1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NÔNG NGHIỆP - NÔNG THÔN TỈNH PHÚ YÊN TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA - HIỆN ĐẠI HÓA

124 615 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 1,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giới hạn nghiên cứu Về nội dung: do đề tài có nội dung rộng và phức tạp nên phạm vi nghiên cứu của luận văn được giới hạn: i nghiên cứu sâu những vấn đề có liên quan đến PTNN theo ngành

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Trần Thị Thanh Thu

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NÔNG NGHIỆP - NÔNG THÔN

TỈNH PHÚ YÊN TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA - HIỆN ĐẠI HÓA

Chuyên ngành : Địa lý học

Mã số : 60 31 95

LUẬN VĂN THẠC SĨ ÐỊA LÝ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS ÐẶNG VĂN PHAN

Thành phố Hồ Chí Minh - 2009

Trang 2

Tác giả xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trường ĐHSP TP.HCM, đặc biệt là các thầy

cô giáo khoa địa lí đã truyền dạy nhiều kiến thức, phương pháp nghiên cứu cho tác giả trong quá trình học tập tại trường

Tác giả cũng nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các cơ quan, các sở, ban, ngành tỉnh Phú Yên, nhất là sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Cục Thống kê tỉnh, sở Kế hoạch và Đầu tư,

sở Khoa học Công nghệ - Môi trường, sở Lao động Thương binh và Xã hội,… đã giúp tác giả trong quá trình thu thập tài liệu, thông tin và xử lí số liệu liên quan đến đề tài Tác giả xin cảm ơn về sự giúp đỡ quý báu này

Luận văn cũng đã hoàn thành với sự chia sẻ, động viên, ủng hộ và tạo điều kiện của gia đình, người thân, đồng nghiệp và bạn bè gần xa Xin cảm ơn

Rất mong các cá nhân, đơn vị nhận lời cảm ơn chân thành của tác giả

Tuy Hòa, ngày tháng năm 2009

Tác giả luận văn

Trần Thị Thanh Thu

Trang 3

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CDCC : Chuyển dịch cơ cấu

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

NN là một ngành sản xuất vật chất của nền KT quốc dân và là một bộ phận trọng yếu của tái sản xuất xã hội Hoạt động sản xuất NN được tiến hành chủ yếu trên địa bàn NT Vậy nên sự phát triển NN luôn gắn liền với phát triển NT PTNN-NT luôn giữ vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển KT-XH của nước ta, một nước mà sản xuất NN hiện còn đang chiếm 20,3% GDP nền KT, thu hút 50,2% lực lượng LĐ xã hội và đóng góp hơn 22,6% giá trị xuất khẩu của cả nước (năm 2007).Với vai trò đó, những năm qua Đảng và Nhà nước đã chú ý đẩy mạnh CNH-HĐH NN-NT và cũng đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể Tuy nhiên, đứng trước những đòi hỏi của quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng như hiện nay, NN nước ta nhìn chung phát triển còn chậm, chưa phát huy cao tiềm năng và lợi thế của mình nên hiệu quả chưa cao, chưa bền vững

Phú Yên với đồng bằng hạ lưu sông Ba (sông Đà Rằng), là một trong những đồng bằng lớn của khu vực Duyên hải miền trung, có điều kiện PTNN-NT Tuy nhiên trình độ phát triển còn thấp hơn so với mức trung bình cả nước Vậy trong bối cảnh KT thế giới có nhiều biến động, cùng với quá trình hội nhập của đất nước, làm thế nào để NN-NT Phú Yên phát triển mạnh, khai thác tốt tiềm năng và lợi thế phục vụ phát triển nhưng vẫn bảo vệ được môi trường sinh thái, đảm bảo công bằng

xã hội là bài toán khó cần có lời giải đáp sớm Nói cách khác NN-NT Phú Yên cần phát triển như thế nào để đảm bảo PTBV

Xuất phát từ thực tiễn trên cần phải có những nghiên cứu mang tính hệ thống tìm hiểu thực tế PTNN-NT Phú Yên, từ đó đề ra giải pháp nhằm thúc đẩy NN-NT PTBV Chính vì vậy chúng tôi

chọn đề tài: “Thực trạng và giải pháp phát triển bền vững nông nghiệp–nông thôn tỉnh Phú Yên

trong thời kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hóa” để nghiên cứu với mong muốn góp phần nhỏ bé vào

quá trình PTNN-NT Phú Yên trong thời gian tới

2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài: làm rõ thực trạng về PTBV NN-NT Phú Yên trong thời gian qua, tìm hiểu định hướng PTNN-NT của tỉnh trong thời gian tới, từ đó đề ra các giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy NN-NT Phú Yên PTBV trong thời kỳ CNH-HĐH đất nước

Để đạt mục đích này, luận văn đề ra các nhiệm vụ sau:

- Hệ thống hoá những lý thuyết có liên quan đến PTBV NN-NT, làm rõ các khái niệm, các nhân tố tác động, các chỉ tiêu đánh giá về PTBV NN-NT

- Phân tích thực trạng PTBV NN-NT Phú Yên trong thời gian qua, đánh giá những thành tựu đạt được và những hạn chế, tồn tại cần khắc phục trong thời gian tới

Trang 5

- Xác định mục tiêu, phương hướng và đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy PTBV NN-NT Phú Yên trong thời kỳ CNH-HĐH

3 Giới hạn nghiên cứu

Về nội dung: do đề tài có nội dung rộng và phức tạp nên phạm vi nghiên cứu của luận văn được giới hạn: (i) nghiên cứu sâu những vấn đề có liên quan đến PTNN theo ngành gồm: trồng trọt, chăn nuôi; chỉ đề cập chứ không nghiên cứu sâu về thuỷ sản, về các khía cạnh có liên quan đến PTNN theo thành phần KT và theo lãnh thổ; (ii) chủ yếu đề cập đến lĩnh vực PTNN; còn NT là lĩnh vực rất rộng, bao gồm các hoạt động KT-XH và cuộc sống của dân cư NT nên các vấn đề nghiên cứu về NT còn chưa đầy đủ, chi tiết do quá trình thu thập tài liệu, thông tin về NT gặp nhiều khó khăn; (iii) nói về các nhân tố tác động đến PTBV NN-NT tỉnh Phú Yên rất rộng, phải cần tài liệu, số liệu của nhiều sở ban ngành khác nhau và đòi hỏi phải rất chi tiết, do vậy tác giả chưa đủ điều kiện

để phân tích sâu nên chỉ nhận xét, đánh giá chung

Về không gian: là phạm vi tỉnh Phú Yên với diện tích 5.060 km2

Về thời gian: phần thực trạng được đề cập từ 1996 – 2007; tuy nhiên, hiện trạng môi trường NN-NT chỉ có các mốc thời gian so sánh đến 2005; phần mục tiêu, phương hướng đến 2010 và 2020; mục tiêu, phương hướng PTNT chỉ đến năm 2010

4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp luận duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mac-Lênin: nhằm rút ra các quan điểm, các

cơ sở lý luận về PTBV NN-NT

Phương pháp thu thập tài liệu: Thu thập các tài liệu có liên quan đến PTBV NN-NT từ các sở, ban ngành tỉnh Phú Yên, sở NN và PTNT, các đề tài nghiên cứu khoa học, các sách, báo, tạp chí,… Phương pháp phân tích tổng hợp: tìm ra các mối quan hệ, các xu hướng diễn ra giữa các biến

số để luận giải các vấn đề có liên quan đến PTBV NN-NT trong thời kỳ CNH-HĐH

Phương pháp thống kê, mô tả, so sánh, đối chiếu và qui nạp: được sử dụng để có thể đưa ra một cái nhìn tổng quát, xác thực và đo lường được mức độ phát triển

Phương pháp phỏng vấn: được thực hiện trên các đối tượng: cán bộ thuộc hội nông dân huyện, các cán bộ phụ trách các phòng ban: NN và PTNT, tài nguyên và môi trường, xói đói giảm nghèo, LĐ thương binh xã hội,…

Phương pháp thực địa: chúng tôi thực hiện các chuyến thực địa để quan sát về sinh thái nhân văn môi trường, các điểm và vùng quy hoạch đã và đang được triển khai, các công trình thuỷ lợi và giao thông NT,…

5 Lịch sử nghiên cứu

PTBV là một khái niện hiện nay còn tương đối mới mẽ và PTBV NN-NT còn mới mẽ hơn Do vậy hiện nay, tuy đã có khá nhiều công trình nghiên cứu nói về PTBV và PTBV NN-NT nhưng cũng chỉ mới đề

Trang 6

cập đến những cơ sở lý luận chung hoặc chỉ một vài khía cạnh nào đó Các công trình nghiên cứu có ý nghĩa đối với việc PTBV và PTBV NN-NT có thể nói đến như: KT học NN bền vững (TS.Đinh Phi Hổ, NXB Phương Đông, 2008); Nghiên cứu phát triển NT bền vững (Chương trình nghiên cứu Việt Nam – Thái Lan, 2000); Phát triển bền vững (Kỷ yếu hội nghị toàn quốc lần thứ nhất, Dự án VIE/01/021, 2004, “Hỗ trợ xây dựng và thực hiện Chương trình nghị sự 21 quốc gia của Việt Nam”; Không chỉ là tăng trưởng KT: Nhập môn về phát triển bền vững (Vũ Cương, Lê Kim Liên, 2005, NXB Văn hóa thông tin); Phát triển bền vững? Học thuyết, thực tiễn, đánh giá (Jean-Yves Martin - chủ biên, 2007, NXB Thế giới, Hà Nội)

Đối với tỉnh Phú Yên, PTBV NN-NT là một vấn đề nóng bỏng đã và đang được nhiều nhà khoa học quan tâm Nghiên cứu phát triển NN-NT nhằm tăng hiệu quả sản xuất NN, PTNT mới và đảm bảo trong sạch môi trường đáp ứng mục tiêu PTBV của tỉnh Tuy nhiên chưa thấy có một công trình nào nghiên cứu đầy đủ cả về cơ sở lý luận, thực trạng và giải pháp PTBV NN-NT như tác giả đang nghiên cứu

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1 : Cở sở lý luận về PTBV NN – NT thời kỳ CNH-HĐH

Chương 2 : Thực trạng PTBV NN – NT tỉnh Phú Yên thời kỳ CNH-HĐH

Chương 3 : Định hướng và giải pháp chủ yếu để PTBV NN – NT Phú Yên đến năm 2020

Trang 7

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

NÔNG NGHIỆP - NÔNG THÔN THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA - HIỆN ĐẠI HÓA

1.1 Một số khái niệm

1.1.1 Khái niệm nông nghiệp - nông thôn

1.1.1.1 Khái niệm, đặc điểm nông nghiệp - nông thôn

Khái niệm nông nghiệp

NN là một trong những ngành sản xuất vật chất cơ bản, là một bộ phận cấu thành quan trọng của nền KT quốc dân [23, tr.25] Hoạt động NN không những gắn liền với các yếu tố KT-XH mà còn gắn liền với các yếu tố tự nhiên Hiểu theo nghĩa hẹp thì NN chỉ gồm có trồng trọt, chăn nuôi và

DV NN; hiểu theo nghĩa rộng NN còn bao hàm cả lâm nghiệp và thủy sản [7, tr.8]

Nông nghiệp có những đặc điểm chủ yếu sau:

Trong NN, ruộng đất là tư liệu sản xuất đặc biệt Quy mô sản xuất, trình độ phát triển, mức

độ thâm canh, phương hướng sản xuất và cả việc tổ chức lãnh thổ NN lệ thuộc vào số lượng và chất lượng của đất đai Xuất phát từ đặc điểm này cho thấy việc bảo tồn quỹ đất và không ngừng nâng cao độ phì nhiêu của đất là vấn đề sống còn của sản xuất NN

Đối tượng của sản xuất NN là cây trồng, vật nuôi, chúng là những sinh vật Do vậy, sự tăng trưởng, phát triển của chúng tùy thuộc vào những quy luật sinh học riêng và phụ thuộc vào môi trường tự nhiên nhất định: đất, nước, khí hậu,… Tổng thể mối quan hệ giữa quy luật sinh học riêng

có gắn với môi trường tự nhiên thích ứng chính là các hệ sinh thái NN Từ đặc điểm này, PTNN đòi hỏi phải theo hệ sinh thái thích ứng sẽ khai thác được cả ưu thế tự nhiên và ưu thế KT cao

Trong sản xuất NN, thời gian LĐ không trùng với thời gian sản xuất và điều đó làm nảy sinh tính thời vụ Từ đó, trong NN cần phải tiến hành chuyên môn hóa kết hợp với đa dạng sản xuất và cần sự can thiệp của nhà nước đối với thị trường NN Để xây dựng cơ cấu hợp lí cần lựa chọn các loại cây trồng, vật nuôi có thời gian LĐ và thời gian sản xuất phù hợp với điều kiện cụ thể của lãnh thổ trong quá trình thực hiện phân bố sản xuất NN

Sản xuất NN được tiến hành trên một địa bàn rộng lớn và mang tính khu vực Xuất phát từ đặc điểm này, phải có chính sách PTNN thích ứng với từng khu vực

Khái niệm nông thôn

NT là khu vực lãnh thổ bao gồm một không gian rộng lớn của một đất nước hay một đơn vị hành chính nằm ngoài lãnh thổ đô thị, ở đó một cộng đồng dân cư sinh sống - gọi là dân cư NT và hoạt động KT chủ yếu là sản xuất NN (theo nghĩa rộng), bên cạnh đó còn có các hoạt động sản xuất tiểu thủ CN, CN và DV [7, tr.30]

Để phục vụ cho mục đích điều tra người ta đã thống nhất lấy tên gọi đơn vị hành chính nhỏ

Trang 8

nhất (tức là xã, phường, thị trấn) làm cơ sở để phân biệt địa bàn điều tra thuộc địa bàn thành thị hay

NT Nếu tên gọi là xã thì thuộc NT; còn tên gọi là phường, thị trấn, thị tứ thì thuộc khu vực thành thị [1, tr.100]

1.1.1.2 Vai trò của nông nghiệp - nông thôn

Trong suốt thế kỷ 20 và cho đến nay, luôn diễn ra và sẽ còn tiếp tục diễn ra các cuộc tranh luận về vai trò của NN-NT Tuy nhiên, có thể thấy vai trò của NN-NT có sự mở rộng và nâng cao nhiều so với trước Trong nhiều ý kiến khác nhau, có thể qui về hai quan điểm đối nghịch rõ rệt nhau như sau:

Quan điểm thứ nhất, căn cứ vào một thực tế được coi gần như một quy luật của phát triển là

tỷ trọng của NN trong GDP giảm đi trong khi tỷ trọng CN và DV tăng lên, đã nhận định rằng với sự kết thúc của văn minh NN được thay thế bằng văn minh CN, thậm chí hậu CN thì vai trò của NN ngày càng thu hẹp và hạ thấp

Quan điểm thứ hai, căn cứ vào một thực tế chưa phổ biến trên thế giới song bắt đầu xuất hiện từng phần tại những nước phát triển nhất, nhận định rằng trong nền KT-XH hiện đại ở thế kỷ XXI, vai trò của NN không những không bị giảm sút mà lại có thêm những nét mới và đặc sắc hơn

Về quan điểm thứ hai, tuy thực tế làm căn cứ phân tích và lập luận mới chỉ hé mở ở các nước phát triển, mà chưa hề xuất hiện ở hầu hết các nước đang phát triển, song cũng đã hoặc sẽ mở ra hướng suy nghĩ và hành động tích cực, chủ động về vai trò mới của NN-NT

Vai trò mới đó là:

Về nông nghiệp: NN không chỉ là cơ sở cho sự phát triển CN và cho công cuộc CNH-HĐH đất nước: cung cấp lương thực, thực phẩm, nguyên liệu, đất đai, LĐ, tiền vốn, thị trường cho CN Trái lại NN hiện đại là một loại CN và DV có năng suất và hiệu quả cao, có giá trị sử dụng thiết yếu không gì thay thế được, tạo ra giá trị gia tăng lớn, có thể cần phải và đang trở thành một ngành rất quan trọng của KT tri thức

Về nông thôn: NT không phải là địa bàn thứ yếu và hậu phương phụ thuộc vào thành thị, có trình độ phát triển về các mặt đều thấp hẳn so với thành thị, cổ hủ, lạc hậu, lỗi thời về chính trị, KT, văn hóa, xã hội, nơi con người nhất là lớp trẻ hướng ra thành thị Trái lại NT hiện đại là một dạng của thành thị, sự phân biệt giữa thành thị và NT đang mất dần, trong NT có các thành phố và thị trấn văn minh, sự khác nhau giữa thành thị và NT là ưu việt hơn cho NT chứ không phải cho thành thị:

 NT hiện đại là địa bàn để giữ gìn và tô điểm môi trường sinh thái của loài người, chứa đựng “lá phổi và trái tim” của sự sống trên trái đất

 NT hiện đại là không gian rộng lớn, tại đó con người được sống gắn bó, hài hoà với thiên nhiên, cây cỏ, chim muông, sông núi, đất trời, không ngột ngạt trong những thành phố đầy nhà chọc trời, bê tông, kính và sắt thép

Trang 9

 NT hiện đại là nơi nghỉ ngơi lành mạnh, là nguồn giải trí phong phú, là vùng du lịch sinh thái đa dạng, yên tĩnh, thanh bình,…

Như vậy theo quan điểm này, rõ ràng là vai trò trong tương lai của NN và NT đã được mở rộng và nâng cao nhiều so với trước

1.1.2 Phát triển bền vững nông nghiệp – nông thôn

1.1.2.1 Tăng trưởng, phát triển và phát triển bền vững

1.1.2.1.1 Tăng trưởng và phát triển

Tăng trưởng là sự gia tăng về qui mô thu nhập quốc gia và qui mô sản lượng quốc gia tính bình quân đầu người qua một thời gian nhất định [12, tr.14]

Trong đó, sản lượng bình quân đầu người lại phụ thuộc vào qui mô sản lượng và dân số của quốc gia Nếu sản lượng tăng nhưng qui mô dân số tăng nhanh hơn sẽ dẫn đến sản lượng bình quân giảm Do đó, bản chất của tăng trưởng là phải đảm bảo sự gia tăng cả qui mô sản lượng và sản lượng bình quân/người Sản lượng bình quân/người còn phản ánh thu nhập trung bình của dân cư một quốc gia Cho nên, gia tăng sản lượng bình quân/người sẽ tạo tác động cải thiện mức sống dân

cư Như vậy, tăng trưởng mới chỉ mô tả và đo lường được sự gia tăng về mặt số lượng [12, tr.93]

Phát triển biểu hiện một nội dung rộng lớn hơn tăng trưởng KT, tức bên cạnh sự tăng thu nhập bình quân đầu người, phát triển còn bao gồm nhiều khía cạnh khác Phát triển là việc nâng cao phúc lợi của nhân dân, nâng cao các tiêu chuẩn sống, cải thiện giáo dục, sức khỏe và đảm bảo sự bình đẳng cũng như quyền công dân Phát triển còn được định nghĩa là sự tăng bền vững các tiêu chuẩn sống, bao gồm tiêu dùng vật chất, giáo dục sức khỏe và bảo vệ môi trường Phát triển bao gồm

cả những thuộc tính quan trọng và liên quan khác, đặc biệt là sự bình đẳng về cơ hội, sự tự do về chính trị và các quyền tự do công dân khác của con người

Tăng trưởng là một phương tiện cơ bản để có thể có được sự phát triển nhưng bản thân nó chỉ

là một đại diện, chưa phản ánh đầy đủ tiến bộ xã hội Tăng trưởng và phát triển là hai mặt của sự phát triển xã hội có quan hệ chặt chẽ với nhau Tăng trưởng diễn tả động thái của nền KT, còn phát triển phản ánh sự thay đổi về chất lượng của nền KT – XH để phân biệt các trình độ khác nhau trong sự tiến bộ xã hội Tăng trưởng chưa phải là phát triển mà chỉ là điều kiện cần cho sự phát triển Tăng trưởng mà không có phát triển thì rất nguy hại, sự nguy hại đó tồn tại ở các nước đang phát triển khi hoạt động KT tập trung vào những ngành của những công ty nước ngoài hoặc những công trình công cộng lớn mà không có tác động đến toàn quốc Ngay cả ở các nước phát triển, có nhiều trường hợp khi tăng trưởng vẫn diễn biến nhưng các lợi ích của phát triển được phân bố không đều giữa các vùng

Như vậy, phát triển khác với tăng trưởng, phát triển còn đề cập đến sự thay đổi CCKT, khía cạnh XH, môi trường chứ không chỉ dừng lại ở mục tiêu duy nhất là tăng trưởng KT mà thôi [12,

Trang 10

tr.96]

Tăng trưởng được tính bằng tỷ lệ tăng tổng sản phẩm quốc dân GNP và tổng thu nhập quốc nội GDP hàng năm Sự phát triển được đánh giá không những chỉ bằng GNP hoặc GDP tính bình quân trên đầu người dân mà còn bằng một số chỉ tiêu khác phản ánh sự tiến bộ xã hội như cơ hội về giáo dục, nâng cao sức khỏe cộng đồng, tình trạng dinh dưỡng, nâng cao giá trị cuộc sống, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường

Từ đó có thể khái niệm: Phát triển là một quá trình vận động đi lên, là một quá trình lâu dài luôn thay đổi theo hướng hoàn thiện về mọi mặt bao gồm KT, xã hội, môi trường và thể chế trong một thời gian nhất định

Mặt trái của phát triển kinh tế:

Kinh nghiệm nhiều nước trên thế giới cho thấy, trong quá trình PTKT có nhiều vấn đề cần phải lưu tâm giải quyết nếu không sẽ trả giá rất đắt trong phát triển Mặt trái của PTKT mà các quốc gia có thể gặp phải như:

- Đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng KT bằng việc đánh đổi khai thác quá mức tài nguyên tự nhiên, làm hỏng môi trường sinh thái và môi trường sống của con người

- Đẩy nhanh việc huy động vốn đầu tư cho nền KT nhằm thúc đẩy nhanh tăng trưởng KT Tuy nhiên, nếu quá nhấn mạnh đến huy động vốn từ nước ngoài, bỏ qua hoặc xem nhẹ huy động vốn trong nước thì hệ quả là có tăng trưởng nhưng lại phụ thuộc nhiều vào nguồn lực nước ngoài và

có thể gây ra nợ nần triền miên, tạo nên gánh nặng cho quốc gia

- Mặc dù nền KT tăng trưởng nhanh, nhưng chỉ có một bộ phận nhỏ dân cư được hưởng thụ trong khi phần lớn dân cư vẫn trong tình trạng thu nhập thấp và nghèo đói, sự phân hóa giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư ngày càng lớn

- Đẩy nhanh tăng trưởng và PTKT nhưng lại tập trung ở vùng đô thị, trong khi vùng NT, miền núi lại bỏ qua Mức sống, hưởng thụ vật chất, tinh thần, chăm sóc sức khỏe, cơ hội việc làm quá chênh lệch giữa vùng NT với thành thị, giữa các cộng đồng dân tộc với nhau, có thể đó là những mầm móng dẫn đến đối xử không công bằng, biểu tình gây xáo trộn nền KT, khủng hoảng về chính trị

- Đẩy nhanh tăng trưởng KT cũng có thể làm mai một truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, và thay vào đó là lối sống thực dụng, tôn trọng sức mạnh của đồng tiền, lợi nhuận; thiếu quan tâm đến lợi ích cộng đồng, chuẩn mực đạo đức xã hội thay đổi, nảy sinh nhiều vấn đề xã hội,… 1.1.2.1.2 Phát triển bền vững

Vào nửa cuối thập kỉ 80 và đầu thập kỉ 90 của thế kỷ trước, những mặt trái trong PTKT xuất hiện, loài người đã phải đương đầu với những thách thức to lớn do suy thoái về nguồn lực và giảm cấp môi trường Trong tình hình đó, quan niệm mới về phát triển đã được đặt ra, đó là PTBV

Trang 11

PTBV là một khái niệm hiện nay còn tương đối mới mẻ và chưa có sự thống nhất trong cách diễn giải Theo ngân hàng phát triển châu Á (ADB-1991), định nghĩa sau đây tương đối được nhiều người ủng hộ nhất:

“PTBV là một loại hình phát triển mới, lồng ghép các quá trình sản xuất với bảo tồn tài nguyên và nâng cao chất lượng môi trường PTBV cần phải đáp ứng nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không phương hại đến khả năng của chúng đáp ứng nhu cầu các thế hệ tương lai [10, tr.7]

Qua đó có thể nói: PTBV phải chú trọng đến mối quan hệ giữa các thế hệ, đảm bảo sự bình đẳng giữa các thế hệ Sự “bình đẳng giữa các thế hệ” là sự cân bằng lợi ích của các nhóm người trong cùng một thế hệ và giữa các thế hệ Sự bình đẳng giữa các thế hệ sẽ không thể đạt được nếu thiếu sự công bằng trong xã hội hiện tại, nếu các hoạt động KT của một số nhóm người tiếp tục gây tổn hại tới cuộc sống của những nhóm người khác hoặc sống tại những nơi khác Các thế hệ khác nhau càng cần phải được công bằng vì rằng các thế hệ tương lai không thể có tiếng nói bảo vệ chính mình [6, tr.10] Các thế hệ hiện tại sử dụng tài nguyên cho sản xuất không thể để cho các thế hệ mai sau phải gánh lấy tình trạng ô nhiễm, cạn kiệt tài nguyên và nghèo đói, mà thế hệ trước phải có trách nhiệm với thế hệ sau trong việc để lại các di sản và tài nguyên có giá trị Cần phải để cho các thế hệ tương lai thừa hưởng các thành quả LĐ của thế hệ hiện tại dưới dạng kỹ thuật, kiến thức và các nguồn lực khác ngày càng được tăng cường

Tăng thu nhập kết hợp với các chính sách môi trường và thể chế vững chắc có thể tạo cơ sở cho việc giải quyết cả hai vấn đề môi trường và phát triển Điều then chốt đối với sự PTBV không phải là sản xuất ít đi mà phải sản xuất khác đi, phát triển sản xuất phải đi đôi với tiết kiệm tài nguyên và bảo vệ môi trường [18, tr.265] Các chính sách môi trường có thể tăng cường hiệu suất trong sử dụng tài nguyên và đưa ra những đòn bẩy để tăng cường những công nghệ và phương pháp

ít gây nguy hại, gây giảm cấp môi trường và các nguồn lực Các đầu tư tạo ra nhờ các chính sách môi trường sẽ làm thay đổi cách thức sản xuất các sản phẩm và DV, có thể có trường hợp đầu ra thấp hơn nhưng tạo ra những lợi ích làm tăng phúc lợi lâu dài của con người Trong thực tế khi thu nhập tăng lên, nhu cầu nâng cao chất lượng môi trường cũng sẽ tăng lên và các nguồn lực có thể sử dụng cho đầu tư sẽ tăng lên Chương trình của Liên Hợp Quốc (UNEP) đã đề xuất 3 mục tiêu của PTBV gồm:

Thứ nhất, đảm bảo PTKT nhanh và duy trì tốc độ ấy trong thời gian dài và mãi mãi

Thứ hai, phát triển sản xuất phải đi đôi với việc sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo

vệ môi trường Nói cách khác là môi trường sinh thái được bảo vệ một cách tốt nhất

Thứ ba, đời sống xã hội được đảm bảo hài hoà công bằng

Mục tiêu kinh tế

 Tăng trưởng

Trang 12

 Môi trường trong sạch cho con người

 Sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên có thể tái tạo được

 Bảo tồn các tài nguyên không tái tạo được

 -?

 -?

 -?

Hình 1.1: Mục tiêu phát triển bền vững PTBV phải đảm bảo tính toàn diện của các mục tiêu Hình vẽ trên cho thấy trong nhiều mục tiêu, nếu chỉ bỏ qua một số ít mục tiêu cũng sẽ đe dọa làm chậm hoặc đảo ngược sự phát triển trong các lĩnh vực khác Rõ ràng là việc cân đối quá nhiều mục tiêu phát triển khác nhau là một thách thức to lớn đối với bất kỳ quốc gia nào

PTBV là quá trình phát triển tất yếu, Việt Nam cũng không thể không thực hiện Ở nước ta,

khái niệm PTBV cũng được tranh luận rất nhiều Khái quát lại: “PTBV là sự phát triển mà trong đó

các giá trị KT, môi trường và xã hội luôn luôn tương tác với nhau trong suốt quá trình quy hoạch, phân bố lợi nhuận công bằng giữa các tầng lớp trong xã hội và khẳng định các cơ hội cho sự phát triển kế tiếp, duy trì một cách liên tục cho các thế hệ mai sau”[9, tr.147]

Trong định hướng chiến lược PTBV ở Việt Nam (chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam) đã được Chính phủ phê duyệt ngày 17/8/2004 đã đề cập đến mục tiêu PTBV ở Việt Nam: Quan điểm

phát triển trong chiến lược phát triển KT-XH 2001-2010 đã được khẳng định:“Phát triển nhanh,

hiệu quả và bền vững, tăng trưởng KT đi đôi với thực hiện tiến bộ công bằng xã hội và bảo vệ môi trường”; “Phát triển KT-XH gắn chặt với bảo vệ và cải thiện môi trường, bảo đảm sự hài hòa giữa môi trường nhân tạo với môi trường thiên nhiên, giữ gìn đa dạng sinh học”

Thách thức lớn nhất của chúng ta là xác định sự cân bằng tối ưu giữa ba giá trị KT - XH - môi trường Và sự bền vững được đặc trưng bởi sự phân phối quyền lợi và các cơ hội một cách công bằng giữa các tầng lớp xã hội, giới và các thế hệ

1.1.2.2 Phát triển bền vững nông nghiệp

Trang 13

Nhóm thứ nhất: PTBV NN được nhấn mạnh chủ yếu vào khía cạnh KT - kỹ thuật (Technical and economic terms) Năng suất LĐ tăng và duy trì trong dài hạn là bằng chứng cho sự TTNN theo con đường bền vững

Nhóm thứ hai: PTBV NN được nhấn mạnh chủ yếu vào khía cạnh sinh thái (Ecological terms) Một hệ thống NN mà làm suy yếu, ô nhiễm và phá vỡ cân bằng sinh thái thì hệ thống đó không thể nào bền vững được

Nhóm thứ ba: PTBV NN được nhấn mạnh vào khía cạnh môi trường con người (Human enviroment) Một hệ thống NN không cải thiện được trình độ về giáo dục, sức khỏe và dinh dưỡng của người dân NT thì hệ thống đó không được xem là bền vững

+ Trong những năm 90, một vài khái niệm khác xuất hiện:

Nijkamp, Bergh và Soetoman (1990) cho rằng, sự bền vững được xem như là một sự cân bằng được đảm bảo giữa phát triển KT và bền vững sinh thái

Pearce và Turner (1990) cho rằng, sự PTBV NN được định nghĩa như là phát huy tối đa hóa lợi ích của sự phát triển KT trên cơ sở ràng buộc bởi duy trì chất lượng của nguồn lực tự nhiên theo thời gian và tuân thủ các quy luật sau:

- Đối với những tài nguyên có thể tái sinh (rừng, đất, LĐ), việc sử dụng chúng phải đảm bảo

ở mức thấp hơn khả năng tái sinh tự nhiên của chúng

- Đối với những tài nguyên không thể tái sinh được (máy móc, vật tư NN), việc phát huy tối

đa hiệu quả sử dụng chúng phụ thuộc vào khả năng thay thế các nguồn lực này

 Khái niệm PTBV NN của tổ chức nông lương thế giới - FAO và Ủy ban PTBV của Liên Hợp Quốc:

+ FAO (1989), đã định nghĩa về PTBV NN như sau:

PTBV là sự quản lý và bảo vệ cơ sở của nguồn lợi tự nhiên và phương hướng của các thay đổi kỹ thuật và thể chế theo một phương thức sao cho đảm bảo việc đạt được và thỏa mãn liên tục nhu cầu con người cho thế hệ này và mai sau Sự PTBV như vậy trong lĩnh vực NN chính là sự bảo tồn được đất đai, nước, các nguồn gen động - thực vật, không làm thoái hóa môi trường, thích ứng

về kỹ thuật, có sinh lợi về KT và chấp nhận được về mặt xã hội Do đó một nền NN bền vững phải đạt được các chỉ tiêu sau:

- Bảo đảm được nhu cầu dinh dưỡng của thế hệ này và các thế hệ sau về mặt số lượng cũng như chất lượng

- Cung cấp việc làm ổn định lâu dài, thu nhập đủ, điều kiện sống và làm việc thích hợp cho những người tham gia sản xuất NN

- Giữ vững và nếu có thể, tăng cường khả năng sản xuất của các cơ sở nguồn lợi tự nhiên về tổng thể, khả năng tái sinh của các nguồn lợi tái tạo được, không phá hoại sự hoạt động của các chu

Trang 14

kỳ sinh thái cơ bản và các cân bằng tự nhiên, không phá vở bản sắc văn hóa - xã hội của các cộng đồng NT, không gây ô nhiễm môi trường

- Giảm thiểu khả năng bị tổn thương của các ngành NN do các nhân tố tự nhiên, KT-XH có hại và các rủi ro khác, củng cố sự tự lực cánh sinh, lòng tin trong nhân dân

+ Ủy ban PTBV của Liên Hợp Quốc (1987) đã đưa ra khái nịêm PTBV rồi từ đó đề cập đến PTBV NN

“PTBV là sự phát triển đáp ứng nhu cầu của thế hệ này mà không làm thương tổn đến khả năng của các thế hệ tương lai đáp ứng nhu cầu của chính họ”

Theo đó, một nền NN bền vững phải đạt được cả ba mục đích:

- Giữ gìn và làm phong phú môi trường

- Đạt hiệu quả KT cao

- Đảm bảo công bằng KT và công bằng xã hội

Qua các định nghĩa trên cho thấy rằng, chưa có sự thống nhất về khái niệm PTBV NN giữa các nhà KT học Tuy nhiên hầu hết các nhà KT học đều nhìn nhận rằng, PTBV NN là mô hình phát triển mà trong đó có sự ràng buộc giữa TTNN với môi trường tự nhiên, sự nghèo đói và môi trường con người ở NT Do đó, để thấy được bản chất của PTBV NN, chúng ta cần xem xét đến các mối quan hệ giữa các yếu tố này

1.1.2.2.2 Các mối quan hệ ràng buộc

 Tăng trưởng nông nghiệp và môi trường tự nhiên

- Theo Haen (1991), tất cả các dạng, hình thức sản xuất NN đều liên quan đến sự biến đổi của một hệ sinh thái Mong muốn rằng nên tiến hành sản xuất NN như tình trạng nguyên thủy như tự nhiên là không thực tế Do vậy, thách thức ở đây chính là sự can thiệp vào tự nhiên theo cách nào đó

để thực hiện một cân bằng có thể chấp nhận được giữa lợi ích mang lại từ việc sử dụng, khai thác nguồn lực tự nhiên cho sản xuất với lợi ích từ việc giữ gìn chức năng sinh thái của nó Vì vậy, nhiều nước phát triển trên thế giới đã và đang định hướng lại sản xuất NN

- Sự PTNN không phải chỉ bằng mở rộng diện tích để tăng sản lượng, mà còn có thể tiến hành tăng sản lượng từ thâm canh trên một đơn vị diện tích và tăng vụ đối với diện tích được tưới tiêu chủ động Do đó, vấn đề cốt lõi của sự mất cân bằng sinh thái không phải do tốc độ phát triển hoặc TTNN mà do phương thức để thực hiện sự tăng trưởng, phát triển đó [13, tr.21]

- Ngày nay, việc TTNN nhanh và ổn định là cần thiết Tuy nhiên tăng trưởng nhanh hơn không nhất thiết phải làm hỏng môi trường sinh thái hơn Từ mối quan hệ này cho thấy rằng mô hình PTBV NN là mô hình sử dụng các phương thức sản xuất tiến bộ để thực hiện TTNN nhưng không làm suy thoái cân bằng sinh thái của môi trường tự nhiên Biểu hiện của NN bền vững trên khía cạnh này có thể được đánh giá qua các chỉ tiêu sau:

Trang 15

 Tốc độ tăng trưởng bình quân/năm của NN so với tốc độ tăng trưởng dân số

 Năng suất đất và năng suất LĐ theo thời gian

 Diện tích rừng bị phá và khôi phục

 Độ màu mỡ của đất NN, độ nhiễm mặn của đất

 Tỷ lệ diện tích đất được tưới tiêu chủ động

 Tăng trưởng nông nghiệp và sự nghèo đói ở nông thôn

Rao CHH và Chopra K (1991) tranh luận về mối quan hệ giữa TTNN và sự nghèo đói ở NT như sau:

Trong quá trình TTNN, hai phương thức chủ yếu được thực hiện là quảng canh (extensification) và thâm canh (intensification) Quảng canh là tăng trưởng do mở rộng diện tích, thâm canh là tăng năng suất trên một đơn vị diện tích bằng cách tăng cường các yếu tố đầu vào do ngành CNH chất cung cấp

Đối với phương thức quảng canh, do bóc lột chất dinh dưỡng tự nhiên trong đất, mở rộng diện tích bởi phá rừng, TTNN có thể đạt trong ngắn hạn, nhưng khi môi trường tự nhiên bị suy thoái, sản lượng và thu nhập sẽ sụt giảm trong khi dân số tăng và hệ quả là thất nghiệp và sự nghèo đói xuất hiện

Đối với phương thức thâm canh, để đáp ứng nhu cầu TTNN nhanh, tình trạng lạm dụng cao các hóa chất (phân bón, thuốc trừ sâu) sẽ xuất hiện Điều này làm suy thoái tài nguyên đất, nước Một khi sự suy thoái này bắt đầu ảnh hưởng, năng suất và thu nhập giảm dần, trong khi dân số tăng

và NT không giải quyết được việc làm thì tình trạng thất nghiệp sẽ tăng cao và nghèo đói sẽ xuất hiện Do vậy, nếu không có những biện pháp sản xuất an toàn về môi trường, đảm bảo PTBV thì sẽ dẫn đến nghèo đói

Một khi bộ phận nông dân nghèo đói gia tăng, đối với họ để đáp ứng nhu cầu tồn tại ở hiện tại là quan trọng nhất, còn đáp ứng nhu cầu tương lai sẽ không có ý nghĩa Do thu nhập thấp và thất nghiệp cao nên chi phí cơ hội của LĐ thấp Trong bối cảnh đó, nông dân sẵn sàng đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng hàng hóa tự nhiên của bộ phận dân cư có thu nhập cao bằng cách khai thác nguồn lực

tự nhiên (nguồn lực công cộng) để kiếm thu nhập (phá rừng, săn bắn, đánh bắt mọi loài sinh vật với bất kể kích thước…) Hệ quả là môi trường tự nhiên tiếp tục suy thoái, thu nhập của họ sẽ giảm sút

và rơi vào vòng lẩn quẩn nghèo đói

Như vậy, một hệ thống NN mà không đảm bảo được sinh kế bền vững trên mức nghèo đói cho người dân NT thì không thể nào là hệ thống NN bền vững được Hay nói cách khác, mô hình

NN bền vững là mô hình sử dụng các phương thức sản xuất tiến bộ để thực hiện TTNN nhưng không làm suy thoái cân bằng tự nhiên và đảm bảo được sinh kế bền vững trên mức nghèo đói cho nông dân

Trang 16

Biểu hiện của NN bền vững ở khía cạnh này có thể đo lường bởi các chỉ tiêu sau:

- Tỷ lệ hộ nghèo đói

- Tỷ lệ LĐ thất nghiệp ở vùng NT

 Tăng trưởng nông nghiệp và môi trường con người ở nông thôn

Theo Braun JV (1991), quan tâm tới sự cân bằng của môi trường tự nhiên là chưa đủ, mà còn phải quan tâm tới môi trường mà trong đó người dân NT sinh sống như điều kiện nơi ở, chất lượng nước và thực phẩm, chăm sóc sức khỏe - bệnh tật, vệ sinh và văn hóa Nói chung là tình trạng sức

khỏe - dinh dưỡng và trình độ văn hóa của nguồn nhân lực NT

 Tăng trưởng nông nghiệp và môi trường sức khỏe - dinh dưỡng

- Haddad và Bouis (1991), Stauss (1986) tranh luận rằng, TTNN và việc cải thiện môi trường sức khỏe - dinh dưỡng có mối quan hệ tương tác nhau TTNN tạo ra việc làm và thu nhập Kết quả này sẽ làm thuận tiện cho việc cải thiện sức khỏe - dinh dưỡng của nông dân Một khi sự cải thiện này xuất hiện, đến lượt nó lại ảnh hưởng trở lại đến TTNN Tuy nhiên nếu TTNN được thực hiện bằng phương thức mà gây ra suy thoái môi trường, điều này sẽ ảnh hưởng làm chậm TTNN, theo đó

sẽ giảm ảnh hưởng tích cực của TTNN đối với sự cải thiện về tình trạng sức khỏe - dinh dưỡng

- Braun (1991) tranh luận rằng, nếu TTNN được thực hiện bởi phương thức sản xuất mà gây ảnh hưởng tới suy thoái môi trường thì nó sẽ ảnh hưởng tới tình trạng sức khỏe và dinh dưỡng của người dân NT

Điều này được thể hiện trong hai trường hợp sau:

(1) Trường hợp sử dụng phương thức thâm canh trong sản xuất NN nhưng:

Do thiếu hoàn chỉnh về số lượng và chất lượng của các công trình thủy lợi, nước bị ô nhiễm, gia tăng muỗi, ruồi và các côn trùng khác Điều này dễ dẫn tới sự phát triển các loại bệnh như: dịch

tả, sốt rét, đường ruột,…

Do sử dụng lượng thuốc trừ sâu không thích hợp, tình trạng ngộ độc phát sinh Sử dụng nhiều phân bón hóa học nhưng thiếu hệ thống thủy nông nội đồng thoát nước làm cho lượng nitrat tăng và nhiễm vào nguồn nước sinh hoạt Hệ quả là hàng loạt bệnh xuất hiện

(2) Trường hợp sử dụng phương thức quảng canh trong sản xuất NN do việc mở rộng diện tích đất NN bằng cách phá rừng, nguồn nước bị suy thoái và hệ quả là khô hạn, lũ, thay đổi thất thường về khí hậu Hệ quả là sự mất an toàn lương thực, suy dinh dưỡng, nạn đói và hàng loạt bệnh tật liên quan đến lũ, hạn xuất hiện

 Tăng trưởng nông nghiệp và trình độ văn hóa của nông dân

Theo Alves E (1998), con đường thực hiện TTNN chính là thâm canh Phương thức này đòi hỏi sử dụng các kỹ thuật sinh học như giống mới, nhiều phân bón, sự thay đổi cơ cấu cây trồng, kết hợp nông - lâm và NTTS, các kỹ thuật sinh - hóa chống lại sâu dịch bệnh Nếu các kỹ thuật này có

Trang 17

thể đảm bảo không làm suy thoái môi trường, NN sẽ đảm bảo tăng trưởng bền vững Nhưng nếu trình độ văn hóa của nông dân quá thấp (tỷ lệ mù chữ cao) thì sẽ rất khó khăn cho họ để hiểu được các khái niệm về bền vững - suy thoái môi trường và hiểu được các kỹ thuật nhằm giảm suy thoái tài nguyên Điều này trở thành rào cản cho việc áp dụng các kỹ thuật mới vừa đem lại lợi ích cho họ đồng thời vừa giữ gìn được môi trường Do đó, TTNN mà không gắn với cải thiện trình độ dân trí

NT sẽ ảnh hưởng tới suy thoái môi trường

Như vậy, một hệ thống NN mà không đảm bảo được sự bền vững trong việc cải thiện tình trạng sức khỏe - dinh dưỡng, trình độ văn hóa cho người dân NT thì không thể nào là hệ thống NN bền vững được

Biểu hiện của NN bền vững ở khía cạnh này được đo lường bởi các chỉ tiêu sau:

- Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng ở NT

- Tỷ lệ tử vong của trẻ em sơ sinh

- Tỷ lệ nông dân mắc bệnh sốt rét, đường ruột, dịch tả và ngộ độc

- Tỷ lệ nông dân mù chữ

Từ phân tích 3 mối quan hệ chủ yếu trên, PTBV NN có thể được hiểu khái quát như sau:

PTBV nông nghiệp là sự phát triển mà đáp ứng được nhu cầu tăng trưởng chung của nền KT nhưng không làm suy thoái môi trường tự nhiên - con người và đảm bảo được sinh kế bền vững trên mức nghèo đói cho người dân NT

1.1.2.3 Phát triển nông thôn toàn diện

Khái niệm về phát triển NT rất rộng và đa dạng, nó thay đổi theo từng giai đoạn phát triển của nền KT và tùy thuộc vào đặc điểm KT-XH của từng quốc gia Nhìn chung, PTNT bao hàm chuyển biến và tiến bộ của các vùng NT trên tất cả các phương diện KT-XH, văn hóa, môi trường,…

Ban đầu, khái niệm PTNT gắn liền với khái niệm PTNN, mục tiêu chính của PTNT là phát triển sản xuất NN để qua đó tăng thu nhập và cải thiện đời sống cư dân NT Quan niệm này đã dẫn đến sự thành công của cuộc “cách mạng xanh”

Bước sang thập kỷ 1970, PTNT tiến sang cả lĩnh vực giáo dục, y tế, DV xã hội và xây dựng

cơ sở hạ tầng nhằm PTKT nói chung Lúc này xuất hiện khái niệm PTNT toàn diện Thành công của chiến lược này là sự xuất hiện một số nước CN mới, nhất là các nước Đông Á

Mô tả khái niệm này, Michael Todaro nói: PTNT tổng hợp là cải thiện mức sống bao gồm thu nhập, việc làm giáo dục sức khỏe, dinh dưỡng, nhà ở và DV xã hội; giảm bớt sự mất cân bằng thu nhập ở NT, đặc biệt tăng thu nhập và cơ hội KT giữa NT và thành thị; tăng cường năng lực chống chịu của khu vực NT và thúc đẩy tốc độ của những phát triển trên [25, tr.3]

Bước vào thập niên 80, cùng với xu thế phát triển mạnh của quá trình toàn cầu hoá là sự

Trang 18

chênh lệch, tụt hậu và đói nghèo của một số nhóm người yếu thế, các vùng sâu, vùng xa, thậm chí cả

ở quy mô quốc gia, nơi xảy ra chiến tranh và thiên tai

Theo đó, ngân hàng thế giới và UNDP đưa ra chiến lược PTNT nhằm cải thiện đời sống

KT-XH của dân nghèo NT (Johnston và Clark, 1982) Nội dung PTNT tập trung vào các hoạt động xóa đói giảm nghèo, giảm chêch lệch thu nhập và giàu nghèo, tăng khả năng tiếp cận hàng hóa và DV PTNT là chiến lược và các hoạt động nhằm cải thiện đời sống KT-XH, văn hóa của một nhóm cư dân NT nhất định (dân nghèo ở NT), mở rộng lợi ích của quá trình phát triển đến cho những người nghèo nhất ở NT (bao gồm tiểu nông, tá điền, những người không có đất canh tác, ) nhằm tạo nên tiến trình PTNT một cách tự giác và ổn định

Bên cạnh các khái niệm trên, ngày nay tại các nền KT CN phát triển như: Nhật Bản, Châu Âu,… người ta đề cao quan niệm PTNT đa chức năng Theo chủ trương này, NT không chỉ là địa bàn cư trú của cư dân NT và là nơi diễn ra các hoạt động sản xuất NT mà chủ yếu là sản xuất NN

NT của thời đại “hậu CN” là NT đảm nhiệm những chức năng mà thành phố không đáp ứng được như:

Bảo vệ và phát triển tài nguyên tự nhiên nhất là tài nguyên rừng, đất, nước đa dạng sinh học, khoáng sản Bảo vệ và phát triển môi trường, bảo tồn và khai thác cảnh quan tự nhiên, duy trì các cân bằng sinh thái

Bảo tồn và phát triển các di sản văn hóa truyền thống của các dân tộc, các địa phương Giữ gìn và khai thác các giá trị văn hóa vật thể và kiến thức bản địa, các giá trị nhân văn và con người, khai thác các giá trị truyền thống

Đối với các nước đang phát triển, PTNT đa chức năng nhấn mạnh PTBV, phát triển KT-XH, chính trị, văn hóa, môi trường

Như vậy, các lý thuyết PTNT đều bắt nguồn từ yêu cầu thực tế Tuy nhiên, mỗi khi lý luận PTNT ra đời phải mất thời gian tuyên truyền rộng rãi và mất 10 đến 15 năm mới có thể áp dụng trong thực tế

Nhìn chung, người ta thống nhất các mục tiêu lớn đối với PTNT đó là: (i) tăng trưởng KT nâng cao thu nhập cho người dân NT; (ii) tăng phúc lợi xã hội, nâng cao đời sống tinh thần cho cộng đồng dân cư NT; (iii) duy trì sự đứng vững của NT, đặc biệt là trong điều kiện quá trình CNH diễn ra nhanh như hiện nay Tuy nhiên, các mục tiêu cơ bản này có thể thay đổi theo từng thời kì và từng quốc gia

1.1.2.4 Việt Nam với Nghị quyết 7 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn

Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X đã ban hành Nghị quyết số NQ/TW ngày 05 tháng 8 năm 2008 về NN, nông dân, NT Để thực hiện Nghị quyết của Trung ương, Chính phủ xây dựng Chương trình hành động với các nội dung chủ yếu sau:

Trang 19

26- Mục tiêu và yêu cầu của chương trình

 Mục tiêu

Mục tiêu của Chương trình hành động (Chương trình) nhằm:

- Xây dựng nền NN theo hướng hiện đại, sản xuất hàng hóa lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao, đạt mức tăng trưởng 3,5 – 4%/năm; bảo đảm vững chắc an ninh lương thực quốc gia cả trước mắt và lâu dài

- Tập trung đào tạo nguồn nhân lực ở NT, chuyển một bộ phận LĐ NN sang CN và DV, giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập của dân cư NT tăng lên 2,5 lần so với hiện nay

- Nâng cao chất lượng cuộc sống vật chất và tinh thần của dân cư NT, nhất là ở các vùng còn nhiều khó khăn, tạo điều kiện thuận lợi để nông dân tham gia đóng góp và hưởng lợi nhiều hơn vào quá trình CNH-HĐH đất nước

- Hoàn thiện đồng bộ kết cấu hạ tầng KT-XH NT; xây dựng NT mới bền vững theo hướng văn minh, giàu đẹp, bảo vệ môi trường sinh thái, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc; đảm bảo điều kiện học tập, chữa bệnh, sinh hoạt văn hóa, thể dục thể thao ở hầu hết các vùng NT gần với các đô thị trung bình

- Nâng cao năng lực phòng chống giảm nhẹ thiên tai, thực hiện một bước các biện pháp thích ứng và đối phó với biến đổi khí hậu toàn cầu, nhất là nước biển dâng

 Yêu cầu

Yêu cầu của Chương trình là quán triệt sâu sắc quan điểm, mục tiêu và nội dung của Nghị quyết TƯ để xây dựng các chương trình KT-XH, các đề án chuyên ngành, cụ thể hóa thành các văn bản quy phạm pháp luật Trên cơ sở Nghị quyết và Chương trình hành động của Chính phủ, các Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xây dựng kế hoạch cụ thể để chỉ đạo triển khai thực hiện

 Những nhiệm vụ chủ yếu

Một là thống nhất nhận thức, hành động vềnông nghiệp, nông dân, nông thôn

Các cơ quan chức năng ở các cấp tổ chức quán triệt và thực hiện tuyên truyền, giáo dục, vận động sâu rộng trong toàn xã hội về vị trí, vai trò và tầm quan trọng của NN, nông dân, NT trong quá trình CNH-HĐH đất nước; cụ thể hóa những chủ trương và giải pháp lớn, huy động sức mạnh của

cả hệ thống chính trị để triển khai các nội dung của Nghị quyết này, cũng như các Nghị quyết khác

của Đảng và Nhà nước liên quan đến NN, nông dân, NT

Hai là xây dựng các chương trình mục tiêu quốc gia đến năm 2020

Tiếp tục triển khai đồng bộ, có hiệu quả ở địa bàn NT các Chương trình mục tiêu Quốc gia đã được phê duyệt Triển khai xây dựng mới Chương trình mục tiêu Quốc gia sau đây:

- Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng NT mới

Trang 20

- Chương trình mục tiêu Quốc gia về thích ứng với sự biến đổi khí hậu

- Chương trình mục tiêu Quốc gia về đào tạo nguồn nhân lực NT

Ba là nâng cao chất lượng quy hoạch và quản lý quy hoạch

Trong năm 2009 phải hoàn thành các quy hoạch sau:

- Xây dựng quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 Trong đó, sớm hoàn thành quy hoạch sử dụng đất lúa để bảo đảm an ninh lương thực quốc gia trước mắt và lâu dài

- Rà soát và xây dựng mới các quy hoạch: tổng thể phát triển hệ thống đô thị Việt Nam đến năm 2025; quy hoạch vùng tỉnh; quy hoạch xây dựng điểm dân cư NT; quy hoạch khu dân cư vùng thường xuyên bị ảnh hưởng của thiên tai

- Rà soát, bổ sung quy hoạch các khu CN, cụm CN, khu KT, khu chế xuất đến năm 2015 và tầm nhìn 2020 theo nguyên tắc tận dụng tối đa đất đai không có khả năng làm NN để phát triển CN

và DV

- Rà soát, bổ sung quy hoạch phát triển giao thông, chú trọng đến phát triển hệ thống giao thông ở các vùng khó khăn tạo điều kiện phát triển nhanh hơn; giao thông đến ven biển và các vùng trung du để phát triển CN, đô thị

- Rà soát, bổ sung quy hoạch phát triển thủy lợi theo hướng đa mục tiêu, chú trọng đảm bảo nhu cầu tưới tiêu chủ động cho hầu hết diện tích lúa, NTTS và phục vụ dân sinh

- Rà soát, bổ sung quy hoạch về chuyển đổi cơ cấu sản xuất N-L-TS theo hướng hiện đại, bền

vững, sản xuất hàng hóa lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao

Bốn là xây dựng các đề án chuyên ngành theo các nhóm:

- Xây dựng nền NN hiện đại, trong đó phải khai thác tối đa lợi thế so sánh của từng vùng sinh thái, từng loại sản phẩm phù hợp với yêu cầu của thị trường, gắn sản xuất hàng hóa với CNCB và áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ để nâng cao khả năng cạnh tranh và hiệu quả KT

- Phát triển CN, tiểu thủ CN và DV NT: xác định rõ những ngành nghề hỗ trợ trực tiếp cho sản xuất NN, CDCCKT, cơ cấu LĐ, góp phần tích cực vào việc tạo việc làm, tăng thu nhập của dân

cư NT, gắn với việc hình thành các khu CN, cụm CN – DV, các khu chế xuất và phát triển đô thị ở

NT

- Phát triển kết cấu hạ tầng KT-XH NT: tập trung chủ yếu vào việc hoàn chỉnh hệ thống thủy lợi, giao thông và các kết cấu hạ tầng XH đảm bảo yêu cầu phát triển đồng bộ, tạo điều kiện đẩy nhanh tốc độ phát triển KT-XH ở NT, nhất là các vùng còn nhiều khó khăn

- Nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho dân cư NT: chú trọng tạo việc làm từ phát triển

CN, tiểu thủ CN, ngành nghề NT và DV; chỉ đạo thực hiện đồng bộ chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo, nỗ lực nâng cao nhanh đời sống đồng bào các dân tộc thiểu số; phát triển giáo dục, y tế, văn hóa ở NT và thực hiện các chính sách an sinh xã hội

Trang 21

- Đổi mới các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả ở NT: trong đó, phải xác định rõ vị trí, vai trò của các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả ở NT, chú trọng phát triển loại hình sản xuất tạo đột phá căn bản, đáp ứng yêu cầu của nền NN hiện đại, yêu cầu CDCCKT và cơ cấu LĐ NT Hình thành mối liên kết hộ sản xuất với trang trại, HTX, doanh nghiệp, tổ chức khoa học, thương mại, hiệp hội ngành hàng

- Phát triển khoa học – công nghệ phải trở thành khâu đột phá để PTNN hiện đại và CDCCKT NT Nâng cao năng lực và đổi mới cơ chế, chính sách quản lý khoa học công nghệ để nâng cao nhanh hiệu quả nghiên cứu và chuyển giao nhanh tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất

- Nâng cao năng lực quản lý nhà nước, đảm bảo nguyên tắc Bộ quản lý đa ngành, nhưng không chia cắt, phân tán, tăng cường năng lực điều hành, chỉ đạo thống nhất từ Trung ương đến địa phương, tăng cường sự phối hợp giữa các ngành, các cấp

Năm là nhóm dự án luật và chính sách

- Sửa đổi Luật Đất đai theo hướng: tiếp tục khẳng định đất đai là sở hữu toàn dân, nhà nước thống nhất quản lý theo quy hoạch, kế hoạch để sử dụng có hiệu quả; giao đất cho hộ gia đình sử dụng lâu dài; mở rộng hạn mức sử dụng đất; thúc đẩy quá trình tích tụ đất đai; công nhận quyền sử dụng đất được vận động theo cơ chế thị trường, trở thành một nguồn vốn trong sản xuất kinh doanh Trước mắt, sửa đổi ngay các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Đất đai 2003 về thu hồi đất, bồi thường, tái định cư, giá đất, chuyển đổi, chuyển nhượng và cơ chế bảo vệ quỹ đất trồng lúa

- Sửa đổi Luật Ngân sách nhà nước theo hướng: tăng đầu tư phát triển cho khu vực NN-NT; điều tiết, phân bổ ngân sách nhà nước đảm bảo lợi ích của các địa phương có điều kiện phát triển

CN với các địa phương thuần nông; tăng cường phân cấp thu, chi ngân sách cho các địa phương, bao gồm cả cấp huyện, xã

- Rà soát các quy định về đầu tư để khuyến khích đầu tư vào NN-NT

- Xây dựng các Luật: Vệ sinh an toàn thực phẩm, Thủy lợi, NN, BVTV, Thú y

- Xây dựng chính sách thu hút cán bộ, thanh niên, trí thức về NT

1.1.3 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp – nông thôn

1.1.3.1 Cơ cấu kinh tế nông nghiệp – nông thôn

 Cơ cấu kinh tế

Cơ cấu

Cơ cấu là một khái niệm dùng để chỉ cách thức tổ chức bên trong của một hệ thống, biểu hiện

sự thống nhất các mối quan hệ qua lại vững chắc giữa các bộ phận của nó Trong khi chỉ rõ mối quan hệ biện chứng giữa bộ phận và tổng thể, biểu hiện ra như là một thuộc tính của sự vật, hiện tượng và biến đổi cùng với sự biến đổi của sự vật, hiện tượng Như vậy, có thể thấy có nhiều trình

Trang 22

độ, nhiều kiểu tổ chức cơ cấu của khách thể và các hệ thống [28, tr.28]

Cơ cấu kinh tế

Nền KT quốc dân là một hệ thống phức tạp, được cấu thành bởi nhiều bộ phận khác nhau Đồng thời giữa chúng luôn có quan hệ biện chứng với nhau trong quá trình vận động và phát triển

Sự vận động và phát triển của nền KT còn chứa đựng sự thay đổi của chính bản thân các bộ phận và cách thức quan hệ giữa chúng với nhau trong mỗi thời điểm và trong mỗi điều kiện cũng khác nhau

Do đó, có thể khái quát CCKT là tổng thể những mối quan hệ về chất lượng và số lượng

giữa các bộ phận cấu thành nền KT trong không gian, thời gian và điều kiện KT-XH nhất định [28, tr.29]

Khi nghiên cứu cơ cấu của một nền KT cần xem xét từ nhiều góc độ khác nhau mới có thể thấy hết được các mối quan hệ bên trong, bên ngoài của nền KT đó và nhìn chung người ta thường xem xét từ các góc độ chủ yếu sau: cơ cấu ngành, cơ cấu vùng lãnh thổ, cơ cấu thành phần KT

Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã chỉ rõ: “Nền KT quốc dân có một cơ cấu

hợp lý là nền KT trong đó các ngành, các vùng, các thành phần KT, các loại hình sản xuất có quy mô

và trình độ KT khác nhau phải được bố trí cân đối, liên kết với nhau phù hợp với điều kiện KT, đảm bảo cho nền KT phát triển ổn định”

 Cơ cấu kinh tế nông nghiệp - nông thôn

Cơ cấu kinh tế nông nghiệp: là tổng thể các mối quan hệ về số lượng và chất lượng giữa các

bộ phận cấu thành nền NN diễn ra trong không gian, thời gian và điều kiện KT-XH nhất định

Cơ cấu NN bao gồm các ngành sản xuất trồng trọt, chăn nuôi, nghề rừng, nuôi trồng, đánh bắt thủy sản Bản thân nhiều ngành trong NN lại là những hệ thống nhỏ mà trong nhiều hệ thống nhỏ đó lại có những yếu tố, những thuộc tính giống nhau tạo thành hệ thống nhỏ hơn Nhờ tác động CN, trong cơ cấu ngành NN còn có thêm các ngành như: ngành chế biến lương thực, thực phẩm, dịch vụ NN,… mang tính chuyên môn hóa rõ rệt Và khi bước sang xã hội hậu CN, không thể không phát sinh thêm những ngành mới nữa (công nghệ sinh học, tin học NN,…) Thiếu những ngành này không thể có ngành NN hoàn chỉnh được

Cơ cấu kinh tế nông thôn: là tổng thể các mối quan hệ KT diễn ra trên địa bàn NT (bao gồm

cơ cấu của các ngành N-L-TS, CN, tiểu thủ CN, DV, kể cả các hoạt động văn hóa, giáo dục, y tế,… được phát triển tại các vùng NT) chúng có mối quan hệ gắn bó hữu cơ với nhau theo những tỷ lệ nhất định về mặt lượng và liên quan chặt chẽ về mặt chất; chúng có tác động qua lại lẫn nhau trong những không gian và thời gian nhất định, phù hợp với điều kiện KT-XH nhất định tạo thành một hệ thống KT NT - một bộ phận hợp thành không thể tách rời của hệ thống nền KT quốc dân

 Những khía cạnh biểu hiện chủ yếu của CCKT nông nghiệp-nông thôn

Những khía cạnh biểu hiện chủ yếu của CCKT NN-NT là cơ cấu theo ngành, cơ cấu theo

Trang 23

lãnh thổ và cơ cấu theo thành phần KT Trong đó, quan trọng nhất là cơ cấu ngành

CCKT nông nghiệp – nông thôn theo ngành:

Cơ cấu ngành KT phản ánh sự phân công LĐ theo hướng chuyên môn hóa sản xuất Sản xuất càng phát triển thì tập hợp ngành KT càng đa dạng

Theo hệ thống tài khoản quốc gia, được áp dụng đối với nền KT thị trường, nền KT thường được phân thành ba khu vực: khu vực I là N-L-TS, khu vực II là CN-XD, khu vực III là DV [2, tr.18] Trong mỗi khu vực được phân thành ngành KT cấp 1 và dưới mỗi ngành cấp 1 được phân thành các ngành cấp 2, cấp 3, cấp 4,…

NN được xem là một ngành KT và theo hệ thống phân ngành KT của nước ta hiện nay, sản xuất NN, lâm nghiệp và thủy sản là 1 trong 21 ngành KT cấp 1, trong đó được phân chia thành:

- 3 ngành cấp 2 gồm: NN và hoạt động DV có liên quan (ngành NN); lâm nghiệp và hoạt động DV có liên quan (ngành lâm nghiệp); khai thác và NTTS (ngành thủy sản)

- 13 ngành cấp 3, gồm: trồng cây hàng năm; trồng cây lâu năm; nhân và chăm sóc cây giống NN; chăn nuôi; trồng trọt và chăn nuôi hỗn hợp; hoạt động dịch vụ NN; săn bắt, đánh bẫy và hoạt động DV có liên quan (7 ngành cấp 3 thuộc ngành NN); trồng rừng và chăm sóc rừng; khai thác gỗ

và lâm sản; thu nhập sản phẩm từ rừng không phải là gỗ và lâm sản khác; hoạt động DV lâm nghiệp (4 ngành cấp 3 thuộc ngành lâm nghiệp); khai thác thủy sản; NTTS (2 ngành cấp 3 thuộc ngành thủy sản)

- 41 ngành cấp 4, bao gồm: 31 ngành thuộc ngành NN, 5 ngành thuộc ngành lâm nghiệp và 5 ngành thuộc ngành thủy sản

- 56 ngành cấp 5, bao gồm: 41 ngành thuộc ngành NN, 8 ngành thuộc ngành lâm nghiệp và 7 ngành thuộc ngành thủy sản

Ở nông thôn, CCKT theo ngành ở NT bao gồm:

- Nhóm ngành N-L-TS: chiếm vai trò chủ đạo trong cơ cấu ngành KT NT

- Nhóm ngành CN và tiểu thủ CN ở NT rất đa dạng, bao gồm:

+ CNCB N-L-TS thành phẩm và bán thành phẩm;

+ CN sản xuất các loại tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng phục vụ trực tiếp cho sản xuất NN

và sinh hoạt ở NT;

+ CN sản xuất vật liệu xây dựng như gạch, vôi, đá,…

+ Nghề thủ công truyền thống như dệt, may, len, gốm, sơn mài, đồ gỗ, may tre đan, thảm đay, chiếu cói,…

- Nhóm ngành DV NT ra đời và phát triển gắn liền với NN và CN NT Khi xuất hiện sản xuất hàng hóa, năng suất LĐ tăng lên, một bộ phận LĐ từ trồng trọt, chăn nuôi đã tách ra làm DV thương mại đầu vào, đầu ra Dần dần DV trở thành một ngành phong phú, đa dạng, thúc đẩy các ngành KT

Trang 24

khác phát triển DV NT bao gồm các hoạt động:

+ DV mua bán hàng hóa, cung ứng vật tư, tiêu thụ sản phẩm;

+ DV kinh tế tài chính, tín dụng ngân hàng;

+ DV phục vụ sinh hoạt điện nước, vệ sinh, văn hóa, pháp luật;

+ DV giao thông vận tải, thủy lợi, BVTV

CCKT nông nghiệp – nông thôn theo thành phần kinh tế:

Cơ cấu thành phần KT gắn liền với các hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất và xu hướng chung là lực lượng sản xuất ngày càng phát triển, các hình thức sở hữu ngày càng đa dạng Tương ứng với mỗi hình thức sở hữu là một thành phần KT Cơ cấu thành phần KT càng đa dạng càng có khả năng khai thác tối đa, phát huy được mọi tiềm lực để phát triển Chính sách phát triển nền KT nhiều thành phần ở Việt Nam đã huy động được các nguồn lực trong xã hội để phát triển nền KT nói chung và trong đó có ngành NN Nền KT quốc dân có bao nhiêu thành phần KT thì KT NT có bấy nhiêu thành phần KT Tuy nhiên sự biểu hiện của các thành phần KT NN-NT có những đặc điểm riêng:

- KT Nhà nước: được biểu hiện tập trung ở các hình thức doanh nghiệp Nhà nước (nông trường, lâm trường, trạm, trại), ngân hàng, tín dụng, các cơ sở nghiên cứu khoa học KT Nhà nước giữ vai trò chủ đạo

- KT tập thể: phát triển với nhiều hình thức đa dạng trong đó tiêu biểu là các HTX kiểu mới, sản xuất kinh doanh nhiều ngành nghề (HTX đa chức năng), tập hợp liên kết các hộ sản xuất với nhau cùng giải quyết những yêu cầu của sản xuất

- KT cá thể - tiểu chủ: là hình thức KT thích hợp và năng động nhất ở NT, tồn tại dưới nhiều hình thức tổ chức KT như KT hộ, KT trang trại KT cá thể - tiểu chủ ở NT có ưu thế phát triển mạnh

mẽ các hoạt động DV sản xuất và tiêu thụ

- KT tư bản Nhà nước: tồn tại dưới các hình thức liên doanh giữa KT Nhà nước và tư bản tư nhân trong và ngoài nước, các dự án có vốn đầu tư nước ngoài và sản xuất kinh doanh ở NT Thành phần này có vai trò quan trọng trong việc phát triển KT NT theo hướng CNH-HĐH

- KT tư bản tư nhân: có điều kiện phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực CN, DV, tín dụng ở NT

KT tư bản tư nhân phát triển theo định hướng Xã hội chủ nghĩa, dưới sự quản lý của Nhà nước

CCKT nông nghiệp – nông thôn theo lãnh thổ (theo vùng):

Cơ cấu KT theo lãnh thổ phản ánh sự phân công LĐ xã hội về mặt không gian địa lí Thực chất của việc phân chia này là để làm cơ sở cho hoạch định chiến lược, xây dựng kế hoạch phát triển, thực thi chính sách sát thực và phù hợp với đặc điểm của từng vùng, từng lãnh thổ nhằm đạt hiệu quả cao trên toàn vùng và toàn lãnh thổ CCKT vùng là mối quan hệ giữa các ngành, các thành phần KT trên phạm vi lãnh thổ

Trang 25

Trong NN, cách phân chia lãnh thổ thành các vùng sinh thái NN mang một ý nghĩa cực kỳ quan trọng, vì từ đó có thể xác lập được các cơ cấu cây trồng, vật nuôi hợp lý, vừa khai thác được lợi thế của mỗi vùng, vừa khắc phục được tình trạng phát triển dàn trải, thiếu tập trung để có thể hình thành được các vùng sản xuất chuyên canh có khối lượng hàng hóa lớn, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của thị trường, thúc đẩy CDCCKT và đảm bảo PTBV

CCKT theo ngành, theo thành phần và theo vùng KT là sự biểu hiện về bản chất ở những khía cạnh khác nhau của một nền KT, giữa chúng có quan hệ tác động qua lại lẫn nhau, trong đó cơ cấu theo ngành giữ vai trò chủ đạo trong toàn bộ quá trình phát triển, cơ cấu theo thành phần KT giữ vai trò quan trọng để thực hiện cơ cấu ngành và cơ cấu theo vùng là cơ sở cho các ngành, các thành phần KT phân bố hợp lý các nguồn lực, tạo sự phát triển đồng bộ, cân đối và đạt hiệu quả cao giữa các ngành và giữa các thành phần KT của một nền KT

1.1.3.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp – nông thôn

CDCCKT thực chất là quá trình cải biến KT-XH từ lạc hậu mang tính tự cấp, tự túc bước vào chuyên môn hóa hợp lý, trang bị kỹ thuật công nghệ hiện đại, trên cơ sở tạo ra năng suất LĐ cao và nhịp độ tăng trưởng mạnh cho nền KT [5, tr.535] Quá trình chuyển dịch này không chỉ diễn ra giữa các ngành KT mà bắt đầu từ nội bộ của từng ngành theo những xu hướng nhất định

CDCCKT NN: là sự thay đổi các yếu tố và mối quan hệ giữa các yếu tố trong cấu trúc kinh tế

NN CDCCKT NN là quá trình chuyển dịch các nguồn lực trong NN nhằm gia tăng sản lượng các ngành Trong đó, các ngành có năng suất LĐ cao hơn sẽ có tỷ trọng tăng, xu hướng chung là tỷ trọng giá trị sản lượng nông sản phi lương thực, nhất là các sản phẩm chăn nuôi và thuỷ sản ngày càng tăng khi thu nhập của dân cư tăng lên

CDCCKT NT: là sự thay đổi cấu trúc kinh tế NT dựa trên sự thay đổi cơ cấu các ngành, các thành phần KT, các vùng Sự thay đổi này được qui định bởi sự thúc đẩy của lực lượng sản xuất làm cho tốc độ tăng trưởng giữa các yếu tố cấu thành CCKT không đồng đều Đó là quá trình làm tăng dần các hoạt động CN và DV; quá trình làm thay đổi phương pháp, công cụ và công nghệ sản xuất chủ yếu là thủ công, tập quán lạc hậu cổ truyền ở NT bằng các phương pháp, công cụ và công nghệ sản xuất tiên tiến, hiện đại, đạt hiệu quả cao [37, tr.19]

CDCCKT NN-NT là một tất yếu khách quan, xuất phát từ vị trí của NN-NT trong nền

KT-XH, từ thực trạng CCKT NN-NT, từ yêu cầu của CNH-HĐH và yêu cầu của nền KT thị trường CDCCKT NN-NT là chuyển dịch toàn diện cả cơ cấu ngành, cơ cấu thành phần và cơ cấu lãnh thổ [5, tr.61]

CDCC ngành NN-NT: là sự thay đổi tỷ trọng giữa các ngành và nhóm ngành trong NN-NT

Xu hướng CDCC ngành NN-NT hiện nay là hướng tới một nền NN hàng hóa, sản xuất thâm canh,

đa dạng hóa theo hướng sản xuất hàng hóa lớn tạo ra nhiều sản phẩm hàng hóa có giá trị Đó là quá

Trang 26

trình hình thành CCKT mới nông – CN và DV, bao gồm N-L-TS, CNCB nói riêng và CN NT nói chung, thương mại - du lịch và các DV khác, nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội ngày càng phát triển

CDCC thành phần KT NN-NT: là sự thay đổi tỷ lệ sản xuất kinh doanh của các thành phần

KT trong NN-NT Sự thay đổi này chủ yếu diễn ra do sự tác động của các nhân tố KT-XH, trong đó

sự định hướng về mặt chính trị, xã hội có vai trò chủ yếu

CDCC lãnh thổ NN-NT: là quá trình hình thành nên những vùng chuyên môn hóa có sự ổn định về phương hướng sản xuất, về qui mô, về bảo đảm chất lượng và hiệu quả xã hội Thực chất đó cũng là sự chuyển dịch của các ngành nhưng được xem xét ở phạm vi từng vùng, từng lãnh thổ 1.1.3.3 Mối quan hệ giữa chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp với tăng trưởng và phát triển bền vững

Tăng trưởng KT, PTKT và CDCCKT là ba khái niệm khác nhau về bản chất nhưng giữa chúng lại có mối quan hệ tương tác và hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình phát triển KT-XH

1.1.3.3.1 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp với tăng trưởng

Tăng trưởng KT là sự gia tăng hay mở rộng về sản lượng hàng hóa và DV của nền KT trong một khoảng thời gian nhất định Nó vừa là mục tiêu, vừa là thước đo quan trọng phản ánh sự tăng lên về quy mô sản lượng và sản lượng bình quân đầu người của một nền KT Qua đó có thể hiểu TTNN là sự tăng lên về sản lượng hàng hóa và DV trong lĩnh vực NN

Nguồn gốc của TTNN dựa trên cơ sở của sự gia tăng các nguồn lực đầu vào cơ bản đối với quá trình sản xuất NN là đất đai, vốn, LĐ và công nghệ Mặt khác để đảm bảo vai trò cung cấp đủ lương thực, thực phẩm thiết yếu cho tiêu dùng của dân cư ngày càng tăng, nguyên liệu cho phát triển CN, vốn và ngoại tệ cho tích lũy ban đầu để đầu tư phát triển cho các ngành KT khác, đòi hỏi các ngành, các lĩnh vực trong NN phải không ngừng gia tăng qui mô sản lượng, nghĩa là tăng trưởng Tuy nhiên mức tăng sản lượng giữa các ngành, giữa các lĩnh vực là không giống nhau, nhờ

đó tạo sự CDCC giữa các ngành, các lĩnh vực trong NN Nhưng nếu sự tăng trưởng đó không được định hướng bằng một cơ cấu hợp lý, dễ dẫn tới chất lượng tăng trưởng không cao Ngược lại sự đổi mới cơ cấu các ngành, các lĩnh vực trong NN thể hiện bằng việc bố trí lại các nguồn lực sử dụng trong quá trình sản xuất, điều chỉnh cơ cấu tích lũy và tiêu dùng, thay đổi các biện pháp tạo cung và cầu, sẽ làm cho năng suất các ngành, các lĩnh vực đó tăng lên và gia tăng sản lượng

Như vậy có thể xem sự thay đổi cơ cấu và nhịp độ tăng trưởng KT trong NN là hai phạm trù thay nhau mang bản chất của mối quan hệ nguyên nhân và kết quả Nếu nhịp độ tăng trưởng cao sẽ thúc đẩy biến đổi cơ cấu nhanh từ đó sẽ nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội và tăng chất lượng tăng trưởng Do đó CCKT được xem là phương tiện để thực hiện mục đích thúc đẩy tăng trưởng KT và khi nói đến CDCCKT đã bao hàm cả tăng trưởng KT và ngược lại

Trang 27

1.1.3.3.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế với phát triển bền vững

PTBV NN luôn là mục tiêu phấn đấu của mọi quốc gia và là một quá trình biến đổi lâu dài theo xu hướng ngày càng hoàn thiện PTBV NN có ý nghĩa rộng lớn, bao hàm cả bốn mục tiêu cơ bản là: tăng trưởng KT - tăng về quy mô số lượng, thay đổi về CCKT - thay đổi về chất lượng, tiến

bộ về xã hội - nâng cao chất lượng cuộc sống của đại bộ phận dân cư, cải thiện về môi trường tự nhiên - đảm bảo cân bằng sinh thái và chỉ khi nào đồng thời đạt hiệu quả cao cả bốn mục tiêu này thì nền NN mới được xem là PTBV

Ngày nay hầu hết các nhà KT học coi CDCCKT là một trong những nội dung trụ cột phản ánh mức độ phát triển của một nền KT Bởi vì, có những quốc gia đạt được mức độ TTNN rất cao nhưng vẫn còn một bộ phận lớn người dân NT có thu nhập dưới mức nghèo đói Đây là hệ quả của

sự chuyển dịch thiếu cân đối giữa các ngành KT, giữa các thành phần KT và giữa các vùng lãnh thổ của nền KT đó Mặt khác, sự tăng trưởng nhanh chóng của nền KT có thể kéo theo sự khai thác tài nguyên thiên nhiên bừa bãi, khiến cho các nguồn tài nguyên bị kiệt quệ, làm phá vỡ cân bằng môi trường sinh thái Hoặc cùng với tăng trưởng là sự bất bình đẳng về KT, chính trị và nhiều giá trị truyền thống tốt đẹp bị hạ thấp hoặc mất đi, dẫn tới cơ cấu xã hội bị đảo lộn và bất ổn định Nhưng nếu chỉ nhấn mạnh đến công bằng xã hội và bền vững môi trường tự nhiên sẽ dẫn tới sự phát triển dàn trải giữa các ngành và giữa các vùng, dẫn tới tăng trưởng và CDCC diễn ra chậm, không đáp ứng được các mục tiêu phát triển KT-XH của đất nước Vì thế, để đảm bảo mục tiêu trước mắt và lâu dài, nhiều nước chọn con đường phát triển toàn diện thông qua PTKT nhanh đi đôi với nâng cao chất lượng tăng trưởng và CDCCKT

Tóm lại, có thể thấy được mối quan hệ giữa CDCC NT với tăng trưởng và PTBV

NN-NT ở một số nội dung cơ bản sau:

- CDCCKT là điều kiện cơ bản để xóa bỏ những mất cân đối đang tồn tại, tạo ra một trình độ cân đối mới cao hơn làm tiền đề cho tăng trưởng cao và phát triển ổn định trong NN-NT và ngược lại

- CDCCKT NN-NT là quá trình thực hiện phân bố lại các nguồn lực đầu vào đối với quá trình sản xuất, đó cũng chính là nguồn gốc của tăng trưởng và PTKT

- CDCCKT NN-NT không chỉ thúc đẩy phân công lại LĐ xã hội bên trong lãnh thổ mà còn thúc đẩy quá trình tham gia vào hợp tác LĐ quốc tế, tạo thuận lợi cho từng ngành chủ động hội nhập

KT khu vực và quốc tế sâu hơn, cạnh tranh mạnh mẽ hơn, nhờ đó mà kích thích tăng trưởng và PTKT

1.2 Các nhân tố tác động đến phát triển bền vững nông nghiệp- nông thôn

Kết quả thực tế của PTBV NN-NT phụ thuộc vào mức độ tác động của các nhân tố đến quá trình PTNN-NT cũng như khả năng khai thác lợi thế của các nhân tố

Trang 28

Trong thực tế, có nhiều nhân tố tác động đến quá trình PTBV NN-NT nhưng hầu như các nhà

KT học cơ bản thống nhất phân thành hai nhóm nhân tố với tính chất và nội dung tác động khác nhau, đó là các nhân tố KT và các nhân tố phi KT

1.2.1 Các nhân tố kinh tế

Quá trình tái sản xuất xã hội luôn chịu tác động của các yếu tố đầu vào hay còn gọi là các nhân tố tác động đến tổng cung và các yếu tố đầu ra hay còn gọi là các nhân tố tác động đến tổng cầu

Các nhân tố tác động đến tổng cung: giá trị sản lượng đầu ra phụ thuộc rất nhiều vào quy

mô, chất lượng và cách thức phối hợp giữa các yếu tố đầu vào trong quá trình sản xuất Có rất nhiều yếu tố đầu vào tác động đến tổng cung, trong đó có 4 yếu cơ bản có tác động trực tiếp đến tổng cung, gồm: vốn sản xuất, LĐ, tài nguyên thiên nhiên (chủ yếu là đất đai), khoa học và công nghệ Các yếu tố nêu trên không phải là những tham số rời rạc mà có quan hệ theo những tỉ lệ và trong điều kiện không gian, thời gian nhất định Sự phân bố các yếu tố đầu vào đối với các ngành, các lĩnh vực trong nền KT không giống nhau sẽ tạo ra năng suất LĐ và sản lượng đầu ra giữa các ngành, các lĩnh vực sẽ khác nhau, từ đó hình thành một CCKT mới cho sự PTBV

Đối với ngành NN, bên cạnh những đặc điểm chung còn có những đặc điểm riêng nên tác động của các nhân tố đến tổng cung trong NN còn có những đặc điểm khác biệt so với các ngành

khác

+ Vốn đầu tư NN: là toàn bộ tiền đầu tư, mua hoặc thuê các yếu tố sản xuất Khi phân tích tác

động của vốn đến sản xuất NN cần lưu ý đặc điểm chủ yếu sau:

- Nhu cầu vốn trong NN mang tính thời vụ cao hơn các ngành khác

- Đầu tư vốn trong NN nhiều rủi ro hơn do phụ thuộc nhiều vào tự nhiên

- Mức lưu chuyển vốn chậm do chu kỳ sản xuất của NN dài

- Một số loại vốn như hạt giống, phân bón, được nông dân sử dụng trực tiếp vào sản xuất mà không được trao đổi trên thị trường, nên khi tính toán vốn phải dựa trên giá trị cơ hội của các loại vốn đó

- Nguồn vốn trong NN được hình thành chủ yếu từ vốn tự có của nông dân và được đầu tư vào tái sản xuất mở rộng; vốn đầu tư của ngân sách nhà nước chủ yếu cho xây dựng kết cấu hạ tầng, nghiên cứu và triển khai khoa học; vốn vay, vốn viện trợ và cho vay ưu đãi từ các chính phủ và tổ chức tài chính - tiền tệ trên thế giới Tuy nhiên, khả năng tiết kiệm của nông dân thấp, đầu tư từ ngân sách nhà nước hạn chế, thu hút đầu tư từ nguồn vốn tín dụng và đầu tư nước ngoài vào NN không cao, dẫn tới cần phải có sự can thiệp tích cực từ nhà nước thông qua hệ thống cơ chế, chính sách về vốn

Các chỉ tiêu chủ yếu thường được sử dụng để phân tích tình hình sử dụng vốn trong NN,

Trang 29

gồm: (i) quy mô vốn đầu tư cho NN, (ii) cơ cấu vốn đầu tư vào các ngành và các lĩnh vực sản xuất,

(iii) mức đầu tư vốn bình quân trên một ha hay trên một đầu con gia súc và (iv) hiệu quả sử dụng

vốn các ngành

+ Đất đai NN: là toàn bộ các loại đất mà xã hội sử dụng vào mục đích sản xuất NN Lưu ý:

mặc dù là tư liệu sản xuất, nhưng là tư liệu sản xuất đặc biệt, nếu sử dụng hợp lý thì chất lượng của đất sẽ tăng lên và ngược lại; đất đai có giới hạn về diện tích nên cần sử dụng một cách tiết kiệm; chất lượng các loại đất rất khác nhau nên cần phải bố trí cây trồng, vật nuôi phù hợp

Các chỉ tiêu chủ yếu sử dụng phổ biến để đánh giá tình hình sử dụng đất NN, gồm: (i) quy mô

đất NN bình quân nhân khẩu hoặc nhân khẩu NN, (ii) hệ số sử dụng đất NN và (iii) hiệu quả sử

dụng đất NN, bao gồm: năng suất ruộng đất (tính bằng hiện vật hoặc giá trị), lợi nhuận và thu nhập bình quân/1ha đất NN

+ Lao động NN: là toàn bộ những người tham gia vào các hoạt động sản xuất NN Lưu ý: số

lượng LĐ NN biến động theo xu hướng có tính quy luật giảm dần, chất lượng LĐ tăng dần; nhu cầu

LĐ có tính thời vụ cao, nên cần chú trọng đáp ứng nhu cầu LĐ lúc thời vụ căng thẳng cũng như tạo thêm việc làm cho LĐ trong lúc thời vụ nông nhàn

Các chỉ tiêu chủ yếu sử dụng phổ biến để phân tích tình hình sử dụng LĐ NN, gồm: (i) tỉ suất

sử dụng LĐ NN để đánh giá là mức độ sử dụng nguồn LĐ NN, (ii) xác định điểm ngoặt để dự báo

thời điểm mà tại đó tốc độ tăng trưởng số lượng LĐ NN bằng zero, (iii) năng suất LĐ NN, thường được tính bằng giá trị sản lượng NN theo giá cố định bình quân trên một LĐ NN

+ Khoa học và công nghệ trong NN: tập trung vào 4 lĩnh vực cơ bản là thủy lợi hóa, cơ giới

hóa, hóa học hóa và công nghệ sinh học Mỗi lĩnh vực có vai trò tác động đến sản xuất NN theo các khía cạnh và mức độ rất khác nhau

Các chỉ tiêu thường được sử dụng để đánh giá trình độ của 4 lĩnh vực này là: Thủy lợi hóa: tổng diện tích và tỉ trọng diện tích được tưới tiêu chủ động Cơ giới hóa: (i) tổng diện tích và tỉ lệ diện tích diện tích được cơ giới hóa trong các khâu của quy trình sản xuất NN, (ii) mức độ trang bị máy móc trên 1 đơn vị diện tích đất NN Hóa học hóa: mức đầu tư phân hóa học và nông dược trên một ha gieo trồng hoặc trên một tấn sản phẩm Sinh học hóa: tỉ lệ diện tích gieo trồng hoặc đầu gia súc, gia cầm áp dụng các thành tựu về công nghệ sinh học và sinh thái như sử dụng giống mới, phòng trừ dịch hại tổng hợp (IPM)

Các nhân tố tác động đến tổng cầu: có 4 yếu tố cơ bản được xem là có tác động trực tiếp

đến tổng cầu, gồm: chi tiêu cá nhân, chi tiêu của chính phủ, chi tiêu cho đầu tư và chi tiêu qua thương mại quốc tế hay giá trị kim ngạch xuất khẩu ròng

Đối với ngành NN, tác động của các nhân tố đến tổng cầu được thể hiện ở các khía cạnh chủ yếu sau:

Trang 30

+ Tiêu dùng cho cá nhân: là hàng hóa và DV NN do dân cư tiêu dùng Mức tiêu dùng này

phụ thuộc chủ yếu vào: quy mô dân số và mức thu nhập (hay khả năng thanh toán thực tế của dân cư) Xu hướng chung là quy mô dân số càng lớn, tiêu dùng hàng hóa và DV NN càng nhiều, còn đối với thu nhập của dân cư, có hai khuynh hướng xảy ra, khi thu nhập còn thấp, tiêu dùng các nông sản thông thường tăng và khi thu nhập tăng, tiêu dùng các nông sản thông thường giảm và tiêu dùng các nông sản có chất lượng cao tăng Ngoài ra, tính ưa thích theo thói quen tiêu dùng một số loại sản phẩm nào đó đòi hỏi các nhà đầu tư phải tìm cách đáp ứng cũng tác động vào sự hình thành cơ cấu

+ Chi tiêu của chính phủ: là các khoản chi mua hàng hóa và DV NN của chính phủ, bao gồm:

mua dự trữ quốc gia, hỗ trợ sản xuất và viện trợ

+ Chi tiêu đầu tư: là các khoản chi tiêu cho nhu cầu đầu tư của doanh nghiệp và dân cư chủ

yếu là giống cho tái sản xuất và hàng hóa NN được sử dụng làm nguyên, nhiên, vật liệu phục vụ sản xuất của các ngành

+ Chi tiêu qua hoạt động xuất - nhập khẩu: là chênh lệch giữa kim ngạch xuất nhập khẩu

hàng hóa và DV NN hay chính là chi phí ròng bỏ ra cho thương mại quốc tế

Tuy nhiên, việc đánh giá một cách rạch ròi tác động của từng nhân tố trên đến sản xuất của một ngành trên phạm vi một vùng lãnh thổ là hết sức khó khăn

1.2.2 Các nhân tố phi kinh tế

Tác động của các nhân tố phi KT ngày càng giữ vai trò quan trọng Có rất nhiều nhân tố phi

KT, mỗi nhân tố có vai trò tác động khác nhau, trong đó một số nhân tố thường được đề cập tới gồm có:

Thể chế kinh tế - chính trị: bao gồm bộ máy tổ chức thực hiện, hệ thống luật pháp và các cơ

chế chính sách của nhà nước, mà trước hết là các chính sách KT, tuy không tác động trực tiếp đến sản xuất NN, nhưng nó tác động rất mạnh đến các nhân tố cung và cầu, đến việc lựa chọn các ngành cũng như các sản phẩm ưu tiên đầu tư, qua đó làm cho CCKT thay đổi

Đặc điểm văn hóa - xã hội: gồm tri thức phổ thông và tinh hoa văn minh của nhân loại về

khoa học, công nghệ, lối sống, phong tục, tập quán, quan niệm tôn giáo, dân tộc và cách ứng xử trong cuộc sống Trình độ văn hóa của một dân tộc cao hay thấp sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng nguồn LĐ, đến khả năng sáng tạo và tiếp cận công nghệ mới, từ đó làm ảnh hưởng đến tăng trưởng và PTNN

Tóm lại, PTBV NN nói chung và CCKT NN nói riêng chịu tác động của nhiều nhân tố, trong

đó các nhân cung - cầu và cơ chế chính sách của nhà nước được xem là những tác nhân chủ yếu, có vai trò quyết định đến xu hướng phát triển của NN Mặt khác, trong điều kiện hiện nay, dưới tác động của quá trình toàn cầu hóa, đặc biệt, là sự biến đổi nhanh của khoa học và công nghệ, khi đánh giá tác động của từng nhân tố trên cần xem xét chúng trong thế vận động và có tính dài hạn

Trang 31

1.3 Hệ thống các chỉ tiêu phản ánh phát triển bền vững nông nghiệp – nông thôn

Việc xác định chỉ tiêu đo lường cho đến nay vẫn còn có những quan điểm khác nhau, nhưng

về cơ bản gồm có các nhóm chỉ tiêu chủ yếu dưới đây:

1.3.1 Nhóm chỉ tiêu phản ánh phát triển nông nghiệp – nông thôn

1.3.1.1 Nhóm chỉ tiêu phản ánh tăng trưởng nông nghiệp – nông thôn

Bao gồm các chỉ tiêu chủ yếu sau:

- Quy mô sản lượng của nền KT: GDP và GNP

- GDP và GTSX của NN bình quân đầu người

- Tốc độ tăng trưởng về quy mô sản lượng và thu nhập bình quân đầu người trong NN

Xu hướng của các chỉ tiêu trên phải thể hiện gia tăng và ổn định trong dài hạn

1.3.1.2 Nhóm chỉ tiêu phản ánh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp

Nhóm chỉ tiêu này phản ánh sự thay đổi CCKT NN trên 2 mặt cơ bản, gồm: cơ cấu GDP hoặc

cơ cấu GTSX, cơ cấu LĐ của các ngành trong NN

+ Cơ cấu ngành kinh tế:

Sự CDCC ngành KT được phản ánh qua cơ cấu GDP hoặc cơ cấu GTSX NN Các chỉ tiêu thường được sử dụng để đánh giá gồm có:

- GDP và tỉ trọng GDP NN trong GDP nền KT (3 khu vực);

- GTSX và tỉ trọng GTSX các ngành nông, lâm và thủy sản;

- GTSX và tỉ trọng GTSX nội bộ các ngành nông, lâm và thủy sản;

- Tăng truởng GDP và GTSX của các ngành trong NN;

- GDP và GTSX của các ngành trong NN bình quân đầu người

Thông qua kết quả của các chỉ tiêu có thể rút ra những nhận định về trạng thái CDCCKT có

ổn định hay không, xu hướng chuyển dịch có đúng hướng hay không, mức độ chuyển dịch nhanh hay chậm và nền KT tăng trưởng cao hay thấp, bền vững hay không bền vững Quy luật chung là tỉ trọng đóng góp của ngành NN trong nền KT quốc dân và tỉ trọng đóng góp của trồng trọt trong ngành NN có xu hướng giảm dần

+ Cơ cấu lao động nông nghiệp:

Phản ánh tầm quan trọng của từng ngành trong NN về việc sử dụng nguồn LĐ xã hội Các chỉ tiêu chủ yếu được sử dụng để đánh giá gồm có:

- Tỉ trọng LĐ ngành NN so với tổng LĐ đang làm việc trong nền KT quốc dân;

- Tỉ trọng LĐ trong các ngành của NN so với tổng LĐ NN;

- GDP và GTSX NN bình quân trên LĐ NN (năng suất LĐ NN)

Quy luật chung là tỉ trọng LĐ NN trong nền KT quốc dân và tỉ trọng LĐ trồng trọt có xu hường giảm dần; đồng thời ngành nào có năng xuất LĐ cao thì ngành đó có tốc độ tăng trưởng và tỷ

Trang 32

trọng sản lượng đầu ra tăng

1.3.2 Nhóm chỉ tiêu phản ánh tiến bộ xã hội

Tiến bộ xã hội có thể có nhiều cách đánh giá khác nhau cũng như những quan niệm khác nhau nhưng vấn đề cuối cùng của tiến bộ xã hội chính là sự phát triển con người Tiến bộ xã hội được xem xét trên các mặt: tuổi thọ, trình độ giáo dục, thu nhập của dân cư

+ Tuổi thọ: Tuổi thọ của dân cư phản ánh kết quả cuối cùng của tiến bộ xã hội như môi

trường sống, chăm sóc sức khỏe, thu nhập, điều kiện LĐ tác động đến đời sống dân cư Đế phản ánh tuổi thọ dân cư, chỉ tiêu thường được sử dụng là: tuổi thọ trung bình của dân cư Gắn với quá trình PTKT, tuổi thọ trung bình được nâng cao

+ Giáo dục: Phản ánh trình độ giáo dục và dân trí của một quốc gia, các chỉ tiêu được sử

dụng: tỷ lệ người lớn biết chữ (tỷ lệ dân số 15 tuổi trở lên biết chữ), tỷ lệ dân số đi học phổ thông đúng độ tuổi (tỷ lệ dân số 6 - 17 tuổi đi học phổ thông), chỉ số giáo dục (Education Index, EI)

+ Thu nhập – nghèo đói: Nhu cầu mức sống vật chất thể hiện ở nhu cầu hấp thụ lượng calori

tối thiểu bình quân/1 người/1 ngày (2.100 - 2.300 calori) để đảm bảo khả năng sống và làm việc bình thường Để đảm bảo nhu cầu này, con người cần một khoảng thu nhập nhất định để chi tiêu cho lương thực, thực phẩm Do đó để phản ánh mức thu nhập trên, chỉ tiêu được sử dụng là tổng sản phẩm quốc dân trên đầu người (GDP/người)

 Khái niệm về nghèo

Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người, mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển KT-XH

và phong tục tập quán của địa phương

Đói, nghèo thể hiện ở nhiều dạng và cấp (suy dinh dưỡng, bệnh tật, thất học )

Trang 33

- Vùng đô thị: 150.000 đồng/người/tháng hoặc 1,8 triệu đồng/người/năm (128

- Vùng đô thị: 260.000 đồng/người/tháng (3,120 triệu đồng/người/năm)

- Vùng NT đồng bằng: 200.000 đồng/người/tháng (2,4 triệu đồng/người/năm)

- Vùng NT miền núi: 180.000 đồng/người/tháng (2,160 triệu đồng/người/năm)

+ Chỉ số phát triển con người (Human Development Index - HDI): phản ánh toàn diện mức

hưởng thụ của dân cư đối với ảnh hưởng của tăng trưởng và PTKT về cả ba khía cạnh: thu nhập, sức khỏe và giáo dục

Xu hướng chỉ tiêu trên phải thể hiện ngày càng nâng cao gắn với quá trình PTKT theo thời gian

Tiêu chuẩn đánh giá: Theo tổ chức phát triển nhân lực của Liên hiệp quốc, trình độ HDI của

thế giới chia làm ba nhóm: Nhóm quốc gia có HDI thấp: HDI < 0,5; trung bình: 0,5 ≤ HDI ≤ 0,8 và cao: HDI > 0,8

Trong năm 2004, HDI của Việt Nam là 0,691, xếp hạng 109 trong 177 quốc gia được đánh giá theo tiêu chuẩn Liên hiệp quốc

1.3.3 Nhóm chỉ tiêu phản ánh ô nhiễm môi trường

+ Khái niệm về ô nhiễm không khí, nước và đất

Ô nhiễm không khí và nước là trong không khí và nước có chứa những chất lạ hoặc nồng độ các chất trong không khí và nước vượt quá giới hạn cho phép

Môi trường đất được xem là bị ô nhiễm khi sự thay đổi về thành phần và các tính chất lý hóa sinh của đất vượt quá mức bình thường Sự thay đổi này làm cho tính chất của đất bị thay đổi so với tính chất ban đầu và không phù hợp với mục đích sử dụng

+ Chỉ tiêu đánh giá

mg/m3

Trang 34

TCVN 5937-1995 75dB 0,3 0,5 0,4 40

8,5 <1,5 <3 <50 <250 <0,5

6,5- Ô nhiễm nguồn nước ngầm:

Trang 35

Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NÔNG NGHIỆP – NÔNG THÔN TỈNH PHÚ YÊN THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA - HIỆN ĐẠI HÓA

2.1 Khái quát về vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Phú Yên

2.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên

2.1.1.1 Vị trí địa lý

Phú Yên là tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ, có toạ độ địa lý: Điểm cực Bắc: 13041'28"; Điểm cực Nam: 12042'36"; Điểm cực Tây: 108040'40" và điểm cực Đông: 109027'47" Bắc giáp tỉnh Bình Định, Nam giáp tỉnh Khánh Hoà, Đông giáp biển Đông, Tây giáp 2 tỉnh Gia Lai và Đăk Lăk

Diện tích tự nhiên: 5.060 km2 Dân số năm 2007: 885,8 nghìn người chiếm 1,53% về diện tích và 1,03% dân số so với cả nước; chiếm 13,85% về diện tích và 11,26% dân số so với các tỉnh vùng Duyên hải Nam Trung Bộ

Phía Đông, vùng biển có nhiều loài hải sản phong phú, đánh bắt quanh năm Bờ biển dài 189

km, từ Xuân Hải đến Vũng Rô, với nhiều bãi tắm đẹp, xen kẽ nhiều đầm, vịnh, vũng, như Đầm Cù Mông, đầm Ô Loan, vịnh Xuân Đài và vịnh Vũng Rô đều là vị trí thuận lợi để phát triển du lịch và NTTS Đồng thời cũng là một trong những tỉnh có vị trí phòng thủ quốc gia từ tuyến biển

Phú Yên có quốc lộ IA và đường sắt Bắc - Nam chạy qua, quốc lộ 25 nối Gia Lai, ĐT 645 nối Đăk Lăk, phía Nam tỉnh có cảng biển Vũng Rô, sân bay Tuy Hoà Các tuyến giao thông Bắc - Nam, Đông - Tây, cảng biển, sân bay có tác động lớn đến quá trình phát triển KT-XH, tạo điều kiện cho hợp tác, trao đổi KT, văn hoá, khoa học kỹ thuật giữa Phú Yên với các tỉnh thành trong vùng, cả nước và quốc tế

2.1.1.2 Địa hình

Địa hình khá đa dạng: đồng bằng, đồi núi, cao nguyên, thung lũng xen kẽ nhau và thấp dần từ Tây sang Đông, phần lớn có độ dốc lớn

Diện tích đồng bằng toàn tỉnh 816 km2, trong đó riêng đồng bằng Tuy Hoà đã chiếm 500

km2, đây là đồng bằng màu mỡ nhất do nằm ở hạ lưu sông Ba chảy từ các vùng đồi bazan ở thượng lưu đã mang về lượng phù sa màu mỡ

Ngoại trừ vài đỉnh núi cao trên 1.000m; còn lại là núi, đồi cao từ 300m đến 600m phân bổ rải rác nhiều nơi

Địa hình Phú Yên thuộc loại có độ dốc lớn, cụ thể:

- Địa hình bằng thấp : 73.890 ha; chiếm 14,65% diện tích tự nhiên

- Độ dốc từ 00 - 80 : 82.000 ha; chiếm 16,25% diện tích tự nhiên

- Độ dốc từ 80 - 200 : 72.000 ha; chiếm 8,89% diện tích tự nhiên

- Độ dốc trên 200 : 276.641 ha; chiếm 54,83% diện tích tự nhiên

Trang 36

2.1.1.3 Tài nguyên đất

Các nhóm đất chính sau:

Nhóm đất cát biển: 14.952 ha chiếm tỷ lệ 3,0% Phân bố ven biển và một số bãi sông Đất có

độ phì thấp, chủ yếu trồng rừng phòng hộ, một số diện tích trồng rau màu, trồng dừa, còn lại đại bộ

phận là đất trống đồi trọc

Nhóm đất mặn, phèn: 7.899 ha, chiếm tỷ lệ 1,6% Phân bố trên các địa hình thấp ven biển

Hiện tại một số diện tích đã được cải tạo để nuôi trồng thuỷ sản và sản xuất muối Đây là phương hướng khai thác lâu dài của nhóm đất này

Nhóm đất phù sa: 55.752 ha, chiếm tỷ lệ 11,0% Phân bố tập trung chủ yếu vùng hạ lưu của

các sông suối, lớn nhất là hệ thống sông Ba và hình thành ở đây một vùng trồng lúa rộng lớn không

chỉ của Tỉnh mà còn là của cả miền Trung

Nhóm đất xám: 39.552 ha, chiếm tỷ lệ 7,8% Phân bố tập trung thành các khu vực có diện

tích lớn ở vùng gò đồi thấp độ cao từ 50 - 100m Đất có độ phì thấp, thành phần cơ giới nhẹ rất dễ bị xói mòn, rửa trôi, đặc biệt là các vùng có độ dốc lớn Thực vật tự nhiên dưới dạng đồng cỏ, có thể

bố trí cây trồng hàng năm, cây CN lâu năm và trồng rừng phòng hộ kết hợp với chăn nuôi đại gia súc

Nhóm đất đen: 18.831 ha, chiếm 3,7% Phân bố chủ yếu ở vùng thấp bằng và gò đồi Đặc

điểm nhóm đất đen là: có phản ứng chua vừa đến ít chua, có độ phì cao Nhược điểm cơ bản là tầng đất mỏng, có nhiều đá lẫn, đá lộ đầu và một số nơi có độ dốc lớn Nhiều loại cây trồng tỏ ra có ưu thế và có triển vọng phát triển như: cây lúa nước ở vùng đồng bằng, hoa màu, bông vải, mía, trên vùng đất dốc theo kỹ thuật ruộng bậc thang Tuy nhiên để đảm bảo tính bền vững trong quá trình sử dụng đất, các vùng đất cao và dốc nên chuyển dần qua trồng cây ăn quả, cây lâu năm theo phương thức nông-lâm kết hợp

Nhóm đất đỏ vàng: Là nhóm đất có diện tích lớn nhất: 335.333 ha, chiếm tỷ lệ 66,3% Đất đỏ

vàng có phản ứng chua, hàm lượng mùn từ nghèo đến trung bình Đất bị chia cắt mạnh, có độ dốc lớn, tầng mỏng Trong nhóm đất đỏ vàng có 2 đơn vị đất tương đối tốt và có khả năng sử dụng NN là: đất nâu đỏ, đất nâu vàng trên đá Bazan, diện tích 29.950 ha, phân bố chủ yếu ở huyện Tuy An và Sông Hinh, trong đó có 8.400 ha tầng dày trên 50cm, ở độ dốc dưới 200

Nhóm đất vàng đỏ trên núi: 11.300 ha, chiếm 2,2% Phân bố trên núi cao (900 -1.000m), độ

dốc lớn, không sử dụng cho sản xuất NN

Nhóm đất thung lũng dốc tụ: 1.246 ha, chiếm 0,2% Phân bố rãi rác ven các suối nhỏ Đất có

độ phì cao, thích hợp để trồng các cây ngắn ngày

Các loại đất khác: 21.192 ha, chiếm tỷ lệ 4,2% Bao gồm núi đá: 18.360 ha và đất khác 2.832

ha không có ý nghĩa cho sản xuất NN

Trang 37

Nhìn chung tài nguyên đất Phú Yên khá đa dạng về nhóm, các loại đất phân bố trên nhiều dạng địa hình khác nhau tạo ra những tiểu vùng sinh thái nông – lâm nghiệp thích hợp với nhiều loại cây trồng, đặc biệt là cây trồng lâu năm vùng đồi núi Tuy nhiên quá trình khai thác, sử dụng trong nhiều năm qua chưa thật hợp lý do sức ép về dân số, tập quán canh tác, ý thức, nên nhiều nơi tình trạng xói mòn, rửa trôi và suy thoái chất lượng đất vẫn còn xảy ra

Thực trạng khai thác và sử dụng tài nguyên đất đến năm 2007:

+ Đất sản xuất NN: 122.781 ha, bình quân 0,14 ha/người và 0,27 ha/lao động NN Trong đó: đất trồng cây hằng năm: 107.344 ha, chiếm 87,4%; đất trồng cây lâu năm: 15.437 ha chiếm 12,6% diện tích đất sản xuất NN Hiệu quả sử dụng đất canh tác chưa cao, hệ số quay vòng thấp, chỉ đạt 1,65 lần đối với đất trồng lúa và 1,25 lần đối với đất trồng cây hằng năm khác

+ Đất sử dụng lâm nghiệp: 262.865 ha, với độ che phủ của rừng 38,5% Trong đó, rừng tự nhiên: 228.166 ha, chiếm 86,8% Diện tích đất có khả năng trồng rừng còn lớn nhưng do thiếu vốn đầu tư, LĐ, nên rừng trồng còn thấp

+ Đất khu dân cư NT: 4.669ha - bằng 79,9% diện tích đất ở Đất dân cư NT thường lẫn lộn với đất sản xuất, bình quân mỗi hộ: 375m2, mỗi khẩu: 89,2 m2 Tỷ lệ này khá cao so với định mức chung là 66 - 80 m2/người

+ Đất đô thị: 1.176 ha - bằng 20,1% diện tích đất ở Những năm vừa qua, tốc độ đô thị hoá tăng đột biến, nhất là khu vực Tuy Hoà, bình quân 100m2/hộ

+ Đất chuyên dùng: 13.841 ha, chiếm 2,7% diện tích đất tự nhiên Gồm các loại: đất an ninh quốc phòng, di tích lịch sử, nguyên nhiên vật liệu, đất khoáng sản, đất nghĩa trang nghĩa địa, + Đất chưa sử dụng: 70.435 ha, chiếm 13,9% diện tích tự nhiên Đất này hầu hết là đất trống đồi núi trọc, đất sông ngòi, ao hồ, đất mặt nước,

Dự báo khả năng khai thác:

Hiện tại nguồn đất chưa sử dụng còn 70.435 ha chiếm tỷ lệ tương đối trong tổng diện tích đất

tự nhiên của Tỉnh Trong đó đất đồng bằng chưa sử dụng trên 8.194 ha, đất đồi núi chưa sử dụng 58.417 ha và núi đá không rừng cây 3.824 ha

Trong diện tích đất chưa sử dụng, đất có khả năng cải tạo khai thác khoảng trên 54.064 ha,

dự báo trong giai đoạn 2008 - 2020 sẽ khai thác hết phần diện tích này để: dùng cho mục đích NN: 90,5%; dùng cho mục đích phi NN: 9,5%

2.1.1.4 Khí hậu

- Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa nóng ẩm Nhiệt độ không khí trung bình biến đổi từ 26,50C ở phía Đông và giảm dần về phía Tây 26,00C; tháng có nhiệt độ không khí trung bình lớn nhất vùng miền núi là tháng 5 (28,80C); ở đồng bằng vào tháng 6 (29,20C) Biên độ giao động nhiệt

độ trong ngày trung bình từ 70C - 100C, phù hợp với nhiều loại cây trồng nhiệt đới

Trang 38

- Số giờ nắng trung bình trong năm quan trắc được tại Tuy Hoà là 2.450 giờ/năm Tháng có

số giờ nắng nhiều nhất là tháng 5, ít nhất là tháng 11

- Tốc độ gió trung bình biến đổi từ 1,7 - 2,6 m/s

- Độ ẩm tương đối trung bình lớn hơn 80% Tháng có độ ẩm trung bình lớn nhất xuất hiện vào tháng 11: 89%, tháng nhỏ nhất là tháng 5, 6: 74%

- Lượng bốc hơi trung bình biến đổi từ 1.000 – 1.500 mm/năm

- Lượng mưa năm trung bình nhiều năm: 1.500 – 3.000 mm/năm, với trung tâm mưa lớn Sông Hinh (X0 = 2.500-3.000 mm/ năm) Lượng mưa tập trung chủ yếu vào 4 tháng mùa mưa (9-12) chiếm từ 70 - 80% lượng mưa cả năm

Dự báo khả năng khai thác:

Khí hậu của Phú Yên thuận lợi cho phát triển sản xuất NN Địa hình đồi núi chiếm đa số, nhiệt độ thay đổi theo độ cao Lợi dụng triệt để chế độ nhiệt bằng cách chọn những cây con thích hợp với chế độ nhiệt từng vùng nhằm đa dạng hoá sản phẩm và nâng cao hiệu quả sản xuất:

- Vùng núi cao có lượng mưa dồi dào và kéo dài, nhiệt độ phù hợp với nhiều loại cây trồng, không có hiện tượng gió tây khô nóng, rừng tự tái sinh nhanh Điều kiện khí hậu thích hợp cho cây

CN, trồng rừng, trồng cỏ phát triển chăn nuôi gia súc Mật độ sông suối khá dày có nhiều ghềnh thác và ở độ cao khá, khí hậu mát mẻ cần phát triển du lịch sinh thái, xây dựng công trình thuỷ lợi, thuỷ điện

- Vùng thung lũng núi thấp: Những nơi khó phát triển thuỷ lợi, bố trí trồng cây CN và các loại cây chịu hạn Vùng có nước tưới nhưng hạn chế, không trồng cây cần nhiều nước mà mở rộng diện tích có tưới bằng cách cơ cấu lại cây trồng hằng năm chịu hạn, xen canh với cây ngắn ngày có lịch tưới luân phiên bổ sung trong thời kỳ thiếu nước

- Các vùng trũng thấp, đồng bằng ven biển: do có hệ thống thuỷ lợi khá hoàn thiện, ở phía Nam tỉnh nguồn nước ngọt khá phong phú, chất lượng tốt, khí hậu lý tưởng cho phát triển sản xuất

NN, nuôi trồng, chế biến hải sản, làm muối,… nhưng cần có biện pháp phòng chống bão lụt, triều mặn, chỉnh trị sông

2.1.1.5 Tài nguyên nước và thuỷ năng

Sông ngòi:

Sông ngòi phân bổ tương đối đều trên toàn tỉnh và có một số đặc điểm chung: Các sông đều bắt nguồn từ phía Đông của dãy Trường Sơn, chảy trên địa hình đồi, núi ở trung và thượng lưu, đồng bằng nhỏ hẹp ở hạ lưu rồi đổ ra biển Trừ sông Ba các sông còn lại đều ngắn và dốc, cửa sông đều có xu hướng lệch về hướng bắc, thường bị bồi lấp và bị ảnh hưởng chế độ triều mặn Lòng sông không ổn định, hai bên bờ ở nhiều đoạn sông thường xảy ra xói lở

Phú Yên có trên 50 con sông lớn nhỏ Đáng chú ý là 3 con sông chính: sông Ba, sông Kỳ Lộ,

Trang 39

là thủy điện Sông Hinh 72 MW, thủy điện sông Ba Hạ 220 MW; Krông Hnăng: 66 MW

+ Sông Kỳ Lộ: đây là sông lớn thứ hai trong tỉnh Phần trong tỉnh có diện tích lưu vực 1.560

km2 và chiều dài 76 km

Hàng năm tổng lượng nước đổ ra biển khoảng 1,5 tỉ m3 Trữ lượng điện năng khoảng 160

MW Trên sông đã có các công trình thuỷ lợi: hệ thống đập Tam Giang, đập Hòn Cao, đập Triêm Đức, đập Cây Vừng, đập Phú Hoà và theo quy hoạch còn nhiều vị trí khác có thể xây dựng thêm các công trình thủy lợi

+ Sông Bàn Thạch: diện tích lưu vực: 590 km2, chiều dài sông chính 68 km, đứng thứ 3 trong tỉnh

Tổng lượng chảy: 0,8 tỉ m3, trữ lượng điện năng lý thuyết khoảng 30,8 MW Trên sông đã có các công trình thuỷ lợi: Trạm bơm Nam Bình, đập Phú Hữu, đập An Sang, hồ Đồng Khôn, hồ Hòn Dinh và các vị trí quy hoạch khác như: đập Nước Nóng, đập Đá Đen, hồ Mỹ Lâm,…

Tài nguyên nước mặt các lưu vực sông ở Phú Yên và Sông Ba:

+ Tài nguyên nước mặt trong nội địa Phú Yên:

- Hệ số dòng chảy năm trung bình nhiều năm: 0 = 0,49

- Moduyn dòng chảy năm trung bình nhiều năm: M0 = 27,7 l/skm2

- Lưu lượng nước đến trung bình nhiều năm: Q0 = 139,5m3/s

- Tổng lượng nước đến trung bình nhiều năm: W0 = 4401 triệu m3/năm

+ Tài nguyên nước mặt có xét đến lượng nước ngoại địa Phú Yên bao gồm:

- Thượng sông Kỳ Lộ (Bình Định): 92 triệu m3

- Thượng sông Kỳ Lộ (Gia Lai): 871 triệu m3

Tổng lượng nước mặt: 12,46 tỷ m3; bình quân: 14.492 m3/người

Trang 40

+ Chất lượng nước mặt: của nước sông tốt, chưa bị ô nhiễm có thể sử dụng cho nhiều mục đích: cung cấp cho sản xuất NN, CN và sinh hoạt Đây là nguồn nước sạch quý giá nên trong quá trình khai thác sử dụng cần có các biện pháp bảo vệ

+ Hiện trạng khai thác: Đến nay, có hơn 200 công trình thủy lợi lớn nhỏ chủ yếu khai thác nước mặt để tưới tiêu cho khoảng 55.000 ha đất NN, cấp nước sinh hoạt đời sống trên 2 triệu

m3/năm Tổng lượng đã khai thác so với tổng lượng nước đổ về Phú Yên hàng năm khoảng 10%

Tài nguyên nước dưới đất:

Tồn tại dạng nước lỗ hổng và nước khe nứt

lúa trong diện tích của mỏ

Dự báo khả năng khai thác:

Nguồn nước mặt có chất lượng tốt, trữ lượng lớn, lưu vực rộng và có nguồn thủy năng lớn thuận lợi cho việc phát triển thủy điện và các công trình thủy lợi phục vụ sản xuất và sinh hoạt Tỉnh còn hướng đến khai thác phục vụ cho nhu cầu các tỉnh lân cận, trước mắt là khu vực bắc Khánh Hoà

Nước ngầm ưu tiên số một cho việc khai thác cấp nước sinh hoạt

2.1.1.6 Tài nguyên sinh vật

- Rừng trồng: hiện có 20.963,0 ha và khoảng 8,4 triệu cây phân tán Nhiều diện tích đạt tiêu chuẩn khai thác và phát huy tác dụng phòng hộ tốt

+ Động vật rừng: Hệ động vật rừng Phú Yên khá phong phú, có 43 họ Chim với 114 loài, có

20 họ Thú với 51 loài, có 3 họ Bò sát với 22 loài Tài nguyên động vật rừng đã giảm đi đáng kể cả

về số lượng lẫn chất lượng Nguyên nhân chủ yếu là do mất rừng, săn bắt, do công tác quản lý bảo

Ngày đăng: 11/10/2016, 01:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Nguyễn Thị Cành (2004), Các mô hình tăng trưởng và dự báo Kinh tế lý thuyết và thực nghiệm, NXB Đại học Quốc gia Tp. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các mô hình tăng trưởng và dự báo Kinh tế lý thuyết và thực nghiệm
Tác giả: Nguyễn Thị Cành
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Tp. HCM
Năm: 2004
3. Phạm Đỗ Chí, Đặng Kim Sơn, Trần Nam Bình, Nguyễn Tiến Triển (chủ biên), (2003), Làm gì cho NT Việt Nam? NXB Tp.HCM – Trung tâm KT Châu Á – Thái Bình Dương (VAPEC) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làm gì cho NT Việt Nam
Tác giả: Phạm Đỗ Chí, Đặng Kim Sơn, Trần Nam Bình, Nguyễn Tiến Triển
Nhà XB: NXB Tp.HCM
Năm: 2003
5. Nguyễn Sinh Cúc (2003), NN, NT Việt Nam thời kỳ đổi mới (19986-2002), NXB thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: NN, NT Việt Nam thời kỳ đổi mới (19986-2002)
Tác giả: Nguyễn Sinh Cúc
Nhà XB: NXB thống kê
Năm: 2003
6. Vũ Cương, Lê Kim Liên (2005), Không chỉ là tăng trưởng KT: Nhập môn về Phát triển bền vững, NXB Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Không chỉ là tăng trưởng KT: Nhập môn về Phát triển bền vững
Tác giả: Vũ Cương, Lê Kim Liên
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
Năm: 2005
7. Bùi Huy Đáp (1983), Về Chuyển dịch cơ cấu Nông nghiệp Việt Nam, NXB NN Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về Chuyển dịch cơ cấu Nông nghiệp Việt Nam
Tác giả: Bùi Huy Đáp
Nhà XB: NXB NN Hà Nội
Năm: 1983
8. Lê Cao Đoàn (2001), Triết lý phát triển, quan hệ CN – NN, thành thị - nông thôn trong quá trình CNH-HĐH ở Việt Nam, NXB Khoa học xã hội Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết lý phát triển, quan hệ CN – NN, thành thị - nông thôn trong quá trình CNH-HĐH ở Việt Nam
Tác giả: Lê Cao Đoàn
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội Hà Nội
Năm: 2001
9. Dự án VIE/01/021 (2004), “Hỗ trợ xây dựng và thực hiện Chương trình nghị sự 21 quốc gia của Việt Nam”, Phát triển bền vững - Kỷ yếu hội nghị toàn quốc lần thứ nhất, Hà Nội tháng 12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỗ trợ xây dựng và thực hiện Chương trình nghị sự 21 quốc gia của Việt Nam
Nhà XB: Phát triển bền vững - Kỷ yếu hội nghị toàn quốc lần thứ nhất
Năm: 2004
11. Đinh Phi Hổ (2003), Kinh tế Nông nghiệp, Lý luận và thực tiễn, NXB Thống kê Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế Nông nghiệp, Lý luận và thực tiễn
Tác giả: Đinh Phi Hổ
Nhà XB: NXB Thống kê Tp.HCM
Năm: 2003
12. Đinh Phi Hổ, Lê Ngọc Uyển, Lê Thanh Tùng (2006), Kinh tế phát triển – Lý thuyết và thực tiễn, NXB Thống kê Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế phát triển – Lý thuyết và thực tiễn
Tác giả: Đinh Phi Hổ, Lê Ngọc Uyển, Lê Thanh Tùng
Nhà XB: NXB Thống kê Tp.HCM
Năm: 2006
13. Đinh Phi Hổ (2008), Kinh tế học nông nghiệp bền vững, NXB Phương Đông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế học nông nghiệp bền vững
Tác giả: Đinh Phi Hổ
Nhà XB: NXB Phương Đông
Năm: 2008
14. Hội thảo (2006), Hội nghị phát triển bền vững toàn quốc lần thứ hai, MPI – UNDP – DANIDA – SIDA, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội nghị phát triển bền vững toàn quốc lần thứ hai
Nhà XB: MPI
Năm: 2006
15. Jean-Yves Martin (chủ biên) (2007), Phát triển bền vững? Học thuyết, thực tiễn, đánh giá, NXB Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển bền vững? Học thuyết, thực tiễn, đánh giá
Tác giả: Jean-Yves Martin (chủ biên)
Nhà XB: NXB Thế giới
Năm: 2007
16. Đặng Văn Phan, Nguyễn Kim Hồng, (2002), Tổ chức lãnh thổ (sách tham khảo cho hệ đào tạo cử nhân và cao học địa lí), Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức lãnh thổ (sách tham khảo cho hệ đào tạo cử nhân và cao học địa lí
Tác giả: Đặng Văn Phan, Nguyễn Kim Hồng
Năm: 2002
17. Đặng Văn Phan, Nguyễn Kim Hồng, (2006), Địa lí KT-XH Việt Nam thời kì hội nhập, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa lí KT-XH Việt Nam thời kì hội nhập
Tác giả: Đặng Văn Phan, Nguyễn Kim Hồng
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
18. Đặng Văn Phan (2008), Tổ chức lãnh thổ NN Việt Nam, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức lãnh thổ NN Việt Nam
Tác giả: Đặng Văn Phan
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
19. Trần An Phong (1995), Đánh giá hiện trạng sử dụng đất theo quan điểm sinh thái và phát triển lâu bền, NXB NN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hiện trạng sử dụng đất theo quan điểm sinh thái và phát triển lâu bền
Tác giả: Trần An Phong
Nhà XB: NXB NN
Năm: 1995
20. Chu Tiến Quang (2005), Huy động và sử dụng các nguồn lực trong phát triển KT NT: thực trạng và giải pháp, NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Huy động và sử dụng các nguồn lực trong phát triển KT NT: thực trạng và giải pháp
Tác giả: Chu Tiến Quang
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
21. Bùi Văn Sáu (2001), CDCCKT NN – NT theo hướng CNH-HĐH ở tỉnh Vĩnh Long, Luận án tiến sĩ KT, Đại học Kinh tế Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: CDCCKT NN – NT theo hướng CNH-HĐH ở tỉnh Vĩnh Long
Tác giả: Bùi Văn Sáu
Năm: 2001
22. Sở kế hoạch và đầu tư (2008), Báo cáo về việc chấp hành cơ chế, chính sách về đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng NN-NT từ năm 2001 đến năm 2007- tỉnh Phú Yên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sở kế hoạch và đầu tư (2008)
Tác giả: Sở kế hoạch và đầu tư
Năm: 2008
23. Đặng Kim Sơn (2006), NN – NT Việt Nam 20 năm đổi mới và phát triển, NXB Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: NN – NT Việt Nam 20 năm đổi mới và phát triển
Tác giả: Đặng Kim Sơn
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2006

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Mục tiêu phát triển bền vững  PTBV phải đảm bảo tính toàn diện của các mục tiêu - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NÔNG NGHIỆP - NÔNG THÔN TỈNH PHÚ YÊN TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA - HIỆN ĐẠI HÓA
Hình 1.1 Mục tiêu phát triển bền vững PTBV phải đảm bảo tính toàn diện của các mục tiêu (Trang 12)
Bảng 2.6: Thực trạng LĐ giai đoạn 1996 – 2007 - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NÔNG NGHIỆP - NÔNG THÔN TỈNH PHÚ YÊN TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA - HIỆN ĐẠI HÓA
Bảng 2.6 Thực trạng LĐ giai đoạn 1996 – 2007 (Trang 44)
Bảng 2.8: Cơ cấu LĐ theo trình độ văn hoá - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NÔNG NGHIỆP - NÔNG THÔN TỈNH PHÚ YÊN TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA - HIỆN ĐẠI HÓA
Bảng 2.8 Cơ cấu LĐ theo trình độ văn hoá (Trang 45)
Bảng 2.11: GTSX, cơ cấu và tăng trưởng nội bộ ngành NN - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NÔNG NGHIỆP - NÔNG THÔN TỈNH PHÚ YÊN TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA - HIỆN ĐẠI HÓA
Bảng 2.11 GTSX, cơ cấu và tăng trưởng nội bộ ngành NN (Trang 47)
Bảng 2.12: GTSX, Cơ cấu và Tăng trưởng ngành trồng trọt - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NÔNG NGHIỆP - NÔNG THÔN TỈNH PHÚ YÊN TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA - HIỆN ĐẠI HÓA
Bảng 2.12 GTSX, Cơ cấu và Tăng trưởng ngành trồng trọt (Trang 49)
Bảng 2.14: Diện tích, sản lượng cây CN, rau đậu gia vị - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NÔNG NGHIỆP - NÔNG THÔN TỈNH PHÚ YÊN TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA - HIỆN ĐẠI HÓA
Bảng 2.14 Diện tích, sản lượng cây CN, rau đậu gia vị (Trang 50)
Bảng 2.16: Số lượng gia súc, gia cầm (đơn vị: con) - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NÔNG NGHIỆP - NÔNG THÔN TỈNH PHÚ YÊN TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA - HIỆN ĐẠI HÓA
Bảng 2.16 Số lượng gia súc, gia cầm (đơn vị: con) (Trang 52)
Bảng 2.18: GTSX, Cơ cấu và tăng trưởng ngành thủy sản - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NÔNG NGHIỆP - NÔNG THÔN TỈNH PHÚ YÊN TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA - HIỆN ĐẠI HÓA
Bảng 2.18 GTSX, Cơ cấu và tăng trưởng ngành thủy sản (Trang 54)
Bảng 2.23: Hiện trạng môi trường không khí vùng NN-NT - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NÔNG NGHIỆP - NÔNG THÔN TỈNH PHÚ YÊN TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA - HIỆN ĐẠI HÓA
Bảng 2.23 Hiện trạng môi trường không khí vùng NN-NT (Trang 68)
Bảng 2.25: Hiện trạng môi trường nước mặt vùng NN-NT - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NÔNG NGHIỆP - NÔNG THÔN TỈNH PHÚ YÊN TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA - HIỆN ĐẠI HÓA
Bảng 2.25 Hiện trạng môi trường nước mặt vùng NN-NT (Trang 69)
Bảng 2.26: Hiện trạng môi trường nước ngầm vùng NN-NT - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NÔNG NGHIỆP - NÔNG THÔN TỈNH PHÚ YÊN TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA - HIỆN ĐẠI HÓA
Bảng 2.26 Hiện trạng môi trường nước ngầm vùng NN-NT (Trang 71)
Bảng 3.2: Kết quả phân tích SWOT: - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NÔNG NGHIỆP - NÔNG THÔN TỈNH PHÚ YÊN TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA - HIỆN ĐẠI HÓA
Bảng 3.2 Kết quả phân tích SWOT: (Trang 84)
Bảng 3.4: Định hướng tăng trưởng và CCKT N-L-TS đến năm 2020 - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NÔNG NGHIỆP - NÔNG THÔN TỈNH PHÚ YÊN TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA - HIỆN ĐẠI HÓA
Bảng 3.4 Định hướng tăng trưởng và CCKT N-L-TS đến năm 2020 (Trang 85)
Bảng 3.6:  Quy hoạch đất sản xuất nông nghiệp đến năm 2020 - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NÔNG NGHIỆP - NÔNG THÔN TỈNH PHÚ YÊN TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA - HIỆN ĐẠI HÓA
Bảng 3.6 Quy hoạch đất sản xuất nông nghiệp đến năm 2020 (Trang 87)
Bảng 3.7 : Định hướng phát triển đất lâm nghiệp đến năm 2020 (Đơn vị : ha) - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NÔNG NGHIỆP - NÔNG THÔN TỈNH PHÚ YÊN TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA - HIỆN ĐẠI HÓA
Bảng 3.7 Định hướng phát triển đất lâm nghiệp đến năm 2020 (Đơn vị : ha) (Trang 89)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w