hạ gí thành sản phẩm, nhiều cơ sở còn sử dụng các nguyên liệu, nhiên liệu
rẻ tiền, hóa chất độc hại, không đầu tư phương tiện, dụng cụ bảo hộ lao động, không đảm bảo điều kiện lao động nên làm tăng mức độ ô nhiễm hiện nay
Quan hệ sản xuất mang đặc thù của quan hệ họ hàng, gia truyền Nhiều nghề, đặc biệt các làng nghề truyền thống , sản xuất theo kiểu bí truyền, giữ bí mật cho dòng
họ không cải tiến áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật nên cản trở việc áp dụng những giải pháp kỹ thuật, không khuyến khích sang tạo mang hiệu quả BVMT với người lao động
Công nghệ sản xuất lạc hậu: Kiến thức về tay nghề không cao dẫn đến tiêu hao nhiều nguyên liệu, làm tăng phát thải các chất ô nhiễm môi trương ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm và chất lượng môi trường Trình độ kỹ thuật ở các làng là bán cơ khí, thủ công.Vốn đầu tư tại các cơ sở làng nghề quá thấp, khó có điều kiện phát triển hoặc đổi mới công nghệ thep hướng than thiện với môi trường.Sản xuất mang tính tự phát, không có kế hoạch lâu dài nên khó đầu tư tài chính và vay vốn ngân hàng Do
đó, khó chủ động trong đổi mới kỹ thuật và công nghệ, không thể đầu tư cho môi trường
Trình độ người lao động, chủ yếu là lao động thủ công, học nghề, văn hóa thấp : theo điều tra của Bộ NN& PTNT thì chất lượng chuyên môn kỹ thuật các làng nghề nhìn chung còn thấp, chủ yếu là lao động phổ thông Mặt khác đa số người dân chưa có ý thức về môi trường lao động, chỉ cần việc làm có thu nhập cao hơn làm nông và có việc làm trong lúc nhàn rỗi
Nhiều làng nghề chưa quan tâm đến đầu tư, xây dựng cơ sở hạ tầng BVMT làng nghề Việc cạnh tranh trong một số loại hình sản xuất đã thúc đẩy các chủ cơ sở, doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ, kỹ thuật sản xuất Hầu hết các làng nghề không đầu tư cho hệ thống xử lý chất thải trước khi thải ra môi trường Không có hệ thống xử lý nước thải làng nghề, bãi chôn lấp chất thải rắn Để giải quyết vấn đề này cần công nghệ, vốn của các cấp, ngành chính quyền.[31]
2.3.3 Xu hướng phát triển làng nghề đến năm 2015
Các yếu tố chính ảnh hưởng đến phát triển làng nghề như yếu tố chủ quan như nôi lực sản xuất và yếu tố khách quan: như chính sách, công nghệ… các yếu tố này
Trang 25được lượng hóa bằng ý kiến các chuyên gia trong nhiều lĩnh vực và cho biết xu hướng phát triển của các loại hình, làng nghề Vì có quá nhiều nhân tố không thể lượng trước được nên kết quả dự đoán sẽ là xu thế trong một tương lai gần với một số giả thiết nhất định
Có thể thấy rằng số lượng các làng nghề ở những vùng nói chung có xu hướng tăng lên, trừ ngành VLXD có xu thế giảm mạnh một chút so với sản phẩm sản xuất công nghiệp Số lượng làng nghề ở các khu vực như là ĐB sông Hồng, trung bộ, nam bộ có
xu hướng tăng lên nhiều so với các tỉnh Tây Bắc và Đông Bắc
Bảng 2.2: Dự báo phát triển làng nghề đến năm 2015
Vùng kinh tế
Dệt nhuộm, ươm tơ, thuộc da
Chế biến LT-TP chăn nuôi, giết
mổ
Tái chế phế liệu
Thủ công
mỹ nghệ
Sản xuất VLXD, khai thác đá
(Nguồn Đề tài KC08/09/2005, PGS.TS Đặng Kim Chi)
2.3.4 Tác hại của ô nhiễm môi trường làng nghề
Ô nhiễm làng nghề ảnh hưởng tới bệnh tật và tuổi thọ
Trong thời gian gần đây số người mắc bệnh, đặc biệt số người trong nhóm độ tuổi lao động đang có xu hướng tăng cao Theo các kết quả nghiên cứu cho thấy, tuổi thọ của người dân tại các làng nghề ngày càng giảm đi, thấp hơn 10 lần so với tuổi thọ trung bình toàn quốc và so với làng không có nghề cũng thấp hơn từ 5 – 10 năm Tỷ lệ người
Trang 26mắc bệnh và tai nạn lao động các làng nghề sẽ là gánh nặng cho gia đình và xã hội Số người mắc bệnh tăng cao dẫn đến chi phí khám và điều trị sẽ tăng lên
Các yếu tố gây ảnh hưởng đên sức khỏe người dân nơi đây cũng như dân quanh khu vực lân cận là hơi khí độc, nhiệt độ, khí ồn, chất thải rắn…Tại hầu hết các làng nghề này, bệnh phổ biến là hô hấp, ngoài da, thần kinh, ung thư
Làng nghề tái chế kim loại:
Nguyên nhân gây ra các bệnh là do sự phát thải khí độc, nguồn nhiệt cao và bụi kim loại từ các lò đúc, nấu kim loại trong quá trình sản xuất Có 4 loại bệnh có tỷ lệ mắc bệnh cao như là bệnh phổi thông thường, bệnh phụ khoa, bệnh tiêu hóa, mắt và phụ khoa Bên cạnh vấn đề do ô nhiễm gây ra, các nguy cơ do tai nạn lao động làng nghề cũng đáng quan tâm Những tai nạn lao động như nổ lò, điện giật, bỏng, gãy tay… tỷ
lệ tai nạn trong làng nghề này chiểm 34,5%
Tác hại của ô nhiễm môi trường tại làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm, chăn nuôi, giết mổ:
Yếu tố ảnh hưởng chủ yếu đến làng nghề này là bức xạ nhiệt, vi sinh gây bệnh, hóa chất, hơi khí độc, nước thải, chất thải rắn Đặc biệt lượng nước thải của các làng nghề chế biến thực phẩm chứa một hàm lượng lớn chất hữu cơ và hàm lượng vi khuẩn Coliform cao nên gây ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nước, đất Chính vì vậy nhóm bệnh phổ biến ở các làng nghề này là bệnh ngoài da, viêm niêm mạc Các bệnh ngoài
da chủ yếu là viêm quanh móng, nấm kẽ, nấm móng, dày sừng bàn chân, viêm chân tóc, viêm nang lông… Ngoài ra một số bệnh về tiêu hóa chiếm tỷ lệ thấp hơn
Bảng 2.3: Tỷ lệ mắc bệnh tại một số làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm
Làng nghề ngoài Bệnh
da %
Bệnh tiêu hoá
Bệnh
hô hấp
khoa
Bệnh khác
(Nguồn: Báo cáo môi trường 2008 – môi trường làng nghề)
Trang 27Tác hại của ô nhiễm môi trường của làng nghề dệt nhuộm, ươm tơ
Tại các làng nghề dệt nhuộm ươm tơ, tiếng ồn, bụi hóa chất, hơi khí độc, nước thải chứa Javen là các yếu tố gây ô nhiễm môi trường và có nguy cơ ảnh hưởng tới sức khỏe con người Đặc biệt, tiếng ồn gây suy giảm thính lực, đau đầu, khó chịu và mệt mỏi thần kinh cho người lao động và người dân sống xung quanh khu vực sản xuất
Đồ thị 2.3: Thực trạng bệnh tật làng nghề ươm tơ Đông Yên – Quảng Nam
(Nguồn:báo cáo môi trường 2008 – môi trường làng nghề) Tác hại của ô nhiễm môi trường làng nghề khai thác đá, vật liệu xây dựng đến người dân
Trong quá trình sản xuất và sinh hoạt, người dân phải sống trực tiếp trong môi trường có nồng độ bụi, các nồng độ khí độc cao Một số bệnh của làng nghề này như tai mũi họng, bệnh mắt, bệnh thần kinh, mệt mỏi, rối loạn tâm lý
Tác hại đến sức khỏe của ô nhiễm môi trường làng nghề thủ công mỹ nghệ
Bên cạnh các lợi ích về kinh tế của các sản phẩm thủ công mỹ nghệ là các vấn
đề ô nhiễm môi trường do sử dụng các nguyên liệu như sơn, dầu, aceton, toluene, benzene… Tại đây là các bệnh phổ biến như hô hấp, ngoài da
Theo kết quả của trung tâm y tế quận Ngũ Hành Sơn, với 1200 lao động ở làng nghề đá mỹ nghệ Non Nước, tỷ lệ người dân làng nghề bị mắc bệnh cao hơn khá nhiều
so với khu vực lân cận không làm nghề
Trang 28Bảng 2.4: Tỷ lệ bệnh tật làng đá mỹ nghệ Non Nước tính trên tổng số dân
STT Các bệnh Người dân làm nghề% Dân cư không làm nghề%
(Nguồn :báo cáo môi trường 2008 – môi trường làng nghề)
Ô nhiễm môi trường làng nghề gây ảnh hưởng đến ngành nông nghiệp
Ô nhiễm không khí làng nghề, nhất là nghề nung vôi hay đốt gạch, khói thải từ các nghề này làm giảm năng suất cây trồng với hoa màu, lúa và cây ăn quả, nhất là khí thải vào thời kỳ trổ bông ra hoa Ô nhiễm môi trường nước khi thải nước thải trực tiếp ra sông, mương là nơi tưới tiêu đã làm ảnh hưởng đến ao nuôi cá, cá thả sông Nước thải
ô nhiễm tưới làm ảnh hưởng đến hoa màu, làm nhiều nơi phải bỏ hoang gây ô nhiễm cho nông nghiệp và thủy sản
Ô nhiễm môi trường làng nghề gây ảnh hưởng đến du lịch làng nghề
Phát triển kinh tế du lịch làng nghề là hướng đi được nhiều địa phương phát triển Nhưng chính sự ô nhiễm môi trường tại các làng nghề đã gây cản trở lớn đến hoạt động du lịch, làm giảm lượng khách và giảm nguồn thu nhập từ du lịch Những năm gần đây đã xuất hiện các điểm du lịch là các làng nghề như: lụa Vạn Phúc, gốm Bát Tràng, tranh Đông Hồ (Hà Nội), mộc Đồng Kỵ (Bắc Ninh), làng đá mỹ nghệ Non Nước (Đà Nẵng), làng đèn lồng Hội An (Quảng Nam)
Ô nhiễm môi trường gây mâu thuẫn giữa các khu vực
Trong những năm gần đây, mối quan hệ giữa làng có nghề và làng không có nghề; hay giữa những hộ gia đình có làm nghề hoặc không làm nghề đã và đang xảy ra xung đột Việc xả chất thải không trực tiếp qua môi trường không qua xử lý đã gây ô nhiễm môi trường, gây ô nhiễm nguồn nước, không khí và giảm diện tích đất canh tác… gây ảnh
Trang 29hưởng trực tiếp đến sức khỏe và cuộc sống người dân Vấn đề lợi ích đặt lên trên vấn
đề sức khỏe cộng đồng và môi trường, điều này đã làm ảnh hưởng đến mối quan hệ của những khu vực làm nghề và không làm nghề.[11]
2.4 Làng nghề Thái Bình
2.4.1 Hiện trạng làng nghề tỉnh Thái Bình
Làng nghề có vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế xã hội nói chung và ông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp nói riêng của Thái Bình Nhiều nghề thủ công đã ra đời từ rất lâu ở Thái Bình như là dệt chiếu, dệt tơ lụa, sơn mài, rèn, đúc, khảm trai, mây tre đan, chạm bạc… trên địa bàn tỉnh Thái Bình, thủ công nghiệp truyền thống hoạt động chủ yếu dưới hình thức các loại làng nghề Phát triển nghề và làng nghề ở Thái Bình đã và đang là một trong năm chương trình đột phá kinh tế của tỉnh, thực hiện mục tiêu: công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn Là một tỉnh thuần nông, giá trị sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng thấp 22.8% trong cơ cấu kinh
tế nói chung, song Thái Bình lại có những ưu thế phát triển làng nghề, ngành nghề Nhiều làng nghề đã nhanh chóng thích ứng và phát triển trong cơ chế mới như dệt La Phương (xã Thái Phương, Hưng Hà), làng chiếu cói Hải Chiều (Tân Lễ, Hưng Hà), làng chạm Bạc Đồng Xâm (Lê – Hồng – Trà, Kiến Xương)…
Mặc dù trải qua những biến đổi thăng trầm, song đa số các các làng nghề truyền thống ở Thái Bình vẫn tồn tại và phát triển Theo số liệu điều tra năm 2005, tỉnh Thái Bình có 132 làng nghề và xã nghề Đó là các làng nghề dệt tẩy nhuộm, chế biến nông sản thực phẩm, chạm bạc, tái chế kim loại, tái chế nhựa, thêu ra, ươm tơ… Các làng nghề tập trung ở các huyện như sau: huyện Đông Hưng có 13 làng nghề; Vũ Thư
16 làng nghề; Quỳnh Phụ 14 làng nghề, Thái Thụy có 15 làng nghề, Tiền Hải 20 làng nghề, Hưng Hà 31 làng nghề; thành phố Thái Bình 2 làng nghề Đến tháng 7/2009 tổng số làng nghề là 182 Tính đến nay, toàn tỉnh có 210 làng nghề được UBND tỉnh công nhận, giải quyết được 196.000 lao động Giá trị sản xuất khu vực làng nghề chiếm 38% giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh
Sự phát triển của các làng nghề ở địa phương đã góp phần tăng giá trị sản xuất, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng công nghiệp Năm 2004, giá trị của sản xuất công nghiệp tỉnh là 2.691 tỷ đồng, thì giá trị sản xuất của các làng nghề đạt hơn 900 tỷ đồng chiếm 30% Năm 2009, giá trị của sản xuất công nghiệp khu vực làng nghề đã chiếm 35%
Trang 30Đến cuối năm 2011 thì giá trị sản xuất công nghiệp khu vực làng nghề của Thái Bình
là 41% với 1.768 tỷ đồng
Những năm gần đây, các làng nghề trong tỉnh đã từng bước được cơ khí hóa, đưa máy móc thiết bị vào sản xuất và mang lại hiệu quả năng suất rõ rệt, năng suất lao động tăng bình quân 25% Hiện tại các làng nghề tronh tỉnh sử dụng gần 7.500 máy cơ khí các loại, trong đó khung dệt điện hơn 1.900 chiếc, máy rút sợi hơn 600 chiếc, máy vạn năng gần 500 chiếc, máy dệt bao 450 chiếc, máy nghiền bột 350 chiếc, máy chẻ mây 240 chiếc
Tuy nhiên việc cơ giới hóa ở Thái Bình còn gặp nhiều khó khăn do các làng nghề thủ công trong tỉnh vẫn chủ yếu sản xuất tại hộ, quy mô nhỏ lẻ, thiếu vốn đầu tư mua sắm máy móc Bên cạnh đó, các làng nghề rất đa dạng, trong khi các nhà khoa học chưa thực sự quan tâm chế tạo máy móc ở lĩnh vực này Các máy móc phần lớn là
do những người nông dân chế tạo, cải tiến để làm giảm thời gian và sức lao động Ngoài ra do đặc thù của từng nghề, có những nghề rất khó đưa máy móc vào như nghề dệt chiếu…
Trước sức ép cạnh tranh ngày càng quyết liệt của cơ chế thị trường, tỉnh Thái Bình đang thực hiện cơ giới hóa làng nghề theo xu hướng đưa máy móc vào những khâu nặng nhọc để giải phóng sức lao động hoặc khâu chính quyết định sản phẩm Trong thời gian qua, Thái Bình đã ban hành nhiều cơ chế chính sách thông thoáng tạo moi điều kiện để phát triển nghề thủ công một cách toàn diện, tập chung vào hai hướng chính : khôi phục mở rộng và bảo tồn các làng nghề và bảo vệ môi trường làng nghề Hàng năm tỉnh trích ngân sách từ 10 – 12 tỷ đồng để hỗ trợ đào tạo nghề mới, giải quyết ô nhiễm môi trường
Toàn tỉnh hiện có 320 doanh nghiệp, tồn tại 50 HTX tiểu thủ công nghiệp và hàng chục nghìn tổ sản xuất lớn nhỏ tham gia vào sản xuất, kinh doanhg trong làng nghề [5.6.12]
Trang 31Đồ thị 2.4: Tỷ lệ Phân loại làng nghề Thái Bình theo loại hình sản xuất
(Nguồn: Sở công thương tỉnh Thái Bình)
2.4.2 Hạn chế
Bên cạnh những kết quả đạt được thì làng nghề còn tồn tại những mặt hạn chế như là quy mô sản xuất manh mún, tự phát, thị trường tiêu thụ sản phẩm khó khăn, khả năng cạnh tranh thấp do các sản phẩm của làng nghề chưa xây dựng được thương hiệu riêng Kết quả điều tra, khảo sát hiện trạng kinh tế, xã hội môi trường làng nghề Thái Bình cho thấy còn nhiều trở ngại khó khăn đối với việc phát triển bền vững làng nghề,
có thể tóm tắt qua một số nét chủ yếu sau đây:
Công nghệ sản xuất lạc hậu, chất lượng sản phẩm chưa cao, tiêu hao nhiều nguyên liệu và công sức cho 1 đơn vị sản phẩm
Nguyên nhân là do trình độ học vấn còn thấp của người lao động, do đặc tính truyền thống riêng tư hay còn gọi là bí quyết sản xuất của mỗi gia đình hoặc thói quen
tự bằng long với những gì mình làm ra, không cần cải tiến hay thay đổi quy trình sản xuất
Trang thiết bị cũ, trình độ người lao động văn hóa thấp và chuyên môn kỹ thuật hạn chế Các hộ sản xuất chủ yếu bằng công nghệ thủ công, hoặc chỉ có thiết bị, công
cụ cơ khí nhỏ, cũ mua lại từ cơ sở công nghiệp đã thanh lý Trình độ tay nghề của người lao động thấp vì chủ yếu học nghề qua truyền miệng, thiếu hụt các kiến thức về
an toàn lao động
Quy mô sản xuất nhỏ, mặt bằng sản xuất và nhà xưởng chật hẹp, ngoại trừ một
số trang trại chăn nuôi hoặc xí nghiệp tư nhân ở phía ngoài làng, đa số các hộ sản xuất quy mô hộ gia đình, sử dụng nhà ở, sân vườn công trình phụ để làm nơi sản xuất và
Trang 32kho dự trữ vật tư, nguyên liệu, sản phẩm… nhiều hộ không đủ khả năng tài chính cho việc thuê mua mặt bằng, đầu tư nhà xưởng đảm bảo tiêu chuẩn môi trường
Trở ngại về tài chính, vốn đầu tư của hộ gia đình
Mặc dù có thể chế tín dụng, ngân hàng đã tạo điều kiện thuận lợi cho các hộ vay vốn, nhưng tình trạng thiếu vốn đầu tư vẫn tồn tại khá phổ biến và rất khác nhau giữa các loại hình sản xuất làng nghề Nhiều hộ sản xuât có thu nhập đạt mức khá cao nhưng khả năng tích lũy vốn cho tái đầu tư của đa số hộ còn rất thấp, dẫn tới khó đầu
tư cho môi trường
Điều kiện lao động còn rất hạn chế, ý thức và thói quen thường trực về kỷ luật lao động và vệ sinh môi trường còn rất kém.Cường độ làm việc về cao về cả thời gian trong ngày và trong tháng, thiếu các phương tiện bảo hộ lao động là nét chung của lực lượng lao động tại làng nghề
Thiếu cơ chế chính sách trong quản lý môi trường làng nghề và hiệu quả áp dụng vào làng nghề còn hạn chế.[12.32]
Thái Bình có 5 vùng nghề, trong đó có 3 vùng gây ô nhiễm môi trường lớn nhất đó là:
- Vùng nghề chạm bạc truyền thống gồm 3 xã: xã Hồng Thái, Lê Lợi, Trà Giang Trong đó xã Lê Lợi là trung tâm gồm 5 doanh nghiệp, 2 HTX, 210 tổ hợp, 637 hộ với
2300 lao động Doanh thu 49 – 53 tỷ đồng/năm Thu nhập bình quân là 1.200.000 đồng – 2.000.000đồng/tháng
- Vùng nghề dệt đũi có trung tâm là xã Nam Cao và 12 xã lân cận với 29 doanh nghiệp tư nhân, 2800 khung dệt, 40 tổ hợp, 1720 hộ sản xuất, tạo việc làm cho 6700 lao động Doanh thu 50 – 60 triệu USD/năm Thu nhập bình quân 1.200.000 – 1.800.000 đồng/năm
- Vùng nghề mây tre đan: có 22 xã, trung tâm là xã Thượng Hiền, gồm 1 công ty,
4 doanh nghiệp tư nhân tạo việc làm cho 6043 lao động Doanh thu 60 – 70 tỷ đồng/năm Thu nhập bình quân khoảng 1.700.000 – 2.000.000 đồng /tháng
2.4.3 Làng nghề chạm bạc Đồng Xâm
Cụ tổ nghề Nguyễn Kim Lâu vốn là người gốc ở đây, học được nghề kim hoàn
từ châu Bảo Lạch nước Đại Minh, rồi đem nghề về truyền lại cho dân làng Gần 600 năm đã trôi qua, mọi thứ đã không còn được tuyệt đối chính xác Song theo văn bia tại đền cụ tổ nghề chạm bạc thì năm 1428, cụ Nguyễn Kim Lâu đã về đây truyền nghề cho dân, lập thành phường Phúc Lộc, gồm 149 người, có một trùm phường và 7 chi
Trang 33phường cai quản bảy hạng thợ Các dòng họ Nguyễn, Triệu, Trần, Đinh, Vũ, Hoàng, Ngô, Đỗ đều có người tham gia phường Phúc Lộc Phường quy định người nào muốn học nghề đều phải nộp tiền để làm lễ cầu phúc và lễ kính tổ nghề Hàng năm vào ngày mùng 5 tháng giêng âm lịch, phường thợ phải tập trung tại trước am để làm lễ giỗ tổ Năm 1924, triều đại vua Khải Định công nhận nghề mỹ nghệ tinh sảo và phong sắc cho làng, phong chức thất phẩm cho các nghệ nhân
Trước đây làng nghề phát triển, khách tự tìm mua sản phẩm Trong thời kỳ bị cấm vận, sản phẩm làng nghề cũng như các mặt hàng xuất khẩu khác của nước ta phải thông qua hai nước Liên Xô và Ba Lan đầu tư tập trung rồi phân phối
Năm 1994, làng chạm bạc Đồng Xâm được tỉnh công nhận là thị tứ Đồng Xâm
và được xếp vào điểm du lịch của tỉnh Nhà nước cũng đã quan tâm đầu tư xây dựng đường vào làng nghề và trạm cấp nước phục vụ cho sản xuất
Thời buổi hiện nay, kinh tế khủng hoảng, sản phẩm làng nghề hướng hàng nội địa phục vụ nhân dân trong nước Sản phẩm phục vụ bên Đạo phật là hoành phi câu đối, bát hương, mâm bồng… đạo giáo là Hào quang thánh giá, chén đựng nước phép… Trong đại lễ kỷ niệm nghìn năm Thăng Long, làng nghề Đồng Xâm đã dâng tranh chạm bằng đồng đỏ 1,8 x 2,8m có tên là “Đoan môn Hoàng thành Thăng Long”, minh họa cảnh Lý Công Uẩn rời đô, được ban chỉ đạo 1000 năm Thăng Long cấp chứng nhận
Cách đây 4 năm, làng được hiệp hội làng nghề Việt Nam cấp bằng chứng nhận 1/12 làng nghề tiêu biểu của toàn quốc Trước ngày hình thành trong xã Hồng Thái rồi lan dần sang hai xã lân cận là Lê Lợi va Trà Giang với chiều dài là 6km thành vùng nghề Lê – Hồng – Trà trở thành một vùng nghề rộng lớn với trên 2500 cơ sở sản xuất
và trên 3000 lao động Doanh thu chiếm 50,7% tổng doanh thu của địa phương.[7]
2.4.4 Cơ sở chạm bạc xã Lê Lợi
Làng nghề chạm bạc LL là một trong ba xã có làng nghề ở huyện Kiến Xương Nghề chạm bạc lúc đầu ở xã Hồng Thái Theo số liệu thống kê cho thấy năm 1993 dân chạm bạc tập trung nhiều nhất ở Hồng Thái với hơn 500 lao động, trong khi ở LL chỉ
có 200 lao động Đến năm 2000, ở Hồng Thái có 700 hộ còn ở LL đã tăng lên 1200 lao động, và đến cuối năm 2011 thì ở xã LL có 2446 hộ
Năm 2011, xã LL có 407 cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp với hơn 2500 lao
Trang 34đoạn 2005 – 2010 đạt 22.5% Trong cơ cấu kinh tế, tỷ trọng sản xuất tiểu thủ công nghiệp chiếm 51% (34 tỷ đồng) với tốc độ tăng trưởng bình quân 26.6%/năm; nông nghiệp chiếm 29% (19 tỷ đồng) với tốc độ tăng trưởng 5.32%/năm; dịch vụ thương mại chiếm 20% (14 tỷ đồng) với tốc độc tăng trưởng 36%/năm Giá trị sản xuất bình quân đầu người đạt trung bình 20 triệu/năm
Hiện nay xã có gần 100 tổ hợp sản xuất làm nghề chạm bạc với gần 2500 lao động chiếm 54% số lao động địa phương Hợp tác xã (HTX) Phú Lợi của xã là một trong những cơ sở thủ công lớn nhất của huyện Kiến Xương Đây là cơ sở thuộc làng nghề “chuyên nghề” HTX được thành lập từ năm 1958 Sau hơn 50 năm thành lập, đến nay HTX đã có hơn 300 lao động Trong làng nghề, những nghệ nhân được truyền
từ đời này sang đời khác và đến nay vẫn được bảo tồn và phát triển trên quy mô ngày càng lớn, thu hút nhiều lao động, tạo thu nhập, nâng cao đời sống của nhân dân
Làng chuyên nghề đòi hỏi công nghệ tương đối phức tạp, thường xuyên có bí quyết nghề nghiệp, mang tính chất truyền nghề hơn dạy nghề vì vậy tổ chức thường theo hộ gia đình hoặc dòng họ Làng chuyên nghề có ưu điểm là sản xuất được chuyên môn hóa cao, người lao động có điều kiện chuyên sâu vào nghề nghiệp, cải tiến kỹ thuật nên loại hình nghề này đòi hỏi một đội ngũ đầu đàn, tinh xảo về kỹ thuật nghề nghiệp Các sản phẩm của làng đã và đang được khẳng định trên thị trường nhiều nước trên thế giới Sản phẩm ngày càng được nâng cao cả về số lượng và chất lượng, mẫu
mã ngày càng phong phú Năm 2011 HTX đạt doanh thu 2.5 tỷ và lãi 300 triệu đồng, thu nhập bình quân 1.400.000 – 1.800.000 nghìn/người/tháng
Nghề chạm bạc tập trung chủ yếu ở hai thôn Phú Ân và Văn Thanh hút hơn
2000 lao động tham gia chiếm 50% số lao động của làng Tại đây, lực lượng tạo phôi, rèn giũa là chủ yếu, cả xã có 7 hộ làm hóa bạc và mạ bạc
Trang 35CHƯƠNG III: HIỆN TRẠNG KHU VỰC LÀNG NGHỀ
Thái Bình có 7 huyện (Đông Hưng, Hưng Hà, Kiến Xương, Quỳnh Phụ, Tiền Hải, Thái Thụy, Vũ Thư) 01 thành phố, có 285 xã – phường, thị trấn
Vị trí địa lý:
Thái Bình nằm ở 20,170 – 20,440 vĩ Bắc; 106,060– 106,390 kinh Đông
Phía Tây Bắc giáp Hưng Yên, Hải Dương và thành phố Hải Phòng
Phía Tây và Tây Nam giáp tỉnh Nam Định và Hà Nam
Phía Đông giáp Vịnh Bắc Bộ
Hình3.1 Bản đồ tỉnh Thái Bình
Thái Bình có tiềm năng lớn về phát triển kinh tế, có truyền thống lâu đời về phát triển sản xuất nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp Phía Đông có hai khu công
Trang 36Bình có khả năng giao lưu với Quốc tế và các vùng khác ttrong nước Cụm công nghiệp thành phố Thái Bình với quốc lộ 10 chạy qua và giao lưu trực tiếp với tam giác trọng điểm kinh tế Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh, cầu Tân Đệ và cầu Triều Dương là cửa ngõ giúp cho tỉnh không còn cách biệt với các tỉnh khác của Đồng Bằng sông Hồng
3.1.1.2 Khí hậu
Tỉnh Thái Bình nằm trong khí hậu Bắc Việt Nam, chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa đông lạnh Vị trí sát biển tạo nên tình trạng ẩm ướt cuối mùa đông ở đây được tăng cường hơn Tần suất xuất hiện thời tiết nồm và mưa phùn vào nửa cuối mùa đông khá lớn Ngay trong thời kỳ khô hanh đầu mùa đông, độ ẩm không khí trung bình tháng cũng ít khi dưới 80% Ngoài ra, đây là khu vực chịu ảnh hưởng trực tiếp của bão, thời kỳ mưa nhiều trong năm là những tháng hoạt động mạnh mẽ của bão.( XI – IX)
Chế độ bức xạ nhiệt
Tổng số giờ nắng trung bình năm là 1615 giờ Trong đó, tháng V – VII là 3 tháng nắng nhất, trung bình xấp xỉ 200 giờ nắng/tháng Tháng II, III là hai tháng có ít nắng nhất trong năm, số giờ nắng trong tháng này đạt nhỏ hơn 45 giờ
Nhiệt độ không khí trung bình 23.30C tương ứng với tổng nhiệt năm khoảng 86000C Mùa nóng kéo dài, bắt đầu từ tháng IV đến XI, trong đó có 3 tháng nóng nhất
là VI – VIII với nhiệt độ trung bình tháng trên 280C và nhiệt độ tối đa là 390C Tháng lạnh nhất trong năm là tháng 1 với nhiệt độ trung bình 16,40C và nhiệt độ thấp tuyệt đối có thể xảy ra ở khu vực này là 4,10C
Chế độ gió
Hàng năm khu vực có 2 mùa gió Mùa đông thịnh hành gió Bắc và Đông Bắc Mùa hè thịnh hành gió Nam và Đông Nam.Tốc độ trung bình khoảng 2,1m/s Tốc độ gió cực đại thường gặp trong các tháng hè (VII,VIII,IX) với vận tốc trên 40m/s Các tháng mùa đông, tốc độ gió mạnh nhất cũng chỉ đạt 14 - 16m/s thường gặp khi có các đợt gió mùa Đông Bắc tràn về
Chế độ mưa ẩm
Lượng mưa trung bình năm khoảng 1700mm Mùa mưa bắt đầu vào tháng V và kết thúc vào tháng X kéo dài khoảng 6 tháng Tháng IX là tháng có lượng mưa nhiều nhất trong năm, lượng mưa trung bình tháng đạt trên 300mm Tháng có lượng mưa
Trang 37thấp nhất trong năm rơi vào khoảng tháng II, lượng mưa trung bình tháng này chỉ vào khoảng 47mm Hàng năm trung bình có 147 ngày mưa Trung bình trong các tháng mùa mưa có 12 – 15 ngày mưa Nhưng số ngày mưa nhiều nhất lại rơi vào tháng III, tháng cuối mùa đông, trung bình khoảng 16- 17 ngày mưa/ tháng Mưa trong tháng này chủ yếu là mưa phùn, lượng mưa không lớn nhưng lại kéo dài trong nhiều ngày
Độ ẩm không khí trung bình tương đối lớn đạt 86% Thời kỳ ẩm nhất trong năm
là thời kỳ mưa phùn cuối đông vào tháng III, IV Độ ẩm trong những ngày này đạt trung bình là trên 90% Tháng có độ ẩm thấp nhất trong năm là tháng VI, VIII với giá trị 83% Độ ẩm thấp nhất tuyệt đối có thể xuống tới 16% trong tháng I
Các hiện tượng thời tiết đặc biệt có ảnh hưởng tới môi trường không khí là dông, mưa phùn và bão hoặc áp thấp nhiệt đới Hàng năm khu vực có khoảng 50 ngày dông Mùa dông trùng với mùa gió hè, kéo dài từ tháng IV đến tháng IX, X Dông tập trung nhiều nhất vào tháng VIII, IV với 9 – 10 ngày dông/tháng Dông thường kèm gió lớn và mưa to Môi trường không khí đựơc làm sạch sau những trận mưa dông
Mưa phùn: là hiện tượng thời tiết thường gặp vào nửa cuối mùa đông, khoảng
tháng I đến tháng IV trong vùng đồng bằng Hàng năm khu vực có trung bình 14 – 15 ngày mưa phùn Tháng I – IV trung bình có 2 – 5 ngày mưa phùn/tháng
Bão: Hàng năm trung bình có 1 – 2 cơn bão đổ bộ trưc tiếp vào khu vực bị ảnh
hưởng của 3 – 4 cơn bão Bão thường đi kèm với mưa to, gió lớn Gió trong bão có thể đạt 42m/s.[12]
Nằm trong phần hạ lưu của hệ thống sông Hồng – Thái Bình, sông ngòi nơi đây có đặc điểm chung của chế độ thủy văn hệ thống sông Hồng – Thái Bình Mặt khác đây là vùng ven biển nên chịu ảnh hưởng sâu sắc của chế độ thủy văn biển vùng Bắc Bộ Vì vậy, nơi đây chịu ảnh hưởng của chế độ thủy văn lục địa và thủy văn biển,
là nơi gặp gỡ, giao tranh giữa hai chế độ thủy văn nên đặc điểm thủy văn ở đây thay đổi rất phức tạp
Tổng lượng nước hệ thống sông Hồng – Thái Bình khá dồi dào, trung bình tổng lượng nước hàng năm toàn hệ thống là 122,3.109m3 trong đó sông Thái Bình chiếm khoảng 8,3.109m3 Chịu tác động phân phối rất không đồng đều trong năm của chế độ mưa gây khó khăn trong việc sử dụng và quản lý nước Mùa lũ (tháng VI – X) lượng nước 80 – 85% tổng lượng nước năm, mùa kiệt kéo dài những tháng còn lại chỉ chiếm
Trang 3830 – 45% lượng nước năm và tháng có lượng nước lớn nhất và là tháng thường có lũ lớn nhất là tháng VIII Thời kỳ có lượng nước thấp nhất trong năm là 3 tháng I – III và chỉ chiếm 3 – 5% lượng nước năm
Mùa kiệt nước trong sông lại rất ít, nước trong sông được duy trì chủ yếu do nước ngầm tầng nông, tạo điều kiện cho quá trình truyền triều và xâm nhập mặn vào sâu trong vùng cửa sông Vùng cửa sông vào mùa kiệt chịu ảnh hưởng của chế độ thủy văn biển manh mẽ hơn chế độ thủy văn sông
Do sự phân nhánh phức tạp (tổng lượng nước hệ thống sông Hồng – Thái Bình
đổ ra biển qua 11 cửa sông) vì vậy tỷ lệ phân nước của hệ thống sông Hồng sang sông Trà Lý là 10,2% trong tháng III và 15,6% trong tháng IV Đây là nguồn cung cấp nước chính cho xã Lê Lợi Tuy nhiên này còn chịu tác động của xâm nhập mặn Tùy theo lượng nước sông ngòi và độ lớn của thủy triều trong từng thời kỳ mà chúng có ảnh hưởng khác nhau đến nước vùng cửa sông Mùa lũ, khi nước nguồn đổ về rất lớn đẩy lùi dòng triều ra biển thì ảnh hưởng của thủy triều bị lu mờ, nhịp điệu dao động mực nước lên xuống không rõ ràng Nước bị dồn ứ mạnh ở pha triều lên gây khó khăn cho việc thóat lũ và có tốc độ chảy dòng rất cao khi triều rút gây xói lở, biến dạng lòng dẫn Mùa cạn, nước nguồn đổ về ít, dòng triều lấn át dòng nước tiến sâu vào trong sông Xâm nhập mặn vào sông Trà Lý lớn nhất có thể lên tới km thứ 20 tính từ cửa sông
Như vậy, sự xâm nhập mặn vào sông Trà Lý lớn nhất đã vượt qua khu vực nghiên cứu Việc sử dụng nguồn nước ngọt phục cho phát triển kinh tế - xã hội ở xã Lê Lợi phụ thuộc vào hệ thống tưới tiêu Nam Thái Bình và một phần nước dưới tầng nồng.[33]
3.1.1.3 Huyện Kiến Xương
Là một huyện của Thái Bình, nằm ở phía Đông tỉnh, diện tích 213,1 km2 và 240.968 người Vào thời nhà Trần có tên là Chân Lợi, đến thời Lê đổi thành Chân Định, thời nhà Nguyễn đổi thành trực định thuộc phủ Kiến Xương Nam Định Năm
1893 phủ Kiến Xương được cắt về tỉnh Thái Bình
- Phía Tây giáp thành phố Thái Bình
- Phía Bắc giáp huyện Vũ Thư
- Phía Đông giáp Tiền Hải
- Phía Đông Nam và phía nam giáp Thái Thụy
Trang 39Huyện Kiến Xương dường như được chia cắt ra làm 4 phần bởi tỉnh lộ 222 và 39B cắt nhau Đất Kiến Xương ngay được hình thành sau, dân cư tụ muộn hơn một số nơi khác của Thái Bình Đây là vùng đất tốt, giao thông thuận tiện, hội tụ nhiều dòng họ lớn từ khắp nơi về khai phá Kiến Xương là vùng đất giàu truyền thông văn hóa, yêu nước và cách mạng
3.2 Xã Lê Lợi
3.2.1 Điều kiện tự nhiên
3.2.1.1 Vị trí địa lý xã Lê Lợi
Xã Lê Lợi thuộc huyện Kiến Xương, nằm phía Đông Bắc huyện với diện tích là 5,3 km2
- Phía Bắc giáp xã Hồng Thái
- Phía Đông giáp Vũ Lăng – Tiền Hải
- Phía Tây giáp xã Quyết Tiến
- Cách thành phố Thái Bình 17km, cách huyện Kiến Xương 7km
Hình 3.2: Vị trí xã Lê Lợi trong huyện Kiến Xương
Lê Lợi nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình hàng năm là 23 – 240C (thấp nhất là 40, cao nhất là 380) Lượng mưa trung bình 1.400mm – 1.800mm
Số giờ nắng trong năm khoảng 1.600 – 1.800 giờ Độ ẩm trung bình khoảng 85-90%
Trang 40Lê lợi là một xã có địa hình tương đối bằng phẳng với độ dốc nhỏ hơn 1% Cao trình biến thiên phổ biến từ 0,3 – 0,8 m so với mực nước biển thấp dần từ Bắc xuống Đông Nam
Thổ nhưỡng, thực vật
Đất của xã chủ yếu là đất phù sa, thuận lợi cho trồng lúa và cây rau màu Đất có thành phần cơ giới thịt trung bình và nặng Đất đai có nguồn gốc phù sa sông Hồng được phân ra hai loại đất chính Thảm thực vật tự nhiên của xã rất nghèo nàn Các loại cây chủ yếu là cây trồng như: lúa, hoa màu, cây ăn quả phân bố chủ yếu ở khu vực miền đồng và miền bãi, một phần ít rải rác trong khu dân cư Những năm gần đây, cùng với việc đô thị hóa nông thôn,xây dựng cơ sở hạ tầng, các trung tâm công cộng, cây xanh cũng dần biến mất Thiếu vắng vai trò điều hòa của thảm thực vật càng làm tăng thêm những ảnh hưởng của việc ô nhiễm môi
trường
Thủy văn
Xã Lê Lợi có địa hình bằng phẳng tích tụ sông biển thóat khỏi ảnh hưởng triều Đồng bằng này cấu tạo chủ yếu bởi cát pha, sét bột Nằm hòan toàn trong đê bao nên mạng lưới sông của xã Lê Lợi là hệ thống kênh dẫn của hệ thống thủy nông Nam Thái Bình với mật độ lưới sông dao động 3 – 4 km/km2
3.2.1.2 Hiện trạng sử dụng nước
Sử dụng nước cho nông nghiệp
Để phục vụ nông nghiêp trong các xã có mạng lưới thủy lợi tưới tiêu khá phát triển Nguồn nước tưới lấy chủ yếu ở sông Trà Lý thuốc hệ thống thủy nông Nam Thái Bình, đối tượng chủ yếu là lúa, rau, hoa màu… Hệ thống dẫn nước tưới, tiêu là các máng và sông ngòi nhỏ Ngoài ra các trạm bơm lớn, nhỏ đã nối liền với các mạng lưới mương máng và sông ngòi và cống rãnh lấy nước và thóat nước, phân bố tương đối đều khắp trong vùng Nằm trong vùng địa hình thấp, lấy nước tưới hoặc tiêu thóat ra sông bằng hệ thống cống cánh cửa đóng, mở thuận tiện, phân bố dọc đê sông
Để tăng năng suất cây trồng, con người phải tiến hành cải tạo đất bằng các biện pháp làm đất ,bón phân hữu cơ, vun xới Những vùng đất chưa dung vôi trung hòa axit, vùng nước lợ ,nước mặn được tưới để rửa mặn Ngoài ra việc bảo vệ cây trồng cũng thường được tiến hành bằng cách dung thuốc trừ sâu các loại, dùng dầu diesel để diệt sâu bọ bảo vệ mùa màng Đặc biệt nhân dân địa phương vẫn còn thói quen dùng